Thiền Tông Việt Nam
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
Khóa Lễ Sáu Thời Sám Hối - Giảng 5

DÂNG HƯƠNG BUỔI ĐẦU HÔM

Cúi mong, lửa đom đóm điểm không, đèn thuyền chài rọi nước. Bạn tịnh trên đàn đều tới, trong lò mới thắp tín hương. Hương này, sản phẩm chẳng ở Lạc sơn, chủng loại không phải trầm thủy. Đâu bởi Thần Long dâng cúng, chính do Bồ-tát cất dành. Trong rừng Ngưu Đầu khó so bì, nơi vườn Kê Thiệt suy tôn bậc nhất. Gươm tuệ chặt, vót bằng đao giới rất mực thanh kỳ; nước định rửa, lửa tam-muội đốt mùi thơm ngào ngạt. Đâu chỉ đàn tràng ngửi được, mọi nơi khắp chốn đều thơm. Một nén hương xông nhiều đời nghiệp sạch. Nay buổi đầu hôm, đốt hương cúng dường.

“Cúi mong, lửa đom đóm điểm không, đèn thuyền chài rọi nước.” Tối đến đom đóm bay chớp chớp trên không, các thuyền chài thắp đèn, ánh sáng rọi xuống nước.

“Bạn tịnh trên đàn đều tới, trong lò mới thắp tín hương.” Bạn tịnh là dịch chữ phạm lữ. Lữ là bạn, phạm là thanh tịnh, nghĩa là những người xuất gia vừa đến trước đàn tràng, là chùa hoặc Thiền đường, khi ấy mới bắt đầu thắp hương cúng dường cắm trên lò hương. Ngài tán thán hương:

“Hương này, sản phẩm chẳng ở Lạc sơn, chủng loại không phải trầm thủy.” Lạc sơn là chỉ những ngọn núi ở ngoài biển tương tự như núi Bồng lai, tức là những ngọn núi có hương quí. Chủng loại của hương này vượt hơn hương trầm thủy.

“Đâu bởi Thần Long dâng cúng, chính do Bồ-tát cất dành.” Hương này không phải do các vị thần, rồng dâng cúng mà do trong kho của Bồ-tát cất dành sẵn.

“Trong rừng Ngưu Đầu khó so bì, nơi vườn Kê Thiệt suy tôn bậc nhất.” Rừng Ngưu Đầu tức Ngưu Đầu chiên-đàn, là cây chiên-đàn rất thơm, sản xuất trên núi Ngưu Đầu, một ngọn núi ở miền Nam Ấn Độ. Trong kinh Chính Niệm Xứ chép: Đỉnh núi này giống như đầu con trâu và núi sản sanh cây chiên-đàn nên gọi là Ngưu Đầu chiên-đàn. Hương chiên-đàn ở núi Ngưu Đầu rất thơm nhưng so với hương dâng cúng Phật còn thua kém. “Nơi vườn Kê Thiệt suy tôn bậc nhất.” Kê Thiệt cũng là tên (kê thiệt là lưỡi gà). Tìm trong sử thì thấy tên nhưng không thấy diễn tả là vườn hay núi... Hương Kê Thiệt là một thứ hương rất thơm nhưng cũng không bằng nên gọi là suy tôn bậc nhất. Vậy hương này là tâm hương nên chỉ có ở kho của Bồ-tát.

“Gươm tuệ chặt, vót bằng đao giới rất mực thanh kỳ.” Vì là tâm hương nên chặt bằng gươm trí tuệ, vót bằng đao giới luật nên rất mực thanh kỳ, tức là thơm tho kỳ đặc.

“Nước định rửa, lửa tam-muội đốt mùi thơm ngào ngạt.” Khi vót thành cây hương liền lấy nước định rửa, dùng lửa tam-muội đốt. Tam-muội là âm chữ Phạn, dịch nghĩa là chánh định. Mùi thơm hương này do trí tuệ biết, không phải như các loại hương thế gian do mũi ngửi được.

“Đâu chỉ đàn tràng ngửi được, mọi nơi khắp chốn đều thơm.” Mùi thơm của hương này không chỉ ở trong chùa mà tỏa khắp nơi. Đây là tâm hương, do giới, định, tuệ hun đúc thành, nên không phải do mũi ngửi mà do trí người trọng đạo đức biết nó thơm quí.

“Một nén hương xông nhiều đời nghiệp sạch”, nghĩa là xông được nén hương này thì tất cả nghiệp nhiều đời theo đó sạch hết. “Nay buổi đầu hôm đốt hương cúng dường.”

KỆ DÂNG HƯƠNG

Trầm thủy rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn vườn tuệ đã vun trồng,
Đao giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

KỆ DÂNG HOA

Đất tâm mở ra hoa nở rộn,
Trời có mưa hoa vẫn kém thơm.
Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

PHÁT NGUYỆN

Nguyện mây hương hoa này,
Khắp cả mười phương cõi,
Cúng dường tất cả Phật,
Tôn Pháp, chư Bồ-tát,
Vô lượng chúng Thanh văn
Và tất cả Thánh Hiền.
Vừa rời đài Quang minh,
Qua cõi nước vô biên,
Trong vô biên cõi Phật,
Nhận dùng làm Phật sự.
Xông khắp các chúng sanh
Đều phát tâm Bồ-đề.

Đây là lời phát nguyện sau khi dâng hương, dâng hoa.

TÂU BẠCH

Kính bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, mở rộng đèn tuệ chư Phật, soi khắp nhà tối quần sanh.

Kính mong chư Phật mở rộng đèn trí tuệ để soi khắp nhà tối của chúng sanh.

Trộm nghe (hay thầm nghe): kèn lầu vừa thổi, trống cấm mới truyền, nhà nhà đèn sáp sáng trưng, chốn chốn mỡ rồng cháy rực.

Đây là dẫn giải theo lối xưa, chữ kèn là gượng dịch, nguyên là chữ giác tức là sừng, thường gọi là tù và. Tiếng tù và thổi là báo hiệu đã tối, trống cấm trong thành vua được lệnh đánh, nhà nhà đều đốt đèn cầy sáng trưng. Mỡ rồng cũng là mỡ rắn, thường thuở xưa người ta hay lấy mỡ những con rắn lớn thắng làm dầu đốt, cũng như ở quê đốt dầu phộng dầu mù u, tối đến mỗi nhà đốt các dĩa dầu cháy rực.

Ngựa báu thôi hí ngoài ngõ tía, cá vàng ngưng nhảy dưới ao trong.

Ngõ tía tức là đường quan. Những con ngựa hay chở đưa người đi chơi ngoài đường quan, tối rồi ngưng không còn hí nữa. Cá ban ngày được người cho ăn, nhảy đớp bọt, tối đến im lặng không nhảy nữa. Đó là hai hình ảnh rất nên thơ.

Lưa thưa mặt nước đom đóm bay, lấp ló đầu non ngậm vầng nguyệt.

Trên mặt hồ lưa thưa đom đóm bay lập lòe, lúc đó mặt trăng sắp lặn.

Bên đài Phượng hoàng say sưa tiệc rượu liên hoan, trước lầu Anh vũ tham đắm mê hoa thủ lạc.

Đài Phượng hoàng và lầu Anh vũ chỉ cho những lầu đài cất gần đền vua ở Trung Hoa thuở xưa. Đó là chỗ vui chơi của vua quan, nên bên đài Phượng hoàng say sưa tiệc rượu liên hoan, trước lầu Anh vũ tham đắm mê hoa thủ lạc. Mê hoa tức là ham chơi thích thú theo những dục lạc thế gian.

Hoặc vịnh trăng cợt gió, hoặc thổi sáo đánh đàn.

Hoặc nhìn trăng đùa gió rồi làm thơ vịnh hoặc đánh đàn thổi sáo v.v...

Người người chăm chăm duyên trước mắt, kẻ kẻ đâu quên việc sau thân.

Người đời mải ham chơi mê đuổi theo những việc trước mắt, nhưng đâu thể quên được việc sau thân. Sau thân là việc gì? Mai kia thân này già nua lụn bại, nên ai cũng phải biết còn có việc sau thân. Đến đây Ngài đánh thức:

Các Phật tử! Phải tỉnh đường trước khó tiến tới, chớ tham gối cao mặc ngủ say.

Người tu hành phải luôn luôn nhìn trước mình, mỗi ngày mỗi bước tiến lên không được chần chờ, không được dừng nghỉ. Muốn tiến tới luôn luôn như vậy thật là khó, chúng ta phải nỗ lực. “Chớ tham gối cao mặc ngủ say”, tối nằm trên gối ngủ một giấc ngon tới sáng, đó là gối cao nệm ấm ngủ say sưa, quên đường trước mà không chịu tiến.

Lên giường khó bảo đảm xuống giường, đêm nay đâu thể biết đêm mai.

Câu này đánh thức chúng ta. Như vừa rồi tại một thất ở sau Thường Chiếu có một cô xuất gia, cô Huệ Toàn, chiều còn nói chuyện vui với huynh đệ như thường, tối ngủ đến sáng không thấy mở cửa, những người hàng xóm chạy đến nạy cửa vào thấy cô nằm yên không còn thở nữa. Thật đúng như câu: “Lên giường khó bảo đảm xuống giường.” Như vậy mà có ai nhớ đâu, cứ nghĩ sáng thì xuống, không ngờ có khi lên mà không xuống được. “Đêm nay đâu thể biết đêm mai”, đêm nay còn sống, chưa chắc đêm mai còn. Đó là những câu cảnh tỉnh cho chúng ta thấy cuộc đời mỏng manh tạm bợ, ngày nay khỏe mạnh chớ chưa bảo đảm ngày mai được khỏe. Nếu ai nhớ luôn luôn như vậy thì tu hành đâu có dám bê trễ. Trái lại, cứ tin ngày mai mình vẫn khỏe, vẫn làm việc như thường, nên ngày nay tu thiếu, để dành mai tu bù không có gì phải lo. Nếu biết rằng ngày nay chưa bảo đảm ngày mai thì ngày nào khỏe phải tu ngay, chớ không thể chần chờ.

Cửa đệ nhất nghĩa nên thẳng vào, nơi ba đường ác chớ tiến bước.

Cửa đệ nhất nghĩa là dịch từ "đệ nhất nghĩa môn" là cửa có một nghĩa thôi, đó là cửa không dính hai bên. Quí vị đang tiến vào cửa đệ nhất hay cửa đệ nhị? Nếu là đệ nhị thì kẹt hai bên. Cửa đệ nhất thì không có hai bên, tức là không có hơn thua, tốt xấu, phải quấy. Đó cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế, nơi cửa đó phải ráng thẳng vào. Còn ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, đừng tiến bước vào vì sẽ khổ. Như vậy người biết tu phải luôn luôn đi thẳng vào cửa đệ nhất nghĩa, tức là nơi không còn đối đãi, không còn phân biệt, đó là nơi an định, giải thoát khỏi vòng sanh tử.

Quay đầu nhận về gia hương mình, mở mắt chớ ham mộng phù thế.

Gia là nhà, hương là làng xã nơi nhà mình ở, đó là nghĩa đen. Theo nghĩa ở đây gia hương là chỗ cố hương mình có từ thuở nào. Nay chúng ta có phải là những người đang phiêu bạt không? Người rời khỏi cố hương là kẻ phiêu bạt! Như vậy nếu chưa về được gia hương mình là còn đang phiêu bạt.

