I- NỐI PHÁP HOÀNG BÁ HY VẬN
Có mười hai vị
1- Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền
2- Mục Châu Trần Tôn Túc
3- Thiền sư Sở Nam núi Thiên Khoảnh
4- Thiền sư Linh Quán núi Ô Thạch
5- Thiền sư Tông Triệt viện La Hán
6- Thiền sư Lục Hợp Đức Nguyên
7- Thiền sư Sĩ Môn Tán
8- Thiền sư Chánh ở Tương Châu
9- Thiền sư Hoằng Tuyên núi Ngô Môn
10- Thiền sư Siêu ở U Châu
11- Thiền sư Hiến ở Tương Châu
12- Tướng quốc Bùi Hưu
II- NỐI PHÁP QUY SƠN LINH HỰU
Có bốn mươi ba vị
1- Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
2- Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn
3- Thiền sư Diên Khánh Pháp Đoan
4- Thiền sư Kính Sơn Hồng Nhân
5- Thiền sư Linh Vân Chí Cần
6- Thiền sư Cửu Phong Từ Huệ
7- Hòa thượng Ứng Thiên ở Ích Châu...
III- NỐI PHÁP HÒA THƯỢNG THIÊN LONG
Có hai vị
1- Hòa thượng Câu Chi núi Kim Hoa
2- Thiền sư Ngạn Trung nước Tân La
IV- NỐI PHÁP TRƯỜNG SA CẢNH SẦM
Có hai vị
1- Thiền sư Thường Thông núi Tuyết Đậu
2- Thiền sư Nghiêm Linh núi Kim Hoa
V- NỐI PHÁP THIỀN SƯ ĐẠI NGU
Có một vị
1- Ni Mạt Sơn Liễu Nhiên
VI- NỐI PHÁP LONG ĐÀM SÙNG TÍN
Có hai vị
1- Thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám
2- Hòa thượng Lặc Đàm Bảo Phong
✵✵✵
THIỀN SƯ NGHĨA HUYỀN ở LÂM TẾ
(? - 867)
Khai Tổ tông Lâm Tế
Ngài Lâm Tế đối với Phật giáo Việt Nam rất hệ trọng, tất cả tăng ni cư sĩ đều có ít nhiều liên hệ tới tông Lâm Tế. Như các Hòa thượng khi thị tịch, trên bài vị đều có câu “Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam, Tứ Thập Tứ...”, nghĩa là kế thừa dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi ba hoặc bốn mươi bốn... Các Phật tử trước đây quy y, lá phái bằng chữ Hán luôn luôn để Lâm Tế Chánh Tông hoặc Lâm Tế Gia Phổ. Như vậy kế thừa dòng Lâm Tế mà có biết tổ Lâm Tế là ai, ngài tu làm sao, ngài dạy cái gì? Nếu không biết thì đó là kế thừa rỗng, chỉ có danh tự không có thực chất.
Tổ Lâm Tế ra đời khoảng thế kỷ thứ IX, hệ phái của ngài đến bây giờ vẫn còn truyền bá, chứng tỏ sức dài lâu mạnh bền. Muốn thấy chỗ kỳ đặc của ngài, muốn biết sự truyền thừa bền vững lâu dài đó, chúng ta phải tìm hiểu rõ chỗ thâm ngộ và tinh thần truyền bá của ngài như thế nào. Hiểu được thì mới thấy cái hay của người xưa, nếu không hiểu thì đọc sử của ngài mà không biết nói gì. Nhất là ngài Lâm Tế có nhiều việc kỳ đặc, lời dạy của ngài rất lạ, người tầm thường không hiểu nổi.
Sư hiệu Nghĩa Huyền họ Hình quê ở Nam Hoa thuộc Tào Châu. Thuở nhỏ Sư đã có chí xuất trần, đến lớn xuất gia thọ giới Cụ túc. Thường dừng các nơi giảng pháp, nghiên cứu tinh tường giới luật, thâm hiểu kinh luận, Sư than rằng: “Đây là phương thuốc cứu đời, chưa phải yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.” Sư liền đi du phương.
Ngài Lâm Tế khi xuất gia, thọ giới Cụ túc rồi thường dừng ở các nơi giảng pháp, ngài đến đó học hỏi, nghiên cứu tinh tường giới luật và thâm hiểu kinh luận. Tuy thông hiểu kinh luật luận, nhưng ngài không hài lòng mà than rằng: Đây là phương thuốc cứu đời, chưa phải yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.
Kinh luật luận là phương thuốc cứu đời, cứu được cái khổ chúng sanh là điều quý, tại sao ngài lại không bằng lòng, đòi phải được giáo ngoại biệt truyền? Đức Phật thuyết pháp như thầy thuốc trị bệnh cho chúng sanh, chúng sanh có bệnh nào thì ngài nói pháp đó. Nếu là bệnh rét thì dùng thuốc rét trị, bệnh đau bụng thì dùng thuốc đau bụng trị... Mỗi thứ thuốc trị mỗi thứ bệnh, đó là pháp đối cơ, là phương tiện tùy thời. Nếu người không bệnh có cần thuốc không? Lục Tổ nói “Phật nói tất cả pháp vì độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu cần tất cả pháp”. Như vậy người có bệnh mới cần thuốc, kinh luật luận như là phương tiện, còn giáo ngoại biệt truyền là chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, ai cũng có cái đó, ai cũng thành Phật, không đợi riêng có bệnh mới trị.
Trước nhất, Sư đến hội Hoàng Bá. Ở đây, Sư oai nghi nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn. Thủ tọa (Trần Tôn Túc) thấy khen rằng: “Tuy là hậu sanh cùng chúng chẳng giống.” Thủ tọa bèn hỏi:
- Thượng tọa ở đây được bao lâu?
Sư thưa:
- Ba năm.
- Từng tham vấn chưa?
- Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì?
- Sao Thầy không đến hỏi Hòa thượng đường đầu, thế nào là đại ý Phật pháp.
Sư liền đến hỏi. Chưa dứt lời, Hoàng Bá liền đánh. Sư trở xuống, Thủ tọa hỏi:
- Hỏi thế nào?
Sư thưa:
- Tôi hỏi lời chưa dứt, Hòa thượng liền đánh, tôi chẳng hội.
- Nên đi hỏi nữa.
Sư lại đến hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba phen hỏi, bị ba lần đánh. Sư đến bạch Thủ tọa:
- Nhờ lòng từ bi của Thầy dạy tôi đến thưa hỏi Hòa thượng, ba phen hỏi bị ba lần đánh, tôi tự buồn chướng duyên che đậy không lãnh hội được thâm chỉ. Nay xin từ giã ra đi.
- Nếu khi Thầy đi nên đến giã từ Hòa thượng rồi sẽ đi.
Sư lễ bái trở về phòng. Thủ tọa đến thất Hòa thượng trước, thưa:
- Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp, nếu khi đến từ, Hòa thượng dùng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát người trong thiên hạ.
Sư đến từ. Hoàng Bá bảo:
- Chẳng nên đi chỗ nào khác, ngươi đi thẳng đến Cao An chỗ thiền sư Đại Ngu, ông ấy sẽ vì ngươi nói.
Ngài du phương đến Hoàng Bá, trong hội này ngài oai nghi nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn. Nghĩa là đi đứng nằm ngồi, hoạt động nào cũng đầy đủ oai nghi không thô tháo như người thường. Ngài ở trong hội ngài Hoàng Bá ba năm mà chưa hỏi một câu. Tại sao? Vì ngài là người rất nghiêm túc điềm đạm không bộp chộp hấp tấp. Chúng ta thì tới đâu cũng muốn khoe kiến giải, hỏi chỗ này hỏi chỗ kia lăng xăng mà rốt cuộc chưa có cái nhìn thấu đáo. Còn ngài tuy ở lâu, nhưng để nghiệm xem huynh đệ hỏi thế nào, Hòa thượng dạy thế nào, từ từ cho thấm. Thủ tọa Trần Tôn Túc là bậc thấy đạo, nhìn qua hành động tư cách của ngài Lâm Tế nên lưu tâm.
Mới nghe dường như ngài là người dốt, nhưng kỳ thực không phải. Thủ tọa chú ý đến ngài, Hòa thượng đường đầu có chú ý không? Ngài Hoàng Bá cũng đã chấm ngài rồi. Nghĩa là tuy chưa hỏi câu nào mà đã đánh dấu trước, nên khi lên hỏi thì xử sự khác, đâu phải ai hỏi cũng cho ăn đòn. Thuật đó chỉ dùng với người tương đối đã chọn lựa kỹ. Đừng tưởng rằng ai hỏi ngài Hoàng Bá cũng đánh, không phải vậy. Tất cả người khác hỏi ngài không đánh, mà tới Lâm Tế hỏi ngài đánh. Tại sao Thủ tọa không xúi người khác hỏi, lại xúi ngài Lâm Tế? Vì trong chúng ngài Lâm Tế có tư cách đặc biệt, nên dành riêng cái ưu tiên cho ngài. Ưu tiên bằng cách ăn gậy.
Qua đoạn này, chúng ta thấy như ngài Hoàng Bá tàn nhẫn, với câu hỏi có lý: Thế nào là đại ý Phật pháp? Đại ý Phật pháp là giác ngộ, giải thoát... Đó là ngôn ngữ bình thường. Nhưng với ngài Hoàng Bá, hỏi câu đó rồi liền đánh, không trả lời. Không phải một lần, hỏi lần thứ hai cũng đánh, tới lần thứ ba hỏi cũng đánh. Người đến hỏi mà cứ bị ăn đòn, không được dạy một câu một lời thì có tủi thân không? Nếu chúng ta bây giờ bị đánh một lần chắc xách gói đi liền, đừng nói tới lần thứ hai thứ ba. Ngài Lâm Tế ẩn nhẫn hỏi ba lần cũng đều bị đòn, tự nghĩ chướng duyên che đậy nên chuẩn bị ra đi.
Như thế là ngài Hoàng Bá cố tình đánh đuổi đi hay cố tình làm gì? Phàm việc gì có ảnh hưởng lâu dài sâu đậm là làm cho chúng ta rất đau khổ. Cái mà chúng ta đau khổ tột cùng thì cái đó nhớ suốt đời không quên. Đây là thuật đặc biệt của ngài Hoàng Bá đối với ngài Lâm Tế. Đánh cho đủ ba lần, không kham nữa mới từ giã ra đi, khi đó trong lòng đã đau khổ vô cùng. Tại sao mình thiếu duyên thiếu phúc mà ai nấy hỏi được giải đáp còn mình lại ăn đòn? Nỗi khổ ấy chồng chập thống thiết bên trong.
Khi từ giã đi, ngài Hoàng Bá chỉ bảo đến Cao An chỗ thiền sư Đại Ngu, sẽ vì ông mà nói. Trên đường đi này ít ra cũng năm bảy ngày, nỗi thống khổ dồn dập tích chứa trong lòng đến cả chục ngày.
Sư đến Đại Ngu. Đại Ngu hỏi:
- Ở chỗ nào đến?
Sư thưa:
- Ở Hoàng Bá đến.
- Hoàng Bá có dạy lời gì?
- Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?
- Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến đây hỏi có lỗi không lỗi?
Ngay câu nói ấy, Sư đại ngộ, thưa:
- Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.
Đại Ngu nắm đứng lại, bảo:
- Con quỷ đái dầm! Vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau!
Sư liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra, nói:
- Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc của ta.
Sư từ tạ Đại Ngu trở về Hoàng Bá.
Như chúng ta cũng nói thế thôi, thưa hỏi mà không biết câu đó có xúc phạm Hòa thượng không? Cứ trình bày chỗ nghi trong lòng. Muốn nhờ ngài Đại Ngu phán xét là có lỗi hay không lỗi. Ngài Đại Ngu là bậc tri âm của ngài Hoàng Bá, nghe nói liền biết Hoàng Bá dùng thủ thuật gì với người này. Ngài nói: Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến đây hỏi có lỗi không lỗi?
Ngài nhấn mạnh ngài Hoàng Bá chỉ tận chỗ tột khổ rồi, tột khổ là tột cùng của nỗi khổ, nếu thấy được chỗ đó là qua khỏi hết khổ, ông còn nghĩ có lỗi không lỗi là còn nghĩ trong đối đãi, làm sao hiểu được Hoàng Bá? Nghe tới đó ngài Lâm Tế bừng ngộ, thấy được chỗ Hoàng Bá dạy, liền thốt lên câu: Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.
Thật ra chân lý hết sức đơn giản, do vọng tưởng của chúng ta mà trở thành phiền toái. Khi thấy được chân lý đơn giản này ngài Lâm Tế thốt lên câu: Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngài Đại Ngu biết gã này đã thấy, nhưng còn e dè chưa biết thấy tột cùng hay mơ hồ, ngài bèn nắm lại bảo: Con quỷ đái dầm, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau! Đó là thúc giục trình chỗ thấy ra xem.
Ngài Lâm Tế bị ăn đòn ba lần thì phải trả bằng như vậy. Chỗ ngộ của ngài không qua một lời của Hoàng Bá, bây giờ trả lại chỗ ngộ đó bằng cái gì? Nếu dùng lời thì không phải chỗ mình thấy nên thoi lại ba thoi. Đó là trung thực chỉ cái thấy của mình cho ngài Đại Ngu. Ngài biết chú này xong việc, liền đẩy ra bảo: Thầy của ngươi là Hoàng Bá không can hệ gì tới ta.
Khi ngài Hoàng Bá giới thiệu Lâm Tế tới ngài Đại Ngu, ngài đã biết ý Hoàng Bá thế nào rồi. Khi xong việc thấy người đệ tử đó đã ngộ, thật ra nếu không có ba gậy của Hoàng Bá, thì làm gì tới đây ngộ được, nên ngài Đại Ngu trả Lâm Tế đâu về đó. Lời giải của ngài Đại Ngu chỉ là gạn lại, Hoàng Bá đã tột cùng với ông. Lâm Tế nghĩ đánh ba gậy là phạt, là quở là rầy, không ngờ vì nhiệt tình muốn đưa mình tới chỗ đạt đạo. Chừng biết được mới giật mình liền ngộ.
Hoàng Bá thấy Sư về, liền bảo:
- Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.
Sư thưa:
- Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên nhân sự đã xong, đứng hầu.
- Đến đâu về?
- Hôm trước vâng lời dạy của Hòa thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về.
- Đại Ngu có lời dạy gì?
Sư liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo:
- Lão Đại Ngu này đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn.
Sư tiếp:
- Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn.
Sư liền bước tới sau lưng Hoàng Bá tát một tát. Hoàng Bá bảo:
- Gã phong điên này lại đến đây vuốt râu cọp.
Sư liền hét. Hoàng Bá gọi:
- Thị giả! Dẫn gã phong điên này lại nhà thiền.
Ngài Hoàng Bá thấy Lâm Tế về, không biết đã xong việc chưa. Chúng ta đừng nghĩ rằng người ngộ được bản tâm thì biết quá khứ vị lai, biết tâm của người khác. Biết được bản tâm mình, không phải là có thần thông, nên khi thấy đứa học trò đi mấy ngày nay trở về bèn hỏi: Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ. Lâm Tế thưa: Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên nhân sự đã xong, đứng hầu. Ngài Hoàng Bá hỏi thêm: Đến đâu về? - Hôm trước vâng lời dạy của Hòa thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về. - Đại Ngu có lời dạy gì? Ngài liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo: Lão Đại Ngu này đã buông lời, chỗ ta không có lời mà lão đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn. Đại Ngu có đáng trách hay không? Nếu không buông lời thì làm gì Lâm Tế hiểu được ý Thầy. Lời hứa cho ăn đòn là ăn đòn thưởng, Lâm Tế biết liền nói: Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn. Nói xong liền tát Hoàng Bá. Đây là đòn thưởng, không phải thưởng Đại Ngu mà thưởng Hoàng Bá, vì người làm cho ngộ là Hoàng Bá. Hoàng Bá bảo: Gã phong điên này lại đến đây vuốt râu cọp. Lâm Tế liền hét. Hoàng Bá gọi: Thị giả! Dẫn gã phong điên này lại nhà thiền.
Ngài Lâm Tế trước khi chưa thấy đạo, oai nghi cử chỉ rất điềm đạm đứng đắn, nhưng khi thấy đạo rồi lại như ngông cuồng, không có thứ tự oai nghi lễ tiết gì. Như vậy có phải là dở hay không? Trong nhà thiền thường nói khi xổ cờ ra trận thì không thấy có thầy. Thầy trò chỉ phân biệt ở lãnh vực bên ngoài, còn lúc cơ phong vấn đáp thì phải trổ hết tài để thắng. Hiểu như vậy, thì những đoạn sau mới hiểu chỗ ra tay của ngài Lâm Tế.
Sư trồng tùng, Hoàng Bá hỏi:
- Trong núi sâu trồng tùng làm gì?
Sư thưa:
- Một cho sơn môn làm cảnh trí, một cho người sau làm tiêu bảng.
Nói xong, Sư trở đầu cuốc đánh xuống đất ba cái. Hoàng Bá bảo:
- Tuy nhiên như thế, con đã ăn ba mươi gậy của ta rồi.
Sư lại dùng đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, cất tiếng “Hư! Hư!” Hoàng Bá bảo:
- Tông của ta đến con rất hưng thịnh ở đời.
Trồng tùng thứ nhất để làm đẹp cho cảnh chùa, thứ hai là làm tiêu biểu cho người sau nhắm đến. Câu này cho thấy hàm ý truyền đạo lâu dài của ngài. Cho đến bây giờ người ta còn vâng theo tiêu bảng đó.
Nói xong, Sư trở đầu cuốc đánh xuống đất ba cái. Nghĩa là ăn ba gậy thì giờ làm gì cũng ba cái không còn ngôn ngữ gì. Hoàng Bá nói: Tuy nhiên như thế, con đã ăn ba mươi gậy của ta rồi. Nghĩa là tuy là ông làm được như vậy nhưng ông đã thua rồi. Sư lại dùng đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, cất tiếng “Hư! Hư!” Ngài Hoàng Bá nói: Tông của ta đến con rất hưng thịnh ở đời.
Chỗ ngài Lâm Tế ngộ và ứng dụng là không còn dùng ngôn ngữ, mà chỉ thẳng chỗ tột cùng. Đây là chỗ rất khó, vì khó nên bền. Cái quý là cái khó, còn dễ quá thì không quý. Như vô nhà người có thấy được chỗ để gia tài quý báu của họ không? Đồ quý lúc nào cũng khó thấy, khó được, còn đồ quảng cáo thì rất dễ, nhan nhản trước mắt. Vì thế người đi học đi tu mà chỉ muốn tìm chỗ dễ, ăn ngon mặc đẹp, đó là người không muốn cầu đạo, chỉ muốn sung sướng. Chỗ nào thực tình vì đạo thì phải khó chứ không dễ. Dễ tìm dễ thấy thì không phải là vật quý.
Một hôm Sư ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến, liền nhắm mắt lại. Hoàng Bá làm thế sợ, liền trở về phương trượng. Sư theo đến phương trượng lễ tạ. Thủ tọa đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo:
- Vị tăng đây tuy là hậu sanh lại biết có việc này.
Thủ tọa thưa:
- Hòa thượng già gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh.
Hoàng Bá liền vả trên miệng một cái. Thủ tọa thưa:
- Biết là được.
Một hôm Lâm Tế ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến liền nhắm mắt lại. Như mấy chú ngồi trước tăng đường, thấy tôi đến thì đứng dậy chào, như vậy mấy chú lễ phép hơn ngài rồi. Thấy học trò nhắm mắt, ông thầy giả bộ như sợ, né qua bên liền trở về phương trượng. Ngài Hoàng Bá về phương trượng rồi, Lâm Tế theo đến phương trượng lễ tạ. Như vậy là sao? Đây là khai chiến, nên khi thấy thầy đến, ngài Lâm Tế vẫn tỏ ra ở trong thế như như bất động. Thấy vậy ngài Hoàng Bá làm ra vẻ sợ. Nghĩa là người đối diện với mình tỏ vẻ hơn trên thì mình né qua, tránh đi. Nếu tránh đi mà người kia cứ giữ như vậy hoài thì đó là không hiểu gì hết. Ngài Lâm Tế thấy Hoàng Bá làm thế sợ trở về phương trượng, thì lúc đó thấp mình xuống đi tới đảnh lễ. Đó là đối đáp đầy đủ.
Thủ tọa là ngài Trần Tôn Túc đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo: Vị tăng đây tuy là hậu sanh lại biết có việc này. Thủ tọa thưa: Hòa thượng già gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh. Hoàng Bá liền vả vô miệng một cái. Thủ tọa nói: Biết là được.
Trong nhà thiền không cho nói trắng ra, đã nói trắng ra tức là phạm lỗi. Ngài Hoàng Bá mừng thấy có đứa đệ tử tốt như vậy, mới khoe với Thủ tọa. Khen biết có việc này. Đó là nói trắng rồi, nên Thủ tọa quở lại: Hòa thượng già gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh. Tức là hồi xưa tới giờ Hòa thượng không dính chút đất, bây giờ chứng cứ kẻ hậu sanh, tức là dính đất rồi. Ngài Hoàng Bá vả miệng, tức thấy lỗi của mình. Thủ tọa nói: Biết là được, vả miệng làm chi. Ý nghĩa đối đáp giữa thầy trò là như vậy.
Sư ngủ trong tăng đường, Hoàng Bá đến thấy, lấy gậy đánh bảng một tiếng. Sư ngóc đầu xem thấy Hoàng Bá liền nhắm mắt. Hoàng Bá lại đánh bảng một tiếng, lại đi đến gian trên thấy Thủ tọa ngồi thiền. Hoàng Bá bảo:
- Gian dưới hậu sanh lại ngồi thiền, ông ở đây vọng tưởng làm gì?
Thủ tọa nói:
- Ông già làm gì?
Hoàng Bá đánh bảng một tiếng, liền đi ra.
Ngài ngủ trong tăng đường, Hoàng Bá đến thấy, lấy gậy đánh bảng một tiếng. Ngài ngóc đầu xem thấy Hoàng Bá liền nhắm mắt. Thật là ngỗ nghịch, nếu khi mấy chú ngủ, tôi đi tuần đánh bảng, mấy chú ngồi dậy thấy tôi thì ngồi luôn tới khuya, làm sao dám nằm nữa. Đây ngài Lâm Tế nằm nhắm mắt, có ngủ không? Nếu ngủ thì đâu có ngóc đầu dậy, không ngủ mà tại sao nằm không trổi dậy? Ngài Hoàng Bá đánh một tiếng bảng, lại đi đến gian trên thấy Thủ tọa ngồi thiền. Hoàng Bá bảo: Gian dưới hậu sanh ngồi thiền, ông trong đây vọng tưởng làm gì?
Rất kỳ lạ, người ngủ thì gọi là ngồi thiền, người ngồi thiền gọi là vọng tưởng. Bởi vì theo cái nhìn của ngài Hoàng Bá và Lâm Tế, thiền không phải chỉ có lúc ngồi. Đi đứng nằm ngồi cũng đều là thiền, thiền là không động, chính cái không động đó mới gọi là thiền. Ngài Lâm Tế thấy ông thầy đến, thấy rõ ràng mà vẫn nằm im ru, thì lúc đó động hay không động? Không động tức là thiền. Trên này Thủ tọa ngồi thiền tức là đang dụng công hàng phục vọng tưởng, còn dụng công cũng là một loại vọng tưởng. Nên ngài Hoàng Bá nói ông ở đây vọng tưởng. Thủ tọa nói: Ông già làm gì? Hoàng Bá đánh bảng một tiếng, liền đi ra.
Một hôm, ngày công tác công cộng, Sư đi đằng sau. Hoàng Bá ngó ngoái lại thấy Sư đi tay không bèn hỏi:
- Cuốc đâu?
Sư thưa:
- Có người đem đi rồi.
Hoàng Bá gọi:
- Lại gần đây cùng ngươi bàn luận một việc.
Sư lại gần. Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc bảo:
- Chỉ cái này, mọi người nắm bắt chẳng được.
Sư chụp tay giật lấy cây cuốc, đưa lên nói:
- Tại sao lại ở trong tay của con?
Hoàng Bá nói:
- Ngày nay đã có người thay công tác.
Hoàng Bá trở về viện.
Đây là câu chuyện rất lý thú. Một hôm, ngày công tác công cộng, ngài đi sau. Hoàng Bá ngó ngoái lại thấy đi tay không bèn hỏi: Cuốc đâu? Ngài thưa: Có người đem đi rồi. Đoạn này mới nghe qua, tưởng như ngài vô phép. Công tác công cộng chữ Hán gọi là phổ thỉnh, tức ngày tất cả làm việc chung, từ Hòa thượng đường đầu cho tới toàn chúng phải đi làm hết.
Như vậy Hòa thượng còn vác cuốc, mà chú đệ tử lại đi tay không. Nhưng đâu không phải là lòng hiếu thảo của ngài, vì muốn giật cuốc của ông thầy nên nếu đem cuốc đi thì dư. Đi tay không, không có nghĩa là làm biếng mà muốn thay cho ông thầy. Hoàng Bá biết ý rồi liền nói: Lại gần đây cùng ngươi bàn luận một việc. Ngài lại gần. Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc bảo: Chỉ cái này, mọi người nắm bắt chẳng được. Ngài chụp tay giật lấy cây cuốc, đưa lên nói: Tại sao lại ở trong tay của con? Hoàng Bá nói: Ngày nay đã có người thay công tác, rồi trở về viện.
Thấy như thầy trò đùa chơi, nhưng có hai ý nghĩa. Thứ nhất, ngài Hoàng Bá vác cuốc đi, Lâm Tế thấy mới tay không đi sau, đó là lòng muốn thế công tác cho thầy. Ngài Hoàng Bá biết, muốn thử thêm một ý nữa, để cây cuốc xuống nói, chỉ cái này mọi người nắm bắt chẳng được. Chỉ cái này cũng vừa là chỉ cây cuốc cũng vừa là chỉ cái sẵn có của mọi người. Ngài Lâm Tế chụp cây cuốc nói: Tại sao ở trong tay của con. Đây là ý thâm trầm thứ hai, ý nói chỗ của thầy được, con cũng nắm bắt được. Như vậy là sự kế thừa hết sức đầy đủ.
Công tác công cộng cuốc đất, thấy Hoàng Bá đến, Sư bèn dựng cuốc đứng. Hoàng Bá hỏi:
- Gã này mệt sao?
Sư thưa:
- Cuốc vẫn chưa giở, mệt cái gì?
Hoàng Bá liền đánh. Sư chụp cây gậy đẩy một phát té nhào. Hoàng Bá gọi:
- Duy-na! Duy-na! Đỡ ta dậy.
Duy-na chạy lại đỡ dậy nói:
- Hòa thượng đâu dung được gã phong điên này!
Hoàng Bá vừa đứng dậy, liền đánh Duy-na. Sư cuốc đất nói:
- Các nơi thì hỏa táng, còn tôi một lúc chôn sống.
Công tác công cộng cuốc đất, thấy Hoàng Bá đến, ngài bèn dựng cuốc đứng. Như mấy chú đang cuốc đất thấy tôi tới thì sao? Nhiều khi ở xa đang dựng cuốc nghỉ, thấy thầy tới liền cuốc, phải không? Còn ngài Lâm Tế thấy Hoàng Bá tới bèn dựng cuốc nghỉ, ngược ngạo vậy đó. Ngài Hoàng Bá hỏi: Gã này mệt sao? Lâm Tế thưa: Cuốc vẫn chưa giở, mệt cái gì? Câu đáp nghe như là vô phép, nhưng rất có ý nghĩa. Bởi vì có làm mới thấy có mệt, có dẹp vọng tưởng dẹp phiền não thì mới có mệt, còn đây không vọng tưởng không phiền não lấy gì mệt. Đó là chỗ ngài Lâm Tế nói cuốc chưa giở lên, không có trừ dẹp.
Ngài Hoàng Bá liền đánh, ngài chụp cây gậy đẩy một phát té nhào. Đó là khai trận, không nhường nhịn. Hoàng Bá gọi: Duy-na! Đỡ ta dậy. Duy-na rất lương thiện, chạy lại vừa đỡ dậy vừa lẩm bẩm: Hòa thượng đâu dung được gã phong điên này! Tức là đuổi nó đi cho rồi, hỗn xược quá.
Hoàng Bá vừa đứng dậy, liền đánh Duy-na. Tại sao? Lâm Tế đánh ngài, ngài đánh Duy-na. Duy-na không hiểu được đối đáp của hai thầy trò. Ngài cầm cuốc cuốc đất nói: Các nơi thì hỏa táng, còn tôi một lúc chôn sống. Nếu động tới tôi, tôi chôn sống, như vậy có lễ phép không?
Sư mang thư Hoàng Bá đến Quy Sơn. Khi ấy Ngưỡng Sơn Huệ Tịch làm tri khách, tiếp được thư liền hỏi:
- Cái này là của Hoàng Bá, cái nào là của người đem thư?
Sư liền tát. Ngưỡng Sơn nắm đứng nói:
- Lão huynh biết việc ấy thì thôi.
Hai người đồng đến Quy Sơn. Quy Sơn hỏi:
- Sư huynh Hoàng Bá có chúng nhiều ít?
Sư thưa:
- Bảy trăm chúng.
- Người nào dẫn đầu?
- Vừa đem thư xong.
Sư lại hỏi Quy Sơn:
- Khoảng này Hòa thượng được bao nhiêu chúng?
Quy Sơn đáp:
- Một ngàn năm trăm chúng.
- Thật nhiều thay!
- Sư huynh Hoàng Bá cũng chẳng ít.
Sư từ Quy Sơn, Ngưỡng Sơn đưa ra cửa nói:
- Ông sau đi về phía bắc sẽ có một trụ xứ.
Sư hỏi:
- Há có việc ấy!
Ngưỡng Sơn bảo:
- Chỉ đi, về sau có một người phụ tá Lão huynh, người này có đầu không đuôi, có thủy không chung.
(Huyền ký Phổ Hóa. Sau Sư đến Trấn Châu, Phổ Hóa đã có ở trước đấy. Sư khai đường giáo hóa, Phổ Hóa phụ giúp. Sư trụ chưa bao lâu, Phổ Hóa toàn thân đều thoát.)
Ngài mang thư Hoàng Bá đến Quy Sơn. Khi ấy Ngưỡng Sơn Huệ Tịch làm tri khách, tiếp được thư liền hỏi: Cái này là của Hoàng Bá, cái nào là của người đem thư? Ngài liền tát một cái. Ngưỡng Sơn nắm lại nói: Lão huynh biết việc ấy? Muốn thấy thì cho một tát, đó là cái của người mang thư. Diệu dụng của ngài Lâm Tế rất đặc biệt, vừa hỏi tới là tỏ bày, vì thế Ngưỡng Sơn nắm lại nói: Lão huynh biết việc ấy thì thôi.
Cả hai vị đều hiểu nhau, cùng đến Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: Sư huynh Hoàng Bá có chúng nhiều ít? Ngài thưa: Bảy trăm chúng. Bảy trăm đó là trung bình, chúng ta chỉ có bảy chục, không nhằm gì. Quy Sơn hỏi: Người nào dẫn đầu? Ngài thưa: Vừa đem thư xong. Không tự xưng nhưng nói chính là người đem thư, tức mặc nhiên tỏ ý mình. Ngài lại hỏi Quy Sơn: Khoảng này Hòa thượng được bao nhiêu chúng? Quy Sơn đáp: Một ngàn năm trăm chúng. Ngài nói: Thật nhiều thay! Nếu ngang đó Quy Sơn không có câu sau thì bị thua, vì còn thấy có nhiều ít, nên Quy Sơn liền nói: Sư huynh Hoàng Bá cũng chẳng ít. Đó là câu cứu lại để không mắc kẹt đối đãi.
Sư giữa hạ đến Hoàng Bá, thấy Hòa thượng xem kinh. Sư nói:
- Tôi tưởng là người đặc biệt, té ra chỉ là Hòa thượng già úm đậu đen.
Sư ở lại mấy hôm, bèn từ đi. Hoàng Bá bảo:
- Ngươi phá hạ đến, sao chẳng trọn hạ rồi đi?
Sư thưa:
- Con tạm đến lễ bái Hòa thượng.
Hoàng Bá bèn đánh đuổi đi. Sư đi được mấy dặm, nghĩ việc này liền trở lại ở trọn hạ.
Một hôm, Sư từ Hoàng Bá. Hoàng Bá hỏi:
- Đi đâu?
Sư thưa:
- Chẳng phải Hà Nam là về Hà Bắc.
Hoàng Bá liền đánh. Sư nắm đứng, cho một tát. Hoàng Bá cười to, gọi:
- Thị giả! Đem thiền bản kỷ án của tiên sư Bá Trượng ra đây.
Sư gọi:
- Thị giả! Đem lửa lại.
Hoàng Bá bảo:
- Đừng đốt, con vẫn đem đi, về sau ở đâu sẽ dẹp sạch ngôn ngữ của mọi người.
Ngài giữa hạ đến Hoàng Bá thấy đang xem kinh, ngài nói: Tôi tưởng là người đặc biệt, té ra chỉ là Hòa thượng già úm đậu đen. Nói vậy là khen hay chê? Vì pháp môn giáo ngoại biệt truyền không nằm trong kinh sách, hôm nay thấy Hòa thượng xem kinh, như vậy quá tầm thường nên nói Hòa thượng già nhai chữ nghĩa.
Ở lại mấy hôm, từ giã đi. Ngài Hoàng Bá bảo: Ngươi phá hạ đến, sao chẳng trọn hạ rồi đi? Ngài nói: Con tạm đến lễ bái Hòa thượng. Hoàng Bá bèn đánh đuổi đi. Ngài đi được mấy dặm, nghĩ việc này liền trở lại ở trọn hạ. Tức là nghĩ đây là chuyến chót, nên ở cho trọn rồi từ giã đi luôn. Sau hạ ngài từ giã Hoàng Bá, Hoàng Bá hỏi: Đi đâu? Ngài thưa: Chẳng phải Hà Nam là về Hà Bắc. Hà Bắc tức là phía Bắc sông Hoàng Hà, ngài Lâm Tế truyền thiền ở miền Bắc Trung Hoa. Hoàng Bá liền đánh. Ngài nắm đứng, cho một tát, đánh thì liền trả lại, Hoàng Bá cười to, gọi: Thị giả! Đem thiền bản kỷ án của tiên sư Bá Trượng ra đây. Như vậy có ý gì? Đó là truyền pháp.
Ngài gọi: Thị giả! Đem lửa lại. Chi vậy? Đốt hết, bởi vì tất cả cái đó là hình thức không phải là cái thật. Ngài Hoàng Bá liền bảo đừng đốt, tuy biết nó là hình thức không quan trọng, nhưng con vẫn đem đi; về sau ở đâu sẽ dẹp sạch ngôn ngữ của người. Vì thế lối giáo hóa của ngài phần nhiều là hét, đánh, không để cho người còn một chút ngôn ngữ.
Sư đến hòa thượng Bình ở Tam Phong. Bình hỏi:
- Ở đâu đến?
Sư đáp:
- Ở Hoàng Bá đến.
- Hoàng Bá có dạy lời gì?
- Đêm qua trâu vàng gặp bùn than, thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu. (Kim ngưu tạc dạ tao đồ thán, trực chí như kim bất kiến tung.)
- Gió vàng thổi sáo ngọc, cái gì là tri âm? (Kim phong xuy ngọc quản, na cá thị tri âm.)
Sư đáp:
- Suốt thẳng muôn lớp cổng, chẳng dừng giữa trời trong. (Trực thấu vạn trùng quan, bất trụ thanh tiêu nội.)
- Một câu hỏi của ngươi cao tột trời xanh.
Sư nói:
- Rồng sanh con phượng vàng, vọt nát vách lưu ly. (Long sanh kim phượng tử, xung phá bích lưu ly.)
Bình bảo:
- Hãy ngồi uống trà.
Lại hỏi:
- Vừa ở đâu đến?
Sư thưa:
- Long Quang.
Bình hỏi:
- Long Quang gần đây thế nào?
Sư liền ra đi.
Ngài đi du phương, nghe ở đâu có những bậc thiện tri thức, đều đến để thăm dò học hỏi. Đến Hòa thượng Bình ở Tam Phong, Hòa thượng hỏi: Ở đâu đến? Đáp: Ở Hoàng Bá đến. Hỏi: Hoàng Bá có dạy lời gì? Ngài đáp: Đêm qua trâu vàng gặp bùn than, thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu. Nghĩa là con trâu vàng lăn dưới đất sình lầy, bây giờ tìm lại không thấy dấu. Hình ảnh đó thật là đẹp, chúng ta có con trâu vàng không? Nó lăn dưới sình hay lăn ở đâu? Nó vẫn chạy tứ tung thấy mà rượt hoài không kịp, không phải không thấy dấu. Hai câu này để nói cái sẵn có, hòa trong tứ đại, nhưng bây giờ tìm không còn dấu vết. Diễn tả như vậy là quá tuyệt.
Ngài Tam Phong hỏi lại: Gió vàng thổi sáo ngọc, cái gì là tri âm? Gió vàng là gió gì? Chữ Hán là kim phong, còn gọi là gió tây. Gió này thổi vào cuối thu, tất cả cây cối bắt đầu rụng lá, vì vậy gọi là gió vàng. Gió thổi sáo, gió và sáo cả hai đều không có tâm thức. Vì vậy hỏi, cái gì là tri âm? Ngài Lâm Tế đáp: Suốt thẳng muôn lớp cổng, chẳng dừng giữa trời trong. Nghĩa là đi tuốt luôn mọi lớp cổng, không kẹt không dính lại ở chỗ nào. Đó là nói khí thế của ngài. Ngài Tam Phong liền nói: Một câu hỏi của ngươi cao tột trời xanh. Như vậy là quá tuyệt rồi. Ngài Lâm Tế liền nói: Rồng sanh con phượng vàng, vọt phá vách lưu ly.
Như vậy có ý nghĩa gì? Người tu khi đến chỗ hoàn toàn thanh tịnh, chính chỗ đó thường bị mắc kẹt. Như trong mười mục chăn trâu, đến mục thứ tám không còn trâu không còn chăn, chỉ một vòng tròn trắng, tượng trưng chỗ thanh tịnh gọi là đất vô sanh. Đến đây nếu không khéo kẹt lại, gọi là bị nhốt trong vách lưu ly trong sáng. Phải qua khỏi đó mới tới mục thứ chín là lá rụng về cội, mục thứ mười buông thõng tay vào chợ, không thì chết chìm tại chỗ. Ngài Lâm Tế nói vọt nát vách lưu ly, nghĩa là tôi không dừng ở chỗ đó, vượt qua.
Hòa thượng Tam Phong mời ngồi uống trà. Khi uống trà hỏi: Vừa ở đâu đến? Ngài đáp: Long Quang. Tam Phong hỏi: Long Quang gần đây thế nào? Ngài liền ra đi.
Sư đến Phụng Lâm, Lâm hỏi:
- Có việc đem hỏi nhau được chăng?
Sư đáp:
- Đâu được khoét thịt làm thương tích.
Phụng Lâm nói:
- Trăng biển lặng không bóng, cá lội riêng tự lầm. (Hải nguyệt trừng vô ảnh, du ngư độc tự mê.)
Sư nói:
- Trăng biển đã không bóng, cá lội đâu thể lầm. (Hải nguyệt ký vô ảnh, du ngư hà đắc mê.)
Phụng Lâm:
- Xem gió biết sóng dậy, nhìn nước đoán buồm bay. (Quán phong tri lãng khởi, ngoạn thủy dã phàm phiêu.)
Sư nói:
- Một vầng riêng chiếu non sông lặng, chợt cười một tiếng đất trời kinh. (Cô luân độc chiếu giang sơn tịnh, tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.)
Phụng Lâm:
- Mặc đem ba tấc soi trời đất, một câu hợp lý thử bàn xem. (Nhậm tương tam thốn huy thiên địa, nhất cú lâm cơ thí đạo khan.)
Sư nói:
- Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ. (Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm, bất thị thi nhân mạc hiến thi.)
Phụng Lâm liền thôi. Sư để bài tụng:
Đại đạo tuyệt đồng
Nhậm hướng tây đông.
Thạch hỏa mạc cập
Điển quang võng thông.
Dịch:
Đại đạo hẳn đồng
Mặc hướng tây đông.
Đá lửa chẳng kịp
Lằn chớp không thông.
Ngài đến Phụng Lâm, Lâm hỏi: Có việc đem hỏi nhau được chăng? Ngài đáp: Đâu được khoét thịt làm thương tích. Tại sao như thế? Nghĩa là khi chưa niệm khởi, tâm chúng ta tròn trịa trong sáng, vừa dấy niệm là thương tích. Đặt câu hỏi là khoét thịt thành thương tích.
Phụng Lâm cũng là một tay cừ khôi, liền đáp: Trăng biển lặng không bóng, cá lội riêng tự lầm. Như trăng lưỡi liềm ở trên trời thì nhìn ở dưới mặt biển thấy bóng lưỡi liềm giống như lưỡi câu, cá thấy bóng nó sợ. Nay trăng biển lặng lẽ không có bóng dưới nước, chỉ cá tự lầm tự sợ. Ý ngài nói rằng trong chỗ đối đáp mà không khởi tâm thì lấy gì ngại, mà ông nói khoét thịt thành thương tích. Ngài Lâm Tế nói: Nếu được lặng lẽ sáng tỏ như thế thì đâu có gì lầm. Không lầm mà hỏi có phải tự mình làm thương tích không?
Ngài Phụng Lâm nói: Xem gió biết sóng dậy, nhìn nước đoán buồm bay. Chỗ này, như chúng ta thấy gió mạnh gió yếu thì biết sóng nhỏ hay sóng lớn, không đợi thấy sóng mới biết. Cũng như nhìn mặt nước thấy đùa về phía nào thì đoán buồm sẽ hướng về phía đó. Thấy cái này biết được cái kia, nên tuy ngài nói không động tâm nhưng tôi nhìn sơ đã biết cái này cái kia rồi.
Ngài Lâm Tế đáp: Một vầng riêng chiếu non sông lặng, chợt cười một tiếng đất trời kinh. Ông đừng xem thường tôi, tôi đã đến chỗ chỉ còn một vầng trăng trong sáng, một tiếng hét lên thì trời đất đều rúng động, đó là diệu dụng của tôi. Ngài Phụng Lâm nói: Mặc đem ba tấc soi trời đất, một câu hợp lý thử bàn xem. Dù cho ông có đem ba tấc lưỡi nói động trời động đất đi nữa, thử bàn một câu hợp lý coi. Lâm Tế đáp: Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ. Khi nào gặp đúng người tôi mới nói. Ngài để lại bài tụng:
Đại đạo hẳn đồng
Mặc hướng tây đông
Đá lửa chẳng kịp
Lằn chớp không thông.
Đại đạo rất đồng nhất, tùy ý nhằm bên này bên kia tìm kiếm. Dù nhanh như chọi đá nháng lửa hay như lằn chớp cũng không kịp, không thể dùng suy nghĩ, tính toán đến được.
Đã được Hoàng Bá ấn khả, Sư tìm đến Hà Bắc ở góc đông nam thành Trấn Châu, gần sông Hô Đà đất Lâm Tế trụ trì một viện nhỏ. Nơi đây Phổ Hóa đã ở trước.
Một hôm Sư gọi Phổ Hóa, Khắc Phù đến bảo:
- Ta muốn ở đây dựng lập tông chỉ Hoàng Bá, hai ông hãy giúp đỡ ta.
Hai vị trân trọng lui ra. Ba ngày sau Phổ Hóa đến hỏi:
- Ba ngày trước Hòa thượng nói gì?
Sư liền đánh. Ba ngày sau Khắc Phù lại lên hỏi:
- Ba ngày trước Hòa thượng đánh Phổ Hóa là sao?
Sư cũng đánh.
Ngài đến Hà Bắc góc đông nam thành Trấn Châu, gần sông Hô Đà đất Lâm Tế lập một viện nhỏ. Người xưa thường gọi tên các thiền sư phần nhiều bằng tên chùa hoặc tên đất. Như ở bên mình, cung kính tổ Khánh Anh ở chùa Phước Hậu thì gọi ngài là Sư cụ Phước Hậu. Tổ Lâm Tế là một vị nổi tiếng, người ta không gọi tên viện mà gọi tên đất, đất Lâm Tế.
Khi đến ở viện nhỏ này, thì trước đã có Phổ Hóa với Khắc Phù ở rồi. Phổ Hóa là đệ tử ngài Bàn Sơn, Bàn Sơn là đệ tử Mã Tổ. Phổ Hóa với Khắc Phù hai vị đều ngộ đạo, nhưng duyên hóa độ của các ngài không rộng. Khi ngài Lâm Tế tới rồi, hôm sau kêu hai vị lên nói: Ta muốn ở đây dựng lập tông chỉ Hoàng Bá, hai ông hãy giúp đỡ ta.
Câu nói đó rất hiền lành bình dị, nói vậy rồi thì hai vị kia chào lui đi. Ba hôm sau, Phổ Hóa mới khai chiến: Ba ngày trước Hòa thượng nói gì? Khai chiến thì không còn ngôn ngữ, ngài Lâm Tế liền đánh. Ba ngày sau, Khắc Phù lại lên hỏi: Ba ngày trước Hòa thượng đánh Phổ Hóa là sao? Ngài cũng đánh. Lúc nào khai chiến là khác, lúc nào nói thường là khác.
Phủ chủ Vương Thường Thị cùng các quan thỉnh Sư đăng tòa. Sư thượng đường bảo:
- Hôm nay sự bất đắc dĩ sơn tăng chiều theo nhân tình mới lên tòa này. Nếu nhằm dưới cửa Tổ tông khen ngợi việc lớn, hẳn là mở miệng chẳng đặng, không có chỗ các ông để chân. Hôm nay do Thường Thị cố thỉnh, sơn tăng đâu có thể ẩn cương tông. Trong đây nếu có tác gia chiến tướng liền xổ cờ bày trận đi! Đối chúng chứng cứ xem.
Tăng hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư liền hét. Tăng lễ bái. Sư bảo:
- Ông thầy này lại nên bàn luận.
Tăng hỏi:
- Thầy tuyên dương gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào?
Sư bảo:
- Ta ở chỗ Hoàng Bá ba phen thưa hỏi ba lần bị đánh.
Vị tăng suy nghĩ, Sư liền hét, và theo sau đánh, nói:
- Không thể đến trong hư không mà đóng cọc.
Phủ chủ Vương Thường Thị, phủ chủ đương tương tỉnh trưởng, cùng các quan thỉnh Sư đăng tòa.
Ý ngài nói việc lớn đó, hay việc dưới cửa Tổ tông thì không có lời để nói, không có chỗ để các ông đặt chân dọ dẫm. Hôm nay do Thường Thị cố thỉnh, sơn tăng đâu có thể ẩn cương tông. Đó là chỗ bất lập văn tự, nói không thể đến, nhưng vì đại chúng mọi người tha thiết nên ngài tạm dùng phương tiện hé mở chỗ bí mật của Tổ sư. Trong đây nếu có tác gia chiến tướng liền xổ cờ bày trận đi! Đối chúng chứng cứ xem. Đây là ra trận, không có nhường ai hết.
Tăng bước ra hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài liền hét! Tăng lễ bái. Ngài bảo: Ông thầy này lại nên bàn luận. Tức là thấy như vị tăng này có phần hiểu. Vị tăng hỏi: Thầy tuyên dương gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào? Ngài trả lời: Ta ở chỗ Hoàng Bá ba phen thưa hỏi ba lần bị đánh. Vị tăng suy nghĩ, ngài liền hét và theo sau đánh, nói: Không thể đến trong hư không mà đóng cọc. Vì chỗ ngài ngộ ở Hoàng Bá, ba lần hỏi ba lần bị đánh, chỗ đó không có hình tướng. Nếu ông nghe tôi nói rồi suy nghĩ, thì chẳng khác nào đem cọc đóng trong hư không, uổng công vô ích.
Có Tọa chủ hỏi:
- Ba thừa mười hai phần giáo đâu chẳng phải chỉ rõ Phật tánh?
Sư đáp:
- Cỏ hoang chưa từng cuốc.
Tọa chủ:
- Phật đâu dối người?
Sư bảo:
- Phật ở chỗ nào?
Tọa chủ không đáp được. Sư tiếp:
- Ở trước Thường Thị định lừa lão tăng, lui mau! Lui mau! Làm chướng ngại người khác thưa hỏi.
Lại nói:
- Hôm nay pháp hội vì một đại sự, lại có người thưa hỏi chăng? Mau đến hỏi đi. Ông vừa mở miệng đã chẳng dính dáng. Vì sao như thế? Đâu chẳng nghe Thích Tôn nói: “Pháp lìa văn tự vì chẳng thuộc nhân chẳng ở duyên.” Bởi các ông tin chẳng đến, cho nên ngày nay mới dùng phương tiện sợ e Thường Thị cùng các quan viên lầm Phật tánh ấy, chi bằng hãy lui.
Sư hét một tiếng, nói tiếp:
- Người gốc tin kém, trọn không có ngày xong. Đứng lâu, trân trọng!
Có Tọa chủ hỏi: Ba thừa mười hai phần giáo đâu chẳng phải chỉ rõ Phật tánh? Tức là tất cả kinh điển của Phật là chỉ rõ Phật tánh. Ngài đáp: Cỏ hoang chưa từng cuốc. Nghĩa là sao? Chúng ta từng nghe câu rừng nho biển thánh, đạo lý nhà Nho hay là giáo lý của Phật rộng như biển, mênh mông như rừng. Vì thế ví giáo lý mù mịt như cỏ hoang chưa từng cuốc. Tọa chủ không hiểu, hỏi: Phật đâu dối người? Ngài nói: Phật ở chỗ nào? Tọa chủ không đáp được. Ngài tiếp: Ở trước Thường Thị định lừa lão tăng, lui mau! Lui mau! Làm chướng ngại người khác thưa hỏi.
Ngài nói: Hôm nay pháp hội vì một đại sự, lại có người thưa hỏi chăng? Mau đến hỏi đi. Ông vừa mở miệng đã chẳng dính dáng. Ngài bảo hỏi, mà nói mở miệng không dính dáng. Vì sao như thế? Đâu chẳng nghe Thích Tôn nói: Pháp lìa văn tự vì chẳng thuộc nhân chẳng ở duyên. Câu đó hiểu không?
Chúng ta nghe nói pháp thì cứ tưởng Phật pháp là giáo lý. Chữ pháp này trong bài kệ của Phật truyền cho tổ Ca-diếp.
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp,
Nay khi trao không pháp,
Mỗi pháp đâu từng pháp.
Phật nói pháp gốc vốn không phải là pháp, tức không phải pháp có hình tướng. Tuy không có hình tướng mà nó vẫn có chứ không phải không, nên nói không pháp cũng là pháp. Nay khi trao cái không pháp ấy thì mỗi pháp mỗi pháp không từng pháp, vì nó không thuộc hai bên.
Bởi các ông tin chẳng đến, cho nên ngày nay mới dùng phương tiện sợ e Thường Thị cùng các quan viên lầm Phật tánh ấy, chi bằng hãy lui. Vì mọi người không nhận được pháp ấy nên mượn phương tiện nói ra, nói ra rồi sợ lầm chỗ ấy cho nên phải lui.
Ngài hét một tiếng, nói: Người gốc tin kém, trọn không có ngày xong, đứng lâu, trân trọng! Gốc tin là tin cái gì? Tin Tam bảo phải không?
Sư thượng đường bảo:
- Trên cục thịt đỏ có vô vị chân nhân, thường từ cửa mặt các ông ra vào. Người chưa được chứng cứ hãy xem! Xem!
Có vị tăng ra hỏi:
- Thế nào là vô vị chân nhân?
Sư bước xuống tòa nắm đứng bảo:
- Nói! Nói!
Vị tăng ấy suy nghĩ. Sư liền buông ra nói:
- Vô vị chân nhân là que cứt khô gì.
Sư liền trở về phương trượng.
Cái gì là cục thịt đỏ? Thân này lột lớp da ra thì chỉ là một khối thịt đỏ, trên đó có vô vị chân nhân, vô vị chân nhân là gì? Chân nhân là người chân thật, vô vị là không có chỗ nơi. Người chân thật đó trùm khắp không có chỗ nơi, vì có chỗ nơi là còn có hình tướng, vô vị chân nhân này không có hình tướng, thường từ cửa mặt các ông ra vào, chỗ nào? Ngay trên mặt chúng ta đây, thường thấy thường nghe, tiếp xúc trần cảnh, từ đó mà không thấy được vô vị chân nhân.
Tăng muốn thấy, nên hỏi thế nào là vô vị chân nhân? Ngài không trả lời, bước xuống tòa nắm lại bảo: Nói! Nói! Cái đó không chỉ được, nếu biết thì tự thốt ra. Như khi ngài đem thư sang Quy Sơn, Ngưỡng Sơn hỏi, cái này của Hoàng Bá, cái kia là của người đem thư. Ngài liền đánh thì biết cái nào. Đây ngài bảo nói, Tăng không tỏ ra được gì, mà lại suy nghĩ, suy nghĩ tức là sai. Ngài buông ra nói một câu: Vô vị chân nhân là que cứt khô gì.
Lúc tôi dạy ở đại học Vạn Hạnh, cũng có một ít giáo sư giải thích que cứt khô này mấy trang giấy. Họ cứ nghĩ rằng que cứt khô là giải thích vô vị chân nhân, không ngờ đây là lời quở kẻ ngu. Như bây giờ có chú nào lên hỏi tôi thế nào là Phật tánh? Tôi bảo nói, nói không được. Tôi nói, Phật tánh gì, đồ bỏ! Vậy là nói Phật tánh đồ bỏ hay chú là đồ bỏ. Đó là quở mấy chú là đồ bỏ, không hiểu gì mà làm bộ hỏi.
Đây cũng vậy, vô vị chân nhân là cái gì? Tức là ông không hiểu gì hết, đồ bỏ. Tại sao thiền sư nói thô tháo vậy? Bởi vì chúng ta là phàm tình, nên lựa lời hay tiếng đẹp để nói cho người ta mến thương. Thiền sư thấy ngôn ngữ không thật nên không cần lựa lời.
Tham vấn buổi chiều, Sư dạy chúng:
- Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Có khi nhân cảnh đều đoạt. Có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt.
Khắc Phù hỏi:
- Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
Sư đáp:
- Ngày ấm nảy sanh gấm trải đất, trẻ con rủ tóc trắng như tơ. (Hú nhật phát sanh phô địa cẩm, anh hài thùy phát bạch như ty.)
Khắc Phù hỏi:
- Thế nào đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
Sư đáp:
- Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ, tướng quân biên ngoại khói mù tan. (Vương lệnh dĩ hành thiên hạ biến, tướng quân tái ngoại tuyệt yên trần.)
Khắc Phù hỏi:
- Thế nào nhân cảnh đều đoạt?
Sư đáp:
- Tịnh Phần bặt tin, riêng ở một cõi. (Tịnh phần tuyệt tín, độc xử nhất phương.)
Khắc Phù hỏi:
- Thế nào nhân cảnh đều chẳng đoạt?
Sư đáp:
- Vua lên điện báu, lão quê hát ca. (Vương đăng bảo điện, dã lão âu ca.)
Khắc Phù ngay đó lãnh hội ý chỉ.
Sư lại bảo:
- Thời nay người học Phật pháp cần yếu có kiến giải chân chánh. Nếu được kiến giải chân chánh thì sanh tử chẳng nhiễm, đi đứng tự do chẳng cần cầu thù thắng mà thù thắng tự đến. Đạo lưu (đồng đạo, chỉ chúng tăng)! Các bậc tiên đức từ xưa đều có con đường đưa người, như sơn tăng chỉ chỗ cho người. Cốt các ông đừng bị người gạt, cần dùng liền dùng, lại chớ ôm ngờ vực. Hiện nay học giả chẳng được, bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại chỗ chẳng tin. Các ông nếu tự tin chẳng đến, là rộn ràng theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh lôi, lại chẳng được tự do. Các ông nếu hay bặt được tâm luôn luôn chạy tìm, liền cùng Phật tổ chẳng khác. Các ông muốn biết được Phật tổ chăng? Chính trước mặt các ông hiện nghe pháp ấy vậy. Học nhân tin chẳng đến, liền chạy tìm ra ngoài. Dù có tìm được, cũng chỉ là tướng thù thắng của văn tự, trọn chẳng đặng ý của Phật tổ sống. Chớ lầm!
Tham vấn buổi chiều, ngài dạy chúng: Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Có khi nhân cảnh đều đoạt. Có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt. Đây gọi là Tứ liệu giản, chữ Liệu là trị liệu, chữ Giản là giản trạch. Nghĩa là chọn lựa phương pháp để trị liệu đúng bệnh, đúng căn cơ. Bốn pháp tu này ngài giải thích theo thứ bậc tùy trình độ thấp cao của người học, cho họ dễ học dễ tu.
Khắc Phù hỏi: Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh? Ngài đáp: Ngày ấm nảy sanh gấm trải đất, trẻ con rủ tóc trắng như tơ. Ngày ấm là những ngày của mùa xuân, vì ngài ở miền bắc Trung Hoa, mùa thu thì lá rụng, mùa đông thì cây cỏ héo tàn, tới mùa xuân mới nảy mầm ra lộc. Vì vậy mùa xuân cỏ xanh tươi, giống như gấm trải dưới đất. Câu đầu này là nói về cảnh còn nguyên vẹn. Câu thứ hai, trẻ con rủ tóc trắng như tơ. Câu này nhìn theo tông Tào Động, đó là hình ảnh hồi hỗ, trong trẻ có già; nhưng với tông Lâm Tế thì không phải. Tông Tào Động có tân chủ, tông Lâm Tế cũng có tân chủ. Tân là khách, chủ là chủ. Trong Tào Động, tân là chỉ cho dụng, chủ chỉ cho thể. Tông Lâm Tế, tân là chỉ cho người hỏi, chủ là chỉ cho người đáp. Hai cách khác nhau.
Đây nói đứa bé đầu bạc như tơ, là để chỉ cho người bị vô thường biến đổi, mà cảnh thì y nhiên xinh tươi, đó là đoạt nhân không đoạt cảnh. Chữ đoạt là dẹp, dẹp người không dẹp cảnh, dẹp người như thế nào? Như tôi hằng nói chúng ta tu tùy theo trường hợp. Có khi bảo mấy chú cứ nhìn chừng, kiểm soát những vọng tưởng của mình, vừa dấy lên đừng theo, thì đó thuộc về đoạt nhân. Nghĩa là chăm chú vào con người của mình, nội tâm của mình để làm chủ, không theo vọng tưởng, cảnh ngoài mặc nó, mình không động tới.
Đến câu thứ hai, Khắc Phù hỏi: Thế nào đoạt cảnh chẳng đoạt nhân? Ngài đáp: Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ, tướng quân biên ngoại khói mù tan. Lệnh vua là chỉ cho nhân, tướng quân biên ngoại khói mù tan tức là dẹp tan giặc, đó là cảnh. Cảnh bị phá vỡ, người vẫn y nguyên. Như có trường hợp tôi bảo, nếu nhìn như vậy lâu có thể hơi đau đầu, thì nhìn ra ngoài thấy trời mây cây cỏ, cái gì cũng biết là tướng duyên hợp hư dối không thật, tất cả là tướng huyễn hóa. Không cần dẹp vọng tâm chỉ cần biết cảnh huyễn đó gọi là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân.
Khắc Phù hỏi: Thế nào nhân cảnh đều đoạt? Ngài đáp: Tịnh Phần bặt tin, riêng ở một cõi. Tịnh Phần là tên xứ, tên đất. Cũng như mấy chú ở Long Thành lên Đà Lạt một thời gian. Gặp người hỏi: “Huynh lâu nay có được tin tức gì ở Long Thành không?” Nếu không có tin thì nói sao? “Tôi bặt tin ở Long Thành”, nghĩa là tin tức ở Long Thành không đến với mình. Đây là ví dụ để thấy rằng người và cảnh đến đây đã lặng hết không còn dính dáng. Việc tu của mình nếu trình độ sơ cơ thì bảo dẹp tâm không dẹp cảnh. Rồi trình độ cũng sơ cơ mà người đó nặng về cảnh, bảo họ dẹp cảnh không dẹp tâm thì chỉ có một phần thôi. Sau khi dẹp cảnh rồi cũng phải dẹp tâm. Cho nên tâm cảnh đều phải dẹp.
Khắc Phù hỏi: Thế nào nhân cảnh đều chẳng đoạt? Ngài đáp: Vua lên điện báu, lão quê hát ca. Đây là đến chỗ thuần thục, xong xuôi, mọi việc đều êm đềm vui vẻ. Như là vua lên ngôi, mọi người dân đều được an ổn vui tươi không có gì lo sợ. Đó là chỗ cuối cùng.
Pháp tu này thấy đặc biệt nhưng không khác với pháp của các thiền sư. Thiền sư Duy Tín nói rằng: “Ba mươi năm khi chưa học thiền thấy núi là núi, sông là sông. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông.” Đây là nhân cảnh đều đoạt. “Rồi nay thể nhập chỗ yên vui tịch tĩnh thấy núi là núi, sông là sông.” Đây là nhân cảnh đều không đoạt.
Ngài lại bảo: Thời nay người học Phật pháp cần yếu có kiến giải chân chánh. Nếu được kiến giải chân chánh thì sanh tử chẳng nhiễm, đi đứng tự do, chẳng cần cầu thù thắng mà thù thắng tự đến. Kiến giải chân chánh là thấy hiểu chân chánh. Nếu người được thấy hiểu chân chánh thì sanh tử không nhiễm, đi đứng tự do, chẳng cần cầu thù thắng mà thù thắng tự đến. Cũng như không cầu thành Phật mà cũng vẫn thành Phật.
Đạo lưu! Các bậc tiên đức từ xưa đều có con đường đưa người, như sơn tăng chỉ chỗ cho người. Nói rằng những vị tiên đức trước chỉ dạy người, tôi bây giờ cũng có lối để chỉ dạy cho các ông. Cốt các ông đừng bị người gạt, cần dùng liền dùng, lại chớ ôm ngờ vực. Đừng bị người gạt, ai gạt mình? Như khi đang ngồi thiền muốn được yên tĩnh thảnh thơi, mà niệm khởi chạy rồi rủ đi chỗ này dẫn đi chỗ kia, rủ chạy hoài không cho mình thảnh thơi. Chúng ta bị vọng tưởng gạt không cho yên, ngài bảo đừng bị người gạt.
Tôi nhắc thêm điều này. Chúng ta tu cốt yếu cầu giải thoát, không nên đặt nặng phương tiện cầu cúng. Khi Phật tử có việc thì nhờ chúng ta cầu an cầu siêu, đến khi tăng ni có việc thì nhờ ai cầu? Mục đích đầu tiên của người tu là giải thoát, không bị vọng tưởng gạt, điều này hết sức tốt đẹp. Chính mình không gạt mình thì sự tu hành mới đến nơi đến chốn. Nếu cứ lo việc cầu xin bái lạy, không chịu tỉnh giác, nhiều khi bị gạt mà không hay. Phải gan dạ, cố gắng nỗ lực chấn chỉnh lấy mình, phương tiện tùy duyên chỉ là phần phụ.
Hiện nay học giả chẳng được, bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại chỗ chẳng tin. Các ông nếu tự tin chẳng đến, là rộn ràng chạy theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh kéo lôi, lại chẳng được tự do. Chính vì mình còn rộn ràng nên bị cảnh chuyển, bị cảnh kéo lôi thì mất tự do. Nếu tâm còn lăng xăng lộn xộn là mình có chạy theo cảnh hay không chạy theo cảnh? Chạy theo cảnh thì ngày nhắm mắt tự do hay không? Tu là cốt giải thoát sanh tử mà còn bị cảnh kéo lôi thì làm sao giải thoát được. Đó là một lẽ thật không chối cãi.
Các ông nếu hay bặt được tâm luôn luôn chạy tìm, liền cùng Phật tổ chẳng khác. Các ông muốn biết được Phật tổ chăng? Chính trước mặt các ông hiện nghe pháp ấy vậy. Tâm phàm phu luôn luôn chạy tìm, tìm cái tầm thường là dục lạc, tìm cao thượng hơn là giáo lý, dù cao hay thấp cũng là chạy tìm. Chỉ cần tâm chạy tìm dừng lại thì cùng Phật tổ không khác.
Phật tổ không ở đâu xa, ngay khi dừng vọng tưởng chạy tìm là ở trước mắt. Chỗ này nếu khéo tu thì thấy rõ. Khi chúng ta lắng nghe kinh nghe pháp, lúc đó nếu nơi tâm không nghĩ gì, có cái lắng nghe không tướng mạo, sáng suốt mà hằng trong sạch không dấy nhiễm. Cái thanh tịnh sáng suốt hiện hữu đó là Phật mà mình không nhận, cứ tìm kiếm Phật ngồi trên tòa sen phóng hào quang. Nói tới Phật cứ nghĩ Phật có hào quang, Phật ngồi tòa sen, còn ông Phật sáng suốt thanh tịnh đang nghe pháp đây lại không nhận.
Ai không có Phật? Có mà không dám tin, nên nói tự tin không đến. Chúng ta tu để lắng vọng niệm, tâm sáng suốt thanh tịnh hiện tiền thì ngay lúc đang nghe pháp đây, không có niệm khởi, tự nhiên sáng suốt thanh tịnh, đó là Phật.
Học nhân tin chẳng đến, liền chạy tìm ra ngoài. Dù có tìm được, cũng chỉ là tướng thù thắng của văn tự, trọn chẳng đặng ý của Phật tổ sống. Chớ lầm! Mỗi người đều có Phật tổ sống vậy mà không nhận, cứ kiếm Phật gỗ, Phật xi-măng... thật là si mê. Ngài Lâm Tế dùng nhiều thủ thuật đặc biệt không lường được, khi nói thì ngài cũng nhiệt tình nói thẳng nói trắng hết lẽ thật, chỉ tại vì chúng ta lòng tin không đến.
Chư Thiền đức! Thời nay chẳng gặp, muôn kiếp ngàn đời luân hồi tam giới, chạy theo cảnh ưa thích rồi phải sanh trong bụng trâu bụng lừa... Đạo lưu! Nhằm chỗ thấy của sơn tăng cùng Thích-ca không khác. Hiện nay nhiều chỗ ứng dụng, kém thiếu cái gì? Sáu đường thần quang chưa từng cách dứt. Nếu hay thấy được như thế, chỉ một đời làm người vô sự.
Chạy theo cảnh ưa thích, tức là đuổi theo vọng trần rốt cuộc rồi sanh trong lục đạo luân hồi. Đạo lưu! Nhằm chỗ thấy của sơn tăng cùng Thích-ca không khác. Hiện nay nhiều chỗ ứng dụng, kém thiếu cái gì? Đây là câu ngài muốn xác chứng để chúng ta đủ lòng tin lời nói của ngài. Nếu ngài thấy khác với Phật thì lời nói của ngài không đủ mạnh để tin. Chính cái thấy của ngài với Phật Thích-ca không khác, tại sao chỉ thẳng mà mình không tin? Hiện tại ứng dụng rõ ràng có kém thiếu gì.
Sáu đường thần quang chưa từng cách dứt. Nếu hay thấy được như thế, chỉ một đời làm người vô sự. Thế nào là sáu đường thần quang? Thế nào là sáu tên giặc? Chúng ta đang sống với sáu đường thần quang hay sống với lục tặc? Nếu sống với sáu đường thần quang, đó là Phật hiện; sống với sáu chú giặc, đó là ngạ quỷ súc sanh... hiện. Như mắt thấy rõ ràng mà không khởi niệm đẹp xấu so sánh hơn thua khinh ghét, đó là sáu đường thần quang. Tai nghe tiếng dù tiếng chửi cũng biết là chửi mà không giận không buồn, đó là sáu đường thần quang. Khi thấy phân tích đẹp xấu, đẹp thì ưa, xấu thì ghét, khi nghe phân tích khen chê, chê thì giận, khen thì mừng, đó là lục tặc. Ai cũng có sáu đường đó, nếu khéo sống với sáu đường thần quang thì được lục thông, nếu sống với lục tặc thì của cải sự nghiệp tan hoang.
Việc tu không phải xa lạ, mà chính mình sẵn có cái đó, khéo đừng để nó dẫn đi chỗ khác là đúng. Phật trước đã có, Tổ trước đã có, mình cũng đã có nhưng cứ chạy theo lục tặc thì bị mất. Muốn được vô sự thì theo sáu đường thần quang, cứ làm là được, không ai bắt buộc chúng ta phải dính cái này kẹt cái kia. Tự do chọn, muốn dính kẹt thì theo dính kẹt, muốn thong thả tự do thì theo thong thả tự do. Nếu thấy được như thế chỉ một đời làm người vô sự thảnh thơi.
Đại đức! Ba cõi không yên như trong nhà lửa, đây không phải là chỗ các ông dừng ở lâu, quỷ vô thường giết người trong khoảng chớp mắt chẳng lựa sang hèn già trẻ. Các ông muốn cùng Phật tổ chẳng khác, chỉ chớ tìm kiếm bên ngoài. Trên một tâm niệm thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân trong nhà của ông. Trên một tâm niệm vô phân biệt sáng suốt là Phật báo thân trong nhà của ông. Trên một tâm niệm vô sai biệt sáng suốt là Phật hóa thân trong nhà của ông. Ba thứ thân này là người hiện nay ở trước mắt nghe pháp của ông. Chỉ không tìm kiếm bên ngoài, liền có công dụng này. Theo các nhà Kinh Luận lấy ba thân này làm nguyên tắc tột cùng. Nhằm chỗ thấy của sơn tăng thì chẳng phải vậy. Ba thân này là danh ngôn, cũng là ba thứ y. Người xưa nói: “Thân y nghĩa lập, cõi theo thể bàn. Pháp tánh thân, pháp tánh độ biết rõ là quang ảnh (bóng sáng).”
Dẫn chứng kinh Pháp Hoa: Ba cõi không yên như trong nhà lửa. Lửa này không phải lửa nóng mà là lửa vô thường thiêu đốt. Tất cả người vật đều bị thiêu đốt rồi đi tới chỗ hủy hoại. Không thể nghĩ rằng bây giờ còn trẻ tu sơ sơ, đợi đến già tu rút. Quỷ vô thường không hẹn, không cam đoan ngày giờ, nó muốn rước chúng ta lúc nào thì rước, ngày nay còn có mặt ở đây thì phải ráng tu. Đừng đợi lúc vô thường dẫn đi, mình không có khả năng trốn thoát, phải chịu nó dẫn vào trong những chỗ khổ đau, chừng đó hối hận không kịp. Vì thế ngài Lâm Tế nói quỷ vô thường giết người trong khoảng chớp mắt chẳng lựa sang hèn già trẻ. Không ai thoát khỏi tay nó, chúng ta đừng chần chừ không chịu tu rút.
Các ông muốn cùng Phật tổ chẳng khác, chỉ chớ tìm kiếm bên ngoài. Ngài nhắc tới nhắc lui, muốn cùng Phật tổ không khác thì đừng chạy ra ngoài tìm. Trên một tâm niệm thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân trong nhà của ông. Tâm không dấy khởi loạn động là niệm thanh tịnh sáng suốt, chính đó là Phật pháp thân của mình, ai cũng sẵn có. Chỉ trong tâm này thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân.
Trên một tâm niệm vô phân biệt sáng suốt là Phật báo thân trong nhà của ông. Trên một tâm niệm vô sai biệt sáng suốt là Phật hóa thân trong nhà của ông. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không có niệm khởi phân biệt đó là vô phân biệt, đó là Phật báo thân ngay trên sáu căn. Tâm niệm vô sai biệt là Phật hóa thân của ông. Vô phân biệt và vô sai biệt khác nhau ra sao? Vô phân biệt là chỉ cho sáu căn tiếp xúc sáu trần mà không bị ô nhiễm, không phân biệt dính mắc. Vô sai biệt là không có niệm trước khác niệm sau khác, chỉ thẳng nơi ý mình niệm niệm bình đẳng. Bình đẳng tức là vô sai biệt.
Như vậy chúng ta sẵn có Phật pháp thân, Phật báo thân, Phật hóa thân không thiếu. Ba thứ thân này là người hiện nay ở trước mắt nghe pháp của ông. Phật của ông hiện nay ở trước mắt đang nghe pháp, đây là điệp khúc thứ hai ngài nhắc lại. Hiện nghe pháp mà lắng nghe cái sáng suốt thanh tịnh đó là ba tướng Phật nằm trong đó đủ rồi.
Chỉ không tìm kiếm bên ngoài liền có công dụng này. Đừng đuổi theo đừng tìm kiếm bên ngoài thì công dụng ba thân Phật đó hiện tiền. Theo các nhà Kinh Luận lấy ba thân này là nguyên tắc tột cùng. Nhằm chỗ thấy của sơn tăng thì chẳng phải vậy. Ba thân này là danh ngôn cũng là ba thứ y. Người xưa nói: “Thân y nghĩa lập, cõi theo thể bàn. Pháp tánh thân pháp tánh độ biết rõ là quang ảnh.”
Trong bài tụng sám hối có những câu Thường Tịch Quang Tịnh Độ A-di-đà Như Lai là nói pháp thân, Thật báo trang nghiêm độ là nói về báo thân. Những tên hiệu này là danh ngôn, đối với ngài là bóng dáng không thật. Ông Phật đang nghe pháp đây mới là Phật thật, Phật thật này đang đùa với quang ảnh, không phải quang ảnh là chủ của ông Phật này. Chúng ta mắc kẹt trên danh ngôn cứ nghĩ đến Phật pháp thân, tìm kiếm pháp thân pháp tánh trên danh ngôn mà không thấy ông Phật thật của chính mình.
Đại đức! Các ông hãy nhận biết người đùa quang ảnh là nguồn gốc của chư Phật, tất cả chỗ là chỗ các ông về nhà. Sắc thân tứ đại của các ông không biết thuyết pháp, nghe pháp. Gan mật phèo phổi không biết thuyết pháp, nghe pháp. Hư không không biết thuyết pháp, nghe pháp. Cái gì biết thuyết pháp, nghe pháp? Là một cái riêng sáng hiện bày rõ ràng ở trước mắt ông biết thuyết pháp, nghe pháp. Nếu thấy được như thế đã cùng Phật tổ không khác, chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn, chạm mắt đều phải. Chỉ vì tình sanh trí cách, tưởng dấy thể sai, do đó luân hồi trong tam giới chịu các thứ khổ. Nếu nhằm chỗ thấy của sơn tăng thật là rất sâu, thật là giải thoát.
Người đùa quang ảnh là Phật thật đang nghe pháp, là chỗ các ông về nhà chứ không đâu xa. Thử phân tích xem thân này cái gì biết thuyết pháp, biết nghe pháp? Tứ đại đất nước gió lửa là vô tri làm sao biết thuyết pháp nghe pháp. Gan ruột phèo phổi... làm sao biết thuyết pháp nghe pháp. Cái biết thuyết pháp nghe pháp là ông Phật hiện hữu của mình mà mình không nhận ra, sẵn có ông Phật vậy mà không biết. Vì thế nói rằng cái riêng sáng hiện bày rõ ràng ở trước mắt ông biết nghe pháp thuyết pháp, cái đó là chính ông chứ gì nữa.
Nếu thấy được như thế đã cùng Phật tổ không khác, chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn, chạm mắt đều phải. Trong tất cả các thời đều thấy ông Phật đang nghe pháp đó, đừng có cái gì chen vô. Như thế là sống rõ ràng, nếu có chen vô bị gián đoạn thì Phật đi vắng. Nếu sống được như vậy thì chạm mắt tức là Bồ-đề, thấy cái gì cũng là Bồ-đề, nghe cái gì cũng là Bồ-đề. Nếu để Phật đi vắng thì thấy nghe cái gì cũng trở thành lục tặc. Như vậy khó hay dễ, đủ lòng tin chưa? Đây là lần thứ ba, trong một đoạn mà ba lần lặp đi lặp lại chỉ cái đang nghe pháp của mình là ông Phật thật của mình. Nói như vậy là tận tình còn giấu giếm chỗ nào mà không tin?
Chỉ vì tình sanh trí cách, tưởng dấy thể sai. Tình là gì? Buồn giận thương ghét... vừa dấy lên thì trí đã cách. Vừa khởi tưởng này tưởng nọ thì đã sai mất chân thể. Tình và tưởng lặng đi thì chân Phật hiện tiền. Do đó luân hồi trong tam giới chịu các thứ khổ. Nếu nhằm chỗ thấy sơn tăng thật là rất sâu, thật là giải thoát. Tổ Lâm Tế không giấu giếm gì với chúng ta, ngài chỉ thẳng ông Phật thật mà ai ai cũng có, chỉ vì không tin không nhận. Phải tin sâu nhận chắc chắn thì mới thấy được ông Phật của mình.
Đạo lưu! Tâm pháp không hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi thấy, ở tai gọi nghe, ở mũi gọi ngửi, ở miệng nói bàn, ở tay nắm bắt, ở chân đi chạy, vốn là một tinh minh phân làm sáu hòa hợp. Một tâm đã không, tùy chỗ giải thoát. Sơn tăng nói thế ấy, ý ở chỗ nào? Chỉ vì tất cả các ông chạy tìm tâm không thể dừng, leo lên cơ cảnh nhàn của cổ nhân.
Đạo lưu! Theo chỗ thấy của sơn tăng, quét sạch Báo Hóa Phật. Hàng mãn tâm Thập địa ví như nhận khách làm con. Bậc Đẳng giác Diệu giác là kẻ mang gông xiềng. La-hán Bích-chi ví như xí uế. Bồ-đề Niết-bàn như cọc cột lừa. Vì sao như thế? Chỉ vì các ông không thấu được ba kỳ kiếp là không, nên có chướng ngại này. Nếu là đạo nhân chân chánh trọn chẳng như thế, chỉ “tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, tâm không một niệm mong cầu quả Phật. Bởi đâu như thế? Cổ nhân nói: “Nếu muốn làm việc cầu Phật, Phật là điềm lớn sanh tử.”
Đại đức! Thời giờ đáng tiếc, chỉ tính đến nhà bên lăng xăng học thiền học đạo, nhận danh nhận cú, cầu Phật cầu Tổ, cầu thiện tri thức độ. Chớ lầm! Các ông sẵn có một cha mẹ, lại cầu vật gì? Các ông tự phản chiếu xem! Cổ nhân nói:
Diễn-nhã-đạt-đa quên mất đầu
Tâm cầu dứt sạch liền vô sự.
Ngài dạy cho chúng ta thấy bệnh của người tu là chạy đi tìm cầu. Tìm cầu mọi nơi, nào là học thiền học đạo, nào là cầu Phật cầu Tổ, cầu thiện tri thức... Tìm cầu nhiều thứ mà chính cái chân thật của mình lại không cầu. Cho nên nói các ông sẵn có một cha mẹ, lại cầu vật gì? Chữ “cha mẹ” ở đây là chỉ cho cái chân thật sẵn có của chính mình. Vua Trần Thánh Tông khi sắp tịch có nói, tuy rằng nóng bức đổ mồ hôi nhưng chưa từng thấm ướt khố mẹ sanh. Chữ khố mẹ sanh là chỉ cho ông chủ hay bản lai diện mục có sẵn nơi mọi người. Ai cũng có mà không chịu tìm, không chịu trở lại, cứ cầu bên ngoài. Vì vậy ngài mới dẫn câu Diễn-nhã-đạt-đa quên mất đầu.
Kinh Lăng-nghiêm Phật dạy, Diễn-nhã-đạt-đa một buổi sáng đứng soi gương, thấy đầu mặt trong gương rõ ràng, úp gương lại không thấy đầu mặt đâu, hoảng sợ chạy la: “Tôi mất đầu rồi!” Chúng ta có giống vậy không? Đầu của Diễn-nhã-đạt-đa không mất, chỉ mất cái bóng trong gương. Như khi chúng ta đang ngồi chơi chợt bặt dứt không suy nghĩ gì hết, lúc đó cho là mất mình. Vì quen cho rằng cái suy nghĩ là mình, nên không suy nghĩ tưởng là mất mình. Nếu không mất thì ở đâu? Suy nghĩ là bóng duyên theo sáu trần, còn cái ta đang hiện hữu, tai vẫn nghe mắt vẫn thấy, các cơ quan vẫn còn sáng rỡ. Suy nghĩ lặng thì như khi úp gương lại không thấy bóng, cái ta thật thì không mất. Trên thế gian trăm người như một có ai nói cái suy nghĩ là không phải mình không? Ai cũng nói tôi nghĩ tôi tính, cái nghĩ tính là tôi, khi không nghĩ không tính thì không có tôi. Nhưng khi đó ai ngồi, ai đứng, ai làm việc... tôi vẫn ở đó chứ đâu. Đây là sự lầm lẫn lớn lao. Tưởng rằng Diễn-nhã-đạt-đa rất ngu si, vô lý mất bóng trong gương mà cho là mất đầu, ôm đầu chạy tìm đầu. Chúng ta cũng giống hệt, cũng ngu si như vậy.
Ngài Lâm Tế dẫn câu chuyện đó để kết luận: Tâm mong cầu tìm kiếm đuổi theo mà dứt được rồi thì liền đó vô sự.
Đại đức! Cần yếu bình thường chớ tạo hình thức. Có một bọn tớ trọc chẳng biết tốt xấu, thấy thần thấy quỷ, chỉ đông vẽ tây, thích mưa thích tạnh. Bọn như thế đáng quở trách, có ngày đến trước lão Diêm vương bị nuốt hòn sắt nóng. Kẻ nam nữ tốt tại gia bị bọn tinh mỵ dã hồ này mê hoặc liền tác quái, mù mắt nhiều đời, có ngày bị đòi tiền cơm gạo.
Tại sao dùng danh từ “tớ trọc” nặng nề như vậy? Tu sĩ là người có trọng trách hướng dẫn chỉ dạy cho Phật tử đường lối tu hành, không phải người chịu sự sai bảo. Nhưng có nhiều nơi học trò đệ tử đòi gì thầy chiều nấy. Bảo thầy sắm đồ vàng mã có nhà lầu xe hơi để cúng tuần thất, bảo thầy xin xăm bói quẻ, cúng sao giải hạn... những điều Phật không dạy mà cũng ráng làm theo. Đây nói “kẻ tớ” là chỗ đó, tức coi như mình lệ thuộc chứ không phải làm chủ. Nếu mình làm chủ, tín đồ bảo cái gì đáng thì mình làm giùm cho họ, không đáng thì mình rầy họ, không cho họ làm. Không giữ đúng tư cách làm thầy nên bị ngài quở là kẻ tớ trọc không biết tốt xấu.
Lại còn thêm chuyện thấy thần thấy quỷ. Như Phật tử có bệnh, thầy bảo bệnh này tại quỷ hay ma gì bắt, nên đem đồ lại thầy cúng cho. Như vậy thầy là người làm trung gian của quỷ thần, khi bị nó xâm phạm thì có thầy cúng cho phải không? Chỉ đông vẽ tây, như người chết ngày nay để ngày mai ngày mốt chôn là phải, nhưng thầy bấm ngón tay nói ngày mốt là ngày sát chủ để bữa khác hãy chôn. Đó là bày thêm chuyện cho người ta. Hoặc muốn đi chôn nhưng người chết gặp ngày trùng thì phải vẽ lá bùa gì, câu chú gì để trong hòm, chứ để vậy thì về bắt con cháu,... Đó là chỉ đông vẽ tây, bày biện đủ thứ chuyện làm cho người ta phải khùng theo. Thích mưa thích tạnh tức là bói toán tính lúc này thời tiết tốt hay xấu ngày giờ đó lành hay dữ... Ngài quở Bọn như thế đáng quở trách có ngày đứng trước lão Diêm vương bị nuốt hòn sắt nóng. Gạt được thế gian chứ xuống Diêm phủ không gạt được, đến lúc đó rồi phải nuốt hòn sắt nóng.
Kẻ nam nữ tốt tại gia bị bọn tinh mỵ dã hồ này mê hoặc liền tác quái. Người nam nữ tại gia không biết, chỉ tại thầy bày vẽ xúi dại, họ làm theo không trúng đâu vào đâu, nên nói là tác quái.
Những điều này không đúng tinh thần đạo lý. Chúng ta tu mà không khéo thì thật là đáng trách. Người tu là người hướng dẫn tín đồ, dạy bảo tín đồ mà hướng dẫn không đúng chánh pháp, lại chỉ họ theo đường tà, để từ người phát tâm tốt trở thành mê tín dị đoan.
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là chân Phật, chân Pháp, chân Đạo, xin Thầy chỉ dạy?
Sư đáp:
- Phật là tâm thanh tịnh, Pháp là tâm sáng suốt, Đạo là ánh sáng thanh tịnh tỏa khắp nơi không ngại. Tuy ba mà một, đều là danh từ suông không thật có. Đạo nhân chân chánh niệm niệm tâm không gián đoạn. Đại sư Đạt-ma từ phương Tây đến, chỉ tìm cái người chẳng bị người gạt. Nhị Tổ một câu nói liền liễu ngộ, mới biết từ trước uổng dụng công phu. Hiện nay sơn tăng chỗ thấy cùng Phật tổ không khác. Nếu trong đệ nhất cú tiến được, kham làm thầy Phật tổ. Nếu trong đệ nhị cú tiến được, kham làm thầy trời người. Nếu trong đệ tam cú tiến được, tự cứu chẳng xong.
Đạo nhân chân chính mỗi niệm mỗi niệm tâm không gián đoạn, sống được với tâm thanh tịnh chân thật sáng suốt của chính mình. Đó là Phật thật là pháp thật của chính mình.
Đại sư Đạt-ma từ phương Tây đến, chỉ tìm cái người chẳng bị người gạt. Chúng ta có bị người gạt không? Chúng ta luôn luôn bị gạt, bên trong gạt, bên ngoài gạt, gạt đủ mọi nơi. Như mình đang ngồi chơi bình thản vô sự, chợt dấy niệm lên, hôm qua hôm kia ai nói câu gì đó hay quá, ôn lại. Mới định sống bình thản vô sự, bây giờ phải ôn lại như thế thì làm sao? Có bị nó gạt không? Tâm mình liên miên suy nghĩ, nhớ câu này đến câu khác, vô sự biến thành đa sự. Như thế là mình gạt mình.
Người khác gạt mình cũng vậy, nhiều khi chính mình tu mà không làm chủ được. Nay nghe nói ở đằng kia có thầy tu hay lắm, biết quá khứ vị lai gì đó, liền xách gói tới đảnh lễ cầu thầy dạy. Rồi mai mốt nghe trên núi có ông thầy tu hay lắm có hào quang, cũng xách gói chạy... Cứ chạy theo cái bên ngoài mà không biết trở lại chính mình. Có ai làm cho mình thành Phật được không? Chính cái tu của mình, làm chủ của mình mới là giác ngộ, mới giải thoát. Vì thế nói tổ Bồ-đề Đạt-ma từ Ấn sang tìm người không bị gạt. Người đó là tổ Huệ Khả.
Nhị Tổ một câu nói liền liễu ngộ, mới biết từ trước uổng dụng công phu. Nhị Tổ nghe tổ Đạt-ma nói một câu liền liễu ngộ, chừng đó mới thấy tất cả công phu từ trước đều luống uổng.
Tăng hỏi:
- Thế nào là đệ nhất cú?
Sư đáp:
- Tam yếu ấn khai điểm son hẹp
Chưa cho nghĩ nghị chủ khách phân.
(Tam yếu ấn khai chu điểm trách
Vị dung nghĩ nghị chủ tân phân.)
- Thế nào là đệ nhị cú?
- Diệu giải đâu cho Vô Trước hỏi
Bọt tan nào dễ chặn dòng sông.
(Diệu giải khởi dung Vô Trước vấn
Âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ.)
- Thế nào là đệ tam cú?
- Chỉ xem tượng gỗ diễn tuồng hát
Lôi kéo toàn nhờ người ẩn trong.
(Khán thủ bằng đầu lộng khôi lỗi
Trừu khiên toàn tạ lý đầu nhân.)
Sư lại bảo:
- Phàm người diễn xướng tông thừa trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ tam yếu. Có quyền có thật, có chiếu có dụng. Các ông làm sao được hội?
Câu sau làm rõ nghĩa của ý trước, chưa cho nghĩ nghị chủ khách phân. Nếu có chủ có khách thì còn đối đãi, nằm trong nghĩ suy. Đệ nhất cú là câu chưa thể nghĩ, chưa phân chủ khách đối đãi.
Tăng hỏi: Thế nào là đệ nhị cú? Ngài đáp:
Diệu Giải đâu cho Vô Trước hỏi
Bọt tan nào dễ chặn dòng sông.
Chữ Vô Trước có hai nghĩa mà tôi còn đang phân vân. Chữ Diệu Giải theo nghĩa thường là cái hiểu nhiệm mầu, hiểu thấu đáo, nhưng cũng nghi là tên của ngài Văn-thù. Ngài Văn-thù, Trung Hoa dịch nghĩa là Diệu Đức, nên cũng có thể nghĩ Diệu Đức thành Diệu Giải. Còn chữ Vô Trước là tên người mà tôi đang phân vân. Nếu chữ Diệu Giải là ngài Văn-thù thì chữ Vô Trước phải là ngài Văn Hỷ.
Trong nhà thiền có ghi chuyện ngài Vô Trước gặp Bồ-tát Văn-thù. Nếu chữ diệu giải là nghĩa diệu giải thì chữ Vô Trước này có thể là tên ngài Vô Trước, anh của ngài Thế Thân. Sở dĩ tôi nghi chữ Vô Trước không phải là ngài Văn Hỷ vì ngài Văn Hỷ sau này ngộ đạo ở hội ngài Ngưỡng Sơn. Tổ Lâm Tế ngang với Ngưỡng Sơn, nếu câu này nói chuyện của đệ tử ngài Ngưỡng Sơn thì đứng về thời gian không hợp. Còn nếu là ngài Vô Trước ở Ấn Độ thì câu chuyện đó mình chưa thấu rõ.
Câu sau thì rõ được ý, bọt nước nào dễ chặn dòng sông. Dòng sông chảy mà trên mặt nước có những lượn sóng bủa nổi bọt, bọt gặp gió thổi tan ra, bọt tan đó có chặn được dòng sông chảy không? Như vậy để thấy đệ nhất cú là nói về thể, đệ nhị cú là nói về dụng. Thể đó không phân chủ khách, không cho nghĩ nghị, nhưng nếu người đạt đến chỗ siêu xuất rồi thì có diệu dụng như dòng sông chảy, bao nhiêu trở ngại giả dối không ngăn chặn được, cũng như bọt nước không chặn dòng sông. Người được thể rồi thì diệu dụng của họ không gì ngăn trở.
Tăng hỏi: Thế nào là đệ tam cú? Ngài đáp:
Chỉ xem người gỗ diễn tuồng hát
Lôi kéo toàn nhờ người ẩn trong.
Tại sao nói đệ tam cú tiến được, tự cứu chẳng xong? Như có những hình nhân bằng gỗ bên trong có ống tre luồn sẵn sợi dây, muốn cho người gỗ đó múa may diễn trò thì phía sau có người giật dây. Tự người gỗ không diễn trò được phải nhờ người điều khiển, như hiện nay có tuồng múa rối. Cũng vậy nếu người tu không tự nhận, không tự ứng dụng được chỗ chân thật của mình mà phải cậy nhờ vào người này người kia thì tự cứu được mình không? Nên nói tự cứu chẳng xong là vậy.
Ngài lại bảo: Phàm người diễn xướng tông thừa trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ tam yếu. Có quyền có thật, có chiếu có dụng. Các ông làm sao được hội? Những danh từ riêng của tông Lâm Tế như: ba huyền môn, tam yếu, quyền thật, chiếu dụng... Tuy đặt ra nhiều tên, trên thật thể thì không chia riêng. Chủ yếu ngay đó liền nhận liền ngộ chứ không có những tướng mạo. Nếu còn thấy tướng mạo thì chưa thấy được tột. Sau này các ngài không phân biệt chia chẻ, do đó chúng ta không cần phải giải thích.
Sư dạy chúng:
- Đạo lưu! Cốt tìm lấy kiến giải chân chánh, dọc ngang trong thiên hạ, khỏi bị bọn yêu tinh hoặc loạn. Vô sự là người quý, chớ tạo tác, chỉ là bình thường. Các ông nghĩ hướng nhà bên cầu vượt qua, tìm ngón tay gót chân. Lầm rồi! Chỉ nghĩ cầu Phật, Phật là danh cú. Các ông lại biết chạy tìm chăng? Ba đời mười phương Phật tổ ra đời cũng chỉ vì cầu pháp. Như Đạo lưu hiện nay tham học cũng chỉ vì cầu pháp, được pháp mới xong, chưa được vẫn như trước luân hồi trong năm đường.
Thế nào là pháp? Pháp là tâm pháp, tâm pháp không hình thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Người tin không đến, bèn nhận danh nhận cú, hướng trong văn tự cầu, ý suy xét Phật pháp, cách xa trời đất.
Ngài bảo chúng ta cần có kiến giải chân chánh. Lúc đó dọc ngang trong thiên hạ, tức là thong dong tự tại. Không bị yêu tinh làm hoặc loạn, là không bị những trò huyễn lừa gạt. Mình là người vô sự, không làm những việc gì lạ, chỉ sống bình thường.
Tôi sợ chúng ta lầm chữ vô sự này nên nói rõ. Tổ dạy mình vô sự mà Thầy bắt mình đi cuốc đất trồng khoai cấy lúa... làm đủ thứ việc hết, làm cả ngày làm sao vô sự? Ngồi chơi thảnh thơi là vô sự phải không? Vô sự nghĩa là tâm không có vấn đề vướng bận. Dù cuốc đất cả ngày mà không có vấn đề vướng bận trong tâm cũng là vô sự. Còn ngồi không chơi mà nghĩ đủ thứ chuyện thì đó là đa sự chứ không phải vô sự. Không nên hiểu lầm vô sự kiểu làm biếng vô tích sự. Vô sự đây là tâm không việc chứ không phải là thân không làm.
Chúng ta không cần tìm kiếm gì khác hơn là cầu pháp. Pháp tức là pháp bản pháp vô pháp, là pháp gốc, nó là pháp mà không phải pháp. Pháp đó chỉ cho thể chân thật của mình, dưới đây ngài sẽ nói tới. Người học đạo cốt đạt được pháp đó, nó là chủ của tất cả. Nếu đạt được thì thấy được ông chủ của mình.
Thế nào là pháp? Pháp là tâm pháp, tâm pháp không hình thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Người tin không đến, bèn nhận danh nhận cú, hướng trong văn tự cầu, ý suy xét Phật pháp, cách xa trời đất. Tâm pháp không hình thông suốt mười phương mà hiện dụng trước mắt. Nếu đem tâm tìm kiếm qua văn tự, so lường suy xét thì rất cách xa.
Đạo lưu! Sơn tăng nói pháp là nói pháp gì? Nói pháp tâm địa hay vào phàm vào thánh, vào tịnh vào uế, vào chân vào tục. Hẳn chẳng phải là chân tục phàm thánh của ông, mà hay cùng chân tục phàm thánh an bài danh tự. Chân tục phàm thánh cùng người này an bài danh tự chẳng được.
Đạo lưu! Nắm được liền dùng chẳng mắc danh tự, gọi đó là huyền chỉ. Sơn tăng nói pháp cùng mọi người khác. Như có Văn-thù, Phổ Hiền xuất hiện trước mắt, mỗi vị hiện một thân hỏi pháp, vừa nói “Thưa Hòa thượng”, ta đã biết rõ. Lão tăng ngồi yên, lại có đạo lưu đến gặp, ta trọn hiểu rành. Tại sao như thế? Chỉ vì chỗ thấy của ta khác, ngoài chẳng nhận phàm thánh, trong chẳng trụ căn bản, thấy suốt chẳng còn nghi lầm.
Pháp của ngài nói là tâm địa pháp môn hay là tâm pháp. Tâm pháp này vào phàm thánh tịnh uế đều được. Nó đặt tên phàm thánh tịnh uế mà phàm thánh tịnh uế đặt tên nó không được. Pháp này là chủ, nên vào tất cả, đặt ra tên tất cả mà tất cả không đặt tên được nó.
Ngài nói thánh đến thì ngài hiểu thánh, phàm đến thì ngài rõ phàm, phàm thánh đến ngài đều phân biệt rành rẽ. Tại sao? Vì nơi tâm của ngài, ngoài không mắc kẹt phàm thánh tức không mắc kẹt đối đãi, trong không trụ căn bản, tức là không kìm giữ bên trong. Bệnh của chúng ta hoặc phóng ra ngoài chạy tìm những điều lạ, hoặc kìm trong ngực trong tim. Kìm cho tim nhảy thịch thịch đau tức ngực rồi rên rỉ nói tim tôi bệnh. Hoặc phóng ra ngoài hoặc kìm ở trong đều không thấy được đạo lý chân thật. Đạo lý chân thật là không kẹt ở hai bên, không kìm giữ ở trong hay ở ngoài. Nhận được như vậy sống được như vậy thì phàm thánh không lầm.
Sư dạy chúng:
- Đạo lưu! Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ bình thường vô sự. Đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm, nhọc đến thì nằm, người ngu cười ta, kẻ trí biết ta. Người xưa nói: “Làm công phu bên ngoài, thảy là kẻ ngu si.” Các ngươi phải tùy thời làm chủ, ngay đó đều chân, cảnh đến lôi kéo chẳng được, dù có tập khí nghiệp địa ngục vô gián, tự chuyển thành biển lớn giải thoát.
Người học thời nay hoàn toàn không biết pháp, ví như con dê có vật chạm mũi liền đớp vào miệng, không biện kẻ tớ người sang, chẳng rành chủ khách. Bọn như thế tâm tà vào đạo, gặp chỗ ồn liền vào, chẳng được gọi là người chân xuất gia, chính là người chân tục gia.
Người xuất gia phải biện được kiến giải chân chánh bình thường, biết Phật biết ma, rành chân rành ngụy, rõ phàm rõ thánh. Nếu biện được như thế, gọi là chân xuất gia. Nếu ma Phật không biết, chính là xuất gia này vào gia kia, gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là người chân xuất gia.
Hiện nay có một cái ma Phật đồng thể chẳng phân, như nước với sữa hợp. Chỉ có con ngỗng chúa mới biết uống sữa chừa nước. Hàng đạo lưu mắt sáng ma Phật đều đánh. Các người nếu mến thánh ghét phàm, thì phải trôi nổi trong biển sanh tử.
Những lời này dễ bị hiểu lầm. Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ cần vô sự trong những việc bình thường như đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm... nghe thì rất dễ. Chỗ bình thường đó lại không bình thường, vì tâm chúng ta cứ nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia. Khi thì nghĩ chuyện phàm phu, khi thì nghĩ chuyện thân nhân, chuyện trâu bò heo dê... chuyện đâu đâu xa lơ xa lắc không dính gì đến mình, có nhiều cái vô cớ tầm phào cũng nghĩ. Đó là không bình thường. Bình thường là lặng thì cứ lặng, yên thì cứ yên. Tâm không nghĩ một việc thì có gì bất thường? Như mặt nước bình thường tức là không dậy sóng, nổi sóng tức là mất thăng bằng mất bình thường.
Nhưng nếu có ai nói chúng ta bất thường thì mình không chịu, vì cho là họ nói mình “điên”. Chúng ta có điên không? Điên là thấy ngược ngạo, lộn xộn. Như có người đưa tấm giấy trắng hỏi trắng hay đen, mình nói đen thì người ta nói “điên, thấy bậy” nhưng khi hỏi chúng ta thân này thật hay giả? Mình nói thật, có điên không. Thân giả mà nói thật. Cái điên của mình là cái điên tập thể nên không thấy điên. Chúng ta sống điên đảo không thấy lẽ thật. Vì vậy lẽ ra cái gì cần nghĩ thì cho nó nghĩ, không cần thì phải cho nó lặng. Như đang đi đại đi tiểu, thì cứ làm một việc, nghĩ lan man chuyện khác làm chi. Khi ăn cơm thì cứ biết ăn cơm, nhai kỹ nuốt chậm rãi để ăn cho xong. Có mấy ai được như vậy? Ăn cơm thì cứ nghĩ chuyện này chuyện kia. Bình thường là làm việc nào ra việc nấy, còn làm việc này lại xáo trộn việc kia thì có bình thường được đâu. Vậy mà ai nói mình điên là giận lắm.
Người xưa nói Người ngu cười ta, kẻ trí biết ta. Câu này rất thâm thúy. Như trong đại chúng có một người sống bình thường, không gắng gổ ngồi thiền nhiều, cũng không gắng gổ tụng kinh nhiều. Nhưng nếu huynh đệ chọc họ cũng không giận, mắng họ cũng không buồn. Đến bữa ăn ngon cũng không khen, dở cũng không chê. Lại có một người khác ngồi thiền nhiều, tụng kinh nhiều, có hình thức dễ thấy, người ta khen. Nhưng người này tâm tánh dễ nổi bực. Người kia thì thường thường vậy thôi, có mắng họ cũng cười, gặp cảnh duyên không nổi sân, không bực bội, không có những cái hơn thua. Như vậy tuy thấy như họ tu ít mà tâm đã thuần, còn người thấy như tu nhiều mà tâm chưa thuần. Người ngu chỉ thấy trên hình thức tụng kinh ngồi thiền nhiều nên khen. Người trí thì đánh giá trên tâm niệm tu hành chứ không đánh giá hình thức.
Các ngươi phải tùy thời làm chủ, ngay đó đều chân, cảnh đến lôi kéo chẳng được, dù có tập khí nghiệp địa ngục vô gián, tự chuyển thành biển lớn giải thoát. Đây là điều chúng ta phải cố gắng ứng dụng cho được. Phải tùy thời làm chủ, những lúc đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm... đều làm chủ, không cho niệm khác chen vô. Chúng ta vẫn sống bình thường, tâm không bị cái khác làm động đó là làm chủ. Nếu không bị các cảnh khác lôi kéo thì dù có tập khí địa ngục vô gián cũng tự chuyển thành biển lớn giải thoát. Vì sao dễ quá vậy?
Như có người ghiền rượu rất nặng, tập khí khó bỏ. Nhưng gặp thầy thuốc giải thích tai hại của rượu làm cho bị trăm thứ bệnh tật, làm cho say sưa điên cuồng mất trí tuệ... Người đó nghe giải thích kỹ rồi nhận định hiểu rõ, cương quyết bỏ rượu. Ngày nay cương quyết bỏ rượu thì ngày mai có bạn bè rủ đi nhậu, dù tập khí nghiện rượu chưa hết, nhưng tâm bỏ rượu vững mạnh, nghe lời mời rủ vẫn cương quyết thắng. Như vậy ngang đây nghiệp rượu chuyển được không? Rõ ràng còn tập khí mà chuyển được. Cũng vậy, nếu chúng ta trước kia phạm tội có thể đọa địa ngục nhưng ngay đây cương quyết làm chủ thì nghiệp địa ngục cũng chuyển được như thường.
Trong kinh nói, người sắp chết thì nghiệp ác nghiệp thiện đến bức bách. Nghiệp thiện thì mời rủ đi vào những chỗ tốt. Nghiệp ác thì thấy cảnh ác. Như giết hại ai thì thấy người đó tới đòi mạng, làm ác với các loài vật thì thấy trâu bò heo chó rượt đuổi. Lúc đó hoảng sợ chạy tìm chỗ trốn, hoặc lủi vô lùm bụi hoặc ẩn vô bóng tối. Cái chạy trốn là cái đọa của mình.
Khi ngộ đạo, thấy biết thân này không thật, tất cả cảnh không thật, thấy rõ như vậy thì khi đó những gì hiện tới đều thấy không thật. Mình làm chủ không sợ, thân không sợ chết, dù thấy rượt đuổi cũng không thật, không chạy trốn thì không xuống địa ngục. Làm chủ được như vậy thì ngang đó tất cả nghiệp liền chuyển. Vì thế nói, địa ngục vô gián tự chuyển thành biển lớn giải thoát.
Đó là sự gan dạ làm chủ chuyển được nghiệp. Nếu không gan dạ thì hôm nay bỏ rượu ngày mai uống lại, tật ghiền không hết bị rượu lôi.
Hỏi:
- Thế nào là Phật là ma?
Sư đáp:
- Ngươi vừa khởi một niệm tâm nghi ấy là ma. Nếu ngươi đạt được muôn pháp không sanh, tâm như huyễn hóa, không có một hạt bụi, một pháp, ngay đó liền thanh tịnh là Phật. Song Phật cùng ma là hai cảnh nhiễm tịnh. Nếu chỗ thấy của sơn tăng, không Phật không chúng sanh, không xưa không nay, được liền đó được, chẳng trải qua thời tiết, không tu không chứng, không được không mất, trong tất cả thời lại không có một pháp riêng. Dù là một pháp vượt hơn cái này, ta nói như mộng như hóa.
Ngài giảng quá rõ. Vừa dấy một niệm nghi hay là khởi một niệm đó là ma. Thấy muôn pháp mà biết không thật, không sanh, như huyễn như hóa, một pháp dù nhỏ bằng hạt bụi cũng không thật. Thấy không có một pháp thật thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh đó là Phật. Nếu chúng ta không chạy theo ma tức là chúng ta sống với Phật. Đừng cầu Phật mà đừng chạy theo ma, chúng ta mơ ước thấy Phật mà cứ chạy theo ma thì làm sao thấy Phật được? Nếu có thấy Phật thì đó là Phật của ma hiện, không phải Phật thật. Phải biết rõ ngay nơi chính mình, không có một niệm chạy theo cảnh đó là Phật hiện tiền. Nếu dấy niệm chạy theo cảnh phân biệt khen chê đẹp xấu thì Phật mất. Nghe cứ nghe thấy cứ thấy không thêm niệm, sống được như vậy người ta chê mình cũng cười, khen mình cũng bình thản, Phật ở ngay trước mắt.
Cách sống của tổ Lâm Tế, không còn thấy có ma có Phật, không còn thấy có tu có chứng. Trong tất cả thời thấy không có một pháp nào riêng mà chỉ hiện tại, hiện tiền, không phân biệt Phật ma, không nghĩ tu chứng. Ngài dẫn câu: Dù là một pháp vượt hơn cái này, cái này là cái hiện tiền, ta nói như mộng như hóa. Trong kinh Đại Bát-nhã có câu Phật dạy rằng: “Dù có một pháp vượt hơn Niết-bàn, ta vẫn nói như mộng như huyễn.” Đây thay vì nói Niết-bàn, ngài nói có cái này, là cái hiện hữu, nói vậy để không mắc kẹt trong danh tự.
Sơn tăng nói ra, đều là hiện nay trước mắt đạo lưu riêng sáng rỡ lắng nghe. Người này nơi nơi chẳng kẹt, thấu suốt mười phương, tự tại trong tam giới, vào tất cả cảnh sai biệt không thể lôi kéo, trong khoảng sát-na vào tột pháp giới, gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La-hán nói La-hán, gặp ngạ quỷ nói ngạ quỷ, đi tất cả chỗ dạo các cõi nước giáo hóa chúng sanh mà chưa từng lìa một niệm, tùy chỗ thanh tịnh, ánh sáng thấu mười phương, muôn pháp nhất như.
Người nào mà vào được tất cả chỗ như vậy? Người hiện nay trước mắt đạo lưu riêng sáng rỡ lắng nghe. Chúng ta ai cũng có người đó. Người đó không kẹt chỗ nơi, thông suốt mười phương, tự tại trong tam giới, không có gì lôi kéo người đó được. Cái nghe cái thấy của chúng ta không ai lôi kéo được. Niệm khởi sau là cái bị lôi, còn người đó không bị lôi. Nghe thì cứ nghe, nếu lôi được tại sao tiếng này tiếng khác tới đều nghe. Như đồng thời bên đây đánh trống bên kia gióng chuông, đằng nọ tụng kinh đánh khánh, chúng ta nghe hết tất cả tiếng. Nếu lôi được thì cái nghe chạy theo trống theo chuông rồi. Nhưng nó không chạy đâu hết, rõ ràng mà nghe tất cả. Chỉ có niệm duyên tiếng gì nhiều thì tiếng đó có phần ưu. Tánh nghe bình đẳng không kẹt ở chỗ nào.
Cái đó gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La-hán nói La-hán, gặp quỷ nói quỷ, đi tất cả chỗ nói tự do, sáng khắp mười phương, muôn pháp nhất như, sống được với cái đó là như vậy. Có ai tủi thân rằng mình tu không được không? Người nào mà không nghe, ngay cả người điếc cũng nghe ù ù trong lỗ tai. Mỗi nơi chúng ta đều có cái sáng rỡ đó mà không nhớ không nhận, cứ sống với cái lăng xăng ở trong đầu. Cái lăng xăng đó chợt có chợt không, giống hệt như hai sợi dây điện chạm nhau thì xẹt chút lửa, gỡ dây ra thì hết. Khi chúng ta chú ý suy nghĩ thì trong đầu xẹt nháng một vòng, gỡ ra thì hết. Nó không thật, chúng ta lại cho cái xẹt nháng chút xíu là mình, còn cái hiện hữu tràn đầy thì không nhận.
Kinh Lăng-nghiêm Phật nói chúng sanh cứ nhận một hòn bọt trên mặt biển cho đó là toàn thể mặt biển, không bao giờ thấy mặt biển. Chúng ta nhận hòn bọt lăn tăn trong đầu mình, cho đó là mình thì tất cả toàn thể mình không biết. Cái lăn tăn vụn vặt khi có khi không, nhận lầm nó mà quên toàn thể lúc nào cũng hiện tiền thì thật là khờ dại.
Đạo lưu! Kẻ đại trượng phu hiện đây mới biết xưa nay vô sự. Chỉ vì các ngươi chẳng tin đến, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu, tự không thể thôi. Như hàng Bồ-tát viên đốn vào trong pháp giới hiện thân, nhằm trong tịnh độ mà chán phàm mến thánh. Bọn người như thế chưa quên bỏ lấy, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải Thiền tông chẳng phải như vậy, thẳng trong hiện tại lại không thời tiết.
Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuất gia, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng ròng cũng được.
Nếu biết thì ngay nơi đây là người vô sự, chỉ vì mình tin không đến. Phải tin chắc chắn không nghi ngờ. Nếu tin hơi yếu còn nghe nhắc còn tin, ra ngoài hết tin, lo chạy theo mấy chú ma mà quên mất ông Phật. Bởi tin chưa đến nên niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu đi tìm đầu, cái thật ngay đó không chịu nhận cứ đi tìm thứ khác. Vì vậy không có lúc thôi dứt.
Như hàng Bồ-tát viên đốn vào trong pháp giới hiện thân, nhằm trong tịnh độ mà chán phàm mến thánh. Bọn người như thế chưa quên bỏ lấy, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải Thiền tông chẳng phải như vậy, thẳng trong hiện tại lại không thời tiết. Theo thường tình thì nói phàm là nhiễm, thánh là tịnh, nên bỏ nhiễm cầu tịnh. Kiến giải thiền tông thì ngay nơi đây đã có tịnh sẵn, chỉ không theo nhiễm đó là sống với tịnh. Không cần chờ chết đây sanh về cõi tịnh.
Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuất gia, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng ròng cũng được. Lời ngài nói đều là thuốc bệnh trị nhau. Nghĩa là vì có bệnh nên mới có thuốc, nếu bệnh hết thì thuốc cũng không dùng. Thuốc trị bệnh chỉ là tạm thời. Pháp đối trị phiền não cũng là pháp tạm thời không thật. Nếu người thấy tất cả đều không có một pháp thật, gọi là người chân xuất gia. Người như vậy một ngày tiêu muôn lượng vàng cũng được.
Như chúng ta xài ngày một lượng vàng có tội. Tại sao? Vì thấy cái gì cũng thật, từ người cho đến đồ vật, y phục... cả cảnh giới cũng thật. Vì thật nên tiêu xài theo lòng tham, tham đắm cất giữ thì không tội lỗi là gì? Nếu thấy không có một pháp thật, thì còn xài muôn cây vàng để làm chi? Nói xài muôn lượng vàng chứ sự thật tới đó không còn tham, không thấy cần tiêu xài.
Đạo lưu! Chớ chấp lấy, sẽ bị các bậc Lão sư đập bể cửa mặt. Nói rằng ta hiểu thiền hiểu đạo, biện luận thao thao như nước chảy, đều là người tạo nghiệp địa ngục. Nếu là người chân chánh học đạo, chẳng tìm lỗi của thế gian, cấp bách cầu kiến giải chân chánh. Nếu được chân tâm ngộ tánh tròn sáng mới xong xuôi.
Nếu chấp mình là người hiểu thiền hiểu đạo, biện luận giỏi... đó là người tạo nghiệp địa ngục, người chấp như vậy là bị Tổ sư đập bể cửa mặt, do cái mê muội cố chấp của mình mà ra.
Người chân chánh học đạo chẳng tìm lỗi của thế gian, lỗi của thế gian không tìm, huống nữa là lỗi của huynh đệ. Người sống chân thật thì ít thấy lỗi người, người sống với vọng tưởng điên đảo thì thấy người chung quanh rất nhiều lỗi. Thấy rồi sanh phiền não, chẳng ích gì. Cấp bách cầu kiến giải chân chánh, có được kiến giải chân chánh rồi, tu hành đắc lực được chân tâm ngộ tánh tròn sáng, lúc đó mới xong xuôi.
Hỏi:
- Thế nào là kiến giải chân chánh?
Sư đáp:
- Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, vào cõi nước chư Phật, vào lầu các đức Di-lặc, vào pháp giới Tỳ-lô-giá-na, chỗ chỗ đều hiện, cõi nước thành trụ hoại không. Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết-bàn, chẳng thấy có tướng mạo đi lại, tìm cái sanh tử của ngài trọn không thể được. Liền vào pháp giới vô sanh, nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới Hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không có pháp thật, chỉ có đạo nhân Vô y (không chỗ nương) nghe pháp. Đó là mẹ chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ Vô y sanh. Nếu ngộ Vô y, Phật cũng không thể được. Nếu người thấy được như thế là kiến giải chân chánh.
Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại, do đó chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giáo nói ra đều cốt biểu hiển lẽ này, học giả không hội, bèn nhằm trên danh cú biểu hiển sanh hiểu, đều là nương tựa rơi tại nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong tam giới.
Các ngươi nếu muốn trong sanh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp này. Y không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở, mà rất linh hoạt, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi đó, càng tìm càng xa, càng cầu càng trái, gọi đó là bí mật.
Đạo lưu! Các ngươi chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Các ngươi đến trong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bữa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tầm tri thức. Chớ theo đuổi thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, nếu thô thì bị bốn thứ đất nước lửa gió ép ngặt, tế thì bị sanh trụ dị diệt bức bách.
Đạo lưu! Thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh kéo lôi.
Kiến giải chân chánh là thấy tất cả phàm thánh, nhiễm tịnh, Phật Di-lặc, Tỳ-lô-giá-na tức là pháp thân, cõi nước thành trụ hoại không, Phật ra đời chuyển pháp luân... tất cả đều không thật. Thấy được như vậy thì ngay đó liền được pháp giới vô sanh. Quan trọng nhất chỉ có Đạo nhân vô y là người đang nghe pháp. Vô y là không chỗ nương. Người nghe pháp là đạo nhân vô y, thấy người đó chưa? Ngay đó sao không thấy, không thấy sao nghe pháp được?
Trong nhà thiền có câu chuyện lý thú là chỗ Văn Hỷ đến Ngũ Đài Sơn gặp Bồ-tát Văn-thù mà không biết. Được mời vô trong động uống nước, ngài Văn-thù đưa cái tách lên hỏi phương Nam có cái này không? Văn Hỷ nói không có. Không có cái này lấy gì uống nước? Câu chuyện rất bình dị mà rất thấm. Nếu không có đạo nhân vô y thì làm gì biết nghe, phải không? Không có cái này thì làm sao mà uống? Vậy mà không dám nhận.
Đạo nhân đó ở đâu? Nếu nói ở đây thì bên kia không có, nói ở đâu cũng không được, vì đạo nhân đó không chỗ nơi. Nhiều người không hiểu, dùng phương pháp phản quan tự tánh, nghe lại cái nghe trong lỗ tai thành ra bệnh. Đã không có chỗ nơi mà nghe trong lỗ tai là có chỗ cố định. Như vậy nên nói rằng cái đó là đầy khắp.
Chỉ có đạo nhân Vô y nghe pháp. Đó là mẹ chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ Vô y sanh. Nếu ngộ Vô y, Phật cũng không thể được. Nếu người thấy được như thế là kiến giải chân chánh. Tại sao đó là mẹ chư Phật? Có ông Phật nào không nhân cái đó mà được thành Phật đâu, không phải mẹ chư Phật là gì? Như thế đã có mẹ chư Phật, chính cái đó sanh ra Phật, không cần tìm kiếm Phật ở đâu. Ngay nơi mình có sẵn, chỉ cần nhận ra là xong. Vô y đây là chỉ cho không có chỗ tựa nương mà trùm khắp, không có nơi chốn.
Tóm lại, kiến giải chân chánh là thấy tất cả pháp không thật, chỉ có một đạo nhân vô y đang nghe pháp. Nếu thấy tất cả pháp thật là quên đạo nhân vô y. Tổ Lâm Tế nói rất rõ, lặp lại không biết bao nhiêu lần đạo nhân vô y đang nghe pháp, để cho chúng ta nhận ra, vì chúng ta có bệnh chạy theo danh tướng, quên người đang nghe pháp đây mà thấy tất cả pháp đều thật.
Chúng ta mê lầm những tạm bợ của cuộc đời, còn cái chân thật nghe được muôn pháp thì không nhận ra. Cái nghe đó hồi bé cũng nghe, về già cũng nghe, không lúc nào không nghe mà không nhớ không biết. Chỉ biết những thức ăn ngon chút xíu ở chót lưỡi, những thanh sắc tạm bợ thoáng qua. Cả đời sống với cái tạm bợ giả trá, mê theo nó rồi quên hết cái chân thật hiện hữu của mình. Vì vậy Phật tổ nhắc tới nhắc lui để chúng ta phải nhớ lại cái đó.
Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại, do đó chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giáo nói ra đều cốt biểu hiển lẽ này, học giả không hội, bèn nhằm trên danh cú biểu hiển sanh hiểu, đều là nương tựa rơi tại nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong tam giới.
Bao nhiêu chữ nghĩa danh cú trong kinh là cốt chỉ thẳng cái đó. Như trong kinh Pháp Hoa nói, chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tức là vạch bày chỉ cho chúng sanh nhận thấy, vào được tri kiến Phật của mình. Tri kiến là cái thấy biết của mỗi người. Nhận được cái đó là mục đích ra đời của chư Phật.
Người thông suốt chữ nghĩa thì giải nghĩa khai là thế nào? Ngộ là thế nào? Nhập là thế nào?... Phân tích dài dòng quên ngay chỗ Phật muốn chỉ, rốt cuộc chỉ biết trên danh tự, quên ông Phật thật của mình. Đó là bệnh của học giả. Vì thế càng học càng đi xa lẽ thật, chỉ nhớ danh cú. Học biết Niết-bàn là chữ Phạn, chữ Phạn viết làm sao? Niết-ba-na là gì?... Học rồi không biết Niết-bàn, chỉ nói giỏi mà thôi. Nếu biết rõ Niết-bàn là chỗ chân thật không sanh diệt, cái đó hiện thời nghe pháp đây. Sống với cái đó thì không sanh diệt, vô sanh là Niết-bàn, đâu cần mất thời giờ giải nghĩa. Đơn giản vậy. Cho nên thiền là chỉ thẳng không quanh co, không kẹt trong ngôn cú.
Các ngươi nếu muốn trong sanh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp này. Ý này lặp lại bao nhiêu lần? Nếu muốn tới lui tự tại, sanh tử tự do, thì phải biết người hiện nghe pháp này. Người đó ra sao? Nếu khéo nhìn khéo thấy, rõ ràng sáng rỡ thanh tịnh đầy đủ ở mình không có chỗ tựa. Sống với cái đó thì thảnh thơi biết bao nhiêu, tự do trong sanh tử, tự tại tới lui không có gì chướng ngại.
Y không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở, mà rất linh hoạt, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi đó, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi đó là bí mật. Phật ở hiện đây mà không chịu nhận, còn đi tìm Phật, càng tìm thì càng xa. Phật có ở núi Cấm không? Chạy lên núi tìm thì gần Phật hay xa Phật? Có sẵn đó mà không chịu nhận, cầu tìm thì trái với Phật chính mình, đó là chỗ bí mật. Với cái rất thật, rất gần gũi mà chúng ta tưởng như là huyền ảo, những cái huyền ảo lại tưởng là thật. Nghe nói ở đâu có Phật phóng quang, Phật ngồi tòa sen... lại tưởng thật, chạy lăng xăng tìm cầu, còn ông Phật hiện nghe pháp của mình, tưởng như huyền ảo xa vời. Thật trái ngược, cái thật của mình thì không nhận, cái bên ngoài mình lại ham.
Đạo lưu! Các ngươi chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Câu này nghe rất đau. Chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, ai là kẻ bạn mộng huyễn? Tưởng là cái này, cái nọ, cái kia... mà không ngờ tứ đại là chú bạn mộng huyễn. Bởi vậy tôi tâm đắc nhất câu Gá thân mộng. Thân là cái mộng huyễn, không phải thật mình, thấy nó thật mình nên những nhu cầu của nó đều thỏa mãn. Giả sử tất cả đòi hỏi của thân đều tìm được đầy đủ, nhưng cuối cùng có giữ được nó không?
Rõ ràng thân này là tạm bợ mà mình tưởng là thật, đó là cái si mê đáo để. Tìm cầu để thỏa mãn những đòi hỏi của nó, phải chịu khổ sở, sân hận, phiền não... Tưởng rằng thỏa mãn rồi nó còn hoài, không ngờ càng thỏa mãn nhiều chừng nào càng chết sớm, càng mộng huyễn hơn. Như vậy thỏa mãn để nuôi dưỡng nó sống, hay là làm cho nó tiêu diệt? Một ví dụ nhỏ, chúng ta thường ăn rau đơn sơ, hôm nào có món chiên xào thì thấy vui thích thỏa dạ. Chiên xào thì dầu mỡ nhiều, ăn nhiều sanh bệnh, biết vậy nhưng cái lưỡi đòi hỏi nên phải chiều theo. Nếu cứ bình thường làm sao dồn đầy bao tử cho khỏi đói, nó đòi mặc nó, không quan trọng, đơn giản vô cùng. Nhưng người ta quan trọng cái lưỡi, con mắt, lỗ tai, lỗ mũi... Quan trọng cái thân, xúc chạm thân, thích tìm cho thỏa mãn các căn, càng tìm càng khổ sở.
Tất cả phiền não khổ đau trong cuộc sống này, gốc từ sự đòi hỏi của các cơ quan của thân. Nếu thỏa mãn được mà nó bền lâu thì cũng cho là phải, không ngờ thỏa mãn quá lại chết sớm, như vậy theo nó làm chi? Phải thấy thật đứa bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều trở về vô thường, đừng có tin cậy, trông chờ vào nó quá. Có một cái thật không ai làm hoại được mà không chịu sống với nó. Trên thế gian này năm sáu tỷ dân, hỏi có mấy người biết được lẽ này? Lời kệ nói Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, chúng ta được tao ngộ, thọ trì rồi mà không cố gắng thì thật đáng tiếc.
Kinh điển Phật dạy rõ ràng, lời Tổ nói cũng đầy đủ mà ít có người biết, cứ sống chạy theo dục lạc thế gian. Dục lạc thì thỏa mãn để nuôi thân, thân lại là cái vô thường bại hoại. Lo cho cái bại hoại, quên ngay nơi đó có cái không bại hoại, Phật tổ thương chúng sanh là thương chỗ đó, không phải đợi nghèo mới thương, giàu không thương. Kể cả giàu nghèo cũng là mê muội, cho nên đều đáng thương.
Các ngươi đến trong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bữa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tầm tri thức. Chớ theo đuổi thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, nếu thô thì bị bốn thứ đất nước lửa gió ép ngặt, tế thì bị sanh trụ dị diệt bức bách. Chúng ta hiện tại cốt làm sao được giải thoát. Ăn cơm hẩm mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt tìm thiện tri thức để được nghe hiểu đạo lý, chớ đuổi theo thú vui. Nếu sống theo thú vui tầm thường, ngày giờ đáng tiếc qua rồi, tìm lại không được. Mỗi niệm mỗi niệm vô thường, vô thường thô là đất nước gió lửa ép ngặt, vô thường tế là sanh trụ dị diệt bức bách.
Đất nước gió lửa ép ngặt là sao? Thân này là tứ đại đất nước gió lửa, chúng ta sống đây là điều hòa bốn chú này. Nghe hơi nóng tức là lửa nhiều thì kiếm đồ mát uống cho nước tăng lên quân bình với lửa. Nếu gió mạnh thổi đất rung rinh, cả người uể oải nhức nhối thì kêu là đánh gió, cạo cho gió ra bớt. Có khi đất ép gió, như cổ mình đang thở, có một cái gì nổi lên làm cho nghẹt thở, phải tìm cách cho tiêu nó đi... Sống là điều hòa bốn thứ này. Kinh Niết-bàn Phật dụ có bốn con rắn độc để chung trong cái hộp, chúng thù địch nhau. Người chủ nuôi nó, cả ngày cứ kìm giữ không cho chúng cắn nhau. Bốn con rắn sống chung mà phải sống đủ bốn con, không cho con nào chết. Người chủ nhà sống có lý thú gì không? Sống với bốn con rắn này cực quá phải không? Giá trị của cuộc sống là gì? Có điều hòa bốn con rắn được không? Cuối cùng rồi cũng đành thua, mỗi con đi mỗi nơi, không có giá trị gì hết, nếu cứ làm hoài như vậy thì thật là vô vị.
Đạo lưu! Thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh kéo lôi.
Ngay trong cái tạm bợ của tứ đại có cái chân thật, phải biết được cái đó mới có con đường giải thoát, nếu không thì uổng một đời. Vô vị làm sao, ngày này qua ngày nọ cứ làm bao nhiêu việc ấy, cuối cùng thắng không được, rã rời, bốn đứa chạy bốn nơi, hết việc.
Hỏi:
- Thế nào là bốn cảnh vô tướng?
Sư đáp:
- Các ngươi một niệm tâm nghi bị đất làm ngại. Các ngươi một niệm tâm ái bị nước nhận chìm. Các ngươi một niệm tâm sân bị lửa đốt cháy. Các ngươi một niệm tâm hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì đạt bốn đại như mộng huyễn.
Đạo lưu! Các ngươi hiện nay biết nghe pháp, chẳng phải tứ đại của các ngươi, cái biết ấy hay dùng được tứ đại. Nếu khéo thấy được như thế là đi đứng tự do. Chỗ thấy của sơn tăng chẳng ngờ pháp ấy. Các ngươi nếu mến thánh thì thánh chỉ là tên thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn tìm Văn-thù, trọn đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn-thù. Các ngươi muốn biết Văn-thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn-thù sống. Các ngươi một tâm niệm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy là chân Phổ Hiền. Các ngươi một tâm niệm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát, đây là Quan Thế Âm. Ba pháp lẫn nhau làm chủ bạn, ra thì đồng thời ra, một tức ba, ba tức một. Hiểu được như thế, mới nên xem kinh.
Các ngươi một niệm tâm nghi bị đất làm ngại. Các ngươi một niệm tâm ái bị nước nhận chìm. Các ngươi một niệm tâm sân bị lửa đốt cháy. Các ngươi một niệm tâm hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Bốn thứ đất nước gió lửa biểu hiện bằng bốn tâm niệm nơi chúng ta. Niệm nghi ngại là đất, niệm ái là nước, niệm sân là lửa, niệm hỷ là gió. Niệm hỷ là gió cũng không khó hiểu, như hồi nhỏ mỗi khi ba má đi chợ về, có quà bánh thì chúng ta mừng nhảy lên. Hỷ là sự vui mừng làm cho mình phấn khởi muốn nhảy vọt lên, đó là gió thổi bay. Bốn tâm niệm đó có sẵn ở trong tâm mỗi người, nếu thắng được nó thì không bị cảnh lôi kéo. Nếu chúng ta khéo biết nghi là đất, ái là nước, sân là lửa, hỷ là gió, chinh phục được nó, không khởi tâm khỏi bị cảnh chuyển.
Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì đạt bốn đại như mộng huyễn. Thấy rõ bốn đại như mộng huyễn cho nên đối với cảnh tự tại tự do, được thần thông, vào nước vào đất không trở ngại. Như vậy, biết thân này mộng huyễn, là sức mạnh rất lớn. Nếu nó là mộng huyễn thì còn giận ai? Còn tham ái gì? Còn nghi ngờ gì? Có gì mà vui mừng? Cho thân này là thật thì bị bốn tướng chuyển, chỗ nào cũng không tự do.
Đạo lưu! Các ngươi hiện nay biết nghe pháp, chẳng phải tứ đại của các ngươi, cái biết ấy hay dùng được tứ đại. Nếu khéo thấy được như thế là đi đứng tự do. Chỗ thấy của sơn tăng chẳng ngờ pháp ấy. Ngài nói thật là chí tình. Cái mà ông biết nghe pháp đó, không phải là tứ đại mà hay dùng được tứ đại. Nó không phải là tứ đại nhưng nương tứ đại phát ra những diệu dụng. Chỗ thấy của ngài không còn nghi ngờ người nghe pháp đó.
Các ngươi nếu mến thánh thì thánh chỉ là tên thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn tìm Văn-thù, trọn đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn-thù. Các ngươi muốn biết Văn-thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn-thù sống. Văn-thù là gì? Là cái dùng trước mắt trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi. Thời gian trước, thời gian sau đều sử dụng như thế, nơi nơi không có nghi. Đó là Văn-thù sống.
Các ngươi một tâm niệm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy là chân Phổ Hiền. Nơi tâm niệm chúng ta không có niệm sai biệt, đó thật là Phổ Hiền.
Các ngươi một tâm niệm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát, đây là Quan Thế Âm. Quan Thế Âm cứu khổ, mỗi niệm mỗi niệm mở trói. Mở làm sao? Nghĩa là vừa thấy cái đó đẹp, biết nó là giả dối là mở được nó. Nghe câu gì mà nổi bực giận, biết lời nói đó là giả dối, cái giận cũng giả dối, bỏ đi thì đó mở rồi. Đức Quan Âm cứu mình liên miên phải không? Hiện tại cứu khổ cho mình được giải thoát.
Ba pháp lẫn nhau làm chủ bạn, ra thì đồng thời ra, một tức ba, ba tức một. Hiểu được như thế, mới nên xem kinh. Các kinh điển đại thừa nói về Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Quan Âm đều hướng về mình mà nói, không phải nói Bồ-tát ở ngoài. Chúng ta cứ hướng bên ngoài lên Ngũ Đài Sơn tìm Văn-thù... Cứ tìm các ngài mà không thấy ở nơi mình.
Hỏi:
- Ý Tổ sư từ phương Tây sang thế nào?
Sư đáp:
- Nếu có ý tự cứu chẳng xong.
Hỏi:
- Đã không ý làm sao Nhị Tổ được pháp?
Sư đáp:
- Được đó là chẳng được.
- Nếu đã chẳng được, thế nào là ý chẳng được?
- Vì nhằm tất cả chỗ tìm kiếm, tâm không thể thôi. Do đó Tổ sư nói: “Dốt thay! Đại trượng phu đem đầu tìm đầu.” Ngươi ngay lời nói này liền tự hồi quang phản chiếu, chẳng cầu cái gì khác, biết thân tâm cùng Phật tổ chẳng khác, liền đó vô sự mới gọi là được pháp.
Đại đức! Sơn tăng hôm nay bất đắc dĩ nói ra khá nhiều điều vụng về. Các ngươi chớ nhận lầm. Theo chỗ thấy của tôi, thật không chấp nhận các thứ đạo lý nhiều như thế, cần dùng liền dùng, chẳng dùng liền thôi. Các nơi nói lục độ vạn hạnh cho là Phật pháp. Tôi nói đó là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp. Cho đến trì trai giữ giới như bưng đĩa dầu chẳng nghiêng, nếu đạo nhãn chẳng sáng trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền. Vì sao như thế? Vì học đạo chẳng thông lý, đem thân đền tín thí, trưởng giả tuổi tám mốt, cây kia chẳng sanh nhĩ. Nhẫn đến ở trên chót núi, một ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạo nghiệp. Hoặc đem đầu mắt tủy não, vợ con đất nước, voi ngựa bảy báu hoàn toàn thí xả; hành động như thế đều là làm khổ thân tâm, lại chuốc quả khổ. Đâu bằng vô sự thuần nhất không tạp. Cho đến hàng Bồ-tát Thập địa mãn tâm muốn tìm dấu vết của vị này trọn không thể được. Do đó chư thiên vui mừng, địa thần nâng chân, chư Phật mười phương thảy đều khen ngợi. Duyên gì như thế? Vì đạo nhân hiện nghe pháp, chỗ dùng không dấu vết vậy.
Ý chẳng được là gì? Là cái chạy tìm mãi không thôi. Nếu dừng đừng tìm thì được không? Ngài nói rõ ràng rất thấm thía. Dẫn lời Tổ quở, đại trượng phu đem đầu tìm đầu là ngu ngốc. Đại trượng phu thì phải mạnh mẽ, trí tuệ. Chúng ta thường vỗ ngực xưng tôi là bậc trượng phu, phải ráng cho đúng nghĩa trượng phu, đừng đem đầu chạy tìm đầu.
Ngươi ngay lời nói này liền tự hồi quang phản chiếu, chẳng cầu cái gì khác, biết thân tâm cùng Phật tổ chẳng khác, liền đó vô sự mới gọi là được pháp. Người vô sự thì gọi là được pháp. Ý này thầm hợp với Tâm Kinh Bát-nhã, “Do không chỗ được, Bồ-tát y theo Bát-nhã tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, viễn ly mộng tưởng điên đảo cứu cánh Niết-bàn... Ba đời chư Phật... được đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác...” Như vậy từ vô sở đắc đó mà đắc. Đây cũng vậy, nếu chúng ta không có sở đắc, mới gọi là đắc pháp.
Tại sao? Mắt tai mũi lưỡi thân ý đối với sáu trần không dính không kẹt, gọi đó là giải thoát. Nói là được giải thoát, mà có được giải thoát nào không? Không dính không kẹt thì giải thoát, đâu phải có ai đưa chúng ta lên trời mây mới là giải thoát. Nếu còn dính còn kẹt thì bị trầm luân gỡ không ra, vậy thôi. Rõ ràng là khi chúng ta không dính với sáu trần, gọi đó là vô sự, là được pháp.
Đại đức! Sơn tăng hôm nay bất đắc dĩ nói ra khá nhiều điều vụng về. Các ngươi chớ nhận lầm. Theo chỗ thấy của tôi, thật không chấp nhận các thứ đạo lý nhiều như thế, cần dùng liền dùng, chẳng dùng liền thôi. Ngài Lâm Tế thường làm gì? Hỏi là hét hoặc đánh, đó là thuật của ngài. Hôm nay vì thương chúng ta mà nói nhiều, những điều nói ra đều là vụng về, bất đắc dĩ. Nếu thật chỗ thấy của ngài thì ngay nơi đó không cho có gì để suy xét.
Các nơi nói lục độ vạn hạnh cho là Phật pháp. Tôi nói đó là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp. Phật pháp theo ngài là cái chân thật hiện hữu của mình, đó là Phật, là pháp bản lai. Còn nói lục độ vạn hạnh là chỉ phân tích cho có phương tiện để người nghe dần dần tìm tới đạo, không phải Phật pháp.
Cho đến trì trai giữ giới như bưng đĩa dầu chẳng nghiêng, nếu đạo nhãn chẳng sáng trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền. Dầu cho chúng ta tu cẩn mật, trì trai giữ giới nghiêm trang như bưng đĩa dầu đầy không cho rơi một giọt... xem như rất chín chắn cẩn mật, nhưng nếu đạo nhãn chẳng sáng thì trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền, vì chưa được giải thoát. Đạo nhãn là con mắt đạo, con mắt đó nhận ra được người nghe pháp hiện giờ, gọi là đạo nhãn sáng. Không nhận ra được thì đạo nhãn không sáng. Nếu có tu phước đức thì được hưởng trong vòng luân hồi cõi lành, nếu không có phước đức mà nhận của tín thí thì phải đền nợ cơm tiền.
Vì sao như thế? Vì, học đạo chẳng thông lý, đem thân đền tín thí, trưởng giả tuổi tám mốt, cây kia chẳng sanh nhĩ. Đây dẫn câu kệ của Tổ ngày xưa nói, người tu nhận của thí chủ nuôi, tu hành chưa giác ngộ, nên sau làm nấm để trả nợ cho thí chủ.
Nhẫn đến ở trên chót núi, một ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạo nghiệp. Ngài nói thẳng rằng dù một mình ở chót núi, ngày ăn một bữa, thường ngồi không nằm, sáu thời hành đạo, không được chân thật giải thoát thì cũng chỉ là tạo nghiệp lành. Tạo nghiệp lành thì sanh cõi lành chứ chưa giải thoát.
Hoặc đem đầu mắt tủy não, vợ con đất nước, voi ngựa bảy báu hoàn toàn thí xả; hành động như thế đều là làm khổ thân tâm, lại chuốc quả khổ. Có một cái chân thật mà không nhận không sống với nó, chỉ hành hạ thân thì chuốc khổ thôi. Trọng tâm tu ở chỗ này, đây là ma, đây là Phật, đừng sống với ma mà phải sống với Phật, đơn giản vậy, khỏi lên non lên núi xa xôi. Nếu lên non lên rừng mà không biết Phật không biết ma tức là tạo nghiệp, nghiệp lành thì hưởng lành, nghiệp ác thì hưởng ác. Chúng ta ngồi đây cũng có Phật, năm chục người có năm chục ông Phật. Ngay chỗ này biết thì có Phật, không biết thì không có Phật. Người ta thích tu ở núi để tìm Phật, không ngờ Phật ngồi sẵn ở đây.
Đâu bằng vô sự thuần nhất không tạp. Cho đến hàng Bồ-tát Thập địa mãn tâm muốn tìm dấu vết của vị này trọn không thể được. Do đó, chư thiên vui mừng, địa thần nâng chân, chư Phật mười phương thảy đều khen ngợi. Duyên gì như thế? Vì đạo nhân hiện nghe pháp, chỗ dùng không dấu vết vậy. Đạo nhân hiện nghe pháp, người đó không dấu vết. Nhận được người đó thì chư thiên vui mừng, địa thần nâng chân, mười phương chư Phật đều khen ngợi. Đó là cái gốc.
Một hôm Sư cùng Hà Dương, trưởng lão Mộc Tháp đồng ở tại tăng đường ngồi quanh lò lửa. Nhân nói chuyện Phổ Hóa mỗi ngày ở ngoài phố chợ giả điên khùng, biết y là phàm là thánh? Nói chưa xong, Phổ Hóa đi vào. Sư liền hỏi:
- Ông là phàm là thánh?
Phổ Hóa nói:
- Ông hãy nói tôi là phàm là thánh?
Sư liền hét. Phổ Hóa lấy tay chỉ nói:
- Hà Dương kẻ tân phụ, Mộc Tháp thiền lão bà, Lâm Tế đứa tớ nhỏ, lại đủ một con mắt.
Sư bảo:
- Kẻ giặc.
Phổ Hóa nói:
- Giặc! Giặc!
Liền đi ra.
Người xưa đã là bậc tác gia rồi, nên Phổ Hóa nghe nói không biết là phàm là thánh, bèn bước vào hỏi tôi là phàm là thánh? Người biết rồi thì không bị gạt, nên ngài liền hét! Đó là đập tan cái bẫy. Phổ Hóa liền chỉ nói: Hà Dương kẻ tân phụ, tức là cô dâu mới, Mộc Tháp thiền lão bà, Lâm Tế là đứa tớ nhỏ, lại đủ một con mắt. Ngài nói: Kẻ giặc, kẻ giặc. Nói đủ con mắt tức là khen, ngài nói kẻ giặc tức là chê. Đối đáp theo Lục Tổ.
Vương Thường Thị đến thưa hỏi Sư, theo Sư đến trước tăng đường, xem xong liền hỏi:
- Tăng cả nhà này có xem kinh chăng?
Sư đáp:
- Chẳng xem kinh.
Thường Thị hỏi:
- Lại học thiền chăng?
Sư đáp:
- Chẳng học thiền.
Thường Thị nói:
- Kinh đã chẳng xem, thiền lại chẳng học, cứu cánh làm cái gì?
Sư đáp:
- Thảy dạy y làm Phật tác Tổ.
Thường Thị nói:
- Mạt vàng tuy quý, rơi vào con mắt thành bệnh, lại làm sao?
Sư bảo:
- Sẽ bảo ông là kẻ thế tục.
Làm sao để thành Phật tổ? Tức là ngay nơi ông Phật của mình, sống với chính mình, rất đơn giản không cần dài dòng quanh co. Ngay nơi đó chỉ cho họ làm Phật làm Tổ. Câu nói đó làm cho Vương Thường Thị nói: Mạt vàng tuy quý, rơi vào con mắt thành bệnh. Câu đó là khen hay chê? Chê cái gì? Nếu còn nói làm Phật làm Tổ, danh từ tuy là cao nhưng giống như mạt vàng rơi vào con mắt. Đó là lời trách, mới biết Vương Thường Thị là con người thế nào. Nếu ngang đó làm thinh tức là ngài thua, nên ngài liền bảo: Sẽ bảo ông là kẻ thế tục. Đó là câu cứu lại.
Một hôm, Phổ Hóa ở trong chợ đến mọi người xin chiếc áo dài, mọi người đều cho, Phổ Hóa đều chẳng nhận. Sư dạy Viện chủ mua một quan tài. Phổ Hóa về đến, Sư bảo:
- Tôi đã vì ông sắm chiếc áo dài rồi.
Phổ Hóa liền tự vác đi. Phổ Hóa đi quanh đường chợ rao:
- Lâm Tế cho tôi chiếc áo dài rồi, tôi sang cửa Đông tịch.
Người trong chợ đua nhau đến xem. Phổ Hóa bảo:
- Tôi ngày nay chưa tịch, ngày mai sang cửa Nam mới tịch.
Như thế đến ba ngày, mọi người đều chẳng tin. Đến ngày thứ tư, không ai theo xem, một mình Phổ Hóa tự chun vào quan tài, nhờ người đi đường đậy nắp lại. Tin truyền đi mọi người trong chợ đua nhau đến giở quan tài xem, không thấy thi hài Phổ Hóa, chỉ nghe trong hư không tiếng mõ xa dần rồi mất.
Chúng ta thấy chỗ nhận hiểu của tổ Lâm Tế và ngài Phổ Hóa bằng nhau nhưng duyên giáo hóa không giống. Như trong lớp học, mấy chú là huynh đệ nhau, học hiểu tương đương nhau. Giả sử về sau người trụ trì chùa này, người trụ trì chùa kia. Chùa A thì tín chúng đông đảo, Phật sự vẻ vang. Chùa B thì vắng vẻ, Phật sự ít ỏi. Tuy học thì như nhau, nhưng duyên truyền bá mỗi người có khác. Đừng vì lẽ một huynh đệ mình được cái hay, nhiều người quy phục rồi mình đố kỵ, đó là tâm phàm phu. Làm sao nếu huynh đệ được điều hay điều tốt mà mình tán thưởng khen ngợi thêm, đó thật là tâm tùy hỷ, tâm trượng phu.
Sư sắp tịch ngồi yên bảo:
- Sau khi ta tịch chẳng được diệt mất chánh pháp nhãn tạng của ta.
Tam Thánh Huệ Nhiên thưa:
- Đâu dám diệt mất chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng.
Sư bảo:
- Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?
Tam Thánh liền hét. Sư bảo:
- Ai biết chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất.
Sư nói kệ truyền pháp:
Diên lưu bất chỉ vấn như hà?
Chân chiếu vô biên thuyết tự tha?
Ly tướng ly danh như bất bẩm
Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.
Dịch:
Theo dòng chẳng dứt hỏi thế nào?
Chân chiếu khôn ngằn nói với ai?
Lìa tướng lìa danh như chẳng nhận
Gươm bén dùng rồi gấp phải mài.
Nói xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch. Nhằm niên hiệu Hàm Thông năm thứ tám (867), ngày mười tháng tư năm Đinh Hợi.
Vua ban thụy là Huệ Chiếu thiền sư, tháp hiệu Trừng Linh.
Ý ngài bảo rằng ta có mất rồi, các ông nên kế thừa truyền bá, đừng cho diệt mất chánh pháp. Ngài Huệ Nhiên nói: Đâu dám diệt mất chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng. Tức là chúng con sẽ nối, sẽ kế thừa không cho mất. Ngài hỏi về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào? Ngài Tam Thánh Huệ Nhiên liền hét! Thủ thuật ở tổ Lâm Tế, ngay đó được thì dùng không cho suy nghĩ. Thuật ấy ngài Huệ Nhiên nắm được, mà nắm được thì tất nhiên kế thừa được.
Tại sao ngài lại nói: Ai biết, chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất? Câu này nghe rất khó hiểu, nhưng theo quan niệm xưa mười hai năm xoay vần theo mười hai con giáp, trong đó không có năm con lừa. Như vậy để nói rằng sự truyền bá của ngài không có dứt. Nếu có thì tới năm nào đó có tên, chỗ này con lừa không có năm nên không có chỗ cùng. Lại là con lừa mù, mù không thấy thì làm sao biết đâu là nơi chốn. Vì thế không có chỗ nơi nhất định, cũng không có thời gian nhất định. Nó là liên miên, mãi mãi không cùng, bởi vậy cho nên không có ai biết tới đâu. Đó là ngài đã thọ ký.
Sư nói kệ truyền pháp:
Diên lưu bất chỉ vấn như hà?
Chân chiếu vô biên thuyết tự tha?
Ly tướng ly danh như bất bẩm
Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.
Diên lưu bất chỉ vấn như hà? Diên là tiếp tục, lưu là trôi chảy, bất chỉ là không dừng. Sự tiếp tục trôi chảy mãi không dừng. Vấn như hà, là hỏi thế nào. Không thể trả lời được. Câu đầu của bài kệ này nói đạo lý của ngài truyền mãi, không thể hỏi đến đâu là dừng.
Chân chiếu vô biên thuyết tự tha? Cái chân thật chiếu soi này không có ngằn mé, chỉ tự chứng biết, đâu thể nói với người ngoài. Tức là không thể nói được. Sự tiếp nối này đứng về thời gian không có ngằn mé, đứng về không gian không có giới hạn.
Ly tướng ly danh như bất bẩm. Sự truyền bá này không mắc kẹt trên tướng trên danh, cả hai đều không dính không nhận.
Xuy mao dụng liễu cấp tu ma. Xuy mao là cây kiếm bén, sợi lông vừa thổi qua liền đứt, như vậy bén đến cỡ nào? Mà dùng rồi phải mài gấp, luôn mài giũa không chậm trễ.
Đây là lời dạy của ngài về sự truyền pháp nối tiếp không cùng, khi truyền bá đừng mắc kẹt trên danh tướng. Người truyền bá tông thiền, sau khi nhận rõ rồi đem ra giáo hóa cũng phải giữ cho mình không bị tổn hao, không mất phẩm chất đạo đức của mình, như thanh kiếm bén xài rồi phải gấp mài giũa, đừng để cùn lụt. Nghĩa là người thấy đạo, khi giáo hóa không thể quên mất mình, đó là cái gốc.
✵✵✵
TRẦN TÔN TÚC hiệu ĐẠO MINH
(? -?)
Sư họ Trần quê ở Giang Nam. Thuở bé, Sư dung nhan kỳ đặc, nhân đến chùa Khai Nguyên lễ Phật, thấy tăng như đã quen trước. Về, Sư xin phép cha mẹ xuất gia, cha mẹ đồng ý cho.
Sau khi làm tăng, Sư giữ giới tinh nghiêm học thông ba tạng. Đi du phương, Sư thâm ngộ nơi tổ Hoàng Bá. Được mọi nơi kính trọng gọi là Tôn Túc nên thành danh Trần Tôn Túc.
Về sau, Sư về ở chùa Khai Nguyên thường dùng cỏ bồ đan giày bán nuôi mẹ. Do đó cũng có tên là Trần Bồ Hài. Tăng chúng mến trọng Sư, lần lượt tìm đến tham vấn. Lời lẽ đối đáp của Sư rất bí hiểm khó người nhận nổi. Thế nên những kẻ căn cơ thô thiển đều chẳng thích. Chỉ những bậc tánh sáng am hiểu huyền học mới khâm phục.
Những vị có duyên giáo hóa chúng sanh đều là người đã từng tu hành nhiều đời về trước. Như ngài Trần Tôn Túc nếu chưa từng tu thì làm sao vô chùa thấy chư tăng như đã quen trước? Thấy như đã quen tức là đã có tu rồi.
Khi làm tăng, ngài giữ giới luật và thông suốt ba tạng kinh, sau đó mới tham thiền và ngộ nơi tổ Hoàng Bá. Nếu tham học mà không thông giáo lý và luật nghi sẽ thành người cố chấp. Tư cách ngài như thế nên được trong chúng tôn kính gọi là Tôn Túc, nghĩa là bậc trên trước rất tôn trọng.
Đây có một điểm mà tất cả chúng ta phải học. Khi ngài về trụ trì chùa Khai Nguyên, trong chúng thời đó ở ít ra cũng phải năm trăm trở lên. Như thế sá gì có một bà mẹ, lâu lâu xin của Tam bảo chút ít nuôi bà cũng được, mà ngài phải đan giày bán lấy tiền nuôi mẹ. Người xưa làm việc Tam bảo, phân biệt rành rẽ cái nào là của công, cái nào là của tư. Nếu là của công thì không được dùng cho việc tư. Mẹ mình thì bổn phận phải nuôi, đó là việc tư. Cho nên thà là đan giày để lấy tiền nuôi mẹ, còn tiền của chúng thì dù là trụ trì ngài vẫn không lạm dụng. Như thế mới đúng tinh thần đạo đức, tôn trọng của chung và giữ phần phước cho cha mẹ không để tổn giảm.
Tham vấn buổi chiều, Sư bảo chúng:
- Các ngươi lại được chỗ vào chưa? Nếu chưa được chỗ vào, cần được chỗ vào, nếu đã được chỗ vào, về sau chớ cô phụ lão tăng.
Có một vị tăng bước ra lễ bái thưa:
- Con trọn chẳng dám cô phụ Hòa thượng.
Sư bảo:
- Ngươi trước đã cô phụ ta rồi.
Sư lại bảo:
- Ta đã nói rõ với ngươi, ngươi còn chẳng hội, huống là che đậy mai sau.
Ngài có nói gạt chúng ta không? Bảo rằng nếu chưa được chỗ vào cần được chỗ vào, nếu đã được chỗ vào, về sau chớ cô phụ lão tăng. Có vị tăng thật thà bước ra nói: Con trọn chẳng dám cô phụ Hòa thượng. Đó là hợp lý, tại sao ngài nói ngươi trước đã cô phụ ta rồi. Cô phụ chỗ nào? Đây là cái hay của người xưa, khéo léo nói rằng chưa được chỗ vào thì cần chỗ vào, nếu đã được chỗ vào thì chớ cô phụ lão tăng.
Vị tăng này nói con không dám cô phụ Hòa thượng tức là tự xưng mình đã được chỗ vào. Nếu thật đã được chỗ vào, phải có hành động nào đó, ở đây đáp thật thà như vậy làm sao chắc đã được chỗ vào. Nên ngài nói, ngươi trước đã cô phụ ta rồi. Đó là điều chúng ta thấy cái khéo của người xưa. Ngài bảo: Ta đã nói rõ với ngươi, ngươi còn chẳng hội, huống là che đậy mai sau. Nghĩa là nói trắng ra vậy mà còn không biết.
Sư lại bảo:
- Lão tăng trụ trì ở đây chẳng từng thấy một người vô sự đi đến. Các ngươi sao chẳng lại gần?
Có một vị tăng mới bước lại gần. Sư bảo:
- Duy-na chẳng có ở đây, ngươi tự đi ra ngoài cửa lãnh hai mươi gậy.
Tăng thưa:
- Con lỗi ở chỗ nào?
Sư bảo:
- Đã đeo còng lại mang gông.
Lão tăng trụ trì ở đây chẳng từng thấy một người vô sự đi đến. Các ngươi sao chẳng lại gần? Lối dạy của ngài khó hiểu. Vừa nói trụ trì chưa thấy người vô sự đến, rồi hỏi: Các ngươi sao chẳng lại gần? Tăng bước lại gần, ngài lại bảo: Duy-na không có ở đây. Nếu có Duy-na thì bị đánh hai mươi gậy đuổi đi, phải không? Duy-na không có ở nhà, thôi ông tự đánh hai mươi gậy rồi đi ra cửa. Tự nhiên mình