|
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
Niêm Tụng Kệ
Dịch 1. - Cử: Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra thai mẹ độ người đã xong. Niêm: Gươm báu chưa vung, tướng quân đã lộ. Tụng: Đứa bé không hình chửa rời quê, 2.- Cử: Thế Tôn mới sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất nói: Trên trời dưới đất chỉ ta tôn quí. Niêm: Một áng mây trắng che cửa động, Tụng: Đạt-đa mới giáng Tịnh Vương cung, 3.- Cử: Thế Tôn đưa cành hoa, Ca-diếp mặt rạng rỡ mỉm cười. Niêm: Vén đứng lông mày để mắt xem, Tụng: Thế Tôn nắm dựng một cành hoa, 4.- Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời? Niêm: Trừ người quả thật con ta đó, Tụng: Lao quan khó buộc có ai tri, 5.- Cử: Thế Tôn lên pháp tòa, Văn-thù bạch chúng rằng: Quán kỹ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế. Niêm: Khảy khúc Dương Xuân đàn không dây, Tụng: Tuy nói câu câu chẳng vết tỳ, 6.- Cử: Vua nước Kế-tân cầm kiếm, bảo Tổ thứ hai mươi bốn (Sư Tử) rằng: Thầy được năm uẩn không chăng? Tổ đáp: Đã được. Vua hỏi: Lìa sanh tử chăng? Tổ đáp: Đã lìa. Vua hỏi: Có thể thí cái đầu cho tôi được không? Tổ đáp: Thân còn không phải của ta, huống nữa là đầu! Vua liền chém. Sữa trắng vọt ra, tay Vua tự rơi. Niêm: Đem đầu kề gươm bén, Tụng: Đao bén chém nước, lửa thổi (ánh) sáng, 7.- Cử: Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Lạc Dương, chín năm ngồi xây mặt vào vách. Niêm: Để mắt xem, thôi ngủ gật. Tụng: Chim bằng vỗ cánh đến Nam Minh (Nam Hải), 8.- Cử: Nhị Tổ xin Sơ Tổ pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho ông. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm không thể được. Sơ Tổ bảo: Ta an tâm cho ông rồi. Niêm: Em bé lên ba ôm trống giấy, Tụng: Tâm đã không tâm nói với ai, 9.- Cử: Ngài Văn-thù thấy cô gái nhập định gần Phật, Ngài đến xuất định không được. Phật sai Bồ-tát Võng Minh đến xuất định được. Niêm: Đứa con oan gia, mất gia phong ta. Tụng: Đều cùng xuất định có sơ thân, 10.- Cử: Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối. Niêm: Dù cho chẳng phạm mảy may, Tụng: Trước kia làm bạn khách rượu trà, 11.- Cử: Bá Trượng tái tham Mã Tổ, Mã Tổ hét một tiếng. Bá Trượng đại ngộ. Niêm: Ngàn mũi nhọn, không bằng một nhát mai cùn. Tụng: Ngày trước thiên hạ chẳng chung đồng, 12.- Cử: Một hôm Quốc sư gọi Thị giả ba lần. Thị giả ba lần dạ. Quốc sư nói: Ngỡ là ta phụ ngươi, ngược lại ngươi phụ ta. Niêm: Như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Tụng: Dưới trên xướng họa xứng cùng hai, 13.- Cử: Đại Qui nói: Câu có câu không như bìm leo cây. Sơ Sơn hỏi: Cây ngã bìm khô câu về chỗ nào? Đại Qui cười to ha hả! Niêm: Nước chảy ắt về biển, trăng lặn chẳng rời trời. Tụng: Sóng lặng yên rồi, trận gió thâu, 14.- Cử: Bá Trượng bảo: Thế nào là pháp không vì người nói? Nam Tuyền đáp: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật. Niêm: Ngàn Thánh tìm dấu y chẳng được, toàn thân ẩn tại đại hư không. Tụng: Trước đây công án không lệch nghiêng, 15.- Cử: Nam Tuyền nói: Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo. Niêm: Uống cạn huyền vi lý, đường về dưới trăng đi. Tụng: Muôn tiếng lặng yên sao Đẩu dời, 16.