|
Tông Môn Cảnh Huấn 1
28. Thiền viện Thường Chiếu
Năm Nhâm Thân - 1992 Đây là một buổi nói chuyện hướng dẫn chư Tăng về tư cách của người nhập thất, cũng như đường lối nhập thất an tu. Tôi nói từ đầu đến cuối cho tất cả biết rõ ràng. Điểm thứ nhất là nói về đức Phật. Theo trong sử sách ghi lại, trọng tâm đức Phật được thành đạo là thời gian ngày đêm liên tục tọa thiền dưới cội bồ-đề, đến đêm thứ 49 thì giác ngộ. Như vậy, không phải đức Phật đang khất thực, cũng không phải học với các vị ngoại đạo hay tu khổ hạnh mà được giác ngộ. Thời đó không có nhà hay am thất, đức Phật chỉ với lòng kiên trì ngồi tu dưới cội bồ-đề, trong thời gian ở một nơi mới đủ sức mạnh dồn hết tâm lực mà được sáng đạo.Đó là hình ảnh của đức Phật. Điểm thứ hai là nói đến chư vị Tổ sư. Sau này cũng có nhiều vị nhờ ngồi yên trong thất mà được giác ngộ. Như trường hợp của ngài Huyền Sa Sư Bị, chính lúc đang ở trong thất đọc lại kinh Lăng Nghiêm mà được giác ngộ v.v.... Hiện tại như bản thân tôi. Bao nhiêu năm lo giảng dạy nơi này nơi kia, cuối cùng tôi ngưng hết mọi Phật sự bên ngoài, ở yên nơi Pháp Lạc Thất, dồn hết tâm sức nhập thất chuyên tu, nhờ vậy mà tôi mới có cái thấy biết khác hơn ngày xưa. Từ đó tôi thấy rất rõ, nhập thất là phương tiện giúp chúng ta tu tiến một cách nhanh chóng, có kết quả thật sự không nghi. Qua những kinh nghiệm này nên từ năm 1970, khi mới bắt đầu lập thiền viện, tôi cố tình dạy chư Tăng tại Chơn Không tu học ba năm, sau đó thì cho nhập thất. Đợt đầu được nhập thất có Phước Hảo, Đắc Pháp, Nhật Quang. Tôi định cho nhập thất ba năm thì các vị ấy có thể thay tôi làm Phật sự được. Nhưng rất tiếc, mới chỉ hơn một năm, vì hoàn cảnh thay đổi nên không thể nhập thất tiếp, vậy là sự sắp đặt của tôi không được mãn nguyện. Kể từ đó cho tới nay (1999), do hoàn cảnh kinh tế thiếu hụt, các thiền viện phải nỗ lực lo làm kinh tế để đủ sống mà tu, nên vấn đề nhập thất coi như bỏ qua. Đến năm 1991, tôi chuẩn bị nghỉ, nhận thấy cơ duyên tương đối thuận tiện, tôi mới chủ trương cho lập khu thiền thất tại các thiền viện như: Thường Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu và các Chiếu khác. Từ khi có khu thiền thất, mỗi tháng tôi đều tới lui nhắc nhở và nghe trình bày những biến chuyển trong lúc nhập thất tu tập của mỗi người. Rõ ràng có một số vị nhập thất thật sự có kết quả tốt. Từ đó tôi càng thấy vui vì đường lối tu do mình hướng dẫn, những người thực hiện đúng đều có kết quả cụ thể, không nghi ngờ. Vậy nên tôi nghĩ rằng, chư Tăng, chư Ni ở các thiền viện đều phải có thời gian ngồi yên tu. Bởi sống trong chúng thì mọi việc từ lao động, ăn uống cho tới tụng niệm, tọa thiền... đều là sinh hoạt tập thể. Tu chung trong tập thể thì tự nhiên yếu hơn lúc tu một mình, vì một mình thì trong lúc dụng công mới dồn hết tâm lực vào đó. Lúc đang ở Thường Chiếu, tôi vào thăm các vị nhập thất thường. Nhưng một hai năm nay, vì tôi ở xa lại thêm công việc đa đoan, nên mỗi ba tháng mới vô thăm thất một lần. Mỗi lần vào thăm, nghe các vị diễn tả niềm vui trong sự tu hành của họ, rất đáng khích lệ. Thế nhưng tôi cũng được nghe báo cáo, có vài tệ trạng không đúng tinh thần nhập thất, làm hoang mang cho những người khác. Đó là điều dở! Tất cả trong chúng, ai ai rồi cũng được nhập thất, dài là sáu tháng, ngắn là ba tháng hay một tháng... thời gian ngắn dài là tùy theo khả năng tu của mỗi người. Những lần đi thăm và lắng nghe sự trình bày của các vị nhập thất, tôi có ghi lại kinh nghiệm trong sổ nhật ký của mình. Tôi nhận thấy số người nhập thất, dù không tiến trọn vẹn thì cũng tiến được năm sáu mươi phần trăm chứ không có người nào dở. Ngoại trừ thỉnh thoảng có một hai vị bể thất, còn bao nhiêu thì cố gắng tu và đều có kết quả tốt, ít nhiều khác nhau. Như vậy, qua kinh nghiệm nhập thất của tất cả Tăng Ni, tôi thấy rõ ràng đường lối tu của chúng ta. Nếu tận tâm, tận lực ứng dụng tu cho đúng thì nhất định sẽ có kết quả tốt. Tôi thường nói “có tu là có tiến”, điều này không nghi ngờ. Hôm nay, chuẩn bị cho chư Tăng nhập thất, tôi nhắc nhở để quý vị nhớ. Muốn nhập thất bảo đảm tiến thì người nhập thất phải hội đủ các điều kiện: Thứ nhất là sự quyết tâm, nói theo từ ngữ nhà thiền là quyết tử trong lúc tu. Bản thân mình phải khẳng định trong thời gian nhập thất là chết sống tu chứ không lơ là. Đó là điều kiện căn bản của mỗi người nhập thất. Dù nhập thất sáu tháng, ba tháng hay một tháng, nhưng trong thời gian đó phải quyết tâm dồn hết tâm lực vào việc tu, còn tu lừng chừng thì không thể tiến được. Thứ hai là thời khóa tu. Nhập thất không bắt các vị tu nhiều hơn, mà chỉ bảo phải giữ đủ thời khóa rõ ràng, tức là giờ ăn, giờ nghỉ... đều theo đúng thời khóa như ở bản Nội quy nhập thất. Sáng 3 giờ thức dậy tọa thiền tới 5 giờ. Xả thiền ra ngoài thể dục hoặc đi bộ để cho cơ thể có vận động, giữ gìn sức khỏe tốt. Ăn sáng xong thì lao động ngoài trời như nhổ cỏ hoặc săn sóc cây kiểng một giờ hoặc nửa giờ, sau đó thì sám hối. Sám hối xong, kinh hành khoảng 10, 15 phút rồi tọa thiền thì không buồn ngủ. Tọa thiền từ khoảng 10 giờ tới 11 giờ, hoặc là 9 giờ 30 tới 11 giờ thì ít buồn ngủ; còn ngồi thiền khoảng 8 giờ sáng thì buồn ngủ lắm, gục lên gục xuống uổng mất thời giờ. Sau khi tọa thiền thì thọ trai. Thọ trai xong đi kinh hành một lúc cho bao tử nhẹ, rồi nghỉ trưa một giờ. Thức dậy lại tọa thiền, buổi chiều tuy nóng nhưng không buồn ngủ. Tọa thiền xong có thể đi kinh hành, hoặc ngồi lại xem kinh để ôn lại lời dạy của chư Phật, đọc sử để nhớ hành trạng của chư Tổ. Buổi tối sám hối xong ngồi thiền... Cứ như vậy thời khóa đều đặn. Thời khóa trong thất khác hơn bên ngoài đôi chút. Buổi sáng thì người nhập thất có thời sám hối buổi sáng và giờ ngồi thiền gần trưa, còn ở ngoài vì bận lao động nên không có thời này. Buổi tối ở ngoài ngồi thiền chỉ có một giờ, còn trong thất có thể ngồi thiền một giờ rưỡi hoặc hai giờ, tùy theo khả năng của mỗi người, không nhất định. Thời khóa sắp đặt như vậy đã đều đặn rồi, người vào thất chỉ y theo thời khóa đó mà đem hết tâm lực ra thực hành. Tôi nhắc lại, những giờ lao động ngoài trời như nhổ cỏ hoặc săn sóc cây kiểng, không phải là giờ chơi mà chính là giờ tu trong cái động, tức tu trong công tác của mình. Khi tĩnh tu lúc động cũng tu, như như vậy thì trọn ngày giờ nào cũng là giờ tu, sám hối, ngồi thiền, kinh hành hoặc ra ngoài đi bộ hay săn sóc cây kiểng v.v... tất cả giờ đều là giờ tu, không để tâm chạy theo mắc kẹt nơi cảnh, mà phải kềm chế luôn luôn. Nói kềm chế đó chỉ là một lối nói, tức là khi nhìn thấy cảnh, thấy người, thấy vật vv... không buông tâm chạy theo trần cảnh, được vậy thì tất cả giờ ở trong thất đều là giờ tu. Giả sử mệt nằm nghỉ, cũng là tu trong lúc nằm. Điều tối kỵ nhất là nói chuyện tạp. Đôi ba huynh đệ ở thất gần nhau, rảnh rỗi rủ ngồi uống trà, nói dóc. Mình đã tránh duyên mới nhập thất, mà vào đó rồi lại hợp với nhau nói chuyện, tán dóc thì đâu có gì hay, đâu có gì gọi là nỗ lực. Vậy nên tuyệt đối không được chụm ba chụm bảy uống trà, nói dóc. Đó là trái luật lệ của người nhập thất. Kế đến là tối kỵ đem sách vở bên ngoài vào thất đọc. Khi vào thất chỉ được đem theo những quyển kinh Phật, hoặc luận sử của chư Tổ như: Thiền Sư Trung Hoa, Thiền Sư Việt Nam v.v... là những kinh sách thiết thiết yếu cho người tu thiền. Nếu đem những cuốn sách tào lao vô thất đọc thì không còn tinh thần nhập thất nữa. Vì làm cho tâm mình xao xuyến, phóng ngoại, không toàn tâm trong sự tu. Tôi nhắc lại hai điều cấm kỵ khi nhập thất: Một là không được chụm ba chụm bảy nói chuyện, đùa cợt; hai là không được đọc những sách vở tạp nhạp, không có lợi ích cho việc tu hành, cũng không thúc đẩy sự tu tiến của mình. Những điều cấm này các vị nhập thất cần phải tránh, đừng để sai phạm. Nếu tránh được rồi thì tôi tin chắc rằng, sự tu hành của quý vị sẽ tiến trăm phần trăm. Đợt nhập thất này bên Tăng không nhập, chỉ có chư Ni ở các thiền viện. Tại một viện ni có hai cô nhập thất. Vừa rồi tôi vào thăm, một cô ni trình bày, bản thân mình bị bệnh tim lại thêm huyết áp cao và đau bao tử, cứ hồi hộp, mệt thở không nổi. Khi được cho nhập thất ba tháng, cô nghĩ mình ở ngoài cũng chết, vô thất cũng chết. Thôi bây giờ ráng tu, vô thất một tuần có chết cũng vui. Những ngày đầu mới vào thất, bị bệnh hành dữ dội. Cô nghĩ, ráng cố gắng tu, lúc nào chết cũng được. Tới đêm thứ bảy, ngồi thiền một lúc thì lên cơn mệt tim. Cô cố gắng ngồi thẳng chờ chết. Bình thường thì ngồi hai giờ, bữa đó nghĩ mình sẽ chết nên ráng ngồi luôn, tới hai giờ rưỡi mồ hôi xuất ra ướt cả mình, bỗng nhiên hết mệt, nghe toàn thân nhẹ nhàng. Mừng quá, cô khóc luôn. Từ đó về sau, ngồi thiền rất an ổn, thanh tịnh. Lúc tôi vô thất thăm là đã qua hai tháng, cô ni đảnh lễ khóc nói: “Con mừng quá, tưởng là đã chết trong một tuần đầu, mà bây giờ con vẫn đang sống và tu hành có đạo lực rõ ràng”. Tôi kể lại câu chuyện này để chư Tăng thấy được năng lực của người tu. Nếu có sự nỗ lực, quyết chết để tu thì sẽ vượt qua tất cả chướng ngại. Can đảm liều chết thì không chết, còn sợ chết thì lại chết. Cho nên khi tu, nếu gặp hoàn cảnh bệnh hoạn, cứ nghĩ chấp nhận chết. Ráng ngồi, ráng tu, chết cũng được thì nó sẽ qua. Sức cố gắng là điều kiện khiến cho người tu dễ tăng trưởng đạo lực, dễ có kết quả. Một khi bước chân vào đường tu, phải thấy tất cả thời giờ tu của mình là vàng ngọc, quý báu không thể xem thường được. Mất một phút là tiếc. Phải làm sao giờ nào, phút nào cũng là giờ phút của mình sống trong tỉnh giác, trong sáng, không để lầm mê. Nếu người nào khéo tu như vậy, thì chỉ cần ba tháng là có những bước tiến không thể lường trước được. Còn người nào thấy mình ở ngoài mệt quá vô thất để nghỉ cho khỏe, rồi tu chừng chừng thì không bao giờ tiến. Tới giờ thiền có khi dậy, có khi không dậy duỗi thẳng chân ngủ khò, tuy mang tiếng nhập thất mà tu không tiến chút nào. Người biết quý tiếc thời giờ vàng ngọc thì tu mới tiến. Chư Tăng ở Thường Chiếu cả trăm người mà ở đây chỉ có 10 cái thất thôi. Mười cái thất mà mình được nhập là hết sức quý. Một tháng, ba tháng hay sáu tháng… đều là thời giờ vàng ngọc. Vì mãn một kỳ nhập thất này, phải tới một hai năm sau mình mới được một kỳ nhập thất nữa. Cho nên phải hết sức quý tiếc thời giờ hiện có, dồn hết tâm lực tu mới mong có kết quả tốt. Nếu được vô thất rồi cứ nghỉ dưỡng cho khỏe mạnh để mai mốt ra lao động, thì sự tu không lợi ích, bởi tâm niệm yếu ớt như vậy thì mong gì có kết quả tốt được. Chư Tăng những khóa trước nhập thất tại đây, có vài vị được lên trên thiền viện Trúc Lâm, thỉnh thoảng có trình với tôi một ít bài kệ. Kết quả này là từ những buổi nhập thất ở Thường Chiếu, chứ không phải lên Trúc Lâm rồi mới có kết quả. Bây giờ tôi đọc qua vài bài. Bài 1: Ta thấy giữa trời xanh, Muôn cá lội đáy sông khô, Biển cạn bóng trăng soi, Từng bước chân mộng thế vỡ tan tành, Và vô vị chân nhân cười rạng rỡ. Bài 2: Thế nào là vô vị chân nhân, Cất bước đạp tan tam giới mộng. Dừng chân nắm trọn cả càn khôn, Ngồi lại phóng quang trùm pháp giới. Nằm dài duỗi cẳng giáp hư không, Ô kìa! Cá lội trời xanh kêu tợ sấm. Mây trầm biển bít chặn cuồng lương, Gương lia từng mảnh hư không rớt, Dao bằm tan nát mặt hồ tây. Kết quả của sự tu mà quý vị trình lên chính nhờ công phu nhập thất ở dưới Thường Chiếu, rồi lên Trúc Lâm tiếp tục tu mới có kết quả như vậy. Điều này cho thấy, nhập thất là vấn đề thiết yếu cho đời tu của mình. Thế nên không thể nào lơ là với việc nhập thất được. Tất cả chúng ta tu, ai cũng mong mình được giác ngộ. Có giác ngộ mới giải thoát sanh tử, nếu không giác ngộ thì đời tu của mình rốt cuộc chỉ là đi trong sanh diệt. Có phước được sanh cõi trời, cõi người, còn thiếu phước thì phải đọa trong ba đường ác. Vì vậy chúng ta phải nguyện làm sao để đời tu của mình được giác ngộ giải thoát, chứ không thể lôi thôi. Muốn giác ngộ giải thoát thì phải có thời giờ tu, chết sống trong sự tu thì mới có thể đạt được kết quả. Cứ tu lừng chừng cho hết ngày hết tháng, nhiều năm lên được địa vị này địa vị kia, chức danh này chức danh nọ… Như vậy thì không xứng với ý nghĩa tu. Cho nên tôi nghĩ, cơ duyên nhập thất là cơ duyên quý báu vô cùng. Có thể năm ba năm mới được một lần, vì vậy người nào đến khi nhập thất thì phải tận tâm, tận lực cố gắng tu đừng lơi lỏng. Đó là tôi nói trên phương diện của người nhập thất. Bây giờ tôi nói về bổn phận của hộ thất. Người hộ thất lúc nào cũng phải có tinh thần tôn trọng sự tu của huynh đệ, không nên hộ mà trở lại thành phá. Gần đây tôi được nghe có nhiều người hộ thất mà cứ đem tin ở ngoài vô trong thất, nay bắn tin này mai bắn tin kia, khiến người ở trong thất bị xao xuyến loạn động. Hoặc có người nhập thất muốn đọc những cuốn sách không cần thiết cho sự tu, hay muốn mua những món ăn ngoài thức ăn của thiền viện cung cấp, đây là những việc trái với quy định, nhưng hộ thất cũng lén mua đem vô. Đó là điều không tốt. Khi tu, việc tu hành là chính, còn ăn là phụ. Bởi vì nếu tu đắc lực rồi thì ăn uống ít mà được bổ dưỡng nhiều, còn tu lơ là thì ăn nhiều mà bổ dưỡng ít. Tại sao? Vì tâm bị loạn động nên thấy bao nhiêu thứ khó khăn bên ngoài dồn đến, rồi ăn uống không được sanh ra bệnh hoạn. Cho nên nếu người nhập thất đàng hoàng, đứng đắn thì sự ăn uống rất đơn giản. Tuy đơn giản mà khỏe mạnh, không bệnh hoạn. Bệnh hoạn là do đa số tu không có đạo lực, bên trong không đủ sức mạnh nên mới phát sinh nhiều bệnh hoạn nơi thân. Đó là điều cần yếu cho sự tu trong lúc nhập thất. Người hộ thất không nên nghĩ huynh đệ hơi yếu rồi chạy lo thuốc này, thuốc nọ lăng xăng. Phải tập cho người nhập thất gan dạ, có sức chịu đựng. Trừ khi nào bị bệnh nhiều thì hộ thất mới phải lo sợ, còn ít ít thì cố gắng vượt qua. Nên nhớ, nhờ tu mà chúng ta hết bệnh, chứ không phải do tu mà sanh bệnh. Điều này tôi có kinh nghiệm cụ thể. Thời gian nhập thất chưa bao giờ tôi bị cảm, suốt mấy tháng đều khỏe mạnh. Giả sử khi thời tiết thay đổi có nhảy mũi hay đau mình, thì lên ngồi thiền qua một thời xả ra bệnh tan biến, không còn nữa. Sở dĩ mình hay bệnh là vì tu lơ là, hơi yếu yếu một chút là nằm dài rên. Nếu thấy hơi khó chịu thì ngồi thiền, ráng ngồi hơn thời ngồi thiền thường ngày một chút, cơ thể toát mồ hôi thì bớt bệnh. Đây là kinh nghiệm của bản thân tôi. Đó là nói cho người đã biết nhập thất, còn những vị chưa từng nhập bây giờ được nhập thất thì sao? Có người ở ngoài công tác dồn dập, nay làm này, mai làm kia… cảm thấy mệt mỏi, nghĩ rằng được nhập thất chắc khỏe. Cho nên khi mới vô thất thấy vui thích quá, vì được tự do trong một tháng, hai tháng… không còn bị bắt làm công tác nữa. Thế nhưng khi vô vài ngày lại thấy buồn bực, vì ở ngoài quen đi đây đi kia, nói chuyện với người này người nọ, nay vô thất ngồi một mình không được nói chuyện với ai hết. Mỗi ngày buồn một chút, buồn lớn dần năm bảy bữa thành buồn da diết, chịu không nổi. Khi buồn chịu không nổi rồi thì thối thất muốn nhảy rào ra. Có vài người bị tình trạng như vậy, cho thấy đó là một thói quen mà ai cũng dễ gặp, chứ không riêng người nào. Vì ở ngoài có huynh đệ tới lui nói cười vui vẻ, được đi đây đi kia nên không có điều gì bực bội. Ở trong thất thì chỉ có một khuôn viên nhất định, tới lui một mình, không nói chuyện với ai cũng không được đi đâu nên thấy tù túng, bực bội. Nên nhớ, phát nguyện nhập thất mà còn có quan niệm tù túng, bực bội tức là chưa hiểu ý nghĩa nhập thất. Khi bước vô thất phải thấy thời giờ quý như vàng ngọc, quý thì không bỏ sót một giờ nào, vậy mới có thể tu tiến được. Nếu nghĩ vô đây sao mất tự do quá, rồi kiếm chuyện bày trà nước rủ huynh đệ xúm lại nói dóc, đó là phá thất. Người này không xứng đáng nhập thất chút nào hết, tôi thấy ai nhập thất như vậy là nhất định mời ra, không cho nhập thất nữa. Thầy trụ trì ở đây, lúc trước không có người phụ lại thêm nhiều việc phải chạy lo đủ thứ, nên ít có thời gian để mắt ngó ngàng trong thất. Thế nên có một số người nhập thất mà không đúng tư cách nhập thất, cùng nhau hội họp nói chuyện, đâu phải chỉ nói chuyện đạo mà nói cả chuyện thị phi nữa! Đó là thiếu tư cách nhập thất. Từ đây về sau Trụ trì phải cương quyết, nếu người nào nhập thất mà không giữ đúng tư cách nhập thất thì mời ra, để thất cho người khác tu. Vì thời giờ rất quý, không nên để cho ai vào đó làm mất thời giờ quý báu của những người khác. Phải gan dạ, dám quyết định như vậy thì nhập thất mới có kết quả. Chúng ta phải khó, khó đây không phải vì thù ghét oán hờn ai, mà vì thương. Vì muốn cho việc tu trong chúng có kết quả, được thành công nên phải khó. Tôi nhắc cho chư Tăng hiểu thời gian nhập thất là quý, các vị phải ráng tu hành cho đúng, đừng để sai lệch. Khi nhập thất, nếu việc tu có gì nghi ngờ thì đọc thêm lời dạy của chư Tổ nói về những bệnh trong lúc tu, hoặc đọc lại kinh Lăng Nghiêm để biết mà tránh những thứ ma chướng có thể lường gạt đánh lừa mình. Hoặc giả có điều gì hơi khó nói thì những khi tôi về đây, có thể xin tới thưa hỏi trình lên, tôi sẽ giải thích cho biết. Không nên thấy những cái lạ, cái khó rồi tự bằng lòng hay thối tâm, không muốn tu tiếp nữa. Những lúc như thế thì phải coi lại lời Phật tổ dạy để biết mà tránh. Đó là điều thật thà, cần thiết, không nên lơ là, coi thường. Tất cả chư Tăng ở đây tuy là công tác bề bộn, vì thiền viện đất rộng nên công tác nhiều, nhưng vẫn dành thời giờ để chúng nhập thất tu. Vì vậy khi được vào thất, phải nhớ là huynh đệ ở ngoài thay nhọc làm hết mọi việc, lo lắng cơm nước cho mình ngồi yên tu, no ấm đầy đủ không thiếu thốn thứ gì. Phải biết công người ở ngoài cực khổ mà tu cho xứng đáng đừng lơ là, vì nhập thất là cơ hội quý báu bao nhiêu năm mới được một lần. Cố gắng tận dụng hết thời giờ quý báu, đó là điều cần thiết của người biết tu. Nhập thất không khéo tu thì thật là uổng phí, ở thiền viện 10 năm, 20 năm mà không tiến được bước nào. Hôm nay, tôi có ít lời nhắc nhở chư Tăng nhập thất. Tôi sẽ quy định thời gian nhập thất và người được nhập thất, để Trụ trì sắp xếp cho dễ. Theo cái nhìn của tôi, hiện giờ chỉ cho nhập thất tối đa là sáu tháng. Người nào đã là “lão cổ chùy” thì cho sáu tháng, còn mấy người mới thì cho nhập từ một tháng tới ba tháng thôi. Người với điều kiện là đã ở thiền viện tu ba năm trở lên mới được cho nhập thất, vì có đủ công phu thì nhập thất mới tốt. Còn người mới tu một hai năm thì chưa thấm tương chao, vô thất e rằng một thời gian sẽ thấy bực bội thối lui, làm mất uy tín của người nhập thất. Như vậy, người vào tu ở thiền viện khoảng ba năm thì cho nhập thất ba tháng hoặc sáu tháng, hai năm thì cho khoảng một tháng tới ba tháng, tùy theo khả năng của mỗi vị. Thấy người nào đạo lực vững chãi rồi thì cho ba tháng, còn mới biết tu sơ sơ thì cho một tháng chứ không cho nhiều. Sắp xếp như vậy để cho sự tu có kết quả tốt. Tôi nghĩ rằng trong vòng ba tháng, nếu vị nào tu tận lực thì thấy kết quả liền. Ba tháng thôi, còn dài hơn nữa đó là ráng thêm. Người không cố gắng tu thì dù tu 10 năm cũng không có kết quả. Làm sao trong hoàn cảnh nhập thất hiện tại, chư Tăng nhập thất đều có thể thu hoạch kết quả tốt, chứ không thể như một thời gian vừa trôi qua. nhập thất không thấy kết quả bao nhiêu. Đó là phí phạm thời gian quý báu, vàng ngọc của mình. Vậy thì từ đây, công tác nhập thất do Trụ trì sắp đặt lại. Tôi nhắc nhở thêm vài điều cho chúng năm rõ: Điều thứ nhất, ở đây là thiền viện do tôi chủ xướng và thành lập. Từ kinh nghiệm tu và nghiên cứu, tôi đã thấy rõ đường lối thế nào để sự tu có kết quả tốt, tôi mới dám đem ra chỉ dạy cho chúng. Vì vậy đường lối tu ở đây rõ ràng, không phải chỉ nói qua loa rồi mặc tình ai muốn làm gì thì làm. Cho nên vào đây tu thì phải chấp nhận theo đường lối này, còn không chấp nhận thì ở đây cũng vô ích. Chẳng những không lợi mà còn có hại, vì bản thân mình tu không được còn gây ảnh hưởng không tốt đến người khác, khiến họ tu không được. Đó là họa. Ai không chấp nhận thì nên đi nơi khác, tìm chỗ nào hay hơn, đường lối tốt hơn để tu, chứ đừng ở đây mà bày ra những chuyện không thích hợp theo đường lối của tôi hướng dẫn. Điều thứ hai, ở đây tôi chủ trương “Thiền Giáo đồng hành”. Tất cả chúng được sắp đặt giờ tu, giờ học cân đối phù hợp. Như tôi đã nói, học kinh để rõ thiền, tu thiền để sáng được ý kinh. Thế nên tu và học, hai việc này luôn hỗ tương nhau, không thể tách rời. Vì tôi thấy có nơi chủ trương tu mà không học, một lúc rơi vào lỗi tu mù rồi lạc lầm theo ngoại đạo, tà giáo. Có chỗ chủ trương học mà không tu, rốt cuộc chỉ là học giả chứ không phải là người tu Phật. Do đó tôi dung hòa cả hai, tu và học hỗ tương với nhau. Nhờ học mà biết được Phật tổ chỉ dạy như thế nào để ứng dụng tu cho đúng. Khi tu mình thấy rõ ràng lời Phật tổ dạy thật hay, rất quý nên mới vui thích. Nếu không học thì biết cái gì để tu, trúng không biết, trật cũng không hay, đó là cái hại của người tu. Vì vậy trong những buổi học, người dạy phải khai thác rõ ràng để chỉ cho chúng biết rõ đường lối tu hành đúng với chủ trương “Thiền Giáo đồng hành”. Giáo thọ không nên dạy mênh mông quá, khiến người học không hiểu. Trụ trì phải khéo khai thác những sách mà tôi đã viết nói về đường lối tu của mình để cho chúng hiểu. Nhất là quyển Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20, xem như là bài nhật tụng vậy, chúng lớn hay chúng nhỏ đều phải ôn tới ôn lui cho rành mà ứng dụng tu. Các vị có trách nhiệm giảng những bộ kinh để đối chiếu, vì nhờ kinh mà biết rõ đường lối tu của mình đúng với đường lối của Phật tổ dạy. Như vậy việc học mới có lợi, vì giúp cho mọi người được đủ lòng tin trong đường lối mà mình đang tu. Điều thứ ba, tất cả chúng ở đây dù người mới học mới tu hay đã ở lâu tu lâu, mỗi người phải thấy rõ bổn phận của mình. Làm sao mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày đều có tu, có tiến. Không thể tính ở nhiều năm rồi cho mình lớn, mà quan trọng là tu phải có tiến. Vừa rồi có Phật tử trong các đạo tràng như Thái Tuệ, Tuệ Quang... trình sự tập tu lên cho tôi biết. Tuy là cư sĩ mà vẫn tu có những bước tiến, huống là người xuất gia. Chúng ta ở chùa, cả ngày chỉ sống trong đạo, không bận bịu việc sinh nhai hoặc xã giao qua lại với ai, hơn nữa còn được cơ hội nhập thất một mình, chỉ có một việc tu mà tu không tiến thì thật là quá dở! Thế nên chư Tăng phải hiểu rõ, mình là người xuất gia thì phải cố gắng tu. Nếu không khéo thì Phật tử mà lại sáng suốt hơn, tu giỏi hơn. Mình ở vị trí lãnh đạo hướng dẫn Phật tử, mà đi sau Phật tử là điều rất đáng buồn. Chư Tăng trong thời gian ở đây, phải có thái độ tu học rõ ràng, dứt khoát, đừng lưng chừng. Giờ học ra học, giờ tu ra tu. Học phải hiểu, tu phải hành cho đúng. Không nên chỉ học cho có, sợ vắng mặt bị rầy. Nghĩ như vậy là sai lầm. Giờ học thì chăm chú nghe rõ, phải hiểu được bài mình học. Giờ tu thì phải tỉnh sáng, không mơ màng. Tu hành là một con đường quá cao siêu, thật quý báu; nhưng nếu với người không biết quý trọng thì cũng trở thành vô nghĩa. Do đó, mỗi người tu là phải tạo duyên tốt cho mình và mọi người, ráng tu để huynh đệ chung quanh cùng ráng tu theo. Nếu bản thân mình lơ là, rồi lại xúi giục huynh đệ lơ là nữa thì không hay. Chẳng những không hay cho thiền viện, mà cũng là cái hại cho bản thân mỗi người. Tu không ra tu, đời không ra đời. Uổng đi một kiếp người, không lợi ích cho ai. Lúc mới tới thiền viện thì ham tu, nhưng tu lâu rồi thấy buồn. Nghe những người tu đi học trường này trường nọ ra có bằng cấp, được làm giảng sư... thấy oai quá, còn mình cứ tu học hoài mà không có bằng cấp gì hết nên lóng ngóng chạy đi. Hoặc có thiền sinh khi ra ngoài, các Phật tử nghe quý thầy tu ở thiền viện nên rất quý trọng, bèn mời tới chùa này chùa kia nói chuyện... thấy mình nói cũng ăn khách rồi muốn làm thầy luôn. Đây không phải chia sẻ kinh nghiệm tu, mà là bệnh ham làm thầy người. Nếu mình chưa nắm vững được đạo lý, công phu chưa tới đâu mà thích làm thầy thiên hạ, đó là người mù dẫn kẻ mù thì cả hai đều rơi xuống hố. Hố đó là hố địa ngục. Điều này tôi khẳng định như vậy. Người xưa chưa sáng được đạo thì không dám chỉ dạy ai. Chúng ta bây giờ quá hời hợt, biết được chút ít là ra giảng kinh, thuyết pháp, nói đông nói tây, làm thầy thiên hạ. Nhưng chỉ nói thôi chứ không có thực hành, đó là bệnh lớn của đa số người tu hiện tại. Chư Tăng phải nhớ, nếu mấy chú quyết tâm tu thì điều cốt yếu là được sáng đạo. Sáng đạo, sống có đạo đức là giá trị của người tu, chứ không phải ở bằng cấp. Dù chúng ta học có đến mấy bằng tiến sĩ mà việc tu không sáng thì bằng cấp cũng không có giá trị gì. Mai kia khi mình nhắm mắt, đem bằng cấp đó ra trình, Diêm chúa có nể mà tha cho mình không? Thế nên một khi đã chọn con đường tu cho mình thì phải thấy tu là con đường duy nhất, phải cố gắng đi cho trọn để cứu mình và cứu mọi người cùng được thoát khổ. Nếu đi không đến nơi thì chẳng những hại mình, mà còn hại kẻ khác nữa. Tôi nhắc nhở những điều tâm huyết như vậy, mong tất cả chư Tăng cố gắng. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 1
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN CHƠN KHÔNG
Phần I - Những bài giảng phổ thông
Phần II - Những Bài Pháp Ngắn
HÒA THƯỢNG DẠY HÀNH GIẢ NHẬP THẤT TẠI CÁC THIỀN VIỆN
|
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN CHƠN KHÔNG
4. Diễn văn khai giảng khóa I tu viện Chơn Không (1971 - 1974)
5. Diễn văn khai giảng khóa II - 1974 thiền viện Chơn Không - Bát Nhã
Phần I - Những bài giảng phổ thông
Phần II - Những Bài Pháp Ngắn
HÒA THƯỢNG DẠY HÀNH GIẢ NHẬP THẤT TẠI CÁC THIỀN VIỆN
28. Thiền viện Thường Chiếu