Thiền Tông Việt Nam
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm
Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Nhất

Mình ngồi thành thị;
Nết dùng sơn lâm.
Muôn nghiệp lặng an nhàn Thể tánh;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí;
Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý;
Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm.
Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng;
Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm.
Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục;
Nhắm trường sanh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm.
Sách Dịch xem chơi, yêu tánh sáng yêu hơn châu báu;
Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.

GIẢNG:

Hội thứ nhất có cả thảy mười bốn câu. Mười bốn câu này Ngài diễn tả tâm trạng của Ngài trong lúc làm Thái thượng hoàng.

Mình ngồi thành thị, tức là ở tại triều đình, nơi chốn kinh đô thành thị, làm Thái thượng hoàng hướng dẫn cho con trông coi việc nước.

Nết dùng sơn lâm. Theo bản dịch của ông Hoàng Xuân Hãn thì “dùng nết sơn lâm”. Chữ “dùng nết” hay “nết dùng” cũng giống như nhau. Nghĩa là tư cách dùng theo tinh thần của người ở núi rừng.

Như vậy thân ngồi ở thành thị mà tinh thần hay hành động giống như người ở núi rừng. Hai câu này nói lên ý nghĩa Cư trần lạc đạo, vì ở thành thị là ở trong trần, lạc đạo là giống như người ở trong rừng núi, không bị nhiễm nhơ bởi thành thị.

Muôn nghiệp lặng an nhàn Thể tánh,
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.

Tuy ở thành thị mà các nghiệp đều lặng. Bởi nghiệp lặng nên Thể tánh được an nhàn tự tại. Sở dĩ chúng ta ở thành thị mà không được an nhàn là vì nghiệp cứ trói lôi, còn Ngài ngồi tại thành thị mà các nghiệp đã yên lặng nên Thể tánh an nhàn thanh tịnh.

Nửa ngày rồi nghĩa là sao? Chữ “rồi” là rảnh rỗi chớ không phải rồi là hết. Nửa ngày rồi tức là được nửa ngày rảnh rỗi, thân tâm rất tự tại. Bởi vì Thái thượng hoàng làm việc cho triều đình một buổi, còn một buổi được thảnh thơi nên Ngài nói thế. Đó là bốn câu đầu diễn tả thời gian đang ở địa vị Thái thượng hoàng, còn lo cho dân cho nước mà Ngài vẫn thảnh thơi tự tại.

Chúng ta tu trong Thiền viện, ở sơn lâm mà tâm đã tự tại chưa? Có ai dám chọc ghẹo đâu, sao nghiệp chưa lặng? Lẽ ra sống trong Thiền viện, mọi duyên đều giảm thiểu, ngăn chặn hết, nên Tăng Ni phải ít phiền não mới đúng. Sống với huynh đệ đồng tu đồng đạo, có việc gì tác động để ta phiền nhiễu đâu. Có phiền não là do mình không khéo giữ bên trong, nội tâm sôi sục những điều phải quấy hơn thua, nên mới sanh chuyện rối rắm. Người khéo tu, làm gì có chuyện rối rắm lăng xăng trong tâm.

Ngài làm Thái thượng hoàng bận rộn việc triều chánh mà còn an nhàn tự tại như vậy. Còn chúng ta tuy ở sơn lâm mà giống thành thị, rộn ràng thứ này thứ kia, thật đáng hổ thẹn!

Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí. Châu ngọc là những thứ người thế gian mến yêu quí trọng, nhưng đối với Ngài lòng tham ái đã cạn, nên không còn nhớ nghĩ tới nữa. Chữ châu ngọc ở đây có hai ý: một là châu ngọc, hai là người đẹp. Như vậy Ngài ngồi tại triều đình mà không nhớ nghĩ tới châu ngọc, chúng ta thấy thật là một điều rất ít có.

Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm. “Thị phi”  là phải quấy. Những tiếng thị phi đối với tâm Ngài đã lóng lặng, cho nên được “dầu”, chữ “dầu” ở đây có nghĩa là mặc tình. Được dầu là mặc tình được nghe tiếng yến thốt, tiếng oanh ngâm. Tiếng yến thốt oanh ngâm này ý nghĩa thế nào? Đây không phải là tiếng chim kêu mà là tiếng của các phi tần. Vì các bà trong cung luôn luôn ưa người này, ghét người kia, nên gặp Vua lúc nào cũng kiếm chuyện chỉ trích người này, phê phán người nọ. Khi tâm thị phi đã lặng, nên dầu các bà có tâu hót, lòng Ngài vẫn yên tịnh, không phải nghe than thở trách móc rồi lòng Ngài rối động.

Hai câu này giúp chúng ta thấy rõ tâm hồn của Ngài rất cao thượng. Tuy còn ở địa vị cao sang mà đối với châu ngọc vẫn không màng. Tuy còn ở trong cung triều, có bao nhiêu người hầu kẻ hạ, bao nhiêu chuyện thưa tâu thị phi, mà Ngài vẫn thản nhiên không mắc kẹt. Đó là nói lên tâm trạng của một ông hoàng đang còn ở tại triều mà không dính kẹt vào của quí, vào lời thị phi của những người thân. Đây thật là điều hi hữu.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý. Đi chơi nước biếc hoặc ẩn trên non xanh, thế gian có lắm người đắc ý(1), tức là thích thú. Thí dụ như chúng ta đi về miền Tây, xuống thuyền ngồi, ngắm dòng sông xanh, hoặc lên cao nguyên nhìn những ngọn núi biếc, những rặng thông gió thổi reo vi vu nghe rất thích. Đó là cái thích thú của người thế gian.

Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ(2) tri âm. Chữ “chủ” nghĩa là người. Nhìn cây đào trổ hoa màu hồng, thấy cây liễu lá xanh, hay nói cách khác nhìn thấy hoa thấy cảnh đúng như thật của nó, thiên hạ trên thế gian này có mấy người được! Thích cảnh đẹp, nhìn nước biếc non xanh thì ưa, đó là chuyện thường tình. Còn nhìn đóa hoa, cây liễu mà thấy được chỗ tường tận, thấu đáo được lẽ thật của nó thì thật ít có người tri âm, ít có người hiểu thấu.

Như vậy hai câu này nói lên tâm trạng của người thế gian chỉ chạy theo cảnh, theo những nét đẹp bên ngoài, còn người học đạo thấy được như thật từ đóa hoa, cành liễu thì rất ít có vậy! Như tất cả Tăng Ni ở đây có thấy được đào hồng, biết được liễu lục, nhưng thấy biết như thật hiện tướng của nó thì chắc ít có. Vì vậy những cây đào, cây liễu ít có được tri âm.

Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng. Nguyệt bạc tức là mặt trăng sáng, vừng xanh, chữ vừng nguyên là chữ vầng, có nghĩa bầu trời xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng là soi mọi chỗ trên dòng sông thiền lai láng. Vì sao lại lai láng? Quí vị thấy nếu đêm rằm trời trong trăng sáng, ánh sáng mặt trăng chiếu rọi xuống hồ, xuống suối thì chúng ta thấy có ánh sáng trong rọi lại thành một dòng lai láng. Đây muốn nói nhìn mặt trăng sáng, bầu trời xanh, rồi nhìn xuống các dòng sông hay các mặt hồ thấy như có dòng thiền tràn khắp, lai láng mọi nơi. Người đạt được lý thiền, nhìn mọi cảnh như trời trong, trăng sáng, tất cả hiện tượng khác tràn đầy tươi đẹp. Đó là từ tâm thiền bủa khắp, chớ không có gì khác. Bởi tâm chúng ta không động nên nhìn tất cả cảnh đều không động. Vì vậy nói thiền hà lai láng.

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm. Ở trên là “thiền hà”, đến đây là “tuệ nhật”, tức mặt trời trí tuệ. Chữ “ngất” là khắp cả, liễu mềm hoa tốt trùm hết quần sanh. “Tuệ nhật sâm lâm” nghĩa là bao nhiêu quần sanh đều được mặt trời trí tuệ bao trùm, soi rọi tất cả. Khi nào chúng ta nhìn thấy tất cả đều là “thiền hà”, đều là “tuệ nhật” thì đạo đức tràn trề. Còn nếu nhìn dòng sông, nhìn mặt trăng sáng, bầu trời xanh mà nhớ những thi văn thế gian thì không có “thiền hà”. Hoặc nhìn liễu mềm hoa tốt mà nhớ theo tâm hồn thi sĩ thì cũng không có mặt trời trí tuệ bao trùm. Như vậy đạo đức không chỉ hạn chế trong khi ta ngồi tu, mà nơi nào tâm mình thanh tịnh thì nơi đó đạo đức bủa khắp.

Hai câu này diễn tả đạo lý thật lai láng, tràn đầy, vừa nên thơ vừa thiền vị. Mặt trăng sáng, bầu trời xanh cho nên mọi dòng sông đều tràn trề nguồn thiền. Cây liễu mềm, đóa hoa tốt, hay tất cả quần sanh đều được mặt trời trí tuệ trùm khắp. Như vậy trí tuệ và tâm thiền trùm cả bầu trời và muôn vật. Đó là hai hình ảnh rất đẹp của người tu. Người đạt đạo thấy cái gì cũng thiền, cũng trí tuệ. Người thế gian thấy theo tình cảm buồn vui, si mê nên dính mắc, đau khổ. Ở đây với cái nhìn của Ngài, tất cả đều hiện thể của thiền, của trí tuệ nên cái gì cũng là thiền, là trí tuệ.

Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục.
Nhắm trường sanh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm.

Người nào muốn đổi xương của mình cho được nhẹ nhàng để có thể bay đi như các ông tiên cỡi hạc, thì phải uống linh đơn, thần dược của tiên. Ai muốn sống mãi mãi không chết và được lên thượng giới thì nên dùng thuốc thỏ tức thuốc tiên. Chữ ngọc thố là con thỏ ở trên cung trăng. Theo truyền thuyết kể lại, Hằng Nga trộm thuốc trường sanh uống vào được sống mãi. Vì vậy ai muốn được trường sanh, được lên thượng giới tức là cung trăng, thì phải đâm thuốc trường sanh mà uống. Như vậy hai câu này để nói đến những người muốn được bay đi nhẹ nhàng thì phải uống thuốc tiên, người muốn sống lâu, muốn lên thượng giới phải uống thuốc trường sanh. Đây chỉ là truyền thuyết do tưởng tượng thôi, bây giờ người ta hết tin rồi.

Sách Dịch xem chơi, yêu tánh sáng yêu hơn châu báu;
Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.

Sách Dịch tức là kinh Dịch của nhà Nho, Ngài chỉ xem chơi chớ không lấy đó làm chuẩn, làm mục đích chánh. Tuy xem sách Dịch, nhưng yêu thì yêu tánh sáng của chính mình. Tánh sáng là gì? Là tánh Phật. Chỉ yêu tánh Phật hơn yêu châu báu, vì Tánh giác này không gì bì kịp. Thời đó các vua Trần chủ trương Tam giáo đồng nguyên, nên Ngài đọc hết các sách của Nho Lão, nhưng thật ra trong lòng chỉ thích Tánh giác của mình. Đó là cái cao quí nhất mà trọn đời Ngài quí trọng.

Kinh nhàn đọc dấu, chữ “dấu” là thích thú. Sách Dịch xem chơi, còn kinh Phật thì đọc rất thích. Vì thích kinh Phật nên trọng lòng rồi, chữ “rồi” có nghĩa là rỗi, trọng lòng rảnh rỗi thanh thản nhẹ nhàng của mình, nói cho dễ hiểu là tâm vô sự. Chữ “nữa” là hơn, trọng nữa hoàng kim nghĩa là trọng còn hơn vàng ròng. Câu này có nghĩa là đọc kinh Phật Ngài rất thích, quí tâm vô sự còn hơn là vàng ròng. Chúng ta thấy chỉ có bấy nhiêu câu, đủ thể hiện tâm hồn của Ngài như thế nào. Còn chúng ta tuy đã xuất gia mà so với cái nhìn của Ngài còn kém xa.

Tóm lại, chúng ta thấy một con người đang làm vua, làm Thái thượng hoàng mà tâm đạo tràn trề. Đối với thiền, với trí tuệ, Ngài lúc nào cũng thấy nó trùm khắp. Đối với chỗ vô tâm Ngài thấy quí nhất trong đời. Như vậy hội thứ nhất diễn tả tâm trạng của Ngài trong thời gian đang làm Thái thượng hoàng mà yêu đạo, quí đạo và sống được với đạo.

(1) Theo ông Hoàng Xuân Hãn đắc ý gọi là đắc chí.

(2) Theo ông Hoàng Xuân Hãn thì ghi “mấy chú” còn ở đây là “mấy chủ”, vì chữ Nôm nguyên là chữ “chủ”, có thể đọc là “chú”, nhưng đây giữ nguyên là “chủ”.

Mục Lục