Thiền Tông Việt Nam
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Tiểu Sử Thiền Sư Thần Hội - Đoạn 1

CHÁNH VĂN:

Thiền sư Thần Hội sanh năm 668, tịch năm 760 đời Đường. Sư họ Cao quê ở Tương Dương, lúc nhỏ theo thầy học Nho. Sư thông suốt Ngũ kinh, hiểu rành Lão Trang, sau nghiên cứu Phật pháp. Sư theo Pháp sư Hạo Nguyên ở chùa Quốc Xướng, tại phủ nhà xuất gia, học thông kinh luật.

GIẢNG:

Trước khi giảng Ngữ lục của ngài Thần Hội, chúng ta cũng nên nhớ lại tiểu sử của Ngài, như vậy mới thấm được những lời Ngài dạy. Sau Ngữ lục Thần Hội, chúng tôi sẽ giảng tiếp tác phẩm Hiển Tông Ký cũng của Ngài viết, gom hai quyển lại thành một tập, để người sau theo đó biết rõ tinh thần của Thiền sư Thần Hội. Trước hết tôi nói phần tiểu sử.

Thiền sư Thần Hội sanh năm 668, tịch năm 760 đời Đường. Sư họ Cao quê ở Tương Dương, lúc nhỏ theo thầy học Nho. Sư thông suốt Ngũ kinh, hiểu rành Lão Trang, sau nghiên cứu Phật pháp. Sư theo Pháp sư Hạo Nguyên ở chùa Quốc Xướng, tại phủ nhà xuất gia, học thông kinh luật.

Đó là giới thiệu lúc Ngài còn ở tại nhà.

CHÁNH VĂN:

Năm mười bốn tuổi là Sa-di ở chùa Ngọc Tuyền, Sư tìm đến yết kiến Lục tổ Huệ Năng. Tổ hỏi:

- Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến có đem được gốc theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?

Sư thưa:

- Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.

Tổ bảo:

- Sa-di! Ông đâu nên dùng lời đó!

GIẢNG:

Năm mười bốn tuổi Ngài là Sa-di ở chùa Ngọc Tuyền, tìm đến yết kiến Lục tổ Huệ Năng. Từ đây về sau chúng ta mới thấy điểm kỳ đặc của Ngài.

Tổ hỏi: “Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến có đem được gốc theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?”

Ngài Huệ Năng đã là Tổ mà đối trước một Sa-di mười bốn tuổi, lại nói năng hết sức khiêm tốn: “Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được gốc theo chăng?” Nếu chúng ta, có lẽ mình sẽ nói: “Ông điệu từ đâu đến đó?” Cho nên chúng ta không bằng các ngài là vì vậy.

Sư thưa:“Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.”

Chúng ta thấy một vị Sa-di mười bốn tuổi mà đối đáp như vậy, đủ biết Ngài thông minh thế nào. Khi nghe Tổ hỏi: “nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem” Ngài thưa: “lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ”, cái con thấy Ngài đó là chủ. Mới mười bốn tuổi mà đã trả lời rất kỳ đặc.

Tổ quở: “Sa-di! Ông đâu nên dùng lời đó!” Nghĩa là Sa-di còn nhỏ, đâu nên nói to như vậy.

CHÁNH VĂN:

Sư thưa:

- Hòa thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?

Tổ cầm gậy đánh Sư ba gậy, hỏi:

- Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?

Ngài nói:

- Con cũng đau, cũng chẳng đau.

Lục Tổ bảo:

- Ta cũng thấy, cũng chẳng thấy.

GIẢNG:

Khi Ngài hỏi Hòa thượng ngồi thiền thấy hay không thấy, rõ ràng đã lộ tính trẻ con ra rồi. Bởi vậy Lục Tổ mới ra uy để thử Ngài, Tổ không trả lời thấy hay chẳng thấy, mà đập cho ba gậy hỏi: “Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?” Nếu trẻ con khác bị đánh ba gậy thì khóc, nhưng ở đây Ngài nói: “Con cũng đau cũng chẳng đau.” Lục Tổ bèn bẻ lại: “Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.”

CHÁNH VĂN:

Ngài hỏi:

- Thế nào cũng thấy, cũng chẳng thấy?

Tổ bảo:

- Ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là cũng thấy cũng chẳng thấy.

GIẢNG:

Tổ dạy thường thấy lỗi nơi tâm mình, không thấy lỗi của người khác, đó là chỗ thấy và không thấy của Ngài. Chúng ta có được như Tổ chưa? Mình thấy là thấy lỗi lầm của người khác, quên đi những nghĩ suy tính toán lỗi lầm của mình. Tổ dạy một câu rất thường đối với chú Sa-di, nhưng rất quan trọng với người tu chúng ta.

Ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, tâm mình vừa khởi một niệm xấu ác liền thấy, không cho nó sanh. Không thấy việc phải quấy của người khác, tức không thấy cái hay cái dở của người. Chúng ta ngày nay có thấy giống như Tổ hay thường thấy lỗi xấu của người, không thấy sai lầm của mình?

CHÁNH VĂN:

Tổ hỏi:

- Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng cây cỏ, nếu ngươi nói đau thì đồng với phàm phu ắt khởi tâm giận hờn.Trước ngươi nói thấy cũng chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sanh diệt. Ngươi không thấy Tự tánh mà dám cợt với người.

Sư liền lễ bái sám hối.

GIẢNG:

Tổ bẻ lại, nếu ông nói không đau thì như cây cỏ, nếu nói đau thì đồng phàm phu, bị đau liền nổi tức lên. Ông đã không thấy Tự tánh mà dám đùa với ta?

Ngài Thần Hội biết lỗi như vậy là sai nên xin sám hối.

CHÁNH VĂN:

Tổ bảo:

- Nếu ngươi tâm mê không thấy, nên hỏi thiện tri thức chỉ đường. Nếu ngươi tâm ngộ liền tự thấy tánh, y pháp tu hành. Ngươi đã mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì ta tự biết, đâu thế cái mê cho ngươi. Nếu ngươi tự thấy cũng không thế được cái mê cho ta. Tại sao không tự biết, tự thấy lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?

Sư lễ bái hơn trăm lạy, cầu xin sám hối. Từ đây Sư ở lại hầu hạ Tổ không lúc nào rời.

GIẢNG:

Tổ quở một phen nữa. Nếu ngươi mê chưa biết, nên hỏi thiện tri thức chỉ dạy cho. Nếu ngộ rồi thì tự thấy tánh, y pháp tu hành, tới đây hỏi làm chi nữa. Ngươi đã mê không thấy tâm mình trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy, tự ông đã chẳng thấy, giờ hỏi ta ngồi thiền thấy hay không thấy? Tổ quở lần này hơi đậm.

Nghe tới đây ngài Thần Hội thấy lỗi lầm lớn của mình, nên lễ lạy liên miên cầu xin sám hối và nguyện ở lại làm Thị giả hầu hạ Lục Tổ, không lúc nào rời.

CHÁNH VĂN:

Một hôm Tổ bảo đại chúng:

- Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?

Sư bước ra thưa:

- Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.

Tổ bảo:

- Đã nói với các ngươi là không tên, không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh; ngươi lại đi lấy tranh che đầu cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.

Sư lễ bái lui ra.

GIẢNG:

Tổ vừa hỏi cái không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết là gì chăng? Ngài liền bước ra thưa: Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội. Lanh lẹ như thế ấy, bởi Ngài còn trẻ biết đâu nói đó, đâu có dè dặt trúng trật gì, nên liền bị Tổ quở:

- Đã nói với các ngươi là không tên, không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh; ngươi lại đi lấy tranh che đầu cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.

Ngươi lại đi lấy tranh che đầu cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải. Câu này chúng ta hiểu thế nào? Cái chân thật của chính mình không có tên, không có họ. Nhưng vì đối đãi tạm lập ra bản nguyên, Phật tánh… nếu nói bản nguyên, nói Phật tánh là chạy theo bên ngoài rồi, chưa hiển lộ được cái chân thật. Cho nên Tổ nói đã lấy tranh che đầu, như vậy là trở thành hàng tri giải, tức hiểu biết theo từ ngữ, chớ không thấy được cái thật của mình. Nghe thế Ngài liền lễ bái lui ra.

Mục Lục
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Danh sách chương: