Thiền Tông Việt Nam
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
Khóa Lễ Sáu Thời Sám Hối - Giảng 3

DÂNG HƯƠNG BUỔI TRƯA

Cúi mong, ánh dương rực rỡ, bầu trời chói chang. Nhìn lại ngày cứ trôi qua, đến Phật khấn cầu. Lòng tin tỏ bày dưới tòa báu, thắp nén hương trầm cắm lò châu. Hương này hun đúc bởi tiên thiên, chẳng phải Bồng đảo châu sản xuất; ngát thơm quả đất, nào do chiên-đàn sanh ra. Danh phẩm hơn cả trầm tiên, mùi vị vượt xa lan xạ. Chỗ tỏa khói lành, bởi lửa tam-muội đốt; mây hương bủa khắp, vốn từ khí nhất nguyên tan. Mỗi mỗi trên đảnh đều thấu triệt, người người trong mũi thảy ngửi mùi.

Đây do Nghi sám hối, làm lễ dâng hương. Nay giờ ngọ thắp hương cúng dường.

“Ánh dương rực rỡ bầu trời chói chang.” Dâng hương vào buổi trưa đúng ngọ, ánh nắng chói chang cả bầu trời.

“Nhìn lại ngày cứ trôi qua, đến Phật khấn cầu.” Nhìn lại những ngày đã qua, ngày qua không dừng một chỗ. Ngày qua, tháng qua, năm qua, tuổi chúng ta theo thời gian không dừng lại. Cái chết gần kề nên đến Phật khấn cầu.

“Lòng tin tỏ bày dưới tòa báu.” Đem lòng tin sám hối tỏ bày dưới tòa báu, tức là tòa đức Phật ngồi.

“Thắp nén hương trầm cắm lò châu”, đem nén hương trầm cắm trong lư hương châu ngọc, vì trên là tòa báu, dưới là lò châu để đối nhau.

“Hun đúc bởi tiên thiên, chẳng phải Bồng đảo châu sản xuất.” Hương cúng dường Phật hun đúc bởi tiên thiên. Tiên thiên đối với hậu thiên, tiên thiên là trước, hậu thiên là sau. Tức là mùi hương này hun đúc sẵn từ thuở nào, không phải do nơi đảo Bồng lai của các vị tiên sản xuất. Tục truyền chỗ tiên ở gọi là Bồng đảo hay Bồng lai tiên cảnh. Theo truyền thuyết, những đảo thần tiên phần nhiều ở trên biển Bột Hải.

“Ngát thơm quả đất, nào do chiên-đàn sanh ra”, mùi thơm ngát của hương tỏa khắp quả đất, không phải do cây chiên-đàn tạo. Hương cúng dường Phật, là hương từ tâm chúng ta, do giới, định, tuệ phát sanh, không phải hương từ đảo tiên đem lại, cũng không phải từ cây chiên-đàn ra.

“Danh phẩm hơn cả trầm tiên, mùi vị vượt xa lan xạ”, giá trị của hương này hơn cả hương trầm tiên ở nước ta có tiếng là rất thơm. Nó vượt hơn mùi thơm của hoa lan, hay xạ của loài chồn.

“Chỗ tỏa khói lành, bởi lửa tam-muội đốt”, hương giới, định, tuệ phát ra khói thơm tỏa khắp là do ngọn lửa tam-muội đốt. Tam-muội là chữ Phạn, Trung Hoa dịch là chánh định.

“Mây hương bủa khắp, vốn từ khí nhất nguyên tan”, nghĩa là mùi hương này bủa khắp cả trời đất, nhưng không phải từ đâu đến mà chính từ tâm thể nhất chân bủa ra, phủ khắp.

“Mỗi mỗi trên đảnh đều thấu triệt.” Ngài nói tất cả chúng ta trên đảnh đầu đều thấu triệt mùi hương đó, tức là phải nhìn tường tận, tột cùng thể nhất nguyên hay khí nhất nguyên.

“Người người trong mũi thảy ngửi mùi”, ai ai ở trong mũi đều ngửi được mùi hương, đó là hương giới, định, tuệ từ thể nhất tâm ra. Ngài mượn hình tướng thắp hương cúng dường Tam Bảo để nói lên tâm chúng ta là gốc phát ra giới, định, tuệ; giới định tuệ tức là mùi hương bủa khắp tất cả, không do các thứ cây cối hoặc loài vật sanh ra.

“Đây do Nghi sám hối, làm lễ dâng hương”, là do nghi lễ sám hối nên làm lễ dâng hương. “Nay giờ ngọ thắp hương cúng dường.”

KỆ DÂNG HƯƠNG

Trầm thủy rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn vườn tuệ đã vun trồng,
Đao giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

KỆ DÂNG HOA

Tâm địa mở ra, hoa nở rộn,
Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm,
Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

HIẾN DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH

Nguyện mây hương hoa này, qua đầy mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tôn Pháp, chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh văn và tất cả Thánh Hiền; từ đài Quang minh dậy, qua vô biên thế giới, trong vô biên cõi Phật, thọ dụng làm Phật sự; khắp huân các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.

Cúng dường rồi, chí tâm qui mạng lễ, mười phương Vô thượng Tam Bảo.

Các bài này đã giảng trong bài trước.

TÂU BẠCH

(Lại niêm hương quì bạch)

Quì niệm hương.

Kính bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, chuyển sáu đạo thành sáu thần thông, nhiếp chín loài về chín phẩm.

Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư đã giảng trong bài trước.

“Chuyển sáu đạo thành sáu thần thông.” Trong nhà Thiền, sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khéo tu cũng chuyển thành sáu thần thông: Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông v.v... Như vậy nguyện Phật thương giúp chúng ta chuyển sáu đạo thành sáu thần thông.

“Nhiếp chín loài về chín phẩm.” Chín loài là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng. Hiểu theo tinh thần đạo Phật, chúng sanh trên thế gian này không phải chỉ có một loài thai sanh như con người hay các loài thú, mà còn có noãn sanh là sanh bằng trứng, thấp sanh là sanh chỗ ẩm ướt, hóa sanh tức không phải do ái dục mà là theo nghiệp hóa sanh, các loài chúng sanh có hình sắc, loài chúng sanh không hình sắc, loài chúng sanh có tâm tưởng, loài chúng sanh không tâm tưởng, rồi cuối cùng có loài chúng sanh không phải có tưởng không phải không tưởng, tức là loài chúng sanh này có tưởng rất là vi tế. Hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng, năm loài này do tu thiền mà được. Trong kinh Phật thường dạy những chúng sanh nào được định Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thì sanh cõi trời Sắc giới, do đó trong cõi trời Sắc giới có Sơ thiền thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên, tu được Tứ thiền trong nhà Phật gọi là Phàm phu thiền, vì thiền đó còn luân hồi sanh tử. Những người tu quán về không tưởng, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ thì sanh cõi trời Vô sắc. Những chúng sanh tu thiền mà còn tư tưởng thì sanh cõi trời hữu tưởng. Cõi trời đó không có hình tướng, chỉ còn tư tưởng. Còn những chúng sanh nào không còn tư tưởng thì gọi là sanh cõi vô tưởng rồi tới phi hữu tưởng phi vô tưởng là cao nhất. Qua khỏi chín loài này mới tới Diệt thọ tưởng định, chứng A-la-hán, đó là siêu xuất sanh tử.

Như vậy trên thế gian, theo con mắt nhà Phật, không phải chúng sanh nào cũng có thân nặng nề mấy mươi ký như chúng ta, chúng sanh ở cõi Vô sắc làm sao có tướng, hữu tưởng vô tưởng cũng không có tướng, phi hữu tưởng phi vô tưởng cũng vậy. Thế nên những hành tinh không thích hợp với con người, biết đâu lại thích hợp với những loài khác, chớ không phải chúng sanh nào cũng giống hệt chúng ta, nên không thể lấy con người làm tiêu chuẩn nghiên cứu. Nếu hiểu theo nhà Phật thì chắc rằng trên thế giới có nhiều cõi có những chúng sanh khác như vô sắc thì mắt chúng ta đâu có thấy, hay là hữu tưởng, chỉ có tâm tưởng, chúng ta cũng không thấy... Nếu chúng ta muốn tìm biết hết trong vũ trụ này không biết chừng nào mới xong, chỉ mắt Phật mới thấy tường tận.

Chín phẩm tức chín phẩm Liên Hoa (cửu phẩm Liên Hoa) là nói theo tinh thần Tịnh độ. Sanh về Cực Lạc có Thượng phẩm, Trung phẩm, Hạ phẩm. Mỗi phẩm chia làm ba. Thượng phẩm có Thượng phẩm thượng sanh, Thượng phẩm trung sanh, Thượng phẩm hạ sanh. Trung phẩm có Trung phẩm thượng sanh, Trung phẩm trung sanh, Trung phẩm hạ sanh. Hạ phẩm cũng vậy, có thượng, trung, hạ sanh. Chung tất cả là chín phẩm.

Trộm nghe: Gà xóm gáy trưa, mặt trời đứng bóng. Vòm trời cao ánh dương vừa đến giữa, khắp nơi dương liễu bóng đứng ngay.

Ngài diễn tả rất cụ thể, “gà xóm gáy trưa” là mười hai giờ trưa nghe gà gáy. “Mặt trời đứng bóng, vòm trời cao ánh dương vừa đến giữa, khắp nơi dương liễu bóng đứng ngay”, dương liễu rọi bóng thẳng xuống không có nghiêng lệch.

Nắng rọi sân hoa vờn ngọc, gió đưa rặng liễu lay vàng.

Cảnh rất nên thơ, nắng rọi xuống sân hoa rung rinh như vờn ngọc; gió đưa rặng liễu lung lay trong ánh nắng như lay vàng.

Long lanh rực rỡ chiếu dao đài, lấp lánh chập chờn soi thềm ngọc.

Dao đài là chỗ ở của thần tiên, nghĩa là ánh nắng long lanh rực rỡ soi chiếu như chỗ ở của thần tiên, chập chờn lấp lánh rọi trên thềm giống như thềm ngọc.

Lò nghê hương quyện, trời xanh vầng nhật chói chang.

Có hai loại nghê: một loại là loài thú giống như sư tử, một loại là cá kình (có bộ ngư ở bên). Thường các lư hương hay chạm hình sư tử hoặc hình cá kình. Lò nghê hương quyện tức là lò hương chạm hình sư tử quyện khói. Trong bầu trời xanh mặt trời soi sáng, ánh nắng chói chang.

Gối tiên giấc nồng, trên gác tía ngày dài đêm ngắn.

Những vị thảnh thơi trưa nằm trên gác tía kê đầu trên gối ngủ một giấc say, đêm ngủ chưa đủ nên trưa ngủ tiếp. Đó là chỉ người thích ngủ trưa nhiều.

Hè cao độ thì chảy vàng nứt đá. Đông cực hàn thì sương phủ tuyết rơi.

Đây là tả cảnh ở ngoài Bắc với Trung Hoa hay các nước khác. Còn ở miền Nam hè cao độ chưa đến chảy vàng, nứt đá, đông chỉ có sương chớ không có tuyết. Đây là Ngài tả sức nóng và lạnh của mùa hè và mùa đông.

Nắng trưa bụi mù trong sạch, bóng xế mây tối quét tan.

Trưa nắng nên tất cả những mây mù đều không còn, bóng hơi xế thì mây tối đều tan hết.

Đối cảnh tánh thiên rỗng suốt, ngay đó tâm địa sáng ngời.

Đối với sáu trần hay ngoại cảnh, tánh thiên là tánh sẵn có của chúng ta rỗng suốt, chính ngay lúc đó, tâm địa mình được sáng ngời. Người tu khi đối cảnh phải có tánh sáng suốt, không bị ngoại cảnh ngăn trở, nghĩa là không dính mắc ngoại cảnh. Chúng ta hiện nay đối cảnh thì phàm tình dính mắc, đương thời thì vọng tưởng lăng xăng. Chúng ta phải tu như thế nào để được đối cảnh tánh thiên rỗng suốt, ngay đó tâm địa sáng ngời.

Nơi nơi thảy có quang minh, bước bước trọn không hắc ám.

Nơi nào cũng thấy rõ ràng sáng suốt, mỗi bước đều không mờ mịt tối tăm, thế mới thật là người ngộ đạo.

Tóm lại người thâm nhập được lý đạo thì đối cảnh tâm tánh rỗng suốt không bị dính kẹt, ngay khi đó tâm địa sáng ngời không bị phủ che, nơi nơi đều sáng rỡ, bước bước không mịt mờ. Trái lại chúng sanh đối cảnh tâm luôn dính mắc, đương thời niệm khởi lăng xăng, nơi nơi đều mù tối, bước bước thảy rộn ràng. Mê và giác khác nhau như vậy. Nay thử nghiệm xem những người giác chút ít có được như thế này chưa? Nếu chưa được là điều đáng hổ thẹn, phải nên cố gắng. Chúng ta thường nói hành thiền, nghĩa là đi thiền, mỗi bước phải ở trong tỉnh giác. Nếu đi trong mê lầm đó là hắc ám chẳng phải hành thiền. Thế nên người tu phải luôn nhớ đi trong sáng suốt.

Chư Phật tử! Mặt trời đúng ngọ rồi phải xế, con người có thạnh ắt có suy.

Đó là Ngài cảnh giác chúng ta, nhìn mặt trời thấy đúng ngọ, một lát sau đã xế. Như vậy mặt trời lên cao rồi xuống thấp, có giữa trưa phải có xế chiều. Sự sống của chúng ta cũng vậy, thạnh rồi phải suy. Như hiện giờ quí vị hai mươi, ba mươi tuổi, là lúc cơ thể thạnh nhưng rồi sẽ bốn mươi, năm mươi, không dừng một chỗ mà luôn thay đổi. Biết rõ mặt trời có trưa có xế, thân người có thạnh có suy thì khi thạnh phải nghĩ đến lúc suy. Vậy chúng ta phải làm gì? Lo tranh cãi hơn thua hay là cố gắng tu hành không để thì giờ uổng phí?

Thân thể chẳng bền lâu, giàu sang khó giữ mãi.

Thân chúng ta không bền lâu, rồi cũng sẽ mất; sự giàu sang ở thế gian cũng khó giữ mãi, duyên tốt thì giàu, duyên suy thì nghèo khó.

Nhanh chóng như nước chảy trên sông, lẹ làng tợ mây qua đỉnh núi.

Sự đổi thay nhanh chóng như dòng nước chảy trên sông, lẹ làng như mây qua đỉnh núi. Chúng ta thấy mọi sự vật chuyển biến không dừng, thân chúng ta cũng vậy, chuyển từ trẻ lần đến già không dừng lại một phút giây nào, vậy chúng ta phải khéo lo liệu. Ngài khuyên:

Bình sanh chẳng tạo nhân lành, ngày khác ắt về đường khổ.

Khi còn sống chúng ta bon chen giành giật không chịu tạo nhân lành nên đến lúc nhắm mắt, bảo đảm sẽ đi trong đường khổ không nghi.

Quyết khởi tin sâu, trừ sạch nghi ngờ.

Vậy chúng ta phải quyết tâm khởi lòng tin sâu về lý vô thường của Phật dạy, trừ sạch hết nghi ngờ để cố gắng tu hành đến nơi đến chốn.

Sớm nở tâm châu chư Phật, chiếu phá thùng sơn chúng sanh.

Hai câu này mang tính cách thiền. Sớm nở tâm châu chư Phật tức là phải khai mở tâm chân thật nơi mình đừng để bị khuất lấp. Chiếu phá thùng sơn chúng sanh, thùng sơn là cái gì đen kịt và dẻo dai, chùi không ra, rửa không sạch. Quí vị có mang thùng sơn đó không? Có nhiều người than là cố gắng tu nhưng sao bỏ thói cũ không được, thói cũ là sơn đã dính chùi không ra. Thế thì ai cũng mang một thùng sơn đen kịt. Nay phải làm sao cho cái thùng thủng đi, sơn chảy hết ra, nhà thiền gọi là đập bể thùng sơn. Muốn cho thùng sơn bể chỉ có tâm chân thật của mình mở ra, thùng sơn mới bể. Trái lại nếu tâm chân thật nơi mình không mở thì thùng sơn không thể nào lủng đáy được. Do đó khi tu chúng ta phải cố gắng thâm nhập được tâm chân thật của chính mình. Tâm ấy còn gọi là Tri kiến Phật, nếu được phát triển thì thùng sơn phiền não tối tăm sẽ tan nát.

Đệ tử chúng con kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ buổi trưa.

Tâu bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương ba đời Vô thượng Tam Bảo.

Khải bạch xong bắt đầu sám hối.

SÁM HỐI TỘI CĂN TAI

Chí tâm sám hối,
Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

Những câu này đã giảng trong bài trước.

NGHIỆP CĂN TAI LÀ:

Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà;
Mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng.

“Ghét nghe chánh pháp”: ngồi nghe kinh một chút là muốn ngủ gục và nói: Cứ đem mấy điều luân lý nói hoài chán quá! Trái lại nếu ai ca hát hoặc nói đùa chơi v.v... thì chú tâm nghe không biết chán, lại còn nhớ nữa. Đó là bệnh của tai. Thế nên “mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng”. Vì thích lời tà nên quên mất gốc chân. Mê đây là quên cái chân thật của chính mình. Đuổi theo ngoại vọng là đuổi theo những vọng tưởng điên đảo bên ngoài. Chỉ bốn câu đã thấy bệnh chúng ta cũng trầm trọng.

Sáo đàn inh ỏi, bảo khúc long ngâm;
Văng vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái.

Nghe tiếng sáo tiếng đàn thì khen ngợi là hay như những khúc long ngâm. Long ngâm là tên một khúc nhạc hay thời cổ Trung Quốc. Theo Trịnh Thuật Tổ truyện trong bộ Bắc Tề Thư thì Trịnh Thuật giỏi đàn, tự chế ra mười bài long ngâm nên được xem là Tổ về long ngâm, vì thế người ta gọi là Tổ Thuật. Nói đến long ngâm là nói đến những bản nhạc hay. Còn nghe chuông nghe mõ thì cho là inh ỏi giống như nhái ếch kêu chớ không quan tâm. Đó là hai hình ảnh mà tai chúng ta hay lầm lẫn.

Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ;
Lời kinh câu kệ, không chút lắng tai.

Bài vè, câu ví là những bài có vẻ chế nhạo kẻ này người kia. Câu ví bài vè nghe qua liền thuộc nhớ, còn lời kinh câu kệ nghe thì buồn, bỏ đi không chút lắng tai.

Thoảng nghe khen hão, khấp khởi mong cầu;
Biết rõ lời lành đâu từng ưng nhận.

Khen hão tức là khen để được lòng. Mình không tốt nhưng muốn được lòng mình thì người khen đủ điều tốt. Thoảng nghe khen hão liền thích, khấp khởi mong cầu, chờ xem còn khen thêm gì nữa. Nếu bị chê thì không thích nghe. Đó là bệnh của đa số chúng ta. “Biết rõ lời lành đâu từng ưng nhận”, những lời lành người ta khuyên thí dụ chúng ta đang buồn giận một người nào, huynh đệ tới khuyên thôi đừng buồn giận e chướng đạo v.v... thì không ưng thuận. Chúng ta phải kiểm lại bệnh của mình, nếu có, phải tha thiết sám hối.

Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi;
Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.

Những người uống rượu nói việc say sưa hoặc những kẻ kể chuyện ăn chơi, khen chê v.v... nghe những điều đó mình lại lắng tai, chuyện không nên nghe mà tai cứ thích. Đó là rất dở.

Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh;
Những điều hiếu trung che tai bỏ mặc.

Thầy bạn dạy nhắc hết lời khô cổ mà che tai không chú ý.

Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm;
Nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa.

Trong Luật kể chuyện một Sa-di ở trong phòng, một cô thiếu nữ đi bên ngoài, tiếng xuyến chạm khua, ông liền động tâm.

“Nghe nửa câu kinh liền như tai ngựa”, nghĩa là nghe nửa câu kinh rồi nghễnh tai không biết gì, không chú ý. Thường người ta hay nói đàn khảy tai trâu hay nước xao đầu vịt là nghe mà không dính dáng. Lẽ ra người tu nghe kinh thì phải lắng tai chăm chú nhưng trái lại nửa câu kinh cũng không chịu nghe, nếu có nghe thì không lọt vào tai, không dính vào tâm. Đó là để chỉ bệnh xem thường đạo lý chỉ thích những điều tầm thường ở thế gian.

Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Đầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết.

Những tội như vậy nhiều vô lượng vô biên, như bụi đầy cả không gian không sao kể hết.

Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác,
Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.

Bởi tai tạo tội như thế nên sau khi chết phải đọa ba đường ác: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Khi nghiệp ác trong địa ngục đã hết, còn dư báo nên sanh làm người điếc.

Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ,
Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.

Đây là ngài Trần Thái Tông nhắc lại cho chúng ta nhớ những bệnh của mình để chừa sửa, nếu không thì do thói quen cứ chạy theo điều dở, không biết quí những điều hay, nên phải trầm luân nhiều đời nhiều kiếp. Nay thức tỉnh phải bỏ những điều dở, lắng nghe những điều hay thì khả dĩ mới tiến được.

CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH

Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật
Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).

CHÍ TÂM TÙY HỈ

Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện đem công đức đến quần sanh,
Nương thắng nhân này thành Chánh giác.

Những bài này đã giảng trong bài trước.

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

Một nguyện nghe tiếng liền ngộ đạo,
Hai nguyện nghe khổ sớm tu hành,
Ba nguyện nghe suốt khắp bốn phương,
Bốn nguyện nghe vui vô sanh tột.
Năm nguyện lời tà tai chẳng dính,
Sáu nguyện chánh ngữ chóng nghe rành,
Bảy nguyện tiếng pháp thường gần gũi,
Tám nguyện trống pháp cần lắng nghe.
Chín nguyện Quán Âm cùng tay nắm,
Mười nguyện Khánh Hỉ đồng nổi danh,
Mười một nguyện nhóm điếc thường phá chướng,
Mười hai nguyện hai tai hằng suốt thông.

“Một nguyện nghe tiếng liền ngộ đạo”, nghĩa là nguyện nghe một câu, một lời liền ngộ đạo.

“Hai nguyện nghe khổ sớm tu hành” là nghe kể lại cảnh khổ liền thức tỉnh, lo tu hành sớm.

“Ba nguyện nghe suốt khắp bốn phương”, nghĩa là tiếng khắp bốn phương hay mười phương, tai đều nghe suốt không trở ngại.

“Bốn nguyện nghe vui vô sanh tột.” Nghe những điều vui liền tột cùng được lý vô sanh, không phải nghe vui rồi nhiễm theo điều vui.

“Năm nguyện lời tà tai chẳng dính”, tức là nghe lời nói sai, lời vô nghĩa đều không dính mắc.

“Sáu nguyện chánh ngữ chóng nghe rành.” Những lời chân chánh nghe được rõ ràng không nghi ngờ, không khó hiểu.

“Bảy nguyện tiếng pháp thường gần gũi”, nơi nào có giảng kinh thuyết pháp mình thường gần gũi để được nghe.

“Tám nguyện trống pháp cần lắng nghe”, thường lắng nghe trống pháp cho được thâm nhập.

“Chín nguyện Quán Âm cùng tay nắm”, nguyện nắm tay Bồ-tát Quán Thế Âm tức là nguyện làm bạn đồng tu hành với Bồ-tát Quán Thế Âm. Bồ-tát Quán Thế Âm tu pháp phản văn văn tự tánh, nên nguyện mình cũng được như Ngài.

“Mười nguyện Khánh Hỉ đồng nổi danh.” Khánh Hỉ là tên ngài A-nan, khi Ngài sanh ra trong triều đình được tin Phật thành đạo dưới cội bồ-đề, cả vua quan đều vui mừng nên đặt tên Ngài là Khánh Hỉ. Ngài Khánh Hỉ nổi danh đa văn đệ nhất. Như vậy trên nguyện học được hạnh phản văn tự tánh của Bồ-tát Quán Thế Âm, dưới nguyện đồng với ngài A-nan được nổi danh đa văn đệ nhất.

“Mười một nguyện nhóm điếc thường phá chướng”, phá hết chướng là hết ngăn che, nguyện cho tất cả người điếc đều nghe được thông suốt.

“Mười hai nguyện hai tai hằng suốt thông”, nguyện cho hai tai mình được suốt thông luôn luôn không trở ngại.

KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY

Chớp mắt vầng ô vừa mới mọc,
Quay đầu bóng nhật giữa vòm trời.
Trọn tham gỗ mục say mê ngủ,
Nào tỉnh bóng hòe đã đổi dời.
Phút chốc hoa tươi lần rơi rụng,
Dần dà mạng nấm thạnh rồi suy.
Mọi người sớm tỉnh xoay soi lại,
Tự khổ ruổi rong khắp nẻo đường.

Đây là lời nhắc nhở lý vô thường để chúng ta thức tỉnh.

Chớp mắt vầng ô vừa mới mọc,
Quay đầu bóng nhật giữa vòm trời.

Buổi sáng mặt trời mới mọc, bận việc lăng xăng một chút nhìn lên là đúng ngọ. Mặt trời đổi dời rất nhanh chóng, ngồi gẫm lại thật tức cười cho con người. Trái đất quay đều đều con người lại đặt từng chặng là một giờ, hai giờ v.v... nhưng trái đất đâu có dừng lúc nào. Nó chỉ quay đều, phía mặt trời thấy sáng, khuất mặt trời thấy tối, con người lại đặt ra ngày đêm, tháng năm để tính toán; như vậy tất cả chúng ta có mặt trên cõi đời này, dù nói năm, bảy mươi năm thật ra có nghĩa lý gì đâu, trái đất cứ quay đều, con người có mặt rồi mòn chết. Thế mà ngồi thiền cứ tính giờ tính khắc! Nên nghiêm chỉnh ngồi đến giờ kiểng đánh, đừng trông đợi làm chi, vì trông hay không thời gian vẫn cứ trôi. Khi ngồi nói chuyện đùa chơi, bàn lý này lẽ kia, không trông mà giờ qua mau quá, còn ngồi thiền nghiêm chỉnh lại thấy lâu, nghe mỏi lưng, nhức tay chân mà vẫn chưa hết giờ. Đó là do chúng ta đặt thời gian là quan trọng. Nay đừng nghĩ tới thời gian, chỉ biết tâm yên là vui, chớ muốn thời gian đi mau cũng không được.

Trọn tham gỗ mục say mê ngủ,
Nào tỉnh bóng hòe đã đổi dời.

Thân này như khúc gỗ mục, mà cứ ráng lo bảo vệ nó. Ví như chúng ta đi ngoài biển, thuyền bị đắm chợt gặp khúc gỗ mục chúng ta đeo nó nên không bị chết chìm. Nhưng đeo khúc gỗ mục rồi tự mãn, hay điều tối thiết yếu là phải ráng bơi vào bờ vì khúc gỗ mục rồi cũng nát, không thể bảo vệ nó mãi. Nói không bảo vệ không có nghĩa là mình bẻ nó nát ra từng mảnh, vì nếu nát mà chưa tới bờ thì chết chìm. Vậy tuy biết thân này như khúc gỗ mục nhưng chưa được giác ngộ, phải lợi dụng nó để làm phương tiện tiến tu. Nếu chưa giác ngộ mà liều chết chẳng những không đạt được kết quả tu hành mà cũng uổng đi một kiếp!

Tóm lại tuy thân này tạm bợ như khúc gỗ mục, nhưng chúng ta đã có mặt nơi đây, phải lợi dụng nó để tiến đến giác ngộ chớ không ôm khúc gỗ mục và bảo vệ nó, ở mãi ngoài biển thì sẽ chết chìm. Cũng không phá đập nó cho nát, vì đó cũng là chết chìm. Hai quan niệm này đều cực đoan, trong nhà Phật gọi một bên là hành lạc, một bên là khổ hạnh. Vậy chúng ta phải xử thế nào? Không bảo vệ tối đa, cũng không hủy hoại, phải tạm nhờ nó đưa chúng ta đến bờ. Khi chưa đến bờ, chỗ nào mục chúng ta kết lại để còn chỗ tựa, đến bờ rồi nó là vô nghĩa. Đó là quan niệm của người tu chân chánh. Thế nên ở đây chúng ta tu không bắt buộc phải thức suốt ngày đêm vì như thế khúc gỗ dễ bể dễ nát. Nhưng cũng không phải ăn nhiều ngủ nhiều cho khỏe mạnh lâu dài, chỉ cần vừa đủ sống và cố gắng tiến tu, thế mới đúng ý nghĩa nương khúc gỗ mục này.

“Nào tỉnh bóng hòe đã đổi dời.” Mải vùi đầu ngủ, bóng hòe đã đổi dời tức đã xế rồi. Cho nên buổi trưa ngủ một tiếng là đủ, đừng ngủ mãi tới chiều.

Phút chốc hoa tươi lần rơi rụng,
Dần dà mạng nấm thạnh rồi suy.

Cuộc đời chúng ta như một đóa hoa buổi sáng nở, xế chiều héo tàn. Đang tươi thắm đẹp đẽ, phút chốc từ từ rơi rụng. Những tai nấm mọc, vươn lên khỏi đất thấy tròn trịa, đến chiều tàn dần. Qua hai câu trên, Ngài ví thân chúng ta như một đóa hoa, như một tai nấm, tươi tốt đó rồi tàn úa đó. Biết thân tạm bợ không lâu bền, phải khéo lợi dụng nó để tiến tu, đừng chần chờ.

Mọi người sớm tỉnh xoay soi lại,
Tự khổ ruổi rong khắp nẻo đường.

Xoay là quay lại, soi là soi sáng. Chúng ta phải sớm thức tỉnh đừng hướng ra ngoài, phải quay lại soi sáng chính mình, một ngày nào chúng ta liền thấy được cái chân thật của mình. Như vậy là Ngài khuyên chúng ta phải tỉnh tu. Tu không phải chỉ trong giờ ngồi thiền mà cả khi đi đứng nằm ngồi, đều phải biết mình từng phút từng giây.

“Tự khổ ruổi rong khắp nẻo đường”, tức là chúng ta tự đày ải mình, chạy nơi này nơi kia, đuổi theo tài sắc, danh lợi, theo những ảo ảnh bên ngoài, không biết dừng lại để được an lành. Thí dụ như được một chức phận gì, khi chết nó có cứu được mình không? Hoặc đuổi theo tài sắc, muốn được thỏa mãn, nên suốt đời chỉ là chuốc khổ thôi. Để kết thúc Ngài khuyên chúng ta phải thức tỉnh quay về soi lại mình, những kẻ chỉ biết rong ruổi ra ngoài, sẽ chuốc khổ trong đời này kể cả đời sau. Lời khuyên này rất quí báu, mỗi khi đọc lại, chúng ta thức tỉnh, nhớ tu hành. 

Mục Lục