Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 14 - Luận Bộ Giảng Giải 3
Dẫn Nhập

Trước khi đi vào nội dung tác phẩm, tôi giới thiệu đại khái về tác giả và sự liên hệ của tác phẩm đối với Phật giáo hiện đại. Tiểu sử tác giả cuối sách đã ghi chép đầy đủ, ở đây chỉ nêu lên một vài điểm liên hệ đến Phật giáo Việt Nam.

Đại sư Thái Hư (1889-1947) là một trong những vị cao tăng của Trung Hoa. Giới Phật tử có lẽ ít biết đến ngài nhưng đối với giới tăng sĩ, ai ai cũng tôn kính Đại sư như một vị Bồ-tát, thị hiện trong đời ác ngũ trược cứu độ chúng sanh. Tác phẩm Thái Hư Đại Sư Toàn Thư gồm 64 tập là một di sản quý báu hiện còn lưu hành. Trong đó ghi chép đầy đủ cuộc đời cũng như sự nghiệp hoằng dương chánh pháp của ngài. Luận Phật Thừa Tông Yếu là một phần nhỏ trong tác phẩm này.

Khi xưa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Hoa có liên hệ mật thiết với nhau. Cuối đời nhà Thanh ở Trung Hoa là giai đoạn suy đồi của Phật giáo. Lúc đó ở Việt Nam nhằm vào thời Pháp thuộc, Phật giáo cũng chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa. Cho nên tệ tình chùa chiền, tăng sĩ, tín đồ mê tín v.v... ở Trung Hoa thế nào thì ở Việt Nam cũng tương đương như vậy, hoặc có thể tệ hơn. Do đó muốn tìm hiểu Phật pháp là một điều hết sức khó khăn vì không có phương tiện, kinh sách để học hỏi, nghiên cứu.

Đại sư Thái Hư ra đời trong bối cảnh lịch sử như thế. Cuối đời Thanh, văn hóa Tây phương bắt đầu du nhập Trung Hoa, các luồng tư tưởng cách mạng phát triển mạnh mẽ. Những người bạn đương thời đều hấp thu tư tưởng mới cho nên hăng hái cải cách Tăng đoàn, xây dựng xứ sở. Riêng ngài không chút xao xuyến với thời cuộc bên ngoài, vẫn say sưa trong việc nghiên cứu kinh luận. Về sau, nhân đọc các loạt bài của những tác giả Khang Hữu Vi, Lương Khả Siêu và sách báo phiên dịch từ Âu châu, ngài lập thệ nguyện cứu đời, giáo hóa chúng sanh, với mục đích chấn hưng Phật giáo Trung Hoa. Từ đây trang sử vẻ vang của Phật giáo bắt đầu được mở ra.

Một số bạn đồng tu trong giai đoạn này là ngài Hư Vân (Thiền tông), ngài Ấn Quang (Tịnh độ tông), ngài Đế Nhàn (Luật tông), còn ngài thông về Duy thức học và Kinh điển. Trước khi ra giảng dạy kinh luận, ngài đóng cửa nhập thất năm năm, chuyên tâm nghiên cứu kinh luận của các tông phái Phật giáo, trong đó lưu tâm nhiều nhất là hai tông Duy thức và Tam luận. Trong thời gian nhập thất, một hôm đang đọc tạng Kinh, ngài bừng khai ngộ, đọc tới đâu thông tới đó. Sau khi ra thất, ngài bắt đầu đi vào công cuộc giảng dạy và chỉnh trang Phật giáo.

Tiêu chuẩn cải cách của ngài đặt trên nền tảng luật nghi nhằm tránh những tệ hại về sau. Nội dung đề xướng chỉnh trang Phật giáo trên ba phương diện: chỉnh trang giáo lý, chỉnh trang giáo chế và chỉnh trang giáo sản. Chỉnh trang giáo chế, nghĩa là những luật nghi thời đức Phật thuở xưa không còn phù hợp với thời đại xã hội Trung Hoa bấy giờ, được đem ra cải đổi. Chỉnh trang giáo chế là chế định, thiết lập hệ thống quyền hành từ trên xuống dưới trong Giáo hội. Ví dụ khi một vị tăng vi phạm luật nghi, Giáo hội có quyền giải quyết chứ không cần luật lệ xã hội can thiệp. Giới tăng sĩ rất hưởng ứng phong trào này. Chỉnh trang giáo sản nghĩa là ngăn chặn tình trạng đem tài sản giáo hội làm tài sản cho người thế tục. Ví dụ, sau khi vị tổ hoặc thầy trụ trì một ngôi chùa mất, giao chùa lại cho đệ tử. Nhiều khi người đệ tử ấy không tiếp tục tu nữa mà có gia đình. Sau đó lấy sự nghiệp của chùa làm sự nghiệp riêng cho mình, vì vậy giáo sản lọt vào tay những người không tu hành.

Cũng trong thời gian đó, ngài cho ra đời một số tác phẩm như tờ Giác Xã Tùng Thư (tiền thân nguyệt san Hải Triều Âm) cùng các bản luận Phật Thừa Tông Yếu, Duy Thức v.v...

Khoảng năm 1932 - 1934, Phật giáo Việt Nam được nhà cầm quyền cho phép hoạt động dễ dàng. Vì thế tăng sĩ ba miền Bắc Trung Nam nhân cơ hội này thừa hưởng phong trào cách mạng Phật giáo Trung Hoa, khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Từ đó các hội Phật giáo, Giáo hội ra đời, các lớp giảng dạy Phật học cho người dân được mở mang. Đồng thời xây dựng trường lớp cho tăng ni tu học, với mục tiêu gầy dựng niềm tin chân chánh cho mọi người và truyền bá giáo lý đạo Phật. Vì thế Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn này có ảnh hưởng rất lớn từ ngài Thái Hư.

Tăng sĩ Việt Nam thời đó muốn khởi xướng phong trào cải cách Phật giáo, nhưng tài liệu tham khảo còn rất nghèo nàn, khi đón nhận được tờ nguyệt san Hải Triều Âm của ngài Thái Hư ở Trung Hoa, nhân đó dịch ra rồi viết lên những tờ báo mới như Duy Tâm Phật Học, Từ Bi Âm v.v... Do đó việc chỉnh trang Phật giáo Trung Hoa liên hệ mật thiết với việc chỉnh trang Phật giáo Việt Nam. Hiểu ý nghĩa sự liên hệ đó rồi chúng ta mới thấy rõ, đường lối tu học của Phật giáo Việt Nam thời ấy chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa thế nào.

Thuở xưa, đường lối tu học của Phật giáo Trung Hoa cũng như Việt Nam tuy rõ ràng nhưng theo lề lối sắp đặt thời cổ, so với bây giờ ít có thích nghi. Vì vậy trong công cuộc chấn hưng, ngài Thái Hư đưa ra những cách giải thích khác nhau theo danh từ, ngôn ngữ thời hiện đại, giúp mọi người hiểu rõ hơn ý nghĩa Phật giáo. Bộ luận Phật Thừa Tông Yếu ra đời trong bối cảnh như thế.

Luận Phật Thừa Tông Yếu bao gồm tất cả những lời Phật dạy từ thấp đến cao. Tức là từ giai đoạn mới tu theo đạo Phật cho tới khi thành Phật, trong đây đều luận qua hết. Nếu người học cẩn thận, tinh tế sẽ nhận thấy đường lối tu học rõ ràng không ngờ vực. Hiểu được nội dung và tầm quan trọng đó, chúng ta sẽ thấy yên ổn trên con đường học Phật.

Trong bộ luận này có nhiều chỗ nói quá gọn e độc giả khó hiểu, cho nên chúng tôi giảng giải để người đọc thấy được cương yếu. Nắm được cương yếu Phật pháp, sau này đọc những bộ kinh luận khác sẽ thấy dễ hiểu hơn. Có thể biết bộ kinh đó thuộc hệ phái nào trong Phật giáo, nói về vấn đề gì v.v...

Mục Lục