Chánh văn:
Đúc kết những điều trình bày từ trước, đối trong đại nghĩa Phật pháp cùng các điểm quan hệ với người đời, đã được nói qua. Tuy là nói “đề yếu” nhưng đáng tin tưởng, không làm mất sự hiểu biết chân chánh. Mong quý vị nghe rồi khéo thể hội đó! Đây lại luận qua phần quy kết.
Giảng:
Đúc kết những điều trình bày từ trước, đối trong đại nghĩa Phật pháp cùng các điểm quan hệ với người đời, đã được nói qua. Tuy là nói “đề yếu” nhưng đáng tin tưởng, không làm mất sự hiểu biết chân chánh. Mong quý vị nghe rồi khéo thể hội đó! Đây lại luận qua phần quy kết.
Phần trên ngài Thái Hư đề ra tổ chức Phật giáo, chứ không nói lý thuyết cao siêu, cho nên không giảng nhiều. Phần Quy túc về sau nói thẳng về lý cần thiết, do đó giảng kỹ hơn.
QUY TÚC
Chánh văn:
Quy túc là nghĩa được chỗ y chỉ. Nhân tâm đối với Phật pháp được có nơi quy túc, như có người muốn đến một nơi chốn nhất định và nay đã đạt đến.
Luận về Quy túc gồm bốn tiết.
Tiết một: NGƯỜI TIN THEO ĐỐI VỚI QUY TÚC PHẬT THỪA
Người tin theo là người đối với Phật pháp đã có hiểu biết chân chánh, nương theo hiểu biết chân chánh đó mà khởi lòng tin chân chánh, rõ ràng và quyết định. Người như thế, trong Phật pháp gọi là người tin. Người ở trong Phật pháp có lòng tin chân chánh rõ ràng và quyết định rồi, tức là Quy túc Phật thừa.
Tiết hai: QUY TÚC PHẬT
Phật, tiếng Phạn là Phật-đà, đây nói rằng Giác giả. Chúng ta tuy trong tâm sẵn đủ Phật tánh, nhưng không có Phật thương xót, chỉ bảo cho, thì không do đâu tự biết. Nay nhân học mà biết, Phật tức là vị thầy hướng dẫn chúng ta, nên lòng tin này phải lấy Phật làm quy túc. Quy túc Phật có hai nghĩa.
1. Hôm nay lòng chúng ta đã hiểu biết chân chánh rõ ràng và quyết định quy túc Phật rồi, thì tất cả thiên thần, quỷ linh... đều không phải là chỗ chúng ta tin ngưỡng, tức không phải nơi của chúng ta quy túc.
2. Hôm nay lòng chúng ta đã hiểu biết chân chánh rõ ràng và quyết định rồi, thì nguyện cho kẻ khác cùng tất cả hàng trời, rồng, quỷ thần và các loài chúng sanh đều quy túc Phật.
Phật là người giác ngộ, tức là người mà đã tự mình giác ngộ và hay giác ngộ cho kẻ khác, cũng chính là người mà hạnh giác được viên mãn. Nói đến bản giác thì Phật cùng chúng sanh, tánh giác xưa nay đồng đủ, sẵn có. Do thủy giác có danh tự giác. Tương tự giác và phần chứng giác, là phần sai biệt của hạnh giác, đến cứu cánh giác chính là Hạnh giác hoàn toàn viên mãn. Nếu rời tướng sai biệt nhau, tức là chỉ một chân giác bình đẳng, ở phàm không bớt, ở thánh cũng không thêm.
Đã rõ nghĩa này, thì việc quy túc Phật cũng là để khai phát Phật tánh của tự tâm mình thôi.
Tiết ba: QUY TÚC PHẬT PHÁP
Nếu chỉ nói Pháp, thì các pháp thế cùng xuất thế của nhất tâm, thập pháp giới đều không giản biệt. Nay đã quy túc thì đó là Giáo, Lý, Hạnh, Quả của Phật thừa.
Quy túc Phật pháp, thì các pháp phiền não sanh tử sai biệt, hư vọng chẳng phải là nơi quy túc; vì đã giải thoát.
Tiết bốn: QUY TÚC PHẬT PHÁP TĂNG
Phật Pháp Tăng là giản biệt đối với các nhóm người buông tuồng, lộn lạo, tạp nhạp và hẹp hòi. Nay đã quy túc thì đó hẳn là Phật Pháp Tăng, nghĩa là hàng người này đối với Phật pháp như thật tu hành.
Trên đã nói “Quy túc Tam bảo”, đây lại liệt các biểu đồ để chỉ rõ. 
Giảng:
Quy túc là nghĩa được chỗ y chỉ. Nhân tâm đối với Phật pháp được có nơi quy túc, như có người muốn đến một nơi chốn nhất định và nay đã đạt đến.
Luận về Quy túc gồm bốn tiết.
Nghĩa của chữ Quy túc cũng giống như chữ Quy y. Quy túc là chỗ chúng ta nương dựa, muốn đến. Nay đến được gọi là Quy túc.
Tiết một: NGƯỜI TIN THEO ĐỐI VỚI QUY TÚC PHẬT THỪA
Người tin theo là người đối với Phật pháp đã có hiểu biết chân chánh, nương theo hiểu biết chân chánh đó mà khởi lòng tin chân chánh, rõ ràng và quyết định. Người như thế, trong Phật pháp gọi là người tin. Người ở trong Phật pháp có lòng tin chân chánh rõ ràng và quyết định rồi, tức là Quy túc Phật thừa.
Muốn có niềm tin trong đạo Phật, trước hết phải hiểu biết đạo Phật một cách chân chánh. Nương theo hiểu biết chân chánh mới khởi lòng tin chân chánh. Nếu không hiểu gì về đạo Phật, khi nghe người khác nói đi chùa có phước liền vội vàng tin theo; lỡ mai mốt gặp tai nạn thì nói đi chùa vô phước, từ đó về sau không đi nữa. Đó là lòng tin không chân chánh, vì chưa hiểu biết chân chánh.
Cho nên chúng ta cần hiểu những pháp Phật dạy như Nhân quả hay Tứ đế, Thập nhị nhân duyên v.v... một cách tường tận. Từ đó tin nhận Phật pháp là hay, gọi là niềm tin chân chánh do sự hiểu biết chân chánh mà ra. Khi đã nhận rõ lý chân chánh của đạo Phật, giả sử chúng ta đi chùa hoặc làm Phật sự gặp những khó khổ cũng không thối chí. Do hiểu biết chân chánh nên lòng tin mới chân chánh. Có lòng tin chân chánh thì sự tu hành không thối lui.
Tiết hai: QUY TÚC PHẬT
Phật, tiếng Phạn là Phật-đà, đây nói rằng Giác giả. Chúng ta tuy trong tâm sẵn đủ Phật tánh, nhưng không có Phật thương xót, chỉ bảo cho, thì không do đâu tự biết. Nay nhân học mà biết, Phật tức là vị thầy hướng dẫn chúng ta, nên lòng tin này phải lấy Phật làm quy túc. Quy túc Phật có hai nghĩa.
1. Hôm nay lòng chúng ta đã hiểu biết chân chánh rõ ràng và quyết định quy túc Phật rồi, thì tất cả thiên thần, quỷ linh... đều không phải là chỗ chúng ta tin ngưỡng, tức không phải nơi của chúng ta quy túc.
2. Hôm nay lòng chúng ta đã hiểu biết chân chánh rõ ràng và quyết định rồi, thì nguyện cho kẻ khác cùng tất cả hàng trời, rồng, quỷ thần và các loài chúng sanh đều quy túc Phật.
Phật là người giác ngộ, tức là người mà đã tự mình giác ngộ và hay giác ngộ cho kẻ khác, cũng chính là người mà hạnh giác được viên mãn. Nói đến bản giác thì Phật cùng chúng sanh, tánh giác xưa nay đồng đủ, sẵn có. Do thủy giác có danh tự giác. Tương tự giác và phần chứng giác, là phần sai biệt của hạnh giác, đến cứu cánh giác chính là Hạnh giác hoàn toàn viên mãn. Nếu rời tướng sai biệt nhau, tức là chỉ một chân giác bình đẳng, ở phàm không bớt, ở thánh cũng không thêm.
Đã rõ nghĩa này, thì việc quy túc Phật cũng là để khai phát Phật tánh của tự tâm mình thôi.
Quy túc Phật nghĩa là quy y Phật. Đoạn này tương tự như nghĩa quy y Tam bảo, nhưng có nhiều điểm thật cần yếu. Trước hết nói đến Phật, Phật là Giác giả, tức là người giác ngộ. Trong tâm mỗi chúng ta đã sẵn đủ Phật tánh nhưng mình không biết. Bây giờ nhờ đức Phật dạy phương pháp tu nên ta nhận ra được Phật tánh. Như vậy đức Phật là thầy, vì thế chúng ta quy y với Phật để ngài chỉ cho mình thấy Phật tánh mà giác ngộ.
Phàm khi đã phát tâm quy y với Phật, cần phải nhớ đủ hai nghĩa căn bản. Nghĩa thứ nhất, do lòng hiểu biết chân chánh quyết định quy y với Phật thì kể từ đây về sau, tất cả thiên thần, quỷ linh... đều không phải là chỗ chúng ta tín ngưỡng, tức là không phải nơi quy túc. Quy túc hay Quy y tức là nương tựa, quy y với Phật là nương theo một bậc đã giác ngộ để tu hành được giác ngộ như ngài.
Thiên thần và quỷ linh không phải người giác ngộ, chỉ là những vị do hiện đời làm những việc có chút ít công đức rồi chết, theo nghiệp làm quỷ thần. Nếu chúng ta tới xin nương tựa với họ là đi ngược với con đường giác ngộ. Phật tử tu theo đạo Phật là cầu giác ngộ chứ không cầu sự linh thiêng, không cầu sự giúp đỡ của thần linh. Có hai điều chúng ta cần phải biết: Điều thứ nhất, họ giúp đỡ mình thì mình phải thù lao lại bằng cách cúng heo, gà chẳng hạn. Đó là cách hối lộ cho thần thánh. Điều thứ hai, họ giúp mình thì mình phải lệ thuộc họ, phải lạy, phải kính, phải thờ họ mới giúp. Không có vị quỷ thần nào giúp mình mà không bảo thờ cúng. Thờ cúng như vậy tức là làm tôi tớ cho quỷ thần chứ đâu còn là con Phật nữa. Đó là hai điều trái đạo lý. Cho nên đã là Phật tử, chúng ta chớ tin theo tà quái mà tự phản bội lý tưởng mình đã chọn.
Kinh Trung A-hàm kể về ông trưởng giả Úc-già giàu có, đi đâu cũng có mấy bà theo hầu, năm bảy người đánh nhạc ca múa cho ông xem. Bữa đó ông mang bầu rượu vào rừng chơi, uống đến say sưa. Xe vào trong rừng sâu thì gặp Phật, thấy ngài ngồi nghiêm trang dưới cội cây, ông liền tỉnh rượu tới đảnh lễ. Phật hoan hỷ giảng kinh cho nghe, ông phát tâm thọ Tam quy ngũ giới. Từ đó về sau trở thành đệ tử tục gia cư sĩ của Phật, giữ giới thật nghiêm cẩn.
Một hôm đức Phật nói với các thầy Tỳ-kheo: Trưởng giả Úc-già có tám điều vị tằng hữu, nghĩa là tám điều chưa từng có. Điều thứ nhất, khi ông thoi thóp sắp chết, có người đem lá bùa rất linh tới nói uống vào sẽ sống mãi không chết. Nhưng ông không chịu, thà chết chứ không uống bùa của ngoại đạo. Điều thứ hai, một người khác nói có phép lạ, nếu ông tin tưởng cúng lạy liền cho mạnh khỏe. Nhưng ông cũng không tin theo, vì trong lòng ông chỉ có đức Phật v.v... Như vậy ông xứng đáng là người đủ niềm tin đối với Phật pháp.
Cho nên chúng ta phải vững chãi, hiểu đạo tin đạo rồi tiến tu, chứ đừng để những thứ bên ngoài làm lệch lạc. Đời này không giữ được niềm tin chân chánh thì mai kia chết dễ bị đọa lạc. Người giữ được niềm tin chân chánh là người rất đáng quý. Cho nên khi quy y Tam bảo, thầy bổn sư dạy thà bỏ thân mạng, quyết không quy y với thiên thần quỷ vật.
Nghĩa thứ hai, khi đã hiểu biết chân chánh rõ ràng và quyết định rồi, lại nguyện cho mọi người cùng tất cả hàng trời rồng quỷ thần và các loài chúng sanh đều quy túc Phật, đó là tâm lợi tha. Khi chúng ta hiểu đạo, thấy được sự cao siêu của Phật pháp nên tự mình an ổn, giác ngộ mà còn mong mỏi cho tất cả chúng sanh đều hiểu Phật pháp để họ được an ổn. Đó là tâm lợi tha. Tóm lại người Phật tử chân chánh cần phải đầy đủ hai phần. Thứ nhất, tự lợi bằng cách gầy dựng niềm tin không lui sụt. Thứ hai, lợi tha bằng cách làm chỗ nương tựa an ổn cho chúng sanh, lúc nào cũng mong cho chúng sanh đều hiểu Phật pháp.
Phật là người giác ngộ, tự mình giác ngộ lại hay giác ngộ cho kẻ khác, công hạnh giác ngộ hoàn toàn viên mãn gọi là giác hạnh viên mãn. Một số người nghi ngờ, nói Phật tự giác ngộ viên mãn thì tin nhưng nói giác ngộ cho người viên mãn thì chưa tin, vì chúng ta chưa giác ngộ mà Phật đã nhập Niết-bàn. Lẽ ra Phật phải giác ngộ hết chúng sanh mới nhập Niết-bàn. Hiểu như vậy không đúng. Đức Phật là bậc đã giác ngộ hoàn toàn nên đệ tử quy y với ngài, học hỏi tu hành theo đúng đường lối ngài chỉ dạy thì cũng đạt tới chỗ hoàn toàn viên mãn. Như một thầy giáo là tiến sĩ văn chương, nếu học trò y theo thầy học hết kiến thức của thầy thì cũng tương đương thầy. Đó là giác hoàn toàn.
Nói đến bản giác, Phật cùng chúng sanh tánh giác xưa nay đồng đủ sẵn có. Do thủy giác có danh tự giác. Tương tự giác và phần chứng giác, là phần sai biệt của hạnh giác, đến cứu cánh giác chính là hạnh giác hoàn toàn viên mãn. Ai nấy đều có tánh giác sẵn gọi là bản giác. Bản là sẵn, giác là giác ngộ, chỗ khác gọi là Phật tánh. Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng ta, do vô minh che lấp nên bị quên đi không thấy, thành ra mới làm chúng sanh. Đức Phật do tu hành dẹp hết vô minh, giác ngộ hoàn toàn nên gọi là Phật.
Như vậy, bản giác là tánh giác sẵn có từ lâu, do vô minh nên trở thành bất giác. Bây giờ được Phật dạy, chư tăng nhắc nhở sực nhớ lại, tỉnh giác tu hành, bắt đầu cất bước trên con đường giác ngộ, giai đoạn đó gọi là thủy giác, tức là mới ngộ. Bởi thủy giác nên dần dần có danh tự giác, tức là giác trên danh tự chứ chưa phải giác thật. Ví dụ sau khi quy y Phật, chúng ta được danh tự là Phật tử nghĩa là con Phật. Phật là giác, con Phật tức là con của bậc giác ngộ, đó là hình thức giác ngộ.
Giai đoạn thứ hai là tương tự giác, nghĩa là giống như giác ngộ. Ví dụ chúng ta tu được năm bảy năm, học đạo được chút ít, nhớ lời đức Phật từng dạy tất cả pháp là vô thường. Thỉnh thoảng gặp một vài hoàn cảnh không vui, như người thân mất hoặc thấy cảnh tang thương, chúng ta liền nhớ rõ ràng cuộc đời là vô thường. Đó là lúc mình giác, biết vô thường giống như đức Phật biết, nhưng lâu lâu lại quên. Đây là cái giác tương tự, giống như Phật chứ chưa phải là Phật. Phật thì luôn luôn thấy như vậy, còn chúng ta lúc thấy lúc không.
Tu tiến dần cho tới phần chứng giác, tức là tới đăng địa Bồ-tát vào quả Sơ địa trở lên mới là phần chứng giác. Phần chứng giác nghĩa là giác ngộ từng phần thì chứng được từng phần, cũng như thấy được pháp thân từng phần từng phần. Ví như gương lau một phần bụi thì sạch một phần hay sáng một phần, lau hoài, một ngày nào gương sáng hoàn toàn, gọi là phần chứng giác. Đây là chứng thực không còn danh dối, cũng không phải chỉ mang danh từ. Tóm lại, mang danh từ là lúc đầu, còn tương tự là có tu nhưng chập chững khi tỉnh khi mê, cuối cùng chứng từng phần là chứng thật. Ví dụ chúng ta học lý vô thường, tu quán vô thường, cho tới mở mắt nhắm mắt, đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng biết tất cả sự vật là vô thường, đó là chứng được lý vô thường. Xét về lý nhân duyên cũng đạt tới chỗ đó, tức là từng phần từng phần chứng được, gọi là phần chứng giác.
Tương tự giác và phần chứng giác là chỗ sai biệt của hạnh giác. Vì công hạnh giác ngộ sai biệt, từ danh tự tới tương tự, từ tương tự tới phần chứng không giống nhau nên gọi là sai biệt của hạnh giác. Cứu cánh giác chính là hạnh giác hoàn toàn viên mãn, nghĩa là tới chừng nào giác ngộ cứu cánh không còn ngăn ngại gọi là hạnh giác viên mãn, đó là Phật. Nếu rời tướng sai biệt nhau, tức là chỉ một chân giác bình đẳng, ở phàm không bớt, ở thánh cũng không thêm. Nếu nói rời tướng tu tập sai biệt thì mỗi chúng ta và chư Phật đồng có một chân giác bình đẳng, gọi là Phật tánh. Phật tánh bình đẳng như nhau, do kẻ mê người ngộ nên có sai biệt. Đứng về Phật tánh thì bình đẳng mà đứng về sự tu hành thì có sai biệt, mê ngộ, từng phần giác, tương tự giác v.v... khác nhau.
Đã rõ nghĩa này, thì việc quy túc Phật cũng là để khai phát Phật tánh của tự tâm mình thôi. Nghĩa là nếu hiểu được nghĩa đó thì việc quy y với Phật để nương Phật mà khai mở tâm giác ngộ sáng suốt của mình, chứ không phải quy y Phật là gửi gắm mình cho Phật. Cho nên tu theo đạo Phật không nên lệ thuộc vào đức Phật, cần hiểu rõ Phật là thầy chỉ đường và khơi nguồn trí tuệ cho mình tự giác ngộ lấy. Trong kinh Pháp cú, Phật dạy: “Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp.” Nhưng trước hết cần mồi lửa ở ngọn đèn chánh pháp của Phật, sau mới sáng được ngọn đuốc của chính mình.
Tiết ba: QUY TÚC PHẬT PHÁP
Nếu chỉ nói Pháp, thì các pháp thế cùng xuất thế của nhất tâm, thập pháp giới đều không giản biệt. Nay đã quy túc thì đó là Giáo, Lý, Hạnh, Quả của Phật thừa.
Quy túc Phật pháp, thì các pháp phiền não sanh tử sai biệt, hư vọng chẳng phải là nơi quy túc; vì đã giải thoát.
Quy túc Phật pháp tức là quy y với pháp của Phật, nói gọn là quy y pháp. Chữ pháp bao gồm pháp thế gian, pháp xuất thế gian v.v... cho tới nhất tâm, chân như hay thập pháp giới cũng đều ở trong pháp. Vì vậy nói pháp tức chỉ cho pháp của Phật, bất cứ một quyển kinh nào Phật thuyết đều có bốn phần Giáo, Lý, Hạnh, Quả. Nghĩa là trong một bài kinh, trước hết những lời đức Phật dạy gọi là Giáo, trong lời dạy đó hàm chứa ý nghĩa cao siêu gọi là Lý, ý nghĩa cao siêu đó cốt dạy chúng ta phải thực hành nên gọi là Hạnh, thực hành được kết quả gọi là Quả. Đây là bốn phần căn bản của Phật thừa hay Phật pháp.
Vì vậy, Quy túc Phật pháp, thì các pháp phiền não sanh tử sai biệt, hư vọng chẳng phải là nơi quy túc; vì đã giải thoát. Chúng ta nương tựa vào giáo lý hạnh quả của Phật mà tu thì tất nhiên được kết quả phiền não sạch, sanh tử hết, vì vậy chúng ta được giải thoát nên nói quy y với pháp được giải thoát.
Tiết bốn: QUY TÚC PHẬT PHÁP TĂNG
Phật Pháp Tăng là giản biệt đối với các nhóm người buông tuồng, lộn lạo, tạp nhạp và hẹp hòi. Nay đã quy túc thì đó hẳn là Phật Pháp Tăng, nghĩa là hàng người này đối với Phật pháp như thật tu hành.
Quy túc Phật, Pháp, Tăng nghĩa là quy y Tăng trong Phật pháp. Chữ Tăng nghĩa là một nhóm người hòa hợp. Tăng ở trong Phật pháp là những người y cứ vào Phật pháp tu hành như thật cho nên chúng ta mới nương tựa, gọi là quy y Tăng.
Trên đã nói “Quy túc Tam bảo”, đây lại liệt các biểu đồ để chỉ rõ. 
Trong kinh thường nói quy y Phật lưỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn, quy y Tăng chúng trung tôn. Quy y Phật lưỡng túc tôn nghĩa là nương nơi Phật là bậc đầy đủ phúc và tuệ. Quy y Pháp ly dục tôn nghĩa là, vì pháp của Phật khiến chúng ta lìa bức bách khổ não cho nên gọi là ly dục tôn, chúng ta nương theo pháp của Phật là pháp cao quý, nhờ đó mà lìa hết những khổ não bức bách của thế tình lục dục hay ngũ dục. Quy y Tăng chúng trung tôn nghĩa là, chư Tăng là những người thanh lương an lạc tức là những người có tâm hồn mát mẻ an vui, biết được Phật pháp đúng như thật, chúng ta nương những vị đó gọi là Chúng trung tôn. Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi Tam bảo.
Phần Tự tánh Tam bảo và Biệt tướng Tam bảo xin xem trong biểu đồ có giải nghĩa đầy đủ.
Đến Trụ trì Tam bảo, Phật là Phật tượng chúng ta đang thờ, hay xá-lợi Phật bên Ấn Độ. Pháp là ba tạng Kinh, Luật và Luận tạng. Tăng là những đồ chúng xuất gia của Phật, đó là những vị đầu tròn áo vuông giữ gìn cho Tam bảo thường còn gọi là trụ trì. Xem đến phần trụ trì Tam bảo lại biết Phật pháp có thể truyền trì không dứt mất, là nơi nương tựa lợi lạc cho khắp muôn loài.
Như vậy nói tới quy túc Tam bảo chúng ta phải biết rõ bốn ý nghĩa: Tam bảo, Tự tánh Tam bảo, Biệt tướng Tam bảo và Trụ trì Tam bảo.
HỒI THÚ
Chánh văn:
Chương trước lược nói phần “Quy túc Tam bảo” nghĩa đó đã rõ ràng. Thông thường cho rằng trong tâm không riêng khởi là nhờ có sức thắng duyên sanh, thực hay cung kính tôn trọng như thật mà tu hành, thì căn lành thêm lớn, và được chân thọ dụng. Chương này tiếp theo ý nghĩa quy túc trước mà luận đến phần Hồi thú. Như người đã “đến nơi đến chốn”, thì có thể làm việc của họ làm. Luận về hồi thú gồm bốn tiết.
Tiết một: BẬC GIÁC NGỘ ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC HỒI THÚ PHÁP GIỚI
Nương ở lòng tin quyết định khởi tri kiến chính xác, gọi đó là người giác ngộ.
Tin: Như chủng tử giác, tức là mầm mộng, nối tiếp cao lớn lên cho đến hạnh giác được viên mãn; không cái nào không hồi bỏ tà ác, hướng đến tịnh thiện.
Nói pháp giới là sự cùng lý của mười pháp giới. Phật cùng chúng sanh là sự pháp giới, nhất chân bình đẳng là lý pháp giới. Bậc giác ngộ bỏ sự trở về lý, bỏ Nhân trở về Quả, bỏ Tự trở về Tha, thế nên gọi là “Hồi thú”.
Tiết hai: HỒI THÚ NHẤT TÂM CHÂN NHƯ
Hồi chuyển sự tướng của thế cùng xuất thế sai biệt, biến hóa, thú hướng lý thể bình đẳng không hai, chứng được pháp tánh bình đẳng không hai này tức là “Một tâm chân như”. Ví như cây cỏ đều trở về cội nguồn đại địa, đó là “Hồi Sự hướng Lý”.
Tiết ba: HỒI THÚ VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC
Bậc đã giác ngộ, đối trong nhân tu hành mười độ muôn hạnh không trụ các tướng, không đắm trước quả báo của trời người cùng Nhị thừa, quyết đạt đến hạnh giác viên mãn, chứng vào Quả hải diệu giác, cũng chính là hồi chuyển nghiệp báo sanh tử phiền não của chúng sanh, thú hướng Phật quả của Bồ-đề Niết-bàn. Thế là “Hồi Nhân hướng Quả”.
Vô thượng chánh giác tức là A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề.
Tiết bốn: HỒI THÚ HỮU TÌNH TRONG PHÁP GIỚI
Bậc đã giác ngộ, trên cầu các lợi tự mình được viên mãn rồi, đồng thời ngay trong tâm nghĩ đến các loài hữu tình, nương sức từ bi lớn, bày các phương tiện khéo léo, khắp cùng pháp giới lợi lạc chúng sanh. Đó là “Hồi Tự hướng Tha”.
Nhưng một tánh bình đẳng cũng không có tướng nhân ngã. Thể, dụng cả hai đều khuếch trương. Phúc, tuệ cả hai đều đủ. Tóm lại, nương ở một tâm, tu hành muôn hạnh và không quên lợi lạc chúng sanh. Ba tâm gồm đủ, thì cùng khắp viên dung, đâu không phải là Thường, Lạc, Chân, Tịnh ư?
Giảng:
Chương trước lược nói phần “Quy túc Tam bảo” nghĩa đó đã rõ ràng. Thông thường cho rằng trong tâm không riêng khởi là nhờ có sức thắng duyên sanh, thực hay cung kính tôn trọng như thật mà tu hành, thì căn lành thêm lớn, và được chân thọ dụng. Chương này tiếp theo ý nghĩa quy túc trước mà luận đến phần Hồi thú. Như người đã “đến nơi đến chốn”, thì có thể làm việc của họ làm. Luận về hồi thú gồm bốn tiết.
Hồi thú nghĩa là hồi hướng. Chữ hồi là xoay lại, quay lại; chữ thú cùng nghĩa với chữ hướng tức là đến. Khi chúng ta đã nương tựa vào Tam bảo rồi, tức là đã có chỗ y cứ thì bây giờ phải hồi hướng. Nghĩa là đem lợi ích của mình quay lại làm lợi ích cho mọi người.
Tiết một: BẬC GIÁC NGỘ ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC HỒI THÚ PHÁP GIỚI
Nương ở lòng tin quyết định khởi tri kiến chính xác, gọi đó là người giác ngộ.
Tin: Như chủng tử giác, tức là mầm mộng, nối tiếp cao lớn lên cho đến hạnh giác được viên mãn; không cái nào không hồi bỏ tà ác, hướng đến tịnh thiện.
Nói pháp giới là sự cùng lý của mười pháp giới. Phật cùng chúng sanh là sự pháp giới, nhất chân bình đẳng là lý pháp giới. Bậc giác ngộ bỏ sự trở về lý, bỏ Nhân trở về Quả, bỏ Tự trở về Tha, thế nên gọi là “Hồi thú”.
Trước hết hiểu Phật biết pháp một cách chính xác gọi là bước trên con đường giác ngộ. Tu hành được giác ngộ gọi là người giác ngộ. Như vậy đã có mầm giác ngộ vì khởi tin Phật pháp, tin được chính mình.
Lòng tin giống như hạt giống, sức giác giống như mầm mộng. Nếu thiếu niềm tin đối với Phật pháp thì chẳng khác nào như chưa gieo giống. Đối với Tam bảo chúng ta hiểu, tin nhận một cách chắc chắn nghĩa là đã gieo giống. Mỗi ngày chúng ta mỗi học, tức là cái trí giác dần dần nảy nở. Cái giác đó giống như mầm mộng đâm chồi. Từ hạt giống lên mầm nảy mộng rồi thành cây cho tới ngày viên mãn.
Vì vậy người tu trước hết phải hiểu cho đúng đắn rồi tin sâu, sau mới khởi thực hành dần dần được giác ngộ viên mãn. Giác ngộ viên mãn gọi là thành Phật. Từ khi tin hiểu tu, lúc nào chúng ta cũng thể bỏ tà ác và hướng đến tịnh thiện. Hồi bỏ tà ác gọi là hồi, hướng đến tịnh thiện gọi là hướng. Bỏ những điều xấu, quyết làm những điều tốt, gọi là hồi hướng.
Hồi hướng cả pháp giới tức là khắp hết. Trong pháp giới chia ra lý và sự, lý pháp giới và sự pháp giới. Sự pháp giới là Phật cùng chúng sanh. Phật là bậc đã giác ngộ, chúng ta là phàm chưa giác ngộ. Lý pháp giới là thấy nơi mình nơi Phật đều có tâm chân như bình đẳng. Những bậc giác ngộ bỏ sự trở về lý gọi là hồi sự hướng lý. Lúc nào chúng ta cũng muốn tìm đến chân lý bình đẳng mà không mắc kẹt trên sự tướng gọi là hồi sự hướng lý. Hoặc bỏ nhân trở về quả gọi là hồi nhân hướng quả. Chúng ta biết nhân tu hành từ phàm tới quả thánh, bỏ phàm bước dần lên bậc thánh, gọi là hồi nhân hướng quả. Hoặc bỏ tự trở về tha gọi là hồi tự hướng tha. Người tu luôn nghĩ nhớ thương xót chúng sanh, quên mình làm lợi ích cho người gọi là bỏ tự trở về tha. Đó là nghĩa của hồi hướng. Tóm lại, hồi hướng là hồi sự hướng lý, hồi nhân hướng quả, hồi tự hướng tha.
Tiết hai: HỒI THÚ NHẤT TÂM CHÂN NHƯ
Hồi chuyển sự tướng của thế cùng xuất thế sai biệt, biến hóa, thú hướng lý thể bình đẳng không hai, chứng được pháp tánh bình đẳng không hai này tức là “Một tâm chân như”. Ví như cây cỏ đều trở về cội nguồn đại địa, đó là “Hồi Sự hướng Lý”.
Hồi sự hướng lý là trở về nguồn gốc của tất cả pháp gọi là Nhất tâm chân như. Nhất tâm chân như này nơi mỗi chúng sanh đều có. Chúng ta tu là bắt đầu tìm cho thấu chỗ đó, gọi là hồi sự hướng lý.
Tiết ba: HỒI THÚ VÔ THƯỢNG CHÁNH GIÁC
Bậc đã giác ngộ, đối trong nhân tu hành mười độ muôn hạnh không trụ các tướng, không đắm trước quả báo của trời người cùng Nhị thừa, quyết đạt đến hạnh giác viên mãn, chứng vào Quả hải diệu giác, cũng chính là hồi chuyển nghiệp báo sanh tử phiền não của chúng sanh, thú hướng Phật quả của Bồ-đề Niết-bàn. Thế là “Hồi Nhân hướng Quả”.
Vô thượng chánh giác tức là A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề.
Đây là nghĩa hồi nhân hướng quả thứ hai của hồi hướng. Chúng ta bắt đầu từ một kẻ phàm phu áp dụng lục độ vạn hạnh tu từ từ lên được những quả báo tốt như quả báo cõi trời, cõi người của Nhị thừa. Nhưng tới chỗ đó chúng ta không dừng lại, quyết tu chừng nào thành Phật mới thôi, nghĩa là quyết đạt hạnh giác viên mãn, chứng Quả hải diệu giác. Nghĩa là chúng ta chuyển nghiệp báo sanh tử để tiến lên quả Bồ-đề Niết-bàn, gọi là hồi nhân hướng quả.
Tiết bốn: HỒI THÚ HỮU TÌNH TRONG PHÁP GIỚI
Bậc đã giác ngộ, trên cầu các lợi tự mình được viên mãn rồi, đồng thời ngay trong tâm nghĩ đến các loài hữu tình, nương sức từ bi lớn, bày các phương tiện khéo léo, khắp cùng pháp giới lợi lạc chúng sanh. Đó là “Hồi Tự hướng Tha”.
Nhưng một tánh bình đẳng cũng không có tướng nhân ngã. Thể, dụng cả hai đều khuếch trương. Phúc, tuệ cả hai đều đủ. Tóm lại, nương ở một tâm, tu hành muôn hạnh và không quên lợi lạc chúng sanh. Ba tâm gồm đủ, thì cùng khắp viên dung, đâu không phải là Thường, Lạc, Chân, Tịnh ư?
Ngài Thái Hư nói khi đã biết tu hành thì tất nhiên phải hồi thú hữu tình khắp pháp giới. Bởi vì biết tu hành tức là đã có phần giác ngộ, bởi có giác ngộ nên tự mình cầu được viên mãn đồng thời nghĩ đến các loài hữu tình, đó là từ bi. Nương sức từ bi chúng ta bày các phương tiện khéo léo lợi lạc chúng sanh cùng khắp pháp giới, gọi là hồi tự hướng tha.
Nhưng một tánh bình đẳng cũng không có tướng nhân ngã. Thể, dụng cả hai đều khuếch trương. Phúc, tuệ cả hai đều đủ. Nghĩa là chúng ta luôn nghĩ tới chúng sanh, thương họ mà phát tâm hồi hướng cứu giúp. Lúc đó phải nhớ mình và chúng sanh không hai, đồng một thể tánh bình đẳng, mất tướng nhân ngã mới có thể khuếch trương phúc tuệ đầy đủ.
Vì vậy nói: Nương ở một tâm, tu hành muôn hạnh và không quên lợi lạc chúng sanh. Ba tâm gồm đủ, thì cùng khắp viên dung, đâu không phải là Thường, Lạc, Chân, Tịnh ư? Ba tâm là: bỏ sự trở về lý, bỏ nhân trở về quả, bỏ tự trở về tha. Ba tâm hồi hướng đó gồm đủ thì cùng khắp viên dung, không còn bị chướng ngại, riêng rẽ, đâu đâu cũng đầy khắp, lúc đó mới thật là Thường Lạc Chân Tịnh hay Thường Lạc Ngã Tịnh. Đây là bốn đức của Niết-bàn.