- Cử: Sau khi Lâm Tế khai hóa chỉ dùng gậy hét dạy đồ chúng. Vừa thấy Tăng vào cửa liền hét. Niêm: Mùng năm tháng năm giờ ngọ viết, Tụng: Vào nhà liền hét muốn làm chi? 17.- Cử: Nam Tuyền nói: Tâm bình thường là đạo. Niêm: Lạnh nói là lạnh, nóng nói là nóng. Tụng: Rìu búa không cần, ngọc trắng tinh, 18.- Cử: Triệu Châu nói: Mọi người bị mười hai thời sai khiến, Lão tăng sai khiến được mười hai thời. Niêm: Cậy thế dối người, không nơi căn cứ. Tụng: Lão này hay khiển mười hai thời, 19.- Cử: Tăng hỏi Lâm Tế: Thế nào là vô vị chân nhân? Lâm Tế đáp: Cục cứt khô. Niêm: Bắn sẻ mất châu, ném chuột nhơ đồ. Tụng: Vô vị chân nhân, cục cứt khô, 20.- Cử: Triệu Châu nói: Khám phá bà già ở Ngũ Đài Sơn xong. Niêm: Ngũ nghịch nghe sấm, chẳng cho bịt tai. Tụng: Khảy móng Đài Sơn hết nói ngoa, 21.- Cử: Triệu Châu nói: Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi trong nhà. Niêm: Núi là núi nước là nước, Phật ở chỗ nào? Tụng: Trên đồ Võng Xuyên xếp thành hình, 22.- Cử: Triệu Châu nói: Tôi ở Thanh Châu may một chiếc áo vải nặng bảy cân. Niêm: Trấn Châu củ cải còn thể được, Tụng: Một manh áo vải thật lạ thường, 23.- Cử: Vị Tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không? Triệu Châu đáp: Không. Tăng lại hỏi, Triệu Châu đáp: Có. Niêm: Lấy hai so một. Tụng: Hỏi ngay ở trước, đáp có không. 24.- Cử: Triệu Châu nói: Chỗ có Phật chẳng trụ, chỗ không Phật chạy qua gấp. Niêm: Nước đến thành ao, roi quất nổi lằn. Tụng: Chỗ Phật có không cả hai quên, 25.- Cử: Thủ Sơn đưa trúc bề nói: Bảo là trúc bề tức chạm, chẳng gọi trúc bề tức trái, hãy gọi là cái gì? Niêm: Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy. Tụng: Trúc bề chạm, trái thật khó phân, 26.- Cử: Tăng hỏi Động Sơn (Thủ Sơ): Thế nào là Phật? Sơn đáp: Trên vách ba cân gai. Niêm: Gọi một vật lại chẳng trúng. Tụng: Hỏi Phật thế nào, nói đáp anh, 27.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Hiện Tử: Thế nào là ý Tây sang? Hiện Tử đáp: Mâm rượu trước bàn thần. Niêm: Nếu chẳng phải sư tử con, đâu khỏi chạy theo khối đất lăn. Tụng: Chặt đứt cội nguồn không chỗ nương, 28.- Cử: Quốc sư Vô Nghiệp nói: Nếu niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông chưa hết, chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Hòa thượng Bạch Vân Đoan nói: Giả sử niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Niêm: Đốt non cần cọp chạy, đập cỏ cốt rắn kinh. Tụng: Lời này xét lại chí khí khinh, 29.- Cử: Huyền Sa dạy chúng nói: Các bậc Lão túc khắp nơi đều bảo: “Tiếp vật lợi sanh.” Chợt gặp ba hạng người bệnh lại, làm sao tiếp? Người bệnh mù, giơ chùy dựng phất họ chẳng thấy. Người bệnh điếc, nói năng tam-muội họ không nghe. Người bệnh câm, dạy họ nói, nói không được. Niêm: Khát uống đói ăn, lạnh mặc nóng quạt. Tụng: Buồn thì ủ rũ vui tươi cười, 30.- Cử: Thụy Nham thường gọi: Ông chủ nhân, tỉnh tỉnh đi, về sau chớ bị người lừa gạt. Niêm: Khóc đến máu tuôn không chỗ dụng, Tụng: Thụy Nham thường gọi chủ nhân ông, 31.- Cử: Tam Thánh nói: Tôi gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người. Hưng Hóa nói: Tôi gặp người thì chẳng ra, ra thì vì người. Niêm: Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què. Tụng: Gặp khát tức thì uống nước ngay, 32.- Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong đến, chỉ tịnh bình nói: Tịnh bình là cảnh, ông không được động đến cảnh. Niêm: Nói có, nhằm chỗ nào để. Tụng: Trong gương không nhớp luống tự chùi, 33.- Cử: Thạch Đầu nói: Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được. Niêm: Các hạnh vô thường, tất cả đều khổ. Tụng: Câu nói hay khéo đem đến ông, 34.- Cử: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Giáp Sơn? Sơn đáp: Vượn ẵm con về sau núi biếc, chim tha hoa đậu trước non xanh. Niêm: Cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa. Tụng: Giáp Sơn cảnh vắng không người đến, 35.- Cử: Tăng hỏi Mục Châu: Một hơi thở tụng hết một tạng kinh không? Châu đáp: Có bao nhiêu bánh đem hết lại đây. Niêm: Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước. Tụng: Một hơi tự khéo tụng tạng kinh, 36.- Cử: Trong hội Lâm Tế, hai vị Thủ tọa nhà Đông nhà Tây gặp nhau đồng thời hét. Tăng hỏi: Lại có chủ khách hay không? Lâm Tế đáp: Chủ khách rõ ràng. Niêm: Cũng là vượn trắng nói lăng xăng. Tụng: Thánh chúa ngày nay cổ hóa phong, 37.- Cử: Huyền Sa nói: Nếu luận việc này, ví như người chủ một thửa ruộng, đến phần ranh giới đã bán cho các ông rồi, chỉ còn cái cây ở trung tâm vẫn thuộc về Lão tăng. Niêm: Biển cả chẳng nạp tử thi. Tụng: Dù người liễu ngộ ngời ngời tỏ, 38.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Tư (Hành Tư) về đại ý Phật pháp. Hòa thượng Tư đáp: Ở Lô Lăng giá gạo bao nhiêu? Niêm: Bóng trúc quét thềm trần chẳng dấy, Tụng: Lời này quả thật bậc anh linh, 39.- Cử: Tăng hỏi Thiền sư Văn-thù: Muôn pháp về một, một về chỗ nào? Văn-thù đáp: Sông Hoàng Hà chín khúc. Niêm: Nhân khi có trăng đẹp, bất thần qua Thương Châu. Tụng: Hoàng Hà chín khúc vì nêu ra, 40.- Cử: Nam Tuyền hỏi Triệu Châu: Ngươi là Sa-di có chủ hay Sa-di không chủ? Triệu Châu đáp: Có chủ. Nam Tuyền hỏi: Thế nào là chủ? Triệu Châu khoanh tay thưa: Hôm nay kính chúc Hòa thượng luôn được muôn phước. Niêm: Co tay chuyển chùy chẳng đổi gươm, Tụng: Khoanh tay Tùng Thẩm chỉ cho người, 41.- Cử: Tăng hỏi Mộc Am: Thế nào là việc của Nạp y (tăng sĩ). Mộc Am đáp: Dùi châm chẳng vào. Niêm: Ngồi yên dứt mảy trần, hư không chẳng lối thông. Tụng: Cầm thì mịn mượt, ấn thì mềm, 42.- Cử: Bàng cư sĩ nói: Đây là trường thi Phật, tâm không được đậu về. Niêm: Tháp nhạn đề tên, không dung giấy trắng. Tụng: Áo may trăm mảnh giày cỏ xuyên, 43.- Cử: Từ Minh hỏi Chân Điểm Hung về đại ý Phật pháp. Chân đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Minh hét, nói: Đầu bạc răng vàng vẫn khởi kiến giải này. Chân rơi lệ, giây lâu nói: Không biết thế nào là đại ý Phật pháp? Minh đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Chân đại ngộ. Niêm: Người nhân thấy thì gọi là nhân, người trí thấy thì gọi là trí. Tụng: Kia đây đồng khảy một cung đàn, Mục Lục
|
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
|
Niêm Tụng Kệ