Thiền Tông Việt Nam
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm
Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Năm

Vậy mới hay!
Bụt ở cong nhà,
Chẳng phải tìm xa.
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta.
Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng cong quê Hà hữu;
Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân La.
Trong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường Kinh cửa Tổ;
Lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.
Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể;
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa.
Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội;
Lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cắt một ma.
Cầm vốn thiếu huyền, xá đàn dấu xoang vô sanh khúc;
Địch chăng có lỗ, cũng bấm chơi xướng thái bình ca.
Lẫy cội tìm cành, còn khá tiếc Câu Chi trưởng lão;
Quay đầu chớp bóng, ắt kham cười Diễn-nhã-đạt-đa.
Lọt quyện kim cương, há mặt hầu thông nên nóng;
Nuốt bồng lật cức, nào tay phải xước tượng da.

GIẢNG:

“Vậy mới hay” là câu mở đầu.

Bụt ở cong nhà,
Chẳng phải tìm xa.

Từ đời Trần trở về trước không gọi Phật mà gọi là Bụt. “Cong” là trong. Bụt ở cong nhà, tức chỉ cho Phật ở trong nhà, chớ không phải ở đâu xa. Bởi chúng ta quen lúc nào cũng mơ ước được gặp Phật, thấy Phật, nhưng khi nghĩ muốn gặp Phật, thấy Phật là thầm cho rằng Phật ở đâu xa xôi khó tìm, khó gặp, nên mới mong được gặp. Song với tinh thần Thiền tông, Phật không phải ở đâu xa, mà ở ngay trong nhà của mình. Nhà nào? Nhà ngũ ấm hay ngũ uẩn. Ở ngay trong thân ngũ ấm này đã có Phật, không phải tìm đâu xa nữa. Vì Phật là giác, nơi tâm chúng ta sẵn có Tánh giác tức là Phật, vậy Phật chẳng phải ở đâu xa xôi mà tìm kiếm.

Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta.

“Nhân khuây bản”, chữ “nhân” là bởi vì, chữ “khuây” là xao lãng, “bản” là gốc. Nghĩa là vì mình xao lãng cái gốc tức là Phật, nên mới tìm Bụt ở nơi khác. Như vậy đã biết Phật ở trong nhà mà mình lơ là, bỏ quên nên mất gốc, lo đi tìm ngọn, tức là tìm Phật ở bên ngoài. Đến cốc hay chỉn Bụt là ta. Chữ “cốc” là biết được, “chỉn” là chính. Nếu đến đó, biết được rõ ràng Phật chính là mình.

Phật là giác. Giác là tâm, ngoài tâm không có giác. Giác ngộ hoàn toàn gọi là Phật, giác ngộ từng phần gọi là Bồ-tát. Chúng ta không chịu giác ngay nơi tâm mình là Phật, cứ dẫn Phật đi tìm Phật hoài, thành ra tánh Phật bị khuất lấp, bị che đậy. Bởi chúng ta quên gốc giác nơi tâm nên mới đi tìm Phật, nếu biết được gốc giác đó thì không còn chạy tìm nữa. Nhưng làm sao để giác?

Chúng ta tu Phật, ai cũng có giác, chỉ khác nhau ở chỗ nhiều ít thôi. Như buổi đầu mình thấy cõi đời là khổ, vô thường nên mới đi tu, đó là có giác rồi. Nhưng rất tiếc, ta không nuôi dưỡng được cái giác ấy dài lâu, nên dần dần lại quên đi, rồi tham sân phiền não cũng trở lại như cũ. Từ cái quên ấy, việc tu xê dịch lần lần thành ra trật hướng. Cho nên nuôi dưỡng sự tỉnh giác ngày càng tăng trưởng mới gọi là tu. Ngày xưa mình tỉnh thức nên từ bỏ thế tục, xuất gia vào đạo tu để được giác ngộ giải thoát, vô lý bây giờ lại mê lầm quên mất gốc ban đầu. Chuyện ấy không thể chấp nhận được. Nên đã là kẻ xuất gia tức là có chí hướng siêu thoát, nhất định phải nuôi dưỡng tâm giác ngộ của mình ngày càng tăng trưởng, không được để lui sụt.

Tôi từng chứng kiến thực trạng lui sụt này của Tăng Ni nên rất đau lòng. Vì vậy bằng mọi cách, tôi cố gắng tạo điều kiện thắng duyên cho quí vị tu. Làm sao từ lúc bước vào đạo cho tới khi nhắm mắt, mỗi ngày công phu mỗi tiến, mỗi đi lên chớ không được dừng lại hay thối lui. Lùi lại là một sự tủi nhục lớn cho đời tu của mình. Tại sao bạn bè cùng tu, ai cũng tiến riêng mình lại lùi? Tự đặt ra câu hỏi như thế, để ta xác định cho bản thân một con đường đi lên nhất định. Nếu không như thế, ta vừa chịu nhục với chính mình, vừa nhục với bạn hữu đồng tu.

Như vậy qua bốn câu này, Ngài xác nhận cụ thể, người tu Phật phải nhận ngay nơi mình có Phật, chớ không tìm Phật ở bên ngoài hoặc ở đâu xa. Bởi vì mình quên tâm mới chạy tìm Phật ở bên ngoài. Một phen nhớ lại, mới biết rõ thấy rõ chính tâm mình là Phật, Phật chính là ta chớ không ở đâu xa.

Tuy nói thế, nhưng nếu ta chưa nhận ra được ông Phật thật nơi mình, thì cũng không nên chấp lý bỏ sự, thấy tượng Phật trên chánh điện không cần xá, không cần lễ, bất kể tăng tục lớn nhỏ trong thiền môn, không biết tôn trọng kính nể ai, vì tự cho rằng ta cũng là Phật, đâu cần lễ bái ai. Đó là trái đạo lý, là tăng thượng mạn, tội này rất lớn. Bởi hình tượng Phật bên ngoài là để nhắc ta nhớ lại ông Phật nơi chính mình. Nếu không biết tri ân kính lễ Ngài, đó là ta chưa nhận được ông Phật thật nơi mình, chưa thấy được giá trị đức Phật thật ấy. Cho nên chỗ này phải khéo tu sao cho lý sự viên dung. Đừng chấp lý bỏ sự, mà cũng đừng chấp sự mê lý.

Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng cong quê Hà hữu;
Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân La.

“Ngỏ” là rõ. Thiền ngỏ năm câu tức là chúng ta thấu suốt được những câu nói của chư Tổ trong nhà thiền. Chữ “nhãng” là thong dong tự tại. Thấy rõ được năm câu thiền, thì nằm thong dong ở nơi “quê Hà hữu”, tức là không có chỗ nơi để mình mắc kẹt. Đây là trích một câu trong các bài của Trang Tử. Theo Trang Tử nói: “Nếu người đã đạt đạo thì sẽ thong dong nơi chỗ không có nơi chốn, bến bờ.” Vì nơi đó không có ngằn mé nên nói là quê Hà hữu.

Kinh xem ba bận. Ba bận là ba lần. Ngồi ngơi mái quốc Tân La. Ngồi ngơi là ngồi nghỉ ngơi, “mái” là mé, “Tân La” là Triều Tiên. Xưa ở Trung Hoa thường nói Tân La là nơi thong thả an lành. Nếu người xem kinh chừng đôi ba lần mà thông suốt thì ngồi nghỉ chơi nơi mé nước Tân La thong thả tự tại.

Tóm lại hai câu này nói rõ ý nghĩa nếu người học đạo thấu suốt được lý huyền thì sẽ được thong dong ở chỗ không còn bờ mé, không còn nơi chốn, tức là chỗ vô cùng vô tận. Còn người xem kinh mà thông được nghĩa kinh thì cũng được thảnh thơi dạo chơi ở nước Tân La.

Trong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường Kinh cửa Tổ;
Lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.

Ở đây có tánh cách dạy chúng ta ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày. Chữ “trong” là trọng. Chữ “đạo” nghĩa ở đây có hai mặt: Một là đối với người xuất gia thấu suốt được ý nghĩa trong kinh điển, trong đạo để ứng dụng cho sự tu. Hai là đối với thế gian, người sống đúng đạo nghĩa là người đầy đủ đạo đức và tình nghĩa đối với mọi người.

Khoảng cơ quan. Chữ “khoảng” nghĩa là mở rộng, cơ quan là chỉ cho năm căn của chúng ta. Mắt đối với sắc, tai đối với thanh, mũi đối với hương, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc. Nếu năm căn tiếp xúc năm trần mà không bị cột trói, đó gọi là mở rộng.

Đà lọt lẫn trường Kinh cửa Tổ. Chữ “đà” là đã, “lọt” là rơi vào, “trường Kinh” là trường dạy kinh Phật, “cửa Tổ” là nhà chư Tổ dạy đạo lý. Nếu người nào biết trọng đạo nghĩa, khéo giữ sáu căn không dính với sáu trần, người đó đã vào được trường kinh Phật, cửa đạo Tổ.

Lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa. Chữ ‘lánh” là tránh. Tại sao chúng ta phải tránh thị phi? Vì thị phi là lời phê bình phải quấy, đó là bệnh. Vừa thấy ai thì vội phê bình, người đó dễ thương hay dễ ghét, hoặc người đó có vẻ đạo đức hay lôi thôi. Như vậy phê bình, phán xét đều là lối thị phi. Người là người, mình là mình, đừng bận bịu, đừng vội phê phán. Chắc gì cái nghĩ, cái nhìn của mình là đúng. Cho nên thị phi nên tránh, không nên gần. Vì vậy người biết tu phải ít nói, phải giữ gìn miệng cho lên meo như cây quạt mùa đông.

Ghê thanh sắc. Chữ ghê là sợ, thanh là âm thanh, sắc là sắc tướng. Những lời nói qua lại của kẻ này, người kia chúng ta nên sợ, phải dè dặt, đừng vội nghe, đừng bắt chước. Đối với đẹp xấu cũng không để tâm xao xuyến, bận lòng, đó là gốc của sự tu.

Ngại chơi bời, dặm liễu đường hoa. Chữ “ngại” là dè dặt. Phải dè dặt không nên đi vào đường hoa dặm liễu e sẽ bị hư thân mất nết.

Hai câu này Ngài nhắc chúng ta phải biết sống đúng đạo nghĩa của một người đức hạnh và không để cho năm căn dính với năm trần. Được vậy là người thấu suốt lời Phật dạy, bước vào cửa chư Tổ. Lại phải dè dặt tránh xa thị phi, ghê sợ thanh sắc và không bao giờ giẫm chân lên đường hoa dặm liễu, đó mới thật là người biết tu.

Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.

Đức Phật từ bi vô hạn, nên chúng ta thệ nguyện nhiều đời nhiều kiếp luôn luôn được gần Phật. Vì Phật là đấng giác ngộ, là đấng từ bi, nên chúng ta muốn được giác ngộ, muốn học hạnh từ bi thì phải gần gũi Ngài.

Ơn Nghiêu khoáng cả: tức là ơn vua Nghiêu vua Thuấn rất rộng lớn. Nói ơn Nghiêu là nói đến nhà Nho. Vì thời của Ngài là thời Tam giáo đồng nguyên, nên Ngài thường dẫn những cái hay đẹp của cả ba đạo. Lọt toàn thân phô việc đã tha. “Phô” là bày ra, “đã tha” là khó khăn. Lọt toàn thân phô việc đã tha, nghĩa là mình bước vào hay tiến thân vào trong cửa nhà Nho thì thấy rất nhiều việc khó khăn, chớ không phải dễ dàng. Câu trên là tán thán đức Phật từ bi, câu dưới là khen Nghiêu Thuấn rộng rãi. Tuy nhiên bước vào cửa vua quan thì chỉ chuốc thêm nhiều khó khăn mà thôi.

Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể;
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa.

Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, nhất là mùa đông ở nơi lạnh lẽo có áo có chăn để được ấm áp qua mùa. Nếu áo chăn chỉ dùng để được ấm áp thì đâu cần phải có áo đẹp chăn xinh. Hoặc chằm hoặc xể là áo chăn chằm vá gì cũng được, miễn ấm áp cho qua ngày chớ không chê khen.

Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa. Ở trên là áo với chăn, dưới là cơm cùng cháo, trên là đầm ấm qua mùa, dưới là đói no đòi bữa, trên là hoặc chằm hoặc xể, dưới đối lại là dầu bạc dầu thoa. Nghĩa là có cơm cháo đói no cho qua ngày qua bữa, chớ không đòi hỏi gì cả, dù là cơm trắng hay cơm hẩm cũng được. Chữ bạc là trắng, thoa là hẩm.

Chỉ cần hai câu này, nếu ứng dụng được, đời tu chúng ta cũng đẹp lắm rồi. Câu trên chỉ cho mặc, câu dưới chỉ cho ăn. Cuộc sống ở thế gian, ăn mặc là điều thiết yếu, nhưng đối với người tu áo chăn chỉ để ấm qua mùa, nên chằm vá gì cũng không chê khen tốt xấu. Còn ăn thì mặc tình cơm hẩm cơm trắng gì cũng ngon cũng tốt. Qua hai câu này, nếu khéo ứng dụng chúng ta sẽ thấy sự ăn mặc của người tu thật đơn giản, thật dễ chịu.

Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội;
Lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cắt một ma.

Ngăn bát thức. Bát thức là tám thức gồm: Nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Mạt-na thức và A-lại-da thức. Thức thứ bảy là Mạt-na thức còn có tên là Truyền tống thức. Thức thứ tám là A-lại-da thức còn gọi là Tàng thức. Trong Phật giáo nhất là Phật giáo Đại thừa công nhận nơi con người chúng ta có tám thức. Thức là phân biệt.

Mắt thấy hình sắc, liền phân biệt đẹp xấu, là công dụng của nhãn thức. Tai nghe tiếng liền phân biệt tiếng hay, dở là công dụng của nhĩ thức. Mũi ngửi mùi liền phân biệt mùi thơm, hôi là công dụng của tỹ thức. Lưỡi nếm vị liền phân biệt vị ngon, dở là công dụng của thiệt thức. Thân xúc chạm, liền phân biệt nóng, lạnh hoặc êm ái hay nhám cứng v.v… là công dụng của thân thức. Ý vừa nghĩ đến việc này, việc nọ, việc kia, liền phê phán phải, quấy, hay, dở là công dụng của ý thức.

Sáu thức trước chúng ta dễ phân biệt, dễ thấy được công dụng của nó. Đến thức thứ bảy ẩn kín, thường ở thế gian không biết, nó liên hệ với thức thứ tám. Thức thứ tám là Tàng thức, thức này giống như cái kho chứa đựng tất cả hạt giống, do mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm. Thức thứ bảy đem bóng dáng những gì hay, những gì thích đưa vào Tàng thức, chớ Tàng thức là kho chứa, nó không ra ngoài lượm lặt vào. Chỉ thức thứ bảy tiếp xúc với sáu thức trước rồi đưa mọi thứ cất giữ vào Tàng thức, vì vậy có chỗ gọi nó là Truyền thống thức, chỗ khác cũng gọi là “Ý căn”.

Tại sao gọi là “Ý căn”? Bởi vì khi chúng ta dấy nghĩ về những hình tướng quá khứ vị lai thì cái dấy nghĩ đó là dụng của ý. Nhưng khi không dấy nghĩ, lúc đó ý ở đâu? Như con mắt thì có nhãn thức, nên nhãn thức tựa vào mắt. Còn ý không có chỗ tựa, nó chỉ duyên theo mấy thức trước mà khởi phân biệt, nhưng khi không khởi phân biệt thì nó trở về gốc của nó là “Ý căn”. Ý căn còn gọi là Mạt-na thức, là gốc của ý thức, là chỗ tựa cho ý thức. Khi không hoạt động, ý thức ẩn núp nơi ý căn, để gặp duyên nó mới phát ra được. Do đó ý thức phải núp trong ý căn, vì vậy thức thứ bảy cũng gọi là “Ý căn”. Tóm lại ý căn có hai công dụng, một là làm chỗ tựa cho ý thức, hai là mang chủng tử ở ngoài đem vào Tàng thức.

Theo khoa học ngày nay nói, tất cả những gì chúng ta ghi nhớ là do các tế bào trong não ghi chép. Nhưng với tinh thần của Duy thức học lại nói khác hơn. Duy thức nói rằng chúng ta có một cái kho chứa đựng đầy đủ những hình bóng của tiền trần, vì vậy khi gặp duyên nó liền phát ra. Thí dụ, hôm nào quí vị ra chợ thấy một đóa hoa lạ nhất chưa từng thấy. Khi thấy nó rồi, chú ý nhìn kỹ xem nó đẹp làm sao, lạ ở chỗ nào? Ngắm nhìn kỹ như thế xong, về nhà ngồi thong thả chơi, bất thần nhớ lại hình ảnh đóa hoa ban sáng, như vậy đóa hoa mình ngắm nó đã chun vô kho Tàng thức lúc nào rồi. Con mắt chúng ta ngắm những gì mình chú ý, sẽ được ý thức tiếp lấy phân biệt, rồi từ ý thức phân biệt nên có chủng tử. Nó chuyển chủng tử ấy qua Mạt-na thức, thức này đem chứa vào trong kho Tàng thức, khi đủ duyên nó phát ra. Thế nên những gì mình ưa thích đều có chủng tử chứa trong Tàng thức, người ưa làm điều thiện thì những hành động, lời nói, ý nghĩ thiện của họ, đều có chủng tử được đem vô Tàng thức. Đến khi người ấy gần chết, chủng tử thiện mạnh sẽ thành nghiệp dẫn Tàng thức đi thọ sanh theo đường thiện. Còn người thích làm ác, tạo các duyên ác dữ, thì chủng tử dữ được đem vô Tàng thức nuôi dưỡng, đến lúc gần chết, nghiệp dữ ác dẫn người ấy đi theo đường ác. Vì vậy trong kinh thường dạy, khi sắp lâm chung, người làm lành thấy cảnh vui đến, nên họ mỉm cười, hoặc vẻ mặt họ tươi sáng. Còn người làm ác khi gần chết những chủng tử ác hiện ra, hoặc thấy có người đến đòi nợ, hoặc đánh đập, nên hoảng sợ, gương mặt hiện vẻ kinh hoàng. Nhìn vẻ mặt người sắp tắt thở, chúng ta có thể đoán biết họ đi theo đường nào.

Tóm lại Duy thức học cho chúng ta biết có Tàng thức để chứa hết chủng tử. Các chủng tử đó là những hạt giống do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân xúc chạm năm trần, rồi ý thức phân biệt và ý căn mang vào chứa trong Tàng thức. Chủng tử đó là cái bóng, chớ không phải hình thức vật chất. Thế nên, khi chúng ta chết, chủng tử có sức mạnh lôi chúng ta qua đời khác. Nếu tất cả ghi nhớ đó được ghi vào não bộ, khi chết não bộ cũng hoại thì lấy gì mà đi thọ sanh, trong khi chủng tử thiện ác không phải là hết. Nên nói Tàng thức chứa đựng chủng tử lành dữ, rồi nó mang chủng tử đó sang đời khác thì hợp lý hơn.

Nhiều người cứ nghĩ mình làm việc thiện, việc ác trong đời này phải có quả báo cho mình thấy. Song có kẻ cả đời làm ác hoặc làm thiện sao không thấy quả báo ngay trong hiện đời? Sự thật không phải thế. Người làm ác hiện đời nhưng họ có chủng tử lành đời trước quá nhiều, nên họ hưởng những phước lành cũ, khi chủng tử thiện hết, chủng tử ác sẽ hiện ra sau. Còn người làm thiện mà hiện đời vẫn bị tai nạn dồn dập, đến khi chết cũng không thấy sung sướng chi hết, tưởng đâu như mất. Nhưng không phải, chủng tử lành đó sẽ tiếp tục hiện ra trong đời kế.

Như tất cả biết, chúng ta ra đời không ai lựa chọn cha mẹ cho mình cả, mà do nghiệp cũ thúc đẩy chúng ta đến chỗ tốt hoặc xấu, tùy chủng tử thiện ác trong Tàng thức mà thọ sanh. Thí dụ thuở xưa mình có gian lận của người nào, làm cho họ phải tiêu tan hết sự nghiệp, nên họ oán hận mình. Khi chết nợ nần oan khiên xưa đẩy mình đến chỗ người ấy thọ sanh. Sanh ra nơi đó để ta trả nợ cũ. Ngược lại, trước đây chúng ta đã làm những điều lành, giúp đỡ ai đó, người ấy cũng là người lành, khi chết mình sanh vào chỗ người lành đó, được vui hưởng sung sướng.

Như vậy nghiệp quá khứ không mất, vì có Tàng thức chứa đựng, rồi dẫn đi thọ sanh, chớ không phải ngẫu nhiên, không phải do ai sắp đặt cho mình cả, mà chính do nghiệp thiện ác của mình gieo trong Tàng thức từ trước vậy. Vì thế đối với Bát thức chúng ta phải biết rõ, ngăn ngừa những chủng tử xấu ác, không cho đem vô thức thứ tám. Nói cách khác, không cho tám thức tạo những chủng tử xấu ác để đời sau phải chịu quả chẳng lành. Đó là ngăn bát thức.

Nén bát phong. Bát phong tức là tám gió, nén ở đây không phải là đè nén, mà là đừng để nó lôi cuốn mình đi. Tám gió là: Lợi, Suy, Hủy, Dự, Xưng, Cơ, Khổ, Lạc. Tám gió này thường làm cho chúng ta bị xao xuyến.

    1. Gió thứ nhất là lợi. Thí dụ hôm nào quí vị mua vé số, đến ngày xổ số dò thấy trúng độc đắc năm hay mười triệu, quí vị có ngủ được không? Ngủ không được là bị gió lợi thổi bay rồi. Khi nào biết trúng số độc đắc mà vẫn nằm ngáy khò khò, là không bị gió lợi thổi. Như vậy, gió lợi rất mạnh, lợi đến thì tâm xao xuyến, náo động không an.

    2. Gió thứ hai là suy. Như trong công ăn việc làm của quí vị, bất thần bị suy sụp thua lỗ mất phân nửa hoặc hai phần vốn, quí vị có nằm yên không? Không yên, vậy là bị gió suy làm cho xao xuyến bất an. Hai cơn gió này cũng đủ thấy tu rất khó rồi.

    3. Gió thứ ba là Hủy. Hủy tức là hủy nhục. Như người đứng đắn, đàng hoàng, bỗng dưng có kẻ trong xóm đến chỉ mặt chửi mắng thậm tệ, người đó có buồn không? Buồn. Như vậy gió thứ ba cũng không phải dễ vượt qua, bị người hủy nhục lòng mình liền chao đảo bất an.

    4. Gió thứ tư là Dự. Ngược lại với Hủy là Dự, tức đề cao. Giả sử trong buổi họp có năm bảy trăm người, có người nêu tên mình ra đề cao tán dương hơn người. Khi ấy mọi người đều vỗ tay hoan nghinh vang dội, đến trưa về nhà mình nằm ngủ được không? Được đề cao quá, ngủ cũng không được, tức là đã bị gió Dự thổi.

    5. Gió thứ năm là Xưng. Xưng là tán thán, ca ngợi. Được tán thán ca ngợi, vui quá cũng ngủ không được. Đó là gió xưng thổi.

    6. Gió thứ sáu là Cơ. Cơ là cơ hiềm, có nghĩa là chê bai. Ví dụ ở trước chỗ đông người, ta bị đưa ra chỉ trích những điểm xấu, dở. Sau đó về nhà mình có yên không? Không yên là đã bị gió Cơ thổi.

    7. Gió thứ bảy là Khổ. Khi gặp những điều đau khổ đến lòng mình cũng bị dao động, khó chịu. Đó là đã bị gió Khổ thổi.

    8. Gió thứ tám là Lạc. Lạc là vui. Nhưng thật tình, nếu chúng ta có người thân đi đâu thật xa, đến lúc trở về hẹn ngày để gặp. Gần đến ngày đó mình có thao thức, mong đợi không? Nghĩa là biết niềm vui sẽ đến, mình càng bất an.

Thế nên, người tu thiền, dù gặp việc hay, dở, được, mất, khen, chê, chúng ta phải nén xuống, không để cho sự bất an nổi dậy, náo động trong lòng, đó mới thật biết tu. Còn nếu nói thiền, nói đạo thao thao bất tuyệt mà một gió thổi đến đã muốn bay bổng thì không phải thật tu rồi. Gặp một gió ta vượt qua thì những gió khác lần lần cũng thắng được.

Trong nhà thiền các bậc thầy thường thử xem đạo lực của đệ tử có khá hay không, nên gặp mặt không nói gì chỉ chửi mắng thậm tệ. Làm như thế mà đệ tử vẫn thản nhiên không thay đổi sắc diện, thì biết đó là hạng khá. Còn mới nói vài câu vị ấy khóc la, thì biết là yếu kém. Bình thường ai cũng tỏ ra mình là người đạo đức thâm hậu, nhưng gặp việc mới thấy rõ có đạo lực hay không. Nên ở đây Ngài muốn nhắc chúng ta phải nén Bát phong là vậy.

Càng đè càng bội. Càng đè chừng nào nó lại càng phát lên nhiều chừng nấy nữa.

Lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cắt một ma. Chữ tam huyền, tam yếu là ngôn ngữ do Tổ Lâm Tế thường dạy môn đồ. “Lẫy” tức là bật ra, “nong” là nới rộng. Hai câu này muốn nói đối với tam huyền, tam yếu chúng ta phải thông suốt, phải thấu rõ tường tận. Một cắt một ma. Một bên cắt, một bên mài, phải mài giũa đừng để nó mờ tối. Thật ra Tổ Lâm Tế nói tam huyền tam yếu nhưng không có giải nghĩa, sau này đồ đệ Ngài mới giải đại khái như sau:

Tam huyền gồm:

    1. Thể trung huyền là câu nói phải chất phác, ngay thật, không trau chuốt.

    2. Cú trung huyền là lời nói không mắc kẹt tình thức, phân biệt. Thí dụ: Hỏi: “Thế nào là Phật?” Đáp: “Ba cân gai.” Nói ba cân gai là có nằm trong tình thức phân biệt không? Câu nói đó không bị kẹt trong tình thức phân biệt.

