Thiền Tông Việt Nam
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Hiển Tông Ký - Đoạn 2

CHÁNH VĂN:

Sau khi Thế Tôn diệt độ, hai mươi tám vị Tổ Thiên Trúc, đồng truyền tâm không trụ, chung nói Tri kiến Như Lai.

GIẢNG:

Sau khi Phật niết-bàn rồi, hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ đồng truyền tâm không trụ, cùng chỉ ra Tri kiến Phật cho chúng ta. Như vậy chư Tổ kế thừa Phật, chỉ ra chỗ Phật đã được, đã chứng cho chúng ta tu để được, để chứng như các ngài.

CHÁNH VĂN:

Đến Tổ Đạt-ma, Trung Quốc là đầu, thay nhau trao truyền, đến nay không dứt.

GIẢNG:

Tổ Đạt-ma là người đầu tiên sang Trung Quốc truyền trao Thiền tông cho tới đời Đường.

CHÁNH VĂN:

Chỗ truyền bí giáo, cốt mong được người. Như châu nhà vua, trọn không cho lầm.

GIẢNG:

Bí giáo này cốt mong được người có trình độ, có tâm trong sáng để nhận, nên nói cốt mong được người. Như nhà vua đem hạt châu báu cho người, phải chọn đúng người, không được lầm lẫn. Vì vậy các Tổ truyền nhau tuyệt đối không để lầm lẫn.

CHÁNH VĂN:

Phước đức trí tuệ hai thứ trang nghiêm. Hạnh giải hợp nhau, mới hay dựng lập.

GIẢNG:

Người tu phải có phước đức trí tuệ đầy đủ, trang nghiêm. Có trí tuệ mà thiếu phước đức thì tu không được kết quả tốt. Có phước đức mà thiếu trí tuệ thì tu không đến nơi. Cho nên phải đầy đủ cả hai. Hạnh là phước đức. Giải là trí tuệ. Hai thứ đó phải hợp nhau mới hay dựng lập.

Người tu có phước đức, có trí tuệ, hạnh giải đồng nhau mới hay dựng lập. Nên trong nhà thiền có câu “hạnh giải tương ưng, danh vi viết Tổ”, nghĩa là hạnh giải tương ưng mới gọi là Tổ. Ở đây nói hạnh giải hợp nhau mới hay dựng lập.

CHÁNH VĂN:

Y là tin pháp, pháp là chủ y.

GIẢNG:

Truyền y để làm gì? Là để cho người tin vị đó đã được pháp, nên được Tổ truyền y. Pháp là chủ y tức pháp của chư Tổ truyền trao là chủ, là chánh để được truyền y.

CHÁNH VĂN:

Chỉ truyền y pháp, lại không pháp khác.

GIẢNG:

Pháp thì chỉ có một. Cứ thế mà truyền cho nhau. Đem y ra làm chứng để mọi người cùng biết chớ không có pháp nào khác lạ hết.

CHÁNH VĂN:

Trong truyền tâm ấn, ấn hợp Bản tâm. Ngoài truyền ca-sa, để nêu tông chỉ.

GIẢNG:

Trong truyền tâm ấn, tức là nhận chân được tâm ấn. Tâm ấn là gì? Là ấn hợp nơi Bản tâm. Như khi Tổ Đạt-ma nhận Tổ Huệ Khả làm đồ đệ, chỉ dạy cho tu. Qua một thời gian tu, một hôm Tổ Huệ Khả trình với Tổ Đạt-ma “tâm con hiện giờ dứt hết các duyên”. Tổ Đạt-ma sợ Ngài rơi vào không nên nói “coi chừng rơi vào không”. Tổ Huệ Khả thưa “rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Ngay đó Ngài được Tổ Đạt-ma ấn chứng “ông như vậy, ta như vậy, chư Phật cũng như vậy”. Đó gọi là ấn hợp Bản tâm.

Ngoài truyền ca-sa, để nêu tông chỉ.

Ứng hợp Bản tâm rồi, mới trao ca-sa để người ta tin vị này đã thấu được tông chỉ Thiền mà chư Tổ truyền.

CHÁNH VĂN:

Chẳng y thì không truyền pháp, chẳng pháp thì không nhận y.

GIẢNG:

Nếu không được y tức là người chưa được truyền pháp. Người không được pháp cũng không được truyền y.

CHÁNH VĂN:

Y là y tín pháp. Pháp là pháp vô sanh.

GIẢNG:

Pháp của Phật là pháp vô sanh, tức Niết-bàn. Người được pháp đó sẽ được truyền y.

CHÁNH VĂN:

Vô sanh thì không hư dối, chính là tâm rỗng lặng vậy.

GIẢNG:

Pháp vô sanh là chỉ cho cái không còn tạm bợ hư dối. Chỗ không còn tạm bợ hư dối đó là tâm rỗng lặng của chính mình, chớ không gì khác.

CHÁNH VĂN:

Biết rỗng lặng là rõ Pháp thân, rõ Pháp thân là thật giải thoát.

GIẢNG:

Được tâm rỗng lặng là thấy được Pháp thân, được Pháp thân thì giải thoát sanh tử.

Đây là những lời thiết yếu, Ngài chỉ dạy rõ cho chúng ta hết, không một chút giấu giếm. Vì vậy người tu cần phải thấu triệt được lẽ thật mới không uổng đời tu.

Mục Lục
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Danh sách chương: