Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 7 - Kinh Lăng-già Tâm Ấn Giảng Giải - Phần II
Quyển 7

F. CHỈ CHÁNH GIÁC CHẲNG PHẢI PHÁP NHÂN QUẢ, NÓI LÌA SANH DIỆT, HIỂN BÀY CHÂN THƯỜNG KHÔNG CẤU, CHÓNG VƯỢT CÁC ĐỊA (Phân làm bảy phần)

I- CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI CHẲNG PHẢI NHÂN QUẢ

1. HỎI PHÁP THÂN NHƯ LAI LÀ NHÂN LÀ QUẢ

Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói Tam-miệu-tam-phật-đà (Samyaksam buddha - Đẳng chánh giác), con và các vị đại Bồ-tát khéo nơi Như Lai tự tánh tự giác giác tha. Phật bảo Đại Huệ: Cho ông tùy ý hỏi, ta sẽ vì ông theo chỗ hỏi mà đáp. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác là tác chăng? Là chẳng tác chăng? Là sự chăng? Là nhân chăng? Là tướng chăng? Là sở tướng chăng? Là thuyết chăng? Là sở thuyết chăng? Là giác chăng? Là sở giác chăng? Những câu như thế là khác hay chẳng khác?

Trước tiên muốn hiển bày pháp thân Như Lai nên ngài Đại Huệ đặt câu hỏi. Pháp thân này là có tạo tác hay không có tạo tác? Là sự hay là nhân?... Đây là dùng đối đãi để hỏi pháp thân thuộc về bên nào trong hai bên, nhắm trừ sạch nghi lầm cho chúng sanh đời sau, nên đại diện đưa ra câu hỏi.

Sắp hiển bày giác tánh Như Lai chẳng phải nhân chẳng phải quả cứu cánh rành rõ thuần nhất không lỗi.

Thông thường chúng ta cho rằng tu là nhân, thành Phật là quả, tại sao ở đây nói Như Lai cứu cánh chẳng phải nhân chẳng phải quả? Chúng ta nên hiểu rõ nhân và quả, nhân tu mà được kết quả thì kết quả đó là do tạo tác, tướng tạo tác là tướng sanh diệt. Quả Phật không sanh diệt, vì vậy nói chẳng phải quả. Tất cả chúng ta tu không làm gì thêm cho Phật tánh, chúng ta dẹp sạch phiền não thì Phật tánh hiển lộ. Tánh giác nơi mỗi chúng sanh vốn sẵn đủ, chỉ vì bị phiền não khách trần che lấp, nên khi dụng công tu đến rốt ráo là nhận lại Phật tánh của chính mình, không thêm không bớt không nhơ không sạch, nên nói thuần nhất không lỗi.

Tam-miệu-tam-phật-đà dịch là Đẳng chánh giác cũng dịch là Chánh biến tri. Như Lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác là ba trong mười hiệu. Ở đây hỏi về pháp thân Như Lai nêu ba tức gồm nhiều hiệu. Chữ tác là nghĩa tu khởi. Chỗ y cứ khởi tạo tác là nhân, việc tạo tác thành hình là quả. Chữ sự là quả. Nhân tướng là tướng, quả tướng là sở tướng. Thuyết là người nói, sở thuyết là lý nói ra. Giác là người tri giác, sở giác là cảnh sở tri. Những câu như thế là khác hay chẳng khác, là tác cùng chẳng tác v.v... Nay điệp chấp đều thành bốn câu. Bởi vì muốn hiển bày pháp thân lìa tứ cú cứu cánh rành rõ.

2. CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI CHẲNG PHẢI NHÂN QUẢ XA LÌA TỨ CÚ

Phật bảo Đại Huệ: Như Lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác, đối những câu như thế chẳng phải sự chẳng phải nhân. Vì cớ sao? Vì đều có lỗi vậy. Đại Huệ! Nếu Như Lai là sự thì hoặc tác hoặc vô thường. Vì vô thường nên tất cả sự ưng là Như Lai, đều là chỗ chẳng muốn của ta và chư Phật. Nếu chẳng phải sở tác thì không sở đắc, là phương tiện ắt không, đồng với sừng thỏ và con thạch nữ, vì không thật có.

Nếu Như Lai hay Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là vô thường, thì tất cả việc tạo tác trên thế gian đều là vô thường, đó là chỗ Phật Thích-ca và chư Phật không chấp nhận. Vì nếu tu để đạt đến quả vô thường sanh diệt thì ở thế gian cũng có, chư Phật cũng vô thường không khác thế gian. Nhưng nếu không do phương tiện tạo nên quả Phật thì giống như sừng thỏ và con thạch nữ, tức là hoàn toàn không có.

Đại Huệ! Nếu không sự không nhân thì chẳng phải có chẳng phải không. Nếu chẳng phải có chẳng phải không thì ra ngoài tứ cú. Tứ cú thuộc về ngôn thuyết của thế gian. Nếu ra ngoài tứ cú thì chẳng rơi vào tứ cú. Vì chẳng rơi vào tứ cú nên người trí nhận giữ. Tất cả cú nghĩa của Như Lai cũng như thế, người tuệ nên biết.

Ở đây đức Phật giải thích đoạn trên, phàm cái gì không tạo tác thì không sở đắc. Không sở đắc thì không có phương tiện tạo ra, như vậy là danh từ rỗng, giống như sừng thỏ và con thạch nữ. Pháp thân Như Lai không do tạo tác, không phải pháp nhân quả nhưng không phải không có. Vì chẳng phải có, chẳng phải không nên không nằm trong tứ cú, không nằm trong ngôn thuyết đối đãi thế gian. Đó là chỗ người trí tự nhận, không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt.

Tóm hết các câu hỏi trên không ra ngoài hai nghĩa nhân và quả. Cho nên chỉ nêu sự và nhân để rõ tự tánh pháp thân Như Lai chẳng phải nhân chẳng phải quả. Nếu là sự thì do tạo ra, mà Vô thượng chánh chân chẳng đồng với pháp tu tạo vô thường ở thế gian. Nếu chẳng phải tác thì ngại không được, mà tự tánh trang nghiêm lìa chướng hiển bày vô lượng công đức vi diệu, chẳng phải là nghĩa rỗng không. Cho nên biết, chẳng phải sở tác, ấy là không sự. Nhưng chẳng phải chẳng tác thì phương tiện đạt được phải do nhân mà rõ. Song, giác thể sẵn có là từ liễu nhân được, chẳng phải từ sanh nhân mà được, ấy là không nhân.

Đây là lập luận để cho rõ nghĩa pháp thân Như Lai không phải do tạo tác, không phải là kết quả tu tập. Pháp thân tự thể sẵn có vô lượng công đức trang nghiêm, diệu dụng lợi ích chúng sanh chẳng phải là rỗng không vô nghĩa. Giác thể sẵn có là nghĩa liễu nhân không phải sanh nhân, vì không phải sanh nhân nên nói vô nhân.

Sanh nhân là nhân sanh ra, như nhân hạt giống có cái cây, hạt giống là sanh nhân. Tất cả sanh nhân đều vô thường nên quả cũng vô thường. Phật tánh hay pháp thân chẳng phải vô thường. Mỗi chúng sanh đều sẵn có Phật tánh, như gương vốn trong sáng. Tu là lau lớp bụi phủ để gương hiển lộ, lau bụi không làm gì thêm cho tánh sáng của gương. Phương tiện tạo tác của chúng ta là liễu nhân, nghĩa là không làm cho tánh giác tăng trưởng mà chỉ làm cho vô minh phiền não sạch thì tánh giác hiển lộ. Nếu không có liễu nhân thì tánh giác có hiện ra không? Như vậy khi dẹp phiền não để tánh giác hiển lộ, đó là liễu nhân. Như ngọn đèn không sanh ra đồ vật, nhưng khi đèn sáng hết tối thì đồ vật hiện bày, ánh sáng làm hiển bày vật sẵn có nên nó là liễu nhân. Vì thế ở đây nói Phật tánh không phải sanh nhân, tức là tự tánh không sự.

Không sự (quả) không nhân thì có không chẳng mắc, tứ cú chóng lìa. Tứ cú đã lìa là chỗ tất cả ngôn thuyết chẳng đến, cú nghĩa thanh tịnh này người trí chứng được.

Câu này vừa chỉ thể thanh tịnh lìa tứ cú, cũng chỉ cho chúng ta một hướng tu hành đầy đủ. Khi chúng ta ngồi thiền, tâm không chạy theo tứ cú, tức là không khởi nghĩ có không, phải quấy, việc quá khứ tương lai... Vọng tưởng lặng thì pháp thân hiện tiền. Vọng tưởng vừa chạy theo tứ cú là bất bình thường, là tâm lay động. Tuy thấy ngồi yên tưởng như không khởi nói gì, nhưng bên trong thầm vọng động, đó là đã đánh mất thể thường nhiên thanh tịnh. Thiền sư Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền trả lời: “Tâm bình thường là đạo.” Tâm bình thường chính là tâm không dính mắc vào có không, phải quấy... chỉ một mực thản nhiên vô sự. Đạo chính là tâm bình thường đó, không phải ở nơi nào xa xôi, cũng không phải đợi có nhân duyên tạo tác. Vì thế khi ngài Triệu Châu hỏi: “Có thể nghĩ hướng đến đạo chăng?” Ngài Nam Tuyền trả lời: “Nghĩ hướng đến là trái”. Vừa khởi tâm tìm nghĩ đến đạo là trái xa. Nghĩ về đạo còn bị Tổ quở, huống chi chúng ta cả ngày nghĩ việc thị phi. Cho nên đây nói cú nghĩa thanh tịnh này người trí chứng được.

Kinh Đại Bát-niết-bàn nói: “Phật tánh tuy có mà chẳng đồng hư không. Vì cớ sao? Vì hư không ở thế gian tuy dùng vô lượng phương tiện khéo léo mà không thể thấy được, còn Phật tánh có thể thấy. Thế nên tuy có, chẳng phải như hư không. Phật tánh tuy không mà chẳng đồng với sừng thỏ. Vì cớ sao? Vì lông rùa sừng thỏ tuy dùng vô lượng phương tiện khéo léo cũng không thể được sanh. Phật tánh có thể sanh, thế nên tuy không mà chẳng đồng với sừng thỏ.”

Phật tánh tuy có mà chẳng đồng hư không. Phật tánh vô tướng, hư không cũng vô tướng, người ta nghĩ Phật tánh giống hư không. Hư không không thể thấy, cái hiện hữu trống không gọi là hư không, chẳng có tướng mạo gì để chúng ta tìm thấy được. Phật tánh tuy không tướng mạo, nhưng dùng phương tiện khéo chúng ta có thể nhận biết, thí như tánh thấy tánh nghe, khi không có cảnh vật, không có âm thanh, tánh biết vẫn rõ ràng. Cái có của hư không là cái có vô tri trống rỗng, chỗ có của Phật tánh là diệu dụng thường trụ.

Phật tánh tuy không mà chẳng đồng với sừng thỏ, lông rùa chỉ có danh mà không có thể, Phật tánh tuy không có tướng mạo nhưng Phật tánh là nguồn cội của muôn vật. Phật tánh bao trùm và phát sanh tất cả pháp, vô tướng nên không bị vô thường sanh diệt. Nói chỗ vô tướng là nói Phật tánh không có tướng biến hoại, chẳng phải không có tướng như sừng thỏ.

Tóm lại thể tánh chân thật như thế vượt ra ngoài có không, nhân quả, tánh giác hằng hữu không thể dùng suy nghĩ đo lường của thế gian mà nhận được. Như tánh thấy tánh nghe của chúng ta là nhân hay là quả? Nếu có hình sắc mới thấy thì cái thấy là quả, nhưng có hình sắc hay không hình sắc, tánh thấy vẫn đầy đủ không thiếu, chẳng phải có tướng mới thấy, không tướng thì không thấy. Vì thế nói chẳng phải nhân chẳng phải quả, ra ngoài độ lượng.

Đây là mật chỉ về Phật tánh vi diệu, chỉ hàng chân thánh tự ở trong chứng được. Như thế, thể tánh chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải nhân chẳng phải quả, ra ngoài độ lượng, nên như thế mà biết. “Bàn đại” dịch là thạch nữ. Bàn đại tử là con thạch nữ.

3. CHỈ PHÁP THÂN CHÂN NGÃ THƯỜNG LẶNG LẼ

Như ta đã nói tất cả pháp vô ngã. Phải biết nghĩa này không ngã tánh nói là vô ngã. Tất cả pháp có tự tánh không tha tánh, như trâu ngựa. Đại Huệ! Thí như chẳng phải trâu là ngựa, chẳng phải ngựa là trâu, kỳ thật chẳng phải có chẳng phải không, kia chẳng phải không tự tánh.

Phật giải thích rõ tất cả pháp vô ngã là không có chủ tể độc lập, không phải không có tự tánh. Tất cả pháp có tự tánh không tha tánh, như trong tánh ngựa không có tánh trâu, trong tánh trâu không có tánh ngựa. Kia chẳng phải không tự tánh. Thí dụ như ngựa chẳng phải không có tự tánh của ngựa.

Như thế, Đại Huệ! Tất cả các pháp chẳng phải không tự tướng. Có tự tướng ấy, nhưng chẳng phải chỗ hay biết của hàng vô ngã, ngu phu, vì vọng tưởng vậy. Như thế, tất cả pháp không, vô sanh, không tự tánh nên biết như thế.

Đoạn này giản trạch về chân ngã, tức là có tự tướng. Nhưng pháp thân chân ngã này, hàng Nhị thừa vô ngã không thể thấy. Chúng ta nghe nói tất cả pháp vô ngã thì nghĩ rằng vô ngã là không thực thể, chẳng lẽ tu thành Phật là đến chỗ không có thực thể? Thật ra nói vô ngã là nói trên tánh duyên hợp hư giả của thân năm ấm, hàng Nhị thừa chỉ thấy thân năm ấm vô ngã mà không nhận được Phật tánh chân ngã. Đến đây Phật muốn thẳng bày chân ngã thường trụ nên trước chỉ ra chỗ lầm của Nhị thừa.

Như Lai nói tự tánh pháp thân chẳng phải nhân chẳng phải quả, mà chẳng phải đoạn diệt. Cho nên ở đây lại dẫn câu pháp vô ngã để hiển bày Như Lai chân ngã. Bởi Như Lai tự tánh chân ngã thường bị pháp ngã che đậy, nên nói tất cả pháp vô ngã. Cốt để hiển tự tánh pháp thân chân như tự tướng. Nếu thấy tự tánh pháp thân chân như tự tướng thì càng biết tất cả pháp chân như tự tướng trong ngoài không chướng, trong trẻo thường lặng lẽ. Tất cả các pháp do tự tâm hiện ra, bởi tự tâm hiện nên tất cả các pháp đều không ngã tánh, cho nên nói vô ngã, hiện ra chỉ tại tâm.

Chân ngã Như Lai thường bị pháp ngã che đậy, như chúng ta có tánh giác hiện tiền nhưng không nhận ra vì quen lầm chấp thân này làm thân ta, chấp vọng tưởng làm tâm ta, cho hai cái đó là ngã thì chân ngã bị phủ che. Phật nói thân này vô ngã, tâm vọng tưởng vô ngã để phá chấp ngã. Khi không còn chấp ngã về thân tâm thì chân ngã hiện tiền.

Thí dụ có người ngủ mê, nằm mộng thấy cảnh khổ cảnh vui rồi họ vui buồn theo cảnh mộng, quên con người thật. Người tỉnh thức thấy vậy bèn kêu gọi họ thức dậy, cho biết là tất cả cảnh trong mộng đều không thật. Khi biết rõ cảnh và người trong mộng không thật thì sự mê mờ tan biến, lúc đó sống với con người thực tại không vui buồn theo chiêm bao. Phật là người tỉnh giác nhận ra được tự tánh pháp thân ai cũng sẵn đủ, chúng sanh vì mê mờ theo ngã chấp vọng tình nên không nhận ra. Ngài vạch bày cái chấp ngã không thật để chúng sanh thấy rõ tự tâm chân như trong trẻo thường lặng lẽ. Người nào thật sự hiểu được lý vô ngã, lý vô sanh của các pháp mới nhận được tự tánh chân ngã.

Tức là tất cả pháp có tự tánh, không tha tánh. Song không tha tánh tức là không ngã tánh. Bởi thế tất cả pháp nói vô ngã, vì tất cả pháp do tự tâm nên nói không tha tánh. Cho nên phàm nói tất cả pháp không, vô sanh, không tự tánh đều không có ý chỉ khác. Nên nói “chỉ có chân thức lại không có thức khác”. Đây là chỗ đến tột của người giác tự tâm hiện lượng vậy.

Các pháp nội tâm và ngoại cảnh đều là bóng dáng của tự tâm hiện, vì tự tâm hiện nên vô ngã, vô sanh. Nói các pháp không, vô sanh, không tự tánh là cốt yếu hiển bày tự tâm hiện, Duy thức học nói chỉ có chân thức, ngoài ra các thức khác đều hư vọng không thật. Chân thức chính là cảnh giới tự tâm hiện lượng, đạt được cảnh giới này gọi là tự giác thánh trí.

Tánh ngựa không phải trâu, tánh trâu không phải ngựa, để dụ không tha tánh chẳng phải không tự tánh. Không tha thì chẳng phải có, có tự thì chẳng phải không. Chẳng phải có chẳng phải không chân như tự tướng chỉ bậc chân thánh tự chứng ở trong, kẻ ngu phu phân biệt không có phần vậy.

Trở lại vấn đề tự tánh và tha tánh. Nói tự tánh là tự tâm hiện nên có tự tánh, không tha tánh là không do cái gì khác tạo, nên không tha tánh. Tự tướng chân như chẳng phải có chẳng phải không, chỗ này chỉ có bậc thánh chứng biết.

4. CHỈ PHÁP THÂN ĐỐI HIỆN PHI MỘT PHI KHÁC

Như thế, Như Lai cùng ấm chẳng phải khác, chẳng phải chẳng khác. Nếu chẳng khác ấm thì ưng vô thường; nếu khác ấm thì phương tiện ắt không; nếu hai thì ưng có khác. Như sừng trâu tương tợ nên chẳng khác, dài ngắn sai biệt nên có khác, tất cả pháp cũng như thế. Đại Huệ! Như trâu sừng bên phải khác sừng bên trái, sừng bên trái khác sừng bên phải. Như thế dài ngắn các thứ sắc mỗi mỗi khác. Đại Huệ! Như Lai đối ấm, giới, nhập chẳng phải khác, chẳng phải chẳng khác.

Pháp thân đối hiện nghĩa là pháp thân Như Lai ấn hiện trong thân năm ấm. Pháp thân này cùng với thân năm ấm có khác mà cũng chẳng khác. Nếu không khác thì pháp thân cũng vô thường như thân năm ấm, nhưng nếu pháp thân khác thân năm ấm thì phương tiện ắt không, nghĩa là pháp thân không có, không cảm nhận được thì phương tiện tu chứng trở thành vô ích.

Pháp thân và thân năm ấm là một thì không được, nếu là hai thì khác nhau, như sừng trâu. Tại sao dùng thí dụ như sừng trâu? Sừng trâu, hai bên đều là sừng như nhau, nên nói như sừng trâu tương tợ nên chẳng khác. Song nhìn kỹ thì sừng bên trái với sừng bên phải có cao thấp dài ngắn khác nhau, nên nói dài ngắn sai biệt nên có khác.

Dùng thí dụ đó để nói pháp thân và thân năm ấm chẳng phải một chẳng phải khác. Pháp thân và tất cả các pháp ấm, giới, nhập đều như thế. Ngôn ngữ không thể diễn tả được tính cách của pháp thân trong năm ấm, nói là một là khác đều không đúng.

Đây hiển bày pháp thân đối hiện chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải chỗ biết của phàm ngu. Từ đây về sau thảy đều do thấy Như Lai tự tánh chân ngã, đồng với báo, hóa vượt phược và thoát, đồng trí và chướng, tự tánh Niết-bàn ra khỏi số lượng.

Phần này đến phần sau cho thấy pháp thân Như Lai gồm cả báo thân hóa thân, Nhị thừa và phàm phu không thể biết được. Đồng trí và chướng, chúng ta thường cho rằng trí và chướng là hai phương diện, nhưng đây nói trí chướng không hai. Chướng là phiền não và sở tri làm ngăn ngại. Khi chúng ta khởi sanh phiền não về người hay cảnh, thấy người cảnh làm chướng ngại mình, một phút giây nào nhớ lời Phật dạy, biết cảnh người không thật không chấp, liền hết phiền não. Biết không thật đó là trí, vì có chướng nên có trí phát ra để dẹp phiền não. Khi có chướng là có trí, khi hết chướng thì trí cũng không. Trong tự tánh chân ngã thấy trí và chướng đồng nhau, vì không thấy có phiền não hay dẹp phiền não, nên cả hai trí chướng bình đẳng.

Ấm tức chỉ sắc thân Như Lai. Nghĩa là pháp thân cùng sắc thân chẳng phải một chẳng phải khác. Nếu một thì sắc thân diệt pháp thân cũng ưng diệt, diệt thì vô thường. Nếu hai thì pháp thân do phương tiện đạt được thảy đều không, vô nghĩa. Song, thân ngàn trượng Lô-xá-na và tất cả vô lượng ứng hóa tướng tốt vẻ đẹp thật có đối hiện. Nên nói “diệt sắc vô thường được chân sắc thường trụ”.

Nếu pháp thân khác sắc thân thì không có tướng, nhưng từ pháp thân ứng hiện báo thân có tướng vô lượng vẻ đẹp. Như vậy pháp thân có thể mang hình thức năm ấm nhưng vượt ngoài giới hạn năm ấm, đó là ý nghĩa câu diệt sắc vô thường được chân sắc thường trụ.

Sừng trâu giống nhau dụ một. Dài ngắn sai biệt dụ hai. Nhưng thảy đều gọi là sừng trâu chẳng phải một chẳng phải khác. Cho nên nói “Như Lai đối ấm, giới, nhập cũng chẳng phải một chẳng phải khác”.

5. CHỈ PHÁP THÂN VÀ GIẢI THOÁT CHẲNG PHẢI MỘT CHẲNG PHẢI KHÁC

Đoạn trên nói pháp thân cùng ấm giới nhập chẳng phải một chẳng phải khác. Đoạn này nói pháp thân và giải thoát chẳng phải một, chẳng phải khác.

Như thế, Như Lai và giải thoát chẳng phải khác chẳng phải chẳng khác. Như thế, Như Lai lấy giải thoát gọi tên. Nếu Như Lai khác giải thoát thì ưng thành sắc tướng, vì thành sắc tướng nên vô thường. Nếu chẳng khác thì người tu hành được tướng nên không có phân biệt. Song người tu hành thấy phân biệt. Thế nên, chẳng phải khác chẳng phải chẳng khác.

Giải thoát nghĩa là giải thoát sanh tử. Như Lai lấy giải thoát làm tên, nói Như Lai tức là nói đến giải thoát. Ở đây phân tích pháp thân Như Lai cùng với giải thoát lìa khác và chẳng khác. Nếu Như Lai khác với giải thoát thì Như Lai có sắc tướng, bị vô thường chi phối. Nếu Như Lai chẳng khác giải thoát thì đồng là không có tướng, không tướng thì người tu hành có tướng giải thoát không thể phân biệt với người chưa giải thoát. Nhưng thật ra chúng ta có thể phân biệt được người giác ngộ với người chưa giác ngộ. Đó là ý nghĩa câu Người tu hành được tướng nên không có phân biệt. Song người tu hành thấy phân biệt. Người tu hành được tướng là được tướng giải thoát, tướng giải thoát này có thể cảm nhận được, không phải là không ngơ. Đây cũng nêu lên ý nghĩa pháp thân cùng giải thoát lìa tướng và phi tướng.

Niết-bàn có ba đức: pháp thân, giải thoát, Bát-nhã, như chữ “Y” có ba điểm, chẳng ngang chẳng dọc. Song ở đây nói pháp thân cùng giải thoát chẳng phải một chẳng phải khác. Bởi vì Như Lai do giải thoát được tên. Nếu khác thì pháp thân Như Lai đã chứng giải thoát đồng với sắc tướng, ưng là vô thường. Đâu biết rằng pháp thân Như Lai tức là giải thoát, giải thoát tức là pháp thân, thanh tịnh không nhơ, thể không có hai. Nếu chẳng khác thì người tu hành năng chứng sở chứng ưng không sai biệt, mà thấy có sai biệt. Như Thập chân như, hàng Sơ địa đã đạt, mà đối với chứng hạnh vẫn chưa viên mãn. Vì khiến họ viên mãn nên sau lại dựng lập mỗi địa, mỗi địa có cạn sâu sai biệt thấy khác. Thế nên chẳng phải một chẳng phải khác.

Tôi thí dụ có người bị trói buộc nên mất tự do. Bây giờ mở sợi dây trói thì người đó tự do thảnh thơi. Tự do và người không phải một, không phải khác. Nếu là một thì khi bị trói rõ ràng là mất tự do, nếu là khác thì cũng người đó mà hết trói buộc thì được thảnh thơi. Chúng ta tu cũng vậy, thoát được sự trói buộc của sanh tử gọi là được pháp thân. Cũng là con người đó, giải thoát pháp thân dường như một, khi chưa thoát sanh tử thì thấy pháp thân giải thoát dường như khác. Ngay nơi thân năm ấm này vẫn có thể tánh giải thoát thanh tịnh, nhưng vì bị tình chấp trói buộc nên thấy một thấy khác. Phật đứng trên mặt lý tánh, không cho dùng ngôn ngữ biện biệt, cốt yếu gỡ những vướng mắc về cái chấp hình tướng.

6. CHỈ TRÍ CHƯỚNG CHẲNG PHẢI MỘT CHẲNG PHẢI KHÁC

Như thế, trí và sở tri chẳng phải khác, chẳng phải chẳng khác. Đại Huệ! Trí và sở tri chẳng phải khác, chẳng phải chẳng khác ấy, là phi thường phi vô thường, phi tác phi sở tác, phi hữu vi phi vô vi, phi giác phi sở giác, phi tướng phi sở tướng, phi ấm phi khác ấm, phi thuyết phi sở thuyết, phi một phi khác, phi đồng phi chẳng đồng. Vì phi một phi khác, phi đồng phi chẳng đồng nên đều lìa tất cả lượng.

Trí tuệ và sở tri chướng không phải một, không phải khác. Nói là khác vì có chướng nên dùng trí để phá chướng, trí và chướng dường như hai. Trí và chướng không hai vì chướng hết thì trí hiện, không có chướng thì không có trí. Vì thế nói không phải một, không phải khác, không phải vô thường... ra ngoài tất cả suy nghĩ của chúng ta.

Trước nói pháp thân cùng giải thoát chẳng phải một chẳng phải khác. Ở đây nói pháp thân cùng Bát-nhã chẳng phải một chẳng phải khác. Song lại nói Bát-nhã (trí) cùng sở tri chẳng phải một chẳng phải khác ấy, vì Bát-nhã là thủy giác từ pháp thân bản giác mà sanh, nói thủy thì cùng với bản không khác. Nếu sở tri chướng đến Thập nhất địa vẫn còn có hai phần ngu cực vi tế, đến Diệu giác Phật địa mới hay trừ sạch. Đó là trí cùng chướng phân rõ có hai.

Kinh Niết-bàn nói Niết-bàn có ba đức: pháp thân, Bát-nhã và giải thoát. Ba đức dường như chia riêng, nhưng đoạn kinh vừa rồi cho thấy pháp thân, giải thoát và Bát-nhã không phải một không phải khác.

Đoạn này nói rõ về pháp thân và Bát-nhã chẳng một chẳng khác. Bát-nhã là trí chiếu phá sở tri chướng, là trí thủy giác, từ pháp thân bản giác lưu xuất, thủy giác hợp nhất bản giác thì pháp thân và Bát-nhã không khác. Nhưng trí trừ chướng vẫn có tiệm thứ, từng địa vị một mà chiếu phá sở tri, trí chưa trọn vẹn thì pháp thân chưa hiển hiện đầy đủ, vì thế nói Thập nhất địa vẫn còn hai phần sở tri ngu.

Lại nói chẳng phải một chẳng phải khác ấy, bởi vì lìa trí không chướng, lìa chướng không trí, pháp không có ngã tánh nơi đây càng rõ. Song Như Lai tự tánh chân ngã lìa tứ cú vượt tất cả số lượng, chẳng phải chỗ biết của tư lương. Kèm nói tác phi tác v.v... đều là lặp lại lời hỏi trước để nhiếp hết trong lìa tứ cú.

Trí và chướng không thể tách riêng, không pháp nào tồn tại độc lập nên gọi là không có ngã tánh. Pháp thân Như Lai chưa hiển hiện thì có trí có chướng, khi đã hiển hiện thì trí và chướng đều tiêu dung. Bát-nhã, pháp thân, giải thoát cùng lìa một khác... Chỗ này chỉ khi tu đến thì tự chứng biết, không thể dùng suy nghĩ thường tình mà hiểu được.

7. TỔNG KẾT PHÁP THÂN LÌA CÁC CĂN LƯỢNG VÀ BÀI TỤNG

Lìa tất cả lượng thì không ngôn thuyết, không ngôn thuyết thì vô sanh. Vô sanh thì không diệt, không diệt thì tịch diệt. Tịch diệt thì tự tánh Niết-bàn. Tự tánh Niết-bàn thì không sự không nhân. Không sự không nhân thì không phan duyên. Không phan duyên thì ra ngoài tất cả hư ngụy. Ra ngoài tất cả hư ngụy tức là Như Lai.

Tự tánh Niết-bàn tịch diệt vượt ngoài ngôn thuyết. Những gì có suy nghĩ danh ngôn đều thuộc về vọng tưởng, vọng tưởng thì sanh diệt vô thường nên không thể diễn tả được cảnh giới Niết-bàn. Vì thế ngài Đại Huệ dùng một trăm lẻ tám câu để hỏi, mà rốt cuộc Thế Tôn đều đáp là Phi, là ý chỉ chỗ này.

Ra ngoài tất cả hư ngụy tức là Như Lai. Câu này là thiết yếu của chỗ tu chúng ta. Hư ngụy là vọng tưởng, là tâm duyên không thật. Ra ngoài tất cả hư ngụy là người vô sự, không so đo tính toán, hết phan duyên là hết hư ngụy. Mỗi ngày chúng ta đi làm công tác, vừa làm vừa chăn trâu, ngày nào cũng như vậy thì thành người vô sự, tự tánh Niết-bàn hiện tiền. Khéo biết tu thì ngay trong cảnh sống hàng ngày cũng được rảnh rang vô sự, không có gì bận tâm níu kéo, đó là con đường thẳng đến tự tánh chân thật.

Như Lai tức là Tam-miệu-tam-phật-đà. Đại Huệ! Ấy gọi là Tam-miệu-tam-phật-đà. Đại Huệ! Tam-miệu-tam-phật-đà ấy, là lìa tất cả căn lượng.

Đây là kết tự tánh pháp thân Như Lai vượt qua tất cả số lượng, tự chứng được ở trong, tất cả danh ngôn đều chẳng phải thể của nó. Người chứng được thể này mới biết sanh diệt đều không, chỉ có tịch tĩnh, nên nói “tự tánh Niết-bàn”. Tự tánh Niết-bàn chẳng phải nhân chẳng phải quả, hết các động niệm, dứt tâm tư tưởng, tột mé gốc vô minh, cứu cánh giải thoát không có hư ngụy, là chân pháp thân, là bình đẳng thân, hằng lìa tất cả cảnh giới các căn. Như Lai nơi hội Bát-niết-bàn khắp bảo đại chúng rằng: “Ta dùng Bát-nhã sâu xa xem khắp tam giới tất cả lục đạo, các núi, bể cả, quả đất, hàm sanh. Như thế tam giới căn bản tánh lìa, cứu cánh tịch diệt đồng với tướng không, không tên, không biết, hằng đoạn các hữu, xưa nay bình đẳng không có tưởng cao thấp, không thấy không nghe không giác không tri, không thể trói buộc, không thể giải thoát, không chúng sanh không thọ mạng, chẳng sanh chẳng khởi chẳng tận chẳng diệt, chẳng phải thế gian chẳng phải chẳng thế gian. Niết-bàn sanh tử đều không thể được, hai bên bình đẳng. Vì các pháp bình đẳng nên ở yên lặng lẽ, không có chỗ thi vi, cứu cánh an ổn, hẳn không thể được. Từ pháp vô trụ mà pháp tánh thi vi đoạn tất cả tướng, một không thể có. Pháp tướng như thế, kẻ biết được nó gọi là người xuất thế. Không biết việc ấy gọi là gốc sanh tử.”

Đoạn này nói tất cả tam giới lục đạo chúng sanh và sự vật đều không có một pháp thật, vì thế lìa năng sở đối đãi, không ngã không nhân. Biết rõ các pháp đối đãi không thật thì tâm thể tự nhiên thanh tịnh, ra ngoài sanh tử. Tâm thể xao xuyến loạn động là gốc của sanh tử, vì thế dẫn kinh Đại Bát-niết-bàn để nói về cảnh giới lìa tất cả suy tưởng loạn động, đạt được tánh chân thật thường trụ.

Đây chính là Như Lai tự tánh giải thoát cùng tất cả pháp đồng trụ chân như bản tế, trong ngoài hằng lìa tất cả lỗi lầm. Tất cả chúng sanh cũng đồng đủ cái này, chỉ vì khách nhiễm che lấp, một niệm giác biết tức đồng sẵn được.

Tất cả chúng sanh đều có sẵn tánh chân như giải thoát, chỉ vì khách trần làm ô nhiễm nên không giác không biết. Ngay nơi mắt nơi tai... đều có sẵn tánh giác. Nhưng vừa thấy người, thấy vật thì tánh biết của mắt bị thức chen vô phân biệt tốt xấu, hay dở... Khi nghe tiếng thì tánh nghe hiện hữu rõ ràng, nhưng vừa nghe thì thức chen vô phân biệt tiếng khen chê, đáng ưa không đáng ưa... Tình thức đã che lấp làm ô nhiễm tánh giác nên tuy có mà không hiện. Một niệm giác biết, ngay một niệm mà tỉnh giác thì liền nhận ra nó là cái đồng sẵn có, không hề thiếu mất.

Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:

Thảy lìa các căn lượng 

Không sự cũng không nhân 

Đã lìa giác sở giác 

Cũng lìa tướng sở tướng.

Căn lượng là chỗ thấy nghe hiểu biết khởi niệm. Thể chân thật lìa căn lượng, lìa tất cả nhân quả năng sở.

Ấm duyên Đẳng chánh giác 

Một, khác chớ hay thấy 

Nếu không có thấy đó 

Làm sao mà phân biệt.

Thân ngũ ấm do các duyên hợp thành và pháp thân Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không phải một, không phải khác. Nếu không thấy một khác, tự nhiên tâm dứt phân biệt.

Phi tác phi bất tác

Phi sự cũng phi nhân

Phi ấm phi tại ấm

Cũng phi có dư tập.

Tánh giác không phải năng tác sở tác, không phải nhân, không phải quả, chẳng phải ấm, chẳng lìa ấm, không tất cả tập khí dư thừa.

Cũng phi có các tánh

Như kia vọng tưởng thấy

Nên biết cũng phi vô

Pháp này pháp cũng thế.

Tánh giác cũng không có tánh cố định như chỗ nghĩ tưởng của người ngu. Tuy không có các tánh cố định nhưng không phải không ngơ. Pháp này pháp cũng thế, pháp này là pháp chân thật của tánh giác.

Đây là tổng tụng pháp thân lìa nhân quả, năng sở, căn khí một khác tứ cú. Không có thấy lìa ấy, cũng không pháp tự tánh, cũng lại phi không pháp, khá gọi thật được pháp thể. Ngộ đây sẽ lặng lẽ tự hết.

Pháp thân chẳng phải tất cả nhưng không phải là không, nhận được pháp thể thì mọi đối đãi phân biệt lặng lẽ tự dứt.

Bởi có nên có không 

Bởi không nên có có 

Nếu không chẳng nên thọ 

Nếu có chẳng nên tưởng.

Hoặc nơi ngã phi ngã

Ngôn thuyết lượng không dứt 

Chìm đắm ở hai bên 

Tự hoại hoại thế gian.

Giải thoát tất cả lỗi 

Chính quán sát ngã thông 

Ấy gọi là chánh quán 

Chẳng hủy đại đạo sư.

Pháp thân lìa tất cả tưởng có và không. Hoặc nơi ngã phi ngã, ngôn thuyết lượng không dứt. Dù nói rằng ngã hay chẳng phải ngã đều là ngôn thuyết, rơi trong chấp nhị biên, rốt cuộc không phải cứu cánh. Người chấp hai bên là tự hoại và làm hoại kẻ khác.

Giải thoát tất cả lỗi, chính quán sát ngã thông. Nếu rời được tất cả lỗi kể trên, thường chánh niệm quán sát chỗ thông đạt của ta, lìa tâm, ý, ý thức gọi là chánh giáo, không hủy báng bậc đạo sư.

Nếu không chẳng nên thọ, nếu có chẳng nên tưởng là không thì cứu cánh không chẳng nên lại không, có thì xưa nay có chẳng nên lại có, bởi có không đối đãi nhau, tánh chẳng có không. Chẳng đạt ngã thông thì không có chánh kiến, mắc kẹt hai bên tự hoại hoại người, chê bai Như Lai, đâu còn gì hơn kẻ này. Thế Tôn thường bảo: “Nếu nói có đó, người trí chẳng nên nhiễm; nếu nói không đó, tức là vọng ngữ. Nếu nói có đó chẳng nên lặng thinh, cũng chẳng nên hý luận tranh tụng.” Ý chỉ này tế nhị thay!

Thể tánh chân thật nếu không thì đã trọn vẹn không, chẳng cần lặp lại cái không; nếu có thì có sẵn, cũng chẳng cần lặp lại có. Thể tánh này lìa giả tướng có không đối đãi. Người thấu đạt thể chân thật phải lìa bỏ hý luận về hai bên có không.

II- CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI CHẲNG SANH CHẲNG DIỆT LÌA NGÔN THUYẾT (Phân làm bốn phần)

1. CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI CHẲNG PHẢI KHÔNG TÁNH

Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói kinh điển nhiếp thọ chẳng sanh chẳng diệt. Lại, Thế Tôn nói chẳng sanh chẳng diệt là tên khác của Như Lai.

Bồ-tát Đại Huệ hỏi để cho rõ nghĩa không tánh. Trước dẫn lời Phật nói các kinh đều nhiếp thọ chẳng sanh chẳng diệt. Phật cũng nói chẳng sanh chẳng diệt là tên khác của Như Lai. Chẳng sanh chẳng diệt là không tánh, cũng có nghĩa là không có, như vậy Như Lai có phải là không tánh? Bởi vì trước Phật đã giải thích pháp thân Như Lai lìa ngôn thuyết, lìa năng sở, chẳng phải nhân chẳng phải quả... tất cả đều phi, sợ chúng sanh chấp theo thường tình rằng chỗ không tất cả đó là vô tánh, không có gì; như vậy Như Lai cũng huyễn hóa không thật, vì là không tánh. Bồ-tát Đại Huệ hỏi với mục đích trừ nghi cho chúng sanh.

Thế nào Thế Tôn là không tánh nên nói chẳng sanh chẳng diệt, cho là tên khác của Như Lai, Phật bảo Đại Huệ: Ta nói tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt các loại có không chẳng hiện. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu tất cả pháp chẳng sanh thì pháp nhiếp thọ không thể được, vì tất cả pháp chẳng sanh. Nếu trong danh tự có pháp, cúi xin Thế Tôn vì nói.

Phật giải thích tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt là lối nói các pháp có không đối đãi đều không thật. Đại Huệ thưa: Nếu tất cả pháp chẳng sanh thì không có, pháp nhiếp thọ không thể được. Không có pháp thì tại sao gọi là tên khác của Như Lai? Như vậy là Như Lai không có? Ngài hỏi tiếp: Nếu trong danh tự có pháp, cúi xin Thế Tôn vì nói, nghĩa là nếu trong danh từ không tánh đó có thật thể Như Lai, xin Phật chỉ dạy.

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói. Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Ta nói Như Lai chẳng phải không tánh, cũng chẳng phải chẳng sanh chẳng diệt nhiếp tất cả pháp, cũng chẳng đợi duyên nên chẳng sanh chẳng diệt, cũng chẳng phải vô nghĩa.

Phật xác nhận Ta chẳng phải không tánh, tức là Như Lai có thật thể. Phật cũng không nói chẳng sanh chẳng diệt nhiếp tất cả pháp, nghĩa là không phải tất cả pháp không có. Nói chẳng diệt là vì không đợi duyên. Các pháp bên ngoài có sanh diệt là do duyên hợp, thể tánh Như Lai không đợi duyên, là thật thể sẵn có lìa nhân duyên tạo tác, nên nói chẳng sanh chẳng diệt. Không thể lầm lẫn như phàm phu chấp cái gì không sanh diệt là không có; pháp không sanh diệt Như Lai nói ở đây lìa ngoài mọi cái thấy về tướng, là pháp có thật chẳng phải vô nghĩa.

Đây là nhằm ngoài tự tâm hiện lượng chấp tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt, lấy đó khởi nạn. Bởi vì người theo danh mất nghĩa nên Phật vì phát minh. Trong kinh kiến lập tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt là vì không tánh nên nói, chẳng vì có tánh nói. Lại nói là tên khác của Như Lai thì chẳng phải không tánh. Ấy là hiện rơi vào có tánh mà nói không pháp thì có không đều đọa. Đây là ý nạn của Đại Huệ.

Người thấu rõ tự tâm hiện lượng thì biết tất cả pháp chẳng sanh diệt. Ở đây vì không giác biết tự tâm hiện lượng, nghe nói chẳng sanh chẳng diệt cho là thật không, đem vấn đề này hỏi Phật. Trong kinh kiến lập tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt, là ý của câu Như Thế Tôn nói kinh nhiếp thọ chẳng sanh chẳng diệt. Nghĩa là kinh nói các pháp không tánh, không có tánh thật chỉ đợi duyên, vì đợi duyên nên sanh chẳng thật sanh, diệt chẳng thật diệt. Kinh nói như thế vì để phá lối chấp có của chúng sanh. Khi nói chẳng sanh chẳng diệt là tên khác của Như Lai là đứng về mặt thường trụ, chẳng sanh chẳng diệt này không thể so sánh với ý trong kinh. Ngài Đại Huệ hỏi mà ngụ ý muốn phân biệt hai trường hợp về chẳng sanh chẳng diệt.

Thế Tôn bảo: Ta nói tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt những loại có không chẳng hiện. Đại Huệ không biết từ tự tâm hiện lượng, nói chẳng sanh chẳng diệt chóng vượt có không, mà cho là tất cả pháp đã không sanh diệt, không ưng lại nhiếp thuộc có pháp. Nếu bảo tên khác của Như Lai, tên ắt có nghĩa, ấy là nhiếp thuộc có pháp.

Giải thích về chỗ chấp của ngài Đại Huệ. Phật nói tất cả pháp chẳng sanh diệt là pháp vượt ngoài có không, ngài Đại Huệ thì cho rằng nếu các pháp đã không sanh diệt thì không có, mà nói chẳng sanh diệt là tên khác của Như Lai, vậy Như Lai không có ư? Nếu có tên thì phải có nghĩa, vậy Như Lai là có pháp? Đưa ra một câu hỏi đều rơi vào có và không.

Cho nên Thế Tôn lại bảo: Ta nói Như Lai chẳng phải không tánh. Mới biết tâm lượng bản hữu chẳng đồng sừng thỏ, y nghĩa bất giác dường như các pháp hiện, vốn không có sanh cũng không có chỗ diệt. Chẳng sanh diệt này là nói pháp không tự tánh. Chẳng phải nói thảy không các pháp, chẳng nên nhiếp thuộc có, lại đợi duyên hết mới thấy không sanh. Cũng chẳng phải vô nghĩa, là nói nghĩa tự tâm như thật chẳng sanh, chẳng giác nghĩa tự tâm như thật chẳng sanh, chỉ đến trên danh cú chẳng sanh chẳng diệt, vọng chấp không tánh, chẳng ưng nhiếp thuộc về có, tức là có chữ mà không nghĩa. Cho nên văn sau bàn rộng vậy.

Đoạn này giải thích lời đáp của Phật. Ý nói Như Lai chẳng phải không thật có như sừng thỏ lông rùa. Nói không sanh diệt là đứng về mặt bất giác, thấy các pháp dường như có hiện, hiện trong mê nên chẳng thật có sanh diệt. Thí như chiêm bao thấy người và cảnh sanh diệt, điều đó không thật. Các pháp không tự tánh, khi có pháp chẳng nên nói là nhiếp thuộc có, khi không pháp chẳng nên nói là không sanh. Thấy có thấy không là thuộc về đối đãi nông cạn.

2. CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI CHÍNH KHI SANH MÀ VÔ SANH

Đại Huệ! Ta nói ý sanh pháp thân danh hiệu Như Lai. Chẳng sanh kia là chẳng phải cảnh giới của tất cả ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát Thất trụ. Đại Huệ! Chẳng sanh kia là dị danh của Như Lai. Đại Huệ! Thí như Nhân-đà-la Thích-ca (Indra Sakra), Bất-lan-đà-la những vật như thế, mỗi mỗi vật đều có nhiều tên, cũng chẳng phải có nhiều tên mà có nhiều tánh, cũng chẳng phải không tự tánh.

Phật giải thích Như Lai có nhiều danh hiệu, nhưng chỉ có một thể pháp thân. Đoạn trước nói chẳng sanh chẳng diệt là tên khác của Như Lai, đoạn này nói Như Lai cũng có tên là ý sanh pháp thân. Chẳng sanh, ý sanh pháp thân, hai tên dường như trái ngược nhau, một bên chẳng sanh, một bên ý sanh thân. Cảnh giới này hàng Thanh văn, Duyên giác hay Bồ-tát Thất địa không thể biết. Ý nhắc chúng sanh nên vượt ra ngoài danh từ. Phật nêu thí dụ, trời Đế-thích cũng có tên là Nhân-đà-la Thích-ca hay Bất-lan-đà-la... nhiều tên nhưng chỉ chung một thể, nên nói chẳng phải có nhiều tên mà có nhiều tánh, cũng không phải vì có nhiều tên mà không có tự tánh.

Đây tức sanh nói vô sanh để hiển ý chỉ thâm mật, vẫn không nên theo danh mất nghĩa. Bởi ý sanh pháp thân tức là chẳng sanh, nên nói dị danh Như Lai. Nghĩa chẳng sanh này chẳng phải cảnh giới của Nhị thừa và hàng Thất địa. Thất địa về trước chỉ hết nhân sanh, chứ chẳng đạt được tự tánh vô sanh của Như Lai.

Hàng Nhị thừa và Bồ-tát Thất địa chỉ chấm dứt nhân sanh, chưa đạt được tánh vô sanh của Như Lai. Thí dụ chúng ta nhìn ra biển, thấy có gió thổi sóng ầm ầm, thấy mặt biển toàn sóng là thấy nghiệp sanh tử. Khi gió dừng sóng lặng là thấy dứt sanh tử, nhưng chưa nhận được thể của nước vốn không có sóng hay dừng sóng, chưa nhận được thể mênh mông của biển. Hàng Thanh văn sợ gió nghiệp dẫn đi trong sanh tử nên tu dừng nghiệp. Nghiệp nhân sanh tử đã dứt, nhưng thể tánh thật vô sanh thì chưa nhận ra.

Tự tánh vô sanh của Như Lai là chân như bình đẳng, tùy chỗ tùy thời không có tướng khởi diệt. Chẳng phải duyên hết mới hiện, cho nên chẳng kẹt nơi vô sanh sở liễu năng liễu. Nhân-đà-la Thích-ca, Bất-lan-đà-la đều là dị danh của Đế-thích. Chẳng phải do nhiều tên mà có nhiều tánh là thể một mà tên khác. Cũng chẳng phải không tự tánh là nhiều tên dùng để nói một thể, lại phải nhân tên mà được thể.

3. CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI TÊN KHÁC THỂ MỘT

Như thế, Đại Huệ! Ta ở thế giới Ta-bà này, trải ba a-tăng-kỳ có trăm ngàn danh hiệu. Kẻ ngu thảy đều nghe, mỗi người nói tên ta mà không hiểu ta, ấy là dị danh Như Lai. Đại Huệ! Hoặc có chúng sanh biết ta là Như Lai, có chúng sanh biết ta là Nhất thiết trí, có chúng sanh biết ta là Phật, có chúng sanh biết ta là Cứu thế, có chúng sanh biết ta là Tự giác, có chúng sanh biết ta là Đạo sư, có chúng sanh biết ta là Quảng đạo, có chúng sanh biết ta là Nhất thiết đạo, có chúng sanh biết ta là Tiên nhân, có chúng sanh biết ta là Phạm, có chúng sanh biết ta là Tỳ-nữu (Vișņu), có chúng sanh biết ta là Tự Tại, có chúng sanh biết ta là Thắng, có chúng sanh biết ta là Ca-tỳ-la (Kapila), có chúng sanh biết ta là Chân thật biên, có chúng sanh biết ta là Nguyệt, có chúng sanh biết ta là Nhật, có chúng sanh biết ta là Vương, có chúng sanh biết ta là Vô sanh, có chúng sanh biết ta là Vô diệt, có chúng sanh biết ta là Không, có chúng sanh biết ta là Như như, có chúng biết ta là Đế, có chúng biết ta là Thật tế, có chúng biết là Pháp tánh, có chúng biết là Niết-bàn, có chúng biết là Thường, có chúng biết là Bình đẳng, có chúng biết là Bất nhị, có chúng biết là Vô tướng, có chúng biết là Giải thoát, có chúng biết là Đạo, có chúng biết là Ý sanh. Đại Huệ! Trải qua ba a-tăng-kỳ có trăm ngàn danh hiệu như thế, chẳng thêm chẳng bớt, thế giới này và thế giới khác thảy đều biết ta, như mặt trăng trong nước chẳng ra chẳng vào.

Phật nêu ra bao nhiêu danh hiệu của ngài, chỉ ở một cõi Ta-bà thôi, không kể ở các thế giới khác. Thể tánh chân thật ấy trùm khắp không gian và thời gian, tùy chỗ hiểu của chúng sanh mà đặt tên cho phù hợp căn cơ. Như các Bà-la-môn kính ngưỡng Phạm thiên, Đại Tự Tại... cũng chính là thể tánh bất sanh này. Như mặt trăng hiện trên hư không, ở dưới có trăm ngàn sông suối ao hồ, đều hiện trăm ngàn bóng mặt trăng. Bóng mặt trăng đó không phải vào nước, hay ra khỏi nước, chỉ tùy duyên hiện, không ngoài một thể mặt trăng. Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói: Một trăng hiện khắp tất cả nước. Tất cả trăng nước một trăng nhiếp chính là vậy.

Như Lai ở cõi nước Ta-bà có đến vô lượng trăm ngàn dị danh tùy tâm chúng sanh ứng với lượng sở tri, mỗi chúng có lời khác, mà không biết nghĩa tự tánh chân thật Như Lai như trăng trong nước, chẳng ra chẳng vào chẳng phải có chẳng phải không. Chẳng hiểu dị danh của Như Lai là tất cả chúng sanh chỉ biết tức nơi danh nhận nghĩa, mà chẳng hiểu Như Lai tuy có nhiều danh chỉ nói lên một thể. Nên nói tự tánh thanh tịnh Như Lai, chỉ chứng tương ưng, chẳng phải danh nói đến được. Như trăng trong nước chẳng thể nói có không, không thể nói xa gần, không thể chỉ bày, không thể độ lượng, thật chẳng phải không tánh, mà chẳng rơi vào số lượng có không.

Các kẻ ngu kia không thể biết ta, vì rơi vào hai bên. Song thảy cung kính cúng dường nơi ta, mà không khéo hiểu biết câu lời nghĩa thú chẳng phân biệt được danh, chẳng hiểu tự thông. Chấp trước các thứ ngôn thuyết chương cú, nơi chẳng sanh diệt khởi tưởng vô tánh. Chẳng biết danh hiệu sai biệt của Như Lai, biết Nhân-đà-la Thích-ca, Bất-lan-đà-la mà chẳng hiểu tự thông, hội quy về chỗ tột cùng, nơi tất cả pháp tùy chỗ chấp trước.

Tuy nói pháp thân Như Lai ly tứ cú, rời phân biệt, đồng thời nói Phật có nhiều danh xưng, đó là chỗ khéo của Phật để chúng ta không rơi vào chấp có chấp không. Chúng sanh không khéo nhận được thể chân thật, tuy vẫn cung kính không mất phước lành, nhưng chủ ý của Phật không chỉ dừng ở chỗ phước báo. Ngài muốn hướng chúng sanh đến chỗ chân thật, không rơi vào chấp trước ngôn thuyết, vừa có trí tuệ vừa có phước, đạt được tự thông mới là chỗ tột cùng của Phật dạy.

Kẻ ngu không biết tự tánh pháp thân Như Lai vọng thấy có không đắm trước nơi danh tự, mà đối với câu tất cả pháp chẳng sanh diệt, khởi tưởng không tánh. Đây chính là chẳng hiểu tự thông vọng chấp tất cả pháp là chẳng sanh diệt. Tất cả danh hiệu đều nói một thể, nhân danh đạt thể, đạt thể thì lìa lời nói. Nên nói hội quy về chỗ tột cùng. Chẳng rõ nghĩa này chỉ nơi danh thuyết riêng sanh lý thú, luống thêm đa văn tăng trưởng ngã kiến.

Tất cả pháp chẳng sanh diệt là lẽ thật của kinh điển, nhưng với người không nhận được tự tánh nghe nói chẳng sanh diệt bèn cho là không có pháp. Vì còn trong vòng kiến chấp có không nên dù nghe nghĩa lý vẫn chỉ nghe trên danh từ, không đạt tự thông. Chúng sanh có bệnh chấp danh từ, như nghe danh từ Như Lai bèn định nghĩa Như Lai là thế này, nghe danh từ Chánh biến tri bèn định nghĩa, chú giải danh từ này tiếng Phạn là gì, Trung Hoa dịch là gì... Như vậy vô tình vướng kẹt trong chữ nghĩa giả danh, không nhận được chủ đích của lời Phật dạy, vì thế bị lỗi, luống thêm đa văn tăng trưởng ngã kiến.

4. CHỈ PHÁP THÂN NHƯ LAI LÌA LỜI NÓI HIỂN CHÂN THẬT (Phân làm hai phần)

a. Chỉ nghĩa chân pháp thân chẳng rơi vào văn tự

Đại Huệ! Những người si kia nói thế này: “Nghĩa như lời nói, nghĩa lời không khác. Vì cớ sao? Vì nghĩa không có thân, ngoài ngôn thuyết lại không có nghĩa khác, chỉ dừng nơi ngôn thuyết." Đại Huệ! Kia bị trí ác thiêu đốt chẳng biết tự tánh ngôn thuyết, chẳng biết ngôn thuyết sanh diệt, nghĩa chẳng sanh diệt. Đại Huệ! Tất cả ngôn thuyết rơi vào văn tự, nghĩa thì chẳng rơi, vì lìa tánh phi tánh, không thọ sanh cũng không thân. Đại Huệ! Như Lai chẳng nói pháp rơi trong văn tự, vì văn tự có không không thể được, trừ chẳng rơi vào văn tự.

Đây nói người ngu si chẳng đạt tự tánh chân nghĩa, bảo nghĩa không thể tánh, mà lấy ngôn thuyết làm cảnh giới giác tưởng sở hành cho là tột các nghĩa vị. Cho nên nói “chỉ dừng nơi ngôn thuyết”. Đây không những là chẳng biết nghĩa, mà cũng chẳng biết tự tánh ngôn thuyết. Ngôn thuyết y nơi nghĩa vốn không tự thể là tánh sanh diệt. Nên nói “ngôn thuyết tự tánh”. Nghĩa lìa ngôn thuyết, tánh chẳng phải sanh diệt, chẳng thuộc có không.

Người ngu cho rằng lời nói và nghĩa không khác, vì ngoài lời nói thì nghĩa không có thể tánh, chỉ nương ngôn thuyết mà khởi suy nghĩ, cho là cùng tột nghĩa vị. Phật bảo đó là bị trí ác thiêu đốt, không biết được tự tánh ngôn thuyết. Ngôn thuyết thì sanh diệt, nghĩa chẳng sanh diệt. Đây có hai nghĩa:

Một là theo nghĩa thường. Thí dụ chúng ta đến nhà bạn chơi, gặp giờ cơm, chủ nhà mời ăn cơm. Lời mời ăn cơm là ngôn thuyết, còn đưa cơm vào miệng ăn không thuộc ngôn thuyết. Nếu nói chúng là một thì lầm.

Hai là theo nghĩa cứu cánh. Phật nói tất cả pháp không sanh, hay tất cả pháp là chân như. Chỗ chân như bình đẳng không phải là chỗ ngôn thuyết đến được vì ngôn thuyết sanh diệt, chân như không sanh diệt. Nếu nói ngôn thuyết là nghĩa, thì nghĩa này cũng sanh diệt, bị trí ác thiêu đốt vì không biết tự tánh ngôn thuyết sanh diệt, còn nghĩa thì không.

Tất cả ngôn thuyết đều rơi vào văn tự. Nghĩa thì không rơi văn tự, lìa có và không, nên không sanh cũng không thân.

Đã lìa sanh diệt có không cũng lìa cái lìa. Kinh Viên Giác nói: “Biết là không hoa liền không luân chuyển, cũng không thân tâm thọ cái sanh tử kia.” Tức ở đây nói: “không thọ sanh cũng không thân”. Lại Viên Giác nói: “Cái tri giác kia vẫn như hư không, biết hư không ấy tức là tướng không hoa, cũng không thể nói không có tánh tri giác.” Tức ở đây nói “trừ chẳng rơi vào văn tự”. Tự tánh pháp thân Như Lai không sanh không thân, chẳng rơi trong văn tự, mà chẳng phải không chẳng rơi. Kẻ ngu si không trí chẳng phân biệt thuyết và nghĩa, vọng tự đắm trước, là đáng thương xót vậy.

Nghĩa lìa sanh diệt có không, lìa luôn cái lìa. Ngài Hàm Thị dẫn kinh Viên Giác: Biết là không hoa liền không luân chuyển, cũng không có thân tâm thọ cái sanh tử kia, tức là nghĩa không thọ sanh cũng không thân ở đây. Cái tri giác kia vẫn như hư không, biết hư không ấy tức là tướng không hoa, cũng không thể nói không có tánh tri giác, tức ở đây nói trừ chẳng rơi vào văn tự.

Tự tánh pháp thân Như Lai không sanh không thân, chẳng rơi trong văn tự, mà chẳng phải không chẳng rơi, nghĩa là vẫn nương văn tự mà hiển bày nghĩa nhưng không phải là văn tự.

b. Chỉ Như Lai kiến lập ngôn thuyết vì dẹp ngôn thuyết

Đại Huệ! Nếu có người nói rằng “Như Lai nói pháp rơi vào văn tự”, người này ắt vọng ngữ, vì pháp lìa văn tự. Thế nên, Đại Huệ! Chư Phật chúng ta và các vị Bồ-tát không nói một chữ chẳng đáp một chữ. Vì cớ sao? Vì pháp lìa văn tự, chẳng phải không nói nghĩa lợi ích. Ngôn thuyết là vọng tưởng của chúng sanh. Đại Huệ! Nếu chẳng nói tất cả pháp thì giáo pháp ắt hoại. Giáo pháp hoại thì không có chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn, nếu không thì ai nói và vì ai?

Như Lai nói ra đều vì nghĩa, mượn ngôn thuyết để vào đệ nhất nghĩa. Tức nơi ngôn thuyết nói đệ nhất nghĩa rời ngôn thuyết. Cho nên từ thành Phật cho đến Niết-bàn, ở trong khoảng giữa ấy, Phật chẳng nói một chữ. Nghĩa là không một lời rơi vào tướng văn tự, mà chẳng phải không nhằm lợi ích chúng sanh vì phân biệt nói. Nếu không nhằm lợi ích chúng sanh phân biệt nói thì hàng Nhị thừa, Bồ-tát kia từ đâu dựng lập vào nghĩa chân thật. Như thế thì Thánh giáo diệt hoại, ai dạy cho ai ư? Cho nên biết tất cả ngôn thuyết đều không có thật pháp, vì đệ nhất nghĩa mà có nói bày. Do thuyết mà nhập nghĩa, nghĩa hiển thì thuyết lìa. Thuyết tức không thuyết, chỉ tức không chỉ. Cho nên nói “chư Phật, Bồ-tát không nói một chữ”.

Chư Phật và Bồ-tát nói tất cả pháp, ở đây lại nói không nói một chữ, không đáp một chữ, ngầm chỉ cho chúng ta biết pháp của Phật không phải là ngôn thuyết, nhưng nương ngôn thuyết để nói đệ nhất nghĩa rời ngôn thuyết, chỉ nhằm lợi ích chúng sanh. Cho nên thuyết ba tạng kinh điển mà bảo không nói một chữ, do ngôn thuyết mà nhập nghĩa, khi hiển được nghĩa thì lìa ngôn thuyết. Thuyết tức không thuyết, chỉ tức không chỉ, gọi là không nói một chữ.

Thế nên, Đại Huệ! Đại Bồ-tát chớ kẹt ngôn thuyết, tùy nghi phương tiện rộng nói kinh pháp. Vì hy vọng phiền não của chúng sanh chẳng phải một, nên ta và chư Phật tùy các thứ hiểu biết sai khác của chúng sanh mà nói các pháp, khiến lìa tâm ý ý thức, chẳng phải vì được chỗ tự giác thánh trí.

Đây là dạy bảo Bồ-tát tùy căn thức chúng sanh rộng nói kinh pháp, chẳng nên mắc nơi ngôn thuyết. Nếu có nói ra đều nhân các thứ hy vọng, các thứ phiền não, các thứ hiểu khác của chúng sanh, mà vì phá trừ. Khiến họ lìa cái hư ngụy từ vô thủy, chuyển tâm ý ý thức, tự biết tự chứng. Quyết không có nói chỉ bày chỗ tự giác thánh trí. Bởi vì tự giác thánh trí lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, tự chứng được ở bên trong, chẳng phải chỗ hiển bày của vọng tưởng ngôn thuyết. Cho nên biết, chư Phật nói pháp như thầy thuốc trị bệnh, chỉ có phương pháp dẹp trừ bệnh nhặm, mà không có phương pháp làm tăng thêm ánh sáng. Thuyết cùng với nghĩa có tánh hay không tánh rõ ràng tự thấy.

Phật dạy Đại Bồ-tát nên tùy hy vọng, phiền não, hiểu biết sai khác của chúng sanh mà phương tiện thuyết pháp. Như vậy, thuyết pháp để chúng sanh lìa những hư ngụy từ vô thủy, chuyển tâm tức là tàng thức, ý là thức thứ bảy, ý thức là thức thứ sáu để họ tự chứng, tự biết; chứ không chỉ bày chỗ tự giác thánh trí, là chỗ lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên. Chỉ dẹp trừ bệnh nhặm, chúng ta bệnh mắt, thầy thuốc cho thuốc nhỏ mắt. Bệnh mắt hết thì mắt tự sáng, thầy thuốc không làm mình sáng thêm mà chỉ dẹp bệnh cho mình. Phật không làm chúng ta giác, ngài chỉ dạy chúng ta dẹp phiền não, dứt vô minh thì tánh giác tự hiện. Ngôn thuyết thì không tánh, còn nghĩa thì có thực thể, thấy được rõ ràng.

Đại Huệ! Đối tất cả pháp không thật có, giác tự tâm hiện lượng, lìa hai thứ vọng tưởng. Các vị đại Bồ-tát y nơi nghĩa chẳng y văn tự. Nếu người thiện nam thiện nữ y văn tự là tự hoại đệ nhất nghĩa, cũng không thể giác ngộ cho người, rơi vào ác kiến tương tục mà vì chúng nói, chẳng khéo rõ biết tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, cũng chẳng biết chương cú. Nếu người khéo biết tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, thông đạt chương cú, đầy đủ tánh nghĩa thì họ hay dùng chánh lạc vô tướng mà tự vui thích, bình đẳng Đại thừa, dựng lập cho chúng sanh.

Trước nói ngôn thuyết chẳng vì được chỗ tự giác thánh trí. Ở đây nói người được tự giác thánh trí thâm đạt pháp tướng, có dựng lập ra tự nhiên chẳng rơi vào cảnh giới văn tự vọng tưởng. Phàm văn tự hay làm ngu người là nói ra tất cả pháp theo cảnh giới có, không vọng tưởng. Nếu đạt tất cả pháp không có tự tánh đều duy tâm hiện, lìa cảnh giới vọng tưởng của hai thứ có không thì chỗ chỉ của văn tự phải xem thế nào? Cho nên y văn tự thì không thể nói đệ nhất nghĩa, mà trái lại hay hoại đệ nhất nghĩa. Bởi không khéo rõ biết tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, chân như bản tế, thì cũng không thể biết chương cú của Thánh giáo. Vì thế, dựng lập tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng đều lìa tướng hiển bày đầy đủ tánh nghĩa, mới tin Thánh giáo ly ngôn, chỉ vì dẹp trừ hý luận, riêng nêu duy tâm, bên trong tự chứng hiện trụ nơi pháp lạc, bên ngoài dựng lập bình đẳng Nhất thừa. Sở hành của tự giác thánh trí này, Như Lai vì Bồ-tát y nghĩa dạy bảo thâm thiết, đâu phải cạn cợt ư?

Phật xác nhận nếu đạt tất cả pháp không thật có, giác được tự tâm hiện lượng, thì lìa hai thứ vọng tưởng. Các đại Bồ-tát do đó nương nơi nghĩa chứ không theo văn tự, nếu người nương theo văn tự là phá hoại đệ nhất nghĩa, không thể giác ngộ chúng sanh, vì dạy theo ác kiến của mình, không rõ biết tất cả pháp, tất cả địa (tất cả địa là giai bậc của Bồ-tát), tất cả tướng, không thông đạt chương cú vì không biết nghĩa. Ngược lại, ai khéo biết tất cả pháp không tự tánh, trải qua tất cả địa, thấu suốt tất cả tướng, thông đạt chương cú, biết đầy đủ tánh nghĩa, trụ vào vui chánh định vô tướng để tự vui và thành tựu cho chúng sanh.

Này Đại Huệ! Nhiếp thọ Đại thừa thì nhiếp thọ chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn. Nhiếp thọ chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn thì nhiếp thọ tất cả chúng sanh. Nhiếp thọ tất cả chúng sanh thì nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp thì giống Phật chẳng dứt. Giống Phật chẳng dứt thì hay rõ biết được chỗ vào thù thắng. Biết được chỗ vào thù thắng là hàng đại Bồ-tát thường được hóa sanh, dựng lập Đại thừa mười sức tự tại, hiện các sắc tượng, thông đạt các tướng phiền não, hy vọng, hình loại của chúng sanh, nói pháp như thật. Như thật là chẳng khác, như thật là tướng chẳng đến chẳng đi, tất cả hư ngụy đều dứt, ấy gọi là như thật. Đại Huệ! Người thiện nam thiện nữ chẳng nên nhiếp thọ theo lời nói mà chấp trước. Vì chân thật là lìa văn tự.

Đại thừa tức là pháp tự giác thánh trí nhất thừa. An trụ tự giác thánh trí nhất thừa tức là chỗ nhiếp thọ của chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn. Bởi vì tự giác thánh trí này là chỗ xuất sanh chư Phật, Bồ-tát. Nếu hay an trụ tức cùng chư Phật, Bồ-tát đồng thể nhiếp nhập; cũng hay nhiếp thọ chúng sanh, chúng sanh y đó mà được lợi lạc; cũng hay nhiếp thọ chánh pháp, chẳng bị tất cả thế luận làm dao động, tất cả ngoại đạo không tìm được chỗ dở, nắm giữ đệ nhất nghĩa pháp ấn tự tánh Như Lai, tức là giống Phật chẳng dứt. Đệ nhất nghĩa tâm tự tánh này tức là tất cả chỗ thù thắng. Nên nói “được đại tổng trì”. Được đại tổng trì tự nhiên tùy chỗ hóa sanh, dựng lập Đại thừa, thành tựu thập lực, đối hiện sắc thân tùy phiền não chúng sanh mà vì cứu giúp, dùng pháp vị như thật vô tướng an trụ điều phục, dứt các hý luận. Cho nên răn người tu hành không nên nhiếp thọ ngôn thuyết, chỉ phải nhiếp thọ chân thật. Đây là lìa văn tự mà được, chẳng phải cảnh giới giác tưởng. Người trí đối chỗ này nên phải tự nhận.

Nếu chúng ta có thể nhiếp thọ Đại thừa tức là nhiếp thọ pháp tự giác thánh trí. Pháp này là chỗ nhiếp thọ của chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn, nên chúng ta cũng nhiếp thọ chúng sanh. Chúng sanh nương đó được lợi lạc, tức là chúng ta nhiếp thọ chánh pháp và làm cho giống Phật chẳng dứt, vì tâm không bị Thế luận lay chuyển, được chỗ vào thù thắng đệ nhất nghĩa tâm thù thắng, được đại tổng trì. Từ đó tùy chỗ hóa sanh, dựng lập Đại thừa, được mười sức tự tại, tùy phiền não của chúng sanh mà hiện thân cứu giúp, an trụ điều phục bằng pháp vị như thật. Như thật là dứt hết mọi hư ngụy, hý luận. Nên khuyên phải lìa văn tự, lìa cảnh giới giác tưởng. Người trí phải khéo nhận chỗ này. Mượn ngôn thuyết để nhập đệ nhất nghĩa chứ đừng kẹt ở ngôn thuyết. Chúng ta đừng lo thành Phật không biết nói pháp, chỉ lo không thành Phật được. Lục Tổ thường được xem là người không biết chữ, nhưng chỉ cần nghe người khác đọc kinh là ngài giảng thông suốt. Thành Phật rồi, biết được tâm lượng của chúng sanh, nói ra điều gì cũng thành pháp hết. Còn không thì dù nói thao thao vẫn bị chê là đếm bò cho người.

Đại Huệ! Như vì kẻ ngu lấy ngón tay chỉ vật, kẻ ngu nhìn ngón tay mà chẳng thấy vật thật. Như thế kẻ ngu theo ngôn thuyết chỉ bày rồi nhiếp thọ chấp trước, rốt cùng chẳng bỏ, trọn không được đệ nhất thật nghĩa lìa ngôn thuyết chỉ ra. Đại Huệ! Thí như đứa bé nên cho thức ăn chín, không nên cho thức ăn sống. Nếu cho thức ăn sống khiến nó phát cuống, vì không biết phương tiện thứ tự làm cho chín. Đại Huệ! Chẳng sanh chẳng diệt như thế, nếu chẳng có phương tiện tu hành tức là chẳng khéo. Thế nên phải khéo phương tiện tu hành, chớ theo lời nói như xem ngón tay.

Đây lại nói phải lìa ngôn thuyết được đệ nhất nghĩa. Ngón tay dụ ngôn thuyết. Vật dụ đệ nhất nghĩa. Nghĩa là đệ nhất nghĩa do ngôn thuyết mà vào, chẳng phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa, cũng chẳng phải sở thuyết là đệ nhất nghĩa. Nếu y ngôn thuyết khởi cảnh giới vọng tưởng giác, đó là chấp sâu dày. Khiến người phát cuồng tức là cho cảnh giới vọng giác làm đệ nhất nghĩa, mất trí phương tiện, tự lầm làm lâm người. Như nói “tất cả pháp chẳng sanh”, đây là ngôn thuyết. Tự phải phương tiện quán sát pháp nào chẳng sanh, tại sao chẳng sanh? Dùng phương tiện quán sát liền biết tất cả pháp chỉ tự tâm hiện ra. Mê tự tâm thì vọng thấy hiện ra, hiện nhân mê thấy, chẳng có pháp thật. Giác tự tâm lượng thì mê vọng liền dứt, tất cả chẳng phải riêng có, trọn không có lấy bỏ. Chỗ không lấy bỏ ấy là tự tánh chân như, trong ngoài lặng lẽ, tức là đệ nhất thật nghĩa. Đây là khéo phương tiện tu vậy.

Phật dùng thí dụ ngón tay chỉ vật. Ngón tay dụ cho ngôn thuyết, vật chỉ cho nghĩa đệ nhất. Tay chỉ vật mà chúng ta lại nhìn ngón tay không nhìn vật được chỉ thì không biết ngón tay cũng chẳng biết vật. Đệ nhất nghĩa do ngôn thuyết mà vào, nhưng ngôn thuyết chẳng phải đệ nhất nghĩa. Người ngu vì chấp sâu dày nên y ngôn thuyết mà khởi vọng tưởng, chấp chặt chẳng bỏ thì không được đệ nhất nghĩa. Thí dụ nữa là đứa bé nên cho ăn thức ăn chín, nếu ăn thức ăn sống nó sẽ phát cuồng. Phát cuồng nghĩa là không có trí phương tiện, cho cảnh giới vọng giác là đệ nhất nghĩa, không biết thứ tự, mình đã lầm lại làm lầm người. Như nói tất cả pháp chẳng sanh, đó là ngôn thuyết. Biết nghĩa do tự tâm hiện nên chẳng sanh, không thật có thì dứt mê vọng, không lấy bỏ. Chỗ ấy là tự tánh chân như, trong ngoài lặng lẽ, là đệ nhất nghĩa. Đó là khéo biết tu.

Nếu nghe “tất cả pháp chẳng sanh” liền trên tất cả pháp phân tích thành vi trần đến không có gì, ấy cũng thuộc tướng khác của vọng tưởng. Bởi vì nơi không chấp có, lại nơi có chấp không, thảy đều đối pháp như thật riêng khởi cảnh giới, ấy là tướng khác. Cho đến nghe nói “tâm lượng” rồi dùng vọng tưởng giác, giác nơi tự tâm chấp là sâu kín, cũng đều do vọng hiện vọng, chẳng lìa vọng tưởng. Y ngôn thuyết mà chấp như xem ngón tay. Cho nên trên có dụ thức ăn sống, nếu không có phương tiện trở lại thêm lớn bệnh cuồng.

Nương ngôn thuyết này cho rằng các pháp không có, do phân tích mà thành vi trần, thành không thì vẫn là tướng khác của vọng tưởng, vì thuộc đối đãi nơi không chấp có, nơi có chấp không. Nghe nói tâm lượng lại chấp là sâu kín, toàn là vọng, như xem ngón tay, như thức ăn chẳng chín, không biết phương tiện thì lớn bệnh cuồng.

Thế nên, Đại Huệ! Nơi nghĩa chân thật phải phương tiện tu. Nghĩa chân thật là lặng lẽ vi diệu, là nhân Niết-bàn. Còn ngôn thuyết là do vọng tưởng hiệp. Vọng tưởng là do gom họp sanh tử. Đại Huệ! Nghĩa chân thật là từ người đa văn mà được. Đại Huệ! Đa văn là giỏi về nghĩa, chẳng phải giỏi về ngôn thuyết. Giỏi nghĩa là không theo các kinh luận ngoại đạo, tự thân chẳng theo cũng không khiến người khác theo, ấy gọi là đại đức đa văn. Thế nên người muốn cầu nghĩa phải thân cận bậc đa văn, nên gọi là giỏi nghĩa. Trái với người này tức là chấp trước ngôn thuyết, nên phải lìa xa.

Nơi nghĩa chân thật phải phương tiện tu, nghĩa là nhận ra được nhân Niết-bàn lặng lẽ vi diệu không phải ngôn thuyết do vọng tưởng nhóm họp sanh tử. Người đa văn giỏi về nghĩa chứ không phải giỏi ngôn thuyết, như Lục Tổ. Muốn được vậy phải thân cận người đa văn và xa lìa người chấp trước ngôn thuyết.

Là nhân chẳng phải quả gọi là Phật tánh. Là quả chẳng phải nhân gọi là Niết-bàn. Chẳng phải nhân chẳng phải quả là Phật tánh. Không nhân không quả là Đại Bát-niết-bàn. Đây đều là lời nói của Như Lai, lời thì khác mà nghĩa là một. Nghĩa chân thật là tự tánh thanh tịnh làm nhân, cứu cánh lặng lẽ làm quả. Song đây chẳng phải chỗ đến của người giỏi ngôn thuyết. Phải biết cái tịnh của tự tánh chẳng sanh lặng lẽ, không có nhân tướng; lặng nơi tự tánh chẳng từ tu được cũng không có nghĩa quả. Chỗ này người giác tự tâm hiện lượng tự biết tự chứng chẳng theo tất cả cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng. Nếu theo ngôn thuyết thì tăng trưởng vọng chấp, nhóm nhân sanh tử, tức chẳng phải Như Lai nói là đa văn. Như Lai thường nói người chỉ nghe hai chữ “thường trụ”, hiểu sâu nghĩa thú gọi là đa văn. Nếu người đọc được tất cả mười hai bộ khế kinh mà chẳng nghe “thường trụ”, gọi là vô văn. Thân cận bậc đa văn nên nói là giỏi nghĩa chẳng phải giỏi ngôn thuyết. Phải tự xét kỹ vậy.

Nhân là Phật tánh, quả là Niết-bàn, vì tất cả chúng sanh đều có sẵn Phật tánh, nhưng khi nào sạch hết phiền não che đậy mới được Niết-bàn. Như hạt mít có thể trở thành cây mít, nhưng nếu đem vùi trong bếp tro thì không có mít để ăn. Phải đem ươm, tưới, bón phân, vài năm mới có trái. Như vậy có nhân, phải khéo dùng phương tiện mới có quả. Chẳng phải nhân chẳng phải quả là Phật tánh, vì Phật tánh không sanh diệt. Không nhân không quả là Đại Bát-niết-bàn, vì không phải nhân quả sanh diệt theo thế gian. Phật nói lời khác nhưng nghĩa là một, người theo ngôn thuyết không thể đến được. Cái tịnh của tự tánh vốn lặng lẽ chẳng sanh, không do tu được, chỉ là giác được tự tâm hiện lượng, tự biết tự chứng, không theo ngôn thuyết vọng tưởng nên không có tướng nhân hay quả.

III- CHỈ NHƯ LAI CHẲNG SANH CHẲNG DIỆT KHÔNG ĐỒNG VỚI NGOẠI ĐẠO (Phân làm sáu phần)

1. NẠN NHƯ LAI ĐỒNG VỚI NGOẠI ĐẠO BỐN THỨ NHÂN TƯỚNG

Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại nương oai thần của Phật bạch Phật: Thế Tôn! Thế Tôn hiển bày “chẳng sanh chẳng diệt” không có gì kỳ đặc. Vì cớ sao? Vì tất cả ngoại đạo về nhân cũng nói “chẳng sanh chẳng diệt”. Thế Tôn cũng nói hư không, phi số duyên diệt (phi trạch diệt) và Niết-bàn giới chẳng sanh chẳng diệt? Thế Tôn! Ngoại đạo nói nhân sanh các thế gian. Thế Tôn cũng nói vô minh, ái, nghiệp, vọng tưởng làm duyên sanh các thế gian. Kia nhân, đây duyên chỉ là tên sai biệt thôi? Ngoại vật nhân duyên cũng như thế. Thế Tôn cùng ngoại đạo luận không có sai biệt. Vi trần, thắng diệu, Tự Tại, chúng sanh chủ v.v... như thế chín vật chẳng sanh chẳng diệt. Thế Tôn cũng nói tất cả tánh chẳng sanh chẳng diệt, có không, không thể được? Ngoại đạo cũng nói tứ đại chẳng hoại, tự tánh chẳng sanh chẳng diệt, tứ đại thường, tứ đại ấy cho đến châu lưu các thú chẳng bỏ tự tánh. Thế Tôn đã nói cũng lại như thế? Thế nên con nói không có gì kỳ đặc, cúi xin Thế Tôn vì nói chỗ sai biệt, do đó kỳ đặc hơn các ngoại đạo. Nếu không sai biệt thì tất cả ngoại đạo đều cũng là Phật, vì chẳng sanh chẳng diệt. Song Thế Tôn nói trong một thế giới có nhiều Phật ra đời là vô lý. Nếu như trước đã nói thì trong một thế giới lý ưng có nhiều Phật, vì không sai biệt?

Đại Huệ thưa rằng Thế Tôn nói chẳng sanh chẳng diệt đâu có gì đặc biệt hơn ngoại đạo. Ngài đưa ra bốn vấn nạn đều nương oai thần của Phật, nghĩa là ngài biết ý của Phật nên gạn hỏi chứ không phải tự ý hỏi.

Đây dùng bốn nạn muốn Như Lai phát minh lý do khác với ngoại đạo.

Một, nạn ngoại đạo chấp tác giả nhân chẳng sanh chẳng diệt, đồng với Như Lai ba pháp vô vi. Hư không tức là hư không vô vi, phi số duyên diệt tức là phi trạch diệt vô vi, Niết-bàn tức là trạch diệt vô vi. Bởi chẳng biết ngoại đạo nói tác nhân là ở trong mê vọng chấp, nhiếp thuộc sanh diệt. Chẳng sanh chẳng diệt cũng là vọng chấp. Nên nói sanh diệt tướng khác, chẳng đồng với ba pháp vô vi. Như Lai giác tự tâm hiện lượng, tự tánh lặng lẽ.

Ngoại đạo nói có tác giả làm nhân tạo thế gian như Thượng đế, thế gian thì sanh diệt còn Thượng-đế hay tạo hóa thì không sanh diệt. Như Lai nói ba pháp vô vi là hư không vô vi, phi số duyên diệt tức phi trạch diệt vô vi và Niết-bàn tức trạch diệt vô vi chẳng sanh chẳng diệt, vậy đâu khác ngoại đạo? Ngài Hàm Thị bình rằng: Tác nhân của ngoại đạo do vọng chấp, thuộc về sanh diệt, nên chẳng sanh chẳng diệt của họ cũng thuộc vọng chấp. Do đó tướng sanh diệt khác với ba pháp vô vi, do Phật giác tự tâm hiện lượng, tự tánh lặng lẽ không phải tạo tác, không có sanh khởi nên khác.

Hai, nạn ngoại đạo chấp tác giả nhân sanh các thế gian, dồng với Như Lai nói mười hai nhân duyên ba đời tương tục. Bởi không biết kia chấp tánh sanh, đây chỉ vọng duyên. Tất cả duyên sanh thảy do vọng hiện, chẳng phải tự chẳng phải tha, chẳng phải cộng chẳng phải không.

Ngoại đạo chấp tác giả nhân sanh các thế gian thì cũng giống như Phật nói mười hai nhân duyên sanh ba đời tương tục. Ngài Hàm Thị bình: Vì không biết, ngoại đạo chấp thật có tánh sanh, còn Phật nói chỉ do vọng duyên. Tất cả duyên sanh vô minh, ái... do vọng hiện, không phải tự sanh, tha sanh, cộng sanh hay vô nhân sanh, chỉ là hư dối, do đó khác.

Ba, nạn vi trần, thắng tánh như thế chín vật chẳng sanh chẳng diệt, cũng đồng với Như Lai nói tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt. Đâu biết Như Lai nói tự tướng pháp tánh, chân như dù có Phật ra đời hay không Phật, pháp nhĩ như thế, chẳng đồng với ngoại đạo vọng tưởng mà thành không có nghĩa thật.

Ngoại đạo nói chín vật vi trần, thắng diệu, Tự Tại, chúng sanh chủ... chẳng sanh chẳng diệt cũng giống Như Lai nói tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt. Đó là chẳng biết Như Lai nói tự tướng pháp tánh chân như, dù Phật có ra đời hay không cũng vẫn như thế, khác với ngoại đạo dựa vào vọng tưởng mà lập, không có nghĩa thật.

Bốn, nạn ngoại đạo chấp tự tánh tứ đại là thường là một, đồng với Như Lai nói có tứ đại khắp mười phương giới chẳng lưu ngại nhau. Bởi không biết Như Lai nói phi nhân phi duyên, phi hòa phi hợp cũng phi tự nhiên, do vọng tưởng hiện. Chính ở trong kinh Lăng-nghiêm nói rằng: “Kiến cùng kiến duyên và tướng sở tưởng như hoa đốm trong hư không vốn không thật có. Cái kiến và duyên này vốn là Bồ-đề diệu tịnh minh thể.”

Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói tứ đại trùm khắp mười phương, không lưu ngại nhau. Ngoại đạo cũng nói tứ đại là thường, là một đâu khác? Vì không biết, ngoại đạo chấp tứ đại thật có, còn Phật nói là do vọng tưởng hiện, không phải nhân duyên cũng không phải tự nhiên, không hòa cũng không hợp. Kiến cùng kiến duyên và tướng sở tưởng như hoa đốm trong hư không vốn không thật có. Cái kiến và duyên này vốn là Bồ-đề diệu tịnh minh thể. Tất cả năng sở đối đãi của thế gian đều như hoa đốm vốn không thật có. Nếu biết rõ như thế thì trở về với Bồ-đề diệu tịnh minh thể, là tánh giác sáng suốt thanh tịnh bất sanh bất diệt. Khác nhau như thế.

Trong một thế giới không có nhiều Phật. Nếu ngoại đạo đồng với Phật tức là có nhiều Phật. Tổng nạn ngoại đạo đồng với Phật để hiển bày sai biệt vậy.

2. CHỈ NHƯ LAI GIÁC TÂM TỰ LƯỢNG VỌNG TƯỞNG CHẲNG SANH

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói chẳng sanh chẳng diệt không đồng với ngoại đạo nói chẳng sanh chẳng diệt. Vì cớ sao? Vì ngoại đạo kia chấp có tánh tự tánh được tướng chẳng sanh chẳng biến, ta chẳng rơi vào loại có không như thế. Đại Huệ! Ta nói lìa loại có không, lìa sanh diệt, chẳng phải tánh chẳng phải không tánh, như các thứ huyễn mộng hiện, cho nên chẳng phải không tánh. Thế nào không tánh? Nghĩa là sắc tướng không tự tánh nhiếp thọ, vì hiện chẳng hiện, vì nhiếp chẳng nhiếp. Bởi lẽ ấy, tất cả tánh không tánh chẳng phải không tánh. Chỉ giác tự tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh an ổn vui vẻ thế sự hằng dứt.

Ngoại đạo mê tự tâm lượng, chỗ từ tâm hiện chấp có tự tánh. Đây vì không biết sanh nhân lưu chú, thấy lưu chú tương tục được tướng chẳng sanh diệt, gọi là rơi vào bên có. Vì tác giả làm nhân mà chẳng phải nhân, cũng rơi vào bên không. Pháp của Như Lai chẳng phải có chẳng phải không, lìa các thứ sanh diệt. Nên nói “các thứ sắc tướng thảy đều không có tự tánh như mộng huyễn”. Mộng huyễn chẳng phải không, vì không tánh nên chẳng phải có; có thấy có nhận chẳng thể nói không, không thấy không nhận chẳng thể nói có. Có không đều phi, cả hai đều xa lìa. Duy giác tự tâm hiện lượng, cảnh hiện ra đều là tâm, trọn không có thủ xả. Thủ xả đều quên, an trụ nơi tâm hải, lặng lẽ không lo, dạo đi trong thế gian như vườn nhà của mình.

Phật trả lời chẳng sanh chẳng diệt của Phật không đồng với ngoại đạo. Ngoại đạo do mê nên sắc tướng có hiện, có nhiếp, chấp có chấp không. Lại không biết sanh nhân trôi chảy liên tục, thấy liên tục nên chấp không sanh diệt. Thí dụ như ngọn đèn cháy từ tối đến sáng, bấc lụn, dầu cạn nhưng chúng ta luôn nghĩ là một ngọn đèn duy nhất. Thân mình cũng luôn đổi thay từ bé đến già, mình vẫn nghĩ là một không khác. Dòng sông chảy luôn luôn, nước đổi khác từng giây từng giây mà ta vẫn nghĩ là một. Đó là rơi vào có. Tác giả làm nhân mà chẳng phải nhân thì rơi vào không, như nói Thượng đế tạo muôn loài nhưng Thượng đế chỉ do ngoại đạo vọng tưởng ra, không có thật. Phật lìa có không, lìa sanh diệt, biết các pháp như mộng huyễn không có tự tánh, chỉ do tâm hiện nên không lấy hay bỏ, vọng tưởng chẳng sanh, dứt hẳn thế sự, an trụ nơi biển tâm, vui vẻ không lo, dạo khắp các cõi như dạo vườn nhà.

3. CHỈ RA NGOẠI ĐẠO VỌNG CHẤP CHẲNG THẬT

Phàm phu ngu si vọng tưởng tác sự, chẳng phải chư thánh hiền. Vọng tưởng chẳng thật như thành càn-thát-bà và người huyễn hóa. Đại Huệ! Như thành càn-thát-bà và người huyễn hóa thấy có các chúng sanh mua bán ra vào. Kẻ ngu vọng tưởng bảo thật có ra vào, mà thật không có người ra người vào, chỉ vì vọng tưởng kia. Như thế, Đại Huệ! Phàm phu ngu si khởi cái lầm chẳng sanh chẳng diệt, kia cũng không có hữu vi vô vi, như người huyễn sanh, kỳ thật không có hoặc sanh hoặc diệt, vì tánh không tánh không thật có. Tất cả pháp cũng như thế, lìa nơi sanh diệt. Phàm phu ngu si rơi vào chẳng như thật, khởi vọng tưởng sanh diệt chẳng phải các thánh hiền.

Đây là nói tột chỗ chấp tác nhân của ngoại đạo đồng với huyễn hóa, không có nghĩa thật. Tác sự là tác nhân, tức chỗ chấp có tướng tánh tự tánh. Nói chỗ chấp của kia là có tánh tự tánh thì chẳng phải người trí. Chính là vọng tưởng chẳng thật như thành càn-thát-bà, như huyễn hóa. Kẻ ngu vọng thấy ra vào, mà thật không có người ra vào. Tánh tự tánh đã không phải thật có, nên cũng không có tướng chẳng sanh diệt. Chính kia khởi chấp chẳng sanh diệt, cũng không thể phân biệt cái gì là hữu vi, cái gì là vô vi. Nói chỗ chấp tự tánh chẳng thật của họ tức là tưởng chẳng sanh diệt, cũng thuộc về vọng tưởng, không thể chỉ bày là hữu vi hay vô vi nên đều đồng với huyễn hóa. Lại chính chỗ chấp kia mà xoay lại nói: “Kỳ thật hoặc sanh hoặc diệt, tánh cùng không tánh đều không thật có. Tất cả pháp cũng như thế, lìa nơi sanh diệt”. Bởi vì muốn cho họ ngay nơi đó mà biết lỗi, được tự tướng như thật, thấy chỗ tịch tĩnh. Văn sau chỉ thẳng tự tướng tịch tĩnh chẳng khác với vọng tưởng mà được chân thật, chỉ cần một phen giác.

Phàm phu ngu si chấp có tướng tánh tự tánh (tác sự) mà không biết chỗ chấp ấy chỉ là vọng tưởng không thật, như thành càn-thát-bà, như huyễn hóa, thấy như có người ra vào mua bán sinh hoạt mà thật ra không có. Vì không thật có nên tánh tự tánh cũng không có tướng chẳng sanh diệt. Người ngu chấp tánh tự tánh này không sanh diệt thì cũng chỉ là vọng tưởng. Phật nói chẳng sanh chẳng diệt là pháp vô vi. Họ chấp có sanh nhân thì thuộc hữu vi, mà cho là chẳng sanh diệt thì không phân biệt được hữu vi và vô vi, chỉ vọng tưởng thôi, không đúng sự thật. Phật ngay chỗ chấp này của họ, xoay lại nói: Kỳ thật hoặc sanh hoặc diệt, tánh cùng không tánh đều không thật có. Tất cả pháp cũng như thế, lìa nơi sanh diệt. Vì muốn cho họ ngay đó biết lỗi, thấy được tự tướng như thật tịch tĩnh.

4. CHỈ THẬT TÁNH VỌNG TƯỞNG TỨC CHÂN TỊCH TĨNH

Chẳng như thật là chẳng thế, như tánh tự tánh, vọng tưởng cũng chẳng khác. Nếu khác với vọng tưởng thì chấp trước tất cả tánh tự tánh, chẳng thấy tịch tĩnh. Người chẳng thấy tịch tĩnh trọn chẳng rời vọng tưởng. Thế nên, Đại Huệ! Vô tướng kiến là thắng, chẳng phải tướng kiến. Tướng kiến là nhân thọ sanh, cho nên chẳng thắng. Đại Huệ! Vô tướng là vọng tưởng chẳng sanh, chẳng khởi chẳng diệt, ta nói là Niết-bàn. Đại Huệ! Niết-bàn là thấy nghĩa như chân thật, lìa vọng tưởng tâm tâm số pháp trước. Đạt được Như Lai tự giác thánh trí, ta nói là Niết-bàn.

Tiếp trước nói phàm ngu rơi vào chẳng như thật thì không thể như tất cả vọng tưởng tánh tự tánh, cũng chẳng khác. Phàm tất cả tánh như vọng tưởng tánh, không thể ngay đó phát minh được vọng tưởng tự tánh. Theo vọng khởi chấp dường như có pháp khác, tướng và kiến theo đó mà sanh, vì thế chẳng thấy tịch tĩnh. Chẳng thấy tịch tĩnh thì trọn không thể xa lìa vọng tưởng, đều do chẳng biết tự tánh vọng tưởng. Đây chỉ thẳng tự tánh vọng tưởng tức là chân thật.

Phàm phu ngu si không biết như thật thì không thể biết tánh tự tánh không khác vọng tưởng, cho nên không ngay đó phát minh được tự tánh vọng tưởng. Vọng tưởng không thật, biết không thật thì không theo vọng tưởng, tâm liền tịch tĩnh. Tịch tĩnh tức là Niết-bàn. Vậy tự tánh của vọng tưởng chính là tự tánh Niết-bàn. Nếu không quán tất cả pháp đều huyễn hoá mà thấy được bản chất vọng tưởng là hư dối, tâm cũng tịch tĩnh Niết-bàn. Nếu dấy động theo vọng tưởng là thấy như có pháp khác, tướng và kiến liền sanh, không được tịch tĩnh. Chúng ta tu làm sao để được tướng tức cảnh và kiến tức tâm không dấy động thì tâm lặng lẽ. Muốn được như thế, phải biết tự tánh vọng tưởng tức là chân thật. Đó mới là thù thắng.

Chỉ tự rõ biết không có tướng, kiến liền là Niết-bàn. Tướng, kiến là nhân thọ sanh, ngu nơi chân thật thì không thể an trụ. Đây là tất cả chúng sanh xưa nay thanh tịnh, thường bị khách nhiễm làm chướng. Cho nên biết, đoạn chướng bày ra chân như không hai, tức là tự tánh Niết-bàn. Nói là đoạn chướng tức là đoạn chướng tướng kiến này. Chướng này nếu đoạn liền thấy thật tánh vọng tưởng. Từ trước tâm tâm số pháp liền đó chóng lìa. Lìa thì tự giác thánh trí không có thể riêng, Như Lai nói là Niết-bàn.

Tâm thể vốn là thanh tịnh mà mê khởi kiến tướng rồi rong ruổi mãi trong sanh tử. Kiến và tướng tức là khách làm nhiễm ô tâm thể thanh tịnh của mình. Đoạn chướng tướng kiến này thì chân như hiện bày, chóng lìa tâm tâm sở đã có, thấy được thật tánh vọng tưởng, sóng lặng thành nước không hai không khác. Nên nói tự giác thánh trí không có thể riêng, Như Lai nói là Niết-bàn.

5. CHỈ VÔ NHÂN ĐỂ BÀY NGHĨA VÔ SANH

Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:

Diệt trừ sanh luận kia 

Dựng lập nghĩa chẳng sanh 

Ta nói pháp như thế 

Kẻ ngu không thể biết.

Ngoại đạo chủ trương có nhân sanh, Phật lập nghĩa chẳng sanh. Pháp này người ngu khó biết được.

Tất cả pháp chẳng sanh 

Không tánh không thật có 

Càn-thát-bà huyễn mộng 

Có tánh ấy không nhân. 

Chẳng sanh không tự tánh 

Vì sao không lại nói? 

Bởi lìa nơi hòa hợp 

Tánh giác biết chẳng hiện 

Thế nên không chẳng sanh 

Ta nói không tự tánh.

Tất cả pháp chẳng sanh vì không thật có như thành càn-thát-bà, người huyễn, cảnh mộng, tuy thấy như có mà không nhân chân thật. Các pháp đã không thật thì có gì để nói? Vì lìa nhân duyên hòa hợp thì không thể giác biết. Cho nên biết là không thì vọng tưởng chẳng sanh, Phật nói không có tự tánh vậy.

Bảo mỗi mỗi hòa hợp

Tánh hiện mà chẳng có

Phân tích không hòa hợp

Chẳng như ngoại đạo thấy.

Nhân duyên hòa hợp thấy có mà thật không, phân tích rõ ràng không giống cái thấy của ngoại đạo.

Tất cả các pháp do mê tự tâm bất giác liền hiện, không có tự tánh. Đây là lý do Như Lai nói chẳng sanh và không. Nói chẳng sanh là vì phá sanh luận. Nói pháp không là vì phá kiến chấp hữu. Kỳ thật tất cả pháp đều không tự tánh. Như thành càn-thát-bà mộng huyễn, tuy có tánh hiện mà vốn không nhân. Không nhân mà hiện nên không có nghĩa sanh, bởi không có tánh tự sanh. Trong khoảng kia nhân duyên hòa hợp gá tánh giác tri, dường như rõ ràng hiện tiền. Nếu lìa hòa hợp thì giác tưởng không có chỗ gá, hiện lại là trạng thái gì? Trong mộng hòa hợp ngay đó rõ ràng, sau khi có nhân duyên thức giấc thì ghi nhớ cái gì? Cho nên biết, không cùng chẳng sanh là nói tất cả pháp bất giác liền hiện không có tự tánh, mà không phải một bề chẳng sanh trống rỗng thành không. Mỗi mỗi hòa hợp tánh như bóng như vang, hiện mà chẳng phải có, chẳng đồng với ngoại đạo thật có sanh nhân, quyết đợi phân tích rồi sau mới biết nó là chẳng có.

Phật nói chẳng sanh để phá sanh luận, nói pháp không để phá kiến chấp có. Nhưng thật ra tất cả pháp đều do mê tự tâm mà hiện, tuy có hiện nhưng không nhân nên không nghĩa sanh, như mộng huyễn, như thành càn-thát-bà. Nghĩa là các pháp chẳng sanh do bất giác hiện, không có tự tánh nhưng không phải rỗng không; như bóng như vang, hiện mà chẳng phải có; nên khác ngoại đạo chấp có sanh nhân, đợi phân tích sau mới biết là không.

Mộng huyễn và tóc rũ 

Sóng nắng, càn-thát-bà 

Thế gian các thứ việc 

Không nhân mà tướng hiện 

Bẻ dẹp hữu nhân luận 

Nêu bày nghĩa vô sanh.

Nêu bày vô sanh là 

Pháp chảy mãi chẳng dứt 

Thịnh hành vô nhân luận 

Khủng bố các ngoại đạo.

Lặp lại tất cả pháp như mộng huyễn, tóc rũ, sóng nắng, thành càn-thát-bà không có sanh nhân, mà sanh sự (quả) rõ ràng. Dùng dây để chiết phục nhân luận, chính do đây nên bày vô sanh. Phàm “pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ”, pháp nhân chóng mở thì chỗ nhật dụng của bách tánh cúi ngước xoay quanh đều kham nối tiếp. Cho nên nói “nêu bày vô sanh là pháp chảy mãi không dứt”.

Không có nhân sanh mà có quả rõ ràng, như giấc mộng. Tại sao mộng? Mê! Mê thấy cảnh mà cảnh không thật có. Không thật có thì nhân sanh đâu có thật. Phật nói không có nhân sanh, để chiết phục luận có sanh, do đây bày vô sanh. Nếu mở được con mắt pháp thì trong sinh hoạt hằng ngày cúi ngước xoay quanh đều là đạo, có thể nối tiếp mãi chánh pháp. Nói cách khác khi ta cuốc đất trồng khoai, nhổ cỏ làm vườn... đều là pháp chân thật.

Song, lý do chiết phục ngoại đạo cũng chính tại đây. Nghĩa là do ngoại đạo vọng chấp các pháp có sanh nhân nên rơi vào hai lỗi: một là chẳng phải tự sanh do vọng tưởng hiện, hai là không thể sanh cái khác, vì không có tánh sanh. Nếu có thể sanh nhân thì tất cả pháp đều có cội gốc, không thể chóng liễu. Song có thấy và chẳng thấy, có nhiếp và chẳng nhiếp, chỉ do mê khởi, chẳng phải chẳng chóng liễu. Ngoại đạo không thể giác chỗ này luống nghe không nhân, chẳng rõ biết chỗ trở về mờ mịt không căn cứ. Cho nên biết họ ắt kinh sợ.

Đó cũng là lý do làm ngoại đạo khiếp sợ. Vì cái chấp của ngoại đạo có hai lỗi: Một là các pháp chẳng phải tự sanh mà do vọng tưởng hiện. Hai là không có tánh sanh nên không thể sanh cái khác. Nếu cho là có nhân sanh thì các pháp đều có cội gốc, nghĩa là có thật thì không thể chóng liễu ngộ. Thí dụ như cây mít, nếu để nguyên bảo người xô thì khó. Chúng ta cưa cây mít rồi dựng lên lại, hỏi có ai xô ngã được không? Cưa rồi xô thì cây ngã dễ dàng. Biết các pháp do vọng tưởng mà hiện, không có gốc rễ, không thật thì liễu ngộ ngay. Ngoại đạo không giác được điều này, nghe không nhân thì hoang mang, mờ mịt.

6. RỘNG CHỈ NGHĨA VÔ SANH (Phân làm hai phần)

a. Chỉ thẳng vô sanh

Khi ấy, Đại Huệ dùng kệ hỏi Phật:

Thế nào do nhân gì

Kia do cớ gì sanh

Ở chỗ nào hòa hợp

Mà làm vô nhân luận?

Đây là nhân Như Lai ở trước nói vô nhân luận, nên lại hỏi tất cả các pháp rốt ráo nhân gì, chỗ nào được hòa hợp, mà Như Lai nói vô nhân.

Thế Tôn lại dùng kệ đáp:

Quán sát pháp hữu vi 

Phi vô nhân hữu nhân 

Kia thuộc sanh diệt luận

Chỗ thấy từ đó diệt.

Ngoại đạo nói nhân thảy do vọng kiến. Người trí nếu hay quán sát tất cả pháp hữu vi đều do tự tâm bất giác vọng hiện, như mộng như huyễn không có nhân tướng, cũng không vô nhân. Cái thấy này chóng dứt liền hiệp vô sanh.

Ngài Đại Huệ hỏi vì sao Phật làm luận vô nhân. Phật đáp, do quán sát pháp hữu vi, chúng không phải có nhân hay không nhân. Nếu có nhân hay không cũng đều thuộc sanh diệt. Biết như thế thì dứt được cái thấy, hợp với vô sanh.

Đại Huệ nói kệ hỏi:

Thế nào là vô sanh

Là phải vô tánh chăng?

Là đoái xem các duyên

Có pháp tên vô sanh

Tên chẳng lẽ không nghĩa

Xin vì phân biệt nói.

Đây hỏi vô sanh là thảy không pháp hay là đợi duyên hội. Đã có tên vô sanh, có tên ắt phải có nghĩa.

Ngài Đại Huệ lại hỏi thế nào là vô sanh? Vô sanh là không có hay là do duyên hợp không có chủ, nên gọi là vô sanh? Nghĩa của vô sanh là sao xin Phật giản trạch.

Thế Tôn lại dùng kệ đáp:

Phi vô tánh vô sanh

Cũng phi đoái các duyên

Chẳng tánh mà có tên 

Tên cũng chẳng không nghĩa. 

Tất cả các ngoại đạo 

Thanh văn và Duyên giác 

Phi cảnh giới Thất trụ 

Ấy gọi tướng vô sanh.

Tất cả các pháp đều do tâm hiện, hiện chẳng phải không tánh, hiện chẳng đợi duyên, hiện chẳng phải tự tánh, song cũng chẳng phải không nghĩa tâm lượng. Đây là nghĩa tâm lượng vô sanh, còn chẳng phải cảnh giới của Nhị thừa, Thất trụ huống là ngoại đạo.

Phật dạy không phải không có thực thể, cũng chẳng phải do duyên. Tuy không thật mà có tên, tên này chẳng phải không có nghĩa. Nghĩa của nó chính là tướng vô sanh, không phải cảnh giới của Nhị thừa, ngoại đạo. Bồ-tát Thất trụ cũng chưa rõ được.

Xa lìa các nhân duyên 

Cũng lìa tất cả sự 

Chỉ có vi tâm trụ 

Tưởng sở tưởng đều lìa 

Thân kia tùy chuyển biến 

Ta nói là vô sanh.

Nhân duyên tức là thế gian nhân duyên hòa hợp. Tất cả sự tức là tất cả quả. Nghĩa là lìa kiến chấp nhân duyên hòa hợp nhân quả có không ở thế gian. Chỉ có niệm hiện tiền vi mật an trụ tịch tĩnh, chuyển năng sở tất cả thân vọng tưởng, mà làm tự giác thánh trí. Mê, ngộ dụng khác mà không có thể khác, nên nói tâm vốn vô sanh.

Cái vô sanh này lìa nhân duyên, lìa tất cả sự, nghĩa là lìa kiến chấp về nhân duyên hòa hợp, nhân quả có không của thế gian. Các pháp chỉ từ tâm mê hiện, không thuộc nhân duyên, cũng không thật có. Chỉ trụ vào tâm vi mật thì tưởng và sở tưởng đều lìa, thân theo đó chuyển biến thành tự giác thánh trí, Phật nói là vô sanh. Chúng ta tu muốn được như thế thì chỉ có niệm hiện tiền. Niệm mà vô niệm, nghĩa là hiện tại thấy nghe mà không dính mắc, vi mật an trụ tịch tĩnh, thì mới chuyển tất cả vọng tưởng, chuyển rồi thì tự giác thánh trí hiện tiền.

Ở đây chỉ thẳng thật thể hiện tại đang hiển lộ nơi sáu căn của chúng ta, chỉ cần tiếp xúc cảnh đừng thêm niệm thứ hai, thứ ba nghĩa là vọng tưởng không sanh, tâm liền tịch tĩnh vô sanh. Chỗ này không phải dễ, chúng ta vừa thấy nghe là khởi phân biệt đẹp xấu, hay dở liền. Phật tổ dạy nhiều cách giúp ta tỉnh thức, chẳng hạn như đi đứng nằm ngồi, súc miệng rửa tay... phải tụng kệ Tỳ-ni nhật dụng; hay dạy chúng ta thân đâu tâm đó, nghĩa là làm gì biết mình làm nấy, đi biết đi, đứng biết đứng, co biết co, duỗi biết duỗi. Đó là giúp mình sống hiện tiền chứ gì? Ở đây nói niệm hiện tiền là thấy nghe không thêm gì nữa. Lục Tổ nói niệm mà vô niệm là chỗ này. Như thế chỉ một thể mà do mê ngộ nên thấy khác, ngộ thì ngay đó vô sanh còn mê thì thành sanh diệt.

Không ngoại tánh vô tánh 

Cũng không tâm nhiếp thọ 

Đoạn trừ tất cả kiến 

Ta nói là vô sanh.

Như thế không tự tánh 

Không, thảy nên phân biệt 

Chẳng không, nên nói không 

Vô sanh nên nói không.

Đây nói giác tự tâm hiện lượng, chỉ rõ tất cả ngoại pháp không tánh, không tâm thủ cảnh, tất cả kiến chấp dứt tức là vô sanh. Câu vô sanh này cùng nghĩa không, không có tự tánh đều nói chính khi sanh là chẳng sanh, chẳng phải thảy đều không có pháp. Cho nên nói “chẳng không, nên nói không, vô sanh nên nói không”.

Phật định nghĩa vô sanh lần nữa. Vô sanh là tất cả pháp bên ngoài không có thật tánh, cũng không đem tâm chấp giữ, dứt hết các kiến chấp. Như thế vì các pháp không có tự tánh nên nói không, chứ chẳng phải không có pháp, ngay nơi sanh nói vô sanh. Vô sanh là không còn kiến chấp.

b. Chỉ pháp nhân duyên sanh phá trừ chấp nhận

Nhân duyên số hòa hợp 

Ắt có sanh có diệt 

Lìa các nhân duyên số 

Không riêng có sanh diệt 

Bỏ lìa nhân duyên số 

Lại không có tánh khác 

Nếu nói một khác ấy 

Là ngoại đạo vọng tưởng 

Có không tánh chẳng sanh 

Chẳng có cũng chẳng không 

Trừ số kia chuyển biến 

Ấy thảy không thể được.

Trên nói vô sanh tức ở đương sanh, chính là Như Lai chỉ bày lý vô sanh. Đây nói sanh diệt gốc nơi nhân duyên để rõ cái cớ chúng sanh lưu chuyển. Chỉ đạt lưu chuyển chính ở duyên sanh thì bỏ nhân duyên, lại không nói một khác, có không, như tứ cú của ngoại đạo vọng tưởng. Mới biết mê nhân duyên nên thấy sanh diệt, ngộ nhân duyên là hợp với vô sanh. Nếu lìa nhân duyên riêng có sanh diệt thì luận vô sanh cũng phá hoại nghĩa nhân duyên, mà chẳng phải đương sanh chẳng sanh, văn sau sẽ nói rõ.

Phật dạy ngay sanh là vô sanh, vì sanh là do nhân duyên hòa hợp tạm thấy tạm có mà chẳng thật. Ngoài nhân duyên thì không sanh diệt, cũng không có tánh khác nào cố định. Ngoại đạo vọng tưởng cho rằng có một thật thể sanh ra các pháp, không biết các pháp như mộng huyễn, vốn vô sanh, không thuộc có không, chỉ do duyên chuyển biến.

Chỉ có các tục số 

Lần lượt làm xiềng xích 

Lìa xích nhân duyên kia 

Nghĩa sanh không thể được. 

Sanh không tánh chẳng khởi 

Lìa các lỗi ngoại đạo 

Chỉ nói duyên xiềng xích 

Phàm ngu không thể hiểu.

Các tục số như mười hai nhân duyên móc nối với nhau làm xiềng xích, lìa nhân duyên này thì không có nghĩa sanh. Sanh không có tự tánh, không mắc lỗi như ngoại đạo chấp. Nhưng chỉ nói nhân duyên xiềng xích thì phàm ngu không hiểu được.

Nếu lìa duyên xiềng xích 

Riêng có tánh sanh ấy 

Tức là vô nhân luận 

Phá hoại nghĩa xiềng xích.

Như đèn bày các tướng 

Xiềng xích hiện cũng vậy

Ấy là lìa xiềng xích

Riêng lại có các tánh.

Các tục số tức là chỉ chúng sanh do nhân duyên sanh diệt, như xiềng xích liên hoàn chẳng dứt. Nếu chính nhân duyên kia chóng lìa xiềng xích liền không có sanh diệt có thể được. Liền đây vô sanh, một lúc phát kiến chẳng khởi, tự lìa lỗi của ngoại đạo. Chỉ dùng thuyết nhân duyên này, vẫn chẳng phải phàm ngu hay hiểu. Bởi vì lìa xiềng xích tức không sanh diệt, lìa xiềng xích tức không vô sanh. Mê ngộ đồng đường mà dễ sanh thấy khác. Nếu lìa xiềng xích (nhân duyên) riêng có sanh diệt thì Như Lai luận vô nhân. Cũng phải phá hoại nhân duyên mà lại có chỗ chỉ, như đèn bày các tướng, chẳng phải đèn tức các tướng. Sự hiện của nhân duyên nếu quả như vậy thì ngoài nhân duyên riêng có tánh khác, đã thành thuyết của ngoại đạo. Thế thì, nghĩa đương sanh mà chẳng sanh của Như Lai lại có chỗ nào được sáng sủa?

Nếu lìa nhân duyên mà nói có tánh sanh tức thuộc vô nhân luận, phá nghĩa nhân duyên. Nghĩa là khi lìa nhân duyên tức không sanh diệt mà lại có tánh sanh thuộc sanh diệt thì tánh sanh này không do nhân duyên, tức vô nhân. Như vậy là ngoài nhân duyên có tánh khác như đèn làm hiện các vật mà đèn chẳng phải vật. Làm sao nói được là ngay nơi sanh mà vô sanh?

Không tánh không có sanh

Như tự tánh hư không

Nếu lìa các xiềng xích

Tuệ không chỗ phân biệt.

Lại có các vô sanh 

Pháp hiền thánh sở đắc 

Kia sanh mà vô sanh 

Ấy là vô sanh nhẫn.

Đây hiển bày nghĩa đương sanh là chẳng sanh. Bởi vì tức nơi tánh mà không tánh, tức nơi sanh mà vô sanh. Hiện tại trong nhân duyên xiềng xích rõ ràng như tự tánh hư không, chẳng lìa chính nơi đây mà tự chứng tự biết. Chư hiền thánh đạt được pháp nhẫn đều không có hai ý chỉ.

Mười hai nhân duyên nương nhau mà có, không có tự tánh riêng nên như hư không, không sanh không diệt. Ngay nơi nhân duyên mà chứng biết vô sanh, nếu lìa nhân duyên xiềng xích thì trí tuệ không chỗ phân biệt. Chư hiền thánh đắc các pháp vô sanh là ngay nơi sanh mà vô sanh, gọi là vô sanh nhẫn.

Nếu khiến các thế gian 

Người quán sát xiềng xích 

Tất cả lìa xiềng xích 

Từ ấy được tam-muội.

Si ái các nghiệp thảy 

Ấy là xiềng xích trong 

Dùi, gỗ, đất, bánh xe

Chủng tử thảy bên ngoài.

Nếu khiến có tha tánh 

Mà từ nhân duyên sanh 

Kia không nghĩa xiềng xích 

Ấy là chẳng thành tựu.

Nếu sanh không tự tánh 

Kia lấy gì xiềng xích 

Vì lần lượt sanh nhau 

Nên biết nghĩa nhân duyên.

Lại khuyên thế gian chỉ hay quán sát xiềng xích (nhân duyên) không có tự tánh, chẳng sanh pháp khác, chính nơi đây bỗng nhiên không còn ngăn ngại, sẵn có chánh định liền khi ấy hiện tiền. Mới biết tất cả vô minh hoặc nghiệp, cây dùi, thanh gỗ, bùn, bánh xe, khi mê dường như có pháp, lúc ngộ chẳng từ nơi khác, lần lượt sanh nhau cái gì là tác giả? Nên nói “tướng kiến không tánh đồng như bó lau”. Nghĩa nhân duyên pháp vốn như thế.

Người thế gian nếu hay quán sát nhân duyên không tự tánh, lìa nhân duyên sẽ được chánh định. Nhân duyên gồm hai thứ: trong và ngoài. Nhân duyên bên trong như si ái và các nghiệp; nhân duyên bên ngoài như các chủng tử, dùi, gỗ, đất, bánh xe... là các pháp do nhiều duyên hợp lại, lần lượt sanh lẫn nhau, không có người tạo tác. Nếu có người làm ra (tha tánh) không phải nhân duyên sanh, không có nghĩa xiềng xích thì không thể được. Sanh không có tự tánh, các pháp lần lượt sanh nhau mới thành nghĩa nhân duyên, pháp vốn không có thật, chỉ mê mới hiện, nên nói tướng kiến không tánh đồng như bó lau, gá vào nhau mà tạm có.

Pháp cứng ướt ấm động 

Phàm phu sanh vọng tưởng 

Lìa số không pháp khác 

Ấy là nói không tánh.

Nêu cứng ướt ấm động để lệ tất cả pháp thảy từ vọng tưởng, dường sanh tương tục, lìa đây thì riêng không có, là nói không tánh.

Như thầy trị các bệnh 

Không có bao nhiêu luận 

Vì bệnh có sai biệt 

Nên lập các thứ trị.

Ta vì chúng sanh kia 

Phá hoại các phiền não 

Biết căn kia hơn kém 

Vì kia nói độ môn.

Phi gốc phiền não khác 

Mà có các thứ pháp 

Chỉ nói pháp nhất thừa 

Ấy tức là Đại thừa.

Phật như thầy thuốc, vì bệnh có nhiều sai biệt nên phải lập nhiều thuốc trị liệu. Chúng sanh nhiều phiền não, Phật nói nhiều pháp môn để độ tùy theo từng căn cơ. Tuy có các bệnh phiền não sai biệt nhưng cũng từ một gốc vô minh bất giác, Phật nói tất cả pháp rốt cuộc cũng quy về nhất thừa, tức là Đại thừa.

Kết nói Như Lai vì các chúng sanh rộng nói nhân duyên để phá hoại phiền não dựng lập độ môn. Tuy nhân căn dục có các thứ khác, dường như Phật cũng có các thứ giáo lý mà chẳng biết Như Lai chỉ có nhất thừa. Nên nói “Tự tâm hiện lượng, phương tiện nhiều môn, về nguồn không hai”.

IV- CHỈ NHƯ LAI NÓI PHÁP CHẲNG PHẢI THƯỜNG VÔ THƯỜNG, CHẲNG ĐỒNG VỚI NGOẠI ĐẠO (Phân làm hai phần)

1. HỎI NGOẠI ĐẠO VỌNG CHẤP VÔ THƯỜNG LÀ TÀ HAY CHÁNH

Khi ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Tất cả ngoại đạo đều khởi vọng tưởng vô thường. Thế Tôn cũng nói tất cả hạnh vô thường là pháp sanh diệt. Nghĩa này thế nào? Là tà hay chánh? Là có bao nhiêu thứ vô thường?

Nhân trước Phật nói chẳng sanh diệt là thường đã cùng ngoại đạo chẳng đồng, đây lại do pháp vô thường cũng có tà chánh nên khởi hỏi này. Đứng về tự tâm mà nói thì chẳng phải thường và vô thường. Bởi bất giác tự tâm vọng có hiện ra thì niệm niệm chẳng dừng, không có chủ tể. Thế thì, tất cả pháp sắc tâm trong ngoài như ngọn đèn, như đống lửa, như điện chớp, như bóng dáng, mé trước mé sau mỗi mỗi chẳng đến nhau, đây là chánh pháp nói vô thường. Phàm tự tánh như thật khó mà chóng giác nên vì nói vô thường khiến họ lần lần ngộ. Ngoại đạo luống ở ngoài tâm thấy tất cả pháp thật có sanh ra, thật có diệt mất, chấp thường mà vẫn chẳng phải nhân chân thật, chấp vô thường cũng chẳng phải chân tịch. Đây là lý do ngài Đại Huệ gấp cầu phát minh.

Câu hỏi của ngài Đại Huệ rất lý thú. Ngoại đạo nói tất cả pháp vô thường. Bây giờ Phật cũng nói tất cả hạnh vô thường sanh diệt. Vậy đâu có khác gì nhau? Vô thường như thế là tà hay chánh? Có bao nhiêu loại? Chúng ta thường chỉ nghĩ đơn giản là cái gì ngày nay mới, đến lúc cũ hư là vô thường, nhưng muốn hiểu cho rõ ràng là điều không phải dễ.

Đứng về tự tâm mà nói thì chẳng phải thường hay vô thường, nhưng vì bất giác mà hiện thì niệm niệm chẳng dừng đâu có chủ tể. Các pháp trong ngoài như đèn, lửa, điện chớp, bóng dáng... mé trước mé sau không đến nhau, niệm sau không biết niệm trước... dụ như ngọn đèn, từng giọt dầu thấm vào bấc rồi cháy, đến giọt khác liên tiếp nhau. Gọi là một ngọn đèn nhưng không thật có, chỉ là sanh diệt tiếp nối không dừng. Thân và tâm mình cũng thế, nếu chấp là thật thì sai lầm. Đó là vô thường theo chánh pháp. Hơn nữa tự tánh thật khó nhận biết, nên Phật nói vô thường cho phàm ngu bỏ chấp thân tâm dần dần ngộ được tự tánh. Ngoại đạo không biết, ngoài tâm chấp các pháp thật sanh thật diệt. Chấp thường mà chẳng phải nhân chân thật, chấp vô thường cũng chẳng phải chân tịch.

2. BÀY NGOẠI ĐẠO VÔ THƯỜNG ĐỂ HIỂN CHÁNH PHÁP CHẲNG PHẢI THƯỜNG VÔ THƯỜNG (Phân làm mười một phần)

a. Tổng bày bảy thứ vô thường

Phật bảo Đại Huệ: Tất cả ngoại đạo có bảy thứ vô thường, chẳng phải pháp của ta. Những gì là bảy? Kia có nói rằng: làm rồi mà bỏ, ấy gọi vô thường. Có nói: hình xứ hoại, ấy gọi vô thường. Có nói tức sắc là vô thường. Có nói trong khoảng giữa sắc chuyển biến, ấy là vô thường, không xen hở tự nó tan hoại như sự chuyển biến của sữa thành lạc, trong khoảng giữa không thể thấy, vô thường hủy hoại tất cả tánh chuyển. Có nói tánh vô thường. Có nói tánh không tánh vô thường. Có nói tất cả pháp chẳng sanh vô thường vào tất cả pháp.

Làm rồi mà bỏ, là có tánh vô thường hay làm các đại, các đại là thường, cái hay làm, làm rồi lại bỏ là vô thường. Hình xứ hoại, là chấp tứ đại và tứ đại tạo sắc năng tạo sở tạo chẳng hoại, chỉ phân tích thấy hình trạng dài ngắn hoại thôi. Tức sắc là tứ đại năng tạo là thường, tứ đại sở tạo là vô thường. Trong khoảng giữa sắc chuyển biến là năng tạo sở tạo trong khoảng giữa có tánh vô thường luôn luôn chuyển biến như sữa biến thành lạc v.v... tự nhiên biến đổi. Tánh vô thường là có tự tánh vô thường chẳng hoại mà hay hoại các pháp, như cây gậy, gạch, đá có tánh hay hoại. Tánh không tánh vô thường, là tánh chỉ năng tạo, không tánh chỉ sở tạo, tánh của năng tạo tạo xong liền hoại, pháp sở tạo cũng lại tùy hoại, đây là chấp năng sở đều hoại. Tất cả pháp chẳng sanh vô thường, là phân biệt tất cả pháp chẳng sanh, mà cho chẳng sanh khắp tất cả là vô thường. Đây là bày bảy thứ, văn sau rộng phá, trước sau không nhất định.

Bảy thứ vô thường của ngoại đạo:

1/ Làm rồi bỏ: các pháp được tạo ra, bỏ đó lần lần hoại đi. Thí dụ như những dụng cụ không được bảo quản sẽ bị hư hỏng. Đó là vô thường.

2/ Hình xứ hoại vô thường: chấp tứ đại và tứ đại tạo sắc tức năng tạo và sở tạo không hoại, chỉ hình tướng dài ngắn biến hoại mà thôi.

3/ Tức sắc là vô thường: chấp tứ đại năng tạo là thường, tứ đại sở tạo là vô thường.

4/ Trong khoảng giữa sắc chuyển biến: chấp sự vật có chuyển biến ngầm ở bên trong, như từ sữa biến thành bơ. Chuyển biến ngầm đó gọi là vô thường.

5/ Tánh vô thường: tự tánh vô thường chẳng hoại mà hay hoại các pháp, nghĩa là luật vô thường là thường, còn tất cả pháp là vô thường.

6/ Tánh không tánh vô thường: chấp có tức năng tạo và không tức sở tạo, đều vô thường.

7/ Tất cả pháp chẳng sanh là vô thường: phân biệt tất cả pháp chẳng sanh mà chấp chẳng sanh khắp tất cả là vô thường.

b. Tánh không tánh vô thường

Đại Huệ! Tánh không tánh vô thường là tứ đại và sở tạo tự tướng hoại, tứ đại tự tánh không thể được, chẳng sanh.

Tứ đại là năng tạo. Sở tạo là tất cả pháp. Kia chấp năng tạo sở tạo tự tướng, tạo xong thảy đều hoại, mà tứ đại tự tánh chẳng phải hình tướng có thể được, chẳng sanh. Chẳng biết tứ đại chủng do vọng tưởng mà thành, vọng vốn chẳng sanh cũng không có chỗ diệt, tức ở nhân duyên xiềng xích đều không có tác giả. Đâu thể khi năng tạo, sở tạo hoại lại có tứ đại tự tánh chẳng sanh ư?

Phật giải thích không theo thứ tự nêu trên. Trước hết giải thích tánh không tánh vô thường. Tứ đại tạo ra tất cả pháp. Ngoại đạo chấp tạo xong thảy đều hoại mà tự tánh của tứ đại không có hình tướng nên vô sanh. Đó là chẳng biết tứ đại do vọng tưởng mà thành vốn như huyễn, chẳng sanh chẳng diệt theo nhân duyên mà hiện đâu có tác giả, làm sao khi năng tạo sở tạo diệt lại có tự tánh tứ đại không sanh? Đây là loại vô thường thứ sáu trên.

c. Tất cả pháp chẳng sanh vô thường

Kia chẳng sanh vô thường, là chẳng phải thường vô thường, tất cả pháp có không chẳng sanh, phân tích cho đến vi trần thì không thể thấy, ấy là nghĩa chẳng sanh. Phi sanh, ấy gọi là tướng chẳng sanh vô thường. Nếu chẳng giác được chỗ này thì rơi vào nghĩa sanh vô thường của tất cả ngoại đạo.

Chẳng phải thường vô thường chính là chỗ chấp của ngoại đạo. Kia cho là tất cả pháp có không chẳng sanh, phân tích cho đến vi trần thì không thể thấy, ấy là nghĩa chẳng sanh. Phi sanh, bèn cho là chẳng sanh vô thường, mà không biết pháp của ta nói chẳng sanh, bởi do tự tâm bất giác vọng hiện như bóng như điện, không thể nói có không, mà chẳng phải phân tích không thấy. Vả lại, đã nói có tánh chẳng sanh vào tất cả pháp, đây tức là sanh, vì gọi là tác giả. Lẽ ưng nói sanh vô thường, mà lại nói chẳng sanh vô thường. Thế thì, cho sanh là chẳng sanh, là không biết nghĩa chẳng sanh; mà cho chẳng sanh là vô thường, lại chẳng biết nghĩa vô thường. Nếu chẳng giác chỗ này tức rơi vào nghĩa sanh vô thường của ngoại đạo mà lầm cho là chẳng sanh vô thường.

Đem một cục đất to, đập nhỏ ra, đập mãi thành bụi, thành vi trần, thành lân hư trần rồi thành không. Khi không thấy nữa gọi là chẳng sanh, rồi cho chẳng sanh là vô thường. Đây là chỗ chấp của ngoại đạo, cho rằng tất cả pháp có không đều chẳng sanh vì phân tích đến tận cùng chẳng có gì. Đó không phải nghĩa Phật nói. Đã nói có tánh chẳng sanh vào tất cả pháp thì là có tác giả, có sanh, đúng ra phải nói là sanh vô thường chứ đâu được nói chẳng sanh vô thường? Vậy là chẳng biết nghĩa chẳng sanh, cũng không biết nghĩa vô thường. Phật thì ngay sanh nói chẳng sanh vì tất cả đều từ tâm hiện không thật, không thường. Nếu không rõ thì chấp theo ngoại đạo. Đây là loại vô thường thứ bảy nói ở trên.

d. Tánh vô thường

Đại Huệ! Tánh vô thường ấy, là tự tâm vọng tưởng chẳng phải tánh thường vô thường. Vì cớ sao? Vì vô thường tự tánh chẳng hoại. Đại Huệ! Đây là việc tất cả tánh không tánh vô thường. Trừ vô thường ra không có cái gì hay khiến tất cả pháp tánh không tánh, như gậy, gạch, đá hay phá hoại các vật.

Tánh vô thường là ngoại đạo chấp tự tánh vô thường hay phá hoại các pháp. Trước xét cái tệ kia, là đối chỗ chẳng phải tánh thường vô thường mà vọng sanh phân biệt, bảo có vô thường tự tánh chẳng hoại. Dưới bèn nêu cái chấp kia, bảo việc tất cả tánh không tánh vô thường, chẳng phải có vô thường tự tánh hay hoại các pháp thì quyết không thể khiến tất cả pháp tánh không tánh vô thường. Như gậy, gạch, đá là dụ có sức hay phá hoại. Đây tức là năng hoại sở hoại rõ ràng có hai vật, cho nên ở sau phá đó.

Đây là loại vô thường thứ năm nói ở trên. Lỗi của lối chấp này là chỗ chẳng phải tánh thường hay vô thường mà khởi phân biệt rằng có tự tánh vô thường chẳng hoại, nghĩa là nếu không có tự tánh vô thường này phá hoại các pháp thì không có pháp nào vô thường cả. Như vậy có hai thứ năng hoại và sở hoại riêng biệt như có gậy, gạch, đá... đập nát vật khác.

Hiện thấy mỗi mỗi chẳng khác tánh ấy vô thường sự, chẳng phải tác, sở tác có sai biệt, đây là vô thường, đây là sự. Tác và sở tác không khác, là tất cả tánh thường, không nhân tánh. Đại Huệ! Tất cả tánh không tánh có nhân, chẳng phải chỗ biết của phàm ngu.

Nhân ở trên nói có cái vô thường tự tánh chẳng hoại mà hay hoại tất cả pháp thì nên có hai vật sai biệt. Cho nên phá rằng “hiện thấy trước mắt tất cả tánh (pháp) vô thường sự không có năng hoại sở hoại tướng sai biệt khác, thật có thể chỉ bày, bảo đây là vô thường tánh hay hoại, đây là vô thường sự bị hoại”. Đã năng sở chẳng khác thì tất cả tánh là thường không có nhân tánh. Nghĩa là tất cả pháp thường tự tịch diệt không có nhân tánh năng hoại. Như Lai lại chuyển ngữ nói “tất cả tánh không tánh vô thường sự cũng có nhân, song chẳng phải chỗ biết của phàm ngu”. Sao gọi là có nhân? Nghĩa là tất cả các pháp nhân vô thủy bất giác vọng có hiện ra không có tự tánh, sát-na sát-na niệm niệm chẳng dừng, nên nói “các pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ”, đây không phải chỗ biết của phàm ngu.

Hiện thấy trước mắt, không thể chỉ đâu là tánh vô thường hay làm hoại và đâu là việc vô thường bị hoại. Như thế thì năng sở không khác, tất cả tánh là thường, tịch diệt, không có nhân tánh hay phá hoại. Phật lại nói tất cả pháp có và không vô thường cũng có nhân mà phàm ngu không biết được. Nhân này chính là vô thủy bất giác mà vọng hiện tất cả pháp, chúng không có tự tánh, niệm niệm không dừng. Kinh nói các pháp trụ pháp vị, tướng thế gian thường trụ, là vậy.

Chẳng phải nhân chẳng tương tự sự sanh. Nếu sanh, tất cả pháp thảy đều vô thường. Là chẳng tương tự sự thì tác và sở tác không có sai khác, mà thảy thấy có khác. Nếu tánh vô thường, rơi vào tác nhân tánh tướng. Nếu rơi thì tất cả tánh chẳng cứu cánh. Tất cả tánh tác nhân tướng rơi thì, tự vô thường nên vô thường. Vì vô thường là vô thường nên tất cả tánh chẳng vô thường ưng là thường.

Nếu nhân và quả (sự) không giống nhau - tất cả pháp đều vô thường do có tự tánh vô thường phá hoại, tức là dùng nhân khác mà sanh quả khác - thì không thể được. Chỗ không khác mà thấy có khác chỉ là vọng chấp, không biết năng sở đều không, ngay nơi tánh tướng là vô sanh. Tất cả pháp nếu vô thường là tự vô thường, nếu có tự tánh vô thường là tác nhân thì chẳng phải cứu cánh. Không có tự tánh vô thường phá hoại, lẽ ra các pháp là thường. Đó là lỗi tự nói trái của ngoại đạo. Cho nên không thể có nhân tánh, chỉ là vọng chấp mà thôi.

Đây nhân ở trên tất cả tánh không tánh có nhân mà nói, để rõ vọng chấp nhân khác không thể sanh quả khác.

Ngoại đạo vọng chấp có vô thường tự tánh hay hoại các pháp, ấy vẫn dùng nhân khác mà sanh quả khác. Nếu sanh thì, nhân đã vô thường, tất cả pháp chẳng tương tự pháp khác cũng là vô thường, như người cũng có thể sanh súc, súc cũng có thể sanh người, năng sanh và sở sanh thảy đều lẫn lộn không có sai biệt. Song, người sanh người, súc sanh súc hiện thấy sai biệt thì nhân khác làm sao mà sanh quả khác? Đây chỉ theo vọng chấp nhân quả chẳng tương tợ, bẻ cái tự nói trái nhau của kia, mà ý thật ở chỗ nêu lên năng sở kia đều không, để hiện bày tất cả tánh tướng ngay nơi ấy là vô sanh. Cho nên lại nói “nếu tánh vô thường, rơi vào tác nhân tánh tưởng vv..” nghĩa là vô thường nhân tánh đã nói hay hoại tức là rơi vào tác nhân, bèn chẳng phải cứu cánh thường trụ. Song tất cả tánh đều chẳng phải cứu cánh thường trụ, do có vô thường hay hoại nhân tướng, ấy là tự vô thường. Thế thì, tất cả nên vô thường, tự vô thường, tất cả vô thường mà đã thấy tất cả lại chẳng phải vô thường, nên ưng là thường. Tất cả tánh thường tự tịch diệt, tác sở tác không sai biệt, nên nói “tất cả tánh thường, không nhân tánh”.

Nếu vô thường vào tất cả tánh, ưng rơi vào ba đời. Sắc quá khứ kia cùng cái hoại chung thì vị lai chẳng sanh, vì sắc chẳng sanh, sắc hiện tại cùng tướng hoại chung. Sắc là tứ đại nhóm họp sai biệt. Tứ đại và tạo sắc tự tánh chẳng hoại, vì lìa khác và chẳng khác. Tất cả ngoại đạo chấp tất cả tứ đại chẳng hoại. Tất cả tứ đại và tạo sắc ở trong ba cõi tại sở tri thì có sanh diệt. Lìa tứ đại tạo sắc, tất cả ngoại đạo nơi chỗ nào suy nghĩ tánh vô thường? Tứ đại chẳng sanh, vì tự tánh tướng chẳng hoại.

Đây do ngoại đạo chấp có vô thường tự tánh chẳng hoại vào tất cả pháp. Cho nên lại nói tất cả sắc pháp thảy rơi vào ba đời, ba đời sắc pháp đều thuộc hoại tướng, thì chỗ vào tự tánh chẳng hoại sẽ ở chỗ nào? Lại ngoại đạo thường chấp tứ đại chủng thể tánh chẳng hoại, nhân đây mà phá, bảo kia chấp sắc tức tứ đại chứa nhóm sai biệt, năng tạo sở tạo, lìa khác và chẳng khác, chẳng biết hiện tiền ba cõi tất cả tứ đại và tạo sắc là nhiếp về sanh diệt. Nếu lìa tứ đại tạo sắc, kia lại nương vào đâu suy nghĩ riêng có tánh vô thường vào nơi tứ đại, mà nói tự tánh chẳng hoại? Trên là tột kia không có pháp năng hoại, đây cùng tột kia cũng không tự tánh chẳng hoại. Năng sở đều không, nên nói “tất cả tánh tướng chính nơi đó là vô sanh”.

Ngoại đạo chấp tự tánh vô thường chẳng hoại mà hay hoại tất cả pháp. Tất cả pháp ba đời đều hoại thì tự tánh vô thường ở chỗ nào? Lại chấp thể tánh của tứ đại chẳng hoại, không biết rằng tứ đại và tạo sắc đều thuộc sanh diệt. Lìa tứ đại và tạo sắc là lìa năng tạo và sở tạo, thì ngoại đạo nương vào đâu để suy nghĩ có tự tánh vô thường vào tứ đại mà bảo nó chẳng hoại? Phải biết năng sở đều không, ngay nơi tánh tướng là vô sanh.

e. Tạo rồi mà bỏ vô thường

Lìa mới tạo vô thường, là chẳng phải tứ đại lại có tứ đại khác. Vì mỗi mỗi tướng khác, tự tướng chẳng phải sai biệt có thể được. Kia không sai biệt, đây thảy chẳng lẫn tạo. Hai phương tiện chẳng làm, nên biết là vô thường.

Đây ngoại đạo chấp có vô thường tánh làm tác giả hay tạo tứ đại, tạo rồi liền bỏ là vô thường. Chẳng phải tứ đại lại có khác với tứ đại đó, nói không thể lẫn nhau tạo. Lẫn nhau tạo như lửa tạo nước, nước tạo đất, mỗi mỗi tướng khác không thể lẫn nhau tạo. Cũng chẳng phải tự tạo, vì tự tướng không có sai biệt. Đây thảy cũng chẳng lẫn tạo, lẫn tạo tức là chung tạo. Hai phương tiện chẳng làm, là lửa cùng nước hiệp sanh thể tánh trái khác, rõ chẳng chung tạo. Phàm chẳng lẫn tạo, chẳng tự tạo, lại chẳng chung tạo, nên biết đại chủng nhân mê hư vọng chóng hiện, trung gian không chủ là chân tịch diệt. Chẳng nên dùng mới tạo lại bỏ là vô thường.

Đây là loại vô thường thứ nhất trên. Ngoại đạo chấp có tánh vô thường tạo tứ đại rồi bỏ. Nhưng tứ đại không thể có cái khác với tứ đại được tạo. Tứ đại lại không thể tạo lẫn với nhau như lửa và nước, nước và đất khác tướng không thể tạo chung với nhau. Mỗi thứ lại không thể tự tạo vì tự tướng không có sai biệt như đất không thể do đất tạo vì đất tạo này từ đâu ra? Cả hai phương tiện chung tạo và tự tạo này đều chẳng được, vậy nên biết tứ đại chủng nhân mê hư vọng mà thoạt hiện, không chủ, vốn tịch diệt.

f. Hình xứ hoại vô thường

Hình xứ kia hoại vô thường là tứ đại và tạo sắc chẳng hoại, đến tột chẳng hoại. Đại Huệ! Tột là phân tích cho đến vi trần quán sát hoại, tứ đại và tạo sắc hình xứ khác, thấy dài ngắn không thể được chẳng phải tứ đại. Tứ đại chẳng hoại, hiện hình xứ hoại, rơi vào Số luận.

Hình xứ là hình xứ dài ngắn của tứ đại. Thấy hình xứ dài ngắn của tứ đại diệt, mà sắc thể tứ đại năng tạo sở tạo chẳng diệt. Đây là Tăng-khư (Số luận) chấp tứ đại là thường luận. Phân tích tột cùng cho đến vi trần quán sát, chỉ hay hoại cái tướng có thể thấy là hình xứ dài ngắn của tứ đại tạo sắc, mà không phải tứ đại, nghĩa là thể tánh của tứ đại tạo sắc ắt không thể hoại, chỉ hình xứ hoại. Như Lai nơi đây chỉ nói “rơi vào Số luận”, bởi trước sau đã phá tứ đại tạo sắc không có tác giả, đã tột rõ ràng.

Đây là loại vô thường thứ hai ở trên. Ngoại đạo Số luận chấp tứ đại là thường. Hình tướng dài ngắn bên ngoài của tứ đại có thể hoại nhưng thể tánh tứ đại thì không hoại. Có thể nói thí dụ như thân mình, từ trẻ đến già hình tướng luôn biến đổi, lớn lên rồi lại tóp dần, nhưng tứ đại thì không đổi, lúc mập là tứ đại bên ngoài bồi thêm vào, lúc ốm là tứ đại trả lại ra ngoài, chứ không tiêu mất. Đây cũng là chấp thường không đúng lẽ thật, ở trên đã nói tứ đại và tạo sắc vốn không, do mê nên hư vọng hiện, không có tác giả.

g. Sắc tức vô thường

Sắc tức vô thường, là sắc tức là vô thường. Kia là hình xứ vô thường, chẳng phải tứ đại. Nếu tứ đại vô thường thì chẳng phải số ngôn thuyết của thế tục. Ngôn thuyết của thế tục không phải tánh, ắt rơi vào Thế luận. Thấy tất cả tánh chỉ có ngôn thuyết, chẳng thấy tự tướng sanh.

Tất cả sắc pháp duy tâm hiện ra, thảy là tánh vô thường, đây là Như Lai nói. Ngoại đạo chấp sắc này tức vô thường, chỉ dùng hình xứ mà chẳng phải tứ đại. Nếu tứ đại vô thường bèn chẳng phải số ngôn thuyết của thế tục. Tục số nói ra chẳng phải tánh, mới thật không pháp. Nếu vậy tức rơi vào đoạn kiến Thế luận, bởi chỉ có ngôn thuyết không có pháp tự tướng. Cho nên biết, tất cả các pháp tự tướng như thật chân lý, chỉ giác tự tâm hiện lượng nội chứng nhận được. Đây không phải khả năng của ngoại đạo đến được.

Đây là loại vô thường thứ ba. Là lối chấp của Thế luận sư ngoại đạo, rơi vào đoạn kiến. Chấp sắc vô thường là nói về hình xứ không phải nói tứ đại, chỉ có ngôn thuyết không có pháp tự tướng. Chỉ giác tự tâm hiện lượng mới chứng được tự tướng các pháp là chân lý như thật.

h. Sắc chuyển biến trung gian vô thường

Chuyển biến vô thường là sắc khác tánh hiện chẳng phải tứ đại. Như vàng làm các món đồ trang sức chuyển biến hiện ra, chẳng phải tánh vàng hoại, chỉ những món đồ trang sức bị hoại. Như thế, các tánh chuyển biến v.v... cũng như vậy.

Ngoại đạo chấp năng tạo sở tạo trung gian có tánh vô thường luôn luôn chuyển biến, như sữa biến thành lạc, sắc khác tánh hiện ra. Chẳng phải tứ đại là cũng như trên hình xứ tứ đại thấy diệt, mà thể tánh tứ đại chẳng diệt. Như vàng làm đồ trang sức, chỉ chuyển biến hiện, chẳng phải tánh vàng hoại. Các tánh là tất cả pháp chuyển biến cũng đều như thế.

Đây là loại vô thường thứ tư mà ngoại đạo chấp, cũng giống lối chấp hình xứ ở trên.

i. Kết bảy thứ vô thường vọng chấp

Như thế thảy, các thứ ngoại đạo chấp vô thường, vọng tưởng khi lửa đốt tứ đại, tự tướng chẳng đốt. Mỗi mỗi tự tướng tướng hoại thì tứ đại tạo sắc ưng đoạn.

Đây là nói chung bảy thứ hư vọng phân biệt. Đại lược đều cho ngoài hiện hình của tứ đại riêng có tự thể tứ đại, lửa không thể đốt. Nếu hay đốt được thì năng tạo sở tạo đều đoạn diệt. Đây là phân nửa sanh diệt phân nửa chẳng sanh diệt. Bởi do chẳng giác tự tâm hiện lượng, chẳng đạt các pháp duy tâm, vốn không có sanh cũng không chỗ diệt. Vọng thấy sanh diệt, vọng phân tánh tướng, thường chấp vô thường, vô thường chấp thường, trọn thành điên đảo.

Lửa đây là chỉ lửa vô thường hay hoại các pháp. Hình tướng tứ đại có thể hoại mà tự thể tứ đại chẳng hoại. Bảy thứ chấp của ngoại đạo tựu trung chỉ có thế. Chỉ vì chẳng biết các pháp do tâm tạo nên chấp thường vô thường đều điên đảo cả.

j. Chỉ Như Lai nói ra phi thường phi vô thường, để hiển tự tâm hiện lượng

Đại Huệ! Pháp duyên khởi của ta phi thường phi vô thường. Vì cớ sao? Vì ngoại tánh không quyết định, chỉ nói ba cõi duy tâm, chẳng nói các thứ tướng có sanh có diệt. Tứ đại hội hiệp sai biệt, tứ đại và tạo sắc, nên vọng tưởng hai thứ năng nhiếp sở nhiếp. Biết hai thứ vọng tưởng, lìa hai thứ chấp ngoại tánh không tánh, giác tự tâm hiện lượng. Vọng tưởng là tư tưởng tác hành sanh, chẳng phải chẳng tác hành. Lìa tâm vọng tưởng tánh không tánh thì thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng tất cả pháp phi thường phi vô thường... Chẳng giác tự tâm hiện lượng rơi vào hai bên ác kiến tiếp nối. Tất cả ngoại đạo chẳng giác vọng tưởng mình, phàm phu này không có căn bản. Nghĩa là thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng nói từ vọng tưởng sanh, chẳng phải chỗ giác của phàm ngu.

Như Lai đã nói các pháp phi thường vô thường, vì chẳng chấp nhận ngoại tánh có sanh diệt, chỉ nói ba cõi duy tâm, đây là ba đời chư Phật đồng một chỉ thú. Bởi vì các thứ sanh diệt do tứ đại và tạo sắc nhân duyên hội hiệp dường như có sai biệt. Song thật không có năng tạo sở tạo, do vô thủy bất giác một lúc liền hiện, nên nói “ba cõi duy tâm”. Không thể liễu đạt duy tâm mà khởi hai thứ vọng tưởng năng tạo sở tạo tức rơi vào kiến chấp có không, liễu đạt thì chóng lìa, chỉ một tâm lượng. Cho nên biết, tất cả tứ đại trong ngoài, sắc tâm các pháp đều do vọng tưởng phân biệt mà sanh tất cả hạnh nghiệp. Các hạnh nghiệp ấy chẳng thật có sanh thì chẳng lại đợi không. Chỉ lìa hai thứ phân biệt có không thì tự tâm hiện lượng thẳng đó hiện tiền, do đó Như Lai nói phi thường vô thường vậy. Nhân vọng tưởng mà bày hiện thế, xuất thế, xuất thế thượng thượng ba thứ pháp phân biệt, không thể nói là thường. Tức nhân vọng tưởng mà bày hiện thế, xuất thế, xuất thế thượng thượng ba thứ trí vô phân biệt, không thể bảo vô thường. Ngoại đạo có hai thứ ác kiến bởi do chẳng giác tự tâm hiện lượng, nơi vọng tưởng phân biệt không thể chính đó phát minh, được vô phân biệt căn bản tánh trí. Cho nên Như Lai ba thứ pháp theo chúng sanh phân biệt mở nói phương tiện, chẳng phải chỗ giác của phàm ngu.

Như Lai nói các pháp phi thường phi vô thường vì tất cả đều do vọng tưởng phân biệt mà hiện ra ba thứ pháp hiện thế, xuất thế và xuất thế thượng thượng. Ba pháp này không thể nói là thường vì năng tạo sở tạo do bất giác dường như có sai biệt, nhưng vốn không thật có, chỉ duy tâm. Lìa phân biệt có không thì tự tâm hiện lượng hiện tiền. Thế là cũng ngay nơi nhân vọng tưởng mà bày ba thứ trí vô phân biệt thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng, không thể nói là vô thường. Đây là phương tiện của Như Lai theo sự phân biệt của chúng sanh mà lập, chẳng phải chỗ giác của phàm ngu.

k. Tổng tụng

Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:

Xa lìa nơi mới tạo

Và cùng hình xứ khác

Tánh cùng sắc vô thường 

Ngoại đạo ngu vọng tưởng.

Các tánh không có hoại 

Đại đại tự tánh trụ 

Ngoại đạo tưởng vô thường 

Chìm tại các thứ chấp.

Ngoại đạo bị đắm sâu trong các thứ chấp cho là có pháp vô thường và tự thể thường, không biết các pháp từ tâm hiện, không thật thì không sanh không diệt.

Các chúng ngoại đạo kia

Không hoặc sanh hoặc diệt

Đại đại tánh tự thường 

Sao nói tưởng vô thường?

Đã không sanh diệt, sao nói vô thường?

Tất cả duy tâm lượng 

Hai thứ tâm lưu chuyển 

Nhiếp thọ và sở nhiếp 

Không có ngã ngã sở.

Phạm thiên là cội cây

Cành nhánh trải khắp giáp

Như thế ta nói ra

Chỉ là tâm lượng kia.

Hai kiến chấp lưu chuyển là nhiếp thọ và bị nhiếp thọ chỉ do tâm lượng, không có ngã tức người và ngã sở tức cảnh. Ngoại đạo cho Phạm thiên là năng tạo như cội cây, sanh các pháp như cành nhánh. Phật nói tất cả chỉ do tâm lượng.

Tụng nói ngoại đạo chấp tất cả vô thường đều bị vọng tưởng làm ngu, kỳ thật tất cả pháp không có tướng hoại. Chủng tánh các đại mỗi thứ trụ nơi pháp vị, tất cả sanh diệt là tự tướng chân như. Bởi do chẳng biết tâm lượng lầm cho là vô thường bị kiến chấp làm chìm. Nếu biết tất cả duy tâm thì hai kiến chấp lưu chuyển cũng duy tâm hiện, thẳng đó năng nhiếp sở nhiếp không, không có tác giả, toàn vọng là toàn chân, đâu lại có riêng. Cho nên chính ngay chỗ chấp kia cho Phạm thiên là cội cây hay sanh tất cả hữu tình khắp giáp ba cõi, các thứ tà vọng. Như Lai nói đều duy tâm lượng, giác tức Bồ-đề chẳng nhọc chuyển biến. Đây là đến chỗ vọng chấp của ngoại đạo khiến họ thoạt nhiên biết quấy liền đồng bản đắc. Như Lai dạy người có thể gọi là từ bi cùng tột vậy.

Biết chỉ do tâm tạo thì tất cả pháp hư vọng đều không, trở lại bản đắc. Ngay vọng tức chân, ly huyễn tức giác, giác tức Bồ-đề không nhọc chuyển biến.

Để kết thúc, tôi nói rộng một chút để thấy thâm ý của Phật. Kinh điển ngôn ngữ văn tự tuy nhiều, rườm rà, nhưng tâm rất đơn giản. Như trên Phật nói do vọng tưởng tạo thành hạnh nghiệp, do hạnh nghiệp mới có ba cõi. Như vậy ba cõi do vọng tưởng tạo, vọng tưởng tạo hạnh nghiệp lành thì sanh cõi trời, cõi người; hạnh nghiệp ác thì sanh cõi dữ. Vậy vọng tưởng chính là chủ, là tạo hóa sanh ra ba cõi chứ không gì khác. Chúng ta khởi vọng tưởng tu thì thành đầu tròn áo vuông. Nếu đang tu lại khởi vọng tưởng mê theo thế gian thì lại cởi y để tóc thành người thế gian. Vậy thì hạnh nghiệp rõ ràng do vọng tưởng mà có. Nó dẫn dắt chúng sanh đi suốt ba cõi, Phật dạy tam giới duy tâm là đây. Tâm là gốc, khởi vọng tưởng thì luân hồi. Muốn thoát luân hồi thì dứt vọng tưởng là xong. Hết vọng tưởng thì trí vô phân biệt hiện tiền, là giải thoát khỏi sanh tử. Rất đơn giản, Tu là sống trở lại cái chân thật sẵn có chứ không tìm kiếm đâu xa. Đừng theo vọng tưởng cuồng loạn vô nghĩa mà phải lặn hụp mãi trong biển sanh tử không có ngày dừng. Vọng tưởng cuồng loạn vô nghĩa mà bảo buông nó, bỏ nó lại làm không được là sao? Nó là chủ chốt tạo khổ cho mình, tại nó mà chúng ta không giải thoát, nó là thứ đáng ghét, thứ làm mình điên đảo. Các kinh đều đề cập đến vọng tưởng này, Phật luôn nhắc nhở mình đừng mê lầm theo nó. Chúng ta ngồi thiền cũng để dừng vọng tưởng này thôi, vậy mà không chịu nhớ!

V- CHỈ NHƯ LAI ĐỆ NHẤT NGHĨA CHÓNG TRỪ CÁC ĐỊA, RIÊNG HIỂN DUY TÂM (Phân làm năm phần)

1. NHÂN ĐẠI HUỆ HỎI CHÁNH THỌ, TRƯỚC CHỈ HÀNH TƯỚNG THẤT BÁT ĐỊA

Khi ấy Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tất cả Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác Diệt chánh thọ (Diệt tận định) thứ lớp tương tục. Nếu khéo nơi tướng Diệt chánh thọ thứ lớp tương tục, con và các Bồ-tát trọn chẳng vọng bỏ diệt chánh thọ lạc môn, chẳng rơi vào tất cả Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo ngu si.

Ngài Đại Huệ dạy thứ lớp tương tục của diệt thọ tưởng định thuộc tất cả Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác để chúng Bồ-tát khéo ở thứ lớp tương tục này không bỏ chánh định Diệt thọ tưởng mà không rơi vào Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo.

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói. Phật bảo Đại Huệ: Đại Bồ-tát đệ lục địa và Thanh văn, Duyên giác nhập Diệt chánh thọ; đại Bồ-tát đệ thất địa niệm niệm chánh thọ, lìa tất cả tướng tánh tự tánh chánh thọ, chẳng phải Thanh văn, Duyên giác. Thanh văn, Duyên giác rơi vào có hành giác, tướng năng nhiếp sở nhiếp Diệt chánh thọ. Thế nên, Bồ-tát Thất địa phi niệm chánh thọ, được tất cả pháp tướng không sai biệt, chẳng phải được từng phần các thứ tướng tánh, giác tất cả pháp thiện chẳng thiện tánh tướng chánh thọ. Thế nên Bồ-tát Thất địa không thiện niệm chánh thọ. Đại Huệ! Bồ-tát Bát địa và Thanh văn, Duyên giác tâm ý ý thức tướng vọng tưởng diệt.

Nhập diệt tận định tam thừa đều có. Thảy vì đối trị tâm ý ý thức của phàm phu, lìa tất cả tâm niệm phân biệt ngã và ngã sở. Chỉ vì Nhị thừa chẳng giác tự tâm hiện lượng như huyễn như mộng, vì đối trị nên thành thật pháp, nơi pháp chánh định chưa quên năng sở, có giác có hạnh, cho nên chẳng bằng Bồ-tát Thất địa niệm niệm chánh thọ. Sơ địa đến Lục địa vẫn không thể như Bồ-tát Thất địa niệm niệm chánh thọ. Song do Đại thừa vào phần kiến đạo, tuy có đối trị chưa lìa giác hạnh, nhưng đều thuộc phương tiện không cho là thật pháp. Mới biết lý do Thất địa được niệm niệm chánh thọ, do giác tự tâm hiện lượng rồi xả phương tiện, lìa tất cả tướng tánh tự tánh, được tuệ vô sai biệt, đây là nguyên nhân Nhị thừa chẳng có phần. Được các thứ tướng tánh, giác tất cả pháp tánh tướng thiện chẳng thiện chánh thọ, là chính chỉ Nhị thừa sợ rơi vào tướng vô sai biệt, muốn được các thứ tánh tướng thiện chẳng thiện mà vào chánh thọ, bỏ sanh đến diệt, phân biệt chưa quên, nên nói “dùng trạm hiệp trạm về tột mé thức”, cho nên không có thiện niệm chánh thọ của Thất địa. Thiện niệm tức là niệm niệm, cũng tức là phi niệm. Nói Đệ bát địa mới hay diệt vọng tưởng tâm ý ý thức Nhị thừa, là đến đệ bát địa được pháp vô ngã, tâm thức mới hết. Sơ địa đến Thất địa tuy giác tự tâm hiện lượng đều hay lìa tâm ý ý thức, nhưng đến Bát địa mới hết, nên nói “Bát địa diệt”. Thất địa đã không phương tiện giác hạnh được niệm niệm chánh thọ, mà chẳng nói Thất địa diệt, bởi chánh thọ sức thắng, pháp vô ngã chưa hiện, bản nguyện đại bi vẫn đợi nhớ niệm, cho nên chẳng nói cứu cánh diệt. Song đến Bát địa vẫn nhờ chánh định, giác tâm gia trì, mới hay cứu cánh viên mãn Như Lai địa, huống là Thất địa. Đại Huệ nhân ở trên tướng thường vô thường đã biện tà chánh, nơi đây lại thỉnh nói về các địa chánh thọ, muốn rõ được chỗ sai biệt của Đại thừa và Nhị thừa, cùng chỗ sai biệt của mỗi địa Bồ-tát, vì những người tu hành phát minh để tăng tấn.

Phật giản trạch sự khác biệt về diệt chánh thọ của Bồ-tát với Thanh văn, Duyên giác. Diệt chánh thọ của Bồ-tát Lục địa giống của Thanh văn, Duyên giác, nhưng chánh định này của Thanh văn, Duyên giác là chánh định do còn có hạnh có giác, năng sở chưa quên, có năng nhiếp sở nhiếp muốn được các thứ thiện chẳng thiện mà vào, nhưng chưa giác tự tâm hiện lượng nên cho pháp đối trị tâm ý ý thức là thật. Bồ-tát nhập địa từ Sơ địa đến Lục địa tuy cũng có hạnh có giác, có đối trị mà không cho là pháp thật vì đã vào phần kiến đạo; Bồ-tát Thất địa thì niệm niệm chánh thọ, là chánh định trong mỗi niệm vì lìa tất cả tướng tánh tự tánh, biết tất cả không có thực thể, đã nhận được tự tâm hiện lượng, xa lìa tâm ý ý thức, an trụ trong chánh thọ được tâm bất động. Niệm niệm còn gọi là phi niệm, Bồ-tát Thất địa không còn đối trị, chỉ niệm niệm sống với tự tâm hiện lượng, tuy không còn giác hạnh, chánh thọ mạnh mẽ nhưng tâm thức chưa hết hẳn, pháp vô ngã chưa hiện. Đến đệ bát địa mới dứt tâm thức nên nói Bát địa diệt. Nhưng Bát địa vẫn còn nhờ chánh định, có tâm giác gìn giữ thêm mới có thể đạt được cứu cánh viên mãn Như Lai địa.

2. CHỈ SƠ ĐỊA CHO ĐẾN THẤT ĐỊA, CÙNG NHỊ THỪA ĐỒNG KHÁC

Đại Bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa quán tam giới lượng tâm ý ý thức, lìa ngã ngã sở, tự vọng tưởng tu, rơi vào ngoại tánh các thứ tướng. Ngu phu hai thứ tự tâm nhiếp sở nhiếp thảy không biết, chẳng giác vô thủy lỗi ác hư ngụy tập khí huân nên.

Sơ địa đến Thất địa, bản Đường, Ngụy dịch đều nói “Sơ địa đến Lục địa, do Bồ-tát đã có chánh thọ cùng Nhị thừa đồng, duy đến Lục địa”. Bản dịch này nói chỗ thấy của Bồ-tát cùng Nhị thừa khác, nên nói Thất địa. Văn sau liền chỉ ra hành tướng Bát địa. Bồ-tát đạt tự tâm lượng nên hay quán tam giới trong ngoài đều do tâm ý ý thức bất giác hiện ra, vốn không có ngã sở, chỉ tự vọng tưởng nên ngoài thấy có tánh tướng. Nhị thừa chẳng đạt tự tâm rơi vào hai bên có không, khởi cảnh giới năng thủ sở thủ. Cho nên tuy cùng Lục địa đồng một chánh thọ mà Bồ-tát liễu đạt tất cả tánh không có tướng tự tánh mà vào chánh thọ. Nhị thừa giác các thứ tướng khác hy vọng mà vào chánh thọ. Một bên dùng sức phương tiện trừ sạch hiện tập. Một bên do chẳng giác chẳng biết bị vô thủy hư ngụy tập khí chuyển. Một quyền một thật đã chứng rõ ràng.

Như thế Bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa cùng Nhị thừa đồng chánh thọ, khác:

- Bồ-tát đạt tự tâm lượng, quán ba cõi trong ngoài đều do tâm ý ý thức bất giác hiện, không ngã sở; liễu đạt tất cả tánh không có tướng tự tánh mà vào chánh thọ, chỉ dùng sức phương tiện trừ sạch hiện tập (tập khí hiện có), thuộc Thật.

- Nhị thừa không đạt tự tâm lượng, rơi vào có không, khởi năng thủ sở thủ, bị tập khí hư ngụy từ vô thủy chuyển, thuộc Quyền.

3. CHỈ BÁT ĐỊA TAM-MUỘI GIÁC TRÌ

Đại Huệ! Đại Bồ-tát Bát địa là Thanh văn, Duyên giác Niết-bàn. Bồ-tát là do tam-muội giác gia trì, nên tam-muội môn lạc chẳng vào Niết-bàn. Nếu chẳng gia trì thì Như Lai địa chẳng đầy đủ, vì ném bỏ tất cả việc hữu vi của chúng sanh, hạt giống Phật ắt phải đoạn. Chư Phật Thế Tôn vì chỉ vô lượng công đức bất khả tư nghì của Như Lai. Thanh văn, Duyên giác nơi tam-muội môn được vui, bị dẫn, nên khởi tưởng Niết-bàn.

Bồ-tát Bát địa cũng có tam-muội lạc môn của Nhị thừa, do sức bản nguyện, tuy ở trong tam muội do giác gia trì nên chẳng vào Niết-bàn. Nếu chẳng gia trì thì không thể đầy đủ địa Như Lai, dẹp bỏ chúng sanh thì hạt giống Phật ắt phải đoạn. Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát Bát địa được mười phương Như Lai đồng thanh khuyến phát, bảo: “Chỗ sở đắc của ông Nhị thừa cũng có, phải nhớ vô lượng bất khả tư nghì công đức.” Thế nên biết, Bát địa phát khởi thảy do thần lực chư Phật, chẳng bị say cái tam-muội lạc của Nhị thừa. Thần lực chư Phật mà nói tam-muội giác gia trì, là Bồ-tát sơ phát tâm trụ do giác tự tâm hiện lượng vào Như Lai giác, đồng thể nhiếp trì cảm ứng đạo giao, dùng Phật giác tự giác, ở trong tam muội tự nhiên thức tỉnh không thể nghĩ bàn.

Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác ngang với đệ bát địa. Nhị thừa đắm trong cái vui Niết-bàn, an trú luôn trong đó. Vì còn tâm ý ý thức thì còn tạo nghiệp, mà tạo nghiệp thì còn sanh tử. Nay tâm ý ý thức đã lặng rồi, không còn tạo nghiệp thì hết sanh tử. Nhưng như thế thì đoạn hạt giống Phật, mình chưa đủ công hạnh để được gọi là Phật, cũng không có tâm độ sanh. Bồ-tát thì nhờ giác gia trì nên không vào Niết-bàn bỏ chúng sanh, thường được chư Phật mười phương khuyến phát. Nếu không phát nguyện độ sanh thì đoạn hạt giống Phật, phải nhớ vô lượng bất khả tư nghì công đức. Bồ-tát mới phát tâm nhờ giác tự tâm hiện lượng vào Như Lai giác, đồng thể nhiếp trì, cảm ứng đạo giao, dùng giác của Phật mà tự giác, ở trong chánh định được thức tỉnh không thể nghĩ bàn, gọi đó là thần lực của Phật hay tam-muội giác gia trì.

4. CHỈ THẤT BÁT ĐỊA XẢ LY TAM-MUỘI HIỆN TỰ TÂM LƯỢNG

Đại Huệ! Ta phân bộ Thất địa khéo tu tướng tâm ý ý thức, khéo tu ngã ngã sở nhiếp thọ, nhân pháp vô ngã, tự tướng cộng tướng sanh diệt, khéo được tứ vô ngại, sức quyết định tam-muội môn địa thứ lớp tương tục, vào pháp đạo phẩm. Chẳng khiến đại Bồ-tát chẳng giác tự tướng cộng tướng, chẳng rành về Thất địa, rơi vào lối tà của ngoại đạo, cho nên lập địa thứ lớp. Đại Huệ! Kia thật không có hoặc sanh hoặc diệt, trừ tự tâm hiện lượng, nên nói “địa thứ lớp tương tục và tam giới các thứ hạnh”, chỗ kẻ ngu không thể giác. Chỗ kẻ ngu không thể giác là ta và chư Phật nói địa thứ lớp tương tục và nói tam giới các thứ hạnh.

Phân bộ là phân biệt diễn nói. Như Lai nơi Thất địa phân biệt diễn nói. Nghĩa là Thất địa sanh nhân đã đoạn đồng với Nhị thừa, rất dễ đắm nhiễm nên vì phân biệt. Nếu khéo phân biệt tâm ý ý thức đều tự tâm hiện không có ngã ngã sở. Không ngã thì nhiếp thọ không người. Không sở thì nhiếp thọ không pháp. Không người không pháp thì lìa hy vọng đồng tướng và dị tướng. Bởi Nhị thừa giác các thứ dị tướng hy vọng chánh định nên dễ chấp lấy Niết-bàn. Nếu hay khéo biết chỗ này thì hay hiểu rộng pháp nghĩa Nhất thừa, giỏi tứ vô ngại, nơi tam-muội môn được sức quyết định tự giác gia trì, dùng đây để soi sáng các địa, tăng tiến đạo phẩm. Cho nên nói “chẳng khiến Bồ-tát chẳng giác tự tướng cộng tướng, chẳng rành về Thất địa, rơi vào lối tà của ngoại đạo”.

Phật phân tích Thất địa khéo tu tướng tâm ý và ý thức, bỏ được ngã và ngã sở, nhân và pháp đều không, tự tướng cộng tướng tức dị tướng đồng tướng sanh diệt đều lìa. Nhị thừa thì cho sanh tử là khổ đau, Niết-bàn là thanh tịnh vô sanh, là an lạc. Thấy có khổ có lạc là dị tướng, mới sanh hy vọng được chánh định, nhập Niết-bàn; cho Niết-bàn là chỗ chân thật. Nếu ngay nơi đây hiểu được tất cả pháp không thật, do tâm ý ý thức biến hiện thì thấu suốt được nghĩa nhất thừa, được tứ vô ngại, lần đến viên mãn đạo phẩm, không rơi lối tē.

Đây là chỉ thú Như Lai lập địa, mà nơi Thất địa rất phải dè dặt e rơi vào lối tẽ. Lại nói “kia thật không có hoặc sanh hoặc diệt, trừ tự tâm hiện lượng”. Nên nói “địa thứ lớp tương tục và tam giới các thứ hạnh”. Như Lai trước sau nêu cao bảo vệ pháp môn duy tâm. Nghĩa là duy tự tâm không có các địa thứ lớp. Lại cùng tất cả hành tướng trong tam giới, khi giác tự tâm hiện lượng thì được không thật có. Từ không thật có kiến lập tất cả pháp, vì độ kẻ bất giác chẳng phải vì người giác.

Theo Thập Mục Ngưu Đồ của Thiền tông, Thất địa tương đương chỗ chỉ còn mục đồng, Bát địa là chỗ trâu và mục đồng đều mất. Nhị thừa kẹt vào đây cho là Niết-bàn. Tam giới không thật, do mê hoặc sanh, chỉ tự tâm hiện lượng mới thật. Các địa thứ lớp và các hạnh nghiệp tam giới khi giác tự tâm hiện lượng thì đều không. Hạnh nghiệp do tâm nên không thật, tam giới cũng không thật thì không ngã, ngã sở. Thứ lớp các địa cũng thế, do sức giác mà đặt tên nhưng chỉ là một tánh giác thôi. Thí dụ học sinh đi học từ lớp một đến lớp mười hai, tuổi nào lớp nấy, nhưng trong đầu mình đâu có chia vùng chỗ nào lớp nào? Phật kiến lập phương tiện chỉ vì muốn dẫn dắt người bất giác.

Lại nữa, Đại Huệ! Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát đệ bát địa Diệt tam-muội môn lạc say bị say, chẳng rành tự tâm hiện lượng, bị tập khí tự tướng cộng tướng làm chướng, rơi vào nhân pháp vô ngã, kiến chấp pháp nhiếp thọ, vọng tưởng khởi tưởng Niết-bàn, chẳng phải trí tuệ giác tịch diệt. Đại Huệ! Bồ-tát thấy diệt tam-muội môn lạc, bản nguyện thương xót, đại bi thành tựu, biết phân biệt mười câu vô tận, chẳng vọng tưởng khởi tưởng Niết-bàn. Kia đã Niết-bàn, vì vọng tưởng chẳng sanh, lìa vọng tưởng năng nhiếp sở nhiếp. Giác rõ tự tâm hiện lượng thì tất cả các pháp vọng tưởng chẳng sanh, chẳng rơi ngoài tâm ý ý thức chấp trước vọng tưởng tướng tánh tự tánh, chẳng phải Phật pháp nhân chẳng sanh, tùy trí tuệ sanh được Như Lai tự giác địa.

Trên vì Thất địa phân bộ chẳng khiến rơi vào lối tẽ, đây đối với Bát địa thống thiết đinh ninh. Bởi vì Thanh văn, Duyên giác đến khi đăng quả đồng với Bồ-tát đệ bát Bất động địa, tất cả thế gian xuất thế gian tưởng niệm hằng dứt, chỉ chẳng rành tự tâm lượng bèn bị tập khí tự tướng cộng tướng che ngăn, thấy pháp ngoài tâm khởi tưởng Niết-bàn, không có tuệ tịch diệt. Cho nên Bồ-tát Bát địa đối Diệt tam-muội lạc hiện tiền liền nhớ nghĩ bản nguyện, khởi tâm đại bi, dùng mười câu vô tận (thập vô tận cú) thành tựu Phật địa, chẳng vào Niết-bàn. Nghĩa là đã vào Niết-bàn, chẳng lẽ lại vào Niết-bàn. Bồ-tát này giác tự tâm hiện lượng không có năng thủ sở thủ, thấy tất cả pháp chẳng phải riêng có, hằng lìa tâm ý ý thức và các thứ tánh tướng trong tam giới, chuyển thân vọng tưởng làm tự giác thánh trí, y thánh trí sanh đến cứu cánh giác địa. Cho nên nói “vọng tưởng chẳng sanh, mà chẳng phải Phật pháp nhân chẳng sanh”.

Sự sai biệt lớn nhất của Nhị thừa và Bồ-tát chính là ở chỗ giác tự tâm hiện lượng hay không. Biết được tự tâm hiện lượng thì không rơi vào cái vui Niết-bàn mà nhớ bản nguyện phát tâm đại bi thương xót chúng sanh, không bị tập khí tự tướng cộng tướng che ngăn, thấy có Niết-bàn ngoài tâm, muốn cầu được như người Nhị thừa. Dùng mười câu vô tận ở trước đã nói để thành tựu quả Phật. Bồ-tát giác được mình có Phật tánh chẳng sanh chẳng diệt là Niết-bàn rồi, còn muốn nhập Niết-bàn nào nữa? Sống với Phật tánh thì không vọng tưởng, tự giác thánh trí hiện, nương đó đến cứu cánh. Nghĩa là vọng tưởng hết, nhân Phật pháp sanh.

Như người trong mộng dùng phương tiện qua sông, khi chưa qua đã thức, thức rồi suy nghĩ là chánh hay là tà? Chẳng phải chánh chẳng phải tà? Các cái thấy nghe hiểu biết từ vô thủy nhân tưởng các thứ tập khí, các thứ hình xứ rơi trong tưởng có không nên tâm ý ý thức mộng hiện.

Đây dụ tập khí vọng thấy tự tướng cộng tướng khởi tưởng Niết-bàn, mà thật đều tự tâm hiện ra, không có nhân pháp, cũng không có cảnh giới năng độ sở độ. Như người trong mộng dùng phương tiện qua sông, thức rồi tâm dừng không thể nói tà chánh, chỉ là từ vô thủy tập khí còn thừa thấy nghe hiểu biết phân biệt. Nơi tất cả sắc tâm các pháp vọng chấp có không đều là việc mộng do tâm ý ý thức hiện ra, không có cảnh giới thật.

Đã là việc trong mộng thì nói gì chánh tà, hay không phải chánh không phải tà! Chỉ do tập khí từ vô thủy còn sót lại mà thấy nghe rồi hiểu biết phân biệt chấp tất cả pháp có không, tỉnh ra thì không có gì là thật. Bao hơn thua phải quấy một lúc buông sạch, tâm tự thanh tịnh, tức ở trong chánh định, an nhiên tự tại.

Đại Huệ! Như thế đại Bồ-tát nơi đệ bát địa Bồ-tát thấy chỗ vọng tưởng sanh. Từ Sơ địa chuyển tiến đến đệ thất địa thấy tất cả pháp phương tiện như huyễn v.v... độ tâm hạnh vọng tưởng năng nhiếp sở nhiếp rồi, khởi Phật pháp phương tiện, người chưa được khiến được. Đại Huệ! Đây là Bồ-tát Niết-bàn phương tiện chẳng hoại, lìa tâm ý ý thức được vô sanh pháp nhẫn. Đại Huệ! Đối với đệ nhất nghĩa không có thứ lớp tương tục, nói pháp không thật có vọng tưởng tịch diệt.

Nương dụ qua sông trên, đệ bát địa Bồ-tát cũng lại như thế. Bồ-tát đến đệ bát địa mới thấy chỗ vọng tưởng sanh. Nghĩa là giác tự tâm hiện lượng, đạt tất cả vọng tưởng đều do bất giác vọng thấy có không, đến đệ bát địa các vọng tưởng dứt, mới thấy chỗ sanh vọng tưởng. Thấy chỗ sanh vọng tưởng mới biết từ Sơ địa đến đệ thất địa tất cả pháp tướng đã có trọn như mộng huyễn, được trí phương tiện bình đẳng, độ tâm năng sở vọng tưởng hằng dứt, liền dùng tuệ phương tiện tự lợi lợi tha đến cứu cánh Phật địa. Đây là Bồ-tát vô trụ xứ Niết-bàn chẳng phải Nhị thừa quyết định tịch diệt Niết-bàn. Bồ-tát vô trụ xứ Niết-bàn lìa tâm ý ý thức, đối tất cả chỗ không hoại phương tiện, được vô sanh nhẫn, đây là đệ nhất nghĩa pháp không thật có tịch diệt. Nên nói “nơi đệ nhất nghĩa không có thứ lớp tương tục, nói pháp không thật có, vọng tưởng tịch diệt”. Không thứ lớp là không có các địa thứ lớp.

Bồ-tát đệ bát địa dứt hết vọng tưởng, thấy được chỗ vọng tưởng sanh đều do bất giác. Thế thì tất cả pháp tướng có được từ Sơ địa đến Thất địa đều như mộng huyễn, được trí phương tiện bình đẳng. Dùng trí này tự lợi, lợi tha đến cứu cánh Phật địa. Niết-bàn của Bồ-tát là Vô trụ xứ Niết-bàn nghĩa là lìa tâm ý ý thức, dứt tâm năng sở, không bỏ phương tiện để làm lợi ích chúng sanh, được vô sanh nhẫn, gọi là đệ nhất nghĩa, nói pháp không thật có, vọng tưởng tịch diệt. Niết-bàn của Nhị thừa là Niết-bàn quyết định tịch diệt. Hàng Nhị thừa an trú Niết-bàn này, không khởi tâm độ sanh, nên nói là mất hạt giống Phật.

5. CHỈ DUY TÂM XOAY VỀ TRỪ CÁC ĐỊA

Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:

Tâm lượng không thật có 

Đây trụ đến Phật địa 

Khứ lai và hiện tại 

Ba đời chư Phật nói.

Tâm lượng là tự tâm hiện lượng, tất cả pháp duy tâm. Không thật có là các pháp không thật có. Trụ là hai địa Thất và Bát. Đây trụ đến Phật địa là từ Thất địa do giác tự tâm hiện lượng, Bát địa rõ các pháp không thật có, dùng trí này mà đến Phật địa. Ba đời chư Phật đều nói như thế.

Tâm lượng, địa đệ thất 

Không thật có, đệ bát 

Hai địa tên là Trụ 

Phật địa tên Tối thắng.

Đệ thất và đệ bát địa gọi là Trụ vì không còn thối chuyển, nhưng đến Phật địa mới là Tối thắng.

Tự giác trí và tịnh 

Đây tức là địa ta 

Chỗ tự tại tối thắng 

Thanh tịnh khéo trang nghiêm 

Chiếu sáng như lửa mạnh 

Ánh sáng soi khắp nơi. 

Sáng lòa chẳng mờ mắt 

Xoay vòng hóa ba cõi

Hiện tại hóa ba cõi 

Hoặc có khi trước hóa 

Nơi kia diễn nói thừa 

Đều là Như Lai địa.

Đây nói về Phật địa, Tự giác thánh trí và thanh tịnh là chỗ tối thắng tự tại, chiếu soi khắp nơi, giáo hóa ba cõi. Có khi diễn nói các thừa trước nhưng đều đưa đến Phật thừa.

Thập địa tức là Sơ 

Sơ tức là Bát địa 

Đệ cửu tức là Thất 

Thất cũng lại là Bát. 

Đệ nhị là đệ tam 

Đệ tứ là đệ ngũ 

Đệ tam là đệ lục 

Không có thứ lớp gì.

Bài kệ thứ nhất nói các địa Phật địa đều không thật có, thảy là một duy tâm, ba đời Như Lai không có nói khác. Bài kệ thứ hai nói Thất địa chưa lìa tâm lượng, Bát địa lìa chưa cứu cánh, chưa phải là hành xử của Như Lai. Bài kệ thứ ba về sau đều nói Phật địa. Tự giác trí và tịnh tức là trí và tịnh dung nhau, nên nói “pháp thân thanh tịnh cùng pháp thân vô cấu” hiệp hai nghĩa này thành tựu Như Lai tự giác. Cho nên người được tự giác thánh trí tức ở cõi trời Sắc cứu cánh trong cung Đại Bảo Hoa thành Đẳng chánh giác, làm Bồ-tát Thập địa hiện thân rộng lớn ánh sáng chiếu soi, do đó đại hóa tiểu hóa tùy thuận hóa khắp giáp hiện tại, hoặc trước hoặc sau, đã có kiến lập thừa địa đều là Nhất thừa, thừa thừa đều là Phật thừa. Bởi vì Sơ địa cho đến Thập địa, một địa tức tất cả địa, tất cả địa tức một địa. Kinh Hoa Nghiêm hàng Thập trụ sơ tâm thành Đẳng chánh giác cùng Phật không khác. Ở đây Như Lai kiến lập pháp môn đệ nhất nghĩa, chóng trừ các địa riêng bày duy tâm.

Mục Lục
Thanh Từ Toàn Tập 7 - Kinh Lăng-già Tâm Ấn Giảng Giải - Phần II