|
Thanh Từ Toàn Tập 7 - Kinh Lăng-già Tâm Ấn Giảng Giải - Phần II
Quyển 5
II- CHỈ THÁNH TRÍ CHIẾU MINH CÁC ĐỊA (Phân làm bốn phần) Trước khi học phần này, tôi giải thích qua ý nghĩa. Từ trước chúng ta đã thấy Phật chỉ dạy thứ tự tu chứng, đến đây ngài nói về kết quả tu chứng. Đôi khi chúng ta khởi nghi: nghe kinh nói tất cả đều không, ngã không thật, pháp không thật, như vậy không biết tu tập để làm gì? Sự thật khi phá được chấp ngã chấp pháp, lúc đó ý sanh thân hiển hiện. Ý sanh thân có ba loại, mỗi loại đều có diệu dụng. Khi không còn bám chặt vào thân vô thường nhỏ bé, theo cảnh vô thường sanh diệt, tùy trình độ tu chứng mà có ý sanh thân sai biệt, không phải không ngơ. Dẹp được tâm hẹp hòi nhỏ mọn tạm bợ sẽ được thân rộng lớn đầy đủ diệu dụng. 1. BÀY BA THỨ Ý SANH THÂN Khi ấy, Thế Tôn bảo đại Bồ-tát Đại Huệ rằng: Nay ta sẽ nói phân biệt tướng chung của ý sanh thân. Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Có ba thứ ý sanh thân. Thế nào là ba? Là: Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân, giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân, chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân. Người tu hành rõ biết tướng Sơ địa tiến lên các địa được ba thứ thân. Ba thứ thân từ Sơ địa đến Phật địa là phân biệt sở chứng. Tam-muội lạc chánh thọ là từ Sơ địa đến Thất địa. Giác pháp tự tánh tánh là từ Bát địa đến Thập địa. Chủng loại câu sanh vô hành tác là rốt sau của Kim cang địa chứng được pháp thân, như hạt châu ma-ni tùy loại đối hiện. Ba thân này có thể phối hợp với ba pháp quán. Tam-muội chánh thọ thuộc về chỉ. Giác pháp tự tánh tánh thuộc về quán. Chủng loại là chủng loại thánh, tất cả Phật tự tánh ảnh hiện không thể nghĩ bàn thuộc về trung đạo thiền-na. Giác tự tâm hiện, là tam quán đồng thời đầy đủ. Ba đức tự tánh này tức một mà ba, tức ba mà một, chẳng đồng với quyền thừa thủy giáo một vị chẳng biết một vị. Song tùy địa sâu cạn chẳng ngại mỗi vị có thân chứng nên nói viên dung (đốn chứng) chẳng ngại hành bố (tiệm chứng). Ba ý sanh thân này từ Sơ địa đến Phật địa chứng được. Càng tu tiến càng có ý sanh thân tế nhị, nhiệm mầu. Tuy phân ra ba, nhưng thể giác tròn đủ, đồng thời tùy hiện nên nói tức một mà ba, tức ba mà một. 2. CHỈ THÂN TƯỚNG THẤT ĐỊA TRỞ LÊN Đại Huệ! Thế nào là tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân? Nghĩa là đệ tam địa, đệ tứ địa, đệ ngũ địa, vì tam-muội lạc chánh thọ, các thứ tự tâm vắng lặng, an trụ nơi tâm hải, tướng thức nổi sóng chẳng sanh. Biết cảnh giới tự tâm hiện tánh là phi tánh, ấy gọi là tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân. Ý sanh thân thứ nhất là tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân, là thân vui trong chánh định. Các vị Bồ-tát từ Tam địa đến Thất địa được thân này, lúc đó chỉ có vui chánh định, các thứ tâm hiện đều vắng lặng. Tướng thức nổi sóng chẳng sanh, nghĩa là biết các pháp không thật, không khởi vọng thức, như biển lặng yên chẳng dậy sóng. Từ Sơ địa đến Tứ địa đoạn kiến hoặc hết, từ Ngũ địa đến Thất địa đoạn tư hoặc hết. Đại thừa giác tự tâm hiện đã đoạn hai hoặc tuy chẳng đồng Nhị thừa thấy có thật pháp, say đắm tam-muội, đối trị sanh tử. Song từ sóng thức chuyển biến, giác tự tâm hiện thảy không thật có, tự tâm vắng lặng bỗng nhiên hiện tiền, đã có tam-muội đều từ liễu nhân. Nên nói an trụ tâm hải, không có thọ lạc. Đây nói thẳng về Đại thừa nên không dùng pháp đối trị. Hàng Bồ-tát thấy tất cả các pháp năng hiện sở hiện như huyễn, từ bất giác khởi lên không thật, chỉ cần biết như vậy không dùng pháp quán đối trị, tánh giác hiện tiền gọi là liễu nhân. Liễu nhân là đối với sanh nhân và tác nhân. Sanh nhân là nhân sanh ra, thí dụ chúng ta ương hột mít, từ hột mít mọc lên cây, đó là sanh nhân. Tác nhân là nhân tạo tác. Như một cái bàn do nhân công, gỗ, cưa, bào, đục... phương tiện đóng thành cái bàn, đó là tác nhân. Liễu nhân không phải là nhân sanh ra hay nhân tạo tác, nó chỉ làm sáng cái hiện có. Như trong nhà tối, ban đêm không đèn không trăng, có những đồ vật để ở trong nhà chúng ta không lấy được. Nếu đốt đèn hoặc mở công tắc điện, đèn sáng soi tỏ đồ vật. Ánh sáng không tạo nên, không làm ra đồ vật, chỉ nhờ nó mà chúng ta thấy được đồ vật có sẵn. Phật tánh hay tánh giác là liễu nhân, không do bên ngoài tạo ra. Chúng ta tu biết các pháp không thật, không khởi vọng đuổi theo các pháp, khi vọng lặng thì tánh giác hiển lộ. Tâm giác đó sẵn có từ xưa đến nay, chỉ vì vọng tưởng che mờ nên chúng ta không nhận ra. Khi hết vọng thì tâm sáng tỏ, không do cái gì tạo ra, nên gọi là liễu nhân. 3. CHỈ THÂN TƯỚNG BÁT ĐỊA Đại Huệ! Thế nào là giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân? Nghĩa là đệ bát địa quán sát giác liễu các pháp thảy như huyễn đều không thật có, thân tâm chuyển biến được như huyễn tam-muội và các môn tam-muội khác. Vô lượng tướng, lực, tự tại, minh, như hoa đẹp trang nghiêm chóng được như ý. Ví như huyễn, mộng, trăng đáy nước, bóng trong gương chẳng phải năng tạo chẳng phải sở tạo. Như năng tạo sở tạo tất cả sắc các thứ chi phần đầy đủ trang nghiêm, tùy vào tất cả cõi Phật có đại chúng. Vì thông đạt pháp tự tánh, ấy gọi là giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân. Ý sanh thân thứ hai là giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân, đây là Bát địa Bồ-tát được. Các Bồ-tát này đã giác liễu các pháp đều như huyễn, thân tâm chuyển biến được chánh định như huyễn. Sao gọi là chánh định như huyễn? Như hiện tại chúng ta đi đứng nằm ngồi, thấy người thấy cảnh biết là như huyễn không thật. Tất cả thấy nghe xúc chạm đối với người, với vật đều lặng lẽ, không động. Biết tất cả như huyễn không thật, nên tâm không bận bịu lo lắng, tâm được an định. Không cần ngồi tâm mới an định, trong tất cả trường hợp chạm duyên xúc cảnh tâm tự lặng lẽ. Vì trụ sâu trong tánh như huyễn của các pháp nên gọi là chánh định như huyễn. Các Bồ-tát được tam-muội như huyễn rồi, có thể thị hiện vô lượng tướng, có đại thần lực, đại tự tại, trí tuệ sáng suốt để giáo hóa chúng sanh. Tất cả diệu dụng đó như hoa đẹp trang nghiêm. Thân tướng đẹp như ý, thêm nhiều năng lực thần thông, nhưng tất cả đều xem như huyễn mộng, không thấy có người tạo tác và pháp được tạo. Dù độ sanh vô tận, vẫn thấy việc làm đều như huyễn, như bóng trong gương, như trăng đáy nước. Chỗ này cho thấy tinh thần của đạo Phật rất cao sâu. Như ở thế gian người nào có chút thần thông, hoặc bay lên hư không, hoặc được sức mạnh như thần... đều tự đắc hãnh diện, cho rằng mình có công năng đặc biệt, việc làm của mình là thật, thiên hạ không ai bằng. Đối với đạo Phật, tất cả thần thông diệu dụng đều như huyễn, làm Phật sự như không hoa trăng nước, không có gì quan trọng. Quan trọng là nhận được tánh giác, sống với tự tâm chân thật. Thói quen của chúng sanh là thích những gì lạ lùng. Nếu bảo mọi người đều có tánh thấy nghe chân thật hiện tiền thì cho là bình thường, không cần để ý. Còn nói tôi biết quá khứ vị lai, tâm của ai nghĩ gì tôi đều biết, thì thiên hạ phục lăn, rất quý trọng. Như vậy là chạy theo hình tướng bên ngoài, không biết sống với thể chân thật. Sống được với thể chân thật thì mọi diệu dụng đều tùy tâm lưu xuất. Cho nên các Bồ-tát nhận ra thể tánh các pháp, biết rõ tướng như huyễn rồi liền được mọi công năng đặc biệt, nhưng vẫn xem đó như trò chơi, như bóng trong gương, chẳng phải thật có hay thật không. Đây là chỗ thậm thâm vi diệu của Phật pháp, chúng ta cần nhận rõ. Đệ bát địa thấy pháp vô ngã, giác tự tâm hiện tất cả cảnh giới thảy như mộng huyễn. Liền dùng tự giác chiếu liễu thân tâm chuyển biến, thuận tánh khởi dụng, nhập như huyễn tam-muội và vô lượng tam-muội lực, thông, hiện tất cả thân như trăng đáy nước, bóng trong gương, như ý tự tại khắp các cõi Phật. Hiểu sâu pháp tánh chẳng phải có chẳng phải không, chẳng do tạo tác, tự nhiên đầy đủ trang nghiêm. Thuận tánh khởi dụng, câu này rất quan trọng, nghĩa là trở về tánh giác rồi thì khởi ra diệu dụng. Thể nhập pháp tánh nên vào như huyễn tam-muội, có vô lượng tam-muội khác, thập lực, tam minh, lục thông... hiện đầy đủ, nhưng vẫn xem là bóng dáng không thật. Thể nhập pháp tánh nên không vướng kẹt có và không, cũng không phải do tạo tác mà được, tự thể tánh như vậy làm trang nghiêm, không cần thêm gì khác. 4. CHỈ PHẬT ĐỊA THÂN TƯỚNG KHÔNG HÀNH TÁC VÀ BÀI TỤNG Đại Huệ! Thế nào là chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân? Nghĩa là giác tất cả Phật pháp duyên tự được tướng lạc, ấy gọi là chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân. Đại Huệ! Đối với tướng ba thân kia quán sát giác liễu nên phải tu học. Ý sanh thân thứ ba là chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân, nghĩa là thân đồng sanh chung với muôn loài mà không thấy có hành động tạo tác, chỉ tự nhiên hiển hiện. Đây là đến Phật địa mới được diệu dụng này. Giác tất cả Phật pháp duyên tự được tướng lạc, là chứng được tự tánh pháp thân tất cả Như Lai đã chứng. Như hạt châu ma-ni tùy năm sắc hiện. Tự tánh pháp thân của Như Lai cũng lại như thế, tùy tâm chúng sanh đối diện liền hiện. Như Lai không có tâm niệm. Đây là do bi nguyện nhiều kiếp làm thành, cũng là tự tánh pháp tướng lý ưng như thế, chỉ một mình Phật mới hay viên chứng. Chỗ này càng đọc kỹ chúng ta càng thấm sâu ý nghĩa vi diệu của Phật pháp. Ý sanh thân thứ ba là thân hiện mọi chủng loại, không do tạo tác, không do khởi niệm, mà thị hiện tất cả. Đó là khi tâm hoàn toàn thanh tịnh sẽ có những diệu dụng không cố định, tùy đối duyên đối cảnh ứng hiện trong mọi lúc. Như Lai không có tâm niệm, đây là do bi nguyện nhiều kiếp làm thành, nghĩa là Phật không có tâm niệm hiện ra cho một chúng sanh nào, chỉ vì bi nguyện cứu độ từ vô lượng kiếp, tự nhiên chúng sanh thấy ngài hiện đến với mình. Thật sự Phật không đến không đi, chỉ vì tâm tưởng tha thiết của chúng sanh nên thấy dường như được gặp Phật. Đây cũng là tự tánh pháp tướng, nghĩa là khi thể nhập tự tánh thì các tướng tùy duyên ứng hiện, vô lượng khả năng phi thường. Tôi lấy một thí dụ nhỏ. Như trường hợp của tôi chỉ là một phàm phu tăng, nhưng có nhiều Phật tử gặp tôi nói rằng đêm rồi ngủ nằm mộng thấy tôi đến dạy cho tu tập. Phật tử hỏi: “Có phải Thầy đến dạy con không?” Tôi cười và giải thích là tối thì tôi ngủ, chỉ vì Phật tử nghe tôi nói pháp rồi tin tưởng nên thấy như vậy. Nói không có vẻ gì huyền bí mà đúng sự thật, như lời Phật ở đây. Khi tâm chúng ta hoàn toàn thanh tịnh, không có vọng tưởng, lúc đó là vui hay buồn? Như có một tấm gương trong, người ta đem năm màu, xanh vàng đỏ trắng đen sơn phết lên, nhìn vào gương chỉ thấy năm hàng màu sắc, không thấy mặt gương. Có người ra sức lau chùi hết các màu sơn, chỉ còn lại mặt gương trong. Lúc nhìn thấy mặt gương trong không thấy các màu sắc, chúng ta tưởng như rất buồn. Nhưng tấm gương trong sáng hiện ra cả bầu trời, cả muôn nghìn người, hết thảy cảnh vật đều thấy rõ trong gương, tấm gương không có tất cả mà hiện tất cả. Cũng vậy, khi tâm chúng ta không còn những vọng tưởng vui buồn thương ghét, tưởng như không có gì, nhưng lúc đó sẽ tùy duyên ứng hiện vô lượng khả năng phi thường. Đó là chỗ rất quan trọng. Chúng ta đừng lo khi chùi sạch hết vọng tưởng thì không còn khôn ngoan, chỉ lo chùi không sạch hết vọng tưởng che mờ mà thôi. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ rằng: Thừa ta phi Đại thừa Phi thuyết cũng phi tự Phi đế phi giải thoát Phi cảnh giới có không. Phật thừa không phải là tam thừa hay Đại thừa. Phi thuyết, không phải nói. Phi tự, không phải chữ. Phi đế phi giải thoát, không phải đế, cũng không phải giải thoát. Phi cảnh giới có không, không vướng mắc cảnh giới có và không. Song thừa Đại thừa này Được chánh quán tự tại Các thứ ý sanh thân Hoa trang nghiêm tự tại. Ứng dụng tu đúng như vậy sẽ được chánh quán tự tại và các ý sanh thân. Các ý sanh thân đó có diệu dụng như tràng hoa đẹp trang nghiêm tự tại. Bài kệ hiển bày Như Lai tự giác thánh trí lìa các tướng thừa, chẳng phải lời nói đến, chẳng phải tất cả đế, chẳng phải tất cả giải thoát, cũng chẳng phải cảnh giới không thật có. Đây chính hiển bày đệ nhất nghĩa tự chứng tự biết của pháp môn Đại thừa. Vào pháp môn này tự nhiên được ba thứ thân trang nghiêm tự tại, chẳng cần dụng công. Pháp môn Đại thừa là pháp môn tự tâm thanh tịnh, vào pháp môn này thì được tự tại không cần dụng công. Ngoại đạo tu luyện, áp dụng mọi phương pháp để được thần thông, thần thông ấy là có tạo tác nên vô thường, được rồi cũng mất. Ý sanh thân của Phật và Bồ-tát là do thể nhập tự tánh thanh tịnh nên tùy duyên ứng hiện như huyễn. Chúng sanh cần thì các ngài thị hiện vô lượng tướng, vô lượng trang nghiêm không bao giờ tận cùng. Đó là chỗ khác nhau giữa thần thông của ngoại đạo và thần thông của Phật. III- CHỈ PHƯƠNG TIỆN KHÉO VÀO NĂM HẠNH (Phân làm sáu phần) 1. NHÂN ĐẠI HUỆ HỎI, LIỆT BÀY HẠNH NGŨ VÔ GIÁN Đại Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói: “Nếu người nam kẻ nữ hành nghiệp ngũ vô gián chẳng vào địa ngục vô gián”. Thế Tôn! Thế nào người nam kẻ nữ hành nghiệp ngũ vô gián mà chẳng vào địa ngục vô gián? Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo: Đại Huệ! Thế nào là nghiệp vô gián? Nghĩa là giết cha, giết mẹ, hại A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, ác tâm làm thân Phật ra máu. Giết cha, giết mẹ, hại A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật ra máu, năm nghiệp vô gián này quyết định mắc quả báo trong địa ngục vô gián. Song Phật cũng có khi nói: cũng có người hành nghiệp ngũ vô gián mà không mắc quả báo trong địa ngục vô gián, cho nên ở văn sau phát minh. 2. CHỈ HAI CĂN BẢN ĐOẠN Đại Huệ! Thế nào là mẹ chúng sanh? Nghĩa là ái lại thọ sanh, cùng với tham và hỷ chung, như duyên nơi mẹ mà sanh thành. Vô minh là cha sanh vào xóm làng lục nhập thập nhị xứ. Đoạn hai thứ căn bản này gọi là giết cha mẹ. Hai tội vô gián đầu tiên là giết cha và giết mẹ. Mẹ ở đây là ái, vì có ái nên có thọ sanh, vì thế nói ái lại thọ sanh. Ái luôn luôn kết hợp với tham và hỷ. Thông thường những gì chúng ta yêu thích thì luôn đi kèm với tham và hỷ. Như người thích đồ cổ, có ai đem tặng một cái bình xưa, người đó mừng không? Thấy ai có món đồ xưa đẹp quý thì có trầm trồ mong mình được không? Vì thế, ái sanh ra chỗ nào đều có tham và hỷ đi theo. Nhìn xuống loài súc sanh, gần nhất là loài chó, vì yêu thân nên được làm thân chó, nó không thấy đó là bất hạnh, nó cũng đùa giỡn vui mừng. Ai tỏ vẻ giận dữ muốn giết thì nó buồn sợ. Đó là vì ái thân nên tham sống sợ chết. Tham ái là nguyên nhân làm chúng ta tái sanh từ đời này sang đời khác, còn động cơ chủ yếu của guồng máy luân hồi sanh tử là vô minh. Vô minh là gốc, đó là cha, tham ái phụ thêm sức mạnh để thọ sanh, đó là mẹ. Như vậy vô minh và ái là cha mẹ dẫn chúng ta vào làng xóm lục nhập. Ngay thân này chính là làng xóm lục nhập, có sáu căn tiếp xúc sáu trần, như làng xóm là nơi tụ tập. Chúng ta ở tạm nơi làng xóm này, nhưng cứ tưởng thật nên bám chặt, chấp đó là ta. Tất cả người tu khi diệt được hai thứ căn bản là vô minh và tham ái thì gọi là giết cha giết mẹ, tuy gọi là tội ngũ vô gián nhưng không bị đọa địa ngục. Nếu từ bi và hiếu thảo với cha mẹ này thì tiếp tục luân hồi không biết khi nào dừng. Cho nên phải bất hiếu mà không gọi là ác tâm. Còn đối với cha mẹ sanh thân này thì chúng ta nên thương kính, hiếu thuận. Phải phân biệt rõ như vậy. Ái là phần ái trong mười hai nhân duyên, vì nó hay nhuận sanh, cho nên nói “lại thọ sanh cùng với tham và hỷ chung”, có nghĩa dưỡng dục nên nói “như duyên nơi mẹ mà sanh thành”. Phần vô minh thì hay phát nghiệp nên gọi nó là cha. Mẹ tham ái hiệp với cha vô minh tức là vào xóm làng lục nhập và thập nhị xứ, thành thân đời sau. Hai cái này là nhân sanh tử nên nói căn bản. Đoạn hai cái căn bản này gọi là giết cha mẹ. Nhuận sanh, nhuận là thấm nhuần, sanh là tiếp nối sanh ra. Vì có vô minh là cha, nếu không có ái thì không tiếp tục sanh ra đời sau, nên nói ái là nguyên nhân trợ giúp sanh tử. Vô minh là nguyên nhân chánh để phát nghiệp, gọi là căn bản vô minh, ái là nhuận sanh vô minh, cả hai đều vô minh. Nếu dứt được cha vô minh và mẹ tham ái thì không còn đi vào xóm làng lục nhập của đời sau, ngay đó dứt sanh tử. 3. CHỈ CÁC PHÁP CỨU CÁNH ĐOẠN Các sử kia chẳng hiện như chuột độc phát các pháp, cứu cánh đoạn nó, gọi là hại La-hán. Hại La-hán là giết hết tập khí của mười kiết sử. Các kiết sử này lôi dẫn chúng ta đi trong đường sanh tử, nên gọi là sử (sai sử, xúi giục). A-la-hán dứt được các sử trên phần thô, còn tập khí vi tế bên trong chưa dứt hết. Thí dụ như chuột độc phát các pháp. Ở Ấn Độ có loại chuột độc cắn người, lúc vết thương lành thấy không nguy hiểm, nhưng chất độc tiềm ẩn bên trong, khi gặp sấm chớp vết thương phát tác khiến người phải chết. Cũng vậy, A-la-hán đối với các tập khí ngầm chưa dứt sạch, khi cứu cánh đoạn dứt các tập khí của kiết sử thì gọi là hại A-la-hán. La-hán đoạn mười chánh sử, chưa đoạn tập khí. Nói như chuột độc phát, là như con chuột độc cắn người vết thương tuy đã lành, mà gặp sấm chớp lại phát sanh. Dụ La-hán đoạn được nội sắc mà chưa đoạn ngoại sắc, cho nên gặp duyên liền dao động. Chứng tự giác trí thì tập khí chóng trừ, tất cả pháp đã có như chuột độc phát sanh thảy đều hằng đoạn, gọi là hại La-hán. Mười chánh sử là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Vì A-la-hán chưa phá hết chấp pháp nên còn các tập khí của kiết sử, gặp duyên liền dao động. Khi chứng tự giác Thánh trí thì tất cả tập khí đều tiêu dung, chấp pháp cũng đoạn, lúc đó không còn trụ bậc A-la-hán mà tiến lên quả Phật, nên gọi hại A-la-hán. 4. CHỈ CÁC ẤM CỨU CÁNH ĐOẠN Thế nào phá hòa hợp Tăng? Nghĩa là các ấm tướng khác hòa hợp chứa nhóm, cứu cánh đoạn nó, gọi là phá Tăng. Sắc thọ tưởng hành thức là tướng khác của các ấm. Năm ấm hòa hợp chứa nhóm sanh tử nên gọi là tập. Nếu hay đoạn nó thì gọi là phá Tăng. Vì Tăng là nghĩa hòa hợp. Tăng có nghĩa là hòa hợp. Thân năm ấm này tồn tại là nhờ sự chung hợp của sắc, thọ, tưởng, hành, thức; mỗi ấm đều có tên khác, tướng khác nên gọi là tướng khác hòa hợp chứa nhóm. Nếu năm ấm không chung hợp thì thân này không có; phá Tăng nghĩa là phá cái duyên để tiếp tục hòa hợp thành năm ấm thân sau. Quán sát năm ấm giả tạm không thật, sự chứa nhóm cũng không thật là phá hòa hợp Tăng. 5. CHỈ BẢY THỨ THỨC ĐOẠN Đại Huệ! Do bất giác ngoại cảnh tự tướng cộng tướng từ tự tâm hiện lượng nên bảy thức thân sanh. Dùng ba thứ giải thoát vô lậu ác tưởng, cứu cánh đoạn bảy thứ thức Phật kia, gọi là ác tâm làm thân Phật ra máu. Vì mê Như Lai tàng bất giác khởi ngoại cảnh, thấy có tướng riêng tướng chung, tất cả đều là tự tâm hiện lượng. Từ bất giác nên có tàng thức và bảy thức thân: mạt-na thức, ý thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức. Bảy thức thân này đều là vọng giác. Dùng ba giải thoát vô lậu là Không, vô tướng, vô nguyện đoạn trừ vọng tưởng, khiến bảy thức không sanh khởi, gọi là ác tâm làm thân Phật ra máu. Vì sao gọi thức là Phật? Bảy thức là tướng của vọng giác, có giác nên gọi là Phật, nhưng Phật này là Phật giả. Chân giác là trí tuệ đạt tự tâm hiện lượng hay còn gọi là thánh trí tự giác, đó là Phật thật. Chúng ta thường quen sống với Phật giả Phật vọng, nên bây giờ dùng ba môn giải thoát để đoạn dứt Phật vọng giác. Vì đập tan mê lầm của bảy thức nên gọi ba môn giải thoát là ác tưởng. Nếu người nam kẻ nữ hành việc vô gián này gọi là ngũ vô gián, cũng gọi là vô gián đẳng. Thực hành năm việc vô gián này gọi là vô gián đẳng, tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Năm vô gián bên trong này tất cả người tu đều cố gắng diệt trừ, không phải như năm tội vô gián bị đọa địa ngục bên ngoài. Tám thức có hai nghĩa giác và bất giác. Nếu bất giác ngoại cảnh tự tướng cộng tướng đều tự tâm hiện thì giác là ngã tướng của bảy thức. Do kiến phần vọng giác của thức thứ tám, thức thứ bảy liền chấp làm ngã. Đây gọi là bảy thức thân. Bản nhà Đường dịch là tám thức vẫn đồng với ý chỉ này. Nếu giác tự tâm hiện ra liền hay dùng vô tác, vô tướng, vô nguyện an trụ bất giác trong biển tâm tịch tịnh. Nên nói “dùng ba thứ giải thoát vô lậu ác tưởng đoạn thân giác kia”. Hiệp năm hạnh này thì chứng được thật pháp chánh chân, nên nói “vô gián đẳng”. Vì bất giác chạy theo các cảnh tự tướng cộng tướng, duyên theo đó mà phân biệt, tướng chấp ngã khởi lên, thức a-lại-da bèn có nghĩa sanh diệt và bất sanh diệt hòa hợp. An trú trong ba giải thoát môn để tâm được thanh tịnh, bảy thức lóng lặng thì thức a-lại-da không còn bị đeo níu chấp ngã, các pháp trở về thể tánh chân thật. Năm hạnh vô gián này là năm hạnh tu của người nguyện giải thoát sanh tử, ngược lại với năm tội vô gián bên ngoài. 6. CHỈ NGOẠI NGỮ VÔ GIÁN HẠNH VÀ BÀI TỤNG Lại nữa, Đại Huệ! Có ngoại ngũ vô gián, nay sẽ diễn nói, ông và các đại Bồ-tát khác nghe nghĩa này rồi, ở đời vị lai chẳng rơi vào ngu si. Thế nào là ngũ vô gián? Nghĩa là trước đã nói vô gián, nếu người hành được pháp này đối ba môn giải thoát mỗi mỗi chẳng được pháp vô gián đẳng. Trừ người này ra, còn các vị hóa thần lực hiện vô gián đẳng, như là Thanh văn hóa thần lực, Bồ-tát hóa thần lực, Như Lai hóa thần lực, vì người khác tạo tội vô gián để trừ nghi và hối quá. Ngoại ngũ vô gián là năm tội vô gián bên ngoài, tội thật sự giết cha mẹ... Phải phân biệt tội ngũ vô gián này để không rơi vào ngu si. Nghĩa là những người phạm năm tội vô gián bên ngoài, sẽ không được tam giải thoát môn, không được pháp vô gián đẳng, gọi là đối ba môn giải thoát mỗi mỗi chẳng được pháp vô gián đẳng. Trừ người này ra, tức là trừ người chịu tội ngũ vô gián, còn có các trường hợp các vị hóa thần lực thị hiện phạm tội ngũ vô gián. Chư Phật chư Bồ-tát thương chúng sanh ở trong ngục vô gián, thị hiện phạm tội vào trong đó để chỉ dạy cho họ ăn năn hối lỗi. Vì khuyến phát nên dùng thần lực biến hóa hiện vô gián đẳng. Không có một bề làm việc vô gián mà chẳng mắc vô gián đẳng. Trừ người giác tự tâm hiện lượng lìa thân tài vọng tưởng, lìa ngã và ngã sở nhiếp thọ; hoặc khi gặp thiện tri thức giải thoát vọng tưởng tương tục trong các cõi. Vì khuyến phát nên dùng thần lực biến hóa, nghĩa là chư thánh dùng thần lực biến hóa phạm tội, rồi ăn năn sám hối liền chuyển nghiệp, để khuyến khích các người phạm tội thức tỉnh ăn năn cũng được chuyển nghiệp. Hoặc chúng sanh tạo tội được gặp thiện tri thức chỉ dạy vươn lên giải thoát, không còn tái sanh tiếp nối trong các cõi, nên không bị rơi vào địa ngục vô gián. Đây là hình thức đốn ngộ chuyển nghiệp ngay hiện tại, để thấy rõ ngũ vô gián cũng không phải hoàn toàn cố định. Đối năm thứ vô gián trước, nên nói ngoại vô gián. Còn ba hạng dùng thần lực biến hóa là vì người tạo tội vô gián trừ nghi và khiến hối quá. Như trong luật đã phạm thảy đều thuộc quyền thị hiện. Như Điều Đạt ở trong địa ngục như thọ vui trên cõi trời Tam thiền, chợt được Thế Tôn thọ ký. Chưa có một bề tạo nghiệp vô gián mà không mắc quả báo vô gián. Trừ giác tự tâm hiện, là trừ người này hiện đời giác tự tâm hiện, chóng lìa tất cả vọng tưởng năng sở của thân căn và khí giới, thì nghiệp tánh không ở trong ngoài và giữa. Như tự tâm chẳng ở trong ngoài giữa, nghiệp tánh cũng thế. Điều-đạt tức Đề-bà-đạt-đa, là đệ tử Phật luôn làm các nghịch hạnh hại Phật phá tăng, kết quả bị đọa địa ngục. Trong kinh Pháp Hoa đức Phật thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa sẽ thành Phật hiệu Thiên Vương Như Lai, có đủ mười hiệu, giáo hóa chúng sanh vô lượng, cõi nước Phật trang nghiêm tốt đẹp. Phật nói Đề-bà-đạt-đa là thiện tri thức giúp Phật mau thành tựu các công hạnh, các năng lực mầu nhiệm. Như vậy, nếu đúng Đề-bà-đạt-đa là người ác, phạm tội đọa địa ngục thì không thể sanh ra ở đâu cũng được gặp Phật, theo Phật từ đời này sang đời nọ. Chính ông thực hành hạnh Bồ-tát giúp Phật tiến mau. Như thay vì tu tập trong mười kiếp, nhờ Đề-bà-đạt-đa theo phá hoại, đức Phật vượt qua cái khó đó, nỗ lực nhẫn nhục tinh tấn nên vượt qua mười kiếp, chỉ còn một. Cái ác tâm của Đề-bà-đạt-đa là của hàng Bồ-tát thượng thặng, biết trình độ Phật khi còn là Bồ-tát đến ngang mức nào, nên sử dụng tất cả phương tiện để thúc đẩy vươn lên. Tôi thí dụ trong chúng đây có người phát nguyện không sân, hoặc phát nguyện bố thí tùy ý. Nếu không ai thử thách, ai cũng chiều ý, thì làm sao biết người đó phát nguyện mạnh thế nào? Phải có người đến chửi mắng hoặc đến xin đồ vật rất quý, mới biết sức nguyện kiên cố hay không. Nếu nguyện kiên cố dũng mãnh thì gặp chướng ngại đến đâu cũng vượt qua. Như thế người chửi mắng là người giúp thành công. Đề-bà-đạt-đa là người giúp Phật tiến mau, nhưng làm hạnh ác thì phải đọa địa ngục, nếu không đọa địa ngục thì sẽ làm nghi lầm chúng sanh, cho rằng phá Phật không có tội. Tuy thế, ở trong địa ngục mà vẫn vui như ở cõi trời Tam thiền, vì đã làm thành tựu cho Phật. Cái ác của Đề-bà-đạt-đa không phải là cái ác theo thế thường, nó vượt ngoài tầm nhìn đối đãi hai bên. Theo kinh điển Đại thừa, ông là Bồ-tát thị hiện. Trong nhà thiền hay trong các kinh Đại thừa thường bảo nghiệp tánh không thật. Vì sao? Như tự tâm chẳng ở trong ngoài giữa, nghiệp tánh cũng thế. Tự tâm không tướng mạo, không xác định được vị trí, nghiệp tánh không tướng mạo, chỉ tùy tâm mà thay đổi. Tâm cố chấp thì nghiệp dường như có thật. Tâm giác ngộ, lìa vọng tưởng năng và sở, lìa tất cả phân biệt về thân căn và cảnh giới, thấy các pháp như huyễn thì nghiệp tánh cũng không thật, như huyễn. Nếu chẳng được vậy thì gặp thiện tri thức dạy khiến trừ diệt liền được giải thoát các thú. Như vua A-xà-thế liền ở trước Phật được lòng tin không căn, phá hoại tâm ác, chẳng phải bảo đợi đến đời khác. Nếu thân này mất rồi thì nhân quả khó trốn. Vua A-xà-thế hiện đời giết cha phạm tội ngũ nghịch, đáng lẽ phải đọa địa ngục. Nhưng ông gặp Phật, phát tâm sám hối được lòng tin không căn. Lòng tin không căn là Vô căn tín, nghĩa là người không có thiện căn, ban đầu không tin kính Tam bảo, sau nhờ Phật lực mà khởi tín tâm; người tạo tội nặng ngũ vô gián không thể giải cứu, nếu ân cần sám hối không tạo tội ác, đồng thời tin kính Tam bảo, thành tựu tín căn, cũng gọi là Vô căn tín. Vua A-xà-thế nhờ tin Phật, chuyển tâm ác thành tâm thiện, ngay đời này tránh khỏi đọa địa ngục vô gián. Nếu thân này tạo nghiệp vô gián chưa kịp hối cải mà chết thì nhất định khó tránh quả báo. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Tham ái gọi là mẹ Vô minh tức là cha Thức giác cảnh là Phật Các sử là La-hán Ấm họp gọi là Tăng Vô gián thứ lớp đoạn Gọi là ngũ vô gián Chẳng vào ngục vô gián. Giác là Phật tánh, song ở trong chúng sanh mê liễu biệt cảnh tức là vọng giác, ấy là nên đoạn, cũng gọi là làm thân Phật ra máu. La-hán các sử chẳng hiện, mà nói các sử là La-hán, vì văn gọn vậy. Giác là Phật, vì ở trong mê không nhận được tánh giác, lại khởi phân biệt cảnh bên ngoài, đó là vọng giác, cái giác đó nên đoạn. IV- CHỈ VIÊN MÃN PHẬT GIÁC (Phân làm bốn phần) 1. CHỈ PHẬT GIÁC Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tri giác của Phật. Thế Tôn! Những gì là tri giác của Phật? Phật bảo Đại Huệ: Giác nhân pháp vô ngã, rõ biết hai chướng, lìa hai thứ tử, đoạn hai thứ phiền não, ấy gọi là tri giác Phật. Thanh văn, Duyên giác được pháp này cũng gọi là Phật. Do nhân duyên ấy nên ta nói Nhất thừa. Đây là tri giác của Phật. Thứ nhất, giác ngộ được nhân vô ngã, pháp vô ngã. Thứ hai, giác ngộ được hai chướng là phiền não chướng và sở tri chướng. Thứ ba, lìa được hai thứ tử là phần đoạn tử và biến dịch tử. Thứ tư, đoạn hai thứ phiền não là vô minh phiền não và tứ trụ phiền não. Như vậy ai cũng có thể thành Phật nếu đủ các điều kiện này. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Khéo biết hai vô ngã Hai chướng phiền não đoạn Hằng lìa hai thứ tử Ấy gọi tri giác Phật. Tam thừa đồng một tánh tri giác mà chẳng đồng tri giác. Bởi tri giác sai biệt nên chỗ chứng cũng sai biệt. Như Lai là như tánh kia mà giác nên không có giác khác, như tánh kia mà biết nên không có biết khác. Tam thừa đồng một tánh tri giác, tức đồng một Phật tánh mà chẳng đồng tri giác, tức là tùy căn cơ của mỗi thừa mà thấy biết khác nhau. Vì không thấu suốt pháp tánh nên Thanh văn Duyên giác chỉ chứng ngã không, chưa chứng pháp không, chỉ dứt phần đoạn tử, chưa dứt biến dịch tử. Như tánh kia mà giác nên không có giác khác, là giác ngộ tánh như thật của chính mình, không có giác ngộ nào khác. Như tánh kia mà biết nên không có biết khác, biết tánh như thật của mình không có gì sai lệch. Như tánh kia mà giác thì không có bất giác. Không có giác khác thì không vọng giác. Không bất giác không vọng giác, ấy gọi là chân như tự tánh thanh tịnh không che đậy. Tánh giác sẵn có, nếu giác được tánh như thật đó thì không có bất giác, vọng giác. Đó là Phật tánh hiển hiện tròn đầy. Giác có người, giác có pháp, đều do bất giác tự tánh mà khởi vọng giác. Giác có tự tha, ấy là nhân tướng. Giác có tự tánh tha tánh, ấy là Pháp tướng. Như tánh kia mà giác không có giác khác thì nhân ngã pháp ngã liền đó tan biến. Có vọng giác là khởi phân biệt người thật, pháp thật nên khởi chấp nhân tướng pháp tướng. Khi giác ngộ tánh như thật thì các chấp ngã, chấp pháp bị đốn trừ dẹp sạch. Hai chướng là hoặc chướng và trí chướng. Hoặc là kiến hoặc và tư hoặc. Trí là sở tri. Khi hai hoặc không mà trí năng không và lý sở không mảy may chưa sạch thì chướng này chưa quên. Đến Thập nhất địa vẫn có hai phần sở tri ngu rất vi tế, như cách tấm lụa mỏng, chỉ Phật mới hay xong. Tóm lại, như tánh kia mà giác không có giác khác thì một lúc chóng xong. Hai chướng là hoặc chướng và trí chướng, chỗ khác gọi là phiền não chướng và sở tri chướng. Do chấp ngã nên có phiền não chướng, do chấp pháp nên có sở tri chướng. Hàng Nhị thừa tuy đã dứt hết kiến hoặc tư hoặc nhưng trong tâm chưa sạch hết năng sở thì hoặc chướng vẫn còn. Phần trí chướng thâm sâu, nên đến Thập nhất địa, tức Đẳng giác, vẫn còn sở tri vi tế, như tấm màn mỏng che mờ tánh giác. Như tánh kia mà giác không có giác khác thì một lúc chóng xong, nghĩa là giác ngộ ngay thể tánh như thật thì hai chướng được đoạn trừ nhanh. Hai thứ tử là phàm phu phần đoạn sanh tử và Nhị thừa biến dịch sanh tử. Biến dịch là nhân dời quả đổi, lìa phần đoạn sanh tử trong tam giới, vẫn còn cõi phương tiện v.v... biến dịch sanh tử. Nhị thừa biến dịch sanh tử, biến dịch là đổi dời, như khi Tu-đà-hoàn tiến lên Tư-đà-hàm, thì bỏ vị trí Tu-đà-hoàn... Mỗi lần đổi quả vị là đổi dời. Bồ-tát từ Sơ địa chuyển lên Nhị địa cũng vậy. Hàng Thanh văn và Bồ-tát còn đổi dời vị trí nên gọi là biến dịch tử. Chỉ có Phật trụ ở tánh giác không đổi dời nên hết biến dịch tử. Tứ trụ phiền não cảm phân đoạn sanh tử, vô minh phiền não cảm biến dịch sanh tử. Hai thứ tử này đã lìa thì hai thứ phiền não cũng đoạn. Đã nói về đoạn hai chướng, dứt hai thứ sanh tử, đây nói về đoạn hai phiền não có liên quan đến hai thứ sanh tử. Vì tứ trụ phiền não cảm ứng với phần đoạn tử, vô minh phiền não cảm ứng với biến dịch tử. Đã lìa hai chướng sanh tử thì hai loại phiền não trên cũng dứt sạch. Tứ trụ hoặc là: Kiến hoặc trong tam giới là một trụ. Tất cả kiến hoặc trụ địa, tức là kiến hoặc phân biệt trong tam giới. Do ý căn đối với pháp trần khởi phân biệt, dấy các tà kiến trụ trước tam giới. Tư hoặc trong tam giới phân làm ba trụ. 1/ Dục ái trụ địa hoặc, do năm căn đối cảnh năm trần khởi tâm tham ái mà trụ trước nơi Dục giới. 2/ Sắc ái trụ địa hoặc, tức là tư hoặc trong Sắc giới. Do chẳng rõ hoặc này nên trụ trước thiền định Sắc giới không thể bỏ lìa. 3/ Hữu ái trụ địa hoặc, tức là tư hoặc Vô sắc giới. Do chẳng rõ hoặc này nên trụ trước thiền định Vô sắc giới không thể bỏ lìa. Đây giải thích về một trong hai thứ phiền não, còn gọi là hai hoặc. Phiền não này là cội gốc làm mê lầm, nên gọi là hoặc, không phải loại phiền não tầm thường. Phiền não thứ nhất là tứ trụ hoặc. Vì sao gọi là tứ trụ hoặc? Vì gồm có bốn loại. Một là kiến hoặc, tức thấy biết mê lầm trong tam giới. Hai là tư hoặc tức suy tư sai lầm, tư hoặc này chia làm ba cộng với một kiến hoặc ở trên thành bốn loại. Ba loại tư hoặc là: 1/ Sáu căn tiếp xúc sáu trần phát sinh tham ái đắm mến, trụ trước mãi trong Dục giới, gọi là Dục ái trụ địa hoặc. 2/ Tham mến các tầng thiền trong Sắc giới, sanh tâm trụ trước không rời bỏ, gọi là Sắc ái trụ địa hoặc. 3/ Khi được định Vô sắc, tự mãn thấy mình trùm khắp, đắm mến không rời bỏ, gọi là Hữu ái trụ địa hoặc. Ba thứ hoặc Dục ái, Sắc ái, Hữu ái làm chúng ta vướng mắc không thoát ra khỏi tam giới. Sở dĩ chúng ta ở mãi trong Dục giới vì sự lôi cuốn của các pháp, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng... đều thấy thích thú không thể rời bỏ. Dục giới là cõi thấp nhất còn bị chìm đắm, huống chi cõi Sắc và Vô sắc. Dù không đắm mến cảnh trần, nhưng đắm mến cái vui thiền định của Tứ thiền, Tứ không cũng còn bị trụ trước. Khi nào chúng ta thấy tất cả tướng, tất cả tâm đều huyễn hóa, các pháp không thật không quan trọng, lúc đó mới thoát khỏi tam giới. Còn thấy có cảnh đáng yêu đáng chán thì tâm lý còn ở trong Dục giới. Lấy tiêu chuẩn đó để đo lường thì biết mình giải thoát hay chưa giải thoát, không cần phải hỏi ai. Vô minh phiền não là chỉ căn bản vô minh. Nghĩa là mê Như Lai tàng bất giác phát nghiệp. Phiền não này Nhị thừa không biết. Chính Đại thừa Bồ-tát đoạn hoặc chưa hết, vẫn ở nơi cõi Thật báo, chỉ Phật mới xong. Vô minh phiền não là cội gốc của tất cả mê lầm, là gốc khởi lên Kiến hoặc Tư hoặc. Mê lầm này, hàng tam thừa vẫn chưa dứt sạch. Bồ-tát vẫn ở nơi cõi Thật báo, nghĩa là Bồ-tát nhờ nhân hạnh chân thật nên được quả báo chân thật, vì thế gọi là cõi Thật báo. Nhưng, như tánh kia mà giác không có giác khác, thì một lúc chóng xong. Cho nên nói “Thanh văn, Duyên giác được pháp này cũng gọi là Phật. Do nhân duyên ấy ta nói Nhất thừa”. Thế nên biết, Nhất thừa tức là tánh tri giác. Tánh của tri giác thì không khác, mà tri giác của tánh thì chẳng đồng. Tuy chia ra đoạn hoặc chứng chân nhiều cấp bậc, nhưng cứu cánh chỉ một Nhất thừa, tức là trở về tánh giác. Trở về tánh giác, một lúc chóng xong, không cần thứ lớp đoạn hoặc, đó là pháp tu đốn ngộ của nhà thiền. Tánh của tri giác thì không khác, nghĩa là thể tánh giác tất cả chúng sanh đều như nhau không khác, mà tri giác của tánh thì chẳng đồng, trên thể là một nhưng phân ra tri giác thì có cạn sâu, tùy theo căn cơ mà lúc dụng công tu đoạn dứt hoặc chướng mau chậm. Đó là lý do sai biệt của các thừa. Do cái chẳng đồng này nên chỗ chứng có khác. Hàng Nhị thừa không giác tự tánh, vọng có sở giác, ấy là khác. Song vọng giác vốn dối, chân tánh thường trụ. Giác vọng tức là chân, biết chân thì vọng diệt, cũng cứu cánh không hai. Hàng Nhị thừa không giác tự tánh mà giác ngộ các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã nên gọi là vọng giác. Nhưng tất cả vọng giác không rời chân giác, biết được chân thì vọng hết. Trở về tự tánh chân như chỉ có Nhất thừa. 2. CHỈ NHƯ LAI TỰ, NGỮ, THÂN, PHÁP BỐN THỨ ĐỒNG Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cớ sao Thế Tôn ở trong đại chúng xướng lời thế này: Ta là tất cả Phật thời quá khứ và các thứ thọ sanh. Ta khi ấy làm Chuyển luân thánh vương Mạn-đà, voi lớn sáu ngà và chim anh võ, Thích-đề-hoàn-nhân, tiên nhân Thiện Nhãn v.v... kinh nói trăm ngàn đời như thế. Ngài Đại Huệ nghi rằng, Phật lúc nào cũng là Phật, tại sao ngài nói Ta là tất cả Phật thời quá khứ? Nếu ngài đã là Phật thời quá khứ tại sao có khi làm Chuyển luân vương, làm voi...? Đây là nghi thủy giác bản giác đã có sai thù thì pháp, báo, hóa thân đâu không đồng khác, nên có lời hỏi này. Chẳng biết do bản giác có thủy giác, thủy như bản kia. Pháp thân sanh báo thân hóa thân, báo hóa như pháp thân. Chỉ một đạo bình đẳng trước sau không hai. Hoa Nghiêm luận nói: “Vô biên cõi nước, tự tha chẳng cách mảy lông, mười đời xưa nay trước sau chẳng lìa niệm hiện tại.” Chư Phật đồng một bản giác, nhưng về thủy giác có sai khác. Ngài Đại Huệ đặt nghi vấn để Phật dạy rõ về bản giác thủy giác. Từ bản giác mà có thủy giác. Khi giác ngộ thì bản giác và thủy giác không có hai tánh. Pháp thân là thể của báo thân và hóa thân, nên nói báo hóa như pháp thân. Trên tướng và dụng có sai khác, trở về thể thì đồng một đạo bình đẳng. Người được tự giác thánh trí tự nhiên chẳng nghi xưa chẳng nghi nay, chẳng nghi người chẳng nghi ta, chẳng nghi nhân chẳng nghi quả, chẳng nghi căn thân chẳng nghi khí giới, chẳng nghi hữu tình chẳng nghi vô tình, chẳng nghi một chẳng nghi khác, chẳng nghi hiện thành chẳng nghi tác khởi, tất cả chẳng nghi nên mới chứng biết. Người được tự giác thánh trí tự nhiên chẳng nghi, vì nếu còn nghi là chưa chứng biết. Khi đã biết thật rồi thì không cần hỏi. Trong nhà thiền, thiền sư Pháp Thường Đại Mai khẳng định: Người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân. Tức là người đích thực đến chỗ ngộ thì không còn nghi. Phật bảo Đại Huệ: Do tứ đẳng nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác ở trong đại chúng xướng lời thế này: “Ta khi ấy làm Phật Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm Mâu-ni, Ca-diếp.” Thế nào là tứ đẳng? Nghĩa là tự đồng, ngữ đồng, pháp đồng, thân đồng, ấy gọi là tứ đẳng. Do bốn thứ đồng nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác ở trong chúng xướng nói như thế. Sở dĩ Phật nói ngài là chư Phật quá khứ là căn cứ trên tứ đẳng. Tự đồng là danh tự bình đẳng; ngữ đồng là âm thanh ngữ ngôn của chư Phật đồng nhau; thân đồng là chư Phật đồng pháp thân và sắc tướng; pháp đồng là chư Phật nói pháp đồng nhất. Bốn điều này, tất cả chư Phật đồng có như nhau không sai biệt, nên gọi là tứ đẳng. Do tứ đẳng nên Như Lai ở trong đại chúng xướng nói Ca-diếp, Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm là ta. Đây là Như Lai đáp và lẫn hiển cả quyền và thật. Người chứng tự giác thánh trí tự biết tự chứng không thể nói bày. Quyền để chỉ bày nên nói quyền, cũng có thể tức nơi đây thầm hội nên nói thật. Đó là nói lẫn hiển quyền thật vậy. Quyền là chỉ cho hình tướng phương tiện, thật là chỉ cho lý tột cùng. Phật nói ngài và chư Phật có bốn thứ đồng, đó là đứng về mặt quyền phương tiện; ngài và chư Phật đồng một thể tánh chân như, đó là đứng về lý thật. Nói chữ đồng ở đây chúng ta có thể hiểu hai mặt quyền và thật. Thế nào là tự đẳng? Hoặc chữ xưng ta là Phật, chữ kia cũng xưng tất cả Phật, chữ ấy tự tánh không có sai biệt, ấy gọi là tự đẳng. Thế nào là ngữ đẳng? Nghĩa là ta có sáu mươi bốn thứ Phạm âm nên tướng ngôn ngữ sanh. Chư Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác kia cũng có sáu mươi bốn thứ Phạm âm nên tướng ngôn ngữ sanh như thế, không thêm không bớt, không có sai biệt, tánh tiếng Phạm âm như ca-lăng-tần-già. Lời nói của tất cả chư Phật đều có sáu mươi bốn công dụng đặc thù, pháp âm nhiệm mầu như tiếng chim ca-lăng-tần-già (mỹ âm điểu, diệu âm điểu). Tự đẳng, tự là danh tự. Ba đời Như Lai đều tên là Phật. Tự tánh chữ là chữ Phật để hiển bày nghĩa tự tánh giác, cũng không có sai biệt. Ngữ đẳng, cổ chú rằng: Tiếng Tây Vức có tám chuyển: 1/ Thể, 2/ Nghiệp, 3/ Cụ, 4/ Vi, 5/ Tùng, 6/ Thuộc, 7/ Ư, 8/ Hô. Như Lai nơi tám chuyển này mỗi cái đủ tám đức: 1/ Điều hòa, 2/ Nhu nhuyến, 3/ Rõ chắc thật, 4/ Dễ hiểu, 5/ Không lầm lẫn, 6/ Không tiếng giọng mái nhỏ, 7/ Tiếng to lớn, 8/ Tiếng sâu xa. Nói về tám đức của âm thanh chư Phật, chúng ta thấy đủ mọi tốt đẹp. Điều hòa nhu nhuyến là tiếng êm dịu hiền từ, rõ chắc thật là nói đâu chắc thật đó, dễ hiểu là Phật nói ra chúng sanh hiểu liền, không lầm lẫn là không nói lầm tiếng này ra tiếng kia, không tiếng giọng mái nhỏ là không có âm thanh bất thường, tiếng to lớn là tiếng Phật vang như chuông đồng, tiếng sâu xa tiếng ngài nghe thấm sâu. Tám lần tám là sáu mươi bốn tướng. Song trong kinh Bất Tư Nghì Bí Mật Đại Thừa cũng nói: “Phật bảo Bồ-tát Tịch Huệ: Như Lai chẳng phải nơi môi, răng, lưỡi, cổ họng và nơi cửa mặt mà phát ra các âm thanh. Nên biết âm thanh của Như Lai từ hư không mà ra, đầy đủ sáu mươi bốn tướng thù diệu: 1/ Trôi chảy, 2/ Nhu nhuyến, 3/ Vui lòng, 4/ Đáng mến, 5/ Thanh tịnh, 6/ Lìa cấu, 7/ Trong sáng, 8/ Ngọt ngào, 9/ Ưa nghe. Chúng ta làm sao để có lời nói ngọt ngào, ưa nghe, trong sáng, thanh tịnh, lìa cấu, vui lòng, đáng mến. Chỉ cần được một hai đức tính trong đó cũng đã rất tốt, có lời nói thanh tịnh, trong sáng mới có thể dẫn đạo chúng sanh. Cho nên bây giờ cần phải tu tập, khi tâm trong sáng mới đầy đủ các âm thanh tốt đẹp. 10/ Không kém, 11/ Tròn đủ, 12/ Điều thuận, 13/ Không rít, 14/ Không ác, 15/ Mềm dịu, 16/ Vừa tai, 17/ Thích thân, 18/ Tâm sanh bén mạnh. Bén mạnh tức là bén nhạy mạnh mẽ, âm thanh có đức tính khiến cho tâm người nghe hăng hái phấn khơi, hiểu ý nghĩa nhanh chóng. 19/ Tâm mừng, 20/ Vui thích, 21/ Không nhiệt não, 22/ Như giáo lệnh, 23/ Khéo hiểu biết, 24/ Rành rō, 25/ Khéo mến, 26/ Khiến sanh vui mừng, 27/ Khiến người như lời dạy vâng làm, 28/ Khiến người khéo hiểu biết, 29/ Đúng lý, 30/ Lợi ích, 31/ Lìa lỗi trùng lặp, 32/ Như tiếng sư tử, 33/ Như tiếng rồng, 34/ Như tiếng sấm sét, 35/ Như Long vương, 36/ Như tiếng ca hay của khẩn-na-la, 37/ Như tiếng chim ca-lăng-tần-già, 38/ Như Phạm vương, 39/ Như tiếng chim cộng mạng, 40/ Như tiếng hay đẹp của Đế-thích, 41/ Như đánh trống, 42/ Chẳng cao, 43/ Chẳng thấp, 44/ Tùy vào, 45/ Không khuyết giảm, 46/ Không phá hoại, 47/ Không ô nhiễm, 48/ Không mong cầu, 49/ Đầy đủ, 50/ Trang nghiêm, 51/ Hiển bày, 52/ Viên mãn tất cả âm, 53/ Các căn thích vui, 54/ Không chê bai, 55/ Không khinh chuyển, 56/ Không dao động, 57/ Tùy vào tất cả chúng hội, 58/ Các tướng đầy đủ, 59/ Khiến chúng sanh tâm ý vui mừng, 60/ Nói tâm hạnh chúng sanh, 61/ Vào tâm ý chúng sanh, 62/ Tùy chúng sanh tin hiểu, 63/ Người nghe không phần lượng, 64/ Chúng sanh không thể suy nghĩ xứng lượng.” Hiệp với chỗ này để tham quán thì tột âm thanh vi diệu thù đặc. Cho nên ba đời Như Lai ngữ đồng. Ca-lăng-tần-già là tên chim, tiếng nó hơn tiếng các thứ chim, dùng nó để làm thí dụ. Thế nào là thân dẳng? Nghĩa là ta cùng pháp thân và sắc thân tướng tốt của chư Phật không sai biệt. Trừ vì điều phục chúng sanh sai biệt ở các thú kia nên thị hiện các thứ sắc thân sai biệt, ấy gọi là thân đẳng. Pháp thân và báo thân của chư Phật không sai khác nên gọi là thân đẳng. Trừ trường hợp thị hiện để giáo hóa chúng sanh sai biệt trong các đường nên có thân sai biệt. Thế nào là pháp đẳng? Nghĩa là ta cùng chư Phật kia được pháp ba mươi bảy phần Bồ-đề, trí lược nói Phật pháp không có chướng ngại, ấy gọi là tứ đẳng. Thế nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác ở trong đại chúng xướng lời như thế. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Ca-diếp, Câu-lưu-tôn Câu-na-hàm là ta Do bốn thứ bình đẳng Ta vì Phật tử nói. Đây là lặp lại để trả lời nghi vấn của ngài Đại Huệ. Vì bốn thứ bình đẳng là tự đồng, ngữ đồng, thân đồng, pháp đồng nên Phật nói ngài cũng là Phật Ca-diếp, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm quá khứ. Pháp thân Như Lai có hai thứ: 1/ Lý pháp, nghĩa là tánh tinh thể sáng xưa nay lia niệm đồng với hư không giới, không đâu chăng khắp, chúng sanh cùng Phật đều đồng. Lý pháp là lý pháp thân, chính là tâm thể sẵn có của chúng ta. Tâm thể ấy thanh tịnh, xưa nay không dấy niệm, chúng sanh cùng Phật đồng nhau. Lý pháp cũng là bản giác. 2/ Trí pháp, nghĩa là trí thủy giác cứu cánh, khế hợp với lý bản giác thanh tịnh, lý trí dung nhau, sắc và tâm không hai. Do trí hiện ra nên gọi là trí pháp. Tất cả chúng sanh đều có bản giác và thủy giác. Bản giác là tự thể sẵn có, thủy giác là trí thanh tịnh huân tu, trí này đồng thể với bản giác. Trên đường tu chúng ta dùng trí thủy giác chiếu phá vô minh, vì vô minh phiền não nhiều mặt nên trí thủy giác phải có nhiều phương tiện gạn lọc sai biệt. Khi hết vô minh, thủy giác trở về với bản giác tịch tĩnh, dung hợp tất cả sắc tâm. Chúng ta phát tâm xuất gia là do bản giác của mỗi người phát khởi, chính sự phát khởi đó xui khiến chúng ta tìm cầu giác ngộ giải thoát. Trong khi tu tập, chúng ta nhận ra đây là vọng tưởng cần phải dứt trừ, trí biết vọng tưởng là trí thủy giác, do học kinh nghe giảng mà có. Trí thủy giác này tuy mới nhận được, nhưng do công năng của nó, chúng ta dẹp trừ được phiền não. Khi hết vọng tưởng phiền não, tâm thanh tịnh viên mãn, đó là lúc thủy giác hợp với bản giác, vì không còn sử dụng thủy giác để dẹp phiền não nên bản giác rỗng rang thể hiện. Vì thế nói bản giác thủy giác hợp một là Phật. Sắc thân tức là báo thân, cũng có hai thứ: 1/ Tự thọ dụng thân cũng gọi là viên mãn báo thân. Nghĩa là tự mình tu nhân mà cảm được, xứng tánh thọ dụng các thứ pháp lạc, tự tại không ngại. Thân và cõi chẳng lìa nhau nên cũng gọi là tự thọ dụng độ, cũng gọi là Thật báo trang nghiêm độ. Chư Phật trải qua vô số kiếp tu tập vô lượng thiện căn mà cảm nên, khắp giáp cả pháp giới là tự thọ dụng. Các vị đại Bồ-tát chỉ được nghe tên mà không thể thấy được. 2/ Tha thọ dụng thân, nghĩa là do căn cơ kẻ khác cảm nên mà thấy. Chư Phật vì khiến chúng Bồ-tát thọ đại pháp lạc, tiến tu thắng hạnh nên tùy nghi mà hiện, cõi cũng như thế, khiến họ thọ dụng. Báo thân chia ra hai: 1/ Tự thọ dụng thân cũng gọi viên mãn báo thân. Do công hạnh tu viên mãn nên gọi viên mãn báo thân. Do nhân tu của chính mình đã tạo các điều lành điều tốt cho chúng sanh, tự cảm được các pháp lạc. Báo thân trang nghiêm ở cõi chân thật gọi là Thật báo trang nghiêm độ. Cõi này thân này chỉ có chư Phật thọ dụng, các đại Bồ-tát chỉ nghe tên mà không thể thấy, nên gọi là tự thọ dụng thân. 2/ Tha thọ dụng thân, là thân thị hiện do sự cảm ứng của tâm chúng sanh. Đặc biệt vì hóa độ các Bồ-tát nên Phật hiện thân và cõi để các Bồ-tát thọ dụng. Các thứ sai biệt sắc thân tức là hóa thân, cũng có ba thứ: 1/ Đại hóa nghĩa là Lô-xá-na ngàn trượng gia bị cho phù hợp với Đại thừa Bồ-tát. Hoặc hiện tám mươi bốn ngàn tướng tốt, hoặc hiện vi trần số tướng tốt, đầy khắp hư không. 2/ Tiểu hóa, nghĩa là thân vàng trượng sáu, ba mươi hai tướng tốt, phù hợp căn cơ Tiểu thừa, người, trời v.v... 3/ Tùy loại hóa, nghĩa là như Chuyển luân thánh vương Đảnh Sanh, Thích đề hoàn Thiên Đế, Thiện Nhãn, voi lớn, anh võ, vượn nai v.v... tùy loại mà vào. Sắc thân thù thắng do công phu tu cảm nên, chỉ riêng Phật và chư Bồ-tát thọ nhận gọi là báo thân. Sắc thân sai biệt gọi là hóa thân ứng hiện khắp mọi căn cơ đều được thọ nhận, có ba: 1/ Thân đại hóa Lô-xá-na trùm khắp để các Bồ-tát chiêm ngưỡng mà phát tâm. 2/ Thân tiểu hóa, như thân Phật Thích-ca ở Ấn Độ, phù hợp với căn cơ Nhị thừa và người, trời. 3/ Thân tùy loại hóa, tức là tùy theo từng loài mà hóa hiện hoặc thân trời, thân voi, thân chim... Báo hóa thân này đều nhiếp thuộc sắc thân, từ trí pháp mà được. Nếu mê lý pháp tức là vọng giác, theo nhân duyên vọng giác mà có mười hai loại thân trong tam giới. Ngộ lý pháp thì chuyển vọng giác làm thủy giác. Do thủy hợp bản thành căn bản trí. Do sức căn bản vô tác trí cảm phát bi nguyện, tất cả báo thân, hóa thân lần lượt thành tựu. Báo thân hay hóa thân đều thuộc sắc thân, vì là thân có sắc tướng, từ trí pháp mà được, trí pháp tức thủy giác hay là sai biệt trí, do trí này chiếu phá phiền não được nhiều công năng thù thắng nên thân hiện trang nghiêm, khắp độ chúng sanh. Nếu mê lý pháp, lý pháp tức bản giác thanh tịnh, mê mờ lý pháp này khởi lên vọng giác phân biệt, tạo thành mười hai loại thân trong tam giới. Ngộ lý pháp thì chuyển vọng giác làm thủy giác. Ngộ tức là nhận biết mình có pháp thân, ngộ thuộc về thủy giác, lúc ngộ thì không có vọng giác nên nói chuyển vọng giác thành thủy giác. Thủy giác hợp bản giác là Sai biệt trí thành Căn bản trí. Căn bản trí là trí lặng lẽ thanh tịnh, tự nhiên thành tựu báo thân, hóa thân. Đây là ba đời chư Phật không có hai, không có khác. Ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần là Tứ niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp), Tứ chánh cần (đã sanh ác khiến hằng dứt, chưa sanh ác khiến chẳng sanh, chưa sanh thiện khiến sanh, đã sanh thiện khiến tăng trưởng), Tứ như ý túc (dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, niệm như ý túc, tư duy như ý túc), Ngũ căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn), Ngũ lực (tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực), Thất giác chi (trạch giác, tinh tấn giác, hỷ giác, trừ giác, xả giác, định giác, niệm giác), Bát chánh đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Cộng lại thành ba mươi bảy phẩm. Đây là ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề của Đại thừa, nhiếp vô lượng a-tăng-kỳ pháp trợ Bồ-đề, nó là liễu nhân không phải tác nhân. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là liễu nhân, không phải tác nhân. Tại sao? Thí dụ chúng ta quán Tứ niệm xứ. Khi quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ... được thành tựu thì đạt đạo. Do quán mà đạt đạo thì Tứ niệm xứ là tác nhân, tại sao ở đây nói là liễu nhân? Chỗ này phải hiểu rõ. Chúng ta quán thân bất tịnh để phá chấp thân, quán thọ là khổ để phá trừ lòng tham đắm sáu trần, quán tâm vô thường để phá lầm chấp tâm là ngã, quán pháp vô ngã là phân tích các pháp không có chủ tể, không thật có để phá chấp pháp. Quán Tứ niệm xứ để phá trừ chấp ngã chấp pháp, phá trừ các chấp đó thì lý nhân vô ngã hiện tiền. Nhân pháp vô ngã là đạo lý sẵn có, chỉ vì mê lầm không nhận ra. Chúng ta tu để thấy rõ lý này, không phải chúng ta tạo ra hay làm gì thêm, nên Tứ niệm xứ không phải là tác nhân. Phá chấp như dẹp sạch bụi bặm để đạo lý hiển lộ. Khi dụng công tu là dùng đèn trí tuệ rọi sáng để thấy rõ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, gọi đó là liễu nhân. Điều này phải thật sự tu chứng mới thấy được giá trị. Đến đó rồi thấy ba mươi phẩm trợ đạo không xa lạ với mình, nếu không chúng ta tưởng lầm là pháp bên ngoài. Do ý này nên đoạn sau nói Đâu phải trọn chỗ suy nghĩ tính toán mà hay lường được. Kinh Đại Bát-niết-bàn nói: “Đại Niết-bàn không phải từ tác nhân mà có, chỉ từ liễu nhân.” Liễu nhân là nói ba mươi bảy pháp trợ đạo. Ba đời chư Phật dùng liễu nhân này thành tựu đệ nhất nghĩa tự giác thánh thú, tự độ và giáo tha, bình đẳng không sai biệt. Hiệp bốn thứ bình đẳng này cho nên Như Lai ở trong đại chúng xướng lời rằng “Ca-diếp, Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm là ta”. Ý chỉ bí mật ngõ hầu nhờ đây thầm hội. Bỏ qua chỗ này về sau không thể nói bày, chỉ chứng tương ưng. Đâu phải trọn chỗ suy nghĩ tính toán mà hay lường được. 3. CHỈ PHẬT GIÁC TỰ CHỨNG, KHÔNG THỂ NÓI BÀY Đại Huệ lại bạch Phật: Như Thế Tôn đã nói “Ta từ đêm ấy được Chánh giác tối thượng, cho đến đêm ấy vào Niết-bàn, ở trong khoảng giữa kia cho đến không nói một chữ, cũng chẳng đã nói sẽ nói, chẳng nói ấy là Phật nói.” Thế Tôn! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác nhân đâu nói rằng “chẳng nói ấy là Phật nói”? Bồ-tát Đại Huệ đặt câu hỏi, vì sao Phật tuyên bố từ khi thành đạo đến nhập Niết-bàn ngài không nói một chữ, cũng không có đã nói sẽ nói? Chẳng nói ấy là Phật nói, như vậy lặng thinh là Phật? Đây là ý nghĩa chỗ Phật giác tự chứng không thể dùng lời nói hiển bày, nên Bồ-tát nêu nghi vấn để Phật chỉ dạy. Phật bảo Đại Huệ: Ta nhân hai pháp nên nói như thế. Thế nào là hai pháp? Nghĩa là duyên pháp tự đắc và pháp bản trụ, ấy gọi là hai pháp. Nhân hai pháp này nên ta nói như thế. Phật trả lời Bồ-tát Đại Huệ, nhân nơi hai pháp là duyên pháp tự đắc và pháp bản trụ. Pháp tự đắc là pháp tự thân chứng đắc, chỗ đó không phải ngôn thuyết đến được. Pháp bản trụ là pháp sẵn có, không do tạo tác không do nói năng. Hai pháp như thế không phải cảnh giới ngôn thuyết nên Phật bảo không nói một chữ. Như Lai từ khi thành Phật cho đến nhập Niết-bàn, ở trong khoảng giữa đó không nói một chữ, là chỉ cho người lìa năng thuyết và sở thuyết được đệ nhất nghĩa tự giác thánh thú. Trước nói tứ đẳng, ở đây nói bất thuyết. Tứ đẳng vẫn là lời nói xứng tánh chẳng phải cảnh giới tự chứng. Đến chỗ tự chứng mới biết lời nói không thể hiển bày nên nói “chẳng nói”. Duyên tự được tức chỉ cho trí pháp. Bản trụ là lý pháp. Về lý pháp thì có Phật hay không Phật, pháp tánh cũng như vậy. Trí pháp thì ngàn Phật muôn Phật cũng đồng một trí chứng, đều không phải cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng giác. Kinh Lăng-già luôn nhắc đi nhắc lại đệ nhất nghĩa tự giác thánh thú, chỗ tự giác của bậc thánh lìa năng thuyết sở thuyết, ý muốn chúng sanh lìa chấp ngôn thuyết, dù đó là ngôn thuyết của Phật. Chúng ta không thể cứ nương vào kinh điển cho là xong việc, phải tự mình tu chứng mới hiểu được chỗ lời nói không thể hiển bày được. Thế nào là pháp duyên tự đắc? Nếu chỗ được của Như Lai kia thì ta cũng được như thế, không thêm không bớt. Cảnh giới duyên tự đắc pháp cứu cánh lìa ngôn thuyết vọng tưởng, lìa văn tự hai đường. Pháp duyên tự đắc là trí pháp, tức là trí giác ngộ của chư Phật, vọng tưởng chúng sanh không thể hiểu. Pháp bản trụ là lý pháp, tức là lý bản nguyên của muôn sự muôn vật vốn sẵn có như vậy, dù có Phật hay không Phật cũng không thay đổi. Pháp duyên tự đắc đó, chư Phật đều chứng đồng nhau, không thêm không bớt. Cảnh giới cứu cánh của chư Phật đồng chứng, không thể dùng ngôn thuyết vọng tưởng diễn tả được. Không thêm không bớt cảnh giới cứu cánh là chứng căn bản trí này như tánh kia vậy, không thể thêm bớt. Chỗ sở hành cứu cánh thánh lạc lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng phân biệt, lìa năng thuyên và sở thuyên, tất cả tướng cảnh giới. Văn tự hai đường là hay nói và bị nói. Chỗ chư Phật chứng ngộ thoát ra ngoài đối đãi, ngôn ngữ chỉ diễn đạt những gì trong vòng đối đãi nên không thể diễn tả chỗ này. Thế nào là pháp bản trụ? Nghĩa là đạo bậc thánh trước như tánh vàng bạc v.v... pháp giới thường trụ. Hoặc Như Lai ra đời, hoặc chẳng ra đời pháp giới thường trụ, như đường đến thành kia. Thí như có người đi trong đồng vắng thấy con đường bằng phẳng đi đến cổ thành, liền theo đó vào thành được cái vui như ý. Đại Huệ! Ý ông nghĩ sao? Người kia làm ra con đường ấy và làm ra các thứ vui trong thành chăng? Đáp: Chẳng phải vậy. Phật bảo Đại Huệ: Ta và tất cả chư Phật thời quá khứ pháp giới thường trụ cũng lại như thế. Pháp bản trụ là gì? Bản là gốc, là có sẵn, trụ là còn mãi, pháp bản trụ là pháp sẵn có từ thuở nào, xưa nay như vậy không thay đổi, đó là tánh pháp giới thường trụ. Chư Phật chứng ngộ được tánh này là thấy các pháp đã sẵn như vậy, các ngài không thêm bớt gì trên pháp tánh. Thí dụ trước khi đức Phật Thích-ca thành đạo thì thế gian vẫn vô thường như vậy, thân năm ấm vẫn duyên hợp vô ngã như vậy. Khi Phật thành đạo, ngài nói vô thường, vô ngã, khổ, không... là nói về tánh các pháp sẵn có. Chúng sanh vì mê muội nên không nhận ra, chư Phật giác ngộ lý pháp sẵn có nên tùy phương tiện chỉ dạy những gì có sẵn, chúng sanh theo lời dạy tỉnh ngộ, cũng là nhận lại cái đã có sẵn. Đó là pháp bản trụ. Như đường đến thành kia, là thí dụ cho pháp bản trụ. Như người đi trong đồng hoang gặp con đường bằng phẳng dẫn đến một thành phố cổ, họ đi theo con đường đến thành phố rồi được thú vui như ý. Con đường và cổ thành là cái có sẵn, người đi đường chỉ đi theo thôi. Chư Phật cũng như vậy, lý bản nhiên từ ngàn xưa không đổi thay mà không ai nhận ra, chư Phật nhận ra lý đó gọi là giác ngộ. Như vậy thành Phật không phải là việc gì mới lạ, chính là thấy được cái sẵn có mà lâu nay mọi người không thấy không biết. Vua Hiếu Tông hỏi thiền sư Phật Chiếu: “Phật Thích-ca vào núi sáu năm thành đạo là thành được việc gì?” Sư đáp: “Thành chỗ bệ hạ quên mất.” Đó là ý nghĩa của pháp bản trụ. Thế nên nói rằng: “Ta từ đêm ấy được Chánh giác tối thượng, cho đến đêm ấy vào Niết-bàn, ở trong khoảng giữa kia không nói một chữ, cũng chẳng đã nói, sẽ nói.” Hai lý do mà Phật nói từ khi thành Phật cho đến lúc nhập Niết-bàn chưa từng nói một chữ. Thứ nhất là chỗ chứng của Phật ngôn ngữ không đến được, thứ hai là pháp của Phật chứng sẵn có như vậy không có gì lạ nên ngài không nói. Đây là căn cứ trên lý chân thật, không phải căn cứ trên phương tiện giáo hóa. Có người đặt câu hỏi Phật có trước hay pháp có trước? Đứng về pháp bản trụ thì pháp có trước, Phật ngộ lý đó mới thành Phật. Đứng về tam tạng giáo điển thì Phật có trước, ngài thành Phật rồi nói pháp giáo hóa chúng sanh. Hiểu rõ như thế, nắm vững chỗ này chúng ta không bị vướng kẹt khi có ai đặt câu hỏi. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Ta đêm ấy thành đạo Đến đêm ấy Niết-bàn Ở trong khoảng giữa này Ta trọn không có nói Duyên tự đắc pháp, trụ Nên ta nói thế ấy Phật kia cùng với ta Thảy không có sai biệt. Lý pháp bản trụ đồng với pháp giới. Như vàng bạc v.v... tuy còn ở trong mỏ mà tánh vàng chẳng đổi. Như đường về cổ thành và các thứ vui, chẳng phải do ngày nay tạo. Cho nên biết tự tánh bản giác thánh phàm đồng đủ. Y bất giác mà thành tam giới, y trí pháp thì tròn đủ ba thân, chẳng phải có chẳng phải không, như huyễn như sóng nắng, chỉ người chứng mới tương ưng. Ba đời chư Phật đồng cái bí mật này, trọn không có chỗ nói. Tánh bản giác ai cũng sẵn có, đó là pháp duyên tự đắc. Chúng ta sống theo bất giác thì luân hồi trong tam giới, nếu y theo trí pháp tức là pháp bản trụ, thì đầy đủ ba thân chẳng phải có chẳng phải không. Vì nó không đồng các tướng vô thường sanh diệt cho nên chẳng phải có, nó là trí hằng giác bất sanh bất diệt nên chẳng phải không. Chỗ này chỉ người chứng đến đó mới tương ứng. Học chỗ này chúng ta mới hiểu trong nhà thiền khi có người hỏi đến chỗ cứu cánh, các thiền sư hoặc ngồi im, hoặc nói mà như không nói, không để cho người hiểu. Tăng hỏi ngài Vân Môn: “Phật là gì?” Ngài đáp: “Que cứt khô”. Tăng hỏi ngài Triệu Châu: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Ngài đáp: “Cây bách trước sân”. Đó là chỗ bí mật của ba đời chư Phật, trọn không có chỗ nói. 4. CHỈ CẢNH GIỚI PHẬT GIÁC XA LÌA HAI BÊN (Phân làm bốn phần) a. Chỉ thế gian chấp có không Bồ-tát Đại Huệ lại thỉnh Phật: Cúi xin vì nói tất cả pháp tướng có và không có, khiến con và các vị đại Bồ-tát, lìa tướng có và không có, chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Thế gian này y có hai thứ, nghĩa là y có và y không, rơi vào tánh (có) và phi tánh (không), muốn thấy chẳng lìa, lìa tướng. Thế gian nương tựa vào hai thứ có và không, theo đó mà khởi chấp. Muốn thấy chẳng lìa, tức là tâm duyên theo các tướng có và không, chẳng thể lìa. Cần phải lìa tướng chấp có chấp không mới hợp đạo lý. Đầu tiên Phật nói bệnh chúng sanh, chưa nói cách trị bệnh. Hai thứ chấp có không này đều chỉ chánh pháp rơi vào kiến chấp của ngoại đạo. Song nghiêng nặng bên chấp không, nghĩa là nương ghé bên thánh giáo để phá hoại chánh pháp, đâu có gì hơn chấp này. Phá hoại chánh pháp không gì hơn chấp không. Thí dụ nghe Phật nói các pháp không có thực thể, không có tự tánh bèn cho rằng tất cả thiện ác, tội phước... đều là không. Chấp như vậy là phá hoại chánh pháp. Nói các pháp không có tự tánh là khi đã giác ngộ viên mãn, còn ở trong mê thì nó vẫn hiện tiền. Có một số người học lóm năm ba câu của Phật tổ, như nghe Chứng Đạo Ca nói rằng: Không tội phước, không tổn ích, bèn hùa theo nói không có tội, không có phước. Khi nói như vậy là tha hồ tạo tội, bởi vì nó thuận với cái si mê của mình. Đâu biết rằng các ngài nói không tội không phước là căn cứ trên thực thể, trên lý tánh thì không có tội thật phước thật. Như bây giờ nói, tội là từ tâm niệm ác, do nghĩ ác nên nói ác làm ác; phước cũng từ tâm vọng tưởng nghĩ thiện làm thiện. Tâm vọng tưởng là chỗ phát ra tội phước, tìm lại nó không thấy. Nói tội phước không thật là để thấy tận gốc vọng tưởng hư dối. Nếu chúng ta còn chấp vọng tưởng, cho nó là thật có thì tội có thật, phước cũng có thật. Chúng ta tu phải biết trình độ của mình. Người đi sâu vào tâm tánh, biết vọng tưởng hư dối, vọng tưởng tạo thành nghiệp, thì nghiệp thiện ác cũng hư dối. Đó là chỗ hiểu của mình không chấp. Nhưng với chúng sanh còn vướng kẹt hai bên thì không thể nói thiện ác hư dối, phải dạy họ tu thiện tránh ác. Chúng sanh sợ tội, biết tu phước là điều tốt. Vì thế, nếu hiểu thấu đáo rất có lợi, hiểu không tới nơi mà chấp cái gì cũng không thì họa rất lớn. Phải biết đúng lúc khi nào nói tội phước không thật, khi nào nói có tội phước. Phật lần lượt phát minh để soi sáng cho đời sau, khiến người tu hành biết pháp để chọn lựa. Y có, là nhân pháp sắc, tâm v.v... hiện có trước mắt, chấp các pháp có tự tánh (có thật), khởi tưởng xa lìa. Y không, là nhân pháp sắc, tâm v.v... vô thường biến diệt, chấp các pháp phi tánh (không có), khởi tưởng vắng lặng. Đây đều chẳng lìa, lìa tưởng. Phật chỉ dạy chỗ thế gian chấp có và chấp không. Chấp có là căn cứ vào các pháp hiện có, thấy thật khổ thật vui khởi tâm chán lìa. Chấp không là thấy các pháp trên thế gian vô thường biến hoại, nhìn vào tâm thiện ác của mình cũng chợt có chợt không, nên cho rằng tất cả đều không, không có gì. Chấp cái không là thật không, nên rốt cuộc không lìa được tướng. Chấp không rất nguy hiểm, vì khiến người không biết tội để tránh, không biết phước để tu. Đó là gốc phá hoại Phật pháp. b. Chỉ ra nhân tướng hai thứ chấp có không Đại Huệ! Thế nào thế gian y có? Nghĩa là thế gian có nhân duyên sanh, chẳng phải chẳng có, từ có mà sanh chẳng phải không có mà sanh. Đại Huệ! Kia nói như thế là nói thế gian không nhân. Thế gian cho rằng các pháp có nhân duyên sanh, từ có mà sanh. Như cái bàn do có gỗ, đinh, thợ mộc… mà thành cái bàn. Như vậy gỗ, đinh, nhân công... là nhân duyên sanh, cái này có nên cái kia có. Nhưng chấp như thế là nói thế gian không nhân. Vì sao? Vì nếu nói cái bàn do gỗ, đinh, thợ mộc... thì gỗ không tự có, thợ mộc cũng không tự có, tìm tận cùng thì không pháp nào tự có, vì không có thật thể. Không thật thể nên không biết cái gì là nhân gốc của cái bàn. Vì vậy Phật nói là vô nhân. Chúng ta phải hiểu rằng, tất cả các pháp đều từ bất giác mê tự tâm mà hiện, bất giác dường như có mà không phải thật. Đại Huệ! Thế nào thế gian y không? Nghĩa là nhận tham, sân, si đã có, về sau vọng tưởng chấp trước tham, sân, si tánh (có), phi tánh (chẳng có). Đại Huệ! Nếu chẳng nhận có tánh ấy, vì tánh tướng vắng lặng. Bảo là chư Như Lai, Thanh văn, Duyên giác chẳng nhận tánh tham, sân, si là có hay là không. Thế gian y không, nghĩa là ban đầu thấy có tham sân si, sau lại cho rằng không có tham sân si. Thí dụ khi chúng ta chưa học Phật pháp, thấy có tham thật, sân thật, si thật, đó là chấp tham sân si đều có. Sau khi học Phật pháp, nghe nói tham sân si không có tự tánh đợi đủ duyên mới có, bèn cho rằng tham sân si là không. Nói thật có cũng có lỗi mà nói thật không cũng có lỗi. Khi mê thì tham sân si thật có, khi ngộ thì thấy tham sân si như huyễn, chẳng phải thật có hay không. Còn mê mà cho rằng tham sân si là không, đó là ngụy biện. Như khi mình nổi sân, người ta phê bình mình tu còn dở, còn sân giận, chúng ta liền phản ứng: “Nói sân đó là thật sao?” Mình đang sân, bị người bắt gặp mà biện bác nói sân không thật, vậy là không thành thật. Cái chấp không này có lỗi lớn. Nếu chẳng nhận có tánh ấy, vì tánh tướng vắng lặng, nghĩa là nếu thật sự hiểu các pháp tánh tướng vắng lặng thì mới không chấp là có tánh. Không chấp thì xem các pháp như mộng huyễn chẳng phải thật sự là có là không. Người chưa đạt thật tướng, gượng nói không rồi che lấp lỗi mình, nói chư Phật Như Lai cũng bảo tham sân si không thật. Đức Phật chỉ rõ lỗi chấp không này có những ngụy biện như thế. Các pháp thế gian từ nhân duyên sanh, bèn có chỗ giải lìa uẩn, riêng có kẻ hiểu bỏ vọng cầu chân. Các pháp do duyên sanh, có người hiểu rằng thân năm uẩn này do duyên sanh là hư giả, phải lìa thân năm uẩn để tìm chân thật, như vậy là hiểu bỏ vọng cầu chân. Đây do chẳng biết tự tâm hiện ra, vọng thấy nhân duyên liền cho là vô nhân. Đây chấp có ấy, nhân lời Thánh nói vọng chấp thật pháp. Trọn không bằng cái hại lớn là chấp không. Nghe Phật dạy đây là thiện các ông phải làm, đây là ác các ông phải tránh, cho thiện là thật, ác là thật. Đó cũng là chấp có, nhưng ít tai hại. Chấp không tai hại rất lớn, vì cho các pháp là không ngơ khiến người mất lòng tin, không chịu làm thiện cũng không sợ ác. Như Lai nói tham sân si không tánh (có) ấy, do tâm tham, sân, si đều nhân nơi bất giác, ban đầu không có tánh nhất định. Chính vì chỉ bày cho người liền đó rỗng rang mê vọng chóng dứt, là lý do chẳng nhận có không. Phật nói tham sân si không tánh để chúng ta buông hết, không cố chấp, không vướng mắc, không phải nói không ngơ để chúng ta rơi vào hai bên có không. Ngoại đạo kia nhận tánh tham sân si trong hiện tại có, về sau vọng tưởng chấp trước tánh tham sân si vốn chẳng phải có tánh. Xét vọng chấp kia cho là không có tánh luống thấy tánh tướng vắng lặng, bèn gá vào thánh giáo, bảo là chư Như Lai, Thanh văn, Duyên giác chẳng nhận có không. Không biết rằng tất cả tánh tướng gốc tuy vắng lặng, song tâm nhận có hiện tại lưu chuyển. Đây là vọng tưởng chấp, chẳng phải tự giác trí. Ngoại đạo trước nhận tham sân si thật có, sau vọng tưởng cho rằng tham sân si không có, họ nương gá vào thánh giáo, nói rằng chư Phật, Thanh văn Duyên giác không chấp các pháp có hoặc không. Đó là ngoại đạo còn đang vướng mắc trong tham sân si, chưa thấu tột cội gốc các pháp, chưa thoát khỏi có và không, nên nói có hiện tại lưu chuyển. Tự giác trí là giác cảnh giới hiện ra, do mê tự tâm vọng có hiện ra, vọng hiện chẳng phải có, nhân mê mà có. Giác mê thì mê diệt, giác chẳng sanh mê. Tâm cảnh trong ngoài một lúc thanh tịnh. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Tự tâm thủ tự tâm, chẳng phải huyễn thành pháp huyễn, chẳng thủ không phi huyễn, phi huyễn còn chẳn sanh, pháp huyễn từ dâu lập.” Tự tâm thủ tự tâm, ngoại cảnh do tâm mê hiện ra, rồi đem tâm chấp cảnh do mình tạo. Như thí dụ trước đây, họa sĩ vẽ hình ảnh đẹp hay xấu cũng do tự tâm chính mình, vẽ rồi sanh tâm chấp trước vào hình ảnh đó. Đây là chỗ mê lầm muôn đời của chúng ta. Chẳng phải huyễn thành pháp huyễn, tự tâm ban đầu không phải huyễn, do mê khởi ra rồi chúng ta chấp vào cái mê hiện đó nên trở thành pháp huyễn. Chẳng thủ không phi huyễn, nếu không chấp cảnh do tự tâm hiện thì không có phi huyễn. Phi huyễn còn chẳng sanh, pháp huyễn từ đâu lập, cái chẳng phải huyễn đã không sanh thì pháp huyễn không do đâu thành lập. Tôi thí dụ như trong giấc mộng chúng ta thấy người thấy cảnh cho đó là thật. Vì còn mê thấy thật có nên cười khóc vui buồn theo cảnh mộng. Cảnh đó không có thật khi chúng ta tỉnh, nhưng nếu chúng ta cứ chấp vào cảnh mộng đó thì cái không thành cái có, cái huyễn thành cái thật. Chúng ta phải thật sự tỉnh thức, cảnh mộng là không thật, cảnh hiện tại đang sống đây cũng chỉ là giấc mộng. Khi giác tỉnh biết cảnh thật sự đây cũng như mộng, thì cảnh mộng kia có đẹp đến đâu mình cũng không nhớ nghĩ. Thân sống mấy chục năm đây mà còn như mộng, huống chi mấy giấc mộng con con. Đó là Phi huyễn còn chẳng sanh, pháp huyễn từ đâu lập. Đây là hiển bày chỉ thú bí mật, ba đời Như Lai đồng một tâm yếu. Ngàn đời ghi chép nêu cao, chính khiến người tự phụ tâm tông (Thiền tông) vọng bàn vô ngại, sao không nhận lấy chỗ này nghiền ngẫm kỹ lưỡng sẽ sanh rất hổ thẹn. Chỗ chấp không này ngài Hàm Thị nhắc nhở cẩn thận. Nhất là những người tu thiền, không phải nghe chư tổ nói các pháp không thật rồi tự phụ cho rằng mình đã ngộ, thõng tay vào chợ, mặc tình càn quấy. Trong khi tu nếu có tỉnh sáng thì đó cũng chỉ là một cơn chớp lóe tạm để chúng ta có niềm tin mà tiếp tục tu. Cần phải dụng công nhiều hơn, tỉnh thức nhiều hơn, không phải một phen tỉnh là xong việc. Tôi luôn luôn dè dặt với những người gọi là có chút biết đạo, thấy đạo. Khi các vị nói mình đã ngộ, tôi vẫn nói là chưa tỉnh thật sự, phải rèn luyện nhiều năm tháng. Trải qua thử thách của tám gió, nếu thấy tâm mình không động mới gọi là đến mé chân thật. Nếu dựa vào thiền ngữ, bắt chước thiền sư nói trên trời trên mây, nghe như bậc Thánh mà gặp việc tâm không tỉnh, vẫn bị cảnh trần chi phối, chỗ này gọi là người tự phụ tâm tông vọng bàn vô ngại. Đây là họa lớn, chúng ta phải nghiền ngẫm kỹ để tự chỉnh sửa. c. Bài xích chấp không hay phá hoại chánh pháp Đại Huệ! Trong đây những gì là hoại? Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu kia nhận tham sân si tánh rồi sau lại không nhận. Phật bảo Đại Huệ: Ông hiểu như thế, lành thay, lành thay! Đại Huệ! Chẳng những tham sân si tánh, phi tánh là hoại, mà đối với Thanh văn, Duyên giác và Phật cũng là hoại. Vì cớ sao? Vì trong ngoài không thể được, vì phiền não tánh khác và chẳng khác. Phật chính thức chỉ lỗi phá hoại chánh pháp, tức là những người chấp không, trước có tham sân si rồi sau lại phủ nhận. Tham sân si là gốc tội mà nói nó không thì tất cả tội lỗi cũng không. Họ chấp rằng không có tham sân si, cho đến chư Phật, Thanh văn Duyên giác cũng không. Đây là nhận thức sai lầm nguy hiểm, xóa bỏ tất cả tội phước thánh phàm. Đại Huệ! Tham sân si hoặc trong hoặc ngoài không thể được, tham sân si tánh vì không thân, vì không thủ. Chẳng phải Phật, Thanh văn, Duyên giác là hoại, Phật, Thanh văn, Duyên giác vì tự tánh giải thoát, vì phược cùng nhân phược phi tánh. Đại Huệ! Nếu có người phược thì nên có phược là nhân phược. Đại Huệ! Như thế nói hoại ấy gọi là không có tướng. Sở dĩ các bậc thánh nói tham sân si không thật vì xét thấy chúng không có bản chất thật, các ngài không chấp chặt, nên nói không thân, vì không thủ. Chư Phật và Thanh văn, Duyên giác biết tham sân si không thật, tự tánh nó là giải thoát không có tính chất trói buộc hay bị trói buộc. Các ngài thấy rõ chỗ này, dạy chúng sanh tu chuyển tham sân si, không hoại chánh pháp. Lại bày rõ về chấp không. Tự gá vào chánh pháp, nghĩa là Như Lai cũng nói tham sân si tánh là không thể được, khiến chúng sanh vô trí nghi chê chánh pháp cho đó là hoại. Đâu biết tham sân si trong ngoài không thể được, bởi tham sân si vốn không tự tánh, nhân mê vọng hiện. Cho nên nói “không thân”. Giác mê thì mê diệt, giác chẳng sanh mê, ấy là không thủ. Chẳng phải Như Lai, Thanh văn, Duyên giác đồng với thuyết hoại kia. Người chấp không mà dựa vào chánh pháp để biện luận rất nguy hiểm. Dựa vào lời Phật nói tham sân si vô tánh rồi cho rằng tất cả đều không, khiến người vô trí chê chánh pháp, cho là Phật pháp nói không có tham sân si, như vậy Phật pháp phá hoại pháp lành của thế gian. Họ không biết Phật nói tham sân si không thể được vì nó không có tự tánh thật, chỉ do mê hiện, không giống như ngoại đạo nói không là không ngơ. Như Lai thấy rõ tự tánh nên vọng tưởng chẳng sanh, đã không tâm năng phược cũng không cảnh sở phược, năng sở đều đẹp mới là giải thoát. Nếu có cảnh sở phược ắt có tâm năng phược, nên nói “nhân phược”. Nhân phược chưa đoạn mà vọng chấp là không. Nói là hoại, tức đây chấp không có tướng vậy. Chư Phật thấy rõ tự tánh các pháp nên vọng tưởng không sanh, không vọng tưởng thì không có tâm trói buộc và cảnh bị trói buộc, tự nhiên giải thoát. Chúng sanh mê chấp cảnh thật có, cho rằng tại cảnh làm mình phiền não. Như người mới tu ở trong chúng, thấy chúng có người dễ thương có người dễ ghét, bèn cho rằng ở chúng khó tu. Như vậy là tự mình trói buộc vào cảnh. Thấy người thấy cảnh sanh phiền não là phược, là cột trói. Thật ra không có người nào cảnh nào trói chúng ta, chỉ tại tâm năng phược chưa đoạn mà thôi. Khi còn lầm chấp thì nói có nói không đều có lỗi, nhưng tai hại nhất là chấp không. Đại Huệ! Vì nhân đó nên ta nói thà chấp nhân kiến bằng núi Tu-di, chẳng khởi chấp không thật có, tăng thượng mạn không. Chúng ta thường nghe nói, thà chấp có bằng núi Tu-di hơn chấp không như hạt cải. Vì sao? Vì chấp có thì còn sợ tội phước, chấp không thì phá hoại tất cả, không thiện ác nhân quả, không có thánh phàm, tất cả là không, cho rằng cái không của mình là trên hết, không ai sánh bằng nên gọi là tăng thượng mạn không. Phật cảnh cáo chỗ này vì biết bệnh của chúng sanh. Người chấp không sẽ xem thường tất cả, người phàm họ không nể mà ngay cả với bậc thánh họ cũng không tôn trọng. Thấy tất cả đều không, nhưng thấy mình là trên hết. Bệnh này rất khó trị. Vì vậy khi Phật dạy chúng ta tu quán, như quán bất tịnh, quán vô ngã... là phải quán ngay chính thân mình. Giác ngộ ngay từ thân mình không thật, mới quán sang các pháp, để tránh lỗi thấy pháp huyễn mà mình thì thật. Thiền tông dạy phản quan tự kỷ cũng là áp dụng lời Phật dạy từ các kinh thuộc hệ A-hàm đến hệ Đại thừa. Tất cả đều xoay về chính mình, dẹp bỏ các chấp trước chướng ngại của mình rồi mới nhìn người. Đại Huệ! Không thật có tăng thượng mạn, ấy gọi là hoại, rơi vào kiến chấp tự tướng cộng tướng mong mỏi, chẳng biết tự tâm hiện lượng. Thấy ngoại tánh vô thường sát-na lần lượt hoại, ấm giới nhập tương tục lưu chú biến diệt, lìa tướng văn tự vọng tưởng, ấy gọi là hoại. Người nói không thật có rồi sanh tâm xem thường các pháp thế gian và xuất thế gian, người đó là phá hoại, nên nói không thật có tăng thượng mạn, ấy gọi là hoại. Họ không biết rằng chấp không cũng là rơi vào kiến chấp bên ngoài, không thấy được các pháp tự tâm hiện. Thấy sự vật bên ngoài vô thường biến đổi từng sát-na, cho rằng mọi vật đều hoại đều không. Thấy thật có hoại cũng là còn thấy có pháp. Không ra khỏi kiến chấp mà ngông nghênh xem thường tất cả, đó là lỗi hoại rất lớn. Nhân kiến là chấp có. Thà chấp ấy, nghĩa là người kia mắc kẹt ở trời người; chẳng bằng chấp không mà diệt mất nhân quả, lừa dối chánh pháp, lưu độc vô cùng. Thà chấp ấy, nghĩa là người kia mắc kẹt ở trời người, vì chấp có nên sợ tội thích phước, do đó tạo nhân lành, được sanh trở lại cõi trời hay cõi người. Còn chấp không thì không làm lành mà dữ cũng không sợ, vì không sợ nên tha hồ tạo ác. Đó là phá hoại nhân quả, lừa dối chánh pháp, để cái độc hại cho đời sau không lường được. Rơi vào tự tướng cộng tướng mong mỏi, là tất cả sắc tâm các pháp đã có tự tướng cộng tướng cảnh giới vọng tưởng, hiện rơi trong ấy khởi tưởng ưa thích, chẳng lìa nhân phược. Nên nói: Chẳng đạt tâm lượng luống thấy ngoại pháp vô thường, ấm giới biến diệt cho là không, không thật có, mà không biết kia chuốc ương họa mênh mông. Lìa văn tự tướng vọng tưởng ấy, bởi vì giác tự tâm hiện lượng thì đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, đây là lìa tướng văn tự. Bởi kia tự đạt thẳng nguồn tâm. Kẻ chẳng biết tự tâm hiện lượng mượn miệng nói xa lìa văn tự vẫn trái lời dạy của Thánh, buông lung hoang đường. Đây chính là phá hoại hồ tâm chạy theo vọng tưởng, vừa là hoại mình, hoại người, diệt chủng tộc Phật. Phân biệt giữa cái thấy Không của người đạt tự tâm hiện lượng và người chẳng biết tự tâm hiện lượng. Người đạt thẳng nguồn tâm thì vọng tưởng dứt, tâm hành diệt, đâu có ngôn thuyết gì. Người không đạt tự tâm mà nói không cần văn tự ngôn ngữ, chỉ là trái lời dạy của Phật tổ để buông lung. Đây chính là phá hoại hồ tâm là vừa pháp vừa dụ. Tâm chúng ta như hồ nước trong lặng, nếu bị phá hỏng thì nước chảy hết, cạn khô. Người chấp không chính là phá hoại tâm mình, làm hoại người, mất hạt giống Phật. d. Tổng tụng Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Có không là hai bên Cho đến cảnh giới tâm Trừ sạch cảnh giới kia Tâm bình đẳng tịch diệt. Không thủ cảnh giới tánh Diệt chẳng phải không có Có việc thảy như như Như cảnh giới hiền thánh. Không thủ cảnh giới tánh, tức là không chấp cảnh giới có thật. Diệt chẳng phải không có, khi cảnh giới diệt cũng không phải không ngơ. Có việc thảy như như, dù có tất cả việc trước mắt, tâm mình vẫn không dính mắc, đó là sống đúng với cảnh giới hiền thánh. Không chủng mà có sanh Sanh rồi mà lại diệt Nhân duyên có chẳng có Chẳng trụ giáo pháp ta. Không chủng mà có sanh, sanh rồi mà lại diệt. Không chủng mà sanh là chấp có, sanh rồi diệt là chấp không. Nhân duyên có chẳng có, chẳng trụ giáo pháp ta, ngoại đạo chấp nhân duyên hoặc có hoặc không, đều không phải giáo pháp của Phật. Phi ngoại đạo phi Phật Phi ngã cũng phi khác Nhân duyên chung họp khởi Làm sao mà được không? Tất cả pháp không có thật. Ngoại đạo không thật, Phật không thật, ngã không thật, khác ngã cũng không thật, đều do nhân duyên chung hợp mà thành. Do nhân duyên hợp thì không thể nói không. Gì họp nhân duyên có Mà lại nói rằng không? Tà kiến luận sanh pháp Vọng tưởng chấp có không. Những gì do nhân duyên hợp lại có hình tướng thì không thể nói không. Phật nói không đây là tánh không, tạm có như huyễn, nếu cho tất cả đều không là bệnh. Tà kiến luận sanh pháp, vọng tưởng chấp có không, luận tà kiến sanh ra các pháp rồi vọng tưởng chấp cho thật có, thật không. Nếu biết không chỗ sanh Cũng lại không chỗ diệt Quán đây thảy không tịch Có không hai đều lìa. Các pháp sanh không chỗ sanh, diệt không chỗ diệt, đều như cảnh trong mộng. Người trong mộng, cảnh trong mộng từ đâu sanh? Diệt đi về đâu? Rõ ràng mê thì thấy có mà giác tỉnh thì không còn, không nói từ đâu sanh hay từ đâu diệt. Nếu hiểu được, quán thấy tất cả pháp không tịch thì lìa hai bên có và không. Lìa hai bên có không, giác tự tâm lượng, bình đẳng tịch diệt, không chấp cảnh giới chính là chân như bản hữu, là sở hành của thánh hiền, chẳng phải diệt không còn gì cả. Hai bài kệ trên đây nói tâm bình đẳng xa lìa cảnh giới có không. Một bài kệ dưới nói không chủng mà sanh là chấp có, sanh rồi lại diệt là chấp không. Bởi nhân duyên có không này đồng với ngoại đạo. Nghĩa là chẳng phải giáo pháp của Như Lai. Ba bài kệ dưới rốt nói nhân duyên họp sanh. Nghĩa là y pháp tánh thì không Phật, không chúng sanh, không ngoại đạo, không nhân ngã. Do nhân duyên họp khởi mới có sai biệt. Kinh Pháp Hoa nói: “Lưỡng Túc Tôn vô thượng, biết pháp thường không tánh, Phật chủng từ duyên khởi.” Chư thánh lìa hai bên có không, đó là ý chỉ bình đẳng tịch diệt, thể nhập chân như bản hữu. Không phải diệt là mất hết không còn gì. Ngoại đạo chấp có không là thấy các pháp thật có thật không, chẳng hiểu được nghĩa duyên khởi. Phật biết rõ các pháp không tánh, tuy không thật có nhưng vẫn tùy theo duyên khởi. Phật chủng từ duyên khởi, thành Phật là giác ngộ được pháp thường trụ, vì nhân nơi pháp thường trụ mà giác, thì đó là duyên khởi. Phật pháp vẫn thấy lý duyên khởi, không thể một bề chấp không. Vẫn có tập nhân mà lại nói không tức là rơi vào ngoại đạo tà kiến. Đây là do không biết lưu chú sanh nhân nên vọng chấp có không. Nếu biết tâm vốn không sanh, nhân mê dường như có, ngộ vốn không sanh thì cũng không diệt, xưa nay là không tịch, tánh tướng nhất như chẳng chấp tánh sanh, có không đều là hý luận. E. CHỈ TÔNG THUYẾT HAI ĐỀU THÔNG ĐỂ RÀNH VỀ DỤNG NGỮ NGHĨA THỨC TRÍ, GIẢN BIỆT NGU NGOẠI, GIÚP TIẾN MÌNH NGƯỜI, CHÁNH PHÁP GIẢI THOÁT (Phân làm ba phần) I- CHỈ TÔNG THUYẾT HAI ĐỀU THÔNG XA LÌA VỌNG TƯỞNG CHẤP TRƯỚC 1. CHỈ TÔNG THUYẾT HAI ĐỀU THÔNG Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì con và các Bồ-tát nói tướng tông thông. Nếu khéo phân biệt tướng tông thông, con và các Bồ-tát thông đạt tướng ấy, thông đạt tướng ấy rồi, chóng thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng theo giác tưởng và chúng ma ngoại đạo. Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát có hai thứ tướng thông, nghĩa là tông thông và thuyết thông. Người học đạo phải thông cả hai: tông và thuyết. Nói đơn giản, tông để chỉ cho tâm là thiền, thuyết để chỉ cho giáo là kinh. Sau đây Phật sẽ giải thích rõ thế nào là tông thông, thế nào là thuyết thông. Chủ trương của tôi là thiền giáo song hành, thiền tức là tông, giáo tức là thuyết. Trong Pháp Bảo Đàn, phẩm Vô Tướng, Lục Tổ có nói: Tông thông và thuyết thông, như mặt trời trong không. Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói: Tông cũng thông, thuyết cũng thông. Định tuệ sáng tròn chẳng trệ không. Kinh Lăng-già nói: Nếu thông đạt tướng tông thuyết thông, chóng thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy chủ trương của tôi phù hợp với Phật tổ, y cứ theo kinh luận, không phải tự ý đặt ra. Đến tột tự tánh là tông, viên dung chẳng hai là thông. Tùy cơ hiển bày chẳng kẹt quyền giáo gọi là thuyết thông. Bồ-tát được hai pháp này tự thành và làm thành cho người, không rơi vào cảnh giới ma ngoại giác tưởng, đây là phải học. Tông là đến tột tự tánh, Lục Tổ gọi là kiến tánh. Nhà thiền lấy kiến tánh làm chỗ chân thật, nên thiền tông gọi là tâm tông, kinh Lăng-già gọi là Phật tâm tông. Viên dung chẳng hai là thông, nghĩa là thấy tánh rồi đối với tướng không ngại. Tánh tướng viên dung gọi là tông thông. Thuyết thông là tùy căn cơ trình độ của người mà chỉ dạy, hướng dẫn người đến thẳng chỗ chân thật, gọi là chẳng kẹt quyền giáo. Đại Huệ! Tông thông là duyên tướng tự đắc thắng tiến, xa lìa ngôn thuyết văn tự vọng tưởng, đến vô lậu giới tự giác địa tự tướng, xa lìa tất cả hư vọng giác tưởng, hàng phục tất cả ngoại đạo chúng ma, duyên tự giác thú, hào quang phát sáng, ấy gọi là tướng tông thông. Duyên tướng tự đắc thắng tiến, tự mình nhận được ngộ được tự tánh gọi là tự đắc, từ chỗ nhận đó mà tiến lên gọi là kiến tánh khởi tu. Nhận được tự tánh thì xa lìa ngôn thuyết, văn tự, vọng tưởng. Đến vô lậu giới tự giác địa tự tướng, tức là nhận được tướng tự giác đó là cảnh giới vô lậu của chính mình, khi đó xa lìa tất cả các vọng tưởng hư dối. Hàng phục tất cả ngoại đạo chúng ma, khi nhận ra thể chân thật đó thì tất cả chúng ma ngoại đạo không làm chướng ngại mình, ngược lại mình có thể chinh phục được họ. Nói đơn giản, tông thông là ngộ được bản tâm thanh tịnh sẵn có của chính mình, lúc đó không bị vướng mắc vào văn tự, ngữ ngôn và vọng tưởng, sống với bản tâm thanh tịnh không bị tà ma ngoại đạo lường gạt, dần dần tiến đến đạo quả viên mãn. Duyên tướng tự đắc thắng tiến, tự là tự tánh, tự được tánh kia tối tôn tối thượng, tức là đã chứng căn bản trí. Duyên căn bản trí này xa lìa ngôn thuyết vọng tưởng, cứu cánh vô lậu giác địa, nên nói “Phật tánh là nhân, Niết-bàn là quả”. Tự giác tông thông này là chỗ sở hành thánh lạc, trí tuệ minh đạt hàng phục tất cả, tất cả không thể hàng phục được. Nhận được tự tánh tức là nhận được căn bản trí, hay tri kiến Phật ở trong mỗi chúng sanh, nên gọi Phật tánh là nhân. Sống với Phật tánh, dứt sạch vọng tưởng được vô lậu giác tức được Niết-bàn, nên nói Niết-bàn là quả. Khi nhận ra thể tánh chân thật của chính mình thì không còn sợ ai lung lạc, chính mình có thể chuyển hóa người, đưa trở về với chánh pháp. Tông thông này rất quan trọng với người tu. Phải thấy tánh mới dễ dẹp sạch vọng tưởng, tu tiến mau chóng vô ngại. Vì vậy đặt tông thông là điều kiện đầu tiên thiết yếu. Thế nào là tướng thuyết thông? Nghĩa là nói chín bộ giáo pháp, lìa tướng khác, chẳng khác, có, không... do phương tiện khéo léo tùy thuận chúng sanh, như đáng nói pháp khiến được độ thoát, ấy gọi là tướng thuyết thông. Đại Huệ! Ông và các Bồ-tát khác nên phải tu học. Tướng thuyết thông là thông suốt chín bộ giáo pháp, tức là chín bộ kinh hay mười hai bộ kinh của Phật. Lìa tướng khác, chẳng khác, có, không... là lìa tướng hai bên khác và chẳng khác, có và không... Như đáng nói pháp, như gặp người đáng giảng nói thì giảng nói. Khéo dùng phương tiện, tùy theo trình độ căn cơ chúng sanh mà giảng nói, khiến giải thoát sanh tử, đó gọi là tướng thuyết thông. Đầy đủ tông thông và thuyết thông thì giáo hóa chúng sanh mới đến cứu cánh, nếu chỉ có một bên thì không đủ phương tiện. Chín bộ là: 1/ Tu-đa-la dịch là Khế kinh. 2/ Kỳ-dạ dịch Ứng tụng. 3/ Già-đà dịch Kệ. 4/ Y-đế-mục-đa dịch Bản sự. 5/ Xà-đa-già dịch Bản sanh. 6/ A-phù-đạt-ma dịch Vị tằng hữu. 7/ Ưu-đà-na dịch Tự thuyết. 8/ Tỳ-phật-lược dịch Phương quảng. 9/ Hòa-già-la dịch Thọ ký. Chẳng nói mười hai bộ đó, nghĩa là các kinh Đại thừa nói thẳng đại pháp chẳng nhờ Nhân duyên, chỉ bàn lý viên mãn dứt các Luận nghị, riêng hiển chân thường chẳng đợi Thí dụ, cho nên không có ba bộ, song cũng có đủ ba bộ. Thường chúng ta nghe nói mười hai bộ kinh, ở đây chỉ nói chín bộ vì theo tinh thần Đại thừa nói thẳng đại pháp nên không có các bộ Nhân duyên, Luận nghị và Thí dụ. Chín bộ kinh này đều là phương tiện tùy cơ, hiển bày chỗ vào chẳng lìa tự tánh, chân tục viên dung, độ thoát các kiến, chẳng phải có pháp thật, nên nói là thông. Chín bộ kinh hay mười hai bộ kinh đều là phương tiện, như ngón tay chỉ mặt trăng, như chiếc bè đưa qua sông. Nếu ứng dụng dạy mọi người thoát phiền não được giải thoát mà không thấy có pháp thật, đó mới gọi là thuyết thông. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Tông thông và thuyết thông Duyên tự cùng giáo pháp Khéo thấy khéo phân biệt Chẳng theo các giác tưởng. Người được tông thông và thuyết thông, duyên tự cùng giáo pháp, tức là duyên nơi tự tánh chính mình cùng giáo pháp của Phật. Khéo thấy khéo phân biệt, chẳng theo các giác tưởng, tức là không theo vọng tưởng. Chẳng có tánh chân thật Như kẻ ngu vọng tưởng Thế nào khởi vọng tưởng Phi tánh cho giải thoát? Chẳng có tánh chân thật, các pháp trên thế gian không có tánh thật, kẻ ngu phu vọng tưởng đối với pháp không thật (phi tánh) cho là thật, vì thế không được giải thoát. Quán sát các hữu vi Sanh diệt thảy tiếp nối Tăng trưởng hai chấp này Điên đảo không hiểu biết. Quán sát các pháp hữu vi trong thế gian sanh diệt nối tiếp nhau, nếu tăng trưởng hai chấp có không, đó là chúng sanh điên đảo, không hiểu biết chân thật. Một ấy là chân đế Không tội là Niết-bàn Quán sát vọng tưởng đời Như mộng, huyễn, cây chuối. Một ấy là chân đế, chân đế là chân lý chân thật, là thể tự giác chỉ có một. Chỉ cần trên thể tự giác không khởi vọng tưởng tạo gì thêm, đó là Niết-bàn. Quán sát tất cả vọng tưởng trên thế gian giống như mộng, như huyễn, như cây chuối. Cây chuối không chắc thật, nếu chúng ta lột dần từng bẹ thì cuối cùng không có cây chuối. Như vậy tất cả pháp như cây chuối, không có thật. Tuy có tham sân si Mà thật không có người Từ ái sanh các ấm Có đều như huyễn mộng. Không có người nghĩa là không có chủ tể. Bản chất tham sân si hư dối không thật, nếu tham sân si có thật thì không ai có thể tu sửa. Nếu tham sân si có thật thì nó khởi lên từ đâu? Khi hết tham sân si thì nó về chỗ nào? Tìm không thấy, đủ duyên thì khởi, hết duyên thì mất. Biết như vậy chúng ta không chấp tham sân si, nhìn thấu rõ bản chất của nó để tự mình đoạn dứt. Từ ái sanh các ấm, có đều như huyễn mộng, vì yêu thích thân, yêu thích những sở hữu của thân nên chúng sanh không thoát ra khỏi tam giới, không thoát khỏi những trói buộc trong sanh tử. Muốn hết sanh tử trước tiên bỏ chấp ngã, dứt yêu thích thân năm ấm. Vì thế Phật dạy vô ngã để phá trừ ái ngã. Nếu biết thân cảnh này có không đều như huyễn, tạm sanh diệt như bóng chớp, buông bỏ chấp thân thì ái không có chỗ bám víu. Ngay đó được giải thoát. Bài kệ thứ nhất nói chánh pháp tông thuyết đều duyên tự tánh tự giác, có nói ra dạy bảo cốt đạt yếu chỉ này, phải khéo phân biệt chớ theo giác tưởng (vọng tưởng). Hai bài kệ hai và ba nói kẻ ngu vọng tưởng chẳng phải tánh chân thật, không thể giải thoát. Chỉ quán sanh diệt tăng trưởng hai chấp, do điên đảo mà thành. Hai bài kệ bốn và năm nói tự giác chân đế này chỉ một không hai. Cần ở trên thể tự giác không thêm tội cấu liền là Niết-bàn. Song vọng cấu ở thế gian tất cả các pháp sắc tâm ví như huyễn mộng, tuy có độc tham sân si v.v... cũng chính nơi đó không người. Các ấm hiện tại đều từ ái sanh, thảy không thể được. Nếu hay biết chỗ này liền đó chóng lìa, thấy tánh bản thật. Hai đặc điểm ở đây là tông thông và thuyết thông. Tông thông là ngộ được bản tánh của mình. Thuyết thông là thông suốt được giáo lý của Phật. Có đủ hai điều kiện này thì chính mình tu và dạy người tu không bị thối chuyển, không bị lầm. 2. CHỈ TỘT TƯỚNG SANH CỦA VỌNG TƯỞNG ĐỂ HIỂN ĐỆ NHẤT NGHĨA (Phân làm bốn phần) a. Nhân Đại Huệ hỏi, chỉ tướng sanh của vọng tưởng Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tướng vọng tưởng chẳng thật. Vọng tưởng chẳng thật vì sao mà sanh? Những gì là pháp tên vọng tưởng chẳng thật? Ở trong những pháp nào mà vọng tưởng chẳng thật? Bồ-tát Đại Huệ hỏi Phật: 1/ Vọng tưởng là không thật, đã không thật vì sao lại sanh? 2/ Vọng tưởng chẳng thật có những tên gì? 3/ Căn cứ theo pháp nào mà nói vọng tưởng chẳng thật? Phật bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Ông khéo hỏi Như Lai nghĩa như thế, được nhiều lợi ích, được nhiều an lạc, thương xót tất cả người trời ở thế gian. Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông mà nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Do các thứ nghĩa, các thứ vọng tưởng chẳng thật chấp trước, vọng tưởng sanh. Phật trả lời câu hỏi thứ nhất: Do các thứ nghĩa, các thứ vọng tưởng chẳng thật chấp trước, vọng tưởng sanh. Các thứ nghĩa là các pháp bên ngoài ở thế gian, chúng ta thấy là thật có, cho là nó có nghĩa thật. Đối với vọng tưởng trong nội tâm cũng cho là thật, chấp trước pháp bên ngoài và bên trong mà sanh vọng tưởng. Như vậy từ gốc chấp trước, các pháp không thật mà cho là thật, theo đó vọng tưởng sanh. Đại Huệ! Chấp trước năng nhiếp (tâm) sở nhiếp (cảnh), chẳng biết tự tâm hiện lượng và rơi vào kiến chấp “có không” tăng trưởng vọng tưởng tập khí theo kiến chấp ngoại đạo, chấp trước các thứ nghĩa bên ngoài, tâm (tâm vương), tâm số (tâm sở), vọng tưởng chấp trước làm ngã ngã sở mà sanh. Đoạn này Phật trả lời hai câu hỏi hai và ba. Vọng tưởng chẳng thật chính là tâm năng nhiếp, cảnh sở nhiếp, các kiến chấp có không. Tăng trưởng tập khí theo kiến chấp ngoại đạo. Tâm năng nhiếp là tâm duyên theo ngoại cảnh, cho ngoại cảnh là thật nên cảnh biến thành sở nhiếp. Không biết tâm cảnh đều từ tâm hiện lượng của mình biến hiện, chỗ bất giác đó cũng là một loại vọng tưởng mê mờ chân tánh. Kiến chấp cho các pháp là thật có thật không, làm tăng trưởng tập khí. Kiến chấp này không đúng chánh pháp nên gọi là kiến chấp ngoại đạo, là một loại vọng tưởng tri thức rất khó trừ dẹp. Đây là đức Phật phân biệt rõ ràng cảnh giới hoạt động của vọng tưởng, khi chúng ta khởi tâm phân biệt dính mắc vào các trường hợp kể trên liền biết là nằm trọn trong vọng tưởng. Căn cứ vào đâu mà nói nó là vọng tưởng chẳng thật? Câu này rất quan trọng, chúng ta cần lưu ý. Tâm, tâm số, vọng tưởng chấp trước làm ngã ngã sở mà sanh. Tâm là tâm vương, tâm số là tâm sở, các loại vọng tưởng thuộc về tâm vương tâm sở luôn đeo níu chấp cứng về ngã. Cho là ta thật, các pháp thuộc về ta, mọi vọng tưởng đều xoay quanh chấp ngã và ngã sở. Nhưng xét kỹ, ta không thật có, cái ngã này chỉ là duyên hợp hư dối, chấp vào một cái hư dối thì kiến chấp ấy cũng không thật, vì thế gọi là vọng tưởng không thật. Đức Phật đã chỉ dạy rõ ràng về tướng vọng tưởng, cội gốc sâu dày của mọi lầm chấp. Khi chúng ta biết chỗ này, tỉnh giác bỏ vọng tưởng không thật là trở về chân thật. Đây là tột tướng vọng tưởng sanh, để phát minh đệ nhất nghĩa chẳng sanh vọng tưởng. Đại Huệ hỏi tướng vọng tưởng chẳng thật từ đâu mà sanh, Thế Tôn bảo: Nhân các thứ nghĩa vọng tưởng chẳng thật sanh. Các thứ là tất cả pháp sắc tâm v.v... và thánh phàm tất cả danh tướng chân vọng. Các pháp tướng này không có tự tánh, lìa có và không, lìa tứ cú, y đó mà sanh vọng tưởng. Cho nên nói “vọng tưởng chẳng thật”. Chỉ tột cùng nguồn gốc vọng tưởng, để nêu lên chỗ ngộ đệ nhất nghĩa không sanh vọng tưởng. Một khi thấy rõ đầu mối hoạt động của vọng tưởng, chúng ta sẽ biết đường trở về đệ nhất nghĩa, vì chính khi hết mê là giác. Nhân các thứ nghĩa vọng tưởng chẳng thật sanh. Các thứ nghĩa là chỉ cho các pháp sắc hoặc tâm, phàm thánh, tất cả danh tướng chân và vọng. Các pháp này vốn không có tự tánh, do duyên hợp hư dối, không thật. Các pháp đã không thật, nương theo cái không thật để phân biệt thì vọng tưởng phân biệt đó cũng hư dối không thật. Ở đây chỉ nói vọng tưởng chẳng thật y đây mà sanh khởi, đoạn sau mới nói “vì sao vọng tưởng chẳng thật” để đáp “pháp gì chẳng thật, trong pháp gì chẳng thật”. Năng nhiếp sở nhiếp tức là thể tánh của vọng tưởng. Nghĩa là vọng tưởng này do không biết các thứ nghĩa đều tự tâm hiện, rơi vào kiến chấp có không, tăng trưởng tập khí ngoại đạo, huân phát nơi tâm vương, tâm sở tất cả vọng tưởng, khởi chấp trước năng sở. Trên là nói chỗ không thật của vọng tưởng, đến đây giải thích nguyên nhân của vọng tưởng chẳng thật. Do không biết tự tâm hiện lượng, đây là lý do chính từ gốc bất giác ban đầu, mê nơi tâm cảnh, chủng tử mê vọng huân nơi tâm vương tâm sở. Huân tập như thế nào? Thí dụ chúng ta thấy một hình sắc đẹp liền duyên theo phân biệt rồi ghi nhớ lại hình sắc đó. Ghi nhớ là huân tập, là giai đoạn hai. Huân rồi phát ra, nghĩa là chúng ta kể lại cho mọi người nghe, diễn tả hình sắc đó như thế nào, kể đi kể lại thành thói quen, không thể quên hình sắc đã qua. Đôi lúc ngồi ôn lại những gì đã nghe đã thấy, đó toàn là vọng tưởng huân phát trên tâm vương tâm sở. Như có người bạn thân mình thích nói chuyện, thích gặp gỡ, cái thích đó trở thành thói quen. Lâu lâu không gặp thấy nhớ, thấy vắng. Đó gọi là tập khí, tập là nhóm họp, khí là hơi, chỉ là sự chứa nhóm hơi hám, không thật, không có hình tướng cụ thể. Hiểu chỗ này chúng ta có thể tu dễ dàng, biết nó chỉ là bóng ảnh chỉ là hơi, chúng ta không tiếp tục in sâu không ghi nhớ, không chấp trước, do đó không tăng trưởng tập khí. Nguyên chỗ đáp của Thế Tôn cốt chỉ không biết tự tâm hiện lượng là căn do vọng tưởng. Nếu các thứ nghĩa bị nương tuy hiện khởi kiến chấp năng sở có không chẳng thật, song các thứ nghĩa này thảy đều không có tự tánh, vốn tự lìa kiến, lìa tướng, liền đó tức là đệ nhất nghĩa. Vì tập khí vọng tưởng không thật có, nên ngay khi dứt lìa liền đó là đệ nhất nghĩa. Đây là chỗ tu thẳng tắt. Biết tất cả pháp đều không có tự tánh, không có thật thể, tâm năng duyên và cảnh sở duyên rốt ráo không thật, không khởi tâm chấp bám gọi là lìa vọng. Các pháp tự nhiên thanh tịnh. Cho nên biết đồng các thứ nghĩa này, mà một bên thì các thứ nghĩa vọng tưởng y đó khởi; một bên là đệ nhất nghĩa vọng tưởng chẳng sanh. Ý này đợi đoạn văn nạn ở sau sẽ rõ. Tóm lại, giác tự tâm hiện tức vọng tưởng chẳng sanh, chẳng giác tự tâm hiện thì vọng tưởng y đó mà khởi. Chẳng phải do các thứ nghĩa, lìa tánh lìa kiến mà khiến vọng tưởng có không sai biệt, không thể chẳng xét kỹ. Tâm là tám thức tâm vương. Số là năm mươi mốt thứ tâm sở. Biến hành có năm, biệt cảnh có năm, thiện mười một, căn bản phiền não có sáu, tùy phiền não có hai mươi, bất định có bốn, tâm thức tâm vương mỗi thứ đều đầy đủ. Cùng đồng một pháp, một bên theo vọng tưởng, một bên là đệ nhất nghĩa chẳng sanh vọng tưởng. Thí dụ như nhìn bình hoa này, nếu chấp nó là thật thì khởi lên phân biệt thích hay không thích. Đó là vọng tưởng sanh. Cũng bình hoa này, biết nó duyên hợp không thật, thấy rồi thôi, tự nhiên tâm không sanh vọng tưởng. Như vậy không cần tìm đệ nhất nghĩa ở ngoài các pháp. Mê sanh vọng tưởng hay giác lìa vọng tưởng cũng ngay nơi các pháp hiện tiền, ngay nơi tâm chúng ta tu, chẳng phải do các thứ nghĩa, lìa tánh lìa kiến mà khiến vọng tưởng có không sai biệt, lỗi không ở nơi các pháp. Cùng một pháp nếu chúng ta ngộ được tự tâm hiện thì lìa tánh, tức lìa cái thấy cho nó có thật thể, lìa kiến chấp thì không có vọng tưởng; nếu thấy nó có tự tánh thật thì sanh vọng tưởng, sai biệt ngay nơi chỗ mê ngộ của chúng ta. b. Nạn vọng tưởng một bên sanh một bên chẳng sanh Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu các thứ nghĩa, các thứ chấp trước vọng tưởng chẳng thật mà vọng tưởng sanh, chấp trước nhiếp, sở nhiếp, chẳng biết tự tâm hiện lượng và rơi vào kiến chấp có không, tăng trưởng vọng tưởng tập khí theo kiến chấp ngoại đạo, chấp trước các thứ nghĩa bên ngoài, vọng tưởng tâm, tâm số, chấp trước ngã ngã sở sanh. Thế Tôn! Nếu như thế thì các thứ nghĩa tướng bên ngoài rơi vào tướng có không, lìa tánh và phi tánh, lìa kiến, tướng. Thế Tôn! Đệ nhất nghĩa cũng như thế, lìa tướng lượng, căn, phần, thí, nhân. Thế Tôn! Vì sao một chỗ thì nghĩa vọng tưởng chẳng thật các thứ tánh chấp trước vọng tưởng sanh? Chỗ thì chẳng phải chấp trước tướng đệ nhất nghĩa vọng tưởng sanh? Đâu không phải Thế Tôn nói về tà nhân luận sao? Nên nói một sanh, một chẳng sanh. Bồ-tát Đại Huệ lập luận để hỏi rõ chỗ vọng tưởng khởi và không khởi. Thế Tôn nói y các thứ nghĩa, tức là y các pháp do đó chấp trước khởi các thứ vọng tưởng sanh, cũng y các pháp đó biết do tự tâm hiện lượng mê hiện, không chấp trước thì vọng tưởng chẳng sanh. Cùng các pháp đó, một bên vọng tưởng sanh, một bên vọng tưởng không sanh. Vọng tưởng sanh là có, vọng tưởng không sanh là không. Như vậy Phật nói pháp giống ngoại đạo. Đây là lặp lại lời đáp của Thế Tôn mà riêng nêu ra các thứ nghĩa bên ngoài và có không kiến tướng đều ngay đó tánh lìa, kiến tướng không thể được, mà Thế Tôn bảo rằng vọng tưởng y đó mà khởi. Đệ nhất nghĩa căn lượng tông nhân thí dụ cũng ngay đó tánh lìa, kiến tướng không thể được, mà Thế Tôn bảo là vọng tưởng chẳng sanh. Đồng một tánh lìa, tướng lìa, kiến lìa, mà một bên bảo các thứ nghĩa vọng chấp có không; một bên bảo đệ nhất nghĩa vọng tưởng chẳng sanh. Đâu không phải Thế Tôn cũng rơi vào tà luận. Nghĩa là một bên chấp có sanh, một bên chấp không sanh. Lượng là tâm lượng, tùy theo tâm lượng mà nói pháp. Căn là căn thân, phần là tướng phần kiến phần, tông, thí, nhân là ba chi tông nhân dụ. Ý ngài Đại Huệ hỏi rằng cũng đồng các thứ nghĩa lìa tướng lìa kiến mà một bên vọng tưởng sanh, rồi cũng đồng cảnh giới thân căn, hiện lượng mà là đệ nhất nghĩa vọng tưởng chẳng sanh. Như vậy Phật cũng giống tà luận của ngoại đạo, một bên chấp có một bên chấp không. Không biết chỗ chấp của ngoại đạo cùng với chỗ nói của thánh giáo, tuy tất cả tánh tướng thảy không thể được, các kiến chấp chóng lìa; song do giác tự tâm hiện lượng thì tất cả đều dứt, cùng chẳng giác tự tâm hiện lượng, mà cho là tất cả đều không thể được, thật là sai hào ly cách xa ngàn dặm. Đây là lời giải thích của ngài Hàm Thị. Người giác tự tâm hiện lượng biết rằng tất cả cảnh tướng bên ngoài do mê tự tâm hiện lượng mà khởi đều không thật, giống như cảnh và người trong chiêm bao. Biết rõ như mộng huyễn nên dứt vọng tưởng. Lại có người nghe Phật nói cảnh người duyên hợp không thật, họ cũng bắt chước nói không thật, chỉ nói suông mà trong tâm không tỉnh ngộ. Cách nói của người không ngộ tự tâm và cách nói của người ngộ tự tâm, hai cái xa nhau. Nay những thiền gia ở trong thiên hạ nói là tâm tông mà bảo tất cả không thể được, tự tại vô ngại, đều không ngoài tâm lượng vọng tưởng, theo giác tưởng lưu chuyển mà vẫn hiu hiu tự đắc cho là phát minh tự tâm. Tất cả tánh lìa, thế đế và đệ nhất nghĩa để không hai không khác. Song không biết rằng hiện chấp có tánh rồi sau nói không, cùng chẳng chấp có tánh bình đẳng tịch diệt. Đây là giác tự tâm cùng chẳng giác tự tâm, riêng khác giữa chân và ngụy, học giả không thể không xét kỹ. Đây là lời trách những người tu thiền. Nói các pháp như huyễn không thật, nhưng đó chỉ là học lóm ngoài da, chưa thật sự thấu đạt thể tánh các pháp mà mượn ngôn ngữ đạo để che đậy lỗi của mình, gọi là không ngoài tâm lượng vọng tưởng, theo giác tưởng lưu chuyển mà vẫn hiu hiu tự đắc cho là phát minh tự tâm. Mình vẫn còn vọng tưởng mà nói tôi ngộ rồi, tôi tự tại không sợ gì cả. Uống rượu ăn thịt, tất cả đều dám làm, vì tất cả đều giả, rồi coi thường giới luật, coi thường người giữ giới. Nếu là thật thấy cảnh giả thì đối với rượu thịt không duyên theo, không thèm để ý đến. Còn bị giác tưởng lôi, còn thấy tương rau chay lạt là dở, rượu thịt là ngon, tất cả ngôn ngữ hành động chỉ là mượn lời Thánh nhân để che giấu lỗi. Đó là tội lớn. Nếu đến chỗ chân thật thì tất cả tánh lìa, nghĩa là tất cả pháp không thật, chân không thật, giả không thật, thế đế là thế gian là giả, đệ nhất nghĩa đế là xuất thế gian là thật, cả hai không khác. Học giả phải xét cho kỹ, người thật đến chỗ thấy các pháp không tánh, và người không thấy tột gốc không tánh, dù nói năng như nhau nhưng chân ngụy rõ ràng, không thể lầm. c. Chỉ giác tự tâm lượng vọng tưởng chẳng sanh Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải vọng tưởng một sanh, một chẳng sanh. Vì cớ sao? Nghĩa là vì vọng tưởng có không đều chẳng sanh, mà bên ngoài hiện tánh (có), phi tánh (không). Giác tự tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh. Vọng tưởng có không đều chẳng sanh, vọng tưởng không thuộc về có, cũng không thuộc về không. Vọng tưởng không có thật thể, khi gặp duyên dấy lên thì thấy lăng xăng, nhưng nhìn lại thì biến mất, như vậy không thể nói có hoặc không. Vì vọng tưởng không thuộc có không, nên chúng ta có thể tu tập. Khi ngồi thiền chúng ta biết thân này cảnh này đều do mê hiện, giống như người cảnh trong chiêm bao. Biết như vậy không có gì phải nghĩ, tự nhiên yên khô. Trong khi ngồi như vậy, khi đi đứng... luôn thấy người cảnh đều hư dối thì có gì để phân biệt hơn thua. Ngang đó vọng tưởng không sanh, vì thế nói giác tự tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh. Đại Huệ! Ta nói những kẻ ngu vì tự tâm các thứ tướng vọng tưởng, sự nghiệp hiện tiền các thứ tánh tướng vọng tưởng chấp trước sanh. Làm sao kẻ ngu được lìa chấp trước ngã ngã sở; lìa lỗi nhân duyên năng tác sở tác, giác tâm lượng vọng tưởng của mình, thân tâm chuyển biến, cứu cánh hiểu rõ tất cả địa, cảnh giới Như Lai tự giác, lìa năm pháp, tự tánh, sự kiến vọng tưởng? Do nhân duyên này, nên ta nói vọng tưởng từ chấp trước các thứ nghĩa chẳng thật sanh. Biết nghĩa như thật được giải thoát các thứ vọng tưởng nơi tự tâm. Trên nói giác tự tâm hiện lượng nên vọng tưởng không sanh, đến đây nói phàm ngu vì chấp trước các pháp hiện trước mặt, cho là thật có tánh tướng, sanh khởi vọng tưởng. Nếu họ lìa tất cả chấp trước về ngã ngã sở, không bị lỗi thấy có năng tác sở tác... Xa lìa tất cả cái thấy ta thật cảnh thật, đó là một dụng công tu tập rất lớn, đưa đến sự chuyển biến thân tâm rốt ráo lên quả vị Bồ-tát, quả vị Phật. Chính vì chỗ quan trọng này mà Phật luôn luôn nhắc nhở: Ta nói vọng tưởng từ chấp trước các thứ nghĩa chẳng thật sanh, đó là đầu mối mọi mê lầm. Chẳng phải vọng tưởng một sanh, một chẳng sanh, cho là vọng tưởng có không đều chẳng sanh. Đây là chỉ thẳng người giác tự tâm hiện lượng thì tất cả vọng tưởng có không đều chẳng sanh. Nay hiện ở trong cái có mà bảo tất cả tánh lìa, tất cả không thể được, đây là vọng tưởng chấp trước. Hiện nay chúng ta còn đang chấp có, có mình thật, có cảnh thật mà bảo tất cả tánh lìa, tất cả đều không dính mắc, tất cả không thể được, đó cũng là vọng tưởng chấp trước không phải thật. Lời này là răn nhắc chúng ta. Trong khi tu nghe Phật tổ dạy chúng ta hiểu được chút ít, hoặc có chút tỉnh giác tưởng như mình không còn chấp trước, tưởng như thấy chỗ cứu cánh chân thật, rồi tự hào nói “tất cả không có, tất cả không được”. Nói nghe rất hay mà gặp việc thì xử sự rất dở. Nghe một lời nói nặng liền nổi giận, thấy tất cả đều thật có. Như vậy mắc lỗi phá chấp rất nguy hiểm, dễ đưa chúng ta đến chỗ làm bừa, làm bướng. Người tu phải thấu suốt chỗ này để không lầm. Giác tự tâm hiện lượng trọn không có cái tưởng này. Nên nói: “Chẳng chấp có tánh, bình đẳng tịch diệt.” Người ngu đối các thứ tướng sự nghiệp hiện tiền chấp là có, cũng chấp là không, đều do vọng tưởng lưu chuyển. Không giác tự tâm hiện lượng thì động niệm dứt niệm đều trở về mê muội. Không giác tự tâm hiện lượng thì động niệm dứt niệm đều trở về mê muội. Động niệm thì mê muội, tại sao dứt niệm cũng mê muội? Chúng ta thấy vọng tưởng dấy gọi là động niệm, muốn hết vọng tưởng nên tìm cách xua đuổi ngăn chặn, đó cũng thuộc về vọng tưởng nên nói trở về mê muội. Chỉ cần biết vọng tưởng không thật thì tự nó dứt, không nói vọng tưởng sanh hay diệt. Thí dụ có bóng một con cọp chiếu trên màn ảnh, người thấy bóng cọp liền xách búa đến đập. Bóng cọp không thật, giết một cái bóng nó không chết mà mình phí sức vô ích. Như vậy vọng tưởng không thật, sợ vọng tưởng là si mê, diệt vọng tưởng cũng si mê. Chỉ biết nó không thật, không theo cũng không diệt. Cho nên nói “Muốn được xa lìa các thứ lỗi về ngã ngã sở, phải giác tâm lượng vọng tưởng nơi mình. Giác tất cả vọng tưởng thảy do tâm hiện”. Cái bị hiện chẳng thật thì cái tưởng nơi tâm được lìa, liền chuyển thân tâm bất giác kia theo trí tự giác, chiếu sáng các địa đến Như Lai địa, tất cả năm pháp, ba tự tánh đều là hý luận. Vọng tưởng do y chấp trước các thứ nghĩa chẳng thật. Đệ nhất nghĩa do biết tự tánh như thật. Tự thể giải thoát là vọng tưởng chẳng sanh, đây là quyết định vậy. Tất cả vọng tưởng không rời chính bản tâm của mình. Khi chúng ta ngồi thiền được yên lặng mà hằng tỉnh, hằng sáng thì bản tâm thanh tịnh. Từ chỗ hằng tỉnh hằng sáng bỗng dấy lên suy nghĩ, vọng tưởng suy nghĩ đó cũng không lìa tâm hiện tại của chúng ta. Biết nó không thật không theo thì trở về tâm thanh tịnh, không cần phải diệt trừ. Chúng ta thấy mặt nước phẳng lặng, khi có gió mạnh sóng nổi lên rất nguy hiểm. Vọng tưởng cũng vậy, tuy không thật nhưng tham sân si nổi lên lôi chúng ta đi vào đường ác. Vì thế phải biết nó từ gốc, từ tâm hiện làm dấy động hồ tâm, lúc đó là mê muội. Tỉnh cơn mê muội để vọng tưởng dừng lặng, trở về tâm thể, đó là chỗ chính yếu. Trở về tánh giác đó là cái duyên để tiến lên các địa vị Bồ-tát, thẳng đến Như Lai địa. Chỗ cốt yếu là biết tự thể giải thoát ngay nơi các pháp, biết năm pháp ba tự tánh... đều hý luận không thật. d. Tụng chung Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Các nhân cùng với duyên Từ đây sanh thế gian Vọng tưởng chấp tứ cú Chẳng biết rành ngã sở. Từ nhân duyên kết tụ lại thành ra các pháp ở thế gian, vọng tưởng chấp các pháp hoặc có, hoặc không, chẳng phải có, chẳng phải không, thành ra tứ cú. Chẳng biết rành ngã sở, tức là chấp cảnh thuộc về ngã. Thế gian chẳng có sanh Cũng lại chẳng không sanh Chẳng từ có không sanh Cũng chẳng phi có không. Các nhân cùng với duyên Tại sao ngu vọng tưởng Chẳng có cũng chẳng không Cũng lại chẳng có không. Biết các pháp thế gian do nhân duyên, chẳng phải thật có sanh hay không sanh, không nên rơi vào hý luận tứ cú. Như thế quán thế gian Tâm chuyển được vô ngã Tất cả tánh chẳng sanh Vì bởi từ duyên sanh. Quán thế gian như vậy thì tâm chuyển được thành vô ngã, vì không có thực thể, không có chủ. Tất cả tánh chẳng sanh, tất cả pháp đều không có thực thể, đều từ duyên sanh, vì duyên sanh nên vô ngã. Tất cả duyên tạo ra Tạo ra chẳng tự có Sự chẳng tự sanh sự Vì có lỗi hai sự. Vì không lỗi hai sự Chẳng có tánh khá được. Phàm tất cả pháp do duyên tạo ra thì nó chẳng tự có. Sự chẳng tự sanh sự, sự là kết quả, thí dụ đồng hồ không thể sanh ra đồng hồ, do các bộ phận ráp lại kết quả mới thành. Nếu đồng hồ sanh ra đồng hồ là có lỗi hai sự. Vì không lỗi hai sự, chẳng có tánh khá được, tức là nếu không nói pháp này sanh pháp này thì tất cả các pháp chẳng có thực thể có thể được. Đây nói tất cả thế gian từ nhân duyên sanh. Chẳng biết duyên sanh vọng chấp có không tứ cú. Song thế gian này thẳng đó thật không có tứ cú có thể được, đều do kẻ ngu vọng tưởng chẳng đạt lý này. Nếu hay quán kỹ như thế, mới biết tất cả vô ngã. Tự tánh chẳng sanh thảy từ duyên khởi, duyên khởi cũng không thì người tạo cùng việc tạo ra đều không có thật tánh, thẳng đó liền lìa. Quán sát kỹ từ thân mình đến các pháp thế gian đều duyên hợp, không có chủ tể. Không chủ tức vô ngã, chính chúng ta ai ai cũng vô ngã. Tự tánh các pháp từ duyên khởi, không có thật sanh nên năng tạo sở tạo không có thật nghĩa. Đó là lìa vọng tưởng. Câu sự chẳng tự sanh sự, sự tức là quả sự. Nghĩa là quả cần đợi nhân, nhân thành ra quả, không có tánh tự sanh. Tóm lại tâm buổi đầu chẳng giác không thể tự chủ lầm theo nhân duyên dường như có sanh diệt. Kẻ ngu chẳng biết vọng chấp có không, người giác chóng lìa vốn không thật tánh. Quán các pháp hữu vi Lìa phan duyên sở duyên Không tâm lượng của tâm Ta nói là tâm lượng. Phật dạy rằng khi ta quán các pháp hữu vi, tức là pháp có sanh trụ dị diệt; lìa phan duyên sở duyên, lìa tâm hay duyên và cảnh bị duyên. Không tâm lượng của tâm, là không còn tâm lượng năng duyên sở duyên. Ta nói là tâm lượng, người đó mới thật là ngộ tự tâm hiện lượng. Đây là ý nói giác tự tâm hiện lượng thì lìa năng duyên sở duyên. Lượng ấy chỗ tự tánh Duyên sanh cả hai lìa Tánh cứu cánh diệu tịnh Ta nói tên tâm lượng. Lượng là cái biết, biết về tự tánh do duyên sanh, nên lìa hai bên có và không. Tánh cứu cánh diệu tịnh, đó chính là tự tâm hiện lượng. Ở trước nói thế gian duyên sanh, duyên sanh nên không tánh. Ở đây mới chỉ ra người giác tự tâm lượng, chỉ hay lìa phan duyên và sở duyên liền đó không tâm, bèn hợp với tâm lượng. Nghĩa là tự tánh tâm này vốn không năng duyên sở duyên, cứu cánh là viên diệu. Nếu ở ngoài tâm mà vừa có chấp trước bèn rơi vào vọng tưởng, chẳng phải bản hiện lượng. Lập bày ngã thế đế Ấy là không sự thật Lập bày các ấm thân Không sự cũng như thế. Ngã thế đế là ngã của thế gian không thật. Thân năm ấm là vô ngã cũng không thật. Hai câu trên là chỉ cho phàm phu chấp ngã. Hai câu dưới chỉ Nhị thừa cho năm ấm vô ngã, cũng chưa phải là thật. Có bốn thứ bình đẳng Tướng và nhân tánh sanh Thứ ba vô ngã đồng Thứ tư người, pháp tu. Bốn thứ bình đẳng là tướng bình đẳng, nhân bình đẳng, ngã bình đẳng, tu bình đẳng. Tướng và nhân tánh sanh, tức là tướng bình đẳng, nhân bình đẳng. Trước nói tự tánh tâm lượng tất cả tánh lìa đương thể là diệu tịnh. Đây nói lập bày năm uẩn, hoặc người hoặc pháp cho đến tướng cùng vô tướng, sanh cùng vô sanh, ngã cùng vô ngã, năng tu và sở tu thảy đều bình đẳng không có thật tánh, để hiển chỉ có tự tánh tâm lượng, ngoài tánh này không có cái gì riêng khác. Lập bày thế đế là nhân tướng. Lập bày các ấm là pháp tướng. Bốn thứ bình đẳng: tướng, nhân, ngã, tu. Tướng tức là tướng năm ấm. Năm ấm không thật thì tướng cùng vô tướng bình đẳng. Tướng ắt có nhân, nhân là Tập đế trong Tứ đế, là sanh nhân của năm ấm. Quả tướng đã dối thì sanh cùng vô sanh bình đẳng. Tướng năm ấm từ nhân Tập đế mà có, nên nói Tập đế là sanh nhân của năm ấm. Thân năm ấm đã dối thì sanh nhân cũng dối, nên sanh cùng vô sanh bình đẳng. Nhân quả sanh nhau thì đủ có nghĩa ngã, nhân quả chẳng sanh thì ngã cùng vô ngã bình đẳng. Nếu thấy có nhân quả rõ ràng đó là có ngã. Nếu thấy nhân quả không thật đó là vô ngã. Như vậy ngã và vô ngã tự tánh bình đẳng. Rõ ngã chẳng phải ngã gọi đó là tu, rõ không có bị rõ thì tu cùng không tu bình đẳng. Tu là biết rõ quả không thật. Ngã là cái bị biết, thấy không có cái bị biết thì tu và không tu bình đẳng. Đó là để nói tất cả các pháp đối đãi. Nếu ngộ được một pháp thì tất cả pháp đều bình đẳng. Vọng tưởng tập khí chuyển Có các thứ tâm sanh Cảnh giới hiện bên ngoài Ấy tâm lượng thế tục. Hiện ngoài mà chẳng có Tâm thấy các thứ kia Dựng lập làm thân, tài Ta nói là tâm lượng. Thấy các pháp hiện bên ngoài không có thật. Tâm thấy các thứ kia, dựng lập làm thân, tài, thân là chỉ cho ngã, tài là chỉ cho sự nghiệp, nghĩa là thấy rõ ngã và sự nghiệp không thật có. Người như vậy ta nói là tâm lượng, tức là trở về sống với tâm lượng. Đây nói tâm lượng thế tục do tập khí chuyển ra, vọng sanh phân biệt dường như có ngoại cảnh. Giác được lý này thì trở lại là tự tánh tâm lượng. Hiện ngoài chẳng phải có, là chẳng phải riêng có do tâm vọng thấy, căn thân khí giới, hiện ra đều duy tâm. Lìa tất cả các kiến Và lìa tưởng sở tưởng. Không được cũng không sanh Ta nói là tâm lượng. Phi tánh phi phi tánh Tánh phi tánh thảy lìa Gọi kia tâm giải thoát Ta nói là tâm lượng. Lìa tất cả các kiến chấp năng tưởng sở tưởng đều không được cũng không sanh, tất cả pháp không thật có. Người thấy được như vậy Phật nói là tâm lượng, tức tự tâm hiện lượng. Tánh là có, phi tánh là không, có không thảy đều lìa, người được như vậy là tâm giải thoát, Phật cũng nói là tâm lượng. Như như cùng không tế Niết-bàn và pháp giới Các thứ thân ý sanh Ta nói là tâm lượng. Tâm lượng là gì? Chỗ khác nói là như như, là không tế, là Niết-bàn, là pháp giới, là ý sanh thân. Tất cả tên gọi đó Phật chỉ nói là tâm lượng. Lặp lại nhiều lần lời Phật nói để nhấn mạnh tự tâm hiện lượng. Các kiến là hai ngã kiến nhân và pháp. Tưởng sở tưởng là năng tưởng và sở tưởng. Lìa những cái này thì được gốc tự tâm, mà chẳng phải mới được, cho nên nói “không được”. Tâm lượng hiện tiền thì chẳng chấp có tánh là sanh và nhân cả hai đều đoạn, cho nên nói “không sanh”. Hai pháp có không do tứ cú sanh ra, tứ cú đã lìa liền đó giải thoát. Như như, không tế, Niết-bàn, pháp giới đều chỉ cho tâm lượng chân tịnh viên mãn, cho đến các thứ thân ý sanh thể dụng đều diệu, thảy nói về tự tánh đến chỗ cùng tột. II- CHỈ NGỮ, NGHĨA, THỨC, TRÍ ĐỂ HIỂN DỤNG TÔNG THÔNG (Phân làm năm phần) 1. CHỈ NGỮ, NGHĨA (Phân làm năm phần) a. Nhân Đại Huệ hỏi, trước chỉ tướng ngữ Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói đại Bồ-tát phải rành rẽ về ngữ, nghĩa. Thế nào Bồ-tát rành ngữ, nghĩa? Thế nào là ngữ? Thế nào là nghĩa? Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Lành thay, Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Thế nào là ngữ? Nghĩa là lời nói văn tự vọng tưởng hòa hợp, y nơi cổ họng môi lưỡi răng nướu cằm má, nhân đó ta nói vọng tưởng tập khí chấp trước sanh, ấy gọi là ngữ. Ngữ là gì? Đầu tiên là vọng tưởng hòa hợp với cổ họng, môi, răng, lưỡi, nướu, cằm, má phát ra tiếng, gọi đó là ngữ. Vì ngôn ngữ mang tính chất vọng tưởng nên đều không thật. Ngữ là ngôn giáo Như Lai nói ra Tam thừa và Nhất thừa. Nghĩa là đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ. Đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ do ngôn thuyết được vào. Vào đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ thì hay xa lìa tất cả cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng giác. Nhân ngữ mà nhập nghĩa, nên nói chiếu liễu, mà chẳng phải y ngữ sanh nghĩa, trở lại rơi vào giác tưởng. Ngữ là lời dạy của Phật, nghĩa là nghĩa trong đệ nhất thánh lạc. Nhờ lời dạy của Phật chúng ta vào đệ nhất nghĩa. Nhân ngữ mà nhập nghĩa gọi là chiếu liễu, nếu chẳng y ngữ sanh nghĩa thì rơi vào giác tưởng. Tại sao? Như chúng ta nghe Phật dạy các pháp không thật, nghe như vậy liền phân tích các pháp một, hai, ba, bốn... cả trăm thứ, rồi phân tích chữ không thật nghĩa là gì. Chúng ta chỉ tìm trên danh tự, không nhập được nghĩa chân thật. Đó là theo ngữ mà rơi vào giác tưởng. Thí dụ nhờ ánh sáng của đèn chúng ta thấy được đồ vật, đó là do ngữ nhập nghĩa. Nếu cứ chấp vào ánh sáng, nhìn theo ánh sáng hoài thì không lấy được đồ vật, chỗ rơi vào giác tưởng cũng vậy. Trước biện biệt thể tướng hai thứ ngữ nghĩa, nhiên hậu bảo, do ngữ nhập nghĩa, như ngọn đèn soi cảnh sắc, chẳng phải ngọn đèn tức là cảnh sắc. Tông thông này là hiển bày tông thú, mượn lời nói mà nhập, không nên y lời nói chấp trước vọng tưởng tướng khác. Vọng tưởng tập khí hòa hợp với bảy thứ: cổ họng... thành thể tướng của ngữ. Đây là y thế gian mà nói. Nếu thánh ngôn giáo tức là đệ nhất nghĩa diệu tâm khéo vì hiển bày. Thế gian do vọng tưởng tập khí hòa hợp với các phương tiện phát ra ngôn ngữ. Còn Phật thì từ đệ nhất nghĩa diệu tâm cũng hòa hợp với các phương tiện phát ra ngôn ngữ. Hai chỗ phát khởi ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ chúng ta khiến người nghe khởi phiền não hoặc ghét hoặc thương... Lời Phật nói khiến chúng ta được giải thoát nhẹ nhàng thanh thoát. Vì thế y Phật ngữ thì được nhập đệ nhất nghĩa, y thế gian ngữ thì mang nặng vọng tưởng. Cho nên ở sau nói “có ngữ chẳng khác với nghĩa”. Nhân ngữ mà biện nghĩa, do ngữ nhập nghĩa nên nói giáo liễu nghĩa. Phàm vọng tưởng tập khí cùng đệ nhất nghĩa diệu tâm, thể một mà tên khác. Thảy do mê giác chuyển ra, nên biết tông thông hiển bày do lời nói mà vào, chẳng phải cảnh giới vọng tưởng. Đệ nhất nghĩa diệu tâm cùng với vọng tưởng tập khí thể thì một mà tên thì khác. Như thể của nước chỉ là một, nhưng khi có gió dậy sóng thì không nói là thể nước mà nói đó là sóng. Chính trong sóng cũng có tánh nước, sóng không rời nước. Cũng vậy, các vọng tưởng của chúng ta đều có tánh biết của tâm, vì thế là một thể nhưng tên khác. b. Chỉ tướng nghĩa Đại Huệ! Thế nào là nghĩa? Nghĩa là lìa tất cả tướng vọng tưởng tướng ngôn thuyết, ấy gọi là nghĩa. Nghĩa là đệ nhất nghĩa, lìa tất cả tướng vọng tưởng ngôn thuyết. Bao nhiêu kinh giáo của Phật đều đưa đến chỗ này. Như chúng ta tu thiền vọng tưởng lặng là trở về đệ nhất nghĩa, còn nếu người niệm Phật được nhất tâm cũng trở về đệ nhất nghĩa; tuy mang tên khác mà trọng tâm không hai. Đại Huệ! Đại Bồ-tát đối với nghĩa như thế ở riêng chỗ vắng vẻ văn tư tu tuệ, duyên tự giác liễu, hướng thành Niết-bàn, tập khí thân chuyển biến rồi, cảnh giới tự giác xét nghĩa tướng khoảng giữa các địa mà thắng tiến, ấy gọi là đại Bồ-tát rành nghĩa. Bồ-tát khéo rành về nghĩa, là nghe nói lìa vọng tưởng ngôn thuyết: văn tuệ; ở chỗ vắng suy nghĩ: tư tuệ; duyên tự giác liễu đến thành Niết-bàn: tu tuệ. Do văn tư tu nên tập khí thân tâm chuyển biến, nhận được nghĩa chân thật, tiến từ Sơ địa đến Phật địa. Đây chỉ thể tướng của nghĩa mà chẳng nói những gì là nghĩa. Chỉ bảo lìa tất cả vọng tưởng ngôn thuyết, ấy gọi là nghĩa. Bởi vì muốn người lìa chỗ ngôn thuyết vọng tưởng được chỗ tự giác. Ở đây không nói thẳng đệ nhất nghĩa là gì, chỉ nói lìa tất cả vọng tưởng ngôn thuyết. Khi cái giả dừng dứt thì cái thật hiển hiện. Như trong pháp Tứ đế không nói Niết-bàn mà nói Diệt đế. Sạch hết mầm sanh tử thì đó là Niết-bàn. Nói như vậy để chúng ta biết ngôn thuyết vọng tưởng là giả, lìa nó thì được chân thật. Duyên chỗ tự giác này mới hay ở riêng chỗ vắng vẻ, chóng rõ văn tư tu tuệ, hồi hướng Niết-bàn. Nên nói “chuyển tập khí thân toàn là cảnh giới tự giác. Dùng tự giác diệu tuệ chiếu sáng các địa tiến thẳng lên trên chẳng do nơi khác”. Do nghĩa tướng này để thấy đệ nhất nghĩa diệu tâm của Như Lai khéo vì hiển bày, mà hay khiến người nhân ngữ biện được nghĩa, do ngữ nhập nghĩa, nên nói “ngữ chẳng khác nghĩa”. Văn sau sẽ nói rõ đó. c. Chỉ do ngữ nhập nghĩa Lại nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát rành ngữ nghĩa quán ngữ cùng nghĩa chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Quán nghĩa cùng ngữ cũng lại như thế. Nếu ngữ khác với nghĩa thì chẳng nhân ngữ mà biện nghĩa. Song do ngữ nhập nghĩa như đèn soi cảnh sắc. Ngữ với nghĩa dường như khác nhau, ngữ là tướng vọng tưởng hư dối, do duyên hợp mà có, nghĩa là cái chân thật sẵn có. Như đèn soi vật, vật khác với ánh sáng đèn. Ở đây Phật dạy ngữ với nghĩa chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Nếu ngữ khác nghĩa thì chúng không liên hệ nhau. Nhưng nhân ngữ mà nhập nghĩa, từ lời nói của Phật mà chúng ta nhận được lý đạo, đó là lời nói và lý đạo tương đồng. Nghĩa và ngữ cũng có khác, vì lý đạo thì rời xa ngôn ngữ vọng tưởng. Phải khéo phân biệt để không lầm giữa ngữ và nghĩa, đồng thời ứng dụng được giữa ngữ và nghĩa. Đây chính bày tông thông hiển thị sở nhập. Có bao nhiêu chương cú đều là liễu nghĩa. Cho nên Bồ-tát rành ngữ nghĩa thì quán ngữ biết nghĩa là chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Khác thì chẳng nhân ngữ mà biện nghĩa, mà hẳn do ngữ nhập nghĩa. Đến chỗ tự chứng lìa ngôn ngữ mà được, mới biết tất cả ngôn giáo là chiếu liễu nguồn tâm, lìa tất cả cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng. Chúng sanh do tập khí che đậy nên không thể nhân ngữ mà biết chỗ trở về, trái lại duyên ngôn thuyết theo đó chấp có không, chẳng phải lỗi tại thánh giáo. Cũng là lời Phật nói, nhưng với người biết thì nghe rồi nhập được nghĩa, người không biết nghe rồi phân chữ, phân nghĩa, đó là khởi vọng tưởng. Lỗi tại người nghe, không phải do lời Phật. d. Riêng y ngữ chấp nghĩa Lại nữa, Đại Huệ! Chẳng sanh chẳng diệt, tự tánh, Niết-bàn, tam thừa, nhất thừa, tâm, tự tánh v.v... như duyên lời nói nghĩa rồi chấp trước, rơi vào chấp dựng lập, phỉ báng, khác dựng lập, khác vọng tưởng, như huyễn các thứ vọng tưởng hiện. Thí như các thứ huyễn, chúng sanh phàm ngu cho là khác vọng tưởng, chẳng phải thánh hiền. Đây là nói về kẻ ngu theo lời chấp nghĩa. Nghĩa là nghe Phật nói chẳng sanh chẳng diệt, tự tánh, Niết-bàn, nói về tam thừa, nhất thừa, nói là tâm, là tự tánh... duyên theo lời nói đó, tìm nghĩa rồi chấp trước rơi vào có không. Từ chỗ như huyễn mà sanh ra các thứ vọng tưởng. Các thứ huyễn, chúng sanh phàm ngu cho là khác vọng tưởng, chẳng phải thánh hiền, chúng sanh thấy các tướng huyễn cho là thật, chấp ngoài vọng tưởng có cảnh. Bậc thánh thấy cảnh do vọng tưởng hiện, cảnh không ngoài vọng tưởng. Đây nói kẻ ngu không thể nhân ngữ nhập nghĩa, đối tự thể các pháp trong đệ nhất nghĩa chẳng sanh diệt v.v... không có chiếu liễu, trái lại y ngôn thuyết chấp trước cảnh giới giác tưởng sở thuyết, rơi vào có không. Là khác với tự thể các pháp đệ nhất như nghĩa mà khởi dựng lập. Có các thứ vọng chấp như y nơi huyễn mà khởi các phân biệt. Cho nên biết, tất cả các pháp đều là đệ nhất nghĩa mà thánh phàm đồng hiện, mê giác vẫn phân. Người giác tự tâm hiện lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, nhận được pháp thể, mới tin nhật dụng không khác, như chư thiên kia đồng bát đựng thức ăn, tùy phước dày mỏng mà thấy mỗi phần có khác. Tất cả pháp đều là đệ nhất nghĩa, nơi tất cả pháp đó mà lại chia có thánh phàm, mê giác. Căn cứ trên một pháp Phật dạy mà người mê cho là có không, phân tích chữ nghĩa tăng thêm vọng tưởng. Cũng trên pháp đó, người giác tỉnh ngộ, nhận ra đệ nhất nghĩa. Nên nói tất cả các pháp đều là đệ nhất nghĩa mà thánh phàm đồng hiện. Nhật dụng là chỗ sử dụng hàng ngày, mê ngộ cũng ngay nơi đó. Cùng một cảnh mà người chấp trước sanh phiền não, người không chấp thấy an vui. Đây thí dụ như chư thiên đồng bát đựng thức ăn, tùy theo phước mà thấy có khác. Chúng ta nói người có phước đến đâu cũng an ổn, phước đó là tùy theo tự tâm hiển hiện, không do cảnh bên ngoài. e. Tụng chung Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Ngôn thuyết vọng tưởng kia Dựng lập ra các pháp Bởi do kia dựng lập Chết rơi vào địa ngục. Những người do ngôn thuyết vọng tưởng dựng lập ra các pháp, cho là thật có thật không, vì dựng lập như vậy nên chết rơi vào địa ngục. Trong ấm không có ngã Ấm chẳng tức là ngã Chẳng như vọng tưởng kia Cũng lại phi vô ngã. Đây là chỉ cho hàng Nhị thừa, thấy trong năm ấm không có ngã, năm ấm chẳng tức là ngã, đó là các ngài ngộ năm ấm vô ngã. Chẳng như vọng tưởng kia, tức là không vọng tưởng như hàng phàm phu trên, nhưng cũng lại phi vô ngã. Vì sao? Vì vô ngã cũng là giả tướng của năm ấm. Tất cả thảy có tánh Như phàm ngu vọng tưởng Nếu như kia đã thấy Tất cả nên thấy đế. Nếu nói tất cả pháp đều có thực thể, như các phàm phu vọng tưởng cho cái gì cũng thật. Nếu như kia đã thấy, tất cả nên thấy đế. Như vậy phầm phu thấy thật thì lẽ ra gọi là thấy chân đế, vì chân đế là thật. Tất cả pháp không tánh Tịnh uế thảy không có Chẳng thật như kia thấy Cũng chẳng phải không có. Tất cả pháp không có thực thể cố định, không nhất định là tịnh hay uế. Đây là một lẽ rất thâm trầm, chỉ vì quen theo suy nghĩ phàm phu nên chúng ta nghe nói không tịnh không uế thì cảm thấy khó chịu. Rác thải ra thấy như dơ bẩn, nhưng đem ủ làm phân bón thì cây tốt, hoa đẹp. Rác không thật có tánh nhơ hay sạch, chỉ tùy theo trường hợp sử dụng. Đây nói ngoại đạo y ngôn thuyết vọng tưởng dựng lập có không, đó là tà pháp nhân chấp nên phải đọa. Song Nhị thừa bảo trong ấm vô ngã, tuy chẳng giống vọng tưởng tức ấm là ngã, mà không biết vô ngã cũng chẳng phải đệ nhất nghĩa. Phàm ngoại chẳng phân mê giác, lầm cho vọng là chân. Nhị thừa đối trị tà chấp bỏ chân đồng vọng. Đây đều chẳng đạt tánh sẵn đủ, chẳng lìa vọng tưởng mà có chân thật. Nếu quyết lìa vọng thì nào khác lẫn vọng, cho nên nói “nếu như kia đã thấy tất cả nên thấy đế (chân thật)”. Tất cả pháp không tánh, đây là chỗ nhấn mạnh của kinh Lăng-già. Theo cái nhìn của ngoại đạo cho các pháp thật có không nên thành pháp tà. Nhị thừa đối trị tà chấp chứng vô ngã cho là chân, thấy có chân khác với vọng cũng là đồng với vọng. Các pháp chân thật tự sẵn đủ đệ nhất nghĩa, không phải tìm chân thật bên ngoài các pháp. Nghĩa là Nhị thừa vô ngã chẳng phải chân thật. Thế nên biết, tất cả các pháp chân thật vốn không tự tánh, đã có tịnh uế đều do kiến chấp mà sanh. Chỉ trừ kiến chấp chẳng thật thì chân thật hiện tiền. Nên nói đệ nhất nghĩa như thật bản tế thầm hợp tương ưng, không có thủ xả. Đây là cảnh giới tự thông chẳng phải không có, mà không phải chỗ hay nói của ngôn thuyết vọng tưởng. Đó là sở do bài kệ chót trưng bày. Như vậy mới thấy rõ tất cả pháp không có tánh nhất định, mê giác tùy người mà nó thành ra tịnh uế, thiện ác... 2. BIỆN THỨC, TRÍ (Phân làm ba phần) a. Chỉ tướng ba thứ trí Lại nữa, Đại Huệ! Tướng trí thức nay sẽ nói. Nếu khéo phân biệt tướng trí và thức thì ông và các Bồ-tát ắt hay thông đạt tướng trí và thức, chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Phật giải thích cho biết tướng trí và tướng thức. Nếu Bồ-tát thông suốt được tướng trí và thức thì chóng được thành Phật quả. Đại Huệ! Trí kia có ba thứ, nghĩa là thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng. Thế nào là trí thế gian? Nghĩa là tất cả ngoại đạo phàm phu chấp trước có không vậy. Trí thế gian là trí của phàm phu, ngoại đạo. Họ chấp các pháp ở thế gian này hoặc có, hoặc không, rồi lý luận mọi cách để giải bày một cách trôi chảy gọi là trí thế gian. Thế nào là trí xuất thế gian? Nghĩa là tất cả Thanh văn, Duyên giác rơi vào chấp trước hy vọng tự tướng, cộng tướng. Trí xuất thế gian là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác, y cứ vào thân năm ấm tự tướng, cộng tướng mà sanh chấp trước hy vọng. Vì sao? Vì chúng sanh phàm phu mê lầm chấp thân năm ấm là thật. Các vị Thanh văn, Duyên giác quán biết thân năm ấm duyên hợp, vô ngã. Đó là hy vọng thoát khỏi chấp mê lầm, nhập được Niết-bàn, nên gọi là trí xuất thế gian. Thế nào là trí xuất thế gian thượng thượng? Nghĩa là chư Phật, Bồ-tát quán pháp không thật có, thấy chẳng sanh chẳng diệt, lìa các loại có không. Như Lai địa nhân pháp vô ngã duyên tự đắc mà sanh. Trí xuất thế gian thượng thượng chỉ cho trí của Phật, Bồ-tát. Các ngài quán tất cả pháp thế gian này không thật có. Vì không thật nên thấy chúng không sanh không diệt, lìa tất cả các chấp có không. Tới quả vị Phật là được nhân vô ngã và pháp vô ngã, duyên chỗ tự chứng tự đắc mà sanh trí tuệ như vậy. Đó là giải thích ba thứ trí: trí thế gian, trí xuất thế gian và trí xuất thế gian thượng thượng. Tất cả chúng sanh chẳng được duyên tự giác liễu, đều do không đạt hai tướng trí và thức. Cho là trí mà thật là thức, thành tăng thượng mạn. Đó là lý do Như Lai lặp đi lặp lại để hiển bày vậy. Trong ba thứ trí, thế gian trí chỉ cho ngoại đạo, cũng nói người trí, bởi vì ngoại đạo cũng tự cho là người trí. Người thế gian suy tính trên các pháp, nói là thật có, thật không và lý luận nghe thông suốt, từ đó sanh tâm tăng thượng mạn, khinh chê mọi người. Trong kinh thường nói trí biện thông là trí thế gian, đó chỉ là thức chứ không phải trí. Nhị thừa đạt các ấm vô ngã, vẫn còn chấp pháp ấm, không biết đều là tự tâm hiện, nên nói theo tự tướng, cộng tướng hy vọng. Biết được các ấm là vô ngã nhưng còn thấy có pháp, nghĩa là thấy năm ấm là chỗ để quán và vô ngã để chứng, không biết đều là tự tâm hiện. Vì vậy còn mắc kẹt tự tướng cộng tướng hy vọng. Chư Phật Bồ-tát giác tự tâm hiện, đạt tất cả các pháp đều không thật có, lìa có không sanh diệt, tự tánh như như. Bởi vì Như Lai địa, nhân pháp đều quên, duyên tự đắc sanh, chẳng cùng ngoại đạo, Nhị thừa chấp có không, hy vọng tự cộng, mà so sánh được. Vì thấy tất cả pháp đều do tâm hiện nên không chấp là có, là không, là sanh, là diệt, cho nên tự tánh như như. Đến Như Lai địa tức Phật địa, chấp ngã và pháp đều hết, duyên tự đắc sanh tức là chỗ mình tự chứng đắc chẳng giống như ngoại đạo, Nhị thừa. Ngoại đạo thì thấy có không, Nhị thừa thì dựa vào tự tướng cộng tướng, còn có chỗ so sánh được, vì vậy mà khác. Tóm lại, đức Phật giản trạch cho chúng ta biết ba thứ trí. Nếu mà lý luận có không đó là trí thế gian. Lý luận về năm ấm vô ngã... là trí xuất thế gian. Thấy các pháp tự tâm hiện, không thật, không mắc kẹt có không là xuất thế gian thượng thượng. Sau đây, Phật giải thích thức với trí sai biệt thế nào. b. Chỉ thức, trí sai biệt Đại Huệ! Cái sanh diệt kia là thức, cái chẳng sanh diệt là trí. Lại nữa, rơi vào tướng vô tướng và các thứ nhân tướng có không là thức, siêu việt tướng có không là trí. Lại nữa, tướng trưởng dưỡng là thức, chẳng phải trưởng dưỡng là trí. Những phân biệt hiểu biết thuộc về sanh diệt là thức, còn cái biết không sanh diệt là trí. Đó là định nghĩa đầu tiên. Những hiểu biết nào phân biệt có tướng, không tướng, các thứ nhân tướng có không, đó là thức; còn cái biết siêu việt tướng có không, đó là trí. Đây là nghĩa thứ hai. Hiểu biết nuôi lớn các nghiệp nhân sanh tử là thức, không nuôi lớn nhân sanh tử, liễu nhân đạt được chỗ chân thật là trí. Đây là nghĩa thứ ba. Bất giác tự tâm hiện, vọng thấy tất cả pháp sanh, vọng thấy tất cả pháp diệt. Giác tự tâm hiện, chỗ hiện là duy tâm, không có sanh diệt. Đây là lý do trí cùng thức phân biệt vậy. Y cái sanh diệt này chấp tướng có không, cùng nhân có không là thức. Hay siêu việt cái này là trí. Trưởng dưỡng nghĩa là sanh, đối với tất cả pháp mà tạo sanh nhân là thức, đối với tất cả pháp mà liễu nhân là trí. Như Lai đã có ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề và sáu ba-la-mật, tất cả vô lượng ba-la-mật đều là liễu nhân mà chẳng phải sanh nhân. Vì chúng ta mê lầm bất giác nên thấy các pháp có sanh, có diệt, đó là thức. Nếu biết rõ đều tự tâm mê hiện thì không sanh không diệt, đó là trí. Theo sanh diệt chấp tướng có không là thức, siêu vượt khỏi có không là trí. Pháp của Phật giảng cho chúng ta thấy được cái chân thật sẵn có nên thuộc liễu nhân là trí, không phải sanh nhân nghĩa là đối với các pháp tạo sanh nhân, trưởng dưỡng nghiệp sanh tử. Lại nữa, có ba thứ trí, nghĩa là biết sanh diệt, biết tự cộng tướng, biết bất sanh bất diệt. Lại nữa, tướng vô ngại là trí, cảnh giới tất cả tướng ngại là thức. Lại nữa, tướng ba việc hòa hợp phương tiện sanh là thức, tướng vô sự phương tiện tự tánh là trí. Lại nữa, tướng đắc là thức, tướng chẳng đắc là trí. Cảnh giới tự đắc thánh trí chẳng ra chẳng vào, cho nên như trăng trong nước. Một là trí biết sanh diệt, hai là trí biết tự tướng cộng tướng, ba là trí biết bất sanh bất diệt. Cái gì thuộc vô ngại là trí, có tướng ngại là thức. Ba việc hòa hợp phương tiện sanh, thí dụ như chúng ta thấy bình bông. Trong là con mắt, là căn. Ngoài là bình bông, là trần. Căn trần khởi ra phân biệt, đây gọi là thức. Còn tướng vô sự phương tiện tự tánh là căn trần tiếp xúc mà không dấy niệm phân biệt là vô sự, đây gọi là trí. Còn thấy có đắc tức là có năng có sở thì thuộc về thức, không đắc thì không năng sở là trí. Sanh diệt là mê chân duyên tập, nghĩa là các phàm phu ngoại đạo mê chân tánh mình, khởi ra tất cả nhân duyên sanh diệt. Tự cộng tướng là kẹt nơi chân duyên tập, nghĩa là Nhị thừa kẹt nơi pháp chấp chẳng đạt chân tánh, khởi ra tất cả nhân duyên nhàm chán tự tướng cộng tướng. Chẳng sanh chẳng diệt là tự chân duyên tập, nghĩa là Bồ-tát Thủy giáo thấy chân tánh mình chẳng lìa chân tế, khởi ra tất cả pháp nhân Bồ-đề chẳng sanh diệt. Cảnh giới thánh trí không còn thấy có ra có vào, không có một pháp thật. Mê chân là quên chân thể mà duyên tập, tức là duyên sự nhóm họp lại. Nhị thừa kẹt nơi pháp chấp chẳng đạt chân tánh, khởi ra tất cả nhân duyên, nói: Thân này do duyên hợp không thật, vô ngã, nhàm chán tướng chung, tướng riêng của nó. Đó là chứng được trí Nhị thừa nhưng vẫn chưa thấy được bản tánh nên còn kẹt bên chân. Đến chỗ không sanh không diệt, tự nó đã chân rồi duyên theo các pháp nhóm họp, nghĩa là Bồ-tát Thủy giáo (Bồ-tát mới vào Đại thừa) thấy được chân tánh của mình, không rời chân tánh mà khởi tất cả pháp nhân Bồ-đề, không sanh không diệt. Biết ba thứ này mới gọi là trí. Hay biết ba thứ mà biết chẳng phải ba thứ nên nói nhất thiết trí trí thanh tịnh. Vô ngại tức là nghĩa tứ vô ngại trong kinh Hoa Nghiêm. Nghĩa là lý vô ngại, sự vô ngại, sự lý vô ngại, sự sự vô ngại. Chân thuyên vô ngại có thiên trọng liền rơi vào thức tâm. Ba việc là căn, trần và thức. Rõ biết căn trần đều do nội thức biến dường như có, mà không có căn trần có thể được, tất cả phân biệt tức là vô phân biệt trí, nên nói: “Tùy thuận phân biệt tướng các pháp mà nơi đệ nhất nghĩa chẳng động.” Trong kinh Đại Bát-nhã Phật thường nói đến nhất thiết trí thanh tịnh. Chân thuyên vô ngại là lời nói chân thật không ngại, nếu có thiên trọng nghĩa là nghiêng nặng một bên thì thuộc thức, không phải trí. Thức là do ba việc họp lại, trí là phương tiện vô phân biệt. Vô sự là vô phân biệt trí. Nghĩa là có căn cảnh mà biết từ tâm hiện, tuy có mà thật không, nên dù phân biệt mà hằng biết thì đó là trí, vô phân biệt trí. Tướng tức là tất cả tướng sắc, tâm... Giác tự tâm hiện không có tướng có thể được, gọi là tướng chẳng đắc. Đây đều là cảnh giới tự giác thánh trí, như trăng trong nước chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải ra, chẳng phải vào, không thể hiển bày, chỉ chứng mới tương ưng. Biết tất cả pháp do mê tâm mà hiện, không thật thì không có năng đắc sở đắc, nên gọi là vô sở đắc. Biết rồi thì thấy tất cả pháp như trăng trong nước, chỉ tùy duyên hiện, không ra không vào. Chỗ này chỉ chứng mới biết. Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Gom nhóm nghiệp là thức, Chẳng gom nhóm là trí. Quán sát tất cả pháp Thông đạt không thật có. Liền được sắc tự tại Ấy gọi tên là tuệ. Thấy cảnh, khởi tâm phân biệt, rồi thương ghét, khen chê. Đó gọi là gom nhóm nghiệp, tâm này gọi là thức. Không gom nhóm gọi là trí, nghĩa là thấy cảnh không khởi khen chê, ưa ghét. Trí khác với thông minh lanh lợi vì biết trong thể bất động, còn thông minh lanh lợi là phân biệt trong động, dễ tạo nghiệp. Trí là làm chủ được vọng thức, không để chúng quấy rối. Xem xét tất cả pháp thế gian, thấu suốt không pháp nào có thật, liền được sức tự tại, đó gọi là tuệ. Buộc cảnh giới là tâm Giác tưởng sanh là trí Không thật có và thắng Tuệ ắt từ ấy sanh. Buộc cảnh giới là theo cảnh, dính mắc với cảnh là tâm, tức là thức. Giác tưởng sanh là trí, thấy cảnh biết huyễn hóa hư dối. Nếu biết rõ cảnh không thật là trí thù thắng, tuệ từ đó sẽ sanh. Đây phân trí tuệ. Trí nhằm giác liễu tự tâm, chẳng theo thức tâm phân biệt, nhiếp thọ là chỉ căn bản trí. Tuệ là nhằm sai biệt, được tất cả chỗ vô sai biệt trí, vào pháp hạnh Phổ Hiền, nhậm vận trang nghiêm. Buộc cảnh giới là bị tất cả pháp sanh diệt buộc. Tâm giác cảnh buộc này vốn tự viên tịnh. Không đuổi theo các pháp để phân biệt, dính mắc thì cái biết đó là căn bản trí. Tuệ là quán sát biết rõ tự tánh các pháp không thật, được tự tại, tức là vô sai biệt trí, là vào được hạnh Phổ Hiền, trang nghiêm tự tại. Bị cảnh giới bên ngoài lôi kéo, dính mắc thì gọi là buộc; giác nó vốn không thật, tâm được yên tịnh là trí. Chỉ do vọng tưởng thảy không thể được, cũng nhiếp thuộc căn bản trí. Giác thì hay liễu, liễu mà không có sở liễu, đến chỗ vô tướng, lần lượt tăng thắng cũng nhiếp thuộc sai biệt. Vô tướng là cảnh giới Bát địa. Thắng tức Như Lai địa. Biết các cảnh không thật, không bị ràng buộc thì trở về căn bản trí. Giác thì biết rõ ràng mà không sở liễu, nghĩa là không có đối tượng để rõ, đến chỗ vô tướng thì càng ngày càng thù thắng, thuộc về sai biệt trí. Thí dụ khi thấy cảnh, thấy người gọi là mình có biết; khi không thấy cảnh, thấy người thì nói không biết. Biết mà đợi cảnh, đợi duyên mới biết thì thuộc thức. Còn khi không cảnh, không duyên, tâm mình vẫn liễu liễu thường tri thì không thuộc đối đãi, không có sở liễu. Cái biết này không hề vắng mặt nhưng tại mình quên, nếu tăng trưởng nó tất nhiên thuộc sai biệt trí. Tâm ý cùng với thức Xa lìa tưởng suy nghĩ Được pháp không tưởng nghĩ Phật tử phi Thanh văn Nhẫn tịch tĩnh thắng tiến Như Lai trí thanh tịnh Sanh ra nghĩa thiện thắng Đã làm thảy xa lìa. Nếu cả ba, tâm, ý, ý thức xa lìa được tưởng suy nghĩ, lúc đó được pháp không tưởng nghĩ, tức được tâm thể lặng lẽ không nghĩ tưởng thì Phật tử này không phải hàng Thanh văn. An nhẫn chỗ tịch tĩnh lặng lẽ mà thắng tiến là trí thanh tịnh của Như Lai, sanh nghĩa thiện thù thắng, những việc đã tạo tác bên ngoài đều xa lìa hết. Đây tức nơi tâm, ý, ý thức mà được trí thanh tịnh Như Lai, chẳng phải Nhị thừa đến được. Tâm, ý, ý thức đương thể toàn không, chỉ hay lìa các phân biệt thì được pháp thể vô phân biệt, liền khéo vào nhẫn tịch diệt đến trí địa thanh tịnh Như Lai. Do trí thanh tịnh Như Lai đều từ pháp vô phân biệt mà sanh. Pháp vô phân biệt tức là nghĩa thiện thắng. Pháp thiện thắng vô phân biệt này tức là thể của suy nghĩ phân biệt. Vì mê nên y thể khởi vọng, vì giác nên thể hợp tưởng dừng, bản trụ hiện tiền tâm hành chóng hết. Đó là nghĩa đế vô phân biệt tối thắng vậy. Nghĩa là có đủ tâm, ý, ý thức nhưng không cho chạy theo cảnh, theo pháp trần, lặng lẽ thanh tịnh thì chúng ta trở về chỗ nhẫn tịch diệt. Đó là trí địa thanh tịnh của Như Lai, vượt hẳn Thanh văn. Vô phân biệt là biết mà không phân biệt, không phân biệt thì không động, không động thì không sanh diệt, cái biết này là trí. Vô phân biệt là thể của phân biệt, của thức. Thức và trí rất gần nhau, nhà thiền thường nói giống như ngỗng chúa uống sữa chừa nước. Biết mà không phân biệt là trí, mê thì khởi vọng thành tướng sanh diệt là thức. Trở về bản thể vô phân biệt là giác, mà hợp với thể thì vọng tưởng dừng, bản trụ hiện tiền, tâm hành chóng hết. Đó là chỗ chân thật, vô phân biệt tối thắng vậy. Nhẫn có năm: phục, tín, thuận, vô sanh, tịch diệt. Từ Tam hiền cho đến Phật địa chỗ chứng có sâu cạn. Về tịch diệt nhẫn đến địa thứ mười là Pháp vân mới chứng, bậc Đẳng giác và Diệu giác Phật địa các hoặc đoạn hết cũng nhiếp thuộc nhẫn này. Bốn nhẫn đầu: Phục nhẫn, đè dẹp được vọng tưởng, tạm yên. Tín nhẫn, tin được pháp thể chân thật. Thuận nhẫn, tùy thuận với pháp thể. Vô sanh nhẫn, an trú được chỗ vô sanh diệt. Các nhẫn này thuộc về các bậc từ Hiền đến Thánh, tùy chỗ chứng sâu cạn. Tịch diệt nhẫn từ Bồ-tát thập địa đến Phật là trên hết. Ta có ba thứ trí Thánh vạch mở chân thật Nơi kia suy nghĩ tưởng Đều nhiếp thọ các tánh Nhị thừa chẳng tương ưng Trí lìa các sở hữu Chấp trước nơi tự tánh Từ các Thanh văn sanh Vượt qua các tâm lượng Như Lai trí thanh tịnh. Ba thứ, tức trong chánh văn biết ba thứ sanh diệt v.v... ba thứ hay biết này tức là trí thể thanh tịnh chân thật của Như Lai. Bởi vọng suy nghĩ khởi các nhiếp thọ, liền nhiếp thọ các pháp. Cùng nhiếp thọ không tương ưng tức thuộc Nhị thừa. Nếu đạt pháp tánh không thật có thì nhiếp thọ chóng lìa, liền đồng thánh trí. Cho nên biết, Nhị thừa chỉ đối với không thật có mà vọng sanh chấp trước, bèn thành tâm lượng. Siêu vượt nơi đây liền đó thanh tịnh chẳng phải lại riêng có Như Lai trí. Phật có ba thứ trí, ngài vạch mở cho lẽ chân thật. Nếu cứ suy nghĩ, phân biệt đều thuộc về các tánh tức là các cái có. Nhị thừa chẳng hợp chỗ phân biệt. Lìa các sở hữu chấp trước nơi tự tánh của Thanh văn, vượt qua các tâm lượng thì là trí thanh tịnh của Như Lai. Nếu suy nghĩ đuổi theo thu nhiếp các pháp, đó là vọng tưởng, thuộc phàm phu ngoại đạo. Thấy các pháp bên ngoài vô thường, khổ, tâm không dính mắc thì thuộc Nhị thừa. Thấu suốt tất cả pháp không thật có, không chấp thì đồng thánh trí. Nhị thừa chỗ không thật có mà cho là vô sanh, là Niết-bàn... thành tâm lượng. Siêu vượt nơi đây liền thành thanh tịnh, chẳng phải có Như Lai trí riêng. c. Chỉ ngoại đạo chuyển biến chẳng lìa vọng thức (Phân làm hai phần) c1. Nêu danh tướng ngoại đạo chuyển biến Lại nữa, Đại Huệ! Ngoại đạo có chín thứ chuyển biến luận, mà kiến chấp ngoại đạo chuyển biến sanh. Nghĩa là: Hình xứ chuyển biến, Tướng chuyển biến, Nhân chuyển biến, Thành chuyển biến, Kiến chuyển biến, Tánh chuyển biến, Duyên phân minh chuyển biến, Sở tác phân minh chuyển biến, Sự chuyển biến. Đại Huệ! Ấy gọi là chín thứ kiến chấp chuyển biến, các ngoại đạo nhân đó khởi ra có không, sanh chuyển biến luận. Có chín thứ chuyển biến luận này nên ngoại đạo có kiến chấp chuyển biến sanh. Thế nào là Hình xứ chuyển biến? Nghĩa là hình xứ thấy khác, thí như vàng biến làm các món vật thì có các thứ hình xứ hiển hiện, chẳng phải tánh vàng có biến đổi. Tất cả tánh biến cũng lại như thế. Phật chỉ giải một chuyển biến cũng đủ hiểu những chuyển biến kia. Hình là hình tướng, xứ là nơi chốn. Nhân hình tướng, nơi chốn đổi khác mà chúng ta đặt tên khác. Thí dụ như vàng làm thành các món trang sức hoa tai, cà rá, vòng, xuyến hình tướng khác nhau, chỗ nơi cũng khác, cách dùng cũng khác. Tuy chuyển biến về hình thức và nơi chốn nhưng thể của chúng vẫn là vàng. Thế gian có muôn hình vạn trạng chuyển biến nhưng gốc từ tâm thức mê hiện ra, không thật. Ngoại đạo không nhận ra thể, chạy theo các tướng đổi thay sanh chuyển biến hý luận có không. Mọi thứ chuyển biến khác cũng như thế. Hoặc có ngoại đạo khởi vọng tưởng như thế cho đến vọng tưởng sự biến, vì vọng tưởng kia chẳng phải như, chẳng phải khác. Ngoại đạo chín thứ chuyển biến nhân nơi thân tứ đại năm uẩn và tất cả pháp hữu vi ở thế gian hiện thấy ở trước mắt, nhân quả sanh diệt thành bại khổ vui, các thứ dời đổi thật có như thế, tạo thành định luận. Lập ra định luận là lập luận cố định. Họ chẳng biết tự tâm hiện ra, như vàng làm các món trang sức, vàng không cố định là món trang sức, món trang sức chẳng ngoài vàng, chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải có chẳng phải không. Vì mê nên thấy rõ ràng, vì giác nên thấy như huyễn. Duy thức luận nói là “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Tất cả do tự tâm hiện, như vàng tuy không phải là các món trang sức cố định nào, nhưng các món trang sức không ngoài vàng, không một không khác, không phải có, không phải không. Mê cho là thật, giác thấy như huyễn. Tùy duyên bất biến là theo duyên dường như biến đổi nhưng thật thể chẳng đổi, bất biến tùy duyên như vàng không đổi nhưng theo duyên làm thành bông tai, cà rá... Như Lai nêu ra chỗ này, tuy chỉ cái sở do vọng chấp của ngoại đạo, cũng là vì tất cả chúng sanh trong thiên hạ ở đời sau và người tu hành, dẹp trừ chướng hý luận trước mắt. Do đạt tự tâm hiện ra thật không có tự tánh. Hình tức là uẩn thân, thân có lưu chuyển trong sáu đạo, tướng có đẹp xấu không nhất định. Hình tướng có nhân, nhân đủ thì quả thành, thấy già trẻ nhiều thay đổi, tánh khổ vui chóng đổi thay. Duyên sanh ra rõ ràng, pháp duyên sanh rành rẽ, năng sở đã đủ thì việc sanh sáng tỏ. Đây là chín thứ chuyển biến, ngoại đạo y theo đó thành kiến chấp hữu nhân vô nhân. Lại nêu lên hình xứ là toát yếu hết chín thứ, dùng vàng và trang sức làm dụ, lìa vàng nói trang sức cũng tức trang sức nói vàng, chẳng phải tức, chẳng phải ly, là tức là ly, đồng với hý luận, thảy do vọng tưởng. Đây cũng thuộc về thức. Hý luận là lý luận một cách vô ích như trò đùa. Ngoại đạo do vọng chấp mà lập luận. Chúng ta biết các pháp đều do tự tâm hiện, không thật. Hình lưu chuyển, tướng đẹp xấu, có nhân thành quả, thấy già trẻ... đủ chín thứ chuyển biến, ngoại đạo theo đó chấp có nhân, không nhân... Phật dùng một Hình xứ chuyển biến gồm luôn chín thứ, cho là đồng với hý luận, do vọng tưởng thuộc về thức. c2. Chỉ chuyển biến không tánh, đều do vọng thức và bài tụng Như thế, tất cả tánh chuyển biến nên biết như sữa, lạc, rượu, trái v.v... đã chín. Ngoại đạo chuyển biến vọng tưởng, kia cũng không có chuyển biến. Hoặc có hoặc không tự tâm hiện ra ngoại tánh, phi tánh. Đại Huệ! Như thế, chúng sanh phàm ngu tự vọng tưởng tu tập sanh. Đại Huệ! Không có pháp hoặc sanh hoặc diệt, như thấy sắc huyễn mộng sanh. Lại nêu tất cả pháp như sữa, lạc, rượu, trái v.v... hiện thấy chuyển biến để thấy ngoại đạo y đây mà khởi vọng tưởng chuyển biến. Song tất cả pháp không có tánh chuyển biến. Sữa không có tánh lạc, trái không có tánh rượu, do nhân duyên biến đổi hoặc có hoặc không, đều là tự tâm hiện mà không có tự tánh. Như thấy tất cả sắc tướng mộng huyễn, nó chẳng phải sanh chẳng phải diệt, chẳng phải có chẳng phải không. Phàm ngu không biết cho là tự tu tập sanh, vọng thấy có thật pháp. Các pháp biến hiện không có thực thể đều do vọng thức mà thành. Như sữa không có tánh lạc, trái không có tánh rượu do duyên chuyển biến, không thật, không cố định cho nên không tự tánh, như mộng như huyễn. Đã như mộng huyễn thì thật không chuyển biến mà ngoại đạo lại nương đó khởi vọng tưởng chuyển biến, không sanh diệt mà phàm ngu cho là tự tu tập sanh thấy có pháp thật, không biết đều tự tâm hiện. Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ: Hình, xứ, thời, chuyển biến Tứ đại chủng các căn Trung ấm thứ lớp sanh Vọng tưởng phi minh trí. Tối Thắng đối duyên khởi Chẳng như vọng tưởng kia Song thế gian duyên khởi Như thành càn-thát-bà. Thấy tứ đại các căn có hình, xứ, thời, tướng của chuyển biến và thân trung ấm thứ lớp sanh trưởng, đều là vọng tưởng, chẳng phải minh trí. Thế gian duyên khởi như thành càn-thát-bà, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải một chẳng phải khác. Chư Phật Như Lai quyết chẳng ở nơi duyên khởi có không mà có chút ít phân biệt, như kẻ vọng chấp kia. Hiện sanh là tiền ấm, hậu sanh là hậu ấm. Xả hiện sanh chưa đến hậu sanh, khoảng giữa có hiện thân, gọi là trung ấm. Nếu chấp vào tướng của chuyển biến như hình, xứ, thời, từ đó có bốn đại chủng và các căn sanh, rồi tới thân trung ấm thứ lớp sanh thì là vọng tưởng không phải minh trí. Thế gian do duyên khởi như thành càn-thát-bà, còn gọi là lầu sò chợ bể, ảo ảnh thường xảy ra với người đi biển. Bồ-tát và Phật chẳng ở nơi đây phân biệt như những người vọng tưởng kia. 3. RIÊNG Y NGỮ THỦ NGHĨA THÀNH CHẤP SÂU KÍN (Phân làm năm phần) a. Đại Huệ thưa hỏi Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói nghĩa tất cả pháp tương tục và nghĩa giải thoát. Nếu khéo phân biệt tướng tất cả pháp tương tục và chẳng tương tục thì con và các Bồ-tát hiểu rành tất cả tương tục phương tiện khéo léo, chẳng rơi vào như nghĩa đã nói, chấp trước tương tục. Chúng con khéo đối với tướng tất cả pháp tương tục, chẳng tương tục và lìa ngôn thuyết văn tự vọng tưởng giác, dạo đi tất cả cõi nước chư Phật, vô lượng đại chúng, lực tự tại thông, được ấn tổng trì, các thứ biến hóa, hào quang chiếu sáng, giác tuệ khéo nhập mười vô tận cú, không có hạnh phương tiện, ví như nhật nguyệt, ma-ni, tứ đại. Đối tất cả địa lìa kiến chấp tướng vọng tưởng của mình, thấy tất cả pháp như mộng huyễn v.v... nhập thân Phật địa. Đối tất cả chúng sanh giới tùy chỗ họ mong mỏi mà vì nói pháp, dẫn đường cho họ, đều khiến họ an trụ, tất cả các pháp như mộng huyễn v.v... lìa các loại có không và vọng tưởng sanh diệt, khác với nghĩa ngôn thuyết, thân kia chuyển biến thù thắng. Đoạn này Bồ-tát Đại Huệ xin đức Phật chỉ cho rõ ràng nhân nào khiến chúng sanh tiếp tục luân hồi sanh tử và nhân nào khiến được giải thoát. Nếu biết được nhân giải thoát, các vị Bồ-tát sẽ nương đó tu hành đạt kết quả tốt đẹp, để tới cứu cánh là Phật địa và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, theo nguyện vọng của họ, hướng họ tới chỗ thù thắng. Đoạn này duyên ngôn thuyết nghĩa chấp trước, muốn Thế Tôn phát minh được nhân ngôn thuyết vào đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ, để tiến đến cứu cánh không rơi vào lối tẽ. Duyên ngôn thuyết nghĩa chỗ chấp sâu kín giác tưởng chẳng dứt, cho nên nói tương tục. Nhị thừa, Nhất thừa đồng có cái chướng này, nên nói chấp pháp. Như nhân Thánh giáo nói “năm uẩn vô ngã”, Nhị thừa duyên đây vào quán vô ngã, chứng nhân vô ngã cho là thật có pháp năm uẩn, thật có pháp đã chứng vô ngã. Cái chướng này đến Thất địa, chưa vào Bát địa còn không thể khỏi. Nếu pháp vô ngã thì vi tế sở tri đến Phật địa mới hết. Sở tri tức là lý không sở chứng. Trí không năng chứng vừa còn sở liễu thì đối với đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ còn chưa viên mãn. Đây là tột cùng tế tướng tương tục. Nhân ngôn thuyên của Phật để đi tới các cõi Phật không mắc kẹt lối tẽ. Nhị thừa, nhất thừa tức hàng Bồ-tát vẫn còn chỗ chấp sâu kín giác tưởng tương tục gọi là chướng chấp pháp. Như Nhị thừa cho pháp năm uẩn là thật có, pháp chứng vô ngã có thật. Chướng này đến Bát địa mới hết, nhưng pháp vô ngã thì phần sở tri vi tế đến Phật địa mới phá được. Sở tri là lý không sở chứng tức lý vô ngã. Chấp vào đây là còn sở liễu tức còn chỗ rõ mình không chỗ chứng thì chưa viên mãn. Đây là chỗ chấp tương tục rất vi tế. Song, nếu Bồ-tát hiểu rành phương tiện cũng không rơi vào cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng giác mà được giải thoát, tổng trì giác tuệ, dùng giác tuệ này dạo đi tất cả cõi Phật, thần thông biến hóa, chợt hay nương mười nguyện vô tận như nhật, nguyệt, ma-ni, tứ đại, soi khắp mười phương không dừng không mắc. Trải tất cả địa, lìa kiến chấp các tướng, đạt pháp như huyễn, được thân cõi cứu cánh của Như Lai. Nhiên hậu tùy căn cơ chúng sanh mà vì dẫn đường, như chỗ mình hiểu, chóng trừ có không sanh diệt, siêu tất cả ngôn thuyết vọng tưởng tương tục. Nếu Bồ-tát biết rành phương tiện thì không mắc kẹt vào ngôn thuyết vọng tưởng, được giải thoát, có đủ thần thông dạo khắp cõi Phật, trải khắp các địa lìa các kiến chấp đạt pháp như huyễn, cho đến cõi cứu cánh của Phật. Sau đó dẫn đường chúng sanh trừ hết sanh diệt, vượt ngôn thuyết vọng tưởng tương tục. Cho nên biết ngoại đạo Nhị thừa đều do chẳng rành phương tiện, chấp ngôn thuyết vọng tưởng, không thể phát minh giác tuệ giải thoát. Đây là lý do phân trí cùng thức, sự xoay chuyển của mê với giác vậy. Ý Bồ-tát Đại Huệ thỉnh chỗ then chốt sâu kín. Thập vô tận cú, trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát được Sơ Hoan hỷ địa phát nguyện rộng lớn như pháp giới, dùng thập vô tận mà được thành tựu, thập cú này có tận thì nguyện ta có tận, do thập cú này không tận nên nguyện ta không tận. 1/ Chúng sanh giới vô tận. 2/ Thế giới vô tận. 3/ Hư không giới vô tận. 4/ Pháp giới vô tận. 5/ Niết-bàn giới vô tận. 6/ Phật xuất hiện giới vô tận. 7/ Như Lai trí giới vô tận. 8/ Tâm sở duyên vô tận. 9/ Phật trí sở nhập cảnh giới vô tận. 10/ Thế gian chuyển, pháp chuyển, trí chuyển vô tận. Như nhật, nguyệt, ma-ni, tứ đại là nhật, nguyệt đi trong không chẳng nương gá, ma-ni tùy phương hiện sắc không có tự tánh, đất nước lửa gió khắp giáp pháp giới không có chướng ngại. Ngoại đạo Nhị thừa không rành phương tiện vì chấp ngôn thuyết mà sanh vọng tưởng, không phát minh được giác tuệ giải thoát. Đây là lý do trí khác thức, mê khác giác vậy, là chỗ then chốt sâu kín mà ngài Đại Huệ hỏi. Mười vô tận cú ở trên là của Bồ-tát Sơ địa dùng để thành tựu đại nguyện rộng lớn như pháp giới. b. Chỉ ra mười một thứ tương tục sâu kín Phật bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Vô lượng tất cả pháp như nghĩa đã nói, chấp trước tương tục. Nghĩa là Tướng kế trước tương tục, Duyên kế trước tương tục, Tánh phi tánh kế trước tương tục, Sanh bất sanh vọng tưởng kế trước tương tục, Diệt bất diệt vọng tưởng kế trước tương tục, Thừa phi thừa vọng tưởng kế trước tương tục, Hữu vi vô vi vọng tưởng kế trước tương tục, Địa địa tự tướng vọng tưởng kế trước tương tục, Tự vọng tưởng vô gián vọng tưởng kế trước tương tục, Hữu vô phẩm ngoại đạo y vọng tưởng kế trước tương tục, Tam thừa nhất thừa vô gián vọng tưởng kế trước tương tục. Phật nói sở dĩ chúng sanh bị luân hồi sanh diệt không dừng bởi do mười một chấp trước này luôn tiếp nối, sâu kín tế nhị khó thấy không thể dễ dàng trừ bỏ. Tướng tức là Nhị thừa chấp pháp tướng năm uẩn và trí tướng pháp vô ngã của Thập địa đều là tướng. Duyên tức là nhân duyên cũng là chỗ chấp của Nhị thừa và duyên tự giác liễu, vừa có chỗ nương đều là pháp duyên. Duyên là chỉ cho cái này nương tựa vào cái kia, còn có chỗ tựa là chưa đến cứu cánh. Tánh vẫn là pháp. Tánh phi tánh, sanh bất sanh, diệt bất diệt, thừa phi thừa, vi vô vi đều là chỗ chấp đối đãi của thế gian và xuất thế gian. Tất cả tướng đối đãi, hoặc hữu vi vô vi, hoặc là sanh chẳng sanh... dù thế gian hay xuất thế, còn thấy thật có pháp này đối với pháp kia, tức là còn hỗ tương qua lại, chưa phải chân thật độc lập. Địa địa tự tướng là địa địa đều không thật pháp. Kinh Hoa Nghiêm một địa tức đủ các địa, lại các địa mỗi mỗi vào một địa, như lưới châu của trời Đế-thích lẫn nhau nhiếp nhập không có tự tánh. Thiết lập tướng mỗi địa là phương tiện, tánh giác là thể chung. Đứng về mặt tu chứng thì có cao thấp cạn sâu, nhưng trí tuệ thì dung hợp không có chia riêng, nên kinh Hoa Nghiêm nói trong mỗi địa đều có các địa như lưới trời Đế-thích, hạt châu trong lưới thì có tướng riêng, nhưng ánh sáng hạt này chiếu lẫn vào hạt kia, tánh sáng dung hợp vô ngại. Nếu có địa tướng sở chứng liền có tự tướng năng chứng, nên nói “tự vọng tưởng”. Hữu vô phẩm tức là trước nương nơi có và nhận tánh tham sân si, về sau nói không, đều y Thánh ngôn thành tăng thượng mạn, phá hoại Phật pháp đồng với ngoại đạo ấy vậy. Tam thừa nhất thừa cũng là Thánh giáo đã nói, không biết phương tiện, nhân lời nói nhận nghĩa rồi chấp cho là thật pháp, thảy đều thuộc về tương tục. Phật nói tam thừa hay nhất thừa đều là tùy cơ, tùy phương tiện. Nếu nghe phương tiện liền chấp chặt cho là có thật, có tam thừa, đó cũng còn trong vọng tưởng. c. Chỉ tương tục sâu kín tự hoại hoại người Lại nữa, Đại Huệ! Đây cùng chúng sanh phàm ngu khác tự vọng tưởng tương tục. Bởi cái tương tục này mà phàm ngu vọng tưởng, như tằm nhả tơ làm kén; do tơ vọng tưởng tự trói trói người, tướng có không có tương tục chấp trước. Nương trước suy rộng ra lại có vô lượng thứ chấp trước sâu kín. Tự trói trói người đây đều y ngôn thủ nghĩa vọng sanh tướng khác cho là bí mật. Tự hoại lại hoại chánh pháp làm chướng chúng sanh, rất đáng thương xót, là lý do Như Lai không ngớt thương xót. Phật kể cái hại của chấp tương tục. Từ vọng tưởng này tương tục tạo đủ thứ vọng tưởng, chấp tướng có không, buộc trói chúng sanh luân hồi trong tam giới, như tằm nhả tơ làm kén tự bao bọc chính mình, kết cuộc bị bỏ vào nồi, tự chịu khổ bị hoại, rất đáng thương xót. d. Chỉ các pháp tịch tĩnh, xa lìa tương tục và chẳng tương tục Lại nữa, Đại Huệ! Trong kia cũng không tướng tương tục và chẳng tương tục, vì thấy tất cả pháp tịch tĩnh nên vọng tưởng chẳng sanh. Đại Bồ-tát thấy tất cả pháp tịch tĩnh. Lại nữa, Đại Huệ! Giác ngoại tánh phi tánh, tự tâm hiện tướng không thật có, tùy thuận quán sát tự tâm hiện lượng, có không tất cả tánh không tướng thì thấy tương tục tịch tĩnh. Cho nên đối tất cả pháp không tướng tương tục và chẳng tương tục. Lại nữa, Đại Huệ! Trong kia không có hoặc trói hoặc mở, những người rơi vào giác tri không như thật thấy có trói có mở. Vì cớ sao? Vì đối tất cả pháp có không có, không chúng sanh có thể được. Cũng không tướng tương tục và chẳng tương tục, lại vì người chấp chẳng tương tục mà nói. Được tự giác đệ nhất nghĩa thấy tất cả pháp tịch tĩnh thì vọng tưởng chẳng sanh, tương tục cùng chẳng tương tục thảy thành hý luận. Sở dĩ như thế, vì giác tất cả pháp bên ngoài không có tự tánh, do tự tâm hiện như huyễn như mộng đều không thật có. Quán sát như thật giác tự tâm lượng thì có không đều dứt, thuần một tịch tĩnh, không tướng tương tục nên cũng không tướng chẳng tương tục. Nếu có trói có mở đều rơi vào không giác tri như thật, chẳng phải tất cả pháp tự tướng chân như. Tất cả pháp tự tướng chân như thì có không có đều không chủ tể. Đây là tự giác đệ nhất nghĩa trong ngoài tương ưng. Bản thân các pháp là tịch tĩnh nên vọng tưởng chẳng sanh do đó không có tướng tương tục và chẳng tương tục, chỉ vì người chấp mà nói. Tại sao? Vì chúng ta luôn chạy theo vọng tưởng, duyên tướng giả dối của sáu trần, rồi thấy sáu trần động, vọng tưởng chúng ta cũng biến động theo. Như khi coi phim, chúng ta thấy hình ảnh qua lại, nói năng nhưng đó chỉ là bóng không thật có, vậy mà chúng ta duyên theo nó khóc cười. Nếu biết là huyễn không thật có, thể của chúng vốn tịch tĩnh thì có gì là tương tục hay chẳng tương tục? Trói hay mở cũng vậy, chỉ vì không biết, không thấy rõ nên mới có. Thí dụ người ghiền rượu được bạn khuyên bỏ rượu vì những tai hại của nó. Một hôm cùng người bạn ấy đi ngang qua quán rượu, gặp bạn nhậu cũ rủ rê. Anh ta muốn bước vào nhưng bạn ngăn lại khuyên lơn rồi dẫn qua luôn. Lúc muốn bước vào là suýt bị trói, bây giờ qua luôn là mở. Trói là do còn chấp, còn bệnh, thấy duyên hợp với bệnh mình thì thích nên vướng vào. Gỡ ra được gọi là mở. Nếu thấy các pháp không thật đều từ tự tâm hiện thì không chấp, không bệnh, không bị trói thì đâu cần mở? Như vậy trói mở là cái thấy của phàm phu, không thấy được các pháp có không đều không chủ tể, không cả tướng chúng sanh. Người trí thấy được tự tướng chân như của các pháp, đó là tự giác đệ nhất nghĩa trong ngoài tương ưng. Lại nữa, Đại Huệ! Kẻ ngu có ba thứ tương tục. Nghĩa là tham, sân, si và ái, vị lai có ái hỷ chung. Do tương tục này nên có thú tương tục. Tương tục ấy là tiếp nối trong ngũ thú. Đại Huệ! Tương tục dứt thì không có tướng tương tục cùng chẳng tương tục. Lại nữa, Đại Huệ! Ba hòa hợp duyên tạo phương tiện chấp trước nên thức tương tục vô gián sanh. Phương tiện chấp trước thì có tương tục. Ba hòa hợp duyên thức dứt thì thấy ba giải thoát, tất cả tương tục chẳng sanh. Kẻ ngu có ba thứ tương tục, Nhị thừa nương tương tục này chứng chẳng tương tục, thành kiến chấp chẳng tương tục. Cho nên Như Lai đặc biệt gọi đó bảo “tương tục dứt thì không có tướng tương tục chẳng tương tục”. Tham sân si là nhân tương tục. Nhân này từ vô minh bất giác liền sanh kiến tướng nên nhân pháp rõ ràng, phiền não y đó mà khởi. Do cái ái ấy đến sanh đời sau cùng tham hỷ chung. Bởi cái tương tục này bèn thành ngũ thú. Nhị thừa tuy đoạn nhân tương tục mà chẳng biết vô minh bất giác thảy đồng huyễn hóa, lầm cho là có tướng nên đoạn, nên nói “chấp pháp”. Người ngu có ba thứ tương tục là tham sân si ái, đời sau có ái và hỷ là ưa thích hợp lại, dẫn chúng sanh đến các cõi, nghĩa là thú tương tục, tiếp nối trong ngũ thú. Muốn dứt sanh tử trong lục đạo hay ngũ thú, phải hết nhân tương tục tham sân si là những thứ thô nhất. Nhân này do vô minh bất giác mà sanh kiến phần, tướng phần thành nhân pháp rõ ràng rồi khởi phiền não. Nhị thừa đoạn nhân tương tục, chứng chẳng tương tục, ngược lại thành chấp pháp chẳng tương tục, mà không biết thảy đều huyễn hoá. Phật dạy: Tương tục dứt thì không có tướng tương tục cùng chẳng tương tục. Nghĩa là chỉ dứt tương tục là đủ. Thí dụ hành thập thiện chỉ là đừng làm mười điều ác, chứ không thêm gì cả. Ba hòa hợp duyên phương tiện chấp trước thức sanh, ba hòa hợp tức căn, trần, thức. Thức này tuy gồm tám thức, song thủ nghĩa này thì chỉ thức chấp ngã thứ bảy. Thức này Nhị thừa chỉ đoạn nhân chấp ngoại ngã. Ngoại ngã này đoạn không có người nhiếp thọ thì nhân sanh trong tam giới tự đoạn. Bởi vô minh chưa đoạn nên kiến phần nội ngã vẫn còn. Nội ngã tức là pháp ngã. Do có pháp ngã nên khi nhân sanh đoạn khởi tưởng chẳng tương tục, chẳng phải chân giải thoát. Nếu thức thứ bảy nội ngă ngoại ngã đều đoạn thì thấy ba môn giải thoát của Đại thừa là tất cả tương tục chẳng sanh. Nhị thừa khởi tướng chẳng tương tục vẫn là nhân nói thủ nghĩa. Cái tương tục này lại là sâu kín, đến chứng giải thoát mới hay hằng đoạn. Ba giải thoát là Không, vô tướng, vô nguyện. Vô nguyện mới đặc biệt nhị ngã chân lạc. Thế nên vào môn này thì tất cả pháp tịch tĩnh. Thức là do căn trần hoà hợp mà sanh, nếu không hòa hợp thì tương tục dứt. Xưa có một ngoại đạo chứng ngũ thông, giảng kinh thao thao bất tuyệt. Trời Đế-thích cũng xuống nghe. Nghe xong bèn khóc. Ngoại đạo ngạc nhiên hỏi. Đế-thích trả lời: - Ngài giảng hay quá nhưng mạng ngài sắp hết. Tôi thương nên khóc. Ngoại đạo hoảng hốt nói: - Có cách gì khỏi chết? Đế-thích nói: - Thế Tôn đang ở tinh xá Trúc Lâm, ngài muốn khỏi chết nên đến đó học. Ngoại đạo y lời. Giữa đường thấy hai cây ngô đồng trổ bông rất đẹp liền nhổ lên, cầm trên hai tay đến chỗ Phật, thưa: - Con xin cúng dường Thế Tôn hai cành hoa, xin dạy con pháp khỏi chết. Phật bảo: - Buông! Ông buông một tay. Phật lại bảo: - Buông! Ông buông luôn cây ngô đồng còn lại. Phật lại bảo: - Buông! Ông thưa: - Con đã buông hết hai tay, Phật bảo con buông gì nữa? Phật bảo: - Ta không bảo ông buông hai cây ngô đồng. Ta bảo ông trong buông sáu căn, ngoài buông sáu trần, giữa buông sáu thức. Căn trần thức buông được thì giải thoát. Ngoại đạo tỉnh ngộ. Buông được thức thì mới giải thoát sanh tử, vì thức là chính. Ở đây lấy nghĩa chấp ngã của thức thứ bảy. Thức thứ bảy có hai chấp ngã. Ngoài chấp ngã thân, trong chấp kiến phần của thức thứ tám là nội ngã. Nhị thừa đã phá chấp ngã về thân nên không còn sanh trong ba cõi, nhưng nội ngã chưa dứt nên còn pháp chấp, tuy khởi tướng chẳng tương tục vẫn là nhân lời nói mà giữ nghĩa. Kinh Pháp Hoa nói là hoá thành chưa phải bảo sở. Nếu đoạn hết thì thấy ba môn giải thoát của Đại thừa: không, vô tướng, vô nguyện. Hết hai ngã là chân lạc, thế nên vào môn này thì tất cả pháp tịch tĩnh. e. Tụng chung Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ rằng: Chẳng chân thật vọng tưởng Là nói tướng tương tục. Nếu biết chân thật kia Lưới tương tục ắt đoạn Đối các tánh không biết Tùy ngôn thuyết nhiếp thọ Thí như con tằm kia Nhả tơ mà tự trói. Kẻ ngu vọng tưởng trói Tương tục chẳng quán sát. Ý bài kệ nói chỉ nhập chân thật đệ nhất nghĩa thì tương tục tự đoạn, không có tướng tương tục cùng chẳng tương tục. Kẻ ngu hiện tại bị trói trong tương tục, bởi không khéo quán sát y nơi ngôn thuyết thủ nghĩa vọng sanh tưởng khác. Muốn cầu giải thoát trở lại tự trói buộc, đều do chẳng được đệ nhất nghĩa tự giác vậy. Mục Lục
|