Ngài Trần Thái Tông bảo chỉ quay đầu nhận về gia hương! Vậy gia hương khác với phiêu bạt ở chỗ quay đầu lại hay phóng mắt nhìn ra. Quay đầu lại, từ chuyên môn nhà Thiền gọi là “Hồi đầu thị ngạn” nghĩa là quay đầu là bờ, bờ ấy là gia hương. Trái lại nếu phóng mắt ra ngoài, đó là phiêu bạt. Buông sáu căn chạy theo sáu trần đó là phiêu bạt. Xoay sáu căn trở lại nơi bản quán của nó, là quay đầu về cố hương, quay đầu về là bờ giác. Bờ giác xa hay gần? Gần nhưng đi mãi không đến nên thành xa! Xa mà không phải xa, chỉ cần quay đầu lại, nhưng vì cứ phóng ra nên trở thành xa! Như vậy tự kiểm điểm lại xem một ngày chúng ta quay lại được bao lâu, chắc chắn nhất là sáu tiếng. Chúng ta còn như thế, huống là người thế gian mải đi theo con đường phiêu bạt hẳn khó kiếm được một tiếng đồng hồ quay trở lại. Thế nên chúng ta thấy kinh Pháp Hoa diễn tả hay đáo để. Người cùng tử bỏ nhà đi không biết từ thuở nào, chỉ thấy đang lang thang, nay giựt mình, quay trở về quê hương tìm cha mẹ. Khi trở về buổi đầu được cha trao cho công tác tầm thường như hốt phân, dần dần được gần cha và cuối cùng cha trao hết gia tài cho. Biết trở về là như vậy, còn nếu không biết thì suốt kiếp làm cùng tử lang thang. Nếu tủi nhục cho đời cùng tử thì chúng ta phải mau quay về. Hiện nay chúng ta cũng giống như chàng cùng tử đang làm chuyện hốt phân sống qua ngày vậy.

Mở mắt chớ ham mộng phù thế.

Mộng phù thế là gì? Con phù du ở trên mặt nước, sớm mai có mặt, chiều tối chết, cuộc đời tạm bợ giống như đời con phù du. Cuộc sống của chúng ta là giấc mộng trong cõi tạm. Thế thì có gì đáng ưa thích. Nhưng chúng ta đang mê, mở mắt thì ham mộng phù thế nên Ngài nhắc chúng ta đừng say mê cái tạm bợ, cái mộng ảo trên thế gian này. Chỉ hai câu này đủ nhắc nhở chúng ta tu, “quay đầu nhận về gia hương mình, mở mắt chớ ham mộng phù thế”. Tới lui, xuống bếp, ra vườn cứ ngâm hai câu đó chớ đừng ca những câu khác.

Đệ tử chúng con kính tưởng giờ này, lấy làm khóa lễ đầu hôm.

SÁM HỐI TỘI CĂN LƯỠI

Chí tâm sám hối,
Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay;
Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

NGHIỆP CĂN LƯỠI LÀ:

Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở;
Nếm hết các thứ, biết rõ béo gầy.

“Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở.” Lưỡi chúng ta thích đủ mùi. Vị bùi béo thì ưa, chát đắng thì không thích, để vào lưỡi thì khen món này ngon chê món kia dở. Nhiều khi trên mặt xã giao có những trường hợp nếu không làm giống người thì thấy quê, mà làm theo người thì thấy xấu hổ. Thí dụ như có nhiều Phật tử nấu thức ăn ngon cúng dường quí thầy, họ hỏi: Thầy dùng món này được không? Theo thế tình muốn vui lòng người làm bếp thì phải nói: À ngon quá! Như vậy mình đã theo vị rồi. Còn nếu chỉ làm thinh hoặc gật đầu một chút thì thấy thiếu lịch sự. Thế nên việc xã giao làm con người xa lần với đạo lý, nghĩa là muốn được lòng người cúng dường thì phải khen, mà khen thì phải nghĩ tới ngon dở, nhưng chúng ta thấy lỗi của lưỡi là “tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở”.

“Nếm hết các thứ, biết rõ béo gầy”: Thức gì cũng ưa nếm, cũng ăn qua cho biết, nên nhiều người vì nghe quán này nấu khéo, quán kia nấu ngon liền rủ nay đi ăn quán này, mai đi ăn quán kia để cho biết hết các thứ và “biết rõ béo gầy”. Thức ăn có mỡ thì biết đó là con vật béo mập, còn thức ăn không mỡ thì biết đó là gầy nên những bệnh của lưỡi kể ra cũng nhiều.

Sát hại sanh vật, nuôi dưỡng thân mình.

Một con vật chết là nuôi cho mình được một bữa ăn. Đó là nói những con vật khá lớn, còn những con vật nhỏ thì một bữa ăn sát hại không biết bao nhiêu con.

Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.

Cá hay chim thì đem quay, đem rán, cầm thú thì đem nấu hầm. Tất cả những thứ đó là cái ngon miệng, cái sở thích của người đời.

Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.

Có thứ thịt nào chưa xào nấu mà không tanh đâu. Nhưng xào nấu rồi thì ăn béo miệng. Lại muốn cho nó được thơm thì thêm hành tỏi. Tanh thì ngon miệng, thơm thì xông trong ruột, khi vô thì thơm đến khi ra thì hôi chịu không nổi.

Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.

Món gì ngon thì để dành lại, nếu trưa chiều mà không dọn lên thì hỏi: Món hồi sáng đâu rồi? Đó là diễn tả sở thích ăn thịt cá hoặc các loài vật, chim chóc v.v... Đến hoàn cảnh bắt buộc phải đi chùa ăn chay thì:

Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật;
Cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong.

Phải đi chùa để cầu cúng theo lệnh của cha mẹ, ông bà thì ráng tới, tới thì cam bụng đói để đợi xong việc đặng về nhà ăn cho ngon chớ ở chùa ăn không được.

Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều;
Giống hệt người đau gắng nuốt thuốc cháo.

Ăn chay thì gượng ăn thôi, nuốt cơm không trôi, chỉ húp một chút canh cho đỡ dạ, nên cơm ít nước nhiều. Ăn chay giống như là uống thuốc không có gì ngon, vì vậy mà ăn lếu láo để về nhà ăn lại.

Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,
Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.

Bữa nào thấy những thức ăn có thịt cá tươi ngon đầy bàn thì cười nói hân hoan, cho nên đến bàn ăn mà vui vẻ là nhờ những thức ăn vừa ý đầy bàn. Nếu đến bàn ăn thấy toàn là những thứ không thích hẳn là không vui chút nào. Trong các bữa tiệc luôn luôn là mời ăn mời uống, đem món nóng lên, đổi món nguội xuống v.v...

Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con,
Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.

Nghĩa là giết lợn bò, gà vịt để làm tiệc, đều gốc từ cái lưỡi ba tấc này (nói theo tấc ta ngày xưa). Đó là diễn tả lỗi thích ăn ngon, không ưa dở của lưỡi.

Tiếp đến là lỗi hay nói của lưỡi:

Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,
Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.

Hoặc nói dối bày điều tức là nói không có lẽ thật, hoặc chuyện như thế này mà thêu dệt tô điểm thành thế khác, hoặc nói hai lưỡi, tới người này thì chê gièm người kia, tới người kia thì chê gièm người này làm cho người hờn giận nhau, hoặc nói những lời dữ, lời hung ác. Từ lưỡi sanh ra bốn tội nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác khẩu.

Chửi mắng Tam Bảo, nguyền rủa mẹ cha;
Khinh khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người.

Đây là chỉ những đứa con bất tiếu không kể gì cha mẹ, không kể gì Phật pháp nên có những lời nói dữ, khinh chê Hiền Thánh, lừa dối mọi người.

Chê bai người khác, che giấu lỗi mình;
Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.

Bệnh của chúng ta là bệnh chê người khen mình, hoặc giấu lỗi mình, bươi móc lỗi người. Dù ai hay mấy mà người ta khen trước mặt mình, mình cũng khó chịu, nên có lần tôi nói một câu mà tôi còn nhớ: Nghe người khen bạn mình trước mặt, mà mình không đổi sắc, đó là người can đảm. Thí dụ hai người bạn cùng làm một việc mà người xa lạ lại khen bạn mình nức nở, mà không nói đến mình, mình phải can đảm lắm mới giữ được sắc mặt bình tĩnh. Trái lại nếu họ khen mình, chê bạn thì chắc mình dễ chịu hơn! Giấu cái dở của mình và bươi móc lỗi người thì người tức bươi lại lỗi mình rốt cuộc cả hai đều xấu. Con người mê muội dễ có hai bệnh này.

Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo;
Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.

Nếu mình khá giả thì tới đâu cũng khoe, thấy ai nghèo hèn hơn thì khinh chê, lăng nhục họ. Đối với Tăng Ni thấy chỉ có ăn hại, không có lợi gì, nên tới nhà là đuổi đi. Tôi tớ làm gì không vừa ý thì chửi mắng.

Lời gièm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn;
Tô vẽ điều sai, nói không thành có.

Lời gièm pha là một thứ thuốc độc. Còn lời nói khéo nói xảo, vuốt ve nghe như đàn êm tai. Những điều đúng phải mà tô vẽ thành trái quấy, việc không mà nói thành có, đó là lối nói tạo cho người hiểu lầm lẽ thật.

Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông.

Trời nóng quá cũng tức, lạnh quá cũng không ưa, không biết chuyện thời tiết nóng lạnh là lẽ thường. Phỉ nhổ non sông là có khi mình cũng bực bội tức tối cả núi sông.

Tán dóc Tăng phòng, ba hoa Phật điện.

Lẽ ra tối đến về liêu phòng im lặng ngủ, nhưng hai ba người dụm lại tán dóc đủ chuyện. Điện Phật là chỗ cung kính trang nghiêm, mà lên đó còn ba hoa nói chuyện ồn náo.

Những tội như thế, vô lượng vô biên;
Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.

Tội của lưỡi quá nhiều! Từ ăn uống đến nói năng, lưỡi tạo đủ các tội nhiều như cát bụi đếm không thể hết. Thế nên mỗi ngày đêm chúng ta phải ráng tu hành cho bớt tội lỗi của nghiệp lưỡi.

Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt Thiệt;
Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.

Sau khi chết rơi xuống địa ngục tên Bạt Thiệt, nơi đó lưỡi bị kéo dài ra, rồi bị cày bằng sắt cháy đỏ cày lên trên, lại bị nước đồng sôi rót vào trong miệng. Ăn uống như vậy để bù lại vị ngon và lời nói sai quấy ở thế gian.

Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh;
Dù được làm người, lại bị câm bặt.

Quả báo ở địa ngục hết rồi, phải trải qua bao nhiêu kiếp mới được sanh trở lại làm người. Dù được làm người, do dư báo vẫn bị bệnh câm ngọng. Vì lỗi của lưỡi mà phải chịu khổ trong địa ngục, đến khi trở lại làm người vẫn còn bị khổ ở thế gian.

Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ;
Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.

Hôm nay thành tâm sám hối những lỗi lầm do lưỡi tạo ra cho được sạch hết, và phải luôn nhớ không còn nói những lời tổn phước, tổn đức, gây đau khổ cho người và vật.

CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH

Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật,
Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).

CHÍ TÂM TÙY HỈ

Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện đem công đức đến quần sanh,
Nương thắng nhân này thành Chánh giác.

Những bài này đã giảng.

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

Một nguyện ăn no vị vô thượng,
Hai nguyện nhả hết vị trần tanh,
Ba nguyện biện tài trừ các hoặc,
Bốn nguyện thích nói độ quần sanh.
Năm nguyện đọc hết kho vô tận,
Sáu nguyện sông pháp uống cạn khô,
Bảy nguyện sớm nhận Đại Ngu nói,
Tám nguyện nhanh đồng Lâm Tế thanh.
Chín nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ,
Mười nguyện trong sạch như trời xanh,
Mười một nguyện thế gian không câm ngọng,
Mười hai nguyện địa ngục hết trâu cày.

“Một nguyện ăn no vị vô thượng.” Vị vô thượng là pháp vị. Nghe kinh học đạo đầy đủ gọi là ăn no vị vô thượng.

“Hai nguyện nhả hết vị trần tanh”, nghĩa là phải nhả sạch những vị hôi hám của trần tục. Đó là nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói hung ác, khinh chê cha mẹ, khinh chê Tam Bảo, nói những lời lỗi lầm v.v..., tất cả những vị trần tanh đó phải nhả ra hết.

“Ba nguyện biện tài trừ các hoặc”, nguyện được biện tài vô ngại để trừ các mê lầm cho chúng sanh.

“Bốn nguyện thích nói độ quần sanh.” Nguyện thích nói pháp để độ quần sanh, chớ không phải được biện tài vô ngại rồi vào núi ở một mình, vì như vậy là tiêu nha bại chủng.

“Năm nguyện đọc hết kho vô tận”, là nguyện đọc hết Tam tạng giáo điển không thiếu sót.

“Sáu nguyện sông pháp uống cạn khô”, giáo pháp Phật như con sông lớn, nguyện uống cạn hết giáo pháp.

“Bảy nguyện sớm nhận Đại Ngu nói.” Nhân nghe một câu mà nhận được chỗ đại cơ đại dụng của người xưa.

“Tám nguyện nhanh đồng Lâm Tế thanh”, ngài Lâm Tế hét một tiếng mà ngộ được là căn cơ nhanh chóng, nên nguyện mình được nhanh như tiếng hét của Lâm Tế, vừa hét là ngộ.

“Chín nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ.” Đức Phật le lưỡi phủ hết mặt. Theo tinh thần trong kinh dạy: Người không nói dối thì được tướng lưỡi rộng dài. Sở dĩ lưỡi đức Phật le ra phủ tới mí tóc tức là phủ hết mặt vì ba đời Ngài chưa từng nói dối. Lưỡi chúng ta ngắn quá chắc là ít có nói thật. Chín nguyện được như Phật lưỡi rộng dài phủ trùm tới mí tóc.

“Mười nguyện trong sạch như trời xanh”, nguyện tâm hồn mình trong sạch như bầu trời trong xanh không gợn mây.

“Mười một nguyện thế gian không câm ngọng.” Đây là lợi tha. Biết tu về lưỡi rồi thì nguyện cho tất cả mọi người thế gian cùng biết tu để hết nghiệp nói gian dối, đời sau không mang bệnh câm ngọng.

“Mười hai nguyện địa ngục hết trâu cày”, tức là nguyện không còn ai nói dối nói ác độc để phải đọa vào địa ngục Bạt Thiệt bị trâu cày trên lưỡi.

Điểm đặc biệt của ngài Trần Thái Tông là nói về căn nào thì có nguyện của căn ấy. Nói về tai có nguyện của tai, nói về mũi có nguyện của mũi, nói về lưỡi thì cũng nguyện cho mình và mọi người được lưỡi như thế nào, khỏi những cái khổ về lưỡi v.v...

KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY

Ngày sáng mất rồi đêm tối đến,
Đường đêm mờ mịt lại mịt mờ.
Uổng công đốt đuốc cho người khác,
Chẳng chịu mồi đèn chính nhà mình.
Chầm chậm vầng ô vừa khuất núi,
Từ từ bóng thỏ biển đông lên.
Chết sống xoay vần đều như thế,
Sao chẳng qui y Phật Pháp Tăng.

Qua bốn câu đầu bài kệ Ngài nhắc:

Hết sáng đến tối, trên đường mờ mịt lại thêm trời tối mịt mờ. Hai lớp mờ tối, lại lo đốt đuốc cho người mà không chịu mồi đèn nhà mình cho sáng. Kinh Minh Tâm Bảo Giám có câu nói tương tự: “Nhân nhân tự tảo môn tiền tuyết, Bất vị tha nhân ốc thượng sương.” Mỗi người tự quét tuyết trên cổng của mình, đừng nghĩ tới sương đóng trên nhà người. Chúng ta có bệnh ngược lại, muốn quét sương trên nhà người mà không chịu quét tuyết trên cổng nhà mình. Thế nên ngài Trần Thái Tông bảo mỗi người hãy ráng đốt đèn nhà mình cho sáng đừng lo đốt đuốc nhà người. Chúng ta không thấy rõ được cái hay dở, tốt xấu của chính mình, nhưng lại có thói quen nhìn người khác để phê bình. Tại sao không chịu khó nhìn lại mình? Biết được cái hay dở tốt xấu của mình có lợi là để chúng ta tu tập. Còn chuyện của người dù thấy nhưng chưa chắc chúng ta làm được gì cho họ. Vậy từ nay chúng ta chịu khó mồi đèn nhà mình, đừng thắp đuốc nhà người nữa.

Chầm chậm vầng ô vừa khuất núi,
Từ từ bóng thỏ biển đông lên.
Chết sống xoay vần đều như thế,
Sao chẳng qui y Phật Pháp Tăng.

Mặt trời từ từ khuất núi, mặt trăng từ từ lên, tức là sáng rồi chiều, chiều rồi tối. Như vậy ngày qua đêm lại, hết tháng hết năm. Ngày tháng xoay vần đều đều thì sự vô thường già chết đuổi gấp tới một bên, còn gì nữa mà chần chờ, sao không hướng về Phật Pháp Tăng qui y để tu hành? Đó là lời nhắc nhở của Ngài.

Mục Lục