Thiền Tông Việt Nam
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm
Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Tám

Chưng ấy:
Chỉn xá tua rèn;
Chớ nên tuyệt học.
Lay ý thức chớ chấp chằng chằng;
Nén niềm vọng mựa còn xóc xóc.
Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ;
Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc.
Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu;
Săn hỉ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc.
Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dùi mài;
Đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa  lọc.
Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay;
Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.
Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo;
Rất thửa cơ quan, mựa còn để tám hơi lọt lọc.

GIẢNG:

Chưng ấy là bởi ấy hay bởi thế, đây là câu mở đầu.

Chỉn xá tua rèn;
Chớ nên tuyệt học.

Chỉn xá tua rèn, chữ “chỉn” là chỉ, “xá” là hãy, “tua” là nên, tức là chỉ nên rèn luyện thân tâm của mình. Chớ nên tuyệt học là chớ nên buông hết mọi học tập. Như trong bài “Chứng Đạo Ca” của ngài Huyền Giác có câu: “Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân”, nghĩa là bặt hết mọi học tập, sống theo tinh thần vô vi làm vị đạo nhân nhàn. Nhưng trong thời gian chúng ta đang tu thì không nên tuyệt học.

Hai câu này khuyến khích chúng ta hằng ngày chỉ nên rèn luyện thân tâm, không nên buông xuôi việc học tập, bởi vì chúng ta đang trong giai đoạn tu học, nếu thả trôi sự học hành thì khó tiến được.

Lay ý thức chớ chấp chằng chằng;
Nén niềm vọng mựa còn xóc xóc.

Lay ý thức tức là lay chuyển ý thức. Chằng chằng là bám chặt. Chúng ta phải lay chuyển ý thức của mình chuyển hóa từ từ, không cho nó chấp chặt hay bám chặt vào những thói quen xưa cũ.

Nén niềm vọng là những niệm vọng tưởng nên buông bỏ đi. “Mựa” là chớ, “xóc xóc” là lăng xăng lộn xộn, tức muốn nói vọng tưởng. Chúng ta phải ném hết các thứ niệm vọng tưởng, đừng để chúng dấy động lăng xăng.

Hai câu này, Ngài dạy chúng ta tu phải nhắm thẳng vào nội tâm của mình, buông bỏ hết những ý thức chấp trước ngày xưa, chớ bám chặt vào những niệm vọng tưởng, đừng để chúng dấy động lăng xăng. Đây là hai câu khuyến tu.

Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ;
Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc.

Chữ “mảng” là mê say. Nếu chúng ta mải đắm mê theo công danh là ngây thơ, khờ dại, chưa thấy được lẽ thật. Người tu mà còn kẹt nơi danh lợi, phú quí thì thật đáng thương, như những đứa trẻ ngây thơ. Bởi vì người tu là từ bỏ công danh phú quí, để lo tu hành, dồn hết tâm lực tìm cho ra tâm thanh tịnh sáng suốt của mình. Bây giờ vô lý kẹt trở lại cái bả ngày xưa mình đã chán bỏ, có phải ngây thơ dại khờ không? Tu như vậy không có đạo lý tí nào hết, không đáng cho người kính trọng.

Phúc tuệ gồm no là phước tuệ đầy đủ. Mới khá là mới được. Thực cốc là thực biết. Người tu Phật phải đủ hai phần phước và tuệ, nên trong kinh thường hay nhắc phước tuệ song tu. Phật dụ phước tuệ đầy đủ như con chim có hai cánh mới bay được. Chúng ta có phước mà không có tuệ giống như con chim mất đi một cánh, không thể nào bay được. Phước là những điều tốt, điều thiện. Chúng ta làm những điều lành, điều tốt cho mình cho người đó là tu phước. Tuệ là dừng lặng tâm vọng tưởng điên đảo để trí càng ngày càng sáng. Từ Hữu sư trí đi đến Vô sư trí, như vậy mới là người tu theo Phật. Nên Ngài dùng câu “phúc tuệ gồm no”. Người tu Phật thực biết là người có đủ phước và tuệ.

Hai câu này Ngài chỉ cho chúng ta rõ thế nào là kẻ phàm tục, thế nào là người tu. Kẻ phàm tục là kẻ đắm mê công danh phú quí, Ngài cho đó là những người ngây thơ. Còn người tu hành biết rõ lẽ thật thì phải đầy đủ phước tuệ, mới đúng là người tu theo đạo Phật.

Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu;
Săn hỉ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc.

Người tu đứng về mặt sự tướng cần phải tạo phước như bắc cầu, bồi lộ. Bắc cầu, bồi lộ là chuyện tu phước. “Giồi” là xây dựng, “chiền” là chùa. Giồi chiền tháp là xây dựng chùa tháp. Như vậy đứng về thế gian, làm những việc từ thiện như bắc cầu, bồi lộ, đưa đò v.v…, còn đứng về mặt đạo, thì xây dựng chùa chiền, tháp miếu, đó là trang nghiêm sự tướng bên ngoài của người tu.

Săn hỉ xả, nhuyễn từ bi. “Săn” là sốt sắng. Chúng ta luôn luôn tập tâm hỉ xả, nhuần nhuyễn tánh từ bi. Như vậy, ở nội tâm phải tập đức hỉ xả, luyện lòng từ bi.Nội tự tại kinh lòng hằng đọc là tự tại ở bên trong, hằng đọc kinh lòng tức là tâm kinh hằng nhớ không quên lãng, không lơ là.

Trong hai câu này, câu trên Ngài chỉ cho chúng ta làm việc thiện về sự tướng ở thế gian. Câu dưới Ngài dạy phải rèn luyện nội tâm của mình, có đức hỉ xả, lòng từ bi và nhớ mãi tâm kinh. Tâm kinh ở đây có hai nghĩa. Tâm Kinh Bát-nhã như chúng ta thường đọc tụng. Còn một nghĩa nữa, tâm kinh là tức Phật tức tâm, nghĩa là mình biết quay về tâm mình, tức là trở về với Phật. Bao nhiêu kinh Phật dạy đều cốt quay về tâm mình, cho nên mình biết quay về đó là đọc tâm kinh.

Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dùi mài;
Đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc.

Muốn làm Bụt tức là làm Phật, chúng ta phải rèn luyện tâm mình cho thuần thục, trong sáng. Đây là điều rất thiết yếu của người tu. Người tu mà không biết rèn lòng, sửa nết cho tâm tánh trong sáng thì khó làm Phật được. Chỉn xá tua một sức dùi mài. Chữ “một” ở đây không phải là một đối với hai mà một là chuyên. Nghĩa là chỉ hãy nên chuyên sức dùi mài. Chuyên sức dùi mài là không để cho tâm sơ hở, buông lung.

Đãi cát kén vàng. Người tu cũng giống như người đi bòn vàng. Họ hốt một thúng cát rồi đãi từ từ, lựa bỏ hết cát ra chỉ còn lại một ít mạt vàng mới lấy được, gọi là đãi cát kén vàng. Còn lại phải nhiều phen lựa lọc, tức là phải lắm phen lựa lọc đãi cát tìm vàng thì mới có thể thành công.

Hai câu này Ngài chỉ cho chúng ta ai muốn tu được thành Phật thì phải hết lòng, hết sức dùi mài tâm tánh của mình như người đãi cát bòn vàng, vì phải lắm phen lược qua, lọc lại mới tìm thấy được vàng. Nếu còn cát thì chưa thể gọi là vàng.

Cũng vậy, nếu những tâm niệm phiền não xấu xa còn ẩn náu trong nội tâm không được lược lọc kỹ thì chúng ta khó đến Phật quả. Đó là lời khuyên dạy của Ngài, ai có chí tu cầu thành Phật thì phải cố gắng.

Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay;
Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.

Chữ “lục” là Ngữ lục của các Thiền sư, chữ “hay” là hiểu biết, “thửa” là điều. Nghĩa là chúng ta phải xem kinh Phật, phải đọc Ngữ lục của các Thiền sư rồi những điều đã thấy, đã biết chúng ta phải thực hành cho được. Như vậy chúng ta nương theo kinh Phật dạy, nương Ngữ lục của chư Tổ để ứng dụng tu chớ không phải chỉ thấy hiểu suông thôi.

Trọng Bụt tức là trọng Phật, tu thân là tu tập nơi thân tâm. Vì kính trọng Phật nên chúng ta mới tu theo Phật cốt để thành Phật, mà muốn thành Phật thì dùng mựa lỗi một tơ một tóc. Chữ mựa là chớ. Khi ứng dụng tu chớ để còn một lỗi nhỏ bằng sợi tơ, sợi tóc.

Hai câu này Ngài dạy rất chí thiết. Bởi vì chúng ta là người học Phật, tu Phật thì trước hết phải xem kinh Phật, đọc Ngữ lục của chư Tổ để thấy hiểu và ứng dụng tu cho kỳ được, chớ không phải chỉ hiểu biết suông. Trong khi tu muốn tiến lên Phật quả, chúng ta phải tránh dù một lỗi nhỏ bằng mảy tơ sợi tóc cũng không cho phạm, huống nữa là lỗi lớn.

Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo;
Rất thửa cơ quan, mựa còn để tám hơi lọt lọc.

Cùng nơi ngôn cú là phải thấu suốt những ngôn cú của Phật Tổ dạy. Chỉn chăng hề một phút ngại lo. “Chỉn” là chỉ, “chăng” là chẳng. Chỉ chẳng hề để một phút ngại lo. Nghĩa là đối với lời Phật Tổ dạy đã thấu suốt rồi thì không còn một tí nào khiến chúng ta cảm thấy lo lắng, trở ngại. Đó là tinh thần của người học đạo phải học cho thấu suốt, chớ không phải học cầm chừng, học lấy có.

Rất thửa cơ quan. Chữ thửa ở trên là điều, chữ “thửa” ở đây là chỗ, nơi. “Cơ quan” là sáu căn. Mựa còn để tám hơi lọt lọc. “Tám hơi” là tám gió. Chữ “lọt lọc” là lọt ra rớt vào hay là trở tới trở lui. Ngay nơi sáu căn tiếp xúc với sáu trần phải cẩn thận, phải dè dặt đừng để cho tám gió thổi lọt vào.

Ví dụ mắt thấy sắc đừng cho gió động con mắt, tai nghe tiếng đừng cho gió động lỗ tai v.v… Mắt thấy sắc, nếu khởi tâm mến sắc, yêu sắc, đó là động con mắt. Tai nghe tiếng hoặc khen, hoặc chê, lòng sanh vui buồn là động lỗ tai. Như vậy người tu phải giữ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với ngoại cảnh mà tám gió thổi không động, đó là người khéo tu. Chúng ta vì không làm chủ được sáu căn, bị gió thổi lọt ra lọt vô mãi cho nên bị xao động. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc đều bị động, sáu cơ quan cứ động mãi nên tâm không an tĩnh. Tâm không an tĩnh thì sự tu hành khó đạt được đạo quả.

Vì vậy hai câu chót Ngài khuyên chúng ta hai việc. Việc thứ nhất là học thì phải thấu suốt được lời Phật Tổ dạy, không còn chút nghi ngờ. Việc thứ hai là giữ sáu căn đừng cho tám gió thổi động, đó là tu. Ngài nói nghe rất bình dị, nhưng thật ra sự tu hành không giản đơn, chúng ta cần phải quyết chí, gan dạ, bền vững lắm mới được.

Điều này chúng ta thử sẽ biết liền. Giả sử mình đang ở trong chùa, vừa bước ra cổng có người kêu tên chửi hoặc chỉ vào mặt mắng mình ngu, lúc đó nhìn sắc diện mình có đổi thay hay không thì biết là gió có lọt vào tai hay chưa? Như vậy muốn cho gió đừng lọt vào là cả một vấn đề không đơn giản. Nhưng nếu sáu căn này, không bị tám gió thổi lọt vào chút nào, đó là Thánh mất rồi. Thế nên tu để thành Thánh là tập sửa từ từ, chớ không phải tụng kinh giỏi, ngồi thiền hay là thành Thánh. Chỉ cần sáu cơ quan không bị gió thổi lọt vào làm dấy động lung lay, đó mới là người đạt đạo thật sự.

Đến đây, tôi muốn bổ túc một ý mới về thân tâm tứ đại cho Tăng Ni hiểu thêm. Như trong kinh Phật dạy, thân chúng ta có bốn tướng sanh, già, bệnh, chết. Như vậy thân ta và thế giới chung quanh có điểm tương ứng nhau, thế giới thì thành, trụ, hoại, không. Thân ta có bốn chất đất, nước, gió, lửa; thế giới cũng có đất, nước, gió, lửa.

Lại trong kinh A-hàm, Phật dạy khi thế giới này hoại nước cạn trước tiên, các biển khô hạn dần dần. Kế đến là lửa, lửa trong lòng đất bốc cháy lên. Cháy đến bao giờ quả đất này lụn dần như cái tim đèn nằm cạnh đống tro tàn. Bấy giờ có một luồng gió lớn thổi qua, quét sạch hết. Như vậy cuối cùng quả đất tan biến mất là do gió cuốn. Thế thì tụ cũng do đất, nước, gió, lửa tụ mà tan cũng do đất, nước, gió, lửa tan.

Còn thân chúng ta thế nào, cái gì làm mình tan? Một hơi thở ra “khì”, không hít vào là hết cục cựa. Như vậy cũng giống hết thế giới bên ngoài. Đó là nói về thân, còn tâm thì sao, có tứ đại không? Tôi nói trong tâm mình cũng có tứ đại. Điều này rõ ràng lắm.

Trong tâm có tham là nước, sân là lửa, si là đất, động là gió. Tham điển hình nhất là tham ái, ái thân, ái ngã, ái nhân, ái dục. Ví dụ mình thương ai, người đó sắp đi xa hoặc họ đang bị khổ, mình khóc. Khóc, nước mắt chảy ra, đó là nước ái. Hoặc khi ta thèm một món gì đó, bất chợt nghe mùi thơm của nó, nước miếng chảy ra, đó cũng là nước ái. Đến tâm sân là lửa bốc lên, điều này rõ rồi, không ai không biết cả. Vừa nổi sân, mặt mắt đỏ gay là do lửa xông lên thiêu đốt toàn thân. Si là tâm ù lì, không phân biệt sáng suốt, chấp cứng một chỗ giống như đất. Đến gió là tâm luôn đổi thay dao động khi vầy khi khác, bất thường nên chẳng bao giờ mình được yên ổn. Danh từ chuyên môn gọi là bị gió nghiệp thổi. Gió nghiệp này rất mạnh, là cái cuối cùng nó đẩy thức đi thọ sanh, mang theo tất cả các chủng tử thiện và ác của chúng ta.

Thấy như thế rồi mới biết tu giải thoát là thế nào? Nếu còn tham ái, nóng giận, si mê thì gió nghiệp sẽ dẫn chúng ta đi hết nơi này đến nơi nọ, trầm luân đời đời kiếp kiếp trong các đường. Bây giờ, ngay nơi tâm ta lặng hết những thứ tham, sân, si, chỉ còn một tánh sáng hiện tiền. Thử hỏi gió nghiệp có thổi nổi tánh sáng này không? Đâu có gió nghiệp mà thổi, đây chính là gốc giải thoát trầm luân sanh tử.

Thế nên biết những gì do đất, nước, gió, lửa tụ tán đều nằm trong pháp sanh diệt. Trái đất quay vùn vụt, vì nó tuân theo định luật tuần hoàn, tức là luân hồi. Khi thế giới này hoại, nó sẽ theo duyên mà tụ nơi khác, chớ không mất. Thân chúng ta cũng thế, máu huyết luân lưu, đổi thay luôn vì nó luân hồi. Khi sống như thế, lúc chết cũng theo gió nghiệp mà luân hồi trong các đường. Quả là một sự tương ứng giữa thân, tâm và thế giới tương đối hữu hình hữu hoại này.

Ngày nay người ta đua nhau đi tìm hành tinh mới để đưa con người lên đó sống, nhằm giải quyết nạn nhân mãn trên thế giới. Điều này tôi thấy khó thực hiện được. Bởi như Phật dạy ở cõi Quang Âm thiên không có mặt trời, mặt trăng mà hào quang của những chúng sanh ở đó tự phát ra ánh sáng. Như vậy tùy theo cõi và phước báu mà chúng sanh ở đó có thân thể tương ứng khác nhau, chớ đâu thể nhất luật tất cả cõi nước và chúng sanh đều giống nhau.

Như người tu Tứ thiền khi mất sanh vào cõi Sắc giới, sống lâu do công phu thiền định, đầy đủ phước đức nên cõi nước trang nghiêm đẹp đẽ. Người tu Tứ không khi chết sanh vào cõi Vô sắc giới, sống do sức tưởng chớ không có cảnh giới, vì cõi Vô sắc không có hình tướng. Còn người tu Thiền tông như chúng ta, mục đích cứu kính là xả bỏ tất cả dục, sắc, tưởng… sạch hết các chủng tử thì khi lâm chung được giải thoát sanh tử, tức vượt khỏi ba cõi.

Hiểu thế mới biết cõi nước là do phước báu của chúng sanh mà chiêu cảm nên, tương ứng thích hợp thì mới ở được. Như các nhà khoa học cũng đã tìm lên mặt trăng hay hỏa tinh v.v… nhưng trên đó bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa không thích hợp cho loài người sống được. Muốn sống những cõi nước khác thì trước tiên, ta phải cải tạo lại thân này cho thích hợp với nơi đó. Mà cải tạo thân này là chuyển nghiệp chớ gì? Thế thì chúng ta nên xoay trở lại mình tu đi, hơn là chạy tìm nơi này nơi nọ, cuối cùng cũng không thoát khỏi chuỗi duyên nghiệp do mình tạo ra.

Tôi nói điều này nghe dường như trái với khoa học, nhưng lại đúng với kinh Phật. Có những điều Phật đã nói cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, đến bây giờ khoa học mới phát hiện ra, mà cũng phát hiện chưa hết những gì Phật đã thấy đã biết. Như vậy hi vọng trên bước đường tiến hóa, một ngày nào đó khoa học sẽ tiếp tục công nhận trí tuệ của Phật là siêu xuất thế gian, trí thức không thể sánh kịp và cũng không thể so lường nổi.

Mục Lục