THIỀN SƯ ĐỨC MINH
Sư người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, họ Nguyễn, tên Bình An, đạo hiệu là Đức Minh. Cha tên Hương, mẹ là Trần Thị Hoa. Một hôm, mẹ mộng thấy Phật giáng hạ, rồi có mang sanh ra Sư.
Năm lên sáu tuổi, cha mẹ mất cả, phải ở nhà bà cô. Cô vốn nhà làm ruộng, bắt Sư chăn trâu. Sư vẫn còn nhỏ, nhưng rất mộ đạo Phật, ở túp nhà tranh bên đường, bày bàn thờ Phật bên tả, thường lấy cơm làm oản cúng. Việc chăn trâu Sư thường giao cho bọn trẻ khác. Gặp lúc trời đại hạn, ao đầm khô cạn, Sư thương loài tôm cá bị chết khô, liền cùng bọn mục đồng ra các ao đầm vớt lấy, đem thả vào sông Vĩnh Hựu. Bà cô thấy thế giận lắm, trách mắng Sư cay đắng. Sư cố nhẫn nhục ở, đến năm lên chín tuổi liền xuất gia, tu tại chùa Đại Bi trong làng. Người làng đều khen Sư là người có giới hạnh.
Ngài còn nhỏ mà lòng từ bi đã tràn đầy, thấy cá tôm sắp bị chết khô thì bắt thả xuống sông. Đó là duyên từ thuở nào chứ không phải đời này. Đến năm lên chín tuổi, ngài xuất gia. Bởi đạo đức từ thuở bé nên ngài rất được người trong làng quý kính.
Năm mười lăm tuổi, Sư đi vân du khắp nơi, đến xã Tiên Lữ, huyện An Sơn, lên núi ngắm cảnh rất thích thú. Núi này có chùa một gian hai chái, một vị Trưởng lão tu tại đây. Sư yết kiến Trưởng lão xin theo tu hành. Trưởng lão giảng dạy kinh kệ, Sư học tinh tấn, không bao lâu hiểu thông mọi pháp linh thông. Ở chùa Tiên Lữ mười năm, Sư nổi tiếng “đắc đạo”. Vua Trần nghe tiếng sắc phong là Hòa thượng, cho hiệu là Đức Minh, rồi mời về ở chùa Trường An.
Sau khi tin Trưởng lão tịch, Sư về thờ phụng ba năm. Sư về làng thăm, bà cô giao trả lại những ruộng của cha Sư để lại trước. Sư cố từ chối không nhận, trở về chùa núi Tiên Lữ ở tu. Sư xây dựng lại ngôi chùa mới. Thợ làm hơn trăm người, Sư chỉ để một nồi cơm nhỏ và một ít muối trên bàn, một lát biến thành cỗ chay la liệt, mọi người ăn mãi không hết. Lúc chùa đang xây dựng, Sư đi guốc gỗ qua lại trên cây kèo xem thợ làm, đi lại bình thường như đi trên đất. Thợ thầy trông thấy đều bái phục thần thông của Sư.
Ngài tu đạt đạo rồi thì đầy đủ các thần thông diệu thuật, để lo cho việc đạo.
Sư tuổi đã chín mươi lăm, một hôm vào ngồi trong am gỗ, gọi chư tăng đến bảo:
- Nay ta đã hết trần duyên sẽ tịch. Các ông đóng cửa am lại, sau ba tháng mở ra, nếu thấy mùi thơm thì để thờ, nếu thấy hôi thối thì đem táng ở ngoài đồng.
Nói xong, Sư liền ngồi yên thị tịch. Sau một trăm ngày, chư tăng mở cửa am, nghe mùi hương thơm phức, mọi người liền làm lễ phụng thờ, nhân dân khắp miền chung quanh đều sùng bái. Xã Bối Khê cũng lập đền thờ phụng, hằng năm cứ ngày mười hai tháng giêng tại các nơi thờ Sư đều có hội tế lễ, người đến xem hội rất đông. Người đời gọi Sư là Thánh Bối.
Ngài tịch khi đã chín mươi lăm tuổi, rất thảnh thơi tự tại. Ngài ngồi trong am gỗ, bảo đệ tử đóng cửa am lại, nếu một trăm ngày mở ra nghe mùi thơm thì để xác mà thờ, còn nghe mùi hôi thì đem chôn. Sau một trăm ngày, tăng chúng mở cửa am, nghe mùi thơm liền làm lễ phụng thờ. Đó là những điều phi thường mà chúng ta khó thấy, khó biết.
Chùa này bây giờ là chùa Trăm Gian ở Bối Khê, xã Tiên Lữ, nên cũng gọi là chùa Tiên Lữ. Chùa nằm trên ngọn núi rất đẹp, khách hành hương ra Bắc viếng các chùa đều đến đây.
Sau vua Trần Hậu Đế tuổi cao chưa có con trai, lên chùa Tiên Lữ cầu đảo, sanh được hoàng tử, liền tặng phong Sư là “Đại Thánh Khai Sơn Nghĩa Tồn Bình Đẳng Hành Thiện Đại Bồ-tát”, và xuống chiếu cho địa phương phải phụng thờ nghiêm cẩn.
Đến nay chưa biết Sư tu theo tông phái nào của đạo Phật. Song chúng tôi đọc thấy một đoạn trong “Thỉnh Thánh Tổ Khoa”, tức là khoa cuối thỉnh Thánh Tổ ở chùa Quảng Nghiêm viết thế này:
“Nhất tâm phụng thỉnh, thiền lưu diễn phái, Phật tổ truyền đăng, đương giác hải chi ba lan, diệu mê đồ chi nhật nguyệt. Thần thông nhập thánh, tâm tức Phật, Phật tức tâm; phản chiếu hồi quang, sắc thị không, không thị sắc. Tịch diệt thường tồn chân tánh, nhạo phong trần bất động thủy ba thanh. Hộ giáng kiết tường, bảo an nhân vật.
Cung duy, Nam Việt Khai Tiên Lữ Sơn Nghĩa Tồn Bình Đẳng Hành Thiện Bồ-tát.”
Dịch: Một lòng phụng thỉnh, dòng thiền tràn ngập, Phật tổ trao đèn; dậy sóng mòi nơi biển giác, soi nhật nguyệt nơi đường mê; thần thông nhập thánh, tâm là Phật, Phật là tâm; hồi quang phản chiếu, sắc là không, không là sắc; chân tánh tịch diệt thường còn, ưa phong trần chẳng động sóng nước trong; hộ xuống điềm lành, bảo an nhân vật.
Cúi mong, Nam Việt Khai Tiên Lữ Sơn Nghĩa Tồn Bình Đẳng Hành Thiện Bồ-tát.
Dòng thiền tràn ngập Phật tổ trao đèn, chư tổ trong nhà thiền trao đèn nối đuốc, truyền đăng tục diệm từ xưa đến giờ.
Dậy sóng mòi nơi biển giác, soi nhật nguyệt nơi đường mê. Trong biển giác, ngài đã thấy được đạo; trên đường mê, ngài đã là ngọn đèn, là mặt trời mặt trăng soi đường. Thần thông nhập thánh, ngài tu đã đạt được thần thông. Tâm là Phật, Phật là tâm, đó là chủ trương của thiền. Hồi quang phản chiếu là con đường chúng ta đang đi. Sắc là không, không là sắc; chân tánh tịch diệt thường còn, ưa phong trần chẳng động sóng nước trong; hộ xuống điềm lành, bảo an nhân vật.
Đọc qua bài thỉnh này, chúng ta thấy ngài quả là một thiền sư. Sau khi Tam Tổ Trúc Lâm dừng, không còn truyền thừa, vẫn còn rất nhiều vị thiền sư sống trong rừng núi xa xôi. Các ngài cũng tu hành đắc đạo, nhưng vì cuối đời Trần giặc giã liên miên, đất nước không yên ổn nên không thuận tiện cho sự truyền bá đạo Phật. Vì vậy, hệ phái Trúc Lâm Yên Tử tưởng như vắng thiếu, nhưng thật ra không phải đã dừng, đã hết.