    3. Huyền trung huyền là câu nói lìa đối đãi hai bên.

Đó là tam huyền. Tam yếu, người sau giải thích là:

    1. Trong lời nói không phân biệt tạo tác.

    2. Cốt vì ngàn Thánh thẳng vào chỗ huyền áo, chớ không phải nói theo nghĩa thường của thế gian.

    3. Cốt dứt bặt đường ngôn ngữ. Nói mà ngăn nói, nói để dứt nói, không phải nói để cho người suy gẫm.

Đó là tam yếu. Sau này, Thiền sư Thiện Chiêu có làm bài kệ về tam huyền, tam yếu như sau:

Tam huyền tam yếu sự nan phân,
Đắc ý vong ngôn đạo vị thân.
Nhất cú minh minh siêu vạn tượng,
Trùng dương cửu nhật cúc hoa tân.

Ngài nói về nghĩa “tam huyền tam yếu” khó phân biệt được. Phải làm sao “đắc ý vong ngôn đạo vị thân”, mình phải lột được ý nghĩa ở trong, mà quên lời nói đi thì đối với đạo mới gần gũi được. “Nhất cú minh minh siêu vạn tượng.” Một câu rõ ràng vượt mọi hình thức thế gian. “Trùng dương cửu nhật cúc hoa tân.” Ngày mùng chín tháng chín hoa cúc nở tươi đẹp. Đây Ngài muốn nói yếu nghĩa không thể phân biệt hoặc giải thích bằng hình thức, mà phải đắc ý vong ngôn, nghĩa là phải nhận ý quên lời, mới có thể thấu suốt được một câu nói của chư Tổ thật rõ ràng, không còn mắc kẹt trong hình tướng nữa. Người nào nhận được điều đó cũng như ngày mùng chín tháng chín hoa cúc nở, nghĩa là đến thời tiết nhân duyên liền bừng sáng.

Tóm lại, câu “lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cắt một ma” nghĩa là đối với tam huyền tam yếu, chúng ta phải thông suốt để dẹp hết mọi ngôn từ, không còn mắc kẹt, không còn bị dính nữa.

Cầm vốn thiếu huyền, xá đàn dấu xoang vô sanh khúc;
Địch chăng có lỗ, cũng bấm chơi xướng thái bình ca.

“Cầm” là cây đàn, “huyền” là dây đàn; thiếu huyền là thiếu dây. Chữ “xá” là hãy, “xoang” là xướng hay tấu. Nghĩa là đàn không dây hãy tấu lên một khúc nhạc vô sanh thích thú. “Địch” là sáo, “chăng” là chẳng. Sáo không lỗ cũng thổi một bài ca thái bình.

Hai câu này muốn nói, người đạt đạo giống như người có khả năng sử dụng cây đàn không dây mà vẫn khảy được khúc nhạc vô sanh. Sáo không lỗ mà vẫn thổi được bài ca thái bình. Lời của Tổ nói ra không cho chúng ta dấy niệm phân biệt, không cho thấy phải quấy hơn thua. Người đạt đạo thấu suốt rồi thì không cần nói vẫn có được diệu dụng vô cùng, sống trong cảnh thái bình, trong chốn vô sanh, không còn bị lang thang khổ sở nữa.

Lẫy cội tìm cành, còn khá tiếc Câu Chi trưởng lão;
Quay đầu chấp bóng, ắt kham cười Diễn-nhã-đạt-đa.

Lẫy là bẻ, lặt, hái. Trưởng lão Câu Chi là tên một vị Thiền sư đời Đường. Bình thường có ai đến hỏi đạo, Ngài đều không đáp chỉ giơ một ngón tay lên. Bởi chỗ tột cùng không có hai, cho nên Ngài đưa một ngón tay lên. Tuy nhiên còn đưa ngón tay cũng là còn hình thức, cũng đáng tiếc, nhưng Ngài không còn cách nào khác. Vì vậy ở đây muốn nói hành động đưa ngón tay đó là lẫy cội tìm cành, là còn hình thức nên đáng tiếc.

Diễn-nhã-đạt-đa. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật có dụ: Ngày xưa có anh chàng tên Diễn-nhã-đạt-đa. Một buổi sáng mai dậy, anh đến trước gương để rửa mặt, soi mặt vào gương anh thấy đầu mặt trong gương rất đẹp, anh thích quá. Nhưng khi úp mặt gương lại, anh không thấy đầu mặt mình đâu nữa, liền ôm đầu chạy la: “Tôi mất đầu rồi, tôi mất đầu rồi!” Tại sao anh la mất đầu? Vì anh quên đầu chấp bóng. Cái đầu thật sờ sờ ở ngoài, nhưng vì anh thấy bóng trong gương cho là đầu mặt của mình. Khi úp gương lại không thấy đầu mặt nữa, anh cho là mất đầu. Đầu mặt trong gương chỉ là bóng, chớ nếu mất đầu mặt thật thì ai ôm đầu chạy la mất đầu. Còn biết la mất đầu là vẫn còn đầu.

Qua ví dụ này Phật muốn dạy tất cả chúng sanh ai cũng có Chân tâm, Phật tánh nhưng vì ý thức dấy động phân biệt sự vật bên ngoài, rồi mang Pháp trần vào Tàng thức để bị dính kẹt với nó. Ý thức đó, Pháp trần đó là bóng dáng không thật, nhưng người nào chưa khéo tu, khi ý thức lặng, không còn nhớ chuyện này chuyện kia thì nghĩ “tôi không có tâm, tâm tôi mất rồi”. Không nghĩ suy thì nói mất tâm, vậy mất tâm hay mất cái bóng của tâm? Thật ra, khi không suy nghĩ, cái bóng không dấy động, không khởi lên, chớ không phải tâm mất. Khi không nghĩ mà chúng ta hằng biết thì cái tâm càng rõ ràng hơn. Cũng vậy, cái bóng đó là ví dụ như đầu, mặt ở trong gương, còn đầu mặt thật là chỉ cho Tâm chân thật, mà anh chàng Diễn-nhã-đạt-đa chỉ nhớ bóng lại quên đầu.

Chúng ta cũng thế, chỉ nhớ cái suy nghĩ phải quấy, hơn thua, lợi hại v.v… mà quên cái tâm hằng hữu của chính mình, cuối cùng ôm tâm đi tìm tâm. Chúng ta thường lầm cái giả cho là thật, trong khi cái thật lại không nhận. Như thân này là giả mà ai đụng đến là không được, tâm lăng xăng thay đổi liên miên mà cho tâm tôi nghĩ thế này thế nọ, ai nói khác đi là cự lại liền. Sống trong mê lầm, nhận bóng là mình, không chịu thức tỉnh cái thật đang hiện có sờ sờ, luôn ở bên cạnh mình đây.

Dấy niệm là vọng, khi không dấy niệm mình cũng biết. Cái biết này đâu phải vọng, tại sao không nhận lấy nó mà lại chạy theo các niệm sanh diệt, rồi vui buồn khổ sở đủ thứ? Như vậy có điên không? Cái điên của anh chàng Diễn-nhã-đạt-đa với cái điên của chúng ta có khác nhau không? Cả ngày chúng ta cứ chạy theo những suy nghĩ tính toán, chấp đó là mình, quên mất Tâm chân thật hằng hữu, không phải điên đảo là gì?

Hai câu này muốn dạy chúng ta nhớ tu phải nhận ra cái thật, chớ đừng mắc kẹt bóng, đừng mắc kẹt cành lá bên ngoài. Thấy rõ như vậy là tỉnh là giác. Mê và giác cách nhau bao xa? Như trở bàn tay, úp lại là mê, lật lên là giác. Thấy giả bảo thật là mê, thấy giả biết giả là giác. Đó là người biết thương mình, biết khéo tu.

Lọt quyện kim cương, há mặt hầu thông nên nóng;
Nuốt bồng lật cức, nào tay phải xước tượng da.

Quyện có chỗ cũng đọc là quyển, quyện kim cương tức là cái lồng bằng kim cương. Kim cương là loại cứng chắc, không có gì đập bể được nó. Vậy mà Ngài bảo lọt quyện kim cương, tức là lọt phủng được lồng kim cương, mà mặt vẫn bình thản, không nóng, không thấy khó khăn gì.

Nuốt bồng lật cức. Lật cức là loại tre gai, nuốt nó mà không bị xước da.

Ý của hai câu này nói người tu khi đạt được chỗ cứu kính rồi thì vượt qua mọi khó khăn như tay chọc phủng lồng kim cương, hoặc nuốt gai góc cũng không bị trầy da họng. Đó là chỗ diệu dụng khi đã được tự tại. Người như thế sống giữa mọi cảnh hiểm nguy không có gì sợ hãi, vì đã đạt tới chỗ cứu kính chân thật.

Mục Lục