Thiền Tông Việt Nam
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm
Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội Thứ Bảy

Vậy mới hay;
Phép Bụt trọng thay,
Rèn mới cốc hay.
Vô minh hết Bồ-đề thêm sáng,
Phiền não rồi đạo đức càng say.
Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu;
Học đòi cơ Tổ, sá thiền không khôn chút biết nay (nơi).
Cùng căn bản, rủa trần duyên mựa để mấy hào ly đương mặt;
Ngã thắng chàng, viên tri kiến, chớ cho còn họa trữ cong tay.
Buông lửa giác ngộ, đốt hoại thảy rừng tà ngày trước;
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tánh thức thuở nay.
Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo;
Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.
Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo;
Miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.

GIẢNG:

Vậy mới hay là câu mở đầu.

Phép Bụt trọng thay;
Rèn mới cốc hay.

Chữ “cốc” là biết, “rèn” là rèn luyện. Như vậy phép Phật rất quí trọng, nhưng người nào có tu mới biết được cái hay cái quí của phép Phật.

Vô minh hết Bồ-đề thêm sáng;
Phiền não rồi đạo đức càng say.

Người tu dẹp sạch vô minh mới thấy được Bồ-đề. Bồ-đề tức là Tánh giác. Tánh giác càng ngày càng sáng sủa thêm. Phiền não rồi tức là phiền não nhẹ hay rảnh rỗi thì đối với việc tu càng ngày càng say mê, thích thú hơn. Vì vậy, ai tu mà cứ ôm ấp phiền não hoài thì việc tu cứ bị lui sụt, không tiến lên được, thậm chí còn muốn xách gói về nhà nữa. Ngược lại, người phiền não nhẹ, phiền não hết thì tu càng ngày càng say mê đạo đức, không còn ham muốn những gì ở thế gian  nữa. Do đó chúng ta mới hiểu có vị ngồi thiền được an lạc, nên ngồi hết đêm này qua đêm khác, say trong đạo đức cao siêu quí báu.

Như vậy hai câu này nói rõ rằng, người tu nếu dẹp sạch vô minh, thì Bồ-đề hay Tánh giác càng thêm sáng. Nếu dứt trừ được phiền não thì đạo đức càng ngày càng thấm nhuần. Tăng Ni sống trong chùa hay Thiền viện mỗi lần gặp bạn bè bà con tới thăm, hay than phiền chán cái này chán cái kia. Đó là tại phiền não chưa hết, vì vậy ngán ngẩm hết muốn tu. Còn ai càng tu càng vui, càng thích, đó là phiền não nhẹ rồi mới hăng hái tu hành, làm việc. Nên sống trong chúng, chỉ cần nhìn nhau là biết ai đang tu tiến, ai thối tâm Bồ-đề liền.

Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu;
Học đòi cơ Tổ, sá thiền không khôn chút biết nay (nơi).

Lòng kinh là tâm kinh. Tâm kinh có hai, một là Tâm Kinh Bát-nhã, hai là tâm kinh vô tự sẵn có nơi mình. Kinh vô tự là kinh không chữ, là lòng kinh. Xem phỏng lòng kinh, là xem kinh ở ngay trong tâm mình, tức là hướng về tâm. Nếu chúng ta xem kinh mà biết hướng về nội tâm, hướng về mình thì mới biết được dấu vết của lời Phật dạy.

Phật nói tâm là kinh, một bộ kinh chứa đầy đủ hết. Như kinh Hoa Nghiêm có đoạn “phá vi trần xuất kinh quyển”, nghĩa là phá hạt bụi lấy ra quyển kinh to trùm cả thế giới. Trong một hạt bụi mà có quyển kinh to như thế, nên chỉ người nào sáng mắt như Phật, mới biết đập hạt bụi lấy bản kinh ra dùng. Nghĩa là phá được thân tứ đại này, phát hiện ra trong chiếc thân nhỏ xíu ấy có một quyển kinh trùm hết tam thiên đại thiên thế giới. Vì vậy, khi Phật nhận ra tánh Phật rồi thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ngài thấy được vô số thế giới như cát sông Hằng. Còn chúng ta chưa phá được, nên không biết hoặc chỉ biết cạn cạn thôi.

Lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu nghĩa là lời Phật chỉ, chúng ta khó nhận ra, khó thấy được, phải hướng vào trong tâm mới hi vọng nhận được. Chữ “sá” là con đường, “không khôn” là không khó. Chúng ta học đòi theo căn cơ của chư Tổ thì con đường thiền biết được đến nơi đến chốn không khó. Người học đạo nếu biết được lời Phật dạy chỉ cho Tâm chân thật thì sẽ thấy được dấu vết của Phật. Người học thiền rõ căn cơ chư Tổ vì người chỉ dạy thì sẽ thấy được nơi chốn không khó khăn.

Cùng căn bản, rủa trần duyên mựa để mấy hào ly đương mặt;
Ngã thắng chàng, viên tri kiến, chớ cho còn họa trữ cong tay.

Cùng căn bản là phải thấu suốt tột cùng cội gốc. Đương mặt là hiện tại hay hiện tiền, “rủa” là giũa, “mựa” là đừng. Người tu muốn thấu tột căn bản đạo lý, thì phải dẹp sạch các duyên trần, đừng để còn một mảy may nào. Đó là gốc của sự tu.

Chữ “ngã” này không phải là ta, mà đập cho ngã. Chữ “chàng” là cây cờ. Phải đập ngã cây cờ ngã mạn hay cờ hiếu thắng, tức muốn nói cờ giặc. Viên tri kiếnlà tri kiến tròn. Muốn tròn được tri kiến phải đập cho ngã cây cờ hiếu thắng. Chớ cho còn họa trữ cong tay: chẳng cho một chút họa nào còn vướng lại trong lòng.

Chúng ta tu sở dĩ không tròn tri kiến vì một là bệnh hiếu thắng. Ta làm gì cũng cho mình hơn thiên hạ. Khi thấy ai hơn, họ phê bình mình thì không ưng nghe, lại sanh bực bội. Những cái sai người ta chỉ mình không dám nhận, những cái chưa thật đúng người ta tô điểm mình lại chấp nhận. Do mắc bệnh như thế nên không thấy được và cũng không có cơ hội để thấy được lẽ thật. Hai là bệnh si ái, tức thương trong si mê. Người nào ta thương quá đến độ si mê, ai động tới người đó một tí mình cũng muốn phát khùng lên. Còn họ nói gì, chê khen ai mình cũng nghe theo, đó cũng là bệnh khiến ta không thấy được lẽ thật. Ba là bệnh hận thù, khi lòng đã thù hận ai rồi, người ta tốt cách mấy mình cũng thấy xấu. Họ làm gì ta cũng thấy dễ ghét, ngay cả khi người ấy giúp đỡ mình, ta cũng sanh tâm nghi ngờ lòng tốt của họ. Do đó mà không thấy được lẽ thật.

Tóm lại, do ba thứ bệnh hiếu thắng, si ái, hận thù khiến cho chúng ta không thấy được lẽ thật. Do không thấy được lẽ thật, nên ta sống trong tưởng tượng nhiều hơn. Vì vậy cái tri kiến tức cái thấy biết của mình méo mó, không tròn không đúng. Bây giờ tu là phải vượt qua các thứ bệnh ấy, mới mong thành tựu tri kiến tròn đầy.

Buông lửa giác ngộ, đốt hoại thảy rừng tà ngày trước;
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tánh thức thuở nay.

Trước kia, vì theo tà giáo nên chúng ta mờ mịt tối tăm, ngày nay đã tỉnh thức nên dùng lửa giác ngộ để đốt hết rừng tà ngày trước. Rừng tà ở đây là những thấy biết sai lầm, chớ không phải theo tà giáo mới gọi là tà. Kế đến, cầm kiếm trí tuệ tức là trí Bát-nhã, quét sạch hết những tánh thức là tánh hay phân biệt hơn thua, phải quấy từ thuở nào.

Ở thế gian, người học hành giỏi nghiên cứu nhiều gọi là hàng trí thức, hàng học giả. Hơn nữa là nhà khoa học hay bác học uyên bác với những bằng phát minh này phát minh nọ. Những kiến thức vừa nêu trên là do học mà được, gọi là trí thức. Như vậy hàng học giả hay bác học do lượm lặt kiến thức của những người đi trước làm thành cái hiểu biết của mình, nên kiến thức này từ bên ngoài mà có, chớ không phải của mình.

Nhà Phật dạy muốn có trí tuệ phải trì giới, thiền định. Do thiền định trí tuệ mới phát sanh. Ngược lại với trí thức là gom tất cả hiểu biết bên ngoài vào, trí tuệ là do lặng hết những phân biệt nghĩ ngợi lăng xăng bên trong mà phát sanh. Cho nên trí tuệ do hành mà được, còn trí thức do học mà có. Vì vậy người tu hành phát sanh trí tuệ gọi là hành giả, người do học hỏi mà hiểu biết gọi là học giả.

Người tu thiền ngồi lại khai thác kho báu trí tuệ của mình cho nó hiện ra, chớ đâu phải ngồi yên đó như ngây như ngu, không biết gì hết. Muốn cái thật hiện ra thì phải xua tan hết cái giả, nên Ngài dạy cầm kiếm trí tuệ quét cho sạch tánh thức thuở nay. Tánh thức chính là những tình thức phân biệt thị phi, hơn thua phải quấy. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy sự tu hành rất quí. Thay vì mình bôn ba chạy đông chạy tây tới bạc đầu để trở thành học giả, bác học, cuối cùng các thứ ấy cũng chỉ là sự hiểu biết vay mượn bên ngoài, không phải của mình. Bây giờ ta ngồi lại, lặng hết mọi lăng xăng sanh diệt để trí chân thật phát sáng, chân lý sẽ hiển bày. Chừng đó chúng ta thấy biết tất cả đúng như lẽ thật bằng chính cái thấy biết của mình, không hề sai lầm mà cũng chẳng vay mượn của ai cả.

Như đức Phật Thích-ca sau khi giác ngộ viên mãn, những gì Ngài thấy, Ngài biết, Ngài nói đến bây giờ khoa học mới phát minh sau, và còn những điều Ngài thấy mà khoa học chưa tìm ra được. Thêm một điểm đặc biệt nữa, những điều Phật nói ra vẫn không thay đổi theo thời gian, không bị một lý thuyết hay phát minh nào của khoa học đánh đổ. Ngược lại những điều ấy càng ngày càng được khoa học chứng minh là đúng sự thật. Từ đó chúng ta mới thấy trí tuệ vô sư chân thật siêu việt đến độ nào!

Đó là lý do Tổ dạy chúng ta phải cầm kiếm trí tuệ quét cho sạch tánh thức thuở nay, tức là phá tan hết những tình thức phân biệt mới hiện ra cái chân thật muôn đời không sanh diệt của mình. Đây chính là điều thiết yếu của sự tu.

Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo;
Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.

Chữ Thánh ở đây là chỉ cho đạo Khổng. Đạo Khổng chỉ dạy con người phải hiếu thảo với mẹ cha, kính thờ bậc sư trưởng. Mến đức Cồ, chữ Cồ ở đây chỉ Cồ-đàm tức là đức Phật. Người mến đức Phật phải kiêng bùi ngọt là kiêng thịt cá, giữ giới ăn chay lạt.

Trong hai câu này, câu trước dạy cho người theo đạo Khổng. Câu sau chỉ dạy tư cách người tu xuất gia theo đạo Phật.

Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.

Vì cảm đức từ bi của Phật, nên chúng ta nguyện nhiều kiếp gần gũi Ngài để tiếp tục tu hành. Bởi một đời việc tu chưa chắc đã xong, nên nguyện nhiều kiếp được gần Phật.

Đội ơn cứu độ tức là nhớ ơn những bậc thầy cứu độ mình từ một kẻ mê thành người tỉnh, thì dù cho nát muôn thân là thân này chết đi sống lại muôn ngàn lần, chịu khổ sở đến đâu cũng chưa đủ để đáp đền.

Hai câu này dạy chúng ta vì kính mến đức Phật, nghĩ nhớ đến lòng từ bi của Thầy Tổ mà ráng tu. Nguyện nhiều kiếp gặp lại, luôn luôn nhớ ơn các ngài, không dám xem thường, dù cực khổ mấy cũng cam, không hề than trách. Đây là tỏ lòng thiết tha cầu đạo, tu đạo của chúng ta vậy.

Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo;
Miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.

Nghĩa hãy nhớ, nghĩa tức là đức hạnh tốt, hành động đúng với đạo nghĩa. Đạo chẳng quên là đối với đạo không lơ là. Người sống như thế dù chỉ cúng hương cúng hoa vẫn được xem là người hiền thảo.

Miệng rằng tin là tuy miệng nói tin Phật, kính Phật, nhưng trong lòng lại mưu tính đủ thứ, làm những điều tà bậy, thì dù cho người đó có đem vàng ngọc dâng cúng cũng chưa ngay, chưa đúng nữa.

Hai câu này, Ngài dặn dò người học đạo chân thật phải sống đúng nghĩa đạo đức thì dù cho người ấy cúng Phật ít cũng là người thảo ngay. Còn người tuy miệng nói đạo đức mà trong lòng lại nghĩ tà vạy, thì dù có đem vàng ngọc dâng cúng, cũng chưa phải là người chân chánh, thảo ngay. Do đó người học đạo phải khéo hiểu như vậy.

Mục Lục