|
Thanh Từ Toàn Tập 7 - Kinh Lăng-già Tâm Ấn Giảng Giải - Phần II
Quyển 8
VI- CHỈ NHƯ LAI CHÁNH GIÁC THƯỜNG TRỤ (Phân làm bốn phần) 1. CHỈ CHÁNH GIÁC CHẲNG ĐỒNG LỖI TẠO TÁC Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác là thường hay vô thường? Phật bảo Đại Huệ: Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác chẳng phải thường chẳng phải vô thường. Nghĩa là cả hai đều có lỗi. Nếu thường thì có lỗi làm chủ, thường ấy tất cả ngoại đạo nói tác giả vì không có chỗ tác, thế nên Như Lai thường phi thường. Chẳng phải tác thường vì có lỗi. Nếu Như Lai vô thường, có lỗi tác vô thường, sở tướng của ấm tướng thì không tánh, ấm hoại nên đoạn, mà Như Lai chẳng phải đoạn. Ngài Đại Huệ đặt nghi vấn Như Lai là thường hay vô thường. Phật trả lời Như Lai không có nghĩa thường hay vô thường, vì cả hai đều có lỗi. Trường hợp thứ nhất, nếu Như Lai là thường còn thì Như Lai là tác giả, là chủ tạo ra muôn vật, như một số ngoại đạo cho rằng có một đấng tạo hóa chủ tể sáng tạo chúng sanh, tạo hóa thường còn, chúng sanh vô thường. Trường hợp thứ hai, nếu Như Lai vô thường ắt rơi vào lỗi có tạo tác, vì những gì có tạo tác đều vô thường. Cũng như thân ngũ ấm, tất cả tướng được tạo đều không có tự tánh riêng, nên nói sở tướng của ấm tướng thì không tánh. Như Lai là tánh giác, là tự thể chân thường, không bị hoại như thân năm ấm nên chẳng phải vô thường. Trước hỏi tất cả pháp thường cùng vô thường, đây hỏi pháp Như Lai sở chứng là thường hay vô thường. Như Lai Chánh giác không thể nói thường cùng vô thường, nghĩa là cả hai đều có lỗi. Nếu thường thì rơi vào lỗi tác giả, như ngoại đạo chấp thần ngã nói là năng tác, Như Lai giác tánh không phải sở sanh của sanh nhân mà là sở liễu của liễu nhân, vì không có chỗ tác, chẳng phải thường, chẳng phải tác thường. Sở sanh là cái được sanh ra, thí dụ hạt lúa sanh cây lúa thì hạt lúa là sanh nhân, cây lúa là sở sanh của sanh nhân. Giác tánh Như Lai không phải được sanh ra bởi một nguyên nhân nào, vì nếu có sanh thì có diệt. Nhân và quả theo nhau, nhân vô thường nên quả vô thường, Như Lai không phải là pháp nhân quả, không phải pháp tạo tác, nên Như Lai không phải sở sanh mà là sở liễu. Sở liễu là cái được hiển bày, thí dụ ánh sáng là liễu nhân làm hiển bày đồ vật, đồ vật là sở liễu của liễu nhân. Chúng ta tu tập để hiển bày tánh giác, pháp tu là liễu nhân không phải là sanh nhân. Như trong đoạn kinh trước nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo là liễu nhân, qua công phu tu tập đó tánh giác được hiển lộ, như trăng ra khỏi mây, nên nói Như Lai giác tánh là sở liễu của liễu nhân. Nếu vô thường thì rơi vào lỗi sở tác, đồng với tướng ấm, ấm thuộc về sở tác, không tánh, ấm hoại liền đoạn, mà Như Lai giác tánh chẳng đoạn cho nên chẳng phải vô thường. Đây nói rõ Như Lai không phải thường, cũng không phải vô thường. Nếu Như Lai là thường thì có lỗi là tác giả. Như Lai chẳng tạo hay được tạo nên cũng không phải vô thường. Dùng thí dụ thân năm ấm để nói Như Lai tuy có trong thân năm ấm, thân năm ấm hoại mà Như Lai chẳng đồng vô thường. Đại Huệ! Tất cả sở tác đều vô thường, như bình, y v.v... tất cả đều là lỗi vô thường thì Nhất thiết trí đầy đủ phương tiện ưng vô nghĩa, vì cho là sở tác. Thế thì, tất cả sở tác đều ưng là Như Lai. Vì không nhân tánh sai biệt. Thế nên, Đại Huệ! Như Lai phi thường phi vô thường. Nếu tánh giác hay Như Lai là pháp được tạo ra, như các vật dụng áo quần… thì tánh giác có lỗi vô thường như các vật dụng. Ngược lại nếu Như Lai là sở tác thì các pháp sở tác cũng là Như Lai. Điều này rõ ràng không thể chấp nhận. Vì không nhân tánh sai biệt, nghĩa là vì nhân tu và thể tánh không sai biệt. Nhân tu là tánh giác, có tánh giác mới biết rõ phương pháp tu để thành tựu pháp thân Như Lai. Luận Khởi Tín nói: “Y nơi pháp thân này gọi là bản giác. Nghĩa bản giác là đối với thủy giác mà nói.” Chúng ta tu là dùng thủy giác, khi thủy giác gặp bản giác là pháp thân hiển lộ. Thủy giác là nhân tu, bản giác là thể tánh, thủy bản không sai biệt nên Như Lai chẳng thường chẳng phải vô thường. Đoạn trên nói sở tác vô thường. Nghĩa là phàm có sở tác thảy đều vô thường đồng với bình, y v.v... Như Lai cũng có sở tác mà chẳng phải vô thường. Do không nhân tánh sai biệt, nghĩa là Như Lai đã tu phước trí đều thuận tánh khởi dụng không có nhân riêng chẳng đồng sở tác. Thuận tánh khởi dụng, nghĩa là y theo thể tánh khởi dụng, không phải có nhân khởi tác bên ngoài để tạo thành Như Lai, vì vậy Như Lai không phải pháp sở tác. 2. CHỈ CHÁNH GIÁC TRÍ VÔ GIÁN THƯỜNG BÀY HIỆN Lại nữa, Đại Huệ! Như Lai chẳng phải như hư không thường. Như hư không thường thì mắc lỗi tự giác thánh trí đầy đủ phương tiện thành vô nghĩa. Phật dùng thí dụ hư không để nói tánh giác không bị hoại, không bị mất. Nhưng tánh giác giống hư không thì có lỗi rỗng không vô nghĩa. Tự giác thánh trí có đầy đủ phương tiện diệu dụng mà nói như hư không thì tự giác thánh trí trở thành vô nghĩa. Đại Huệ! Thí như hư không phi thường phi vô thường, lìa thường lìa vô thường, một khác, chung chẳng chung. Thường vô thường đều lỗi nên không thể nói, vì thế Như Lai phi thường. Lại nữa, Đại Huệ! Nếu Như Lai vô sanh thường như sừng thỏ, sừng ngựa v.v... cho vô sanh thường thì phương tiện vô nghĩa. Bởi vô sanh thường là có lỗi nên Như Lai phi thường. Như Lai ví như hư không nhưng vượt ngoài lỗi đối đãi hai bên. Hư không vô tri giác, còn Như Lai là trí thường trụ không gián cách. Nếu cho rằng Như Lai thường hằng vô sanh (vì cái gì thường sẵn thì không sanh), sừng thỏ sừng ngựa cũng vô sanh, mà không bao giờ có. Đây là lìa lỗi chấp thường vô sanh, vì vô sanh có hai mặt có và không có. Nếu Như Lai thường là vô sanh thì phương tiện tu hành vô nghĩa, dùng các cách tìm kiếm cũng không có như sừng thỏ sừng ngựa. Nhưng với tánh giác, tánh Như Lai thì khéo dùng phương tiện dứt trừ phiền não sẽ hiện ra. Vô sanh thường có lỗi như thế nên Như Lai chẳng phải thường. Lại nữa, Đại Huệ! Còn có các việc khác biết Như Lai thường. Vì cớ sao? Vì đã được trí vô gián thường nên Như Lai thường. Thường hằng của Như Lai không có lỗi như hư không, sừng thỏ sừng ngựa. Gạn lọc tất cả những vọng tưởng hiểu biết phàm phu về tánh giác, dù cho là thường hay vô thường đều không đúng, nên nói còn có các việc khác biết Như Lai thường. Kết luận vì đã được trí vô gián thường nên Như Lai thường, Như Lai tức là trí vô gián, là tánh giác không thiếu vắng gián đoạn, là trí tuệ sẵn có nơi mọi chúng sanh. Đây nói Như Lai phi thường chẳng như hư không. Bởi hư không thường, lìa thường vô thường, một khác, chung chẳng chung v.v... bốn câu thường, bị lỗi vô thường. Song Như Lai tuy bị lỗi vô thường mà chẳng như hư không, vì có tự giác thánh trí sự. Như Lai phi thường chẳng như sừng thỏ, do sừng thỏ có lỗi vô sanh thường. Song, Như Lai không bị lỗi vô sanh thường, nên chẳng như sừng thỏ, vì có phương tiện nhận được. Cho nên biết, Như Lai sở tác chẳng đồng các vật, Như Lai vô tác chẳng đồng hư không sừng thỏ. Ở giữa hai bên kia mà được trí Như Lai vô gián thanh tịnh, nên nói Như Lai thường. Như Lai từng ở trên hội Niết-bàn tuyên nói “thường lạc ngã tịnh” đều vì lìa lỗi hiển bày. Ba đời Như Lai vô thượng pháp ấn không có hai chỉ thú. Trên hội Niết-bàn Phật nói về bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh. Đây là bốn đức của pháp thân Như Lai cũng gọi bốn đức Niết-bàn. Tuy dùng danh từ thường lạc ngã tịnh, nhưng vượt ra ngoài suy nghĩ, lìa tất cả lỗi về thường vô thường, sở tác, vô tác... Ý chỉ này phải tự mình tu chứng, không thể nói năng luận bàn. Chỉ thú của chư Phật đều như vậy, không khác nhau. Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói: Tất cả văn tự chẳng văn tự. Cùng linh giác ấy nào can dự. 3. CHỈ NHƯ LAI TÁNH THƯỜNG BÌNH ĐẲNG Đại Huệ! Hoặc Như Lai ra đời hoặc chẳng ra đời, pháp quyết định trụ, Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai vô gián trụ, chẳng trụ hư không, cũng chẳng phải chỗ hiểu biết của ngu phu. Pháp quyết định trụ, tức pháp tánh thường trụ dù có Phật hay không Phật cũng hẳn như vậy. Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai vô gián trụ, vô gián trụ là an trụ chỗ không có gián cách. Các bậc thánh được tánh tự giác hiển lộ liên tục không gián đoạn gọi là vô gián trụ. Đại Huệ! Như Lai đã được trí là do Bát-nhã huân, chẳng phải tâm ý ý thức các ấm giới nhập xứ huân. Trí do Bát-nhã huân khác với tâm ý ý thức các ấm giới nhập huân thế nào? Như chúng ta hàng ngày huân tập có không, hơn thua, thiện ác, tốt xấu... thành thói quen đối đãi, tâm luôn dính mắc vào ngoại cảnh cho là thật có. Còn sự huân tập của trí Bát-nhã là thấy các pháp không tự tánh, không thật có nên tâm không dính mắc ngoại cảnh. Theo sự huân tập của trí thì tánh giác hiển hiện, theo sự huân tập của tâm ý thì mê vọng tăng trưởng. Đại Huệ! Tất cả ba cõi đều là vọng tưởng chẳng thật sanh, Như Lai chẳng từ tưởng hư vọng chẳng thật sanh. Đại Huệ! Do hai pháp nên có thường vô thường, chẳng phải chẳng hai, chẳng hai là lặng lẽ, vì tất cả pháp không hai tướng sanh. Do thấy có hai pháp thường vô thường nên không thấy được chỗ không hai. Pháp không hai là lặng lẽ. Tâm chúng ta luôn rối rắm vì vọng tưởng phân biệt hai bên. Nghe một câu nói liền khởi nghĩ là khen mình hay chê mình, thấy sự vật liền cho là đẹp xấu... Nếu thấy tất cả pháp không có hai tướng, tâm lặng lẽ không dấy động, đó là trở về tánh Như Lai. Muốn được cái thấy lìa hai bên phải dùng sức huân tập Bát-nhã quán sát các pháp đều vọng tưởng không thật, lìa tất cả sanh diệt, tăng giảm... Kinh Bát-nhã nói: “Trong tướng không của các pháp không sanh không diệt, không nhơ, không sạch...” đó là chỉ thẳng tánh chân thật pháp thân. Đây thẳng bày Như Lai vô gián thánh trí, tam thừa đều bình đẳng, có Phật hay không Phật bản giác vẫn thường trụ. Chẳng trụ hư không chẳng đồng giác tưởng, vì hư không là không, vì tưởng chẳng thật. Nếu hay nơi đây sáng ngộ liền chuyển tập khí hư ngụy từ vô thủy làm vô gián Bát-nhã. Tất cả tâm ý ý thức, các ấm nhập giới thuần một tịch tĩnh, cứu cánh chẳng hai. Vô gián thánh trí là trí Bát-nhã thường hằng, cũng gọi là vô gián Bát-nhã. Mỗi chúng sanh đều có trí tuệ Bát-nhã, chỉ cần một phen chuyển, nghĩa là lìa bỏ tập khí hư ngụy thì Bát-nhã hiện tiền. Chúng ta không nên tự khi mình, chỉ cần không theo vọng tưởng thì trí tuệ rỗng rang, lúc đó tuy cũng là thân ấm giới nhập, cũng là tâm ý ý thức nhưng đã vắng lặng tịch tĩnh. Chỗ cứu cánh không hai này, ngài Vĩnh Gia nói: Vô minh thật tánh tức Phật tánh. Ảo hóa không thân tức pháp thân. Chỉ kẻ ngu chẳng giác khắp thể toàn vọng, mê Như Lai vô gián thánh trí làm tâm ý ý thức lưu chuyển trong ba cõi đồng với huyễn hóa, nên nói “từ vọng tưởng chẳng thật sanh”. Tóm lại pháp thể không hai, mê thì có thường vô thường vọng thấy dường như hai, giác thì vọng kiến chóng mất chỉ một tịch tĩnh. Trên nói cảnh giới giác ngộ, đây nói về bất giác. Vì bất giác nên toàn tánh giác chuyển thành vọng tưởng, quên thánh trí Như Lai, theo tâm ý ý thức lưu chuyển. Vọng tưởng không thật, lưu chuyển cũng không thật. Chỗ này cốt ý đánh thức chúng ta đừng quên cái thật chạy theo cái giả. Trở về chỗ chân thật thì tất cả các chấp phân biệt hai bên đều dứt mất, tịch tĩnh hiện tiền. Song mê cùng giác xưa nay có đủ, đều có nghĩa huân. Kinh Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh đồng chứng viên giác.” Kinh Pháp Hoa nói: “Phật chủng từ duyên.” Mới tin Bát-nhã thánh trí trọn chẳng mai một. Thời tiết nếu đến thì lý ấy tự bày. Mê cũng do huân tập, giác cũng do huân tập. Tu là huân tập trí tuệ, nói là huân tập nhưng thật ra là trở về với trí bản giác, không phải thêm cái gì mới bên ngoài. Vì thế nói huân tập, cũng nói tất cả chúng sanh đồng chứng viên giác. Tin mình có hạt giống Phật nên tinh tấn tu hành, đến lúc viên mãn thì thánh trí tự hiển lộ. Thế nên, Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác phi thường phi vô thường. Đại Huệ! Cho đến ngôn thuyết phân biệt sanh thì có lỗi thường vô thường. Phân biệt giác diệt thì lìa kiến chấp thường vô thường của ngu phu chẳng có tuệ tịch tĩnh, hằng lìa sự huân của thường vô thường, phi thường vô thường. Tất cả chúng sanh chẳng thành Vô thượng Chánh giác xét tột mà nói chẳng ngoài ngôn thuyết phân biệt hai thứ lỗi lầm. Do phân biệt mà khởi ngôn thuyết, lại nhân ngôn thuyết mà sanh phân biệt, chỗ nương của ngôn thuyết là lỗi tại phân biệt. Cho nên phân biệt giác diệt thì hai kiến chấp chóng lìa, không rơi vào ngu phu tuệ chẳng tịch tĩnh, khởi huân tập thường vô thường. Trên nói ngôn thuyết phân biệt sanh thì có lỗi thường vô thường, đến đây giải thích rõ ngôn thuyết và phân biệt là hai thứ lỗi lầm. Nhân phân biệt mà có ngôn thuyết, nghĩa là từ vọng tưởng phân biệt tốt xấu hay dở... bèn phát ra ngôn ngữ, duyên theo ngôn ngữ lại khởi phân biệt thêm một lớp nữa. Chúng sanh ở trong vòng lẩn quẩn điên đảo của ngôn thuyết và phân biệt, không thoát ra được. Phân biệt giác diệt thì hai kiến chấp chóng lìa, phân biệt giác tức là vọng thức phân biệt, thức này diệt thì kiến chấp về hai bên đối đãi chóng lìa. Lúc đó không rơi vào hàng phàm phu không có trí tuệ tịch tĩnh, không bị sức huân tập của thường vô thường. Sở dĩ chúng sanh phàm phu không được vắng lặng tịch tĩnh vì tâm luôn vọng khởi kiến chấp thấy hai, thương ghét tốt xấu, đáng ưa chẳng đáng ưa... Cứ sống với vọng động nên không thấy được tánh Như Lai chân thường. 4. TỔNG TỤNG Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Chúng cụ vô nghĩa là Sanh lỗi thường vô thường Nếu không phân biệt giác Hằng lìa thường vô thường. Chúng cụ vô nghĩa, là đủ tất cả vô nghĩa, không giác tự tâm hiện lượng thì tất cả đều không có nghĩa thật. Vì không thật nghĩa nên có lỗi thường vô thường. Từ kia lập nên tông Ắt có các nghĩa tạp Đẳng quán tự tâm lượng Ngôn thuyết không thể được. Từ kia lập nên tông, tức là dùng phân biệt lập tông thì có các nghĩa tạp loạn. Khi bình đẳng quán tự tâm hiện lượng mới biết tất cả ngôn thuyết không thể đến chỗ đó được. Chúng cụ vô nghĩa là chẳng giác tự tâm hiện lượng thì không gốc có thể y cứ, hội quy về vô cực, bên trong đã không nguồn thầm hợp thì bên ngoài ắt sanh lỗi phân biệt, đây là lý do rơi hai bên. Tự tâm hiện lượng hay tánh giác là gốc của tất cả pháp. Nếu không nhận được tánh giác thì tất cả sự vật đều không có chỗ nương, thấy sự vật tiêu diệt thì cho rằng chỗ cuối cùng của nó là vô cực, là chỗ rỗng không tột cùng. Bên trong không có chỗ trở về, bên ngoài thì theo thức phân biệt các pháp, từ đó rơi vào lỗi thấy hai, tâm luôn vọng động theo tốt xấu, thương ghét... Chư tổ dạy tu, bảo trước kiến tánh sau khởi tu. Tức là nhận ra tánh giác không phải là thường vô thường, sanh diệt, có không... Nhận được cội gốc sẵn có thì tâm không duyên theo cảnh, dừng được mọi vọng tưởng lăng xăng. Đây là cách tu chắc thật của nhà thiền. Thiền sư Pháp Thường Đại Mai sau khi ngộ nơi Mã Tổ, bèn vào núi kết cỏ làm am, ẩn tu trong rừng mai. Mã Tổ sai người đến thăm dò, bảo Sư rằng: Gần đây Mã Tổ nói phi tâm phi Phật. Sư thì ngộ câu tức tâm tức Phật của Mã Tổ, nhưng khi nghe lời nói khác với chỗ ngộ của mình, cũng không thay đổi. Để nói lên ý người nhận được bản tánh chắc thật thì không chạy theo bên ngoài, dù đó là lời của Thầy mình. Vì thế được Mã Tổ khen: Trái mai đã chín! Nếu bỏ phân biệt, giác được nguồn chân thì tự chứng bên trong chẳng rơi vào đoạn thường, song không thể y cứ nơi đây lập tông. Nơi đây mà lập tông vẫn là mê giác đối đãi nhau, các nghĩa tạp dấy, mà chẳng phải đẳng quán tâm lượng. Đẳng quán tâm lượng thì chỉ có thầm hợp nên chẳng phải ngôn thuyết đến. Giác tự tâm hiện lượng chỉ có tự chứng biết, không thể dùng ngôn ngữ nên không cho lập tông. Vì lập tông là thuộc về lý luận biện bác, dùng nhiều phương tiện ngôn ngữ thì trái xa pháp thể. VII- CHỈ CỘI GỐC SANH DIỆT ĐỂ HIỂN TÀNG THỨC TỨC NHƯ LAI TÀNG VỐN KHÔNG CẤU NHIỄM (Phân làm năm phần) 1. ĐẠI HUỆ THỈNH HỎI Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn lại vì con nói ấm giới nhập sanh diệt, kia không có ngã thì cái gì sanh cái gì diệt? Kẻ ngu phu y nơi sanh diệt chẳng giác khổ tận, chẳng biết Niết-bàn. Phật bảo: Lành thay! Lắng nghe! Sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo. Bồ-tát Đại Huệ hỏi Phật về cội gốc sanh diệt. Ý nói rằng nếu ấm giới nhập vô ngã thì cái gì sanh, cái gì diệt? Đã không có sanh diệt mà người ngu lại chấp thật có sanh diệt, không được hết khổ, không biết Niết-bàn. Hỏi tận cùng cội nguồn để nhận ra chỗ lầm mê, dứt lầm mê mới thật thấy bất sanh, đó là dụng ý của ngài Đại Huệ. Nhân đoạn trước phát minh Như Lai đã được vô gián trí thường, đoạn này lại lấy sanh diệt thưa thỉnh. Bởi vì chúng sanh chẳng đạt chân trí thường trụ, vọng thấy sanh diệt thật có lý do. Tánh ấm giới nhập vốn không tác giả mà sanh diệt rõ ràng. Bởi do chẳng giác Như Lai tàng tánh toàn thể đổi thành tàng thức cùng bảy thức thân chung, khởi các căn thức vin theo ngoại cảnh. Chúng sanh chẳng đạt chân trí thường trụ, vọng thấy sanh diệt thật có lý do, nghĩa là không nhận được thể tánh thường trụ nên thấy sanh diệt là thật có. Thể tánh thường trụ chính là tánh Như Lai tàng, mê Như Lai tàng bất giác hiện năm ấm. Chỗ vọng hiện không phải do ai tạo thì sanh diệt cũng như huyễn. Chúng sanh không thấy chỗ này, luôn ở trong tánh giác mà lầm nhận vọng thể của tàng thức, thấy thật có thân có cảnh. Bên trong có thức, bên ngoài có trần, sanh khởi phan duyên phân biệt nên luống chịu sanh tử nhọc nhằn. Đã có sanh diệt tuy không có ngã mà có tàng thức, bảy thức chẳng dứt. Đây là chỗ Nhị thừa không thể biết. Như Lai dạy bảo Bồ-tát thật là rành rõ nên phải xét kỹ. Hàng Nhị thừa tuy chứng ngộ ấm giới nhập vô ngã, nhưng cội gốc sanh diệt nằm trong tàng thức vẫn chưa dứt được, vì thế còn chịu biến dịch sanh tử. Phật dạy Bồ-tát nhận rõ sinh hoạt của tám thức, biết chỗ nương của chúng từ Như Lai tàng thì sẽ thấu tận nguồn gốc sanh diệt. Dù các kinh A-hàm không nói đến tàng thức, nhưng ngụ ý vẫn có tàng thức. Các kinh A-hàm nói về mười hai nhân duyên, từ vô minh rồi đến hành, thức, mới đến danh sắc. Thức có trước danh sắc, tức có trước thân năm ấm, thức này không phải là thức thứ sáu, vì thức thứ sáu phải đợi đủ căn trần mới có. Thức trong mười hai nhân duyên là thức thứ tám hay tàng thức, nó mang cả chủng tử của bảy thức trước để thọ sanh. Thức rồi đến danh sắc, nghĩa là khi thọ sanh thì có sắc là thân do cha mẹ sanh, trên thân sáu căn có sáu thức, đây là danh. Cái gì thúc đẩy thức đi thọ sanh? Đó là hành, sức vận động thúc đẩy tàng thức, trong đó các chủng tử thiện ác cái nào mạnh thì đi trước. Thí dụ buổi sáng chúng ta nghĩ đến làm việc gì, đi thăm người nào. Ý nghĩ nào mạnh thì thúc đẩy chúng ta làm trước, ý nghĩ nào yếu, không quan trọng thì để lại sau. Cũng vậy khi bỏ thân này, chủng tử thiện ác nào mạnh mẽ thì lôi dẫn chúng ta thọ sanh vào đường lành hoặc dữ. Chủng tử đó nằm trong tàng thức, nên nói tàng thức có trước danh sắc. Khi có thân thì bảy thức có mặt, khi thân hoại thì bảy thức ẩn trong tàng thức, tùy theo nghiệp mà thọ sanh trong ba cõi. Các kinh Nguyên thủy và kinh Đại thừa dường như khác mà không khác. Thời kỳ đầu tiên Phật không nói rõ về tàng thức vì sợ chúng sanh lầm chấp đó là tự ngã như ngoại đạo đề xướng. Đến đây nói rõ hơn. Nếu không có tàng thức thì không rõ lý do sanh diệt. Vì khi thân hoại thì sáu thức hoại nên không phải là lực thúc đẩy sanh tử. Cội gốc sanh tử nằm trong tàng thức, nên nói đã có sanh diệt tuy không có ngã mà có tàng thức, bảy thức chẳng dứt. 2. CHỈ NHƯ LAI TÀNG THANH TỊNH KHÔNG NHƠ Phật bảo Đại Huệ: Như Lai tàng là nhân thiện bất thiện, hay khắp khởi tạo tác tất cả thú sanh, ví như con hát biến hiện các thú, lìa ngã ngã sở. Vì chẳng giác kia nên ba duyên hòa hợp phương tiện mà sanh. Ngoại đạo chẳng giác chấp là tác giả. Vì từ vô thủy ác tập hư ngụy huân tập nên gọi là tàng thức. Sanh vô minh trụ địa cùng thất thức chung, như thân biển sóng, sanh mãi chẳng dứt. Lìa lỗi vô thường, lìa ngã luận thì tự tánh không nhơ cứu cánh thanh tịnh. Như Lai tàng là nhân thiện bất thiện, nghĩa là Như Lai tàng vốn thanh tịnh, nhưng khi mê biến thành tàng thức thì có chứa các chủng tử thiện ác, chủng tử này là nhân của tất cả đường lành đường dữ. Như con hát biến hiện các thú, lìa ngã ngã sở. Đây là thí dụ về chỗ biến hiện của tàng thức. Các đào kép diễn viên khi chưa đóng tuồng trên sân khấu thì chưa có tên vua, quan, dân thường... Khi đóng vai trò trong vở kịch hay tuồng hát thì người nào theo trách nhiệm đó, làm vua thì vỗ ghế ra lệnh, làm tướng thì cầm gươm dẹp giặc, làm dân thì bị sai khiến... Hết tuồng tích thì trở về vị trí của mình. Tất cả vai trò đều không thật, không có ngã và ngã sở. Tàng thức biến hiện trong các cõi cũng vậy, tùy theo nghiệp sắp đặt mình làm người lành kẻ dữ, thay đầu đổi mặt, sanh diệt di chuyển đều như trong tuồng hát. Đây là chỗ bất giác sâu kín. Vì mê nên Như Lai tàng biến thành tàng thức, cái bất giác mê này là vô minh trong mười hai nhân duyên. Như Lai tàng bỗng nhiên bị mất thể thanh tịnh biến thành tàng thức chứa các tập khí hư ngụy. Do sức huân biến của tập khí nên có căn thân thế giới và chúng sanh. Ngoại đạo không rõ đầu mối, cho thế giới chúng sanh được tạo thành từ tác giả, không biết tác giả cũng là hư ngụy. Phàm phu thì rong ruổi theo trần cảnh, hòa hợp ba duyên là căn, trần, thức khởi lên vọng tâm chấp trước tham đắm. Chấp trước tăng trưởng thành tập khí lần lượt huân vào tàng thức. Cứ thế nhân duyên xoay vần không dừng nghỉ. Biển là tàng thức, sóng là thất thức, sóng từ biển khởi lên, lại làm biển chuyển động, nên nói như thân biển sóng, sanh mãi chẳng dứt. Như Lai tàng là nhân thiện bất thiện, đây là yếu chỉ bí mật của ba đời Như Lai, chính cùng vọng tưởng không tánh lẫn nhau phát minh. Như Lai tàng đã là nhân thiện bất thiện thì Như Lai tàng cũng không có tánh, như con hát đóng các vai trò mà không có ngã và ngã sở. Nơi đây nếu giác thì tánh của không tánh vì chiếu liễu nên thất thức chẳng sanh, đã có trí dụng thảy đều bình đẳng. Trước tiên nêu ý chỉ bí mật là Như Lai tàng không tánh. Nếu Như Lai tàng quyết định là thiện thì không chứa chủng tử ác, nếu quyết định là ác thì không chứa chủng tử thiện. Vì nó là nhân của cả thiện và bất thiện nên không có tự tánh cố định. Luận Khởi Tín nói Chân như bất thủ tự tánh, luận Duy Thức nói Tánh của tàng thức là vô phú vô ký cũng nêu rõ ý này. Nếu giác biết thể tánh Như Lai tàng là vô tánh thì thất thức chẳng sanh. Bản chất của thất thức là chấp ngã, chấp cố định người thật cảnh thật, nay nương sự chiếu soi vô tánh thì tất cả chấp không còn, vì thế nói thất thức chẳng sanh. Nơi đây nếu chẳng giác thì Như Lai tàng đổi làm tàng thức, nên nói “trụ địa vô minh”, vì vô minh bất giác nên vọng động thành nghiệp là sanh kiến phần làm thất thức thân. Thất thức thân này tất cả phàm ngu ngoại đạo chấp làm ngã thể. Cho nên có thường kiến, chẳng phải thường chấp là thường, thảy rơi vào vô thường. Nếu lìa vô thường ngã kiến thì tự tánh không nhơ, cứu cánh thanh tịnh. Từ vô minh bất giác nên có kiến phần tướng phần chuyển sanh. Thức thứ bảy chấp kiến phần này làm ngã nên nói kiến phần làm thất thức thân. Phàm phu ngoại đạo chỉ biết đến thức thứ bảy, lại nương vào chỗ chấp của thức thứ bảy, cho là ngã thể thường còn. Không biết ngã thể này vốn không thật, chỉ do mê hiện nên nói chẳng phải thường chấp là thường, thế nên tất cả đều vô thường. Lìa tất cả lỗi về thường vô thường, nghĩa là dứt tất cả cái thấy sai lầm mới được rốt ráo thanh tịnh. Ngài Hàm Thị nêu lên chỗ tự tánh không nhơ lìa ngã chấp, tức là chúng sanh vốn không nhiễm, chỉ vì thức thứ bảy chấp kiến phần của thức thứ tám làm ngã, phá ngã chấp này thì thức thứ tám không còn bị vọng chấp, tàng thức chuyển thành Như Lai tàng thanh tịnh. Ba duyên là căn trần thức. Thức này gồm chỉ các thức cũng do thất thức dấy khởi đều thuộc kiến phần. Căn trần thuộc tướng phần, cũng chẳng rời kiến phần mà có hiện ra. Cho nên biết, ba cõi trong ngoài thành nơi thất thức, thảy do bất giác Như Lai tàng. Bởi tàng tánh không tánh nên mới tùy duyên. Tùy duyên nhiễm tịnh thiện bất thiện sanh. Chẳng phải thật có chủng tử, mà tất cả chủng tử đều y đó, nên nói từ vô thủy tập khí hư ngụy. Tàng tánh không cố định, thí dụ như nhà kho trống, không nhất định phải cất giữ cái gì. Nếu đưa vào hạt giống rau củ thì gọi là kho hạt giống, nếu đưa vào cuốc xẻng thì gọi là kho dụng cụ, nên nói chẳng phải thật có chủng tử. Nhà kho khi cất giữ đồ vật mới gọi là kho, khi không cất giữ thì không còn tên nhà kho. Cũng vậy, sở dĩ gọi tàng thức vì chứa tập khí chủng tử, các chủng tử này không thật có, chỉ là hơi hám hư dối, một khi gột sạch chấp trước thì không còn tập khí, không còn chủng tử để chứa đựng, tàng thức trở thành Như Lai tàng thanh tịnh. Vì chủng tử không thật chúng ta mới có thể tu, nếu chủng tử cố định thật thì không bao giờ tu sửa được, Như Lai tàng cũng không thể hiển bày. 3. RIÊNG PHÀM NGU Y THỨC GIẢI THOÁT CHẲNG THẤY NHƯ LAI TÀNG TÁNH Đây nói về Nhị thừa nương vào thức diệt cho là giải thoát, không thấy được tánh Như Lai tàng. Kỳ dư các thức có sanh có diệt. Ý, ý thức... niệm niệm có thất thức, nhân vọng tưởng chẳng thật chấp các cảnh giới, các thứ hình xứ, chấp trước danh tướng. Chẳng giác sắc tướng tự tâm hiện ra, chẳng giác khổ lạc, chẳng đến giải thoát, danh tướng các thứ trói buộc, tham sanh rồi sanh tham, hoặc nhân hoặc phan duyên, các thọ căn kia diệt, thứ lớp chẳng sanh. Còn tự tâm vọng tưởng chẳng biết khổ vui, vào Diệt thọ tưởng chánh thọ, đệ tứ thiền. Nói về phương diện vọng khởi của các thức, mỗi thức đều có sanh diệt. Tất cả bảy thức đều sanh diệt liên tục nên nói niệm niệm có thất thức. Lý do của sanh diệt là vì vọng tưởng chấp trước các cảnh giới, các hình tướng, chỗ nơi, danh tự... Nhìn sâu vào vọng tưởng, chúng ta thấy vì tâm chạy theo cảnh giới bên ngoài cho là thật, chấp trước không buông nên vọng khởi liên miên, ý này nối ý khác. Đó là biển tâm đã bị sóng thức nhồi nên chao động không dừng, nói sanh diệt chính là nói sức vận động không yên của bảy thức. Chẳng giác sắc tướng tự tâm hiện, vì không biết các sắc tướng bên ngoài đều từ tâm hiện. Sắc tướng tốt hoặc xấu, tâm niệm vui buồn đều do tự mình hiển hiện, biết rõ tự tâm hiện thì không bị trói buộc, đó là giác, nếu mê tự tâm thì bị cảnh trói. Tham sanh rồi sanh tham, thân chúng ta do tham ái sanh ra, có thân này rồi tham luyến thân này, vì thế sanh tử liên miên tiếp nối không dừng. Nhị thừa quán nguyên nhân sanh tử từ cảm thọ, dừng cảm thọ thì các vọng tưởng chẳng sanh, nên nói các thọ căn kia diệt, thứ lớp chẳng sanh. Diệt thọ rồi, các vọng tưởng khổ vui im bặt, nhập Diệt thọ tưởng định, cho đó là giải thoát. Đây là nói lý do sanh diệt và cảnh giới Nhị thừa chấm dứt sanh diệt, chưa phải chân thật diệt. Các thức là chỉ cho thất chủng thức. Mê Như Lai tàng chuyển làm thức tàng mà có thất thức thân, một lúc các thức chóng hiện. Niệm niệm có thất thức là các thức đều có thất thức chủ trì. Mỗi thức khi phát khởi đều mang tính chất chấp ngã, trong khi phân biệt đã ngầm có thức thứ bảy. Chúng ta suy nghĩ vấn đề gì đều mang tính chấp ngã, cho người vật đó là dễ thương hay khó thương v.v... cũng là theo ý của mình. Thức thứ bảy chủ trì trong các thức kia, khi các thức không hoạt động, như lúc bất tỉnh, ngủ say mà thức thứ bảy vẫn còn. Do đó vọng tưởng chẳng thật nhảy vọt chuyển sanh nhiếp thủ cảnh giới, chẳng rõ danh tướng trước mắt do tự tâm hiện. Lại y danh tướng sanh thọ khổ lạc, tham sanh sanh tham triền miên chẳng dứt. Do thọ làm nhân, danh tướng làm duyên. Diệt thọ khổ lạc thì danh tướng chẳng sanh. Tất cả vọng tưởng tạm được dừng nghỉ thành Diệt tận định và Tứ thiền định. Chẳng biết thọ vốn vô ngã thì sanh thọ diệt thọ đều là hư vọng. Đây là phàm phu nhàm lìa sanh diệt mà không có quán kỹ khởi tưởng Diệt tận. Chúng sanh mê chấp danh tướng sanh khởi tham ái do thọ làm nhân danh tướng làm duyên. Hàng Nhị thừa tu quán, dừng các cảm thọ, danh tướng không sanh khởi nên các vọng tưởng tạm dừng nghỉ. Được Diệt tận định và Tứ thiền xả niệm thanh tịnh, cho là được giải thoát. Thật ra chưa thấu được cội gốc là Như Lai tàng, nên dù được Diệt thọ định cũng vẫn là hư vọng. Người khéo tu hành chân đế giải thoát, khởi tưởng giải thoát, chẳng lìa chẳng chuyển tên Như Lai tàng thức tàng thì thất thức lưu chuyển chẳng diệt. Vì cớ sao? Vì kia nhân phan duyên các thức sanh. Chẳng phải cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác tu hành. Chẳng giác vô ngã thì tự tướng cộng tướng nhiếp thọ, sanh ấm giới nhập. Thấy Như Lai tàng thì ngũ pháp, ba tự tánh, nhân pháp vô ngã ắt diệt. Người khéo tu chân thật giải thoát phải lìa và chuyển tên thức tạng Như Lai tàng, vì nếu chẳng chuyển thì thất thức vẫn còn hoạt động. Thí dụ nhà kho nếu còn chứa cất đồ đạc, còn đem ra đem vào thì vẫn còn tên là kho chứa đồ. Khi không còn tất cả vật dụng trong đó, nhà trống sạch trơn không còn mang tên nhà kho. Thất thức có tính chấp ngã, chấp tàng thức là ngã thể của nó, luôn luôn huân phát chủng tử khiến Như Lai tàng không thanh tịnh. Khi thất thức không còn phan duyên chấp ngã, các thức kia cũng không khởi tác dụng phân biệt, không còn chủng tử nào để chứa cất. Tàng thức được lìa chủng tử nên không còn tên tàng thức, khi chuyển thức thành trí là chỉ đổi tên gọi, thể vắng lặng thanh tịnh hằng thường không mất. Nhị thừa được chân đế giải thoát riêng nơi Tứ thiền. Song do chẳng chuyển tàng thức làm Như Lai tàng thì thất thức chẳng diệt. Nghĩa là thất thức cùng tàng thức làm nhân, lại duyên tàng thức mà được sanh trụ, nên nói “y kia trở lại duyên kia”. Y kia trở lại duyên kia, tức là đệ thất thức y nơi tàng thức lại duyên kiến phần tàng thức làm ngã. Nhị thừa chẳng giác tự tâm hiện ra, chẳng biết cảnh hiện duy tâm, không có pháp tánh. Chỉ nơi ấm nhập giới phát minh vô ngã, lìa được nhiếp thủ vẫn còn pháp tự tướng cộng tướng của ấm nhập giới. Đây tức là tập khí thất thức chẳng diệt. Hàng Nhị thừa chỉ dứt được nhân tạo ra ấm giới nhập của đời sau. Lìa được nhiếp thủ, tức là nhập Diệt thọ tưởng định, nhưng định này có xuất nhập, nên khi xuất định vẫn chưa được thật sự giải thoát, vì còn tập khí thất thức. Thức này cần chuyển tàng thức làm Như Lai tàng mới biết danh, tướng, vọng tưởng đương thể toàn không, chánh trí, như như cũng là nói suông, đến đây mới gọi nhân pháp vô ngã. Chẳng giác vô ngã, chính là nói chẳng giác pháp vô ngã. Nhị thừa chỉ chứng nhân không mà chẳng chứng pháp không. Vì chẳng đạt Như Lai tàng tánh thì chẳng lìa tàng thức. Chẳng lìa tàng thức thì thất thức ắt chẳng diệt. Thất thức chẳng diệt mà nói nhân không, chỉ không cái ngã trong tam giới, mà cái ngã tập khí của bát thức thật còn chẳng giác. Chỉ quán ấm giới nhập không, chứng được chân đế, chẳng sanh ái thủ, đoạn được nhân tam giới, phần ngoại ngã thất thức diệt mà phần nội ngã chẳng diệt, nên nói “chẳng giác vô ngã”. Đây giải thích lý do chẳng lìa tàng thức thì chẳng thấu đạt tánh của Như Lai tàng. Nhị thừa chỉ chứng được tướng ngã không, vẫn còn ngã tập khí của bát thức. Còn tập khí nên Như Lai tàng chưa thật thanh tịnh, đây gọi là phần ngoại ngã thất thức diệt mà phần nội ngã chẳng diệt. Phần ngoại ngã tức là bảy thức tạo nhân sanh tử kiếp sau đã diệt, phần nội ngã là gốc trong thức thứ tám chưa diệt nên nói nội ngã chẳng diệt. 4. CHỈ NHƯ LAI TÀNG TỰ GIÁC CHÓNG LÌA SANH DIỆT CHẲNG PHẢI NHỊ THỪA Địa thứ lớp tương tục chuyển tiến, các kiến chấp ngoại đạo không thể làm khuynh động, ấy gọi là trụ Bồ-tát Bất động địa, được mười thứ tam-muội đạo môn lạc. Do tam-muội giác gia trì, quán sát Phật pháp bất tư nghì, tự nguyện chẳng thọ tam-muội môn lạc và thật tế, hướng đến tự giác thánh thú, chẳng chung chỗ tu hành với tất cả Thanh văn, Duyên giác và các ngoại đạo, được mười chủng tánh đạo hiền thánh và thân trí ý sanh, lìa tam-muội hạnh. Thế nên, Đại Huệ! Đại Bồ-tát muốn cầu thắng tiến phải sạch tên Như Lai tàng và thức tàng. Đức Phật dạy hàng Bồ-tát từ Sơ địa đến Bát địa, không nên dừng trụ trong cái vui tam-muội, tức là tự nguyện chẳng thọ tam-muội môn lạc mà luôn luôn hướng đến tự giác thánh thú tức là hướng đến quả vị Phật, vì thế không đồng với Thanh văn, Duyên giác. Đại Bồ-tát muốn cầu thắng tiến phải sạch tên Như Lai tàng và Thức tàng, tức là chuyển tên thức tàng thành Như Lai tàng trong sạch, mới tiến lên quả Phật. Nương trên nói thấy Như Lai tàng, diệt thất thức thân thì hay tùy địa thứ lớp chuyển tiến, chẳng bị ngoại đạo làm dao động. Đây chính là đệ bát Bất động địa, nên nói “trước Bất động địa vừa xả tàng”. Xả tàng thức thì chánh thọ hiện tiền, do được Như Lai tự giác làm giác gia trì, phát bi nguyện, nên hay chẳng thọ tam-muội môn lạc và trụ thật tế. Thật tế là chân như thật tế. Trụ nơi chân như thật tế thì thấy không Phật có thể thành, không chúng sanh đáng độ, nên chẳng trụ thật tế, y trí khởi dụng. Nên nói “tự giác thánh thú chẳng chung chỗ tu hành với Nhị thừa và các ngoại đạo”. Mười hiền thánh chủng tánh tức là Thập địa chủng tánh. Nghĩa là từ Thập địa cho đến Phật địa được ba thứ thân, lìa tam-muội viên mãn Bồ-đề. Bồ-tát đến đệ bát địa mới xả tên tàng thức, tức là các chủng tử trong tàng thức đã dứt sạch, tâm tự nhiên lặng lẽ thanh tịnh, gọi là chánh thọ hiện tiền. Được sức tự giác giữ gìn nên khởi bi nguyện độ sanh, không trụ mãi trong tam muội và chỗ thật tế. Vì trụ nơi chỗ thật tế thì thấy Phật và chúng sanh đều bình đẳng, không có Phật để thành và chúng sanh để độ, nếu trụ mãi chỗ này không thể khởi dụng độ sanh, vì thế Bồ-tát không trụ. Bồ-tát Bát địa độ sanh viên mãn mới tiến lên Thập địa, thành tựu Bồ-đề. Cho nên người muốn được thắng tiến phải khéo rành tên Như Lai tàng và thức tàng. Bởi vì Như Lai tàng và thức tàng một thể hai tên, mê ngộ khác vậy. Vì lẽ Như Lai tàng vốn tự không tánh, tánh không tánh ấy rất chân rất tịch. Tột chỗ chân tịch liền là vô minh, vô minh vô thủy bất giác vọng kiến, kiến vọng vốn là không, chẳng lìa bản tế. Nếu hay giác chỗ này thì an trụ tâm hải, lại không riêng có. Thân tức là pháp thân. Trí tức là báo thân. Ý sanh tức là hóa thân. Chuyển bát thức được tên pháp thân, chuyển thất thức được tên báo thân, chuyển đệ lục ý thức được tên hóa thân. Trong khoảng sát-na ngộ mê đã chuyển nên nói “chỉ chuyển tên kia không có thật tánh”. Khéo rành tên Như Lai tàng và thức tàng, khéo rành là biết được sự sai khác giữa Như Lai tàng và thức tàng. Tuy hai tên nhưng một thể, chỉ vì huân chứa chủng tử mà thành tên thức tàng. Mê vọng lầm chấp luôn tạo thành tập khí nhiễm ô khiến Như Lai tàng không thanh tịnh. Tánh Như Lai tàng rất chân thật lặng lẽ, ngay nơi mé chân ấy bất giác khởi vô minh vọng kiến. Thấy tột chỗ chân tịch khởi vọng đó mới biết được gốc vô minh. Vô minh từ buổi nào chúng ta không biết, có vô minh mới có bất giác vọng kiến, nhưng vọng kiến này cũng không thật, không rời bản tế chân thật. Vì thế Như Lai tàng là mé chân, thức tàng là mé vọng, tuy có hai tên mà đồng một thể. Nếu hay giác chỗ này thì an trụ tâm hải, lại không riêng có, tức là giác được bản tế đồng thể này, tự nhiên lìa tên thức tàng mà an trụ biển tâm, ngoài biển tâm không có riêng Như Lai tàng hay thức tàng. Ngài Hàm Thị chỉ rõ tận cùng chỗ chân thật tuy thấy có chia nhiều tên, nhiều lầm chấp vọng tưởng, nhưng tột cùng chỉ một nguồn. Thiền sư Pháp Thường Đại Mai dạy: “Tất cả các ngươi mỗi người tự xoay tâm lại tận nơi gốc, chớ theo ngọn của nó. Chỉ được gốc thì ngọn tự đến.” Nhận được gốc rồi thì diệu dụng tự tại, các thức trong một lúc đều thành ba thân Phật. Đại Huệ! Nếu không thức tàng gọi là Như Lai tàng, ắt không sanh diệt. Đại Huệ! Song các phàm thánh thảy có sanh diệt. Người tu hành tự giác thánh thú hiện trụ pháp lạc, chẳng bỏ phương tiện. Nếu Như Lai tàng không mang tên thức tàng thì không có sanh diệt, vì Như Lai tàng là thể thanh tịnh vắng lặng. Song các phàm thánh thảy có sanh diệt, phàm đây là phàm phu, thánh là các bậc Nhị thừa cho đến Thất địa, đều chưa lìa thức tàng nên vẫn còn trong vòng sanh diệt. Đại Huệ! Như Lai tàng thức tàng này, tất cả Thanh văn, Duyên giác tâm tưởng thấy được, tuy tự tánh thanh tịnh mà bị khách trần che đậy vẫn thấy chẳng tịnh, chẳng phải chư Như Lai. Đại Huệ! Như Lai ấy, cảnh giới hiện tiền, như trong lòng bàn tay xem trái a-ma-lặc. Đây nói thấy Như Lai tàng là trừ sạch hiện lưu tuy cũng chẳng bỏ phương tiện mà chẳng đồng với Nhị thừa. Mê Như Lai tàng mà làm thức tàng thì toàn thể là sanh diệt. Như thật biết thức tàng tức Như Lai tàng thì sanh diệt chóng lìa. Mà các phàm thánh thảy có sanh diệt, nên người tu hành thấy tự giác trí vẫn chẳng bỏ pháp lạc phương tiện. Nên nói: “Biết rõ sanh là tánh chẳng sanh, làm sao bị sanh diệt lưu chuyển?” Thấy Như Lai tàng là trừ sạch hiện lưu, tức là dứt sạch các chủng tử trôi chảy trong tàng thức. Không đồng Nhị thừa là tuy dứt dòng sanh diệt nhưng vẫn khởi phương tiện độ sanh. Bồ-tát khi được tự giác tức là thấy ngay khi sanh là tánh bất sanh, vì thế các ngài không sợ sanh diệt, hằng ở trong sanh tử cứu giúp chúng sanh. Như Lai do sức kia chưa đầy đủ nên có phương tiện. Phương tiện này chẳng phải nói Như Lai tự tánh vẫn có bất tịnh. Như Nhị thừa tâm tưởng thấy được, tuy biết tự tánh thanh tịnh mà do khách trần che đậy vẫn thấy bất tịnh, có được tam-muội pháp lạc đều thành thật pháp. Chẳng bằng người tự giác tu hành thấy rõ tự tánh, chỉ dùng phương tiện chóng trừ hiện lưu. Cho nên biết, thấy tánh không thể chẳng rõ. Nêu Như Lai chính thấy cảnh giới hiện tiền chẳng phải một chẳng phải khác, như xem trái a-ma-lặc trong lòng bàn tay, lại không còn nghi ngại. Như Lai do sức kia chưa đầy đủ nên có phương tiện, ý nói các bậc tu hành chưa đủ sức tự giác nên Phật lập phương tiện thứ lớp dẹp trừ, không phải trong tự tánh Như Lai có thứ lớp tu chứng. Nếu biết chỗ tu chứng và các tam-muội đều là phương tiện giả lập thì không nên cho là thật mà an trụ. Đại Huệ! Ta nơi nghĩa này dùng thần lực dựng lập khiến phu nhân Thắng Man và chư Bồ-tát trí sáng đầy đủ v.v... tuyên dương diễn nói tên Như Lai tàng và thức tàng, thất thức chung sanh. Thanh văn chấp trước thấy nhân pháp vô ngã, cho nên phu nhân Thắng Man nương oai thần Phật, nói cảnh giới Như Lai chẳng phải cảnh giới Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo. Như Lai tàng và thức tàng chỉ là cảnh giới Phật và những Bồ-tát trí tuệ sắc bén y nơi nghĩa. Thế nên, ông và các vị đại Bồ-tát đối với Như Lai tàng thức tàng phải siêng tu học, chớ có chỉ nghe hiểu khởi tưởng biết đủ. Phu nhân Thắng Man là con của vua Ba-tư-nặc và hoàng hậu Mạt-lợi. Trong pháp hội của Phật, bà tuyên nói về cảnh giới Như Lai tàng thanh tịnh, không phải chỗ của hàng Nhị thừa đạt được. Đây Phật dạy rằng do sức thần của Phật nên khiến Thắng Man và các Bồ-tát trí sáng đầy đủ nói về Như Lai tàng chuyển động mang tên thức tàng, cùng sanh khởi với thất thức. Như Lai tàng tên thức tàng cùng thất thức chung, đây chẳng phải cảnh giới Nhị thừa. Bởi vì Nhị thừa chẳng tin thức thứ tám tức Như Lai tàng. Cho nên đối với ngã thấy vô ngã, thường thấy vô thường, ấy là tưởng đảo. Vì trừ cái tưởng này nên nói thức tàng tức Như Lai tàng, khiến biết tâm ý ý thức đều không tự tánh, thấy pháp vô ngã, được cái chân ngã, đây là cảnh giới chư Phật. Trừ phu nhân Thắng Man và những vị Bồ-tát trí bén, không có người hay biết được, cho nên Phật răn Bồ-tát chớ khởi tưởng biết đủ. Đối với ngã thấy vô ngã, tức là có Như Lai tàng mà không biết, cho rằng vô ngã là rốt ráo chân thật. Như Lai tàng là thường mà tưởng tất cả pháp vô thường, nên gọi là tưởng điên đảo. Phật muốn dẫn đạo cho tất cả Thanh văn, Duyên giác cùng Bồ-tát tiến đến cảnh giới Như Lai tàng thanh tịnh, nên nói rõ thức tàng tức Như Lai tàng. Tất cả hoạt động của tâm ý ý thức đều không có thật tánh, không nên chấp trước, nên nói tâm ý ý thức đều không tự tánh. Lìa tâm ý ý thức là lìa tất cả tám thức mới chứng được chân ngã. 5. TỔNG TỤNG Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Như Lai tàng sâu kín Mà cùng thất thức chung Hai thứ nhiếp thọ sanh Người trí ắt xa lìa. Như Lai tàng sâu kín khi chứa chủng tử thì biến thành tàng thức và bảy thức chung hợp, từ đó có hai thứ nhiếp thọ là năng nhiếp và sở nhiếp. Người trí nên xa lìa hai bên ấy. Như gương tượng hiện tâm Tập khí vô thủy huân Người như thật quán sát Các sự thảy vô sự. Năng nhiếp sở nhiếp giống như hình tượng hiện trong gương, chỉ vì tập khí từ vô thủy huân tập thấy tất cả cảnh đối đãi cho là thật. Người quán sát đúng như thật thì nơi tất cả sự trở thành vô sự. Thấy đẹp xấu, nghe hơn thua... đều biết là giả, thì mọi sự không quan trọng nên thành vô sự. Khi thấy thật thì mỗi sự là một sự, vì nhiều sự nên thành đa sự. Như ngu thấy chỉ trăng Xem tay chẳng thấy trăng Người chấp trước danh tự Chẳng thấy ngã chân thật. Văn tự của Phật giảng dạy trong kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng, chúng ta chấp văn tự không thấy được thật ngã, như người ngu chỉ thấy ngón tay mà không thấy mặt trăng. Tâm là con hát giỏi Ý như đánh đàn hay Năm thức là bè bạn Vọng tưởng, chúng xem hát. Mỗi chúng ta là một hý trường. Tâm là con hát giỏi diễn đủ trò giả dối, ý hòa nhịp theo tâm, tức là thất thức như người đánh đàn cho con hát. Năm thức là bè bạn, khi mắt thấy sắc... ý thức liền chạy theo khởi phân biệt, nhãn thức... không đứng riêng một mình. Vọng tưởng, chúng xem hát, tất cả vọng tưởng như khán giả xem hát hùa theo khóc cười. Kệ nói Như Lai tàng sâu kín mà lược nói thức tàng. Nghĩa là tức thức tức tánh, chân như vô minh an trụ sâu kín. Tuy có thất thức ngã, vọng thấy tự tha, như gương không tâm mà hiện các hình tượng, dụ vô minh vọng tập tùy duyên chóng hiện, như thật mà quán trọn không việc ấy. Người trí liễu đạt đương thể xa lìa, kẻ ngu xem ngón tay chẳng thấy chân thật, đây là lý do phân mê giác vậy. Bát thức không tánh thọ huân tùy duyên biến hiện, nên như con hát, thất ý nhân trong, duyên ngoài nên như người đánh đàn, năm thức góp trần nên như bạn bè, lục thức phân biệt như chúng xem hát. Thảy do vọng hiện chẳng phải có sự thật. Tức thức tức tánh, thể của thức tàng là Như Lai tàng. Như Lai tàng tức là chân như, thức tàng tức là vô minh, chỗ an trụ của nó sâu kín khó biết. Tuy có đệ thất thức chấp ngã hiển hiện, song Như Lai tàng vốn vô tâm, như gương hiện cảnh. Tất cả chủng tử vô minh chấp ngã trên Như Lai tàng đều không có thật, người trí biết rõ tánh vốn vô tánh thì ngay đó trừ vọng. Tánh của thức thứ tám là vô ký, không nhất định thiện hay ác, cũng như con hát tùy theo vai trò mà diễn. Thức thứ bảy theo thức thứ tám chấp ngã nên gọi là nhân trong, kết hợp với thức thứ sáu nên gọi là duyên ngoài. Tất cả diễn biến của tám thức trong tâm chúng ta đều do vọng hiện không thật. Nếu thấy cuộc đời, tất cả cảnh sống đều như một hý trường thì chúng ta chỉ cười cho qua, không có gì bận tâm. Đó là người giác ngộ không theo cảnh. G. CHỈ TÁM THỨC, NĂM PHÁP, BA TỰ TÁNH, HAI VÔ NGÃ CỨU CÁNH ĐẠI THỪA THÀNH ĐỆ NHẤT NGHĨA (Phân làm hai phần) I- CHỈ NĂM PHÁP CHUYỂN BIẾN 1. BÀY TƯỚNG NĂM PHÁP Khi ấy Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tướng năm pháp, tự tánh, thức, hai thứ vô ngã, phân biệt cùng tột, con và các đại Bồ-tát khác đối tất cả địa thứ lớp tương tục, phân biệt pháp này vào tất cả Phật pháp, vào tất cả Phật pháp cho đến Như Lai tự giác địa. Bồ-tát Đại Huệ xin Phật chỉ dạy về tướng năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã. Các đại Bồ-tát biết rõ về các pháp này tức là thâm nhập Phật pháp, tu tiến đến quả vị Phật. Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Năm pháp, tự tánh, thức, hai thứ vô ngã, phân biệt rõ tướng, nghĩa là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như. Nếu người tu hành tu vào Như Lai tự giác thánh thú, lìa kiến chấp đoạn thường có không v.v... Hiện pháp lạc chánh thọ trụ hiện ở trước. Đại Huệ! Chẳng giác năm pháp, tự tánh, thức, hai vô ngã, tự tâm hiện ngoại tánh, là phàm phu vọng tưởng chẳng phải chư hiền thánh. Phật dạy người không giác ngộ năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều do tự tâm hiện, người ấy là phàm phu vọng tưởng không phải chư hiền thánh. Bậc tu hành khéo ngộ năm pháp... sẽ đạt được tự giác thánh trí, lìa kiến chấp hai bên, được vui chánh định hiện tại. Đây hỏi năm pháp, tự tánh, thức, hai vô ngã cứu cánh sai biệt. Hỏi chung bốn thứ, đáp riêng bày năm pháp, trên tuy mỗi pháp rành rõ, mà ý thì ba thứ đều vào năm pháp. Giác danh, tướng, vọng tưởng không có tự tánh, liền hay phát minh chánh trí, chứng được như như. Ngài Đại Huệ hỏi chung về năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã. Đức Phật chỉ nói riêng năm pháp, nghĩa là nếu thông suốt pháp này thì các pháp kia cũng hiểu rõ. Nếu chúng ta giác biết danh, tướng, vọng tưởng là hư dối không có thật thể thì liền đó phát minh chánh trí, chứng được như như. Danh là tên, tướng là hình thể, tất cả các pháp hiện có trên thế gian không ra ngoài danh và tướng, có pháp chỉ có danh, có pháp không có danh cố định, chỉ tùy địa phương mà đặt tên... Nhưng danh hay tướng đều do duyên hợp tạm có, trên pháp duyên hợp mà khởi vọng tưởng phân biệt thì vọng tưởng cũng không thật. Biết danh, tướng không thật là chánh trí, có chánh trí thì không khởi vọng tưởng, tâm được như như. Cũng trên các pháp hiện tiền, người được chánh trí như như là chuyển phàm thành thánh không cần tìm cầu ngoài thế gian. Người tu hành này bởi vào tự giác thánh thú chẳng thấy ngoài tâm có pháp, liền khi ấy xa lìa các kiến chấp đoạn thường có không, hiện pháp lạc trụ, là cảnh giới thánh hiền, chẳng phải phàm ngu có phần. Nghĩa là phàm ngu không tự giác thánh thú, cho nên chẳng giác năm pháp tự tánh thức hai vô ngã thảy duy tâm lượng, mà ở ngoài tâm riêng thấy pháp tướng, tuy chánh trí, như như đều là vọng hiện. Người tu hành được tự giác thánh thú biết tất cả pháp không thật nên xa lìa các kiến chấp đoạn thường, có không... Như thế tâm luôn luôn an trụ nơi pháp lạc, không bị nhiễu động. Phàm phu vì thấy ngoài tâm có pháp thật, không đạt được cảnh giới tự giác thánh nên cho là năm pháp, ba tự tánh... đều có riêng bên ngoài. Không thấu đạt duy tâm thì dù có chánh trí như như, cũng hiện ra không thật. 2. CHỈ DANH TƯỚNG THẢY DO VỌNG TƯỞNG Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Thế nào ngu phu vọng tưởng sanh, chẳng phải chư thánh hiền? Phật bảo Đại Huệ: Ngu phu chấp trước tục số danh tướng, tùy tâm trôi giạt. Trôi giạt rồi các thứ tướng mạo, rơi vào kiến chấp ngã ngã sở hy vọng. Chấp trước sắc đẹp, chấp trước rồi không biết che ngại nên sanh nhiễm trước. Nhiễm trước rồi, tham sân si sanh nghiệp chứa nhóm. Chứa nhóm rồi vọng tưởng tự trói, như tằm làm kén, rơi trong biển sanh tử, đồng hoang các cõi, như bánh xe nước. Ngài Đại Huệ hỏi về chỗ sanh khởi vọng tưởng, vì vọng tưởng là đầu mối chấp trước khiến các pháp không được như như. Phật dạy lần lượt từ cạn đến sâu. Đầu tiên là chấp danh tướng thế gian nên tâm mất thể tĩnh lặng gọi là tùy tâm trôi giạt. Tâm bị động, thấy các tướng mạo, chấp theo chỗ mong muốn về ngã, ngã sở, nên thấy có đẹp xấu, vừa lòng thích ý... Bị vô tri che mờ tánh sáng suốt, không biết các pháp vọng hiện mà sanh tham đắm. Có tham đắm thì có nhóm họp ba nghiệp, tham sân si gây nghiệp, nghiệp tạo thêm tham sân si, tự tạo tự trói, vì thế lẩn quẩn trong sanh tử. Nói các cõi luân hồi như đồng hoang là nói chỗ không thật, ba cõi như huyễn. Chúng sanh lên xuống như bánh xe nước quay mãi không dừng, hết lên rồi xuống không thoát ra khỏi. Như vậy nguồn gốc khởi đầu chỉ là chấp danh tướng mà đưa dẫn đến thọ sanh các cõi, vì thế trong năm pháp nêu nó trước nhất. Bởi vì ngu si không thể biết tự tánh như huyễn, sóng nắng, trăng đáy nước, lìa ngã ngã sở, khởi tất cả vọng tưởng chẳng thật, lìa năng tướng sở tướng và sanh trụ diệt, từ tự tâm vọng tưởng sanh, chẳng phải Tự Tại, thời tiết, vi trần, thắng diệu sanh. Phàm phu ngu si theo danh tướng trôi. Đây nói lý do vì sao khởi vọng tưởng để trôi lăn trong lục đạo. Chỉ vì không biết tự tánh các pháp như huyễn, như sóng nắng ngoài đồng hoang, như trăng trong nước. Tất cả các pháp tuy có danh tướng hiện tiền, nhưng danh tướng đó là giả tạm, chợt hiện chợt không, bản chất hư ảo. Danh tướng không phải là ta, không thuộc về ta, nên nói lìa ngã, ngã sở. Có tướng mà không thật, dù thấy sanh trụ diệt cũng như huyễn, vì thế nói lìa năng tướng, sở tưởng và sanh trụ diệt. Thiền sư Từ Minh nói: Chết như cởi áo trời hạ, sanh như đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sanh phiền não. Thấy được chỗ như huyễn này thì không thấy thật có sanh trụ diệt, chúng ta vốn vô sự mà lại chấp trước để khởi phiền não. Tất cả danh tướng từ vọng tưởng sanh chẳng phải có nhân khác, để rõ ngoại đạo chấp nhân khác đều do chẳng đạt danh tướng không có tự tánh, chính nơi ấy vô sanh. Tất cả thế gian nhân danh sanh tướng, tướng sanh vọng tưởng, vọng tưởng không biết theo tướng nhiễm trước, khởi tham sân si, kết các nghiệp trói buộc như tằm làm kén lưu chuyển sanh tử như bánh xe nước. Chẳng biết tất cả danh tướng đều không tự tánh, như sóng nắng, trăng đáy nước, không ngã ngã sở, chỉ do vọng tưởng chẳng thật lập bày, chẳng phải có nhân khác. Nói có nhân khác như Tự Tại, thời tiết v.v... thảy do phàm phu ngu si chẳng đạt danh tướng theo danh tướng mà lưu chuyển. Danh tướng không có tự tánh, chính nơi ấy vô sanh, nếu ngay nơi danh tướng biết rõ không có thực thể, thì cũng ngay danh tướng ấy được vô sanh. Biết vô sanh thì không chấp có nhân khác sanh ra thế giới như ngoại đạo. Biết danh tướng không thật thì không theo vọng tưởng khởi nhiễm trước sanh tham sân si. Được giải thoát hay bị trói buộc cũng từ danh tướng, thấu rõ gốc ngọn thì tự nhiên lìa vọng chứng chân. 3. CHUYỂN VỌNG TƯỞNG TỨC TRÍ, NHƯ Đại Huệ! Tướng kia là chỗ soi của nhãn thức gọi là sắc, chỗ soi của nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý, ý thức gọi là thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là tướng. Đại Huệ! Vọng tưởng kia lập bày các danh, hiển hiện các tướng. Như đây chẳng khác tên voi, ngựa, xe, bộ hành, nam, nữ v.v... ấy gọi là vọng tưởng. Phật dạy thế nào là danh, thế nào là tướng. Tướng chính là trần cảnh, qua sự chiếu soi của sáu căn, sáu trần hiển hiện bóng dáng của nó. Nếu khi các tướng hiện bày mà không có các thức khởi phân biệt, không lập bày tên tuổi thì các pháp ở yên vị trí. Chính vì vọng tưởng kia lập bày các danh, hiển hiện các tướng, chúng ta duyên theo tướng đặt tên đây là voi, đây là ngựa... Khi an danh cho các pháp thì mỗi pháp có tên riêng tướng riêng, vọng tưởng y cứ vào các pháp riêng biệt mà sanh chấp trước, pháp này không phải là pháp kia, nên nói như đây chẳng khác. Đại Huệ! Chánh trí là biết danh tướng kia không thể được, ví như khách đi qua, các thức chẳng sanh, chẳng đoạn chẳng thường chẳng rơi vào chỗ tất cả ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác. Chánh trí là trí tuệ biết danh tướng không thể được tức là không thật, ví như người khách đi qua không dừng, không ở một chỗ. Danh tướng chỉ tạm có, như chúng ta sanh ra tạm gọi tên A, tên B, tạm có hình tướng đẹp xấu. Tên gọi và tướng mạo chỉ có trong thời gian, vì thế tất cả thức phân biệt theo danh tướng cũng tạm có không thật. Biết tạm có giả danh thì không rơi vào kiến chấp ngoại đạo. Đây lại chỉ rõ vọng tưởng lập bày, khiến đạt danh tướng chẳng thật liền chuyển vọng tưởng mà làm chánh trí. Do chỗ soi của căn thức khởi ra các tướng sắc v.v… Lại do vọng tưởng phân biệt lập bày các danh, các tướng càng bày. Nếu chính các thức chiếu soi chưa dấy phân biệt thì không có chỗ hiển bày. Nơi đây tỏ ngộ mới biết tất cả danh tướng trọn không thể được. Do vọng tưởng lập ra tên gọi, như nói đây là đồng hồ, đây là cái bàn... Đặt ra nhiều tên thì có nhiều tướng phân biệt. Nếu như mắt thấy tai nghe biết, gọi là thức chiếu soi chưa dấy phân biệt, thì các pháp không có lỗi vọng tưởng. Chỗ này nói rõ năm thức chiếu soi không có lỗi, chỉ có ý thức phân biệt mới khởi vọng tưởng. Ngay đó nếu ngộ được mới thấy rõ danh tướng không thật. Vả lại chính hiển bày vọng tưởng của danh tướng, mà làm liễu đạt chánh trí của danh tướng, không có thể khác, mà có dụng khác, nên nói “có phiền não thì không trí tuệ, có trí tuệ tức không phiền não”. Chánh trí hiện tiền thì phân biệt chẳng sanh, chẳng phải thường chẳng phải đoạn. Đây không phải cảnh giới của Nhị thừa, huống là ngoại đạo? Y nơi danh tướng mà một bên mê thì vọng tưởng sanh, một bên giác thì chánh trí khởi. Khi liễu đạt danh tướng không có thật thể, đó là chánh trí hiện tiền, không theo vọng tưởng nên không khởi phiền não, vì vậy nói có trí tuệ thì không phiền não. Lại nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát do chánh trí này chẳng lập danh tướng, chẳng phải không lập danh tướng, bỏ lìa hai kiến chấp dựng lập (có) và phỉ báng (không), biết danh tướng chẳng sanh, ấy gọi là như như. Các đại Bồ-tát do có chánh trí nên không vướng mắc nơi danh tướng, nên gọi là chẳng lập danh tướng. Tuy không lập danh tướng nhưng vẫn sử dụng danh tướng; như chúng sanh gọi là con trâu, các ngài cũng gọi con trâu... Vì để dẫn đạo chúng sanh, dùng ngôn ngữ danh tướng nói cho hiểu mà không chấp. Các ngài dùng danh tướng giả lập, thấy rõ nó không thật nên tâm không dấy động, vì thế nói biết danh tướng chẳng sanh, ấy gọi là như như. Đại Huệ! Đại Bồ-tát trụ như như ấy được cảnh giới không thật có, nên được Bồ-tát Hoan hỷ địa. Được Bồ-tát Hoan hỷ địa rồi, hằng lìa tất cả cõi ác ngoại đạo, chính trụ chỗ xuất thế gian, pháp tướng thành thục, phân biệt tất cả pháp huyễn v.v... tự giác pháp thú tướng rành rõ, lìa các vọng tưởng thấy tánh tướng khác, thứ lớp đến Pháp vân địa. Ở trong khoảng giữa đó do sức tam-muội tự tại, thần thông mở tròn, được Như Lai địa rồi, các thứ biến hóa tròn chiếu thị hiện thành thục chúng sanh, như trăng đáy nước, khéo cùng tột đầy đủ mười câu vô tận, vì các thứ ý hiểu của chúng sanh phân biệt nói pháp, pháp thân lìa ý làm ra, ấy gọi là Bồ-tát nhập như như mà được. Do tâm không chạy theo danh tướng nên được như như, được vào Sơ địa Bồ-tát. Nếu chúng ta khéo tu, chỉ ngay nơi danh tướng không khởi vọng tưởng, tâm luôn an ổn tức là tiến vào Hoan hỷ địa. Chỗ này không phải khó, chỉ cần chúng ta không chấp nhận tất cả khen chê tốt xấu v.v... hình tướng âm thanh nào mình cũng biết là không thật, không quan trọng. Nghe khen cũng tốt, nghe chê cũng không bận lòng, thấy cái đẹp thì vui, thấy cái xấu cũng vui. Như vậy suốt ngày không buồn phiền, tâm an nhiên, gọi là được Hoan hỷ địa.,... Bồ-tát từ Sơ địa, tu tập thành thục, lìa vọng tưởng thấy tánh tướng khác, nghĩa là vì vọng tưởng phân biệt nên thấy có tướng này tướng kia khác nhau, do chỗ khác nhau nên tâm không được như, khi lìa vọng tưởng thấy khác rồi thì các pháp một thể như. Thấy các pháp như, chính là tâm được thành thục không phân biệt pháp tướng, dần dần đạt đến Pháp vân địa. Đoạn sau nói về diệu dụng thần thông của các Bồ-tát trong khoảng từ Sơ địa đến Thập địa. Ý hiển bày chỗ đạt được các pháp như thật, tâm an trụ như mà không phải là bất động như cây đá. Lìa vọng tưởng phân biệt không phải rơi vào chỗ không ngơ, mà kết quả là thành tựu như ý đối với chúng sanh, được cùng tột mười câu vô tận. Đây tức danh tướng mà được như như. Chẳng lập danh tướng, chẳng phải không lập danh tướng, lìa kiến chấp có không, chính được pháp thể. Cho nên tức nơi danh tướng mà được như như. Pháp vị như như tức là cảnh giới Hoan hỷ địa vô sở hữu. Đến địa này rồi hằng lìa tất cả ác kiến gọi là xuất thế gian. Do đó chân như pháp tướng thứ lớp thành thục. Tức là hay thuận pháp như huyễn dùng trí tự giác khởi các pháp hạnh. Lìa vọng tưởng đã thấy các pháp tướng khác, nghĩa là tất cả pháp chân như thật tướng không có một khác, thấy một khác là vọng tưởng vậy. Bồ-tát tức vọng tức chân nên hay dùng tướng không tướng dựng lập các địa, tùy sức tam-muội thần thông tự tại cứu cánh Phật địa, biến hóa chiếu diệu đối hiện sắc thân như trăng đáy nước, đầy đủ mười câu vô tận, vì các chúng sanh phân biệt diễn nói, đây gọi là pháp thân lìa ý tạo ra, nhậm vận như như. Bồ-tát tức vọng tức chân, tức là ngay nơi danh tướng mà thấy thật, đó là vọng, cũng nơi danh tướng mà thấy hư dối, tức là chân, không phải tìm chân thật ngoài danh tướng. Nên hay dùng tướng không tướng dựng lập các địa, nghĩa là dùng danh tướng không chấp trước ấy mà tiến tu Thập địa, theo sức thần thông của chánh định các địa, nghĩa là dùng danh tướng không chấp trước ấy mà tiến tu Thập địa, theo sức thần thông của chánh định tiến đến cứu cánh Phật địa. Tùy theo căn cơ của chúng sanh mà giáo hoá, không thấy có mình người, nên việc làm như trăng đáy nước, đầy đủ mười câu không cùng tận. Pháp thân lìa ý tạo ra, nghĩa là pháp thân không do ý tạo tác. Ý là vọng tưởng, pháp thân là thể chân như nhậm vận không đến không đi, vọng tưởng hư dối không thể tạo nên pháp thân. II- CHỈ TẤT CẢ PHÁP THẢY VÀO NĂM PHÁP (Phân làm bốn phần) 1. CHỈ BA TỰ TÁNH VÀO NĂM PHÁP Bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Tại sao Thế Tôn nói ba thứ tự tánh vào năm pháp, là mỗi cái có tự tánh riêng? Phật bảo Đại Huệ: Ba thứ tự tánh và tám thức, hai thứ vô ngã thảy vào năm pháp. Đại Huệ! Danh và tướng kia là vọng tưởng tự tánh. Đại Huệ! Nếu y vọng tưởng kia sanh tâm và tâm pháp, gọi đồng thời sanh, như mặt nhật và ánh sáng đồng, các thứ tướng mỗi thứ riêng phân biệt gìn giữ, ấy gọi là duyên khởi tự tánh. Đại Huệ! Chánh trí, như như vì không thể hoại nên gọi là thành tự tánh. Bồ-tát Đại Huệ nghi rằng: ba tự tánh đều có tự thể riêng, mà Phật nói nó vào trong năm pháp, như vậy là sao? Phật trả lời tổng quát cả ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều nằm trong năm pháp. Trước tiên, hai pháp danh và tướng là tự tánh vọng tưởng. Vọng tưởng cũng chính là tánh biến kế sở chấp, y vọng tưởng mà sanh ra tâm vương, tâm sở. Vọng tưởng và tám thức nương nhau sanh đồng thời như có mặt trời thì có ánh sáng, nương nhau sanh là y tha khởi tánh. Như vậy Biến kế và Y tha cũng từ danh, tướng, vọng tưởng mà ra. Còn chánh trí và như như đều bắt nguồn từ chân tâm nên không bị tiêu hoại, gọi là viên thành thật tánh. Đây nói ba thứ tự tánh, tám thức, hai thứ vô ngã thảy vào năm pháp. Vả lại trước nói ba tự tánh vào năm pháp. Danh tướng không tánh, vọng chấp mà thành, cho nên nhiếp danh tướng thảy là Biến kế chấp. Y danh tướng vọng chấp mà khởi phân biệt, tâm tâm số pháp một lúc chóng hiện không có trước sau, như mặt nhật và ánh sáng, gọi là Duyên khởi tánh. Nếu đạt vọng chấp danh tướng vốn không tự tánh, tâm tâm số pháp liền đó tiêu sạch, tiêu sạch tâm theo tướng thì trí chiếu sáng ngời, liễu đạt tướng không tánh, chân như hiển bày, nên gọi là viên thành thật tánh. Trước phân tích ba tự tánh gồm trong năm pháp. Danh và tướng vốn không có tánh thật, theo vọng chấp mà có tên gọi, có hình tướng, nên nhiếp thuộc về tánh biến kế chấp. Kế đến là tám thức tâm vương tâm sở đều y vọng chấp mà sanh, nên tám thức này nhiếp thuộc tánh y tha duyên khởi. Nói chỗ sanh khởi tám thức, cũng ngay đó chỉ chỗ trừ diệt, tức là thấu đạt danh tướng không có tánh thật thì các thức không có chỗ nương, không dấy vọng tưởng, các thứ thức tâm duyên danh tướng ngay đó liền được tiêu sạch. Tâm vọng dứt trừ thì chánh trí hiện tiền, cũng ngay nơi danh tướng mà đạt như như, viên thành. 2. CHỈ TÁM THỨC HAI VÔ NGÃ VÀO NĂM PHÁP Lại nữa, Đại Huệ! Tự tâm hiện vọng tưởng có tám thứ phân biệt. Nghĩa là tướng thức tàng, ý, ý thức và năm thức thân, tướng chẳng thật vì vọng tưởng. Ngã và ngã sở hai cái nhiếp thọ diệt thì hai vô ngã sanh. Thế nên, Đại Huệ! Năm pháp này Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Như Lai tự giác thánh trí, các địa tương tục thứ lớp, tất cả Phật pháp thảy vào trong ấy. Phật thâu tóm cả tám thức và hai vô ngã đều nhiếp thuộc năm pháp. Bởi vì tướng của tám thức đều không thật, khởi lên từ vọng tưởng, chúng không ra ngoài vọng tưởng. Cũng vì vọng tưởng nên có phân biệt về ngã, ngã sở. Nếu vọng tưởng diệt thì ngã và ngã sở cũng trừ diệt, lúc đó nhân vô ngã và pháp vô ngã hiện tiền. Tất cả quả vị tu chứng của Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Như Lai tự giác thánh trí đều nằm trong năm pháp. Cách tu trong nhà thiền rất đơn giản. Mỗi khi dấy khởi nghĩ đều nói là vọng tưởng, không phân biệt tâm sở thiện hay tâm sở bất thiện. Thiền sư Vô Nghiệp khi gặp người hỏi câu gì, đều bảo: “Chớ vọng tưởng!” Đó là nắm ngay chỗ cốt yếu, không cần dài dòng. Khi biết là vọng tưởng thì trở thành chánh trí, như như. Học đạo là học cách trở về chân thật, không phải học chia chẻ chi li các tướng bên ngoài. Hiện tại, chúng ta muốn được hai vô ngã thì không nên chấp thân thật, các pháp thật. Thân tâm là năng nhiếp, ngoại cảnh là sở nhiếp, hai cái đó không chấp thì nhiếp thọ diệt, tức thành vô ngã. Chỗ này chư Phật đều thấy rõ, tất cả Phật pháp đều nằm trong năm pháp không có chi nhiều. Đây nói tám thức hai vô ngã vào năm pháp. Chẳng giác tự tâm hiện ra, tám thứ thức tướng một lúc chóng sanh, mỗi cái có tự loại lập bày vọng tưởng, năng vọng sở vọng, nhân pháp rõ ràng. Nếu giác tự tâm hiện ra thì kiến phần, tướng phần như băng tiêu dung, liền chuyển tâm, ý, ý thức mà làm tứ trí, năng thủ sở thủ không, trí và tịch lẫn nhau hiển hiện. Cho nên Nhị thừa, Bồ-tát, Như Lai đã có trí địa tự giác thảy vào năm pháp. Tất cả pháp đều tự tâm hiện, giác ngộ điều này mới thấy tất cả năng sở tiêu tan như băng gặp nước sôi. Sở dĩ có tàng thức và các thức phát sanh đều từ vô minh bất giác vọng chấp năng sở, nay năng sở đều tiêu mất thì tám thức chuyển thành bốn trí. Năng thủ là tâm, sở thủ là cảnh đều không. Trí và tịch lẫn nhau hiển hiện, trí là chánh trí, tịch là như như cùng nhau hiển hiện. 3. CHỈ TẤT CẢ PHẬT PHÁP VÀO NĂM PHÁP Lại nữa, Đại Huệ! Năm pháp là danh, tướng, vọng tưởng, như như, chánh trí. Đại Huệ! Tướng là nếu ở chỗ hình tướng sắc tượng v.v... hiện, ấy gọi là tướng. Nếu kia có tướng như thế gọi là bình v.v... Tức cái này không phải cái khác, ấy nói là danh. Lập bày các danh, hiển hiện các tướng bình v.v... Nơi tâm tâm pháp, ấy gọi là vọng tưởng. Danh kia tướng kia cứu cánh không thể được, trước sau không giác, nơi các pháp không triển chuyển, lìa vọng tưởng chẳng thật, ấy gọi là như như. Đoạn này Phật nói rõ về tất cả Phật pháp nằm trong năm pháp nhưng thứ tự có đổi khác. Tướng là hình tướng sắc tượng, khi đặt tên tướng đó là cái bình chẳng hạn, tên ấy xác định tướng cái bình không phải tướng khác, nên nói cái này không phải cái khác. Từ tướng mà lập danh, chấp chặt không thoát được, nên đoạn này nêu tướng lên trước danh. Lập bày tên gọi, biểu hiện hình tướng cho nên có năng sở đối nhau, các thức tâm vương, tâm sở đều y cứ vào danh tướng mà khởi vọng tưởng phân biệt. Đó là theo nhận thức của phàm ngu. Cũng ngay nơi danh tướng đó, tìm kiếm tột cùng không có thật thể gọi là cứu cánh không thể được. Vì thấy các pháp không thật nên không tìm cầu tham đắm, gọi là trước sau không giác, nơi các pháp không triển chuyển. Đối với danh tướng không dấy niệm phân biệt, giải thích hay chia chẻ gì cả, gọi là lìa vọng tưởng chẳng thật, là như như. Chân thật quyết định cứu cánh tự tánh không thể được, kia là như tướng, ta tức chư Phật tùy thuận nhập xứ, khắp vì chúng sanh như thật diễn nói lập bày hiển thị, nơi kia tùy nhập Chánh giác chẳng đoạn chẳng thường, vọng tưởng chẳng khởi, tùy thuận tướng tự giác thánh thú, mà tất cả ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác không đạt được, ấy gọi là chánh trí. Đại Huệ! Ấy gọi là năm pháp, ba thứ tự tánh, tám thức, hai thứ vô ngã, tất cả Phật pháp thảy vào trong ấy. Thế nên, Đại Huệ! Phải tự phương tiện học, cũng dạy người khác, chớ theo nơi nào. Tướng như như chân thật này là chỗ đức Phật Thích-ca và tất cả chư Phật nhận được, theo đó vì chúng sanh diễn bày chỗ như thật để thức tỉnh cho họ giác ngộ. Nơi kia tùy nhập chẳng đoạn chẳng thường, tức là khiến chúng sanh được vào chánh giác không vướng kẹt bên đoạn bên thường, không khởi vọng tưởng. Như vậy chánh trí ở đoạn trước là chánh trí của mình tự nhận được, chánh trí ở đoạn này là do Phật giáo hóa dẫn dắt chúng sanh, vì thế đặt sau như như. Đây nói tất cả Phật pháp đều vào năm pháp. Giải thích lại năm pháp, chỉ người tùy thuận chánh trí, như như. Thứ lớp chứng được nên gọi là phương tiện. Xét nói, nhân tướng được danh, theo danh hiển tướng, lập bày vọng tưởng, thảy hiển tất cả danh tướng đều không thể được. Trước sau không giác, đối trong các pháp không có triển chuyển, chỉ lìa vọng tưởng tức là như như. Đây là tất cả pháp tự tướng chân như, thập địa Bồ-tát chỗ chứng có cạn sâu, chẳng phải hàng Nhị thừa, nên nói: “Ta và chư Phật tùy thuận nhập xứ”. Vô phân biệt trí duyên chân như cảnh, nếu duyên các duyên khác thuộc về hậu đắc trí. Vô phân biệt trí là trí không phân biệt, thí dụ chúng ta nhìn sự vật, thấy biết rõ mà không khởi niệm chê khen, thương ghét... tất cả sáng tỏ mà không phân biệt nên gọi là vô phân biệt trí. Trí đó thuộc về thể, là cội gốc của tất cả hiểu biết nên cũng gọi là căn bản trí. Nếu duyên các duyên khác gọi là hậu đắc trí, tức là từ căn bản trí tùy duyên hóa độ chúng sanh, tùy theo trình độ sai biệt cao thấp, nhanh chậm, đối các duyên sai khác ứng dụng trí tuệ sai khác để giải thích cho họ hiểu, trí biết sai biệt nên gọi là sai biệt trí, cũng gọi là hậu đắc trí. Song hai trí, thể một mà dụng khác, liễu tục cũng do chứng chân, nên hai trí đều do chân như bày hiện. Tùy thuận hai trí đã chứng chân như được vào chánh giác, đến chỗ cứu cánh phi thường phi đoạn, hiện tha thọ dụng thân độ và biến hóa thân độ, như thật diễn nói, phá các lưới nghi, nên nói: “Tất cả Phật pháp thảy vào năm pháp, do tự chứng biết chẳng từ nơi khác được”. Hai trí này đều không rời như như nên thể là một, nhưng dụng có khác vì tùy chúng sanh phân biệt diễn nói. Nơi trí căn bản thì tịch lặng, nơi trí sai biệt thì chiếu soi không sai lầm. Liễu tục cũng do chứng chân, rõ biết tục đế là do chứng chân đế, cũng như biết cái thật rồi mới phân biệt được cái giả. Hậu đắc trí hay vô phân biệt trí đều từ chân như lưu xuất. Do được hai trí này nên thành Phật gọi là giác ngộ viên mãn, lúc đó hiện thân và cõi tha thọ dụng. Thân Phật có chia ra tự thọ dụng và tha thọ dụng. Tự thọ dụng là thân chính Phật tự biết tự thọ hưởng, chúng sanh không thể thấy biết. Tha thọ dụng thân là thân tướng hiện ra để độ chúng sanh. Tha thọ dụng độ là cảnh của Phật hiện ra để chúng sanh nương đó tu tập, như cõi Cực Lạc của Phật A-di-đà... Ví như sự tỉnh giác của tôi ít ỏi, so với chư Phật Bồ-tát chỉ như hạt cát trong sa mạc, nhưng từ thân và lời nói của tôi có thể giúp mọi người học hiểu tu tập, đó là tha thọ dụng thân. Khi phát tâm tu thì tôi xây dựng thiền viện, tạo phương tiện để mọi người được thọ nhận, đó là tha thọ dụng độ. Tùy theo sức của chúng ta có thể giúp chúng sanh đôi phần. Chư Phật, Bồ-tát giác ngộ viên mãn thì thân và độ trùm khắp, giúp chúng sanh thọ hưởng đầy đủ không nghi. 4. TỔNG TỤNG Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Năm pháp ba tự tánh Và cùng tám thứ thức Hai thứ không có ngã Thảy nhiếp thuộc Đại thừa. Đây tóm lại nói năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai thứ vô ngã đều nhiếp thuộc Đại thừa. Đại thừa tức là tự tâm hiện lượng. Danh, tướng hư vọng tưởng Tự tánh hai thứ tướng; Chánh trí và như như Ấy tức là thành tướng. Danh, tướng và vọng tưởng thuộc về hai tánh biến kế, y tha. Chánh trí như như là tướng viên thành thật. Kệ tụng năm pháp, tự tánh, tám thức, vô ngã thảy nhiếp Đại thừa. Đại thừa là tự tâm hiện lượng. Mê tự tâm lượng thì danh tướng lăng xăng, trí như lẫn hiển, y tha cho là riêng có, kế chấp ắt đợi viên thành. Muốn phá vô minh của tám thức thì sở tri của hai cái ngã phải tiêu dung, đến nơi giác còn khởi quán gì? Mộng qua sông nhớ lại lặng câm, phải tự dứt bặt vậy. Tóm lại, tất cả năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều là tự tâm hiện lượng. Khi mê thì thấy có danh tướng thật nên chánh trí như như cũng thật. Tám thức lăng xăng, muốn trừ dẹp biến kế chấp phải đợi trí viên thành. Khi giác thì tất cả các pháp tiêu dung, không còn tâm năng quán và cảnh sở quán, không cần khởi trí quán. Như chúng ta nằm mộng thấy nương thuyền để qua sông, trong mộng thấy tất cả thật có. Tỉnh mộng thì tất cả chuyện qua sông đều không thật, lúc ấy không cần phải nói phải kể lại. Cũng vậy, khi mê thì tất cả việc dụng công tu hành tưởng như thật có, nhưng khi tỉnh giác thì tất cả đều không thật, việc tu không thật, chỗ chứng cũng không thật, đó gọi là mộng qua sông đã tỉnh. H. CHỈ PHÁP THÂN BA ĐỜI NHƯ LAI QUÁ CHỖ NGHĨ NGỢI CỦA THẾ GIAN, CHẲNG PHẢI NGHĨA SÁT-NA, TRƯỚC SAU KHÔNG LỖI THANH TỊNH VÔ LẬU (Phân làm bốn phần) I- CHỈ PHÁP THÂN TỰ THÔNG QUÁ CHỖ NGHĨ NGỢI CỦA THẾ GIAN 1. THƯA THỈNH VỀ CHƯ PHẬT CÓ HẰNG SA DIỆU NGHĨA Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói: “Quá khứ chư Phật như hằng hà sa, vị lai hiện tại cũng lại như thế.” Thế nào Thế Tôn là như nói mà tín thọ hay lại có nghĩa khác? Cúi xin Như Lai thương xót giải nói. Ý ngài Đại Huệ hỏi về chỗ Phật thí dụ chư Phật ba đời như cát sông Hằng, như thế thì chúng sanh nên theo lời Phật nói mà tin nhận, hay thí dụ đó có nghĩa gì khác? Cảnh giới chư Phật bất khả tư nghì, cảnh giới Phật trí bất khả tư nghì, cảnh giới chúng sanh bất khả tư nghì, cảnh giới vọng tưởng bất khả tư nghì, bất khả tư nghì này đồng pháp giới tánh, không thiếu không dư, chẳng ra chẳng vào, không thể chỉ bày, cũng chẳng phải không nói. Đây nhân dụ hằng hà sa Phật riêng hiển nghĩa này. Trừ vì chúng sanh phương tiện dẫn thí dụ, nơi câu vô nghĩa để thông chân thật thì chẳng phải nhất thiết trí đâu hay dự vào đây. Vì lợi ích chúng sanh nên Phật dẫn thí dụ này thí dụ kia, đó chỉ là phương tiện. Chỗ chân thật của chư Phật chỉ người được nhất thiết trí mới có thể hiểu, chỗ này không thể hỏi nói. 2. CHỈ CHƯ PHẬT TỰ THÔNG QUÁ CHỖ NGHĨ THẾ GIAN, KHÔNG THỂ NÓI THÍ DỤ Phật bảo Đại Huệ: Chớ như nói mà tín thọ, số lượng chư Phật ba đời chẳng phải như hằng hà sa. Vì cớ sao? Vì quá chỗ nghĩ của thế gian, chẳng phải thí dụ và sở thí dụ, do phàm ngu chấp thường, ngoại đạo vọng tưởng nuôi lớn ác kiến sanh tử không cùng; muốn khiến nhàm lìa vòng sanh tử, chuyên cần thắng tiến, nên vì họ nói chư Phật dễ thấy, chẳng phải như hoa ưu-đàm-bát khó được thấy. Phật dùng thí dụ chư Phật nhiều như cát sông Hằng, nghĩa là Phật rất dễ gặp, chư Phật không thiếu. Ở đây, Phật bảo ngài Đại Huệ không nên hiểu theo ngôn thuyết. Cát sông Hằng là vật có thể thấy, có thể suy lường, chư Phật ba đời không thể dùng tâm lượng suy nghĩ đo lường, không thể dùng thí dụ mà hiểu. Chỉ vì chúng sanh lầm chấp, ngoại đạo tà kiến nuôi lớn sanh tử không cùng tận; muốn mọi người phát tâm vượt khỏi sanh tử, một lòng cầu tiến lên quả vị Phật, nên có khi Thế Tôn nói chư Phật dễ thấy, bình thường như cát sông Hằng, không phải quý hiếm khó gặp như hoa ưu-đàm. Đó là lời dẫn dụ khuyến khích chúng sanh. Một ý nghĩa khác, khi nói chư Phật nhiều như cát sông Hằng cũng ý chỉ là trong mỗi chúng sanh đều có tri kiến Phật. Chúng sanh rất nhiều nên chư Phật rất nhiều, chỉ vì chúng ta không nhận ra. Chúng sanh có nhiều bệnh nên Phật dùng nhiều lối nói để trị bệnh. Đối với người tu mong cầu thành Phật, trải qua thời gian lâu không thấy Phật ra đời, sợ họ thối chí không tiến lên, Phật dẫn dụ rằng ba đời chư Phật rất nhiều, chỉ cần cố gắng tu thì gặp không khó. Đó là ẩn dụ, khi nghe phải khéo nhận. Dứt phương tiện cầu, có khi lại xem các người thọ hóa khởi nói thế này, Phật khó được gặp như hoa ưu đàm-bát. Hoa ưu đàm-bát không ai đã thấy, hiện thấy, sẽ thấy. Như Lai thế gian thảy thấy, vì chẳng do kiến lập tự thông, nói rằng Như Lai ra đời như hoa ưu đàm-bát. Đại Huệ! Tự kiến lập tự thông quá chỗ nghĩ của thế gian, các phàm ngu kia không thể tin. Cảnh giới tự giác thánh trí, không cùng cái gì thí dụ được. Chân thật Như Lai quá tướng tâm ý ý thức được thấy, không thể làm thí dụ. Đại Huệ! Song ta nói thí dụ Phật như hằng hà sa không có lỗi lầm. Dứt phương tiện cầu, nghĩa là ngăn dứt các cách tìm kiếm Phật, vì Phật không phải là vật bên ngoài để có thể tìm cầu. Vì muốn chúng sanh dứt tâm tìm cầu nên Thế Tôn nói Phật khó được gặp như hoa ưu-đàm. Hoa ưu đàm chỉ nghe nói chứ chưa ai được gặp, như ngày xưa những người cố cựu hay nói: “Ai thấy hoa sung thì người đó giàu.” Nói hoa sung là một lối nói ám chỉ những điều khó thấy khó gặp. Trong trường hợp gặp những chúng sanh giải đãi, buông xuôi theo thường tình, nếu nói Phật dễ gặp họ sẽ không nỗ lực, nên nói Phật khó gặp như hoa ưu-đàm ngàn năm mới trổ hoa. Chúng sanh này nghe nói như vậy sẽ cố gắng tinh tấn hơn, không dám lơ là biết mình ra đời gặp giáo pháp Phật là điều rất quý, nên phải gắng tu thêm. Như vậy những thí dụ như cát sông Hằng, như hoa ưu-đàm-bát, đó là lối nói phương tiện, không kiến lập tự thông. Kiến lập tự thông là lập bày chỗ chân thật, là cảnh giới tự chứng của Phật. Chỗ này vượt hẳn suy nghĩ hiểu biết của thế gian, nên Phật không nói đến, gọi là chân thật Như Lai quá tướng tâm ý ý thức được thấy, không thể làm thí dụ. Đoạn này đức Phật vừa nêu trường hợp có những thí dụ khác nhau vì tùy bệnh chúng sanh, như bác sĩ cho thuốc không phải một thứ. Đồng thời cũng nêu chỗ tự thông không thể dùng thí dụ, để ngăn chúng ta không nên một bề tin theo thí dụ. Các thí dụ có giới hạn của nó, thí dụ chỉ là tương tự, không đúng với những gì Phật thấy biết. Số lượng ba đời chư Phật chẳng phải như hằng hà sa, quá chỗ nghĩ của thế gian, chẳng phải thí và sở thí, đây là Như Lai chân ngữ như ngữ, vô thượng diệu đế, chỉ chứng tự biết. Song do chúng sanh hy vọng, vì đoạt cái hư ngụy kia, quyền chỉ chân thật, bảo có chư Phật chẳng phải như ưu-đàm, hoặc nói như hoa ưu-đàm để chỉ khó gặp, mà chẳng phải để kiến lập tự thông. Cảnh giới tự thông chẳng phải tướng có thể thấy, chẳng phải tướng chẳng thấy. Hành xứ chân thật của Như Lai quá tất cả kiến tướng của tâm ý ý thức, không thể thí dụ. Lại nói “song ta nói thí dụ Phật như hằng sa cũng không có lỗi lầm”, là thánh trí bên cạnh tự thông tùy nói mà chỉ bày, chẳng phải chỗ hay thấy của Nhị thừa và Bồ-tát thủy giáo. Văn sau rộng chỉ nghĩa này, duy phải tỏ ngộ. Cảnh giới tự thông chẳng phải tướng có thể thấy, vì không phải là pháp hữu vi có tạo tác, không phải là đối tượng nhận thức. Đồng thời cảnh giới đó chẳng phải tướng chẳng thấy, vì chẳng phải là hư vô rỗng không, người tu hành đạt ngộ đều nhận được. Phật dùng thí dụ như cát sông Hằng cũng có những ý nghĩa khác, nên văn sau sẽ nói rõ. 3. DỤ NHƯ LAI PHÁP THÂN BẢN TỊCH Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng tiếp nhận tất cả cá, trạnh, ma-la, sư tử, voi, ngựa, người, thú giẫm đạp, cát chẳng nghĩ rằng kia não loạn ta mà sanh vọng tưởng, tự tánh thanh tịnh không các nhơ nhớp. Đức Phật dùng cát sông Hằng để thí dụ cho pháp thân hằng tịch tĩnh, chẳng có gì làm não loạn, cũng không bị dấy động. Dù tất cả người thú giẫm đạp, cát không khởi niệm buồn phiền. Chúng ta thường nghe nói đất có tính kham nhẫn chứa đựng bao dung muôn vật, cát sông Hằng ở đây cũng như thế. Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, tự giác thánh trí là sông Hằng, đại lực thần thông tự tại v.v... là cát. Tất cả ngoại đạo, các người, thú v.v... tất cả não loạn, Như Lai chẳng nghĩ mà sanh vọng tưởng. Như Lai lặng lẽ không có niệm tưởng. Như Lai bản nguyện lấy cái vui tam-muội vì an chúng sanh, không có não loạn, ví như cát sông Hằng đồng không có khác, lại vì đoạn tham sân. Nói về bản chất, hoặc nói về diệu dụng số nhiều như cát đều từ sông Hằng phát xuất. Bản nguyện Như Lai vì muốn chúng sanh an vui, cũng như cát sông Hằng, chúng sanh có đi đứng giẫm đạp trên đó nó cũng không tham sân, để nói lên tính cách vô vi tĩnh lặng của pháp thân Phật. Về sau đều tức nơi hằng sa nói rộng nghĩa Phật, mà đây lại dụ Như Lai pháp thân bản tịch. Như Lai tự giác thánh trí có hằng sa đại lực, thần thông tự tại, bị tất cả ngoại đạo, người, thú não loạn mà tánh cát giác thể vẫn tịch, không có niệm tưởng. Chỉ dùng bản nguyện an lạc quân sanh, khiến họ tự giác không có tham sân. Thế mới biết, tất cả chúng sanh tự ở trong cũng có cát giác, mà từ vô thủy đến nay bị các tà kiến người thú giẫm đạp trọn không chán lìa, lặng lẽ đến nay không thêm không bớt. Thể tịch lặng của pháp thân Như Lai chính là thể tịch lặng nơi mỗi chúng sanh. Tánh giác nơi mỗi chúng sanh giống như cát sông Hằng, mỗi người đều có hạt cát giác đó. Từ vô thủy đến nay bị tà kiến che mờ, dẫn đi trong lục đạo mà tánh giác không thêm không bớt. Chỉ dùng chân như bản nguyện an lạc tất cả chúng sanh niệm niệm khởi diệt, khiến trụ pháp vị không có não loạn. Ví như cát sông Hằng là vì đoạn tham sân, mà tất cả chúng sanh không tự giác biết, thấy là Như Lai chư Phật như cát sông Hằng kia. Dùng thí dụ cát sông Hằng để chỉ cho chỗ sử dụng hằng ngày của chúng sanh mà không nhận ra. Vì bản nguyện làm an lạc cho chúng sanh mà luôn luôn lặng lẽ không khởi diệt. Mọi người đều an trụ nơi pháp vị vẫn thường trụ trên đất cát kham nhẫn mà không tự biết, cũng không tự mình nhận ra tính kham nhẫn của chính mình. 4. DỤ PHÁP THÂN CHẲNG DIỆT Thí như cát sông Hằng là tự tánh của đất này, khi kiếp tận lửa cháy, cháy tất cả đất, mà địa đại kia chẳng bỏ tự tánh, vì cùng hỏa đại đồng sanh. Còn ngoài ra kẻ ngu khởi tưởng đất bị cháy, mà đất chẳng bị cháy, vì là nhân của lửa. Như thế, Đại Huệ! Như Lai pháp thân như cát sông Hằng chẳng hoại. Đây thêm một thí dụ, Như Lai như cát sông Hằng, vì tánh không hoại. Khi kiếp tận, lửa đốt cháy cả địa cầu, từ cõi Phạm thiên nhìn xuống thấy cõi đất này như cái hoa đèn gần tàn. Nhưng ở đây Phật nói dù thiêu đốt như vậy, tánh địa đại vẫn không tổn hoại, vì tánh của đất và lửa đồng một thể, và vì đất là nhân phát sanh ra lửa, nên lửa không đốt cháy đất. Dùng thí dụ pháp thân như cát sông Hằng để ẩn dụ mọi vật chuyển biến nhưng pháp thân không chuyển biến. Đây dụ Như Lai pháp thân thường trụ chẳng diệt, thí như cát sông Hằng, đồng với cái kiên cố này là tự tánh đất, cùng hỏa đại đồng sanh. Lửa nhân đất mà được tánh cháy, đất nhân lửa mà được lý sanh, đều không có nghĩa cháy hết. 5. DỤ PHÁP THÂN KHẮP TẤT CẢ CHỖ KHÔNG CÓ CHỌN LỰA Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng không có hạn lượng, Như Lai quang minh cũng lại như thế, không có hạn lượng, vì thành thục chúng sanh khắp soi tất cả chư Phật đại chúng. Cát sông Hằng nhiều không thể tính đếm, không có hạn lượng. Ánh sáng của Như Lai cũng không hạn lượng, chiếu soi khắp tất cả không riêng nơi nào, cũng không lựa chọn chiếu chỗ này không chiếu chỗ khác. Tất cả đều vì lợi ích chúng sanh. Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng riêng cầu cát khác hằng không thể được. Như thế, Đại Huệ! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác không sanh tử sanh diệt, vì có nhân duyên đoạn vậy. Trí tuệ giác ngộ viên mãn gọi là pháp thân bản tịch trùm khắp, không thiếu vắng một chỗ nào. Như cát sông Hằng, ở bờ này hay bờ kia cũng là cát sông Hằng, không nói là cát của sông khác. Tất cả chúng sanh đều ở trong ánh sáng của chư Phật, không nơi nào không có ánh sáng. Tính chất không sanh tử đoạn diệt của Như Lai, như tánh của cát sông Hằng không thể tìm thấy trong loại cát khác. Pháp thân không sanh diệt không thể tìm bên ngoài mà có được. Đây dụ Như Lai pháp thân khắp tất cả chỗ không có lựa chọn. Tự tâm hiện lượng khắp giáp sa giới, tất cả tiếng là tiếng Phật, tất cả sắc là sắc Phật, nên nói “không có cát khác”. Tất cả tiếng là tiếng Phật, tất cả sắc là sắc Phật, khi chúng ta mê thì tất cả tiếng là tiếng thế gian và sắc thế gian, nếu chúng ta giác thì tất cả sắc là sắc Phật, tất cả tiếng là tiếng Phật. Như ở đoạn trước nói cũng danh tướng ấy chấp thật thì tất cả là thế gian lưu chuyển, nếu biết nó là duyên hợp hư dối không thật, biết rõ không chấp, ngay nơi danh tướng ấy mà giác ngộ. Như vậy nghe tiếng tức là danh, thấy hình tức là sắc, biết rõ không thật thì tất cả đều mang tính giác ngộ là tính Phật. Có nhân duyên đoạn là lại phòng lỗi tự nhiên. Như Lai đã chỉ cho người lấy sự nhật dụng hồn nhiên, không phải chẳng quấy, mà lại hiển ý chỉ vô cấu thanh tịnh, có thể gọi là lẫn nhau phát minh. Phòng lỗi tự nhiên, nghĩa là Phật không phải tự nhiên thành, mà do nhân duyên đoạn dứt sanh tử mà thành Phật. Ngài Hàm Thị tán thán Phật đã chỉ cho chúng ta chỗ dùng hằng ngày hồn nhiên, rõ ràng có sẵn khắp giáp mọi nơi, chạm mắt nghe tiếng đều hiển hiện tánh giác. Cũng nói lên tính chất không nhơ không sạch, không phải không quấy của cát sông Hằng, thật là phù hợp để phát minh tánh giác. 6. DỤ PHÁP THÂN ĐỐI HIỆN KHÔNG CÓ TĂNG GIẢM Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng thêm bớt không thể biết. Như thế, Đại Huệ! Như Lai trí tuệ thành thục cho chúng sanh chẳng thêm chẳng bớt, vì chẳng phải thân pháp. Thân pháp là có hoại, pháp thân Như Lai chẳng phải thân pháp. Cát sông Hằng rất nhiều, có thêm hay bớt chúng ta cũng không biết, trong bãi cát mênh mông không thể thấy sự tăng giảm. Cũng vậy, trí tuệ chư Phật làm lợi ích chúng sanh không thêm không bớt. Vì chẳng phải thân pháp, thân pháp là thân có hình tướng đến đi hoại diệt, trí tuệ Phật là pháp thân không phải thân pháp. Chỉ đổi thứ tự của chữ mà ý nghĩa khác nhau, nên nói thân pháp là có hoại, pháp thân Như Lai chẳng phải thân pháp. Đây dụ pháp thân ứng hiện không có thêm bớt. Chúng sanh duyên thành thục tức thấy Như Lai thành Đẳng chánh giác, nói pháp độ sanh, vào Niết-bàn, mà Như Lai pháp thân vốn không đi lại, cũng không có tâm hiện. Có đi có lại ấy là thân pháp, mà Như Lai chẳng phải là thân pháp, không thể phá hoại. Nên nói “tùy duyên phó cảm đâu chẳng khắp, mà thường ngồi tòa Bồ-đề này”. Chúng ta thường nghe nói Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện. Như đêm rằm trăng sáng, trên trời có mặt trăng thì ở dưới bao nhiêu sông hồ ao suối... đều thấy có bóng mặt trăng. Mặt trăng có đi đến sông hồ ao... không? Không đi đến nhưng nơi nào có nước thì có hiện bóng trăng. Để thí dụ cho chúng sanh đủ nhân duyên thì thấy Như Lai có thành Phật thuyết pháp, nhập Niết-bàn. Pháp thân Phật vốn không đến đi, cũng không có tâm hiện nơi này nơi khác. Chỉ tùy duyên thành thục của chúng sanh mà thấy có thân Phật đến đi, đó là thân pháp, tức là thân ứng hóa. Thân ứng hóa nên có đản sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-bàn, cũng ứng hiện sanh tử như mọi người. Chúng sanh gặp được thân ứng hóa của Phật, cũng là duyên cơ cảm. Như khi chúng ta tu tâm được thanh tịnh thì thấy Phật hiện đến xoa đầu thọ ký như trong kinh thường nói. Thấy Phật là tâm chúng ta thấy, không phải Phật có đến đi, nên đây thí dụ cát sông Hằng không thêm không bớt. Tuy pháp thân không đến đi, nhưng tùy duyên hiện khắp, tùy duyên hiện khắp mà không rời tòa Bồ-đề. Đó cũng là hình ảnh mặt trăng thường lặng lẽ trên hư không, nhưng rọi bóng khắp các dòng nước. 7. DỤ NHƯ LAI BỊ NGUYỆN ĐỒNG VỚI PHÁP GIỚI Như ép cát sông Hằng không thể được dầu. Như thế, tất cả chúng sanh tột khổ ép ngặt Như Lai. Cho đến chúng sanh chưa được Niết-bàn, chẳng bỏ pháp giới, tự tam-muội nguyện lạc vì do đại bi. Ép cát không bao giờ có thể ra dầu, để thí dụ Như Lai dù bị chúng sanh dùng các cách độc ác làm hại, ngài cũng không sân giận, chúng sanh còn khổ chưa được Niết-bàn, ngài không bỏ bi nguyện. Thí dụ này khẳng định một điều không thể xảy ra, là Phật xa lìa chúng sanh. Cũng ngụ ý trong tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, dù chúng sanh chịu khổ vô cùng ở địa ngục, Phật tánh không mất. Đây dụ Như Lai bi nguyện đồng với pháp giới. Dầu là thí dụ Như Lai tâm niệm mỏi chán. Như Lai dùng mười câu vô tận, thành tựu chúng sanh khổ tột ép ngặt, không có chán bỏ, do đại bi làm thành. Dầu là thí dụ Như Lai tâm niệm mỏi chán, nghĩa là chừng nào ép cát ra dầu thì Phật mới có tâm chán bỏ chúng sanh. Tôi cũng từng nói Phật không bao giờ bỏ chúng ta, chỉ có chúng ta bỏ Phật. Chúng ta tu mà không làm theo lời Phật dạy, tức là bỏ Phật. Kinh Pháp Hoa, phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát nói lên ý nghĩa không chán mỏi này. Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng bái lạy nói: “Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài sẽ thành Phật.” Dù gặp người phẫn nộ mắng chửi, ném đá... ngài cũng đứng ở xa lễ lạy. Nhờ gieo hạt giống Phật như vậy nên khi ngài thành Phật, những người chống đối cũng được gặp ngài và thành tựu Phật quả. Bồ-tát Thường Bất Khinh là tiền thân của Phật Thích-ca, bi nguyện mạnh mẽ trong lúc làm Bồ-tát của ngài là như vậy. 8. DỤ NHƯ LAI PHÁP THÂN TÙY THUẬN NIẾT BÀN Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng theo nước mà trôi, chẳng phải không nước. Như thế, Đại Huệ! Như Lai nói ra tất cả các pháp theo dòng Niết-bàn. Thế nên nói như cát sông Hằng. Cát sông Hằng trôi theo dòng nước, không có cát nào không trôi theo nước, cũng như tất cả pháp Phật nói ra cũng đều trôi theo dòng Niết-bàn, không pháp nào không đưa đến Niết-bàn. Chúng ta y theo lời Phật dạy, đều đạt đến Niết-bàn. Như trong các kinh A-hàm, Phật dạy về Tứ niệm xứ. Người nào trụ tâm nơi Tứ niệm xứ trong bảy ngày đêm thì chứng từ Sơ quả đến Tứ quả. Người niệm Phật nhất tâm bất loạn từ một đến bảy ngày cũng được vào Niết-bàn gặp Phật. Pháp chúng ta đang học trong kinh Lăng-già này cũng vậy. Người nào giác biết thân và cảnh này đều do vọng hiện không thật, biết không thật thì không chấp ngã ngã sở, được vô ngã thì thẳng vào Niết-bàn, gọi là được tự giác thánh trí. Như vậy tất cả kinh từ hệ A-hàm đến Đại thừa đều chỉ dạy con đường đến Niết-bàn, không nói gì khác. Như Lai chẳng theo các dòng (khứ) di chuyển, vì đi là nghĩa hoại. Đại Huệ! Sanh tử bản tế không thể biết, vì không biết làm sao nói đi? Đại Huệ! Đi đó là nghĩa đoạn mà kẻ ngu chẳng biết. Đoạn trên nói Như Lai tùy thuận dòng Niết-bàn, đến đây nói Như Lai không lưu chuyển theo dòng, vì lưu chuyển là nghĩa hoại. Như Lai là thể thường trụ, không đi không đến, pháp Phật dạy cũng thường trụ, sở dĩ nói theo dòng Niết-bàn là diễn tả tính chất tùy thuận. Tất cả chúng sanh đều ở trong Niết-bàn, chỉ vì mê nên thấy có sanh tử lưu chuyển. Chỗ gốc mê rất khó biết nên nói sanh tử bản tế không thể biết. Thí dụ người đang ở trong thiền viện tu yên ổn, chợt hôm nào tâm niệm cuồng loạn khởi lên muốn bỏ đi. Tâm cuồng loạn đó gốc từ đâu, chúng ta không thấy, nhưng một khi mê tức là trôi đi. Đến lúc nào tỉnh mới tìm đường về, nhận ra chỗ trở về là biết xưa nay mình vốn thanh tịnh. Cội gốc mê sâu kín khó biết nên người tu phải tỉnh thức thường xuyên. Đây dụ Như Lai pháp thân tùy thuận Niết-bàn. Nếu chẳng tùy thuận là bị dòng sanh tử chuyển, thành nghĩa đoạn diệt. Sanh tử bản tế tức là Niết-bàn bản tế, do chẳng biết thì chẳng tùy thuận, khởi tưởng đi là hoại. Đi là nghĩa đoạn, mà Như Lai pháp thân chẳng đoạn. Có đi là có sanh diệt, bởi khởi tưởng mê loạn nên đi theo dòng sanh tử. Tỉnh giác là tùy thuận Niết-bàn, trở về chỗ chân thật. Sanh tử bản tế tức là Niết-bàn bản tế, nghĩa là thấy được gốc mê tức ngay đó tỉnh ngộ. Biết chỗ lầm của mình thì không còn lầm lạc, như người ngay góc đường đó bị lạc, khi thấy chỗ quên đường thì tự nhiên nhớ ra đường cũ, từ đó đi thẳng trở về nhà. 9. CHỈ SANH TỬ GIẢI THOÁT BẢN TẾ VÔ BIÊN Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu chúng sanh sanh tử bản tế không thể biết, làm sao giải thoát có thể biết? Phật bảo Đại Huệ: Nhân tập khí vọng tưởng lỗi ác hư ngụy từ vô thủy diệt, tự tâm hiện biết nghĩa bên ngoài, vọng tưởng thân chuyển mà giải thoát chẳng diệt. Thế nên vô biên chẳng phải hoàn toàn không có. Vì vọng tưởng kia khởi vô biên tên khác. Quán sát trong ngoài lìa nơi vọng tưởng, không có chúng sanh khác, trí và sở tri tất cả các pháp thảy đều tịch tĩnh. Chẳng biết tự tâm hiện vọng tưởng nên vọng tưởng sanh, nếu biết thì diệt. Bồ-tát Đại Huệ hỏi Phật, nếu chúng sanh không biết bản tế sanh tử làm sao biết giải thoát? Phật dạy tuy nhiều nhưng chủ yếu là tập khí vọng tưởng, đó là cội gốc sanh tử. Muốn giải thoát thì phải dứt trừ lỗi tập khí hư ngụy vọng tưởng. Vọng tưởng dứt thì tự tâm thanh tịnh biết rõ các pháp bên ngoài không thật, gọi là tự tâm hiện biết nghĩa bên ngoài. Không còn bị vọng tưởng trói buộc tức là giải thoát. Vọng tưởng vô lượng nên giải thoát vô biên, như chúng ta thường đọc câu: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Phiền não tức vọng tưởng dẫn chúng sanh đi trong luân hồi vô cùng tận, dùng giải thoát vô tận để dứt vọng tưởng. Chư Bồ-tát lập thệ nguyện mười câu vô tận cũng chính vì chỗ này. Khi quán sát trong tâm không khởi vọng tưởng, ngoài không thấy có pháp thật, không có chúng sanh khác ngoài tự tâm hiện. Lúc đó trí năng chiếu và pháp bị chiếu đều vắng lặng. Câu kết nói chẳng biết tự tâm hiện vọng tưởng nên vọng tưởng sanh, nếu biết thì diệt, đây là Phật chỉ rõ cội gốc sanh tử cũng là cội gốc giải thoát. Vọng tưởng là đầu mối của chấp trước luân hồi, nếu biết vọng tưởng từ tâm mê hiện, rõ ràng không thật có thì không theo vọng. Vọng tưởng diệt tức giải thoát. Sanh tử bản tế tức Niết-bàn bản tế, do chẳng biết tùy thuận khởi ra vọng kiến thì sanh tử tướng khác, Niết-bàn tướng khác, thành lỗi tập khí. Nếu biết tự tâm hiện ra, sanh tử Niết-bàn vốn không hai mé. Tức nhân vọng tập diệt thì thấy các pháp bên ngoài không có tự tánh, bèn hay chuyển vọng tưởng thân tùy thuận sanh tử, gọi là giải thoát mà chẳng phải đoạn diệt. Cho nên nói “vô biên, chẳng phải trọn không bản tế”. Chỉ do chẳng biết bản tế vọng thấy sanh tử Niết-bàn, khởi tưởng hữu biên. Vì vọng tưởng kia nói là vô biên, bởi khiến quán sát trong ngoài, chỉ trừ vọng tưởng lại không có danh tự chúng sanh, trí và sở tri tất cả các pháp thảy đều tịch tĩnh. Cho nên biết, chúng sanh sanh tử đều do vọng tưởng, chẳng biết tự tâm hiện thì vọng tưởng sanh, biết tự tâm hiện thì vọng tưởng diệt. Diệt thì bản tế tùy thuận, sanh tử Niết-bàn đều như mộng huyễn. Chúng ta biết sanh tử từ tâm mê hiện, nếu tâm hết mê thì ngay đó là Niết-bàn. Sanh tử Niết-bàn không phải là hai. Sanh tử bản tế tức Niết-bàn bản tế. Kinh Lăng-nghiêm nói cội gốc vô thủy sanh tử là tâm phan duyên, cội gốc Bồ-đề Niết-bàn là thể bản lai thanh tịnh. Kinh này nói tập khí hư ngụy diệt, thấy các pháp không có tự tánh thật. Các pháp không có thật thể chỉ là hư dối, hay chuyển vọng tưởng thân tùy thuận sanh tử. Nếu chuyển được vọng tưởng lôi dẫn mình đi trong sanh tử đó là giải thoát. Nhiều người tu sợ buông hết vọng tưởng, hết tính toán lúc đó không còn gì. Đâu ngờ rằng chính hết cái nhân dẫn mình đi trong sanh tử thì giải thoát hiện tiền nên nói vô biên, chẳng phải trọn không bản tế. Bởi vì thấy đây là sanh tử, kia là Niết-bàn nên mới có mé khác, nếu biết sanh tử Niết-bàn đều không thật thì không có mé khác. Quán tất cả pháp đều không thật, trong ngoài không thật, vọng tưởng không sanh, tất cả đều đưa đến chỗ tịch tĩnh. Vọng tưởng diệt gọi là Niết-bàn, vọng tưởng sanh gọi là sanh tử, sanh tử Niết-bàn cả hai đều không thật. 10. TỔNG TỤNG Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Quán sát các Đạo sư Ví như cát sông Hằng Chẳng hoại cũng chẳng đi Cũng lại chẳng cứu cánh. Ấy tức là bình đẳng Quán sát chư Như Lai Ví như cát sông Hằng... Thảy lìa tất cả lỗi. Theo dòng mà tánh thường Ấy là Phật chánh giác. Quán sát các Đạo sư tức là quán sát chư Phật ví như cát sông Hằng. Cát sông Hằng không hoại, không bao giờ lưu chuyển cũng chẳng cứu cánh. Nếu thật có cứu cánh thì Niết-bàn sanh tử thật có sai khác, không bình đẳng. Chư Phật theo dòng Niết-bàn, tức là dòng chánh giác thường trụ, nên nói Theo dòng mà tánh thường. Như Lai pháp thân chẳng phải hoại chẳng phải đi. Nếu lại có cứu cánh thì Niết-bàn sanh tử là hai, chẳng phải bình đẳng. Nếu chẳng phải bình đẳng thì thuộc tác nhân. Tác thì vô thường có nhiều lỗi lầm. Cho nên biết chỉ trừ vọng tưởng tác nhân thì theo dòng được tánh, liền thấy cảnh giới Như Lai tự giác, đồng với mé sanh tử tịch tĩnh thường trụ. Đây là Như Lai nhân dụ cát sông Hằng mà kiến lập tự thông, lìa lỗi ngôn thuyết. Tuy có nói thí dụ mà cứu cánh bất khả tư nghì. Tất cả thí dụ về tính chất của cát sông Hằng để nói về pháp thân Phật. Pháp thân đó vốn thường trụ, không sai biệt ở nơi mỗi chúng sanh. Pháp thân cũng không phải do tạo tác, không cần phải làm gì thêm mà chỉ cần không theo vọng tưởng. Vọng tưởng là nhân tố tạo nên tất cả lỗi lầm sanh tử không bình đẳng. Dứt vọng tưởng sẽ thấy mình xưa nay vẫn ở trong cảnh giới tịch tĩnh thường trụ của Như Lai. Phật nhân cát sông Hằng mà nói về chỗ tự thông tức là chỗ chư Phật thông đạt, chỗ đó lìa ngôn thuyết, nên tuy có dùng thí dụ cũng không thể diễn đạt hết được. II- CHỈ PHÁP THÂN VÔ LẬU, CHẲNG PHẢI NGHĨA SÁT-NA Chữ sát-na là âm tiếng Phạn, chỉ cho thời gian thật ngắn, trong khoảng chớp mắt có đến hai mươi sát-na. Như vậy tính một sát-na là bao nhiêu? Ngắn không thể tưởng tượng. Sát-na là sự sanh diệt tế nhị, nhỏ nhiệm, thoáng chốc đã qua mau, chúng ta không có chữ dịch được nên để nguyên. Pháp thân vô lậu chẳng phải nghĩa sát-na, vì sát-na là ý niệm sanh diệt vô thường, pháp thân thì thường trụ không thay đổi dù trong sát-na. 1. CHỈ CÁC PHÁP SÁT-NA (Phân làm hai phần) a. Sắp chỉ sát-na phi nghĩa sát-na, trước bày các pháp Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tướng hoại của tất cả các pháp sát-na. Thế Tôn! Thế nào tất cả pháp sát-na? Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói. Này Đại Huệ! Tất cả pháp ấy, nghĩa là lành, chẳng lành, vô ký, hữu vi, vô vi, thế gian, xuất thế gian, có tội, không tội, hữu lậu, vô lậu, thọ, chẳng thọ. Ngài Đại Huệ hỏi pháp nào thuộc về sát-na, Phật giải thích phàm pháp gì nằm trong đối đãi đều thuộc về sát-na, đều là vô thường hoại diệt. Hỏi nghĩa sát-na để bày nghĩa phi sát-na. Niệm niệm không dừng gọi là sát-na, cũng gọi là tướng hoại, cũng gọi là tướng không. Tất cả pháp sát-na là tất cả pháp trong ngoài do tự tâm hiện ra niệm niệm không dừng. Bởi không biết tự tâm là nghĩa phi sát-na, chỉ thấy cảnh hiện ra niệm niệm sanh diệt sát-na chẳng dừng, mà lầm cho là pháp vô vi đều đồng với diệt hết, rồi khởi ra đoạn kiến. Chẳng biết tất cả pháp sát-na có cái phi sát-na, chỗ này không phải Nhị thừa thấu được. Hỏi đáp nêu ra thảy đều để rõ ý chỉ này. Trước bày tất cả pháp, đợi sau mới hiển minh. Ý hỏi về sát-na sanh diệt để mong Phật chỉ ra chỗ không phải sát-na sanh diệt. Thấy tất cả pháp trong và ngoài đều sanh diệt không ngừng, không pháp nào không thuộc về sát-na, đó là cái thấy của phàm phu và Nhị thừa. Vì không nhận ra các pháp tự tâm hiện, thấy sự vật và bản thân mình luôn sanh diệt từng phút giây, cho rằng thân này cảnh này đều vô thường hoại diệt. Đó là đoạn kiến. Không ngờ rằng chính trong sanh diệt đó có cái không sanh diệt. Không sanh diệt là nghĩa phi sát-na. Người giác ngộ tự tâm hiện lượng thấy được nghĩa phi sát-na, nhận ra trong cái vô thường biến hoại vẫn có cái không sanh diệt. Đó là nghĩa sát-na, phi sát-na. Đại Huệ! Lược nói tâm ý ý thức và tập khí, ấy là nhân năm thọ ấm, tâm ý ý thức tập khí ấy nuôi lớn, phàm ngu vọng tưởng lành chẳng lành. Lược nói pháp năm ấm, bởi tất cả pháp đều từ năm ấm sanh khởi. Pháp năm ấm lại lấy tâm ý ý thức, tập khí làm nhân mà được nuôi lớn. Phàm ngu vọng tưởng lành chẳng lành là vọng tưởng hữu lậu trong tam giới, lục phàm, là nghĩa sát-na. Trước tiên nêu các pháp nằm trong nghĩa sát-na sanh diệt. Tất cả không ngoài pháp năm ấm, năm ấm này được nuôi dưỡng lớn mạnh từ vọng tưởng của tâm, ý, ý thức. Vọng tưởng là đầu mối dẫn chúng sanh đi trong ba cõi sáu đường chịu khổ sanh tử, chịu biến hoại từng sát-na nhỏ nhiệm. Đại Huệ! Tu tam-muội lạc, tam-muội chánh thọ, hiện pháp lạc trụ gọi là hiền thánh thiện vô lậu. Nhân tướng vô lậu của thánh hiền trong tam thừa là phi sát-na. Do tu tam-muội được pháp lạc trụ hiện bày ra, sau mới phát minh. Người tu an trụ trong chánh định được pháp lạc, đó là hiền thánh, là thiện vô lậu. Thiện vô lậu không nằm trong nghĩa sát-na. Như vậy, theo vọng tưởng đối đãi gọi là sát-na, an trụ trong chánh định tức là không phải sát-na. b. Chỉ nghĩa sát-na Đại Huệ! Lành chẳng lành là tám thức. Những gì là tám? Nghĩa là Như Lai tàng tên tàng thức, tâm ý ý thức và năm thức thân, chẳng phải chỗ ngoại đạo nói. Đại Huệ! Năm thức thân cùng tâm ý ý thức chung. Tướng lành chẳng lành lần lượt biến hoại. Về tương tục lưu chú chẳng hoại thân sanh, cũng sanh cũng diệt. Chẳng giác tự tâm hiện, thứ lớp diệt, các thức khác sanh. Hình tướng sai biệt nhiếp thọ ý thức cùng năm thức chung tương ưng sanh. Thời gian sát-na chẳng dừng gọi là sát-na. Đây giải thích lành chẳng lành là tám thức. Những gì là tám thức? Là từ Như Lai tàng bất giác chuyển thành tàng thức, cộng thêm thức thứ bảy, ý thức thứ sáu và năm thức trước. Ngoại đạo không biết đến chỗ chuyển biến này nên không nói đến. Năm thức thân cùng tâm ý ý thức chung, năm thức thân hợp tác với tâm ý ý thức thành ra có tướng lành và chẳng lành. Lần lượt biến hoại, tướng lành dữ là tướng đổi dời từng sát-na. Về tương tục lưu chú chẳng hoại thân sanh, cũng sanh cũng diệt, tương tục lưu chú là thức thứ bảy luôn luôn tiếp nối sanh diệt, nhưng thể chân thật của nó là Như Lai tàng không sanh diệt. Vì không giác tự tâm hiện, nên chúng ta trôi theo các thứ sanh diệt chịu các hình tướng sai biệt. Theo vọng tưởng sanh diệt nên ý thức cùng năm thức chung tương ưng sanh, ý thức luôn hợp tác với năm thức hòa hợp nhau sanh, luôn luôn chuyển biến gọi là sát-na. Đây chỉ cho tâm thức hữu lậu lành và chẳng lành vốn có thân chẳng hoại, mà lầm theo sanh diệt. Cho nên tức nơi sát-na để hiển bày nghĩa phi sát-na. Như Lai tàng tên tàng thức chẳng phải chỗ ngoại đạo nói, nghĩa là ngoại đạo chẳng biết tàng thức tức Như Lai tàng. Ngay nơi tâm ý thức có cái thể không hoại, chỉ vì chúng ta luôn chạy theo tướng sanh diệt nên thành ra biến hoại. Thể không biến hoại là Như Lai tàng, là nghĩa phi sát-na. Vì mê Như Lai tàng biến thành tàng thức, từ tàng thức có chứa đựng chủng tử thiện ác, vì thế đi trong đường lành và chẳng lành. Chỗ này chỉ có Phật biết, ngu phu và ngoại đạo không biết. Cho nên chính khi năm thức nương tâm ý ý thức khởi ra tướng lành chẳng lành lần lượt biến hoại. Cái tương tục lưu chú kia chẳng hoại, mà cũng theo các thức cùng thân chung sanh cùng thân chung diệt. Do gốc bất giác tự tâm hiện lượng, đối với cái trong thứ lớp diệt hiện ra không thể an trụ, liền có các thức khác theo chỗ tập nặng của đời trước khởi các hình tướng. Chỗ này giải thích rõ cội gốc sanh tử. Nghĩa là từ bất giác mê tự tâm hiện lượng, quên cái chân thật của mình, ở trong ấy thứ lớp không thể an trụ, từ đó có các thức chuyển sanh, duyên theo chỗ tập nặng của đời trước mà trầm luân trong ba cõi. Chúng ta làm thiện nhiều, tích lũy trong tàng thức nhiều chủng tử thiện; nếu làm ác nhiều thì tích lũy trong tàng thức nhiều chủng tử ác. Chủng tử thiện hay ác đó dẫn chúng ta sanh nơi cõi lành hay cõi dữ. Vì thế nói theo chỗ tập nặng của đời trước khởi các hình tướng. Hình tướng tốt, hình tướng xấu, sanh cõi khổ, sanh cõi vui đều do gốc tập khí mạnh lôi dẫn. Thí dụ trong thiền viện này, huynh đệ nào có ý thích mạnh về việc gì thì thích thực hiện việc đó. Như đêm rằm trăng sáng, đến gần giờ tọa thiền lại có người rủ đi ngắm trăng. Nếu chủng tử mình thích tọa thiền thì chọn tọa thiền, chủng tử thích ngắm trăng thì đi dạo chơi... Ở thế gian, có người nặng về tập khí rượu chè, cờ bạc... khi gặp người rủ liền đi theo uống rượu, đánh bạc... Như vậy tùy theo chủng tử nào nặng thì thọ sanh trong cõi đó, mỗi cõi có hình tướng đẹp xấu, hoàn cảnh giàu nghèo... cũng đều do tất cả nghiệp đã tạo từ đời trước đưa đến kết quả hiện tại. Chủng tử bên trong và hình tướng bên ngoài có ảnh hưởng liên quan với nhau. Chủng tử thiện bên trong đầy đủ nên cảnh bên ngoài tốt đẹp. Như người tu Thập thiện, khi mạng chung thấy chư thiên đón rước, người giữ ngũ giới thì khi nhắm mắt thấy bà con đến rủ mình đi chơi đâu đó để thọ sanh cõi người. Nếu người hung dữ ác hại thì khi chết thấy bị rượt đuổi, hoảng sợ chạy vào địa ngục. Chủng tử tập khí bên trong hay cõi giới bên ngoài cũng gốc từ tự tâm chúng ta, biết rõ điều này chúng ta cẩn thận tránh huân tập điều ác, không bị tái sanh cõi dữ. Lại dẫn ý thức và năm thức căn cùng tâm sở tương ưng thành nghĩa sát-na. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Một là căn bản sanh tử từ vô thủy, tức là hiện nay ông cùng các chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là thể thanh tịnh Bồ-đề Niết-bàn từ vô thủy, tức là hiện nay thức tinh nguyên minh của ông hay sanh các duyên, duyên bỏ sót nó. Do các chúng sanh bỏ sót cái bản minh này, tuy trọn ngày làm mà chẳng tự giác, uổng vào các thú.” Đây là tương tục chẳng hoại do gốc bất giác lầm theo sanh diệt. Đâu chẳng phải hay sanh các duyên, rồi duyên bỏ sót uổng vào các thú, thật đáng buồn thay! Các thức tâm vương và tâm sở đều nằm trong sanh diệt, gọi là nghĩa sát-na. Kinh Lăng-nghiêm nêu lên hai cội gốc sanh tử và Bồ-đề. Cội gốc sanh tử dùng tâm phan duyên làm tự tánh, lấy vọng tưởng lăng xăng cho là tâm mình nên bị dẫn đi trong sanh tử. Cội gốc Bồ-đề chính là thức tinh nguyên minh hay là tánh giác sáng suốt ban đầu, nó có sẵn nơi các căn, từ đó phát ra các duyên, chạy theo duyên bỏ quên tánh giác. Như con mắt của chúng ta có tánh thấy, vì có tánh thấy mới khởi phân biệt đẹp xấu, trắng đen... Tánh thấy là cội gốc, nhưng khi thấy chúng ta lại chạy theo phân biệt là các duyên trần mà quên tánh thấy, gọi là khi duyên cảnh rồi bỏ sót cái thức tinh nguyên minh. Có sẵn mà bỏ quên nên trọn ngày ở trong tánh giác mà luống chịu luân hồi. Như vậy chúng sanh ai cũng có sẵn tánh bất sanh diệt, có sẵn nghĩa phi sát-na mà không chịu nhận để trôi lăn theo sát-na sanh diệt. 2. CHỈ TẬP KHÍ VÔ LẬU CHẲNG PHẢI NGHĨA SÁT-NA (Phân làm năm phần) a. Chỉ sát-na chẳng phải nghĩa sát-na Đại Huệ! Sát-na ấy gọi thức tàng Như Lai tàng, thức cùng ý chung sanh là tập khí sát-na, còn tập khí vô lậu chẳng phải nghĩa sát-na, chẳng phải chỗ giác của phàm ngu. Vì chấp trước sát-na luận nên chẳng giác tất cả pháp sát-na phi sát-na, rồi khởi đoạn kiến hoại pháp vô vi. Như Lai tàng khi biến thành tàng thức cùng với ý chung sanh tạo thành tập khí sát-na, tức là tập khí sanh diệt. Còn tập khí vô lậu không phải nghĩa sát-na, nghĩa là không sanh diệt. Như vậy hằng ngày chúng ta tu chăn trâu, đó là huân tập tập khí vô lậu không phải sát-na. Không phải sát-na thì không hoại diệt, đó là giải thoát Niết-bàn. Tu là gốc ở chỗ đó. Chúng ta hiểu rõ thì biết khi nào mình đi theo sanh diệt, khi nào đi theo giải thoát. Đây chính hiển bày nghĩa sát-na phi sát-na. Mê Như Lai tàng mà làm tàng thức liền có thức cùng ý chung sanh, thành ra tập khí, đây là nghĩa sát-na. Nếu đạt được thức cùng ý chung sanh nhân mê mà có, vốn không tự tánh, tức là chuyển thức tàng làm Như Lai tàng. Đây là tập khí vô lậu chẳng phải nghĩa sát-na, chẳng phải chỗ giác của phàm ngu. Bởi vì phàm ngu chỉ giác tất cả pháp sát-na, mà không biết tất cả pháp sát-na có phi sát-na, luống khởi đoạn kiến phá hoại pháp vô vị. Cho nên biết, tất cả chúng sanh chẳng giác chẳng biết, lầm theo sanh diệt. Đây là lý do Như Lai dùng vô gián tất-đàn (bố thí không ngừng) vậy. Chuyển sát-na thành phi sát-na, nghĩa là chuyển sanh diệt thành bất sanh, cũng là chuyển tàng thức thành Như Lai tàng. Chỉ cần biết rõ thức sanh chung với ý đều từ mê hiện, không có tự tánh. Biết thức phân biệt đều như huyễn không thật, huân tập cái biết này gọi là huân tập vô lậu, tức thành tựu được nghĩa bất sanh diệt không dời đổi. Phàm phu thế gian không biết được tất cả pháp sát-na có phi sát-na. Thí dụ Kinh Dịch dùng sự dời đổi để giải thích sự vật. Tất cả sự vật đều là dòng biến chuyển xê dịch, đó là nghĩa sát-na. Người ta chỉ biết sự biến đổi từ thô đến tế, cho đó là chân lý, không biết đến trong biến chuyển có cái không biến chuyển. Vì không biết không thấy nên chấp nhận sanh diệt từng sát-na, đó là sự lầm mê đáng thương. b. Chỉ Như Lai tàng chẳng phải nghĩa sát-na Đại Huệ! Thất thức chẳng lưu chuyển, chẳng chịu khổ vui, chẳng phải nhân Niết-bàn. Đại Huệ! Như Lai tàng chịu khổ vui cùng nhân chung hoặc sanh hoặc diệt. Bị tứ trụ địa và vô minh trụ địa làm say, phàm ngu bất giác chấp sát-na nên vọng tưởng huân tâm. Phật giải thích cái gì là nhân của Niết-bàn và cái gì không phải là nhân Niết-bàn. Thức thứ bảy chẳng lưu chuyển, chẳng nhận khổ vui, nó là thức chấp ngã, sai khiến thức thứ sáu tạo các chủng tử khổ vui rồi đưa vào thức thứ tám. Nó như người đưa thư, trong thư nói chuyện tốt chuyện xấu gì không biết, cứ đem nạp rồi thôi. Người nhận thư mới chịu khổ vui. Thức thứ tám hay tàng thức chứa chủng tử lành dữ, chịu khổ vui, là nhân Niết-bàn. Vì thế nói: Đại Huệ! Như Lai tàng chịu khổ vui cùng nhân chung hoặc sanh hoặc diệt, cùng nhân chung là cùng các thứ khổ vui chung họp để mà sanh diệt. Thức thứ bảy không có chủ thể, chỉ chấp vào thức thứ tám cho là chủ thể của mình, nó không phải là nhân Niết-bàn. Như vậy, tàng thức hợp tác với các chủng tử khổ vui đi trong sanh diệt, bị vô minh trụ địa và tứ trụ địa làm say mê, luôn luôn bị vọng khởi sanh diệt không dừng. Chúng sanh phàm ngu vì vô minh mê mờ nên chấp khổ vui thật, chấp sanh diệt thật, bị trôi trong biến chuyển vi tế, gọi là sát-na. Nếu tỉnh giác, ngay vọng tưởng khởi liền dừng, không tạo nghiệp, không tiếp tục đưa chủng tử vào thức tàng, không còn sức nghiệp lôi kéo thúc đẩy thì thức tàng thành Như Lai tàng. Đây chính là nhân Niết-bàn. Thất thức do bất giác vọng khởi kiến phần gom làm tự thể. Vọng thể vốn là dối nên chẳng phải nhân Niết-bàn. Như Lai tàng ở trong vị mê, vọng chịu khổ vui mà cùng nhân tướng Niết-bàn hòa hợp, tuy chung với các thọ sanh diệt mà nhân tướng chẳng diệt. Thức thứ tám đứng về bên mê thì nó là thức tàng, đứng về bên giác nó là Như Lai tàng. Khi mê, nó là chỗ chứa chủng tử thiện ác, đi trong khổ vui, chính khi đi trong khổ vui Như Lai tàng vẫn không mất, nên nói Như Lai tàng ở trong vị mê, vọng chịu khổ vui mà cùng nhân tướng Niết-bàn hòa hợp. Khi chúng sanh thọ khổ trong địa ngục, Phật tánh cũng vào địa ngục nhưng không khổ, chỉ có cái mê lầm chịu khổ. Chúng ta làm người cũng sẵn có Phật, nhưng vui buồn là vọng thức, Phật tự tâm không có vui buồn. Để thấy rõ rằng Phật tánh hay Như Lai tàng cùng đi trong các cõi, chung thọ sanh diệt mà không bị sanh diệt. Bởi có ngũ trụ địa làm say mê, mà phàm ngu bất giác khởi chấp sát-na. Chẳng lưu chuyển, là thất thức y bát thức niệm niệm huân tập dường như có thật ngã, mà sát-na chẳng dừng. Đến lúc chết giấc chỉ còn bát thức, nên nói chẳng lưu chuyển. Chưa đến lúc chết giấc, thường có sức chuốc khổ vui, mà biết khổ biết vui chẳng phải nó thọ nhận, nên nói chẳng chịu khổ vui. Vọng thấy sanh diệt sát-na chẳng dừng là trước sau bất giác vậy. Tứ trụ thuộc về phàm phu, vô minh trụ thuộc Nhị thừa, giải thích ở quyển trước. Đây nói thất thức chẳng lưu chuyển vì không có tự tánh. Tạo sanh tử khổ vui là tiền lục thức, gìn giữ chủng tử đi thọ sanh là thức thứ tám, thức thứ bảy không tạo, không thọ. Trong trường hợp chết giấc, tất cả bảy thức ngừng hoạt động, chỉ còn thức thứ tám duy trì mạng căn, nhưng thức thứ bảy ẩn trong thức thứ tám không mất. Chết giấc rồi tỉnh dậy thì nó là gốc chấp ngã để tạo nghiệp, tạo nghiệp thọ báo rồi đưa chủng tử vào kho, riêng nó không thọ khổ vui. Thấy có khổ vui sanh diệt chỉ là vọng thấy, nên nói Vọng thấy sanh diệt sát-na chẳng dừng là trước sau bất giác vậy. Lại nữa, Đại Huệ! Như kim cương, xá-lợi Phật được tánh kỳ đặc trọn không thể làm tổn hoại. Đại Huệ! Nếu được vô gián mà có sát-na thì Thánh nên không phải Thánh. Song Thánh chưa từng chẳng phải Thánh, như kim cương tuy trải nhiều kiếp số mà cân lượng chẳng giảm. Tại sao phàm ngu chẳng rõ lời nói ẩn khuất của ta, đối tất cả pháp trong ngoài khởi tưởng sát-na? Phật dùng kim cương, xá-lợi Phật để thí dụ tánh Như Lai tàng cứng chắc không tổn hoại, không sanh diệt nhỏ nhiệm. Nếu được vô gián mà có sát-na thì Thánh nên không phải Thánh, nghĩa là nếu chứng đắc giác ngộ gọi là pháp tánh bình đẳng vô gián (pháp tánh không xen hở) mà còn bị hoại từng sát-na thì không phải là Thánh. Thánh là bậc giác ngộ trở về với tâm thể chân thật không hoại diệt, nếu còn đi trong sanh diệt vô thường thì không phải là Thánh. Chúng ta tu, thấy rõ vọng tưởng là sanh diệt dao động, khi vọng tưởng lặng đó là tánh giác hằng tri hằng hữu không động, không tướng mạo nên không sát-na sanh diệt. Ứng dụng tu là cốt dừng vọng niệm chạy theo sanh tử, sanh tử dừng thì không sanh tử hiện tiền. Hiện tiền vì nó sẵn có, không phải từ đâu đến, chỉ vì sanh tử mạnh lôi chạy nên cái không sanh tử chẳng hiện. Cho nên bảo phải chăn trâu, bất cứ lúc nào đi đứng nằm ngồi cũng thấy cái nhân sanh tử đang lôi dẫn mình, quyết không theo là chăn giữ. Chăn giữ được thì vọng niệm sanh diệt dừng, lúc đó tâm thể thường trụ hiện ra, gọi là giải thoát. Thánh không từng bị sanh diệt, như chất kim cương dù trải qua nhiều kiếp số cũng không tổn giảm. Thể tánh chân thật nơi mỗi chúng ta dù trôi lăn bao nhiêu cũng không biến hoại. Đó là ý Phật tha thiết muốn nêu lên ở đây. Ngài trách tại sao phàm phu không hiểu lời nói ẩn khuất của ngài, nói vô thường để hiển bày chân thường. Chúng ta nghe nói vô thường cứ chấp rằng các pháp đều thật vô thường, đó là không hiểu ý Phật. Lại nói Như Lai tàng chứng pháp vô lậu chẳng phải nghĩa sát-na. Kim cương cùng xá-lợi Phật, đây là hai tánh kỳ đặc chẳng hoại, để dụ Như Lai tàng chân tánh vô gián chẳng theo các pháp sát-na. Phàm ngu không trí chẳng hiểu Như Lai tàng bí mật, cho là đồng với các pháp rồi khởi tưởng sát-na, đây là lý do hoại pháp vô vi. Tất cả chúng sanh đều có Như Lai tàng không sanh diệt, phàm ngu không trí lại cho là đồng với các pháp sanh diệt, đó là phá hoại pháp vô vi. c. Chỉ thế gian xuất thế gian ba-la-mật chẳng lìa sát-na Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói sáu ba-la-mật đầy đủ được thành Chánh giác, những gì là sáu? Ý Bồ-tát Đại Huệ hỏi rằng Phật nói sáu ba-la-mật đầy đủ được thành Chánh giác, tức là không còn sanh diệt. Không sanh diệt là không còn nghĩa sát-na. Nhưng đã có một có sáu đối đãi là nghĩa sát-na. Như vậy tại sao Phật nói nghĩa sát-na mà đưa đến chỗ không sát-na? Nói sanh diệt mà đưa đến không sanh diệt? Phật bảo Đại Huệ: Ba-la-mật có ba thứ phân biệt: thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng. Đại Huệ! Thế gian ba-la-mật là ngã và ngã sở nhiếp thọ chấp trước, nhiếp thọ hai bên, là chỗ các thứ thọ sanh, ưa sắc thanh hương vị xúc, nên đầy đủ bố thí ba-la-mật, giới, nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ cũng như thế, phàm phu thần thông và sanh Phạm thiên. Trước tiên giải thích về thế gian ba-la-mật. Thí dụ bố thí mà còn thấy có mình có người, thấy có vật bố thí và người thọ thí, thấy người thật, vật thật tức là nhiếp thọ hai bên. Vì ưa sắc thanh hương vị xúc mà thực hành sáu pháp ba-la-mật, kết quả được ngũ thông hoặc sanh lên cõi Phạm thiên, không được giải thoát chân thật, gọi đó là thế gian ba-la-mật. Nhân ở trước phát minh nghĩa phi sát-na, ở đây lại hỏi sáu ba-la-mật. Ý bảo, nếu chẳng phải sát-na không nên có sáu thứ, nếu thuộc sát-na thì không nên cho là phi sát-na làm nhân đầy đủ. Ba-la-mật có ba thứ, trước là thế gian. Ngã là người hay thí, ngã sở là vật đem ra thí, nhiếp thọ năng sở tức chẳng lìa hai bên có không. Vì cầu được thọ sanh thù thắng, đây là nhân quả hữu lậu, vốn là việc làm của phàm phu. Thần thông là ngũ thông của nhân thiên vậy. Đại Huệ! Xuất thế gian ba-la-mật là Thanh văn, Duyên giác rơi vào nhiếp thọ Niết-bàn, hành sáu ba-la-mật thích tự mình được vui Niết-bàn. Xuất thế gian ba-la-mật nghĩa là Nhị thừa cũng tu bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ nhưng thích được vui Niết-bàn riêng mình. Thực hành sáu pháp ba-la-mật để an trú Niết-bàn, đó là xuất thế gian ba-la-mật. Xuất thế gian ba-la-mật tuy không nhiếp thọ nhân quả thế gian mà nhiếp thọ Niết-bàn làm cái vui tự độ, cũng chẳng phải cứu cánh. d. Chỉ xuất thế gian thượng thượng ba-la-mật chẳng phải nghĩa sát-na Xuất thế gian thượng thượng ba-la-mật là vì giác tự tâm hiện lượng vọng tưởng nhiếp thọ và tự tâm là hai, nên chẳng sanh vọng tưởng. Đối các thú không có phần nhiếp thọ, tự tâm sắc tướng không chấp trước, vì an lạc tất cả chúng sanh khởi bố thí ba-la-mật. Khởi phương tiện thượng thượng nơi duyên vọng tưởng kia chẳng sanh là giới, ấy là trì giới ba-la-mật. Giải thích về xuất thế gian thượng thượng ba-la-mật. Giác tự tâm hiện lượng không theo vọng tưởng, không bị sát-na sanh diệt chi phối, không chấp sắc tướng nên không bị lôi dẫn luân hồi trong các cõi. Thực hành bố thí ba-la-mật vì muốn chúng sanh được an lạc, không phải vì lợi ích riêng cho mình. Thực hành trì giới ba-la-mật là đối với ngoại cảnh không khởi vọng tưởng, dù vọng tưởng thiện hay ác cũng không chạy theo. Như thế ba-la-mật thượng thượng này chú trọng về tuệ tánh giác không ô nhiễm, gọi là trì giới. Tức nơi vọng tưởng kia chẳng sanh là nhẫn, biết năng nhiếp sở nhiếp ấy là nhẫn nhục ba-la-mật. Ngay nơi vọng tưởng không khởi, đó là nhẫn, biết năng nhiếp sở nhiếp không thật, đó là an trú trong nhẫn nhục ba-la-mật. Đối với năng nhiếp là ngã, sở nhiếp là ngã sở, không vướng mắc vào hai cái đó gọi là vô sanh pháp nhẫn. Đầu hôm, giữa đêm và khuya, siêng năng phương tiện tùy thuận tu hành phương tiện vọng tưởng chẳng sanh, ấy là tinh tấn ba-la-mật. Tinh tấn ba-la-mật là đầu hôm, giữa đêm và gần sáng siêng năng tùy thuận phương tiện tu hành thì vọng tưởng chẳng sanh. Chúng ta ngồi thiền để làm chủ, không theo vọng tưởng, dừng được vọng tưởng, đó là tinh tấn ba-la-mật. Vọng tưởng diệt hết chẳng rơi vào nhiếp thọ Niết-bàn của Thanh văn, ấy là thiền định ba-la-mật. Tự tâm vọng tưởng chẳng phải tánh, trí tuệ quán sát chẳng kẹt hai bên, thân trước càng thù thắng không thể hoại, được tự giác thánh thú, ấy là Bát-nhã ba-la-mật. Biết vọng tưởng do tâm hiện không thật gọi là biết vọng tưởng không tánh. Trí tuệ quán sát không dính mắc hai bên, càng ngày thân trước càng thù thắng không thể hoại, tức là pháp thân bản hữu càng ngày càng hiển lộ, đạt được tự giác thánh trí, đó là Bát-nhã ba-la-mật. Thượng thượng ba-la-mật là giác tự tâm hiện lượng, thấu suốt năng sở vọng tưởng, nơi tự tâm lượng hai bên không đến nhau. Chỉ do bất giác, giác thì chẳng sanh. Cho nên đối với các thú không có phần nhiếp thọ, sắc tướng ngoài tự tâm không sanh chấp trước. Vì an lạc cho tất cả chúng sanh mà khởi ra bố thí, nói rằng đối trị xan tham, cũng hay trị xan tham cho người, tùy thuận tự tánh mà làm bố thí, ấy là phương tiện thượng thượng. Đến chỗ duyên vọng tưởng chẳng sanh, tùy thuận tánh không ô nhiễm, thành tựu Giới độ. Tùy thuận tánh không sân hận, biết năng nhiếp sở nhiếp đều không thể được, thành tựu Nhẫn độ. Đầu hôm, giữa đêm và khuya, tùy thuận tự tánh như thật bản tế, chẳng khởi phân biệt là Tinh tấn độ. Đối với tự tánh xưa chẳng sanh tướng khác, chẳng theo Nhị thừa chấp tam-muội còn năng sở, ấy là Thiền định độ. Đối với tự tánh xưa chẳng sanh tướng khác, tức là luôn an trú trong thể tự giác sẵn có, không khởi tâm tìm cầu nên gọi là không sanh tướng khác. Hàng Nhị thừa thấy đây là sanh tử, kia là Niết-bàn nên còn năng sở đối đãi. Thiền định ba-la-mật này thấu tột cứu cánh không hai, không rơi vào năng sở, đó là chỗ xuất thế thượng thượng. Liễu đạt tất cả vọng tưởng không tánh, đối chỗ sở khởi chẳng sanh chướng ngại, đối chỗ không khởi chẳng trụ bản vị, lìa các thứ có không, riêng một không bạn mà trí thân chẳng diệt, lấy đây thành tựu tự giác thánh thú, ấy là Bát-nhã độ. Bát-nhã độ này rất gần với chỗ tu của chúng ta. Rõ biết tất cả vọng tưởng không tánh, tức là không thật nên không theo. Đối chỗ sở khởi chẳng sanh chướng ngại, vọng tưởng khởi biết nó không thật nên không có gì chướng ngại. Không khởi chẳng trụ bản vị, khi vọng tưởng không khởi cũng chẳng chấp chỗ không khởi đó là chỗ an trú của mình. Lìa các thứ có không, riêng một không bạn mà trí thân chẳng diệt, ngài Huyền Giác có câu Thường độc hành thường độc bộ, đó là riêng một không bạn. Trí thân chẳng diệt là trí quán không rơi vào hai bên có không... mà thể vắng lặng luôn thường trụ chẳng biến đổi, gọi là tịch mà chiếu. Xét sáu độ này, tại thế gian thuộc về nhân sát-na, cho nên được quả tướng đều thành sát-na, nhân xuất thế tuy chẳng phải sát-na, song xét các tự tánh Niết-bàn không năng thủ sở thủ, nên cũng thuộc về sát-na; duy xuất thế thượng thượng, chỉ một tự tâm, ngoài tự tâm không có sáu độ, thuận tánh khởi dụng, dụng trở về thể, chẳng phải nghĩa sát-na. Đáp ý hỏi, đã đủ ngoài lời nói, có thể do lý đạt được. Kết luận, sáu độ của thế gian và xuất thế gian đều nằm trong nghĩa sát-na. Chỉ riêng pháp Thiền gọi là tối thượng thừa hay xuất thế thượng thượng là phi sát-na. Tu lục độ là luôn trở về với tự tánh, sống với tự thể lục độ không mong cầu hình thức, dù tu bố thí, trì giới... cũng chỉ là dừng lặng mọi vọng tưởng, sạch hết tất cả ý niệm. Tuy Phật giải thích về ba loại ba-la-mật, nhưng chủ đích nhắm đến xuất thế gian thượng thượng ba-la-mật không phải nghĩa sát-na. e. Tổng kết sát-na phi sát-na bình đẳng Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Không, vô thường, sát-na Kẻ ngu vọng tưởng tạo Như sông, đèn, hạt giống Mà khởi tưởng sát-na. Phật nói các pháp vô thường sát-na sanh diệt chỉ để phá lầm chấp thường của ngu phu. Trước tiên nêu sự chuyển biến vi tế nhỏ nhiệm như dòng sông chảy, đèn cháy, hạt giống nẩy mầm... Sự sanh diệt từng sát-na đó là tướng vô thường. Nhìn bên ngoài thấy dường như là một, là không thay đổi, nhưng sâu kín bên trong là sát-na sanh diệt. Sát-na dứt phiền loạn Lặng lẽ lìa sở tác Tất cả pháp chẳng sanh Ta nói nghĩa sát-na. Phật nói sát-na để làm gì? Để dứt phiền loạn, để lặng lẽ không còn tạo tác, đưa đến nghĩa tất cả pháp chẳng sanh. Hai bài kệ này nói về lý do Như Lai nói sát-na, vì chỉ kẻ ngu vọng tưởng hữu vi, bảo như dòng sông, ngọn đèn, hạt giống chóng hoại, bởi muốn kia khởi tưởng sát-na. Nếu đạt sát-na thì phiền não tự dứt, được chỗ lặng lẽ, xa lìa vọng tưởng. Mới biết tất cả pháp thảy duy tâm hiện không có tự tánh, hiện thân là vô sanh. Đây là lý do Như Lai nói nghĩa sát-na. Vật sanh thì có diệt Chẳng vì kẻ ngu nói Vô gián tương tục tánh Chỗ huân của vọng tưởng. Vô minh làm nhân kia Tâm ắt từ kia sanh Cho đến sắc chưa sanh Trung gian có phần gì? Vật sanh thì có diệt, các pháp vừa có sanh liền diệt, đó là tướng huyễn, thể tánh chân thật không sanh diệt, điều này không thể nói cho người ngu hiểu. Vô gián tương tục tánh, chỗ huân của vọng tưởng, tức chủng tánh sanh diệt tiếp nối không ngừng, do sức huân tập của vọng tưởng, do vô minh làm nhân mà tâm theo đó sanh diệt. Nhưng nếu khi sắc chưa sanh, trung gian có phần gì, nói rằng tâm duyên theo sắc, vậy lúc sắc bên ngoài chưa có, thì tâm thức không có gì để duyên theo. Mới thấy rõ các vọng động sanh diệt phải có đủ bên trong tâm, bên ngoài cảnh hợp lại. Vật sanh thì có diệt là vật mới sanh liền diệt. Chẳng rõ Như Lai tàng đệ nhất nghĩa đế nên gọi là vô minh. Vô minh bất giác vọng động thành nghiệp, nên gọi là mới sanh. Bởi bất giác vọng động nên sanh không có tánh sanh, không sanh liền đó diệt vậy. Kẻ ngu chẳng rõ chỗ này mà làm vô gián tương tục, đây là chỗ huân của vô minh vọng tưởng. Vô minh làm nhân nên vọng tâm y khởi, ngược dòng vô minh vọng động khi chưa gá với sắc, rõ ràng không có chỗ tựa, liền tỉnh ngộ mà biết sẽ không trôi đến niệm thứ hai. Chữ vọng tưởng để nói lên tính cách không thật, biết không thật nên vừa dấy niệm liền thôi, gọi là sanh không có tánh sanh. Lầm cho rằng có sanh diệt tiếp nối không dừng, đó chỉ là sức huân tập của vô minh. Nếu chúng ta nhìn thấy tất cả sự vật biết hư dối không thật thì tâm thức không có chỗ gá. Tâm chạy theo cảnh chỉ là vọng thức giả dối không có. Biết tâm không thật có thì không theo, không trôi đến niệm thứ hai. Khi thấy chỉ là thấy không dấy niệm phân biệt, tức là trở về kiến tinh nguyên minh. Đây là chỗ ngài Huyền Giác trả lời Lục Tổ: Phân biệt cũng không phải là ý. Tương tục thứ lớp diệt Các tâm theo kia sanh Khi chẳng trụ nơi sắc Duyên chỗ nào mà sanh? Vì từ kia nên sanh Không như thật nhân sanh Tại sao không chỗ thành Mà biết sát-na hoại? Tương tục thứ lớp diệt, các tâm theo kia sanh, nghĩa là các pháp tiếp nối nhau sanh diệt mà tâm duyên theo pháp đó sanh khởi. Nhưng đã là sanh diệt không dừng thì không trụ, khi chẳng trụ nơi sắc, có cảnh, có sắc làm đối tượng tâm mới sanh, nếu không cảnh thì tâm không có chỗ tựa để sanh. Như thế biết rằng nhân sanh khởi không thật, thức phân biệt không thật tức là không chỗ thành. Tại sao không chỗ thành, mà biết sát-na hoại. Có hoại là có thành, chỗ thành đã không thật thì biết hoại không thật. Hoại là nghĩa sát-na. Như vậy biết các pháp huyễn hóa, sanh không thật, diệt không thật, nghĩa sát-na cũng không thật. Đây lại nói vô gián tương tục thật không có sanh, bởi không như thật sanh, tức diệt cũng không thể được. Bởi vì tâm tương tục liền sanh liền diệt, nhân duyên nhóm họp tâm khác lại sanh, nhân duyên chưa hội thì sanh gá ở chỗ nào? Nếu bảo tức từ tâm kia, song tâm kia hư vọng do bất giác khởi ra, thể sanh đã chẳng thành thì diệt lại hoại cái gì? Nên nói chẳng được chỗ diệt kia. Cho nên biết, sanh vốn không nhân, diệt cũng không đợi, chính nơi chỗ này được gốc vô sanh, tự tánh lặng lẽ vậy. Vọng tưởng chính là cái vô gián tương tục, dấy niệm liên miên không dừng nghỉ. Chúng ta quan sát nó từ đâu có, do cảnh bên ngoài hay tâm niệm bên trong? Cảnh ngoài không thật, tâm mê bên trong là bất giác không thật, khoảng giữa cũng không thật. Hoàn toàn không thật mà chúng ta bị lôi dẫn chạy không ngừng. Phân tích kỹ chỗ này để thấy chỗ lầm mê, biết vọng tưởng không chỗ sanh, không chỗ diệt, ngay đó là vô sanh. Người tu được chánh định Kim cương, xá-lợi Phật Cung điện Quang Âm thiên Thế gian việc chẳng hoại. Người tu sống với chánh định không hoại, như kim cương, như xá-lợi Phật, như cung điện Quang Âm thiên. Trụ nơi chánh pháp được Như Lai trí đầy đủ Tỳ-kheo được bình đẳng Làm sao thấy sát-na? Người trụ nơi chánh pháp có đầy đủ trí tuệ Phật, tâm sẽ được bình đẳng. Bình đẳng rồi thì không còn thấy nghĩa sanh diệt của từng sát-na. Càn-thát-bà, huyễn thảy Sắc không có sát-na Nơi sắc thảy chẳng thật Xem đó dường chân thật. Tất cả cảnh sắc hiện trước mắt chúng ta giống như thành càn-thát-bà, như huyễn hóa không thật. Sắc không thật thì đâu có gì phải đuổi theo? Nhưng phàm ngu xem thấy tưởng chừng như có thật. Đoạn tụng này nói về tập khí vô lậu chẳng phải nghĩa sát-na. Dẫn người tu hành chánh định, kim cương, xá-lợi, cung điện Quang Âm, đây là bốn việc chẳng hoại ở thế gian và xuất thế, để dụ người trụ chánh pháp đã được Như Lai thánh trí, Tỳ-kheo bình đẳng là chẳng phải sát-na. Càn-thát-bà huyễn thảy, sắc không có sát-na, là người trụ chánh pháp cho đến chỗ thấy tất cả pháp đều như huyễn v.v... tức nơi sắc cũng không có nghĩa sát-na. Cớ sao chính nơi sắc pháp chẳng thật mà xem dường như chân thật? Đây là lặp lại bác ngoại đạo chấp tứ đại v.v... là sanh nhân năng tạo. III- CHỈ PHÁP THÂN CHÂN PHẬT, BÌNH ĐẲNG BẢN TẾ, PHÁ NGHI LÌA LỖI (Phân làm bảy phần) 1. ĐẠI HUỆ THƯA THỈNH VỀ SÁU CHỖ NGHI Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Thế Tôn thọ ký cho A-la-hán được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cùng chư Bồ-tát đồng không sai biệt? Tất cả pháp chúng sanh không đến Niết-bàn, ai đến Phật đạo? Từ khi mới được thành Phật cho đến vào Niết-bàn, ở trong khoảng giữa ấy không nói một chữ, cũng không có đối đáp? Vì Như Lai thường định, cũng không suy nghĩ, không xét nét, do hóa Phật hóa làm Phật sự? Cớ sao nói tướng thức sát-na lần lượt hoại? Kim Cang lực sĩ thường theo hộ vệ, tại sao chẳng chỉ thẳng bản tế, mà hiện ma, ma nghiệp, quả báo ác nghiệp, Chiến-già Ma-nạp (Ciñca Mānavika), cô gái Tôn-đà-lợi (Sundarī), không bát mà về, ác nghiệp chướng hiện? Tại sao Như Lai được Nhất thiết chủng trí, mà chẳng lìa các lỗi ấy? Ý hỏi có sáu nghi vấn. Quyển kinh này cùng các kinh khác nói, pháp thân Phật nói cùng hóa thân nói dường như có khác nhau, nên muốn phát minh. Nghi thứ nhất là Nhị thừa tự mình Niết-bàn không thể thành Phật, cớ sao Như Lai vì Nhị thừa thọ ký cùng Bồ-tát không khác? Trước tiên nêu các nghi vấn, đoạn sau mới giải thích. Phần giải thích có những đoạn không theo thứ tự. Nghi thứ nhất là Nhị thừa tự cho mình chứng Niết-bàn, không thể thành Phật, tại sao Phật thọ ký cho Nhị thừa cùng Bồ-tát không khác? Như đoạn kinh trước Phật nói chỗ Bồ-tát Bát địa được Nhị thừa cũng được, như vậy là đồng với Bồ-tát. Nghi thứ hai, chúng sanh bởi do vọng tưởng nên chẳng giác tự tâm hiện ra, tại sao Như Lai lại nói tất cả chúng sanh đã Niết-bàn rồi không lại Niết-bàn, đã thành Phật rồi thì ai đến Phật đạo? Tất cả chúng sanh đã Niết-bàn, đã thành Phật thì còn tu để đến Phật đạo làm gì? Nghi thứ ba, Như Lai phân bộ tam thừa, cớ sao lại nói đêm ấy thành Phật, đêm ấy vào Niết-bàn, ở trong khoảng giữa ấy không nói không dạy? Như Lai phân bộ tam thừa là có chia ra căn cơ để giảng dạy, vì sao nói không dạy? Nghi thứ tư, Như Lai nếu thường ở trong định không suy nghĩ không xét nét, thì các hóa Phật làm những việc gì? Như Lai thường ở trong định không suy nghĩ, vì sao có các hóa Phật hóa hiện độ sanh? Nghi thứ năm, tất cả chúng sanh đã thành Phật rồi, cớ sao lại nói thất thức chẳng lưu chuyển, chẳng phải nhân Niết-bàn sát-na lần lượt hoại? Chúng sanh đã thành Phật nghĩa là đã chuyển tất cả thức, vì sao lại nói về thất thức? Nói về sát-na hoại? Nghi thứ sáu, Như Lai dựng lập tự thông an trụ bản tế không có chướng ngại, lìa các lỗi lầm, cớ sao lại nói Kim Cang hộ vệ, sao chẳng chỉ thẳng bản tế mà hiện ma, ma nghiệp, quả báo, các thứ lỗi lầm? Ma là Phật ngồi đạo tràng, ma quân đến quấy nhiễu. Ma nghiệp là Phật thị hiện trong vương cung mười năm thọ dục. Chiến-già Ma-nạp (Cinca Mānavika) là con gái Bà-la-môn dùng chậu gỗ úp trên bụng cột lại để vu báng Phật tư thông với y. Tôn-đà-lợi giết con gái đem chôn trong đất già-lam để vu báng Phật phạm dâm sát. Ở trong thôn Bà-lợi-na, Phật khất thực ôm bát về không và ăn lúa ngựa, đầu lưng đều đau, cây đâm ở chân, hầm lửa, cơm độc, các thứ báo hiện. Dựng lập tự thông là pháp thân bất sanh bất diệt, không còn chướng ngại, vì sao lại cần có Kim Cang hộ vệ? Lại có các chướng như ma sự quấy nhiễu? 2. TRỪ NGHI THỌ KÝ A-LA-HÁN Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Lành thay, Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Vì Vô dư Niết-bàn nói dẫn dụ tiến lên hành hạnh Bồ-tát. Thế giới này và các thế giới khác những người tu Bồ-tát hạnh ưa Niết-bàn của Thanh văn thừa, vì khiến lìa Thanh văn thừa tiến đến Đại thừa, nên hóa Phật thọ ký cho Thanh văn, chẳng phải pháp Phật. Giải thích nghi thứ nhất. Sở dĩ Phật thọ ký cho Thanh văn được Niết-bàn vì các lý do: Hàng Thanh văn cũng có thể được Vô dư Niết-bàn nên dẫn dụ để tiến lên Bồ-tát hạnh. Vì các người tu hạnh Bồ-tát ở thế giới này và thế giới khác mà lại thích Niết-bàn của Thanh văn, nên Phật thọ ký khiến lìa Thanh văn thừa. Thọ ký đó là hóa Phật, không phải pháp thân Phật. Đại Huệ! Nhân đó nên thọ ký các Thanh văn cùng Bồ-tát không khác. Đại Huệ! Chẳng khác ấy, Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai phiền não chướng dứt, một vị giải thoát, chẳng phải trí chướng dứt. Đại Huệ! Trí chướng là thấy pháp vô ngã, thù thắng thanh tịnh. Phiền não chướng là trước tập thấy nhân vô ngã dứt, thất thức diệt, pháp chướng giải thoát, thức tàng tập khí cứu cánh thanh tịnh. Giữa Thanh văn, Duyên giác cùng Bồ-tát, chư Phật có chỗ giống nhau là dứt được phiền não chướng. Còn sở tri chướng thì Thanh văn chưa dứt được, vì thế các ngài chưa thấy được pháp vô ngã. Thanh văn chưa được cứu cánh thanh tịnh vì còn tập khí nằm trong thức tàng. Đây là đáp nghi vấn thứ nhất về thọ ký cho A-la-hán. Thọ ký cho A-la-hán có ba nghĩa: Một, sách tiến Nhị thừa được Vô dư Niết-bàn. Hai, dẫn dụ Nhị thừa phát tâm Bồ-tát. Ba, chỉ Bồ-tát cõi này và các cõi khác chẳng rơi vào thiền lạc của Nhị thừa. Đây là hóa Phật quyền dẫn chẳng phải pháp Phật nói. Lại phân biệt Nhị thừa, Bồ-tát khác cùng chẳng khác, để rõ Thật giáo Nhị thừa đoạn phiền não chướng đạt được giải thoát cùng Bồ-tát không khác; vì trí chướng chưa đoạn nên cùng Bồ-tát khác. Nhị thừa không thấy pháp vô ngã, nên trí chướng chẳng đoạn; mà tập khí đã khởi kiến phần của thức thứ bảy chấp ngã, ở trong tam giới tánh nhiếp thủ đã lìa, nên phiền não chướng đoạn; mà chỗ nương của thất thức là tập khí nội ngã vẫn chưa trừ diệt. Hàng Nhị thừa vẫn còn tập khí chấp nội ngã, tức là thức thứ bảy chấp kiến phần của thức thứ tám là ngã, chỗ đó chưa hết. Chỉ không tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử, nhưng chưa dứt được ngã chấp, pháp chấp ở trong. Ngã này một phen diệt, thức tàng tập khí thân chuyển liền được cứu cánh thanh tịnh. Cho nên biết, tam-muội lạc trụ của Thanh văn sẽ được thân tối thắng Như Lai. Khi phá được chấp ngã của thức thứ bảy ở trong, lúc đó mới chuyển tàng thức thành cứu cánh thanh tịnh. Khi chuyển được thì ngay Thanh văn lập tức thành Phật. 3. TRỪ NGHI CHẲNG NÓI MỘT CHỮ Vì bởi pháp bản trụ trước sau phi tánh. Đây là đáp cái nghi thứ ba không nói một chữ. Bản trụ là bản tánh thường trụ, có Phật hay không Phật, pháp nhĩ như thế, không có xưa nay, không có nói dạy, nên nói “trước sau phi tánh”. Chữ tánh tức là pháp. Nghĩa là trước sau chỉ một bản trụ, không có một pháp có thể được. Bài kệ phó pháp của đức Phật nói cho ngài Ca-diếp có câu Pháp bản pháp vô pháp. Pháp bản tức là pháp bản trụ này, nó không phải là pháp, vì thế Phật nói khi thành đạo đến nhập Niết-bàn, ngài chưa từng nói một chữ. Đứng về pháp bản trụ thì không có nói năng, nhưng vì phương tiện độ sanh nên lập ra tam thừa. 4. TRỪ NGHI KHÔNG SUY NGHĨ KHÔNG XÉT NÉT Vì bản nguyện vô tận, Như Lai không nghĩ không xét, mà diễn nói pháp, vì chánh trí sở hóa, vì niệm chẳng vọng, nên không nghĩ không xét. Vì tứ trụ địa và vô minh trụ địa tập khí đã đoạn, hai thứ phiền não đoạn, lìa hai thứ tử, giác nhân pháp vô ngã và đoạn hai chướng. Sở dĩ pháp thân không suy nghĩ, không xét nét mà hóa Phật hay làm Phật sự là sao? Vì bản nguyện vô tận của Như Lai không nghĩ xét mà vẫn nói pháp. Vì chánh trí sở hóa, được chánh trí rồi thì tự có diệu dụng hóa độ. Vì hiện chẳng vọng nên không nghĩ không xét, suy nghĩ xét nét thuộc về vọng tưởng, khi không suy nghĩ vẫn có dụng độ sanh. Thí dụ người có lòng từ bi, đi đường thấy người bị té ngã, tự động đến giúp đỡ, lúc đó không cần suy nghĩ đắn đo. Bản nguyện độ sanh của chư Phật đã huân tập sâu dày, chỗ nào có chúng sanh khổ các ngài ứng hiện giáo hóa, không cần nghĩ lợi hại. Như tiền thân Phật làm thái tử bố thí thân cho cọp đói, thái tử Tu-đại-noa bố thí vợ con... Những việc làm đó đều vì lợi ích chúng sanh không cần suy tính. Đây đáp nghi thứ tư không nghĩ không xét. Như Lai không nghĩ không xét mà diễn nói pháp, do chánh trí hóa, chẳng phải vọng niệm hóa. Cho nên tuy hóa Phật làm ra mà đều lìa nghĩ xét, nên nói “Phật dùng một âm diễn nói pháp, chúng sanh tùy loại mỗi loài được hiểu. Song Như Lai thật không có tâm tùy loài, ấy do các loài có duyên mà mỗi loài thấy khác”. Ngũ trụ, hai tử, hai phiền não, hai ngã, hai chướng, năm thứ tập này, Như Lai đoạn đã lâu, nên được thường định không nghĩ. Chỉ do bản nguyện thị hiện có hóa tác, tùy chỗ cảm hiện như trăng trong nước. 5. TRỪ NGHI CHÚNG SANH THÀNH PHẬT, THỨC SÁT-NA HOẠI Các câu hỏi của Bồ-tát Đại Huệ, Phật đã đáp bốn câu, còn câu thứ năm và thứ sáu. Đoạn này đáp lại câu thứ hai và câu thứ năm để cho rõ ý. Đại Huệ! Tâm, ý, ý thức, nhãn thức v.v... có bảy là nhân tập khí sát-na, lìa phẩm thiện vô lậu, chẳng lại luân chuyển. Đây giải thích tâm, ý, ý thức, nhãn thức... có bảy, nghĩa là tuy nói bảy thức nhưng kèm nói “tâm” vì cả bảy thức đều có liên hệ với Như Lai tàng tâm. Bảy thức là nhân tập khí sát-na, nghĩa là chủng tử sanh diệt đều có mặt trong bảy thức. Nhưng bảy thức không luân chuyển, vì sao? Vì khi thân hoại mạng chung thì bảy thức đã ngừng hoạt động, chỉ có thức thứ tám mang chủng tử nghiệp để sang đời khác, vì thế nói thất thức không luân chuyển. Đại Huệ! Như Lai tàng là luân chuyển, là nhân khổ vui Niết-bàn, kẻ tuệ không loạn ý và phàm phu ngu si không thể giác được. Như Lai tàng hay tàng thức luân chuyển, vì nó chứa nhân khổ vui và nhân Niết-bàn. Khi chúng ta tạo nghiệp lành nghiệp dữ thì các chủng tử đó bị thức thứ bảy đưa vào chứa trong thức thứ tám. Đến khi chết, hạt giống thiện mạnh sẽ dẫn mình đi trong cõi lành, hạt giống ác mạnh sẽ dẫn đi trong cõi dữ. Các hạt giống sạch hết thì đó là Niết-bàn. Những kẻ tuệ không loạn ý là chỉ cho hàng Thanh văn chấp không tịch làm chỗ cứu cánh nên không biết Như Lai tàng. Phàm phu ngu si không thể giác, phàm phu không biết được Như Lai tàng. Đây là tổng đáp nghi thứ hai chúng sanh thành Phật và nghi thứ năm thức sát-na hoại. Tâm, ý, ý thức, nhãn thức v.v... sở dĩ nói sát-na, vì lấy vô minh tập khí làm nhân, trái với vô lậu giác, vọng chấp là ngã thể. Thể này chẳng thật, sát-na biến diệt, chẳng theo lưu chuyển. Thế nên tất cả chúng sanh tuy ở trong sanh tử mà không có sanh tử khá được. Nếu đứng về Như Lai tàng mà nói, tuy hiện lưu chuyển mà có nhân khổ vui Niết-bàn. Phàm phu vọng tưởng chấp trước bị khổ vui che đậy, chẳng biết hay thọ khổ vui cùng hay chứng Niết-bàn tánh nó không hai. Bảy thức không có chỗ tựa nhất định, khi có duyên thì hiện hành, khi hết duyên thì nó tàng ẩn trong thức thứ tám. Đến khi lưu chuyển chỉ có thức thứ tám dẫn đi; đợi khi sanh ra, bảy thức mới có mặt phát triển. Vì thế nó không phải là nhân lưu chuyển. Chúng sanh ở trong sanh tử mà không có sanh tử, vì nhân sanh tử là bảy thức, bảy thức không thật nên sanh tử không thật. Đứng về Như Lai tàng thì sanh tử không thật, tuy có khổ vui nhưng chỉ là tạm che mờ. Tánh thọ khổ vui và tánh chứng Niết-bàn một thể, đó là tánh giác thường trụ, ngay chủng tử sanh diệt khổ vui mà Niết-bàn hiện tiền. Nhị thừa là đối trị phàm phu diệt cái thọ khổ vui, lại bị cái không làm loạn, bỏ nhân khổ vui riêng thủ Niết-bàn, mà chẳng biết tự tánh Niết-bàn, đồng gọi là bất giác. Giác thì liền đó chứng biết, lại không riêng có, thất thức sát-na, chúng sanh thành Phật vốn chẳng ngại nhau. Hàng Nhị thừa diệt tất cả thọ, nhập Diệt thọ tưởng định, nhưng bị cái không làm loạn tức là chấp chỗ không tịch lặng lẽ làm cứu cánh, bỏ cái nhân khổ vui mà cho không tịch là Niết-bàn. Mà chẳng biết tự tánh Niết-bàn, tự tánh Niết-bàn tức là Như Lai tàng. Vì không ngộ tự tánh Niết-bàn nên cũng gọi là bất giác. Đối với Phật thì gọi hàng Nhị thừa là bất giác, vì chưa giác ngộ viên mãn, không phải vô minh bất giác của phàm phu. Khi giác ngộ viên mãn liền đó biết tự tánh Niết-bàn không phải riêng có ngoài tám thức. Trong thất thức có sát-na sanh diệt, khi thành Phật thì sanh diệt hay không sanh diệt chẳng có gì ngăn ngại. Bản dịch này nói tâm, ý, ý thức, nhãn thức v.v... bảy, còn bản dịch đời Đường thì nói ý và ý thức, nhãn thức v.v... bảy, đều nói bảy thức không lưu chuyển. Song bản dịch này kèm nói tâm là riêng để hiển bày Như Lai tàng chẳng hoại chân tướng, nên nói: “chỉ tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt, vì chỉ si diệt tâm tướng theo đó mà diệt”, cũng chẳng phải không có ý chỉ. Giản trạch hai bản dịch. Bản dịch đời Đường chỉ nói từ ý căn, ý thức và năm thức trước cộng lại là bảy. Bản dịch này lại thêm chữ tâm, vì nói tâm là muốn hiển bày tướng của Như Lai tàng. Theo luận Khởi Tín nói chỉ tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt, diệt hết các chủng tử thì tâm tướng của tàng thức diệt, còn tâm thể của tàng thức là Như Lai tàng không diệt. Vì chỉ si diệt, tâm tướng theo đó mà diệt. Si là gì? Thức thứ bảy chấp kiến phần thức thứ tám làm ngã, đó là si. Cũng chẳng phải không có ý chỉ, nói thêm chữ tâm đó cũng là có ý chỉ. Tóm lại, thức thứ bảy vốn góp kiến phần của thức thứ tám làm thể, nên nói bảy thức sát-na thì tâm tướng của tám thức sát-na không nói có thể biết. Nói Như Lai tàng phi sát-na mà bảo nhân khổ vui. Phàm thọ khổ vui hẳn do phân biệt. Thế thì sáu thức sát-na cũng tức có nghĩa phi sát-na. Nói rõ nghĩa sát-na và phi sát-na của tám thức. Tâm tướng của tám thức có sanh diệt, tâm thể không sanh diệt, khi tám thức trở về Như Lai tàng tánh thì tất cả sanh diệt chuyển thành vô sanh. Nói Như Lai tàng là nhân khổ vui vì ý thức phân biệt không nằm ngoài Như Lai tàng, khi dấy niệm thọ khổ vui thì toàn thể Như Lai tàng là thức tàng. Sáu thức sát-na cũng tức có nghĩa phi sát-na, sáu thức không có thật, chỉ nương gá vào thức tàng, là giả tướng chạy đuổi bên ngoài, nó đã không thật thì sanh diệt cũng là tạm sanh diệt, nên nói sáu thức cũng có nghĩa phi sát-na. Mới biết mê thì chỉ vọng giác làm sát-na, nên nói “thất thức chẳng luân chuyển”. Ngộ thì chỉ chân tướng phi sát-na, nên nói “Như Lai tàng là nhân khổ vui Niết-bàn”. Mà thật, thất thức tức là bát thức, bát thức tức là ngũ thức, lục thức. Đây hoại và chẳng hoại chung nhau làm nhân, thảy do mê ngộ chẳng phải thật có nhiều thể. Chúng sanh sở dĩ không thành Phật, vì mê nên thấy có sát-na đổi dời, khi ngộ thì chân tướng thật thể chưa từng sanh diệt, trở về Như Lai tàng lặng lẽ thanh tịnh. Đó là lý do Phật nói sát-na phi sát-na. Kết luận, tuy các thức có chia nhiều tên, nhiều phương diện hoạt động nhưng chỉ có một thể. Khi nơi các căn thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe... mỗi sự vật đều như thị, ý thức không có cơ hội hoạt động. Các chủng tử phân biệt không dấy khởi nên thức thứ bảy tạm yên. Thức thứ bảy nương vào thức thứ tám nên nói thất thức tức là bát thức. Ngũ thức, lục thức cũng không rời bát thức. Cuối cùng tất cả các thức đều là Như Lai tàng, gồm đủ nhân hoại và chẳng hoại, mê ngộ cũng trong một thể. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật, nếu theo lưu chuyển thì luôn luôn xa rời tánh Phật. Ý đáp nghi vấn của Bồ-tát Đại Huệ, cũng chỉ ra con đường trở về. 6. TRỪ NGHI KIM CANG HỘ VỆ VÀ TẤT CẢ NGHIỆP BÁO Đại Huệ! Kim Cang lực sĩ theo hộ vệ ấy, là hóa Phật, chẳng phải chân Như Lai. Đại Huệ! Chân Như Lai lìa tất cả căn lượng, tất cả căn lượng phàm phu, Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo thảy đều diệt, được hiện pháp lạc, vì trụ vô gián pháp trí nhẫn, nên chẳng phải Kim Cang lực sĩ hộ vệ. Tất cả hóa Phật chẳng từ nghiệp sanh. Hóa Phật là chẳng phải Phật chẳng lìa Phật. Nhân thợ gốm, bánh xe... chúng sanh tạo ra hình tướng mà nói pháp, chẳng phải chỗ tự thông, nói cảnh giới tự giác. Đoạn này và đoạn sau đều đáp nghi thứ sáu Kim Cang hộ vệ và tất cả nghiệp báo bệnh chung. Chân Phật dựng lập tự thông, chỉ thẳng cảnh giới tự giác cho chúng sanh, lìa tất cả căn lượng phàm phu Nhị thừa, được hiện pháp lạc trụ, trí nhẫn vô gián, chẳng phải chỗ Kim Cang hộ vệ. Kim Cang theo hộ vệ là chỉ hóa Phật. Hóa Phật duy nương bị nguyện đối hiện sắc thân, như trăng trong nước chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải từ nghiệp sanh nên không lỗi của nghiệp, tất cả thị hiện thảy vì chúng sanh. Thợ gốm dùng bánh xe, đất, nước tạo các món đồ, mỗi món thích hợp với chỗ dùng, để dụ tùy cơ ứng hiện, chẳng phải có tâm tạo. Người ta cho rằng Phật ra đời giáo hóa chúng sanh, có chư thần Kim Cang theo hộ vệ, cũng có những nghiệp báo như kim thương mã mạch... hoặc cũng bị bệnh như đau đầu, đau lưng. Ngoài ra còn bị vu oan, vu vạ, cuối cùng cũng diệt độ. Phật giải thích rằng vị Phật ấy là hóa Phật vì chúng sanh mà hiện thân có hình tướng tùy loại nên có thần Kim Cang hộ vệ tránh những chướng ngại, chứ không phải Phật pháp thân. Phật pháp thân là chân Phật vốn không hình tướng, không ngăn ngại, không biến hoại. Vì lìa tất cả giới hạn của thân và tâm (căn lượng). Những suy nghĩ, tri giải của phàm phu, Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo đều xa lìa, an trụ trong pháp lạc, trí nhẫn không gián cách, không cần Kim Cang hộ vệ. Hóa Phật là do bi nguyện, tuy có sanh nhưng không do nghiệp, chỉ vì độ sanh mà hiện sắc thân như trăng trong nước. Tuy không phải là pháp thân vì có hình tướng, nhưng từ pháp thân mà hiện nên chẳng lìa Phật, không phải một cũng chẳng phải khác. Như thợ gốm tạo những món đồ thích hợp để dùng, hóa Phật tùy cơ mà hiện, chẳng phải tự thông, nói cảnh giới tự giác cho chúng sanh. Lại nữa, Đại Huệ! Kẻ ngu y thất thức thân diệt rồi khởi đoạn kiến, vì chẳng giác thức tàng khởi thường kiến, vì tự vọng tưởng nên chẳng biết bản tế, tự vọng tưởng tuệ diệt nên được giải thoát. Vì tứ trụ địa, vô minh trụ địa tập khí đoạn hết nên tất cả lỗi đoạn. Đây cũng đáp về cái nghi thứ sáu, đặc biệt rõ bản tế không có lỗi lầm, vì phàm ngu chẳng giác vọng thấy sai biệt mà thôi. Thất thức thân nếu diệt liền hay liễu đạt bản tế, chẳng khởi đoạn kiến. Đây nói thất thức diệt chính là quán sát lưu chú niệm niệm chẳng dừng, chẳng giác tự tâm nên khởi đoạn kiến. Bản dịch đời Ngụy đời Đường đều nói “lục thức” cũng đồng ý này. Nhân mê Như Lai tàng mà có tàng thức, nếu lìa thức tìm tâm liền thuộc Nhị thừa thiên chân, nếu tức nơi thức cho là tâm lại rơi vào ngoại đạo chấp tác giả. Đây là do chẳng rõ thức tàng lầm là chân thật, tự vọng tưởng thấy, chẳng biết bản tế. Vọng tưởng nếu diệt thì ngũ trụ tập khí một lúc liền đoạn, tức là tất cả lỗi dứt, đâu còn có các thứ nghiệp báo. Cho nên biết mê Như Lai tàng mà làm thức tàng liền tùy thuận vọng tưởng là bản tế sanh tử, chẳng giác chẳng biết. Nếu rõ thức tàng tức Như Lai tàng thì tùy thuận chánh trí là bản tế Niết-bàn, không nhiễm không nhơ. Đã có thị hiện đều vì chúng sanh chẳng phải dựng lập tự thông, cảnh giới tự giác. Thất thức thân diệt tức là bảy thức trước diệt hết bèn khởi đoạn kiến, cho là không còn gì. Ngài Hàm Thị cho rằng phàm ngu thấy thức lưu chú niệm niệm dời đổi không dừng mà chấp đoạn, chỉ vì chẳng giác tự tâm, không rõ bản tế. Đây không phải lỗi của bản tế mà do không giác nên vọng thấy sai biệt. Vì mê Như Lai tàng nên có hai trường hợp: 1/ Lìa thức tìm tâm thì thành Nhị thừa thiên chân. Tại sao? Vì cho có chân thật khác với thức sanh diệt. Thấy hai bên chân vọng, bỏ sanh tử này tìm Niết-bàn kia, không biết tự tâm hiện. 2/ Cho thức là tâm thì rơi vào ngoại đạo chấp có tác giả. Cho những phân biệt của thọ tưởng hành thức là ngã, nghĩa là cho thức tàng là chân thật rồi tự vọng tưởng mà thấy, không biết đó là thức sanh diệt, không thật. Tóm lại, mê thì Như Lai tàng thành thức tàng, tùy theo vọng tưởng là bản tế sanh tử. Giác thì thức tàng tức Như Lai tàng, tùy thuận chánh trí là bản tế Niết-bàn. Một bên bất tri bất giác, một bên không nhiễm không nhơ. Nếu vọng tưởng diệt thì ngũ trụ tập khí hay ngũ trụ địa là dục, sắc, hữu, kiến và vô minh trụ địa liền đoạn, không còn tất cả lỗi, thì đâu có các thứ nghiệp báo. Như thế, nhân sanh tử là vọng tưởng, nhân Niết-bàn là chánh trí, dứt vọng tưởng. Muốn được quả Niết-bàn mà sống với nhân sanh tử thì đâu thể được. Chúng ta tu phải theo dõi luôn đừng để vọng tưởng dẫn, đừng để chúng hoành hành thì sẽ dứt luân hồi, quả Niết-bàn khỏi cần tìm cũng thấy. Thiền sư Vô Nghiệp ai hỏi gì cũng trả lời: Chớ vọng tưởng! Vậy thôi. 7. KỆ TỔNG ĐÁP Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Tam thừa cũng phi thừa Như Lai chẳng diệt mất Tất cả Phật đã ghi Nói lìa các lỗi ác. Vì (dùng) các trí vô gián Và Vô dư Niết-bàn Dẫn dụ các hạ liệt Thế nên nói ẩn khuất. Trí chư Phật đã khởi Tức phân biệt nói đạo Các thừa chẳng phải thừa Kia ắt phi Niết-bàn. Tam thừa cũng phi thừa, Như Lai chẳng diệt mất, chính hai câu này đã đáp hết sáu cái nghi. Nghĩa là Như Lai tự giác không có tướng thừa, chẳng vào Niết-bàn. Vốn tự thanh tịnh không có các cấu ác. Nếu hay liễu đạt lại không có nói gì khác. Chúng sanh hạ liệt không tin được chỗ này, nên Như Lai nói có chánh trí, nói có Niết-bàn, trước vì dẫn dụ họ tiến lên, về sau mới chỉ mật ý này. Nghĩa là Như Lai đã được Nhất thiết chủng trí phân bộ diễn nói, lại không có ý chỉ riêng. Chỉ nói chẳng phải thừa và chẳng phải Niết-bàn khiến họ tự tin tự chứng mà thôi. Tam thừa là Nhân thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa do Phật tạm lập không có thật. Như Lai không diệt mất nghĩa là Như Lai không có Niết-bàn. Chư Phật nói như thế chỉ để lìa các lỗi ác. Nói các trí vô gián và Vô dư Niết-bàn để dẫn dụ người căn cơ thấp thỏi nên không nói rõ là cũng vốn không. Dục, sắc, hữu và kiến Nói là tứ trụ địa Chỗ khởi của ý thức Nhà thức chỗ ý trụ. Ý và nhãn thức thảy Đoạn diệt nói vô thường Hoặc khởi chấp Niết-bàn Mà vì nói thường trụ. Nếu chỉ đoạn diệt tứ trụ nói là Niết-bàn thì đây không phải thường trụ. Như Lai nói chẳng phải thừa chẳng phải Niết-bàn, bản tánh thanh tịnh thường tự tịch diệt, nên nói thường trụ. Ý thứ bảy y thức thứ tám mà khởi, tức do thức thứ tám mà trụ, chẳng lấy thức thể chuyển biến làm cứu cánh, mà lấy ý, ý thức và năm căn thức tạm thấy dừng diệt, khởi tưởng Niết-bàn, đồng với đoạn diệt, chỉ thêm tà kiến. Bản tánh thanh tịnh thường tự tịch diệt mới là thường trụ. Đoạn diệt tứ trụ mà không giác tự tâm sao gọi là Niết-bàn thường trụ được? Nếu không chuyển tàng thức thành Như Lai tàng, lại lấy sự dừng diệt tạm của bảy thức là những thức nương vào tàng thức mà khởi tưởng Niết-bàn thì đồng với đoạn diệt, đó là thêm tà kiến. IV- CHỈ NHƯ LAI CHÁNH NHÂN CHÁNH QUẢ CỨU CÁNH THANH TỊNH (Phân làm bốn phần) 1. ĐẠI HUỆ THỈNH HỎI TỘI PHƯỚC ĂN THỊT VÀ CHẲNG ĂN THỊT Bồ-tát Đại Huệ dùng kệ hỏi Phật: Chư Bồ-tát kia thảy Chí cầu Phật đạo ấy Rượu thịt cùng với hành Ăn uống là thế nào? Cúi mong Vô thượng tôn Thương xót vì diễn nói. Kẻ ngu chỗ tham đắm Nhơ hôi không tốt đẹp Chỗ ưa thịt cọp sói Làm sao mà nên ăn? Kẻ ăn sanh các lỗi Chẳng ăn là phước lành Cúi xin vì con nói Tội phước ăn chẳng ăn. Bồ-tát Đại Huệ nói kệ hỏi rồi, lại bạch Phật: Cúi mong Thế Tôn vì chúng con nói lỗi ác ăn thịt và công đức chẳng ăn thịt. Con và chư Bồ-tát ở hiện tại vị lai sẽ vì chúng sanh có các thứ hy vọng ăn thịt phân biệt nói pháp, khiến chúng sanh kia từ tâm đến nhau, được từ tâm rồi mỗi người nơi trụ địa thanh tịnh sáng tỏ, chóng được cứu cánh Vô thượng Bồ-đề. Hàng Thanh văn Duyên giác nơi địa vị của mình dừng nghỉ rồi, cũng được chóng thành Vô thượng Bồ-đề. Các chúng ngoại đạo pháp ác tà luận, tà kiến đoạn thường điên đảo chấp trước, còn có pháp ngăn không cho ăn thịt, huống là Như Lai cứu hộ thế gian, chánh pháp thành tựu mà ăn thịt sao? Ngài Đại Huệ hỏi Phật về việc ăn thịt có lỗi thế nào? Không ăn có công đức ra sao? Đây là việc thật tế nhị, vì hiện có nhiều tu sĩ Phật giáo không ăn chay, viện lý do là thời Phật tại thế cũng không ăn chay và không tán thành lời đề nghị ăn chay của Đề-bà-đạt-đa. Thật ra, thời Phật, chúng tăng đi khất thực, phải tùy hỷ sự cúng dường của thí chủ, không thể đòi hỏi theo ý mình. Hơn nữa, dân Ấn Độ cũng ít ăn thịt cá, nên việc ăn chay không đặt thành vấn đề. Ở đây, Bồ-tát dẫn ngoại đạo tà kiến mà còn cấm ăn thịt, tại sao Phật nêu cao lòng từ chẳng lẽ lại cho ăn? Ăn thịt chỉ có hạng cọp sói mới ưa, mình tu hạnh giải thoát sao lại tham đắm mùi vị tanh hôi của thịt? Xin Phật chỉ rõ để Bồ-tát hiện tại và vị lai nói pháp phân biệt kỹ cho những chúng sanh ham ăn thịt, khiến họ khởi lòng từ đến loài khác, ở trụ địa thanh tịnh sáng tỏ mau được Vô thượng Bồ-đề. Các bậc Thanh văn, Duyên giác dừng nghỉ nơi địa vị mình rồi, cũng chóng được đạo Vô thượng. Theo cổ chú nói: “Như Lai ở trong cung quỷ vương nói pháp, các chúng dạ-xoa v.v... nhớ giờ ăn đã đến, chẳng phải thịt thì không ăn được. Đại Huệ vì muốn các quỷ vương sanh từ tâm, nhân đó thỉnh Như Lai nói lỗi ăn thịt, đây vẫn tùy căn cơ chúng sanh.” Song dùng con đường tu hành chân chánh của Như Lai, ở trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ-lăng-nghiêm, nghĩa ba thứ lớp rất nên lẫn nhau chứng minh: “Năm mươi ấm ma cho đến thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm minh bạch, ở trong mình ngộ được tánh hư minh, trong ấy bỗng nhiên hướng về chỗ hằng diệt, bác không nhân quả, một bề vào không, không tâm hiện tiền thì có Không ma vào trong tạng phủ, bèn chê người trì giới là Tiểu thừa, Bồ-tát ngộ không có gì là trì là phạm. Người ấy thường đến nhà tín tâm đàn-việt uống rượu ăn thịt, rộng làm việc dâm uế. Bởi sức của ma nhiếp phục, người ở trước nó chẳng sanh nghi ngờ chê bai. Quỷ nhập tâm đã lâu, hoặc ăn phẩn uế cùng rượu thịt như nhau một loại đồng là không, phá luật nghi của Phật, lầm vào tội lỗi, mất hết chánh định, sẽ theo trầm luân.” Lời răn dạy của Phật rất thâm nghiêm, người biết pháp phải kinh sợ. Ngày nay đã suy muộn xem thường lời dạy ấy. Vả lại có người cho để mặc tình miệng dùng, các thứ phá hoại chẳng dừng ăn thịt, là đáng thương vậy. Lại trong Bồ-tát giới nói: “Khởi một niệm sân làm chướng chúng sanh, hay đoạn chủng tánh, cũng như giết ăn.” Người có chí với đạo phải hộ chánh kiến, chớ bị tà mê. Đây là theo chú giải xưa nói ngài Đại Huệ nhân thương xót chúng dạ-xoa không thể bỏ thịt, xin Phật nói lỗi của sự ăn thịt và phước của sự không ăn. Nhưng trong kinh Lăng-nghiêm cũng quở người vì tu lầm, bác không nhân quả, chấp không nên bị ma nhiếp phục, tạo nhiều điều sai, uống rượu, ăn thịt, tà dâm... phá luật nghi của Phật rồi mất chánh định, phải chịu trầm luân. Thừa cấp giới hoãn cho giáo lý là gốc, giới luật để qua một bên, mặc tình rượu thịt. Bồ-tát giới có câu: Khởi một niệm sân làm chướng chúng sanh, hay đoạn chủng tánh, cũng như giết ăn. Sân thôi còn bị quở là như ăn thịt chúng sanh huống là chính mình ăn. Người tu muốn đạt đạo phải giữ chánh kiến. 2. CHỈ ĂN THỊT NHIỀU LỖI Phật bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Có vô lượng nhân duyên không nên ăn thịt. Song nay ta sẽ vì ông lược nói. Nghĩa là tất cả chúng sanh từ trước đến nay nhân duyên lần lượt thường làm lục thân, vì tưởng người thân không nên ăn thịt. Thường làm lục thân là đức Phật của chúng ta khuyên người phát tâm từ hiếu nên răn nhắc thiết tha. Song là Phật tử vì rõ sâu muôn vật một thể, tuy ở trong loài khác còn nghĩ độ thoát, đâu thể vì thân mạng mình vẫn buông lung miệng bụng, phóng ý giết hại, đã nghe đời trước mà không thể động lòng thương xót ư? Chính hiện tại đồng loại rất thiết tha hòa kính, sao chưa nghĩ về sau mà xem hiện nay? Pháp thời gần cuối, nhóm người học Phật phần nhiều thấy theo quyến thuộc của ma. Rất mong cùng thiên hạ đủ chánh tri kiến, kính giữ lời dạy của Phật để làm mẫu mực cho đời sau. Dùng một niệm này ngưỡng đối ba đời Như Lai ở trong đại quang minh. Chúng sanh nhiều đời lần lượt làm bà con dòng họ với nhau, nỡ nào ăn thịt thân thuộc của mình? Lâu lâu chúng ta thấy có người, ở mặt hay trong người có một hai cái bớt giống như miếng da heo, da trâu... còn lông y nguyên. Đó là cảnh tỉnh cho mình biết người có khi kiếp trước làm thú, giờ làm người còn sót lại chút chứng tích, vậy thì người bây giờ, kiếp sau cũng có thể thành súc sanh. Mình ăn thịt thú vật, biết đâu ăn nhằm bà con của mình. Không đáng thương và đáng sợ sao? Thịt lừa, la, lạc đà, chồn, chó, trâu, ngựa, người, thú v.v... Vì người hàng thịt bán lẫn lộn chẳng nên ăn thịt. Vì phần hơi chẳng sạch sanh trưởng, chẳng nên ăn thịt. Vì chúng sanh ngửi mùi thảy sanh kinh sợ như chiên-đà-la và đàm-bà v.v... chó thấy oán ghét sợ hãi sủa vang, chẳng nên ăn thịt. Bán lẫn lộn là vì không biện biệt thịt người hay thịt thú máu thịt giống nhau. Chẳng sạch là máu mủ chẳng sạch. Những người sạch sẽ còn chẳng gần gũi hôi tanh, huống là ăn nuốt. Đến như tâm sợ chết thì người vật nào khác. Người quân tử còn có tâm không nỡ làm chúng sanh sợ sệt. Nếu có lòng sát hại còn không thể bì kịp người ngoài đời, huống là có thể xưng pháp khí gánh vác đạo lý sao? Thêm nữa, vì hàng thịt lẫn lộn đủ thứ biết đâu trong đó có thịt người. Thịt lại tanh hôi có gì đáng ăn. Những người ăn thịt nhiều, chó ngửi được mùi vừa ghét vừa sợ, đi tới đâu bị chúng sủa tới đó. Mùi súc vật bị ăn bám luôn vào mình, rất hôi hám, do đó chẳng nên ăn. Ăn thịt thì lòng từ chẳng sanh, sợ còn thua người đời làm sao dám xưng là pháp khí? Lại, vì khiến người tu hành từ tâm chẳng sanh, chẳng nên ăn thịt. Vì kẻ phàm ngu tham đắm ăn đồ hôi hám bất tịnh, không được tiếng tốt, chẳng nên ăn thịt. Vì khiến chú thuật không thành tựu, chẳng nên ăn thịt. Vì người sát sanh thấy hình khởi thức đắm trước mùi vị, chẳng nên ăn thịt. Vì người ăn thịt kia chư thiên bỏ đi, không nên ăn thịt, vì khiến miệng hôi hám, không nên ăn thịt. Vì nhiều mộng dữ, không nên ăn thịt. Vì ở trong rừng vắng, cọp sói ngửi mùi, chẳng nên ăn thịt. Vì khiến ăn uống không tiết độ, không nên ăn thịt. Vì khiến người tu hành chẳng sanh nhàm lìa, không nên ăn thịt. Ta thường nói rằng: Phàm có ăn uống nên khởi tưởng như ăn thịt con, khởi tưởng như uống thuốc, không nên ăn thịt. Cho ăn thịt hẳn là vô lý vậy. Thấy hình khởi thức đó, hình là hình thịt, thức là thức tâm. Nghĩa là tập lâu hay khiến thức tâm biến đổi, chìm sâu trong ô nhiễm. Chư thiên bỏ đi, là chư thiên không còn sân và trộm nên bị chư thiên bỏ đi. Khiến người tu hành chẳng sanh nhàm lìa, là đệ tử trong pháp của ta, nếu chẳng dứt ăn thịt mà hay khiến tất cả phát tâm tu hành thì họ không sanh tưởng nhàm lìa. Phàm có ăn uống là đối với sự ăn uống khác xa lìa tham đắm, còn phải khởi tưởng ăn thịt con, khởi tưởng uống thuốc, đâu lại ăn thịt, hẳn là vô lý. Rất nhiều lý do chẳng nên ăn thịt, trên đã nói rất rõ. Người ăn thịt nhiều, lòng từ khó sanh. Thí dụ chúng ta quen ăn thịt cá, thấy người câu được cá mình cũng mừng, cũng vỗ tay, đó là tùy hỷ sát. Có người tu rồi mà tâm tùy hỷ này vẫn còn thì biết tập khí đáng sợ, tâm từ bi không khởi nổi. Chúng ta không ăn, đi ngang bờ thấy có cá nhảy lên mắc cạn, mình thả nó xuống nước lại. Người ăn thịt cá thấy vậy thì sẽ bắt bỏ giỏ ngay. Một việc mà cách xử trí khác nhau là vậy. Ăn thịt là ăn đồ hôi hám bất tịnh, không được tiếng tốt. Thí dụ ăn thịt chó, người Tây phương họ không thể chấp nhận chuyện này vì đối với họ, chó là vật thân thiết và trung thành với chủ, ăn thịt chó không những thiếu lòng từ mà còn thiếu đạo lý, chúng ta cũng thấy ghê tởm. Vậy mà người ta còn treo bảng quảng cáo đủ thứ, bắt luôn cả chó ghẻ, xà mâu mà ăn, còn nghĩ ra nhiều món để nhậu. Lại khi giết vật, vật chống cự thì nổi sân, giết được tức đoạt mạng sống của vật là trộm, tâm ác sân và trộm dần tăng, nên chư thiên không ủng hộ... Như thế, đệ tử Phật khi thọ thực còn phải quán như uống thuốc, tưởng như ăn thịt con để xa lìa tham đắm, mà không bỏ ăn thịt là chuyện vô lý. Lại nữa, Đại Huệ! Thuở xưa có ông vua tên Sư Tử Tô-đà-ta ăn các thứ thịt cho đến thịt người, thần dân chịu không nổi liền sắp mưu phản, dứt hết bổng lộc. Bởi ăn thịt có những lỗi như thế, chẳng nên ăn thịt. Phàm người sát sanh chịu quả báo ở địa ngục. Ở đây nói hiện đời vẫn thuộc về hiện báo. Lại nữa, Đại Huệ! Các người sát sanh là vì tài lợi, kẻ hàng thịt sát sanh buôn bán, những chúng sanh ngu si ăn thịt kia lấy tiền làm lưới mà bắt các thứ thịt. Người sát sanh hoặc do tài vật, hoặc dùng câu lưới bắt những chúng sanh thủy lục không hành, các thứ giết hại đem bán cầu lợi. Đại Huệ! Cũng không có chẳng dạy chẳng cầu chẳng tưởng mà có thịt cá. Bởi những nghĩa ấy chẳng nên ăn thịt. Không có chẳng dạy chẳng cầu chẳng tưởng, là ở đời có người ăn thịt mới có người bán thịt, tức là dạy người khác giết. Dùng tiền của để lưới các thứ thịt là cầu, thấy hình khởi thức là tưởng. Chưa bao giờ có trừ ba thứ ấy mà được thịt cá, nên chẳng ưng ăn thịt. Dùng mọi phương tiện để được thịt mà ăn hoặc bán. Nếu không ai mua thì làm sao bán? Cho nên, chỉ ăn dù không giết trực tiếp cũng là giết gián tiếp. 3. CHỈ THẬT NGHĨA KINH NÀY TẤT CẢ THẢY DỨT Đại Huệ! Ta có khi nói ngăn năm thứ thịt, hoặc cấm mười thứ. Nay ở kinh này tất cả thứ, tất cả thời loại bỏ phương tiện, tất cả thảy đều dứt. Đại Huệ! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác còn không có ăn, huống là ăn thịt, cũng không dạy người. Bởi lòng đại bi đi trước nên xem tất cả chúng sanh ví như con một, thế nên chẳng cho được ăn thịt con. Năm thứ thịt là chẳng nghe, chẳng thấy, chẳng nghi, chim ăn còn dư, tự chết. Cấm mười thứ là thịt người, rắn, voi, ngựa, lừa, chồn, heo, chó, sư tử, khỉ. Hai thứ này khai hay ngăn, khi đức Thế Tôn mới thành Phật, vì cơ duyên chưa thuần thục, vì lòng thương xót quyền cho được ăn, song đều do thần lực hóa ra không có sanh mạng, đến trong kinh này mới bày nghĩa thật, tất cả thảy dứt vậy. Xem tất cả chúng sanh như con một nên chẳng cho ăn thịt con. Thế Tôn dạy người lấy đồng thể làm thiết yếu, đáng gọi là đến cùng tột. Song dùng lý luận thì đồng một bản trụ, hình mạo tuy khác mà tri giác là đồng, người chẳng đến nỗi mê say vẫn nên xét kỹ. Lúc đầu, Phật cho các Tỳ-kheo có thể ăn tam tịnh nhục là những thứ thịt không vì mình mà bị giết hại, những thứ chim ăn thừa, hay vật tự chết. Đến kinh Lăng-nghiêm và kinh này thì tuyệt đối cấm hẳn. Người tu hành phải có tâm từ, coi chúng sanh như con lẽ nào ăn thịt? Tất cả chúng sanh đều có tri giác như nhau dù hình thể sai khác, vì thế chẳng nên ăn. 4. TỔNG KẾT CHỈ RÕ TU HÀNH LỖI LẦM Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Thảy từng làm thân thuộc Thô nhơ lẫn bất tịnh Do bất tịnh sanh trưởng Nghe mùi thảy kinh sợ. Tất cả thịt cùng hành Và các thứ tỏi nén Các thứ rượu buông lung Tu hành thường xa lìa. Cũng thường lìa dầu mè Cùng các giường thủng lỗ Bởi các trùng nhỏ kia Ở trong rất sợ hãi. Hành hẹ tỏi nén ăn sống thì sanh sân, ăn chín thì tham dâm, nên phải đồng dứt. Cổ chú nói: “Phong tục ngoại quốc đâm mè chờ đến có trùng, hoặc cùng Trung Hoa khác vậy.” Giường có lỗ hở có nhiều trùng ẩn, nằm ngồi nó kinh sợ, Phật từ bi đến thế, ta đâu không sanh hổ thẹn. Phật thương xót chúng sanh, ngăn ngừa đệ tử từ những việc rất nhỏ để che chở những sinh vật nhỏ nhít, vì chúng sanh dù nhỏ bé đến đâu cũng đều tham sống sợ chết. Mình đâu nỡ vì tham chút mùi vị nơi đầu lưỡi mà giết hại mạng vật khác. Cấm dùng dầu mè vì ở Ấn Độ, người ta để mè sanh giòi rồi mới ép dầu. Giường thủng lỗ, rận rệp núp trong đó, nằm cựa mình giường kêu, chúng kinh hãi tội nghiệp. Ăn uống sanh buông lung Buông lung sanh vọng giác. Từ giác sanh tham dục Thế nên chẳng ưng ăn. Do ăn sanh tham dục Tham khiến tâm say mê. Say mê lớn ái dục Sanh tử không giải thoát. Đây xét các thứ ăn uống khác, nếu tham đắm mùi vị đều hay khiến người thân tâm buông lung, nhiều thứ giác tưởng, tột đến tham dục say mê triền miên sanh tử. Chỉ do miệng bụng một niệm theo tình, nhân nhỏ mà quả to, đâu không dè dặt ư? Sanh tử do ái dục mà có. Ăn thịt dễ sanh tham dục, làm sao giải thoát được? Vì lợi giết chúng sanh Dùng của lưới các thịt Cả hai đều ác nghiệp Chết đọa ngục khiếu hô. Giết hại chúng sanh sau sẽ đọa địa ngục kêu la. Nếu không dạy tưởng cầu Ắt không ba tịnh nhục Kia đâu không nhân có Thế nên chẳng ưng ăn. Các người tu hành kia Do đó thảy xa lìa Mười phương Phật Thế Tôn Tất cả đều quở trách. Chư Phật trong mười phương đều quở trách người ăn thịt. Lần lượt lại ăn nhau Chết sanh loài hổ lang Hôi nhơ đáng chán ghét Chỗ sanh thường ngu si. Nhiều đời làm Chiên-đà Giống thợ săn Đàm-bà Hoặc sanh Đà-di-ni Và các dòng ăn thịt. La-sát, mèo, chồn thảy Khắp trong ấy sanh ra. Quả báo ăn thịt là sanh vào loài cọp beo hôi hám, la sát, mèo, chồn. Làm người thì sanh chỗ hạ tiện, hoặc thợ săn... Phược Tượng cùng Đại Vân Ương-quật-lợi-ma-la Và kinh Lăng-già này Ta đều cấm ăn thịt. Đà-di-ni là La-sát nữ. Phược Tượng, Đại Vân, Ương-quật-lợi-ma-la đều là tên kinh. Chư Phật và Bồ-tát Thanh văn chỗ quở trách Ăn rồi không hổ thẹn Đời đời thường si tối. Trước nói thấy, nghe, nghi Đã dứt tất cả thịt Vọng tưởng chẳng giác biết Nên sanh chỗ ăn thịt. Như lỗi tham dục kia Chướng ngại giải thoát thánh Rượu thịt hành tỏi nén Thảy là chướng thánh đạo. Chư thánh đều quở trách nếu ăn không hổ thẹn sẽ bị quả si tối, sanh chỗ ăn thịt, chướng ngại việc giải thoát. Thêm rượu, hành tỏi nén đều làm chướng thánh đạo. Chúng sanh đời vị lai Nơi thịt ngu si nói Rằng đây tịnh không tội Phật cho chúng ta ăn. Ăn tưởng như uống thuốc Cũng như ăn thịt con Biết đủ sanh nhàm lìa Tu hành hạnh khất thực. Người an trụ từ tâm Ta nói thường chán lìa Cọp sói các thú ác Hằng nên cùng đi ở. Nếu ăn các máu thịt Chúng sanh ắt kinh sợ. Đệ tử Phật hành hạnh khất thực, biết đủ và nhàm lìa thịt, an trụ tâm từ, ở chung với thú dữ cũng không bị tổn hại. Nếu ăn thịt thì chúng sanh thấy kinh sợ và ghét hại mình. Thế nên người tu hành Từ tâm chẳng ăn thịt Ăn thịt không từ tuệ Hằng trái chánh giải thoát Và trái biểu tướng thánh Thế nên chẳng ăn thịt. Ăn thịt thì không có từ bi trí tuệ, trái với giải thoát chân chánh và cũng trái với biểu tướng thánh. Được sanh dòng Phạm chí Và các chỗ tu hành Nhà giàu sang trí tuệ Đây do chẳng ăn thịt. Không ăn thịt được sanh dòng Phạm chí, được tu hành hoặc sanh chốn giàu sang, có nhiều trí tuệ. Chướng ngại giải thoát thánh đều là chướng thánh đạo. Ăn thịt không từ tâm hằng trái chánh giải thoát. Như Lai lại đôi ba phen thiết tha răn nhắc đều vì người tu hành, nghiêm huấn dạy bảo. Bởi vì ngài thương đời sau “nói là Đại thừa vô ngại” vọng buông những tà luận và vu khống Như Lai là cho ăn tịnh nhục, làm hoặc loạn kẻ sơ tâm. Một bọn như thế phần nhiều ưa buông lung, không có tâm hổ thẹn, thật là cặn bã ở địa ngục. Được sanh dòng Phạm chí và các người tu hành, nhà giàu sang trí tuệ, còn do không ăn thịt thay, phương chi đệ nhất nghĩa giải thoát của Như Lai? Phật ở trong kinh này chỉ thẳng thức tàng tức Như Lai tàng, chỉ một phen liễu đạt thì toàn vọng tức là chân. Chẳng phải cảnh giới của tất cả Nhị thừa và quyền vị Bồ-tát, mà đối với giới đức rất thiết tha răn dạy. Cho nên biết, vô lậu chân tịnh không dung vật khác, trước sau gốc ngọn cứu cánh rõ ràng không còn dư sót. Mười phương ba đời tất cả Như Lai đồng một bí mật, đại đạo sáng tỏ như mặt trời, không nên nghi ngờ. Nay tôi tóm lược lại toàn bộ kinh Lăng-già để chúng ta nắm được căn bản mà tu. Toàn bộ kinh có thể nói tóm gọn trong năm pháp, ba tự tánh, tám thức và hai vô ngã. Năm pháp: Danh, Tướng, Vọng tưởng, Chánh trí, Như như. Ba tự tánh: Biến kế sở chấp tánh, Y tha khởi tánh, Viên thành thật tánh. Tám thức: A-lại-da tức tàng thức là thức thứ tám, Mạt-na thức là thức thứ bảy, Ý thức là thức thứ sáu và Tiền ngũ thức là Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân thức. Hai vô ngã: Nhân vô ngã và Pháp vô ngã. Bảy thức trước duyên theo danh và tướng thấy có người thật, pháp thật mà khởi phân biệt, sanh biến kế sở chấp. Đem chủng tử thiện ác gieo vào tàng thức, gặp duyên xúc cảnh lại khởi hiện hành tạo đủ các nghiệp, huân rồi khởi, khởi rồi huân; không biết tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, là tánh y tha khởi thuộc hữu vi; khi chết bị chúng lôi đi trong ba cõi. Đó là vọng tưởng. Nếu đối với danh tướng không khởi vọng, năm thức trước chỉ hoàn thành nhiệm vụ thấy nghe... mà thôi, gọi là Thành sở tác trí; biết chúng giả dối không thật, thành Diệu quan sát trí; biết chúng đều từ tự tâm hiện thì nhân và pháp đều vô ngã, được Bình đẳng tánh trí. Được hai vô ngã rồi thì tám thức không còn, tâm bèn tự như. Như như là Như Lai tàng hay tự tâm hiện lượng là tánh Viên thành thật, tròn sáng viên dung nên còn gọi là Đại viên cảnh trí. Đó là chánh trí. Trọng tâm của kinh là muốn chúng ta nhận ra Tự giác thánh trí hay Như Lai tàng tánh của chính mình. Mọi người đều có sẵn mà bất giác tức là mê, khiến Như Lai tàng biến thành tàng thức, thoạt sanh năng sở, rồi sanh thức thứ bảy là mạt-na thức chấp ngã, ý thức thứ sáu và năm thức trước thuộc năm căn. Năm căn tiếp xúc với cảnh, ý thức duyên theo phân biệt bóng dáng của chúng thành vọng tưởng huân chứa vào tàng thức, do thức thứ bảy đón vào thành chủng tử. Gặp cảnh mới, thức thứ bảy lại đưa chúng ra thành hiện hành. Ý thức lại dựa vào đó mà phán đoán, phân biệt cảnh tiếp rồi lại huân ngược vào tàng thức. Những chủng tử nào cứ hiện hành hoài thì sẽ tạo thành nghiệp lực, thành hành, sau dẫn thức đầu thai, tạo danh sắc mới thành thân có đủ sáu căn rồi lại chấp ngã, ý thức lại dựa vào đó mà sanh vọng tưởng v.v... tiếp nối vô cùng tận. Như thế vọng tưởng chính là nhân sanh tử mà đầu mối chính là do bất giác vô minh. Đối tượng của vọng tưởng không gì ngoài danh và tướng. Nếu không theo danh tướng nữa thì vọng tưởng lặng. Muốn không theo phải nhận chân được chúng, nghĩa là dùng chánh trí biết chúng như mộng huyễn, từ tâm biến hiện không có thật thể. Vọng tưởng lặng rồi thì như như. Như như không phải từ ngoài đến, chỉ là hết vọng tưởng thì trở về với nó. Nó chính là Như Lai tàng, là bản tâm thanh tịnh xưa nay của chúng ta. Thế thì Như Lai tàng và tàng thức không phải một nhưng cũng chẳng phải hai. Nghĩa là có hai tên tùy mê ngộ nhưng chỉ một thể mà thôi. Tàng thức như kho chứa, nếu không có chủng tử nạp vào, tống ra thì kho này rỗng rang, tàng thức biến thành Không Như Lai tàng. Lục Tổ bảo ngài Huệ Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay khi ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?” Ngài Huệ Minh liền ngộ. Bản lai diện mục của chúng ta sẽ hiện tiền khi không còn những niệm thiện ác, tốt xấu... lăng xăng trong tâm. Tâm tuy vốn không một vật nhưng có thể sanh ra muôn pháp. Miễn là mình biết các pháp từ tâm sanh, không cho là thật thì không điên đảo gây nghiệp luân hồi. Gốc tu là ở chỗ này. Tú tài Trương Chuyết có nói: Quang minh tịch chiếu biến hà sa, Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia. Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện, Lục căn tài động bị vân già. Dục trừ phiền não trùng tăng bệnh, Thú hướng chân như tổng thị tà. Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại, Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa. Dịch: Quang minh tịch chiếu khắp hà sa, Phàm thánh hàm linh chung một nhà. Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện, Sáu căn vừa động bị che lòa. Muốn trừ phiền não càng thêm bệnh, Nhắm đến chân như đều là tà. Tùy thuận mọi duyên không quái ngại, Niết-bàn, sanh tử thảy không hoa. Chỉ cần dùng chánh trí biết như thật là xong. Như Lai tàng còn có tên Bất Không Như Lai tàng, vì ngoài việc sanh ra muôn pháp, mọi công đức cũng đầy đủ trong đó. Chư Phật, Bồ-tát vận dụng thành phương tiện vô tận độ thoát chúng sanh. Vì lời dạy của kinh Lăng-già rất phù hợp với lối tu của Thiền tông, chúng ta mới hiểu vì sao tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy dùng kinh này để ấn tâm. Mong rằng mọi người có thể nương theo đây rõ được đường lối tu tập, thực hành để đạt được cứu cánh viên mãn. Mục Lục
|