Thiền Tông Việt Nam
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Tiểu Sử Thiền Sư Thần Hội - Đoạn 3

CHÁNH VĂN:

Lục Tổ biết sắp đến ngày qui tịch nên họp chúng lại bảo:

- Ta đến tháng tám sắp lìa thế gian các ngươi có nghi phải ra hỏi sớm, ta sẽ vì các ngươi giải nghi, khiến các ngươi hết mê lầm, sau khi ta đi rồi không có người dạy các ngươi.

Toàn chúng đều khóc dầm dề, chỉ có Sư thần tình chẳng động, cũng không ứa nước mắt.

Tổ bảo:

- Thần Hội tiểu sư lại được thiện ác khen chê vui buồn v.v… đều chẳng động, các ngươi chẳng bằng.

Sau Sư đến Tây kinh thọ giới Cụ túc.

GIẢNG:

Các vị khóc bị chê, chỉ có ngài Thần Hội là tỉnh táo, không động gì hết, nên Tổ bảo các vị kia không bằng. Trên đây là giai đoạn Ngài ở với Lục Tổ.

CHÁNH VĂN:

Niên hiệu Khai Nguyên năm thứ tám 720 Tây lịch(1), vua Đường Huyền Tông thỉnh Sư về chùa Long Hưng tại Nam Dương, lại đến Lạc Dương. Sư đã thắp sáng ngọn đuốc Thiền tông đốn ngộ của Lục Tổ. Trước kia hai kinh đô này chỉ dùng pháp thiền tiệm tu của ngài Thần Tú, đến nay mới nhận rõ đốn tiệm hai tông. Vì thế phái thiền Thần Tú trước thạnh, từ đây suy dần dần.

Khoảng niên hiệu Thiên Bảo 756 Tây lịch, Ngự sử Lư Dịch a tùng cùng môn đồ Thần Tú tâu dối với Vua rằng, Sư nhóm họp đồ chúng manh tâm làm phản. Vua Huyền Tông mời Sư về kinh đô để tham vấn. Ra mắt Vua, Sư giải bày rất hợp lý, Vua rất hài lòng. Vua mời Sư dời về ở Quân Bộ, sau Vua ra sắc lệnh đày Sư ra đến ở viện Bát-nhã chùa Khai Nguyên tại Kinh Châu.

Sau vua Túc Tông xuống chiếu thỉnh Sư vào cung cúng dường và lập ngôi chùa Hà Trạch thỉnh Sư trụ trì ở đó. Nơi đây, Sư hiển phát tông phong của Lục Tổ, đồ chúng tham học rất đông.

GIẢNG:

Như vậy chính Ngài trở về phương Bắc khai triển Thiền của Lục Tổ, do đó đối với Thiền tiệm tu của ngài Thần Tú chia làm hai tông: đốn và tiệm. Vì Ngài ở chùa Hà Trạch nên sau gọi Thần Hội - Hà Trạch.

CHÁNH VĂN:

Sư dạy chúng:

- Phàm người học đạo phải đạt tột nguồn gốc của mình. Hàng Tứ quả, Tam hiền đều gọi là điều phục; Bích-chi, La-hán chưa dứt hoài nghi; Đẳng giác, Diệu giác liễu đạt tường tận. Giác có cạn sâu, giáo có đốn tiệm. Tiệm giáo trải kiếp a-tăng-kỳ vẫn còn luân hồi, đốn giáo chỉ khoảng co duỗi cánh tay liền lên Diệu giác. Nếu trước không giống đạo, luống học biết nhiều. Tất cả tại tâm, tà chánh do mình. Không nghĩ một vật tức là tâm mình, không phải chỗ biết của trí, không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây. Pháp Tam-ma-đề chân thật không có đi đến, dứt mé trước sau. Nếu biết vô niệm là Tối thượng thừa, rộng suốt trời xanh, chóng mở kho báu. Tâm chẳng phải sanh diệt, tánh bặt đổi dời. Tự tịnh thì niệm cảnh không sanh, vô tác thì vin theo tự dứt.

GIẢNG:

Đây là lời dạy thiết tha của ngài Thần Hội đối với các hàng đồ đệ. Ngài nói người học đạo phải đạt tột nguồn gốc của mình. Hàng Tứ quả, Tam hiền là do điều phục phiền não mà lên Tứ quả, Tam hiền. Hàng Bích-chi, La-hán chưa dứt hoài nghi, bởi vì các ngài tuy tới chỗ vô sanh, nhưng chưa nhận ra được Phật tánh của chính mình. Đến hàng Đẳng giác, Diệu giác mới liễu ngộ tột cùng Tánh giác của mình. Bởi vậy giác có cạn sâu, giáo có đốn tiệm.

Tiệm giáo trải kiếp a-tăng-kỳ vẫn còn luân hồi.

Bởi vì tiệm giáo dạy tu ba vô số kiếp mới được chứng quả giải thoát. Vì vậy nếu chỉ tu một vô số kiếp thì cũng vẫn còn luân hồi.

Đốn giáo chỉ khoảng co duỗi cánh tay liền lên Diệu giác.

Nói điều này nghe như đùa phải không? Đưa ra co lại liền lên Diệu giác. Mau hay chậm? Rất mau. Đó là những chỗ người học phải nghi.

Thật ra không có gì phải nghi cả, nói co duỗi cánh tay là còn chậm, phải nói trong chớp mắt kìa. Tại sao? Bởi vì hai bên mê và giác cũng như tối và sáng. Như trong nhà ban đêm không có đèn, nhìn vô thấy tối mò, bây giờ có người bật công-tắc đèn cháy sáng lên, thì bóng tối chạy đi bao lâu? Nó đi từ từ cho ánh sáng hiện ra lần lần, hay đèn vừa cháy là sáng liền? Cũng thế, mê là chúng sanh giác là Phật. Mê, giác như tối với sáng đổi nhau. Đang tối bừng sáng lên liền hết tối, chỉ trong chớp mắt. Như vậy nói khoảng co duỗi cánh tay đâu có quá.

Bởi vì đốn giáo đặt nền tảng tu trong cái mê và cái ngộ. Nếu không thấy đạo, không thấy được chân lý là mê. Từ mê chợt thấy đạo, chợt thấy chân lý là giác, nhanh như trở bàn tay từ úp lật sang ngửa. Như vậy sự tu không đặt ở chỗ dẹp phiền não từ từ. Nói sân quá gỡ lần lần, năm nay bớt một chút, năm tới bớt chút nữa, tham cũng vậy gỡ lần lần. Đó là dẹp phiền não từ từ, tu như thế đến ba a-tăng-kỳ kiếp mới xong.

Ở đây đặt trọng tâm giữa mê và giác. Thấy tất cả thân thật, cảnh thật, tâm suy nghĩ là thật, đó là mê. Khi bừng sáng thấy tất cả những thứ ấy hư dối, không thật là giác. Thấy rõ như vậy còn gì tham sân, nên nói hết trong chớp mắt. Chúng ta thấy cái gì cũng thật hết, nói nặng thật, ngó ngang thật, hành động nào đối với mình cũng thật hết. Do đó muốn dẹp tâm đố kỵ hay ghét giận không hết được. Còn người thấy tất cả là trò chơi, không có gì quan trọng, như ảo mộng có gì phải trừ, phải dẹp. Chỉ đổi một cái nhìn là phiền não hết liền. Nếu không đổi cái nhìn mà cứ ráng kềm chế, ít hoặc vừa thì dễ sanh bực bội, còn nhiều sẽ phát cuồng.

Người còn mê thì khó dẹp được phiền não. Chỉ cần giác là phiền não liền bay mất, tu như vậy đâu cần đến ba vô số kiếp! Tu từ từ là còn thấy mình thật. Năm nay ráng tập nhẫn, ai nói nặng hoặc làm trái ý, mình ráng kềm nhẫn, đó là thành công. Năm tới tập bố thí, cứ từ từ như vậy nên phải qua ba vô số kiếp là chuyện đương nhiên. Bây giờ chúng ta giác ngộ thấy cảnh không thật, người không thật, tâm lăng xăng không thật. Thấy rõ như vậy thì không còn đối đãi, có gì đâu để so sánh giận hờn thương ghét, ngang đó phiền não sạch trơn, không cần trải qua ba vô số kiếp. Đó là chỗ kỳ đặc, đốn tiệm khác nhau ở điểm ấy.

Tại sao nói đốn, nói tiệm? Bởi căn cứ trên dẹp phiền não thì lâu, vì cho phiền não thật mới dẹp. Tham khác, sân khác, si khác; mỗi thứ lại chia ra nhiều thứ nữa, gỡ từng thứ từng thứ thì phải lâu. Bây giờ biết tất cả là hư ảo không thật, thân không thật, cảnh không thật, có gì hơn thua phải quấy nữa, ngang đó phiền não sạch. Giác thì mê tan. Cho nên chỉ như ánh sáng với bóng tối, mê là bóng tối, giác là ánh sáng. Ánh sáng tới thì bóng tối tan trong chốc lát, chớ không nói bao nhiêu ngày tháng.

Nếu trước không giống đạo, luống học biết nhiều. Tất cả tại tâm, tà chánh do mình.

Nếu trước mình không có hạt giống đạo, hạt giống đốn ngộ thì ráng học cho nhiều, không ngờ càng học càng luống công. Tất cả tại tâm tà chánh của mình, ta nói bậy hay nói tốt, làm bậy hay làm tốt cũng từ tâm mà ra, không ai chen vô đó cả. Tà chánh đều do tâm mình tạo.

Không nghĩ một vật tức là tâm mình, không phải chỗ biết của trí, không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây.

Câu này thật chí lý! Thường thường người ta cho rằng nghĩ là tâm tôi nghĩ thế này, tâm tôi nghĩ thế kia. Nhưng ở đây xác định lại, không nghĩ mới là tâm. Bởi vì không nghĩ nhưng vẫn biết rõ ràng, biết rõ ràng tức là tâm. Cái biết rõ ràng không suy nghĩ, cái biết đó có sanh diệt không? Không sanh diệt. Còn cái nghĩ mới biết là cái nghĩ sanh diệt. Tâm nói ở đây là Tâm chân thật của chính mình, chỗ biết mà không nghĩ.

Chúng ta ngồi thiền để làm gì? Để bỏ cái nghĩ suy, chỉ còn biết mình đang ngồi, biết mình đang thở thôi, không nghĩ gì hết, đó là trở về Tâm chân thật của chính mình. Nên phải biết trọng tâm của việc ngồi thiền là trở về Tâm chân thật. Tâm chân thật không có tạo nghiệp, còn cái nghĩ suy thiện ác, tốt xấu mới tạo nghiệp.

Chúng ta tu mong kết quả gì? Mong được giác ngộ, giải thoát. Đó là hai trọng tâm của người tu, giác ngộ rồi mới giải thoát. Muốn được giác ngộ phải thấy rõ thân duyên hợp hư dối, cảnh duyên hợp hư dối, tâm suy nghĩ phân biệt là bóng dáng cũng hư dối. Thấy ba cái đó đều hư dối là có giác ngộ rồi. Khi thấy rõ, biết rõ như thế mà không nghĩ suy gì hết, đó là thấy bằng Tâm chân thật không sanh không diệt, không tạo nghiệp trầm luân trong tam giới, nên được giải thoát. Như vậy từ giác ngộ bước qua giải thoát.

Chúng ta ngày nay tu trong cái mê nên cứ tạo nghiệp. Khá lắm là nghiệp lành sanh lên cõi trời, thấp hơn thì trở lại làm người, tệ nữa thì rớt xuống súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục. Bởi khi tu thọ hưởng của đàn-na tín thí mà cứ cãi nhau hoài, hơn thua phải quấy nhau hoài, không đọa sao được!

Nói giác ngộ là giác ngộ cái gì? Giác ngộ ngay nơi thân này không thật, hư dối. Nếu thật thì nó còn hoài, không bao giờ mất. Đằng này đang ngồi chơi vui vẻ, thở ra cái khì không hít vô lại là xong một đời, làm sao nói thật được! Thân hư dối mà ta ngỡ thật nên gọi là mê. Tâm suy nghĩ chợt sanh chợt diệt, chợt vui chợt buồn, hư dối như thế mà ta cho là mình. Do hai thứ chấp này mà chúng sanh sống trong mê loạn. Nếu nghe ai nói tôi nghĩ thế này, tôi nghĩ thế kia chúng ta cứ cười là tỉnh rồi, không muốn làm kẻ mê thì cãi làm chi.

Chỉ cần một phút một giây nào ta ngồi lại, thấy thân này tan hoại là giả, suy nghĩ là hư ảo, cảnh duyên bên ngoài là tạm bợ; thấy được như vậy chúng ta cười thôi là đã giác ngộ rồi. Giác ngộ dễ làm sao, đâu phải học hết ba tạng kinh điển mới giác ngộ. Ngay trong cái giả thấy rõ ràng là giác, phải thấy luôn như vậy. Người thấy được như vậy, giả sử có ai chửi, giận không? Thân đã giả thì lời nói cũng giả, có gì đâu mà giận. Giận tức là si mê, là chấp thật nên mới giận.

Cho nên huynh đệ sống chung với nhau, có ai nói hơi chạm tự ái một chút liền nổi giận, thì biết kẻ ấy đang si mê. Si mê thì đáng thương chớ không đáng giận. Chúng ta thấy người nào cãi nhiều giận nhiều nên thương chớ không nên giận, phải phát tâm từ bi độ cho họ hết si mê. Tại si mê nên mới loạn như vậy. Cho nên Phật dạy chúng ta tu là để giác ngộ, rồi mới khởi từ bi, thấy chúng sanh si mê đáng thương nên cứu giúp họ. Bởi vậy chư Phật đi trong tam giới hoài để độ chúng sanh còn si mê. Đó là bổn phận của những bậc đã giác ngộ.

Đức Phật giác ngộ là do chứng kiến cảnh người già người bệnh người chết rất thống khổ, Ngài phát tâm đi tu. Nhờ đi tu Ngài mới thấu suốt được cả thân tâm và ngoại cảnh đều là tướng tạm bợ duyên hợp, có đó rồi mất đó. Vậy mà chúng sanh cứ giành nhau từng món ăn, từng lời nói, không ai nhường ai hết, nghĩ tội nghiệp không? Giống như những người đãng trí cãi nhau, đánh nhau, ta là người sáng suốt đứng ở ngoài nhìn vào có thương không? Thương vì họ không hiểu lẽ thật, nên mới đánh đập nhau một cách vô lý như vậy. Thương thì phải làm sao? Chỉ có cách làm cho họ hết đãng trí mới là cứu họ thật. Chớ người ta đang đánh nhau mình nhảy vô can, can ra rồi ta đi khỏi, họ đánh nữa thì sao?

Cũng vậy chúng sanh mê lầm, Phật không làm gì khác hơn là dạy cho họ giác ngộ. Muốn thế phải nhắc tới nhắc lui cho họ tỉnh họ giác, đó là bổn phận của Phật. Những người không hiểu, cho rằng Phật không thực tế, chỉ lý thuyết thôi. Sự thật cái khổ của con người nếu không giác ngộ, dù có cho họ cái gì cũng không hết khổ, đó là một lẽ thật.

Chúng ta là người học đạo, tu hành phải hiểu được lẽ đó mới làm tròn bổn phận của mình. Không hiểu như vậy, cứ chạy theo việc làm tạm bợ, chỉ được phước báu nhân thiên, không bao giờ giác ngộ giải thoát cả. Như người tu thiền để làm gì? Để định tâm suy nghĩ lăng xăng. Nếu đi tới đi lui mà không nghĩ cũng được gọi là định. Như vậy mới thấy ý nghĩa tu hành Phật Tổ nói rất rõ ràng. Chỗ tâm không suy nghĩ dùng trí biết không được, vì khởi trí phân biệt thì nó đã mất rồi. Chỉ lặng tất cả mà hằng biết mới đúng.

Nên Ngài nói “không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây”. Không có hạnh nào khác, chỉ buông hết, đừng suy nghĩ thì đúng. Nhiều khi chúng ta tưởng mình không thể làm Phật làm Tổ được, nhưng thật ra ta đủ khả năng, có trọn quyền để làm. Tại sao? Bởi vì mình tự khởi nghĩ lăng xăng, bây giờ bỏ đi thì hết nghĩ. Như vậy quyền của ai? Đức Phật có chen vô được không? Quyền của mình trọn vẹn, ta có quyền nghĩ cũng có quyền không nghĩ. Không nghĩ thì trở về cái thật của mình là giác, còn chạy theo cái giả dối là mê. Tại sao chúng ta không trở lại cái giác, mà chạy theo cái mê hoài? Cho nên nói “không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây”.

Pháp Tam-ma-đề chân thật không có đi đến, dứt mé trước sau. Nếu biết vô niệm là Tối thượng thừa, rộng suốt trời xanh, chóng mở kho báu.

Tam-ma-đề là chánh định, chánh định chân thật không có đi, không có đến, không có trước, không có sau, thường nhiên như vậy. Người nào biết vô niệm dù không nghĩ Tối thượng thừa, nhưng Tối thượng thừa đã sẵn ngay đó. Vì khi không nghĩ tâm không bị giới hạn, trùm khắp nên nói rộng suốt trời xanh. Chóng mở kho báu tức kho báu nhà mình ngay đó mở ra.

Tâm chẳng phải sanh diệt, tánh bặt đổi dời. Tự tịnh thì niệm cảnh không sanh, vô tác thì vin theo tự dứt.

Tâm chân thật không sanh diệt, Tánh giác không đổi dời. Nếu tự mình lặng được rồi thì niệm cảnh không sanh. Không khởi tạo tác, không khởi mong cầu thì tâm theo cảnh liền dứt.

Những câu này rất thiết yếu trên đường tu, người học đạo phải thâm nhập cho được. Nếu thâm nhập thì chuyển mê thành giác, không tốn bao nhiêu sức lực, thật là nhàn.

CHÁNH VĂN:

- Ngày xưa ta đẩy chiếc xe bất thối, nay được định tuệ song tu, như bàn tay với cánh tay. Thấy thể vô niệm chẳng theo vật mà sanh, thường liễu ngộ Như Lai thì còn chỗ nào mà khởi. Nay huyễn chất này nguyên là thường chân, Tự tánh như không, xưa nay không tướng. Đã đạt lý này thì còn gì sợ, gì buồn. Trời đất không thể đổi thể kia. Tâm về pháp giới, vạn tượng nhất như. Xa lìa suy tính, trí đồng Pháp tánh. Ngàn kinh muôn luận chỉ nói rõ tâm. Đã chẳng lập tâm tức thể hội chân lý, hoàn toàn không sở đắc. Bảo các học chúng không tìm cầu bên ngoài, nếu là Tối thượng thừa cần phải vô tác. Trân trọng!

GIẢNG:

Ngày xưa ta đẩy chiếc xe bất thối, nay được định tuệ song tu, như bàn tay với cánh tay.

Lời dạy thật thiết tha! Thuở xưa Ngài đã đẩy chiếc xe bất thối, tức đã tu hành được bất thối chuyển nên ngày nay định tuệ song tu. Trong định có tuệ, trong tuệ có định. Nghĩa là đối cảnh vô tâm là định, vô tâm nhưng hằng biết là tuệ, như bàn tay với cánh tay không tách rời nhau được.

Thấy thể vô niệm chẳng theo vật mà sanh, thường liễu ngộ Như Lai thì còn chỗ nào mà khởi.

Thể vô niệm hiện tiền, không theo cảnh vật mà khởi niệm. Thường liễu ngộ Tâm chân thật là Như Lai, thì còn chỗ nào mà khởi nghĩ này nọ.

Nay huyễn chất này nguyên là thường chân, Tự tánh như không, xưa nay là không tướng.

Thân này là thân huyễn, biết thân huyễn chất này nguyên là thường chân. Tại sao mâu thuẫn vậy, đã là huyễn chất sao lại thường chân? Bởi như ta thấy một bình hoa không thật, do nhiều cành hoa kết hợp lại thành. Bình hoa tự nó là không, do duyên hợp tạm có. Tánh thường không ấy là thường nhiên, như vậy ngay trên bình hoa ta biết tánh thường nhiên của nó. Tánh thường nhiên ấy không phải là hoa thường nhiên hay bình thường nhiên, mà chủ thể do duyên hợp là không thật, rỗng lặng nên nói là thường nhiên. Ngay huyễn chất, biết thân này là huyễn, Tánh không của huyễn thân là thường nhiên. Hiểu vậy mới thấy đầy đủ ý nghĩa của câu nói ấy.

Cho nên Tự tánh như không, xưa nay không tướng. Tự tánh là không thì có tướng mạo gì, chỉ vì duyên hợp tạm có tướng A, tướng B vậy thôi. Nếu biết thân huyễn, Tự tánh rỗng không thì còn chấp ngã nữa không? Nếu biết được thân không thật, tánh vốn rỗng lặng thì đâu còn ngã, vì không có chủ thể làm sao có ngã. Không có ngã tức đạt được lý vô ngã, theo Nguyên thủy ngang đó đã chứng A-la-hán rồi. Vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả tức là không thấy có ngã thật, pháp thật thì đã chứng đạo. Như vậy chỉ trở bàn tay là thấy đạo, không xa xôi chút nào hết, tại vì chúng ta có bệnh cố chấp, cái gì cũng cho là thật nên không thấy đạo.

Đã đạt lý này thì còn gì sợ, gì buồn.

Người đã đạt được lý này thì không sợ thân còn hay mất. Nghe nói chết cũng không khóc, chẳng lẽ khóc cho cái rỗng không sao? Hiểu được lý này nên ngài Thần Hội nghe nói Tổ sắp tịch vẫn dửng dưng, thần tình bất động. Chúng ta bây giờ thì sao? Không khóc nhiều cũng khóc ít, bởi vì còn hơi tiếc huyễn chất này một chút nên phải rơi lệ.

Cho nên người đạt được lý này thì đối với việc sống chết, khen chê cũng là trò chơi thôi. Như chúng ta biết thân này là huyễn, ai khen thầy dễ coi quá, mình trả lời huyễn chất dễ coi, chớ tôi có gì mà dễ coi. Hoặc nói thầy dễ ghét quá thì cũng huyễn chất dễ ghét, chớ mình có gì mà dễ ghét. Do đó nói tốt cũng được, nói xấu cũng được, nói sao cũng được hết nên không có gì buồn, không có gì sợ.

Thấy tột lẽ thật thì vui buồn đâu có đáng gì. Thấy được lẽ thật là giác, giác tức phiền não sạch. Không thấy lẽ thật là mê, mê thì phiền não sanh. Chúng ta sống trong cuộc đời tạm bợ này, làm hết bổn phận của mình rồi từ giã đi, ai ở đây mãi mà giận hờn. Thấy được đạo lý rồi thì sự tu mới an lạc. Tu là muốn được an lạc mà buồn giận không bỏ thì bao giờ mới an lạc? Làm sao thấy mặt huynh đệ, ai cũng cười tươi như hoa cả ngày, đừng buồn giận ai, đừng ghét bỏ ai. Nếu trong lòng buồn giận thì thấy mặt nhau là xuống sắc liền, đang tươi liền đổi thành héo. Đó là tại cố chấp của mỗi người. Hiểu như vậy mới thấy việc tu rất thực tế, chớ không phải chuyện tưởng tượng. Phải dẹp được gốc thì tất cả ngọn ngành đều tan hoang hết. Nên nói đạt được lý này thì còn gì sợ, gì buồn.

Trời đất không thể đổi thể kia. Tâm về pháp giới, vạn tượng nhất như.

Cái thể ấy trời đất không đổi được. Tâm trùm cả pháp giới, thấy gì cũng không dấy niệm.

Xa lìa suy tính, trí đồng Pháp tánh. Ngàn kinh muôn luận chỉ nói rõ tâm.

Bỏ hết suy tính thì trí đồng với Pháp tánh. Ngàn kinh muôn luận của Phật dạy cốt chỉ tâm không sanh không diệt đó. Cho nên dù pháp tu nào cứu kính cũng phải đến chỗ đó. Thí dụ niệm Phật tới nhất tâm, tu thiền đến chỗ thể nhập Chân tâm. Đối với sáu trần không chạy theo, đó là sống với Tâm chân thật. Cho nên ở đây chỉ thẳng, không nói quanh co gì hết.

Đã chẳng lập tâm tức thể hội chân lý hoàn toàn không sở đắc.

Nếu biết trở về tâm, hội được chân lý thì không còn gì là sở đắc. Trong kinh Bát-nhã nói “dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại v.v…” Nếu chúng ta giác thì được cái gì? Hết niệm hết chấp, chớ không được gì cả. Còn được tức là còn một cái gì đó để nắm, tức là còn chấp. Khi tới chỗ chân thật rồi không còn niệm khởi, không còn chấp, có gì để sở đắc. Bởi không sở đắc nên không có gì làm chướng ngại các vị Bồ-tát. Còn chúng ta bây giờ đa quái ngại chớ không phải vô quái ngại.

Như chúng ta ở trong chúng bảy tám chục người than phiền khó tu quá, kẻ vầy người kia nên phiền não hoài. Bây giờ rủ chừng hai người thôi ở chung một thất, xem thử khó tu hay dễ tu? Cũng khó, cũng quái ngại, như vậy chạy chỗ nào khỏi quái ngại? Cho đông là quái ngại, nhưng ở hai người cũng quái ngại như thường. Cuối cùng ở một mình đau không ai cho thuốc uống cũng quái ngại luôn. Như vậy tìm chỗ nào không quái ngại? Chỉ không chấp là không quái ngại, còn chấp thì ở đâu cũng quái ngại hết.

Bảo các học chúng không tìm cầu bên ngoài, nếu là Tối thượng thừa cần phải vô tác. Trân trọng!

Vô niệm vô tác, Tối thượng thừa là chỗ đó. Như vậy chỗ tột cùng của đạo lý là vô niệm vô tác. Nghe nói vô tác liền bảo tôi không làm gì hết, Tri sự kêu không thèm nghe. Vô tác kiểu đó chắc nhịn đói cả chùm, vô tác ở đây là không khởi dính mắc thứ gì. Làm tất cả mà không trụ, không dính, nhớ như vậy.

CHÁNH VĂN:

Có người hỏi Sư:

- Vô niệm thì pháp có, không chăng?

Ngài đáp:

- Chẳng nói có, không.

- Khi ấy thế nào?

- Cũng không khi ấy. Ví như gương sáng nếu không đối hình tượng, trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật.

GIẢNG:

Hỏi khi vô niệm thì pháp thuộc về có hay thuộc về không? Ngài đưa ra ví dụ quá tuyệt vời. Như khi ta nhìn vào gương, thấy hình người thấy hình vật thì đâu thấy gương. Khi không có bóng nào hiện trong gương, mới thấy gương thật. Còn thấy có, thấy không là chưa thấy được tâm mình. Thí dụ này hết sức cụ thể, nên chỗ đó không nói có, không nói không, cũng không nói thế nào hết.

Người ta ngỡ khi vô niệm không có tâm, giống hệt như Diễn-nhã-đạt-đa vậy. Khi úp gương xuống không thấy bóng đâu liền tưởng mình mất đầu, không ngờ chính khi úp gương xuống, không có bóng trong gương, mới nhớ cái đầu thật của mình. Bởi lúc ngắm nghía cái đầu trong gương thì quên cái đầu thật. Đó là tại lâu nay chúng ta sống theo bóng.

Niệm là bóng, tất cả cảnh tốt xấu, vui buồn huân trong tâm là bóng. Chúng ta cho các thứ bóng đó là tâm mình, tôi nghĩ thế này, tôi tính thế kia đủ thứ. Từ đó sanh ra lầm mê. Khi biết rõ tất cả đều là bóng thì có gì để đuổi theo, không đuổi theo tự nhiên sống an nhàn tự tại, không muốn thành Phật cũng thành như thường.

Nói tới Phật là nói tới giác, giác tức là giải thoát sanh tử. Như vậy giác ngộ và giải thoát ở cạnh nhau, có giác ngộ mới giải thoát. Cho nên chư Tổ chỉ thẳng chỗ tột cùng đó, ai thấy được, biết được thì trên đường tu không còn gì chướng ngại. Đó gọi là Tối thượng thừa, chỗ tột cùng của đạo.

CHÁNH VĂN:

Đời Đường niên hiệu Thượng Nguyên năm đầu 760 Tây lịch, tháng năm đêm mười hai, Sư từ biệt đại chúng, đến nửa đêm thị tịch, thọ chín mươi ba tuổi. Vua sắc ban hiệu là Chân Tông đại sư, tháp hiệu Bát-nhã. Sư có trước tác bài Hiển Tông Ký, hiện giờ còn lưu hành.

GIẢNG:

Như vậy tác phẩm của Ngài là Hiển Tông Ký, còn Thần Hội Ngữ Lục là người sau ghi lại những lời đối đáp của Ngài. Kết hợp hai tác phẩm này lại cộng với lịch sử của Ngài làm thành một tập, để tên là Thiền Sư Thần Hội. Sau này rảnh rang, chúng ta có thời giờ nghiền ngẫm, sẽ thấu đáo được lý của Ngài dạy.

Vì Ngài là người gần gũi, hầu hạ Lục Tổ nên Ngài nắm rất vững yếu chỉ của Lục Tổ dạy, không sai chạy tí nào.

(1) Sau Lục Tổ tịch rồi người mới thọ giới Cụ túc. Có chỗ nói năm thứ tám, nhưng Ngữ lục nói thứ mười tám. Thứ mười tám tức năm 730, thứ tám tức năm 720. Có lẽ thứ mười tám là đúng.

Mục Lục
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Danh sách chương: