|
Tông Môn Cảnh Huấn 1
23. Về thăm thiền viện Chơn Không
Năm Ất Dậu - 2005 Tôi thăm lại thiền viện Chơn Không sau hai năm nhập thất. Mỗi năm tôi đều về đây, bởi nơi này là chốn sơ khai, chiếc nôi gầy dựng Thiền tông, nơi chuyên tu thiền buổi đầu của tôi, nên có nhiều kỷ niệm sâu đậm. Hơn nữa, ngôi mộ của phụ thân tôi nằm tại đây, nên bổn phận tôi phải thăm viếng. Tôi đã từng chịu cực, chịu khổ phá rừng, xẻo đá, xây dựng thiền viện Chơn Không để tất cả Tăng Ni, Phật tử có nơi nương tựa tu thiền theo sự hướng dẫn của chúng tôi. Do vậy nơi đây rất gắn bó với đời tu của tôi. Tuy nhiên, người tu không được bám chặt vào bất cứ nơi nào. Ở đâu truyền bá chánh pháp, làm được Phật sự thì mình đến. Vì vậy tôi đã rời Chơn Không xuống Thường Chiếu, sau đó lên Trúc Lâm, bây giờ thêm nhiều thiền viện ở phía Bắc và khắp nơi. Nhu cầu Phật sự ở đâu cần thì bổn phận người tu phải đến đó, chứ không bám vào chỗ nào cố định, chấp giữ làm của mình. Tôi không có cái của mình, chỉ tạm dừng nơi nào cần thiết để truyền bá chánh pháp, Phật sự xong rồi đi chỗ khác. Hơn nữa không có mặt mãi ở thế gian này, cho nên nói của mình thì không đúng. Thiền viện Chơn Không ban đầu do tôi chịu trách nhiệm, sau này trao lại cho đồ đệ chăm sóc, hướng dẫn Phật tử tu. Như vậy có còn của tôi nữa không? Chỉ còn cái danh thôi chứ không thật. Đồ đệ của tôi lại theo Phật nữa, những người kế thừa tiếp tục lo. Như vậy chùa là nơi chuyển qua, đổi lại nên người ta gọi là chùa chiền. Chùa thì chuyền, chứ không phải một người ở đó làm chủ mãi. Có nhiều vị quan niệm nói chùa đó của tôi. Mình sống hoài được sao? Một ngày nào đó cũng phải đi. Như chùa này tôi đâu thể ở trăm năm, chỉ vài chục năm rồi đi, nhường lại người khác. Nếu duyên tốt nhường được những vị đệ tử biết lo tu, biết sắp đặt, có duyên hoằng hóa Phật pháp thì chùa sẽ bền. Gặp đệ tử lôi thôi, lo chuyện đâu đâu thì chùa không bền. Nên tôi thường nói mình phải gắng tu và dạy đồ đệ tốt, để làm sao khi mình mất còn có người kế thừa. Như vậy Phật pháp mới bền lâu. Phước duyên trong đời tôi làm được một phần Phật sự, những đồ đệ tiếp nối sẽ bằng hoặc hơn tôi. Người tu chân chánh không nghĩ chỗ mình ở, chùa mình lập là của mình. Già-lam là của bá tánh, của đạo. Khi mình đi thì có những người khác thay thế, lo lắng. Ngày trước khi tôi còn ở đây, quý Phật tử địa phương thường tới lui tu học. Những người ngày xưa tuổi hơi cao một chút bây giờ không còn. Thầy già thì đệ tử cũng già, có khi đệ tử già, qua đời trước thầy. Như vậy tất cả Phật tử đến với đạo tràng, xoay vòng liên tục, người trước đi, người sau tiếp tục lo cho ngôi Tam bảo, chứ không phải chỉ một đời Phật tử đó thôi. Cho nên Phật tử có con cháu, dẫn đi chùa cho thâm nhập Phật pháp, sau này cha mẹ mất con cháu sẽ tiếp nối. Giống như quý thầy cô, quý vị cũng nối nhau không dứt, từ đời cha ông đến các thế hệ con cháu về sau, đều hướng tâm quy y Tam bảo, hộ trì chánh pháp, nương Tăng Ni tu hành. Tôi rất mừng vì có được khoảng thời gian hai năm yên tu vừa qua. Khi tu tôi chỉ nghĩ tới việc tu, không nghĩ đến việc khác. Làm chuyên một việc rõ ràng trong thời gian đó, tôi thấy có những bước tiến hơn cả chục năm trước kia. Chứ còn nay làm việc này, mai làm việc nọ liên miên, tu khó tiến được, chỉ có phước thôi. Bước tiến trong thời gian qua rất đáng mừng nhưng chỉ là một chặng thôi, vẫn chưa phải viên mãn, chưa xong việc. Tôi có lời nguyện không làm việc thì thôi, nếu đã làm phải đến nơi đến chốn. Vì thế tôi luôn cố gắng. Lúc giảng dạy cho Tăng Ni Phật tử, tôi giảng dạy thấu đáo. Khi buông hết mọi việc để chuyên tu, tôi cũng nguyện ráng tu cho đến nơi, chứ không tu lấy có làm chừng. Tăng Ni cũng như quý Phật tử hiểu rằng chúng ta cần có thời gian tu. Làm việc tới 80 tuổi, tôi dành thời gian còn dư từ 80 tuổi trở lên để chuyên tu. Nếu sống chừng sáu bảy mươi tuổi đã chết thì hơi thiệt thòi. Làm Phật sự chưa xong đã đi rồi, muốn sống thêm để tu cũng không được. Tôi được phước duyên nên muốn làm điều gì cũng có thời gian, phương tiện, không bị thiệt thòi. Tôi thầm nguyện nhập thất ba năm nhưng qua hai năm, tìm ra được đường lối tu thực tế gần gũi hơn. Cho nên tôi nói rõ cho Tăng Ni biết để tu. Con đường đó gần hơn lại không nguy hiểm. Mình ngồi thiền, tưởng hoặc quán cái gì đó thường dễ bị đau đầu. Theo phương pháp mới này chúng ta ngồi thiền mắt thấy Biết, đó là chân tâm, tai nghe Biết là chân tâm, mũi ngửi Biết là chân tâm, thân xúc chạm Biết là chân tâm. Cứ nhớ chân tâm mãi thì không lầm lạc. Chúng ta cứ nghĩ tâm mình là cái suy nghĩ, tính toán, khôn ngoan. Sự thực không phải, đối với nhà Phật đó là tâm niệm sanh diệt vô thường, không phải tâm thật. Tâm thật ngầm ở nơi mình không bao giờ vắng thiếu, nhưng không ai biết. Đức Phật thường nói chúng ta có hòn ngọc trong nhà mà không biết. Ai cũng có chân tâm, nhưng hầu hết đều bỏ quên. Tâm chia ra hai loại: tâm sanh diệt gọi là vọng tâm, tâm không sanh diệt, gọi là chân tâm. Phương pháp tu mới là ngay sáu căn nhận ra tánh biết của mình. Nhớ rõ chân tâm hiện nơi sáu căn, chứ không ở đâu hết. Thường mình không biết nó, mắt thấy liền phân biệt cái này đẹp, cái kia xấu thì chân tâm qua mất. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật nói nhất tinh minh sanh lục hòa hợp. Từ một thể trong sáng mà sanh ra sáu hòa hợp là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhất tinh minh là chân tâm. Chân tâm là thể, sáu hòa hợp là sáu căn, nơi sáu căn sẵn có chân tâm. Đó là chỗ trọng yếu hành giả tu thiền cần biết. Thế nào là vọng tâm? Thế nào là chân tâm? Vọng tâm là tâm sanh diệt, nghĩ phải quấy, tốt xấu, nghĩ liên miên, nghĩ qua rồi mất; muốn kiếm lại nó mà không biết ở đâu, vì nó hư dối, không thật. Chân tâm là cái biết chân thật không vắng mặt lúc nào hết, sẵn sàng ở nơi mình mà chúng ta lại quên. Thí dụ đang ngồi con muỗi chích sau lưng, chúng ta có biết đau không? Cái gì biết? Cái biết đó không có suy nghĩ, động tới liền biết. Toàn thân chúng ta đụng đâu biết đó, cái biết đó không vắng mặt lúc nào. Nó sẵn sàng ở mắt, tai, mũi, lưỡi mà mình không hay. Thường, mũi ngửi cứ tìm coi thơm hay hôi; còn cái biết thở, biết phân biệt ấy không có thơm hôi. Rõ ràng nơi sáu căn có cái biết mà mình không nhận, lại theo cái biết lăng xăng phân biệt bên ngoài, cho đó là cái biết của mình, thực sự nó giả dối. Chúng ta có cái biết thầm lặng. Lúc ngồi thiền, niệm dấy lên, biết vọng liền buông. Cái gì biết vọng? Nếu nó là vọng thì đâu thể tự biết nó. Có biết vọng tức có cái chân thật ở trong. Sáu căn của chúng ta đều sẵn có cái chân thật, nên lúc nào cũng biết. Thí dụ con mắt đang nhắm mà ai bật đèn hay rọi đèn vào, mình biết không? Đang ngủ có tiếng gõ cửa, lỗ tai nghe không? Cái biết sẵn sàng không suy nghĩ thì không sanh diệt, đó là cái chân thật ở nơi mình. Các thiền sư ngày xưa mỗi khi có người tới hỏi đạo, thường đưa phất tử. Để làm gì? Như học tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”. Thiền sư dựng phất tử, người hỏi nói: “Con không hiểu”. Ngài để xuống, không nói câu nào. Bởi vì tông chỉ của Thiền tông là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, tức chỉ thẳng tâm mình, nhận ra bản tánh là thành Phật. Phật ở nơi mình chứ không phải ở ngoài. Ngày nay có ai tới hỏi: “Thưa Thầy thế nào là Phật?”. Chúng ta giải thích Phật là giác ngộ, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn... Giảng dài dòng như vậy người đó sẽ biết gì? Biết lý thuyết, chứ không biết ông Phật thật. Các thiền sư muốn chỉ ông Phật thật đang ở sẵn nơi mình, các ngài hét lên một tiếng rồi im lặng, không nói gì thêm. Hành động của các ngài dạy cho chúng ta điều gì. Muốn giải thoát, tâm mình phải lặng, không còn dính hai bên, vừa dính hai bên đã trầm luân rồi. Hai bên là thiện ác, tốt xấu, phải quấy... là tâm lăng xăng. Dừng được hai bên mới thực sự giải thoát. Nếu nói điều gì là liền rơi vào hai bên, cho nên hét một tiếng, nghe mà không phân biệt, đó là cái thật của mình, là trực chỉ. Chúng ta không hiểu được việc làm của các thiền sư, bởi các ngài không hề giải thích. Người tu bây giờ học lý thuyết nhiều, mà chưa nhận ra chỗ chân thật nên tu hoài không tới đâu. Nghe nói mình có tánh Phật, có chân tâm nhưng không biết nó ở chỗ nào. Chúng ta ngồi thiền buông vọng tưởng, vọng tưởng lặng thì cái biết buông vọng tưởng là cái thật của mình. Điều này rõ ràng như ban ngày, mình đang biết buông, biết buông là chánh còn cái bị buông không phải chánh. Lúc nào cái thật cũng sẵn một bên mà ta không biết, cứ tìm kiếm đâu đâu. Nhiều người còn muốn thấy hào quang nữa. Toàn chuyện vô ích, chẳng có giá trị gì. Cho nên nhiều người tu thiền đi lạc, đi sai là vậy. Chúng ta tu là trở về sống với cái chân thật của chính mình. Tâm giả dối này là tâm tạo nghiệp. Khi sắp chết nếu còn niệm thương ghét, phải quấy nó sẽ dẫn mình đi trong sanh tử. Như mình có nổi giận mới đánh người ta, việc đánh người gốc từ sự nổi giận. Khi nổi giận lên, bàn tay đánh người là thành nghiệp. Tham lam cũng vậy, vừa có niệm là sẽ gây nghiệp. Người tu chúng ta phải làm sao cho tâm tạo nghiệp lặng hết, khi đó cái chân thật hiện rõ ràng. Chính cái đó mới giải thoát sanh tử, vì nó không sanh không diệt, không tướng mạo. Những gì có tướng mạo đều sanh diệt, có mà không tướng mạo mới là chân thật. Hư không có tướng mạo không? Hư không không có tướng mạo, nên không bao giờ hư, không bao giờ sanh diệt. Tâm mình cũng vậy, những bóng dáng trong tâm đều là tướng sanh diệt, còn tâm không tướng mạo nên không sanh diệt. Khi tu ngồi lặng lẽ để thấy rõ cái chân thật đó, từ từ chúng ta sẽ tiến tới chỗ dừng tạo nghiệp, ra khỏi sanh tử. Đó là mục đích cuối cùng của mình. Người tu mới nhìn qua thấy có vẻ tiêu cực nhưng sự thật đang làm một việc phi thường. Tất cả mọi người đều có tánh Phật nhưng họ không biết nên lao vào sanh tử, tạo hết nghiệp này tới nghiệp khác, khi nhắm mắt tất nhiên bị cuốn trôi trong trầm luân. Chúng ta ngay trong đời này tìm cho ra cái không sanh diệt sẵn có của mình, sống với nó, đến lúc nhắm mắt không có niệm gì hết, sẽ đi đâu? Không còn niệm thương ghét là giải thoát sanh tử, tâm thênh thang như hư không. Tâm thênh thang như hư không gọi là gì? Là Pháp thân. Chừng đó có đủ Ứng thân, Hóa thân, thành Phật. Như vậy thành Phật là chuyện có thể mà mình không chịu làm. Cứ chạy rong ruổi bên ngoài, cầu người này chỉ người kia dạy đủ thứ hết, rốt cuộc không tới đâu. Tôi nghĩ thương mình và mọi người, ai cũng có thể làm Phật nhưng không chịu làm, cứ lạy Phật xin cho con được sớm thành Phật. Ngài làm sao cho được, đó là việc của mình. Các thiền sư khi được hỏi “Thế nào là Phật?”, các ngài hét hoặc đánh. Chúng ta thấy sao tàn nhẫn quá, hỏi một câu đạo lý như vậy lại đánh, lại hét. Sự thật, hỏi Phật ở đây là Phật bên ngoài, như vậy là quên Phật của mình, lại vác Phật đi tìm Phật. Nên phải đánh một cái thật đau cho giật mình, không còn suy nghĩ lăng xăng, đó là Phật ở trong tâm. Nghiên cứu sâu mới thấy việc làm của các ngài có ý nghĩa sâu sắc. Chúng ta hời hợt chỉ nhìn bên ngoài, lại trách thiền sư dường như dữ quá. Chúng ta tu cốt thành Phật, mà cứ hỏi ông Phật ở ngoài, làm sao cắt nghĩa. Cắt nghĩa tức là Phật lý thuyết, chứ không phải Phật thật. Cho nên nhà thiền nói “trực chỉ nhân tâm” là chỉ thẳng tâm người, tâm người là tâm của mình. “Kiến tánh thành Phật”, nhận ra bản tánh bất sanh bất diệt là thành Phật. Đó là lẽ thật chư Tổ chỉ cho chúng ta thấy. Nhiều người tu không nắm vững chỗ mình phải tiến tới, cứ trông đợi ở ngoài là sai lầm. Tôi về thăm lại Chơn Không có đôi lời nhắc nhở, Tăng Ni cùng quý Phật tử nghe rồi quý vị ráng ứng dụng tu, tôi không còn giấu giếm điều gì, những gì tôi biết đều đã nói hết. Chúng ta làm sao trên con đường tu, dù không giác ngộ trọn vẹn, ít ra cũng giác ngộ từng phần. Đạo Phật lấy giác ngộ làm gốc, chứ không phải lấy công phu bên ngoài. Hiểu rồi tất cả cùng nỗ lực tu hành. Đó là chỗ mong mỏi của tôi. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 1
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN CHƠN KHÔNG
Phần I - Những bài giảng phổ thông
Phần II - Những Bài Pháp Ngắn
HÒA THƯỢNG DẠY HÀNH GIẢ NHẬP THẤT TẠI CÁC THIỀN VIỆN
|
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN CHƠN KHÔNG
4. Diễn văn khai giảng khóa I tu viện Chơn Không (1971 - 1974)
5. Diễn văn khai giảng khóa II - 1974 thiền viện Chơn Không - Bát Nhã
Phần I - Những bài giảng phổ thông
23. Về thăm thiền viện Chơn Không
Phần II - Những Bài Pháp Ngắn
HÒA THƯỢNG DẠY HÀNH GIẢ NHẬP THẤT TẠI CÁC THIỀN VIỆN