NI SƯ TUỆ THÔNG
(Giữa thế kỷ XIV)
Ni sư họ Phạm, con gái của một gia đình đời đời làm quan. Ni sư xuất gia tu ở am trên núi Thanh Lương. Ni sư tu khổ hạnh, trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt, thường ngồi thiền định, diện mạo giống hệt La-hán. Kẻ đạo người tục xa gần đều kính mộ, danh tiếng Ni sư lừng lẫy, là bậc tông sư của ni chúng cả nước, tên tuổi ngang hàng với các bậc cao tăng. Vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) ban hiệu là “Tuệ Thông đại sư”.
Về già, Ni sư dời về ở Đông Sơn. Một hôm, Sư bảo đệ tử rằng: “Ta muốn đem thân hư ảo này thí cho hổ lang một bữa no.” Sư bèn vào giữa núi sâu ngồi kiết già, không ăn uống hai mươi mốt ngày, hổ lang ngày ngày tới ngồi chung quanh mà không dám đến gần. Đồ đệ nài nỉ Sư trở về am. Về am, Sư đóng cửa nhập định qua một mùa hè, rồi tập hợp đệ tử lại giảng đạo, bỗng nhiên ngồi tịch, tuổi ngoài tám mươi. Lúc hỏa táng có rất nhiều xá-lợi. Quan sở tại xây tháp cho Sư ngay trên núi ấy.
Tuệ Thông là hiệu vua ban. Một vị ni tu được như vậy là rất phi thường.
Ni sư tu rất chí thiết. Một hôm, Sư bảo đệ tử rằng: “Ta muốn đem thân hư ảo này thí cho hổ lang một bữa no.” Rồi vào giữa núi sâu ngồi kiết già, không ăn uống hai mươi mốt ngày. Người xưa thấy thân duyên hợp hư giả, không có gì quan trọng, muốn đem bố thí cho cọp đói, không để ý đến thân mình. Đó là tinh thần của người thấy đạo. Chúng ta bây giờ thấy thân thật quá, nhiều khi càng tu càng thấy thân là thật, không giả chút nào nên tu hoài không ngộ đạo.
Hổ lang ngày ngày tới ngồi chung quanh mà không dám đến gần, buộc lòng Sư phải trở về am. Về am, Sư đóng cửa nhập định một mùa hè, rồi tập hợp đệ tử lại giảng đạo, bỗng nhiên ngồi tịch, lúc đó tuổi đã ngoài tám mươi. Người xưa tự tại như vậy, chúng ta bây giờ sao lôi thôi quá, bệnh một chút là rên rỉ, tìm thầy tìm thuốc. Cho nên, đọc sử của người xưa, mình càng thấy hổ thẹn. Các ngài tu rất chí thiết nên được đạo, tự tại trong sanh tử. Còn chúng ta tu để mà tu chứ không nghĩ đến đạt đạo, lại đổ thừa thời mạt pháp khó tu. Cứ như vậy rồi bỏ qua một đời. Thật đáng tiếc.
Trước khi tịch Sư dạy đệ tử: “Sau khi ta đi nên chia bớt xương ta lại đây để mài rửa tật bệnh cho người đời.” Đến khi nhặt xương, thấy không đành bèn cho hết vào trong hộp phong lại. Qua đêm, bỗng một chiếc xương cùi tay trên bàn, bên ngoài hộp, mọi người đều kinh ngạc về sự linh nghiệm của Sư. Về sau, có người mắc bệnh đến khẩn cầu, đệ tử đem xương mài với nước cho rửa, mọi người đều lành bệnh ngay. Sự thệ nguyện của Sư sâu rộng như thế.
Không biết Sư thuộc hệ phái nào.
(Trích dịch Nam Ông Mộng Lục)
Không biết Sư thuộc hệ phái nào, nhưng sử ghi Sư đóng cửa nhập định ba tháng, ngồi thiền tức là tu thiền, không tu gì khác.
Cuối đời Trần rất nhiều vị tu hành có kết quả nhưng vì nước ta thời đó có giặc giã, nhà Lê lên trị vì lại đặt nặng về Nho giáo, không chú ý đến Phật giáo nên sử liệu có phần thiếu sót. Ngày nay chúng tôi tìm được bao nhiêu thì bổ túc thêm bấy nhiêu, chứ sự thật không phải chỉ như vậy. Đây là giai đoạn Phật pháp suy đồi vì hoàn cảnh, chứ không phải đạo lý bị suy mòn, vì có người tu đạt đạo rõ ràng. Trong thời gian đó, thỉnh thoảng vẫn có nhiều vị xuất hiện, cách khoảng hai ba trăm năm chứ không gần. Vì vậy, tôi chỉ giảng cuối đời Trần bấy nhiêu. Sau đây sẽ nói đến những vị thiền sư đời Lê, đời Nguyễn.