Thiền Tông Việt Nam
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Tiểu Sử Thiền Sư Thần Hội - Đoạn 2

CHÁNH VĂN:

Có sáu điều nghi trong kinh tạng, Sư đem ra hỏi Lục Tổ:

- Giới định tuệ dùng như thế nào? Giới vật gì? Định từ chỗ nào tu? Tuệ nhân chỗ nào khởi? Chỗ thấy của con chưa thông suốt.

Tổ bảo:

- Định là định tâm kia, đem giới để giới hạnh kia, trong tánh thường có tuệ chiếu, tự thấy tự biết sâu.

GIẢNG:

Ngài hỏi: Giới định tuệ dùng như thế nào? Giới vật gì? Định từ chỗ nào tu? Tuệ nhân chỗ nào khởi? Lục Tổ chỉ nói đơn giản: Định là định tâm kia, đem giới để giới hạnh kia. Định cái tâm lăng xăng lộn xộn của chính mình đó. Còn giới là giới cái gì? Là giới ngăn cấm những hành vi sai lầm tội lỗi. Tuệ nhân chỗ nào khởi?Ngài đáp: Trong tánh thường có tuệ chiếu, tự thấy tự biết sâu, tuệ này không phải do học hiểu, không phải từ đâu đến, mà nơi Tự tánh của mình hằng sáng, hằng chiếu soi. Nhận được như thế, đó là tuệ. Tuệ này tự thấy, tự biết chớ không ở đâu đến, cũng không ai dạy được.

CHÁNH VĂN:

Lại hỏi:

- Xưa không nay có, có vật gì? Xưa có nay không, không vật gì? Tụng kinh chẳng thấy nghĩa có không, thật giống người cỡi lừa lại tìm lừa.

Lục Tổ dạy:

- Niệm trước nghiệp ác xưa không, niệm sau thiện sanh nay có. Niệm niệm thường làm hạnh lành, đời sau sanh người trời chẳng khó. Chính ngươi nay nghe ta nói, ta tức xưa không nay có.

GIẢNG:

Ngài Thần Hội trích trong kinh Niết-bàn hỏi: Xưa không nay có, xưa có nay không là có vật gì, không vật gì? Nếu người tụng không hiểu nghĩa có không, giống như người cỡi lừa tìm lừa.

Lục Tổ nói niệm trước nghiệp ác xưa không, tức xưa không có nghiệp ác, bây giờ khởi niệm ác là xưa không mà nay có. Niệm sau thiện sanh nay có, tức là nay có niệm thiện. Nói rõ hơn là niệm ác xưa không, niệm thiện nay có. Nếu người luôn luôn mỗi niệm thường làm hạnh lành thì đời sau sanh ra ở cõi người, cõi trời không khó gì.

Chính ngươi nay nghe ta nói, ta tức xưa không nay có. Bây giờ ngươi đang nghe ta nói đây, là ta xưa không mà nay có. Đó là giải nghĩa xưa không nay có, xưa có nay không.

CHÁNH VĂN:

Sư hỏi:

- Đem sanh diệt dẹp diệt, đem diệt diệt dẹp sanh, không rõ nghĩa sanh diệt, chỗ thấy in mù điếc.

Tổ bảo:

- Đem sanh diệt dẹp diệt khiến người không chấp tánh, đem diệt diệt dẹp sanh khiến người tâm lìa cảnh. Nếu lìa được hai bên tự trừ bệnh sanh diệt.

GIẢNG:

Sư cũng dẫn kinh Niết-bàn hỏi: Đem sanh diệt dẹp diệt, đem diệt diệt dẹp sanh, không rõ nghĩa sanh diệt, chỗ thấy in mù điếc. Tổ đáp: Đem sanh diệt dẹp diệt khiến người không chấp tánh, nghĩa là đem sanh diệt để dẹp diệt tức dạy người không chấp Tự tánh của mình. Bởi vì Tự tánh trong lặng, nên dẹp cái diệt là dẹp cái chấp trong lặng đó. Đem diệt diệt dẹp sanh khiến người tâm lìa cảnh, bởi vì sanh là cảnh bên ngoài, cảnh bên ngoài diệt được thì tâm không còn chấp cảnh. Nên nói đem diệt diệt dẹp sanh khiến người tâm lìa cảnh.

Nếu lìa được hai bên tự trừ bệnh sanh diệt, nếu lìa được hai bên tức bên sanh bên diệt, là tự trừ được bệnh sanh diệt. Như vậy Lục Tổ muốn chỉ dạy người tu đừng kẹt bên diệt, bên sanh; còn thấy sanh còn thấy diệt là còn ở trong sanh tử. Nếu lìa được sanh diệt hai bên, tránh khỏi bệnh sanh tử, tức là giải thoát sanh tử.

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Trước đốn mà sau tiệm, trước tiệm mà sau đốn. Người không ngộ đốn tiệm trong tâm thường mê muội.

Tổ đáp:

- Nghe pháp trong đốn mà tiệm. Ngộ pháp trong tiệm mà đốn. Tu hành trong đốn mà tiệm. Chứng quả trong tiệm mà đốn. Đốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muội.

GIẢNG:

Ngài Thần Hội thưa với Tổ: Người đối với lý đốn tiệm của Phật Tổ dạy không ngộ không nhận được, người này trong tâm thường sanh mê muội.

Tổ dạy: - Nghe pháp trong đốn mà tiệm. Ngộ pháp trong tiệm mà đốn. Tu hành trong đốn mà tiệm. Chứng quả trong tiệm mà đốn. Đốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muội.

Thế nào là nghe pháp trong đốn mà tiệm? Đốn là nhanh, tiệm là chậm. Như quí vị đang nghe tôi giảng là “trong đốn”, còn suy nghĩ để hiểu là tiệm. Bởi vì nghe thì nghe liền nên gọi đốn, nhưng suy nghĩ để hiểu, để nhận ra cái hay cái dở thì phải từ từ nên nói tiệm. Đó là nghĩa “nghe pháp trong đốn mà tiệm”.

Thế nào là ngộ pháp trong tiệm mà đốn? Bởi khi suy gẫm pháp thấm nhuần từ từ, huân tu từ từ bỗng dưng liễu ngộ được. Khi liễu ngộ được rất nhanh, nhưng lúc suy nghĩ, huân tu thì chậm. Nên nói ngộ pháp trong tiệm mà đốn. Ai tu cũng phải tiệm, nhưng đến giai đoạn ngộ thì nhất định là đốn, chớ không tiệm. Bởi vì thấy là thấy liền, còn không thấy thì thôi, chớ không thể có chuyện thấy từ từ.

Thế nào là chứng quả trong tiệm mà đốn? Chúng ta từ bước đầu khởi tu cho tới ngày chứng quả, đường dài thăm thẳm, đó là tiệm. Nhưng khi tới đích rồi thì rất nhanh, đó là đốn. Cũng như người chạy đua, khởi đầu chạy đến hết đoạn đường thì chạy dài dài, nhưng tới đích thì bước chót là kết quả. Như vậy ngay nơi bước chân tới đích, ta thấy kết quả liền, đó là đốn. Còn từ chỗ bắt đầu chạy phải chạy dài dài nhiều bước, đó là tiệm. Cho nên nói chứng quả trong tiệm mà đốn. Nghĩa là chứng quả thì đốn, nhưng phải tiệm tu mới đốn chứng, chớ không thể đốn chứng được liền.

Đốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muội. Nghĩa là hiểu được nghĩa đốn tiệm này, tức hiểu nghĩa nhân quả của nó, khi ngộ rồi không có mê muội nữa.

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Trước định sau tuệ, trước tuệ sau định; định tuệ cái nào sanh trước, cái nào sanh sau là đúng?

Lục Tổ dạy:

- Thường sanh tâm thanh tịnh, trong định mà có tuệ. Ở trên cảnh mà không tâm, trong tuệ mà có định. Định tuệ đồng, không trước sau, tu cả hai tự tâm chánh.

GIẢNG:

Ngài Thần Hội hỏi giữa định và tuệ, cái nào trước, cái nào sau? Theo giáo lý Nguyên thủy, người tu giới, định, tuệ thì định trước tuệ sau. Nhưng ở đây Lục Tổ dạy: Thường sanh tâm thanh tịnh trong định mà có tuệ. Ở trên cảnh mà không tâm, trong tuệ mà có định. Hai câu này đủ cho chúng ta tu rồi.

Thường sanh tâm thanh tịnh tức là trong mọi trường hợp, tâm mình không dấy niệm, không nghĩ tưởng, trong sáng, hiểu biết rõ ràng, đó là tâm thanh tịnh, là định. Định mà hiểu biết rõ ràng là tuệ. Như vậy định và tuệ đồng thời, chớ không tách riêng, không phải chờ cái này có rồi cái kia mới có, mà ngay trong định đã có tuệ.

Ở trên cảnh mà không tâm, trong tuệ mà có định.

Đối với tất cả cảnh chúng ta không dấy niệm, đó là định. Định mà thường biết tất cả cảnh là tuệ. Như vậy định tuệ của Lục Tổ nói, rõ ràng không phải do ngồi mới được, mà quên hết thân cảnh, gọi là định. Ngay nơi cảnh, thấy người thấy vật, thấy tất cả mà không có niệm dính mắc cái gì hết, đó là định. Trong định ấy vẫn biết người, biết cảnh rõ ràng, thấy đâu biết đó là tuệ. Nên nói định tuệ không tách rời nhau.

Định tuệ đồng, không trước sau, tu cả hai tự tâm chánh.

Định và tuệ đồng thời, không nói cái nào trước cái nào sau hết, trong định có tuệ, trong tuệ có định. Vì vậy người tu cả hai tự tâm được chánh, nghĩa là định tuệ đồng thời thì tâm được ngay thẳng. Nhiều người cứ nghĩ rằng khi nào ngồi thiền sáng lên, có hào quang mới gọi là tuệ, còn bình thường thấy người thấy cảnh thì không có tuệ. Hoặc cho rằng tới lui qua lại, thấy người thấy cảnh thì không định. Nhưng sự thật thấy đủ thứ mà tâm không dính thì gọi là định.

Định ở đây không phải đè kềm cho nó lặng, mà đối tất cả hình tướng chung quanh chúng ta đều thấy, đều biết nhưng không khởi niệm chạy theo cái nào hết, lúc đó chúng ta đang định. Định này gọi là đại định. Đại định của nhà Thiền không phải ngồi quên thân, mà là khi đối với tất cả sáu trần ở bên ngoài, chúng ta không dính kẹt cái nào hết. Đi đứng nằm ngồi hình thức nào cũng đều được như vậy gọi là đại định.

CHÁNH VĂN:

Hỏi:

- Trước Phật sau pháp, trước pháp sau Phật, nguồn gốc Phật pháp từ đâu khởi?

Lục Tổ đáp:

- Nói, tức trước Phật sau pháp. Nghe, tức trước pháp sau Phật. Nếu luận nguồn gốc Phật pháp, xuất phát trong tâm tất cả chúng sanh.

GIẢNG:

Người ta thường đặt câu hỏi Phật có trước hay pháp có trước? Trong kinh Kim Cang, Phật nói kinh này là mẹ ba đời chư Phật. Mẹ ba đời chư Phật tức kinh có trước, như vậy pháp có trước Phật có sau. Nhưng trong kinh A-hàm, ta nghe nói Phật thuyết Tứ đế, Thập nhị nhân duyên v.v… là pháp từ Phật thuyết, như vậy Phật có trước pháp có sau. Thế thì thuyết nào đúng? Đó là điều nhiều người thắc mắc.

Ở đây Lục Tổ bảo: Nói, tức trước Phật sau pháp. Nghe, tức trước pháp sau Phật. Nếu luận nguồn gốc Phật pháp, xuất phát trong tâm tất cả chúng sanh. Nói tức là Phật nói pháp, như vậy có Phật mới có pháp. Cho nên đứng về mặt thuyết pháp thì Phật trước pháp sau. Còn đứng về mặt nghe pháp thì trước pháp sau Phật, vì nghe rồi chúng ta hiểu, ứng dụng tu hành sau mới thành Phật, nên nói pháp trước Phật sau.

Kinh Kim Cang nói “pháp này là mẹ ba đời chư Phật” tức pháp sanh ra Phật, như vậy pháp trước Phật sau. Tại sao pháp trước Phật sau? Như xưa kia chúng ta mê lầm không biết, cứ ngỡ tất cả sự vật trên thế gian do Thượng đế hay Tạo hóa tạo ra, nhưng đức Phật thấy các pháp do nhân duyên sanh, chớ không có vị nào tạo ra. Thấy như Ngài là giác ngộ, còn chúng ta tưởng tượng về một đấng Tạo hóa hay Thượng đế là mê.

Giác ngộ từ một vấn đề đến tất cả vấn đề thì thành Phật. Cho nên người thấy đúng như thật, giác ngộ đầy đủ gọi là viên mãn, là Phật. Nhưng giác ngộ cái gì? Giác ngộ bản chất muôn pháp từ nhân duyên sanh, tất cả đều vô thường. Như vậy pháp nhân duyên, lý vô thường có trước hay sau Phật? Trước Phật. Hiểu như vậy mới giải quyết được những thắc mắc trên.

Mục Lục
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Danh sách chương: