Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 36 - Hành Trạng Thiền Sư 7
Thiền Sư Việt Nam Giảng Giải - Phần II
Tông Lâm Tế Truyền Vào Miền Trung Việt Nam (Đàng Trong)

THIỀN SƯ NGUYÊN THIỀU

(1648 - 1728)

Đời thứ 33, tông Lâm Tế

Sư họ Tạ, pháp danh Nguyên Thiều, hiệu Hoán Bích, quê ở Trình Hương, Triều Châu, Quảng Đông, xuất gia năm mười chín tuổi, tu ở chùa Báo Tư, thọ giáo với hòa thượng Bổn Khao Khoáng Viên.

Niên hiệu Cảnh Trị thứ ba, đời Lê Huyền Tông (năm Ất Tỵ - 1665), đời chúa Nguyễn Phúc Tần thứ mười tám). Sư đi theo tàu buôn sang An Nam, trú ở Quy Ninh (Bình Định), lập chùa Thập Tháp Di Đà mở trường truyền dạy. Sau Sư ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung (thuộc huyện Phú Lộc, nay hãy còn), rồi lên Xuân Kinh (Huế) lập chùa Quốc Ân và lập tháp Phổ Đồng.

Sau Sư lại phụng mệnh chúa Anh Tông (Nguyễn Phúc Trăn 1687-1691) trở về Trung Quốc tìm mời các danh tăng và cung thỉnh pháp tượng pháp khí.

Sư về Quảng Đông mời được hòa thượng Thạch Liêm và các danh tăng khác, cùng thỉnh được nhiều kinh điển tượng khí đem về. Chúa Nguyễn liền sắc mở đàn truyền giới rất long trọng tại chùa Thiên Mụ. Sau đó, chúa Nguyễn sắc ban Sư chức Trụ trì chùa Hà Trung.

Một hôm, Sư lâm bệnh, họp môn đồ lại dặn dò mọi việc và truyền bài kệ rằng:

Âm:

Tịch tịch kính vô ảnh

Minh minh châu bất dung

Đường đường vật phi vật

Liêu liêu không vật không.

Dịch:

Lặng lẽ gương không bóng

Rỡ rỡ châu chẳng hình

Rõ ràng vật phi vật

Vắng vẻ không chẳng không.

Ngài viết kệ xong ngồi yên lặng thị tịch. Hôm ấy là ngày mười chín tháng mười niên hiệu Bảo Thái thứ mười nhà Lê (1729), thọ 81 tuổi. Đệ tử và tể quan thọ giới đồng xây tháp ở bên đồi nhỏ xóm Thuận Hóa làng Dương Xuân Thượng, làm lễ nhập tháp để hương quả tôn thờ.

Hoàng đế Hiển Tông ban thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền Sư và làm bài minh khắc vào bia tán thán đạo đức của Sư:

Âm:

Ưu ưu Bát-nhã

Đường đường Phạm thất

Thủy nguyệt ưu du

Giới trì chiến lật.

Trạm tịch cô kiên

Trác lập khả tất

Quán thân bản không

Hoằng pháp lợi vật.

Biến phú từ vân

Phổ chiếu tuệ nhật

Chiêm chi nghiêm chi

Thái sơn ngật ngật.

Dịch:

Bát-nhã ưu ưu

Phạm thất rỡ rỡ

Trăng nước ngao du

Giới luật nghiêm mật.

Lặng lẽ riêng vững

Đứng thẳng đã xong

Quán thân vốn không

Hoằng pháp lợi vật.

Mây từ che khắp

Tuệ nhật chiếu soi

Nhìn ngài xét ngài

Thái Sơn cao ngất.

Sư là vị tổ truyền phái Lâm Tế vào Trung Việt đầu tiên. Những vị đồng tông Lâm Tế ở Trung Hoa sang Việt Nam dưới Sư một đời, như Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri và các đệ tử của Sư đồng truyền bá tông Lâm Tế ở đây.

Ngài Nguyên Thiều là một vị thiền sư thuộc tông Lâm Tế và truyền tông Lâm Tế vào Trung Việt, tức là Đàng Trong. Chúng ta ra Bình Định, thấy chùa Thập Tháp Di Đà thì biết là gốc từ ngài mà mở mang, truyền bá.

Phần lịch sử chúng ta chỉ đọc sơ qua, ở đây tôi giải thích về bài kệ truyền pháp của ngài:

Lặng lẽ gương không bóng

Rỡ rỡ châu chẳng hình

Rõ ràng vật phi vật

Vắng vẻ không chẳng không.

Gương không bóng, châu chẳng hình là vật gì? Rõ ràng vật phi vật. Lục tổ Huệ Năng nói: “Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai.” Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng khi đến Lục Tổ, Tổ hỏi: “Là vật gì đến?” Nam Nhạc thưa: “Nói giống một vật tức chẳng trúng.” Đây là vắng vẻ không chẳng không. Tuy nói giống một vật thì không trúng, nhưng chẳng phải không ngơ. Thế nên khi Lục Tổ gạn lại: “Có tu chứng hay không?” Nam Nhạc liền đáp: “Tu chứng thì chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.”

Thể bất sanh bất diệt của pháp thân, như gương không bóng, như hạt châu sáng rỡ không hình. Hiện có mà không hình tướng, nên nói rõ ràng vật phi vật. Tuy không hình tướng mà hằng hiển lộ rõ ràng, nên vắng vẻ không chẳng không.

Sau khi ngài tịch, hoàng đế Hiển Tông làm bài minh khắc vào bia tán thán công đức của ngài:

Bát-nhã ưu ưu

Phạm thất rỡ rỡ

Trăng nước ngao du

Giới luật nghiêm mật.

Hoa Bát-nhã tươi nhuần, Phạm thất sáng rỡ. Ngài thong thả ngao du khắp nơi để làm lợi ích cho người, mà lúc nào giới luật cũng rất nghiêm trang. Vua khen ngợi trí tuệ và đạo hạnh của ngài vượt hẳn thường tình.

Lặng lẽ riêng vững

Đứng thẳng đã xong

Quán thân vốn không

Hoằng pháp lợi vật.

Chỗ đạt được lý đạo của ngài thẳng tắt và rất kiên cố. Nơi thể đã thấy các pháp tự tánh là không, nhưng về sự thì lúc nào cũng khởi dụng hoằng pháp lợi ích chúng sanh.

Mây từ che khắp

Tuệ nhật chiếu soi

Nhìn ngài xét ngài

Thái Sơn cao ngất.

Ơn đức của ngài đã ban bố cho chúng sanh như mây từ che khắp, tợ mặt trời trí tuệ chiếu soi. Ngài cao tột như ngọn núi Thái Sơn, mỗi khi nghĩ nhớ về ngài chỉ biết đem hết lòng mà tán thán.

✵✵✵

THIỀN SƯ TỬ DUNG MINH HOẰNG

Đời pháp thứ 34, dòng Lâm Tế

Chẳng biết Sư tên gì, chỉ biết người tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa, theo thiền sư Nguyên Thiều sang An Nam ở Thuận Hóa. Sau lập chùa Ấn Tông (tức là chùa Từ Đàm ở Huế hiện nay) rồi trụ trì ở đây.

Cũng không biết Sư tịch lúc nào, chỉ biết Sư truyền tâm ấn cho thiền sư Liễu Quán là người làm nổi bật tông Lâm Tế ở xứ này.

✵✵✵

THIỀN SƯ LIỄU QUÁN

(? - 1743)

Đời pháp thứ 35, tông Lâm Tế

Sư tên Lê Thiệt Diệu, quê làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (Sông Cầu). Lúc sáu tuổi Sư mồ côi mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn thọ giáo với hòa thượng Tế Viên (người Trung Hoa). Được bảy năm thì Hòa thượng tịch, Sư ra Thuận Hóa xin học với Giác Phong Lão Tổ (người Trung Hoa) ở chùa Báo Quốc. Ở đây được một năm, nhằm năm Tân Mùi (1691), Sư phải trở về phụng dưỡng cha già, lấy nghề kiếm củi độ nhật. Qua bốn năm thân phụ mất, nhằm năm Ất Hợi (1695), Sư lại trở ra Thuận Hóa thọ giới Sa-di với hòa thượng Thạch Liêm. Năm Đinh Sửu (1697), Sư lại thọ giới Cụ túc với lão hòa thượng Từ Lâm (người Trung Hoa) ở chùa Từ Lâm.

Năm Kỷ Mão (1699), Sư đi tham lễ khắp thiền lâm trải qua biết bao sự khó khăn khổ nhọc. Đến năm Nhâm Ngọ (1702), Sư lại Long Sơn tham yết hòa thượng Tử Dung cầu dạy pháp tham thiền. Hòa thượng dạy Sư tham câu “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?” (Muôn pháp về một, một về chỗ nào?) Sư ngày đêm tham cứu đến bảy, tám năm mà chưa lãnh hội, trong lòng tự lấy làm hổ thẹn.

Một hôm, nhân đọc Truyền Đăng Lục đến câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”, thoạt nhiên Sư được tỏ ngộ. Nhưng vì núi sông cách trở, Sư không thể đến ngài Tử Dung để trình sở ngộ được. Đến mùa xuân năm Mậu Tý (1708), Sư trở ra Long Sơn cầu Hòa thượng ấn chứng. Sư đem chỗ công phu của mình mỗi mỗi trình bày, đoạn nói đến câu “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”, Hòa thượng liền bảo:

Bờ thẳm buông tay, tự nhận đảm đang,

Chết rồi sống lại, dối người chẳng được.

(Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương,

Tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc.)

Sư liền vỗ tay cười ha hả!

Hòa thượng bảo:

- Chưa nhằm.

Sư nói:

- Trái cân vốn là sắt (bình chùy nguyên thị thiết).

Hòa thượng bảo:

- Chưa nhằm.

Hôm sau Hòa thượng gọi Sư đến bảo:

- Chuyện hôm qua chưa xong, nói lại xem!

Sư thưa:

Sớm biết đèn là lửa,

Cơm chín đã lâu rồi.

(Tảo tri đăng thị hỏa,

Thật thục dĩ đa thì.)

Bấy giờ, Hòa thượng mới chấp nhận và khen ngợi.

Hòa thượng Liễu Quán lúc còn nhỏ đã mồ côi mẹ, cha đưa vào chùa ở. Lớn lên thì cha bệnh nên ngài phải về nhà bán củi nuôi cha, vì vậy thời gian tu học cũng bị gián đoạn. Bốn năm sau cha mất, ngài trở lại chùa tiếp tục tu học và thọ giới. Ngài đến hòa thượng Tử Dung để cầu học pháp tham thiền, Hòa thượng dạy tham câu Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ? Tham cứu suốt tám năm vẫn chưa ngộ, một hôm nhân đọc Truyền Đăng Lục mà có chỗ vào. Do đường sá cách trở việc đi lại khó khăn, nên phải đầu năm sau ngài mới tới hòa thượng Tử Dung thuật lại chỗ ngộ của mình. Đến câu Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ, Hòa thượng liền nói:

Bờ thẳm buông tay, tự nhận đảm đang,

Chết rồi sống lại, dối người chẳng được.

Nghe câu nói đó, ngài vỗ tay cười lớn. Hòa thượng bảo: Chưa đúng. Ngài nói: Trái cân vốn là sắt. Hòa thượng nói: Chưa đúng. Hôm sau, Hòa thượng lại gọi bảo: Chuyện hôm qua chưa xong, nói lại xem. Ngài nói: Sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi. Trước đây không biết đèn là lửa, nên phải chịu nhịn đói; ngày nay thấy đèn biết là có lửa thì có cơm chín, no đủ, hết đói. Qua câu này chứng tỏ ngài đã ngộ, ngang đây Hòa thượng chấp nhận khen ngợi, tức là ấn chứng cho ngài.

Mùa hạ năm Nhâm Thìn (1712), Hòa thượng đến sách tấn chư tăng toàn viện, Sư đem trình bài kệ Dục Phật (tắm Phật).

Hòa thượng hỏi:

- Tổ tổ truyền nhau, Phật Phật trao nhau, chẳng biết truyền trao cái gì?

Sư thưa:

Búp măng trên đá dài một trượng,

Phất tử lông rùa nặng ba cân.

(Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng,

Quy mao phủ phất trọng tam cân.)

Hòa thượng nói:

Thuyền chèo trên núi cao,

Ngựa đua dưới đáy bể.

(Cao cao sơn thượng hành thuyền,

Thâm thâm hải để tẩu mã.)

Sư đáp:

Cây đàn không dây trọn ngày gảy,

Trâu đất gãy sừng rống suốt đêm.

(Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống,

Một huyền cầm tử tận nhật đàn.)

Sư biện tài lanh lẹ, lâm cơ ứng biến, như nước với sữa rất phù hợp. Hòa thượng vui mừng ấn khả.

Chỗ hóa duyên của Sư rất rộng, thường ra vào Huế, Phú Yên để giáo hóa luôn, không nề khó nhọc.

Năm Quý Sửu (1733), Giáp Dần (1734) và Ất Mão (1735), Sư nhận lời thỉnh của chư tăng trong tông môn, cùng các tể quan, cư sĩ ở Huế, dự bốn lễ đại giới đàn. Qua năm Canh Thân (1740), Sư tấn đàn Long Hoa phóng giới, rồi trở về chùa Thuyền Tôn.

Thời ấy, chúa Nguyễn Ninh Vương rất quý mến đạo đức của Sư, thường mời vào cung đàm đạo, nhưng Sư vẫn từ chối không vào.

Mùa hạ năm Nhâm Thìn (1712), tại chùa Thiền Lâm (Huế) tổ chức lễ an cư, quy tụ toàn thể chư tăng Quảng Nam, Thuận Hóa, hòa thượng Tử Dung đến nhắc nhở sách tấn. Nhân đó ngài trình bài kệ tắm Phật, Hòa thượng hỏi: Tổ tổ truyền nhau, Phật Phật trao nhau, chẳng biết truyền trao cái gì? Ngài thưa: Búp măng trên đá dài một trượng, phất tử lông rùa nặng ba cân. Búp măng mọc trên đá, phất tử bằng lông rùa là việc không thể có. Câu trả lời này gọi là nói mà không nói, hay nói mà không động lưỡi, tức không dính kẹt vào bất cứ pháp gì. Bởi vì chỗ Phật tổ truyền trao không thể chỉ bày, nhưng có hỏi thì phải tạm dùng ngôn ngữ để đáp. Đây là mượn ngôn ngữ để chỉ chỗ vô ngôn. Các ngài đã thấy đạo nên đầy đủ diệu dụng, nói thao thao mà không kẹt, còn chúng ta mở miệng ra thì dính mắc lung tung. Nếu nghe những câu này rồi cứ cắm đầu vào đó suy nghĩ, không biết các ngài nói như vậy là ý gì, thì dù có suy tìm tới điên đầu cũng không thấu nổi.

Hòa thượng nói tiếp: Thuyền chèo trên núi cao, ngựa đi dưới đáy biển. Câu này giống bài hát nói ngược: “ngựa đua dưới biển, thuyền chạy trên bờ” vậy. Nghe thầy nói như thế, ngài thưa: Cây đàn không dây trọn ngày gảy, trâu đất gãy sừng rống suốt đêm. Trọn ngày ngồi gảy đàn không dây, con trâu đất bị gãy sừng kêu rống suốt đêm. Đoạn này diễn tả chỗ không hình tướng mà diệu dụng khôn lường. Hai thầy trò đã cảm thông nhau, nên đối đáp rất hòa hợp. Ngài biện tài lanh lợi, lâm cơ ứng biến như nước với sữa. Người đã thông đạo thì cái gì cũng thông, còn chúng ta suốt ngày chỉ lo học danh tự, tới chừng bị hỏi thì không trả lời được. Thế nên phải biết, quý là ở sự tu, không nên tham học nhiều biết rộng. Học nhiều mà không tu, chỉ là cái đãy chứa sách, không thể đạt đạo.

Hóa duyên của ngài rất rộng, thường ra vào từ Bình Định, Huế, Phú Yên... để giáo hóa. Chúa Nguyễn nghe danh quý trọng đạo đức của ngài, nên cho người mời vào cung để đàm đạo mà ngài từ chối. Đó là điểm đặc biệt của ngài.

Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742), Sư lại dự lễ giới đàn ở chùa Viên Thông. Cuối mùa thu năm ấy, Sư có chút bệnh, gọi môn đồ đến dạy rằng:

- Nhân duyên đã hết, ta sắp đi đây.

Môn đồ kêu khóc ầm lên. Sư lại bảo:

- Các ngươi kêu khóc mà làm gì? Chư Phật ra đời còn nhập Niết-bàn, nay ta đi lại rõ ràng, về ắt có chỗ. Các ngươi không nên khóc lóc và đừng buồn thảm lắm.

Cuối tháng hai năm Quý Hợi (1743), trước mấy ngày tịch, Sư ngồi dậy vững vàng, tự cầm bút viết bài kệ từ biệt rằng:

Âm:

Thất thập dư niên thế giới trung

Không không sắc sắc diệc dung thông

Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý

Hà tất bôn man vấn tổ tông.

Dịch:

Hơn bảy mươi năm ở cõi trần,

Không không sắc sắc thảy dung thông.

Hôm nay nguyện mãn về quê cũ,

Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông.

Sáng ngày hai mươi hai tháng hai, sau khi dùng trà cùng các đồ đệ hầu chuyện và làm lễ xong, Sư hỏi giờ gì, các môn đồ thưa: “Giờ Mùi”, Sư liền vui vẻ thị tịch.

Vua nghe tin, sắc ban bia ký và tứ hiệu là Đạo Hạnh thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng.

Khi thấy nhân duyên sắp hết, ngài nói với đồ đệ: Nhân duyên đã hết, ta sắp đi đây. Đồ đệ nghe rồi buồn khóc, ngài bảo ta đi tới nơi, về tới chốn mà khóc lóc làm gì? Trước lúc tịch vài hôm, ngài ngồi ngay thẳng cầm bút viết bài kệ:

Hơn bảy mươi năm ở cõi trần,

Không không sắc sắc thảy dung thông.

Hôm nay nguyện mãn về quê cũ,

Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông.

Hơn bảy mươi năm ở đời, việc không không sắc sắc đều dung hội được. Việc làm đã xong, bản nguyện tròn đủ, nay trở về quê cũ không phải giong ruổi tìm hỏi Tổ tông nữa, tức là biết rõ cội nguồn của mình rồi.

Vài hôm sau, vào buổi sáng ngài ngồi uống trà, đồ đệ làm lễ thăm hỏi xong thì ngài tịch, nhằm ngày hai mươi hai tháng hai năm Quý Hợi (1743). Lẽ ra biết năm tịch thì có thể truy ra được năm sanh, nhưng vì trong bài kệ ngài chỉ nói hơn bảy mươi năm, tức là ngài thọ ngoài bảy mươi tuổi, mà không nói chính xác là bảy mươi mấy nên không biết rõ năm sanh, đành chỉ ghi năm tử mà thôi.

Sư là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thuyền Tôn ở Huế. Sư có bài kệ pháp phái rằng:

Âm:

Thật tế đại đạo

Tánh hải thanh trừng

Tâm nguyên quảng nhuận

Đức bản từ phong.

Giới định phước tuệ

Thể dụng viên thông

Vĩnh siêu trí quả

Mật khế thành công.

Truyền trì diệu lý

Diễn sướng chánh tông

Hạnh giải tương ứng

Đạt ngộ chân không.

Tăng đồ và tín đồ miền Trung và miền Nam hiện nay hầu hết là thuộc dòng Lâm Tế, mà người có công khai hóa lớn hơn hết chính là Sư. Vì thế mà thành một nhánh lớn gọi là Liễu Quán. Sư là sư tổ phái này.

Ngài là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thuyền Tôn ở Huế và có để lại bài kệ pháp phái, với tính cách truyền cho người sau tiếp nối tông môn. Mỗi đời kế thừa là một chữ, căn cứ theo đây mà đặt, từ trên dần xuống. Vì thế tôi để y nguyên văn chữ Hán, chứ không dịch ra.

Phật giáo miền Trung và miền Nam hiện nay, hầu hết thuộc tông Lâm Tế, mà người có công khai hóa chính là ngài. Do đó hình thành một nhánh lớn gọi là phái Liễu Quán, ngài là Tổ sư của phái này. Theo bản đồ truyền thừa ghi trong đây, phái Liễu Quán cũng có nhiều vị, nhưng những vị sau phần nhiều nghiêng về niệm Phật, ít ai ngộ thiền như ngài, cho nên không ghi trong thiền sử.

Mục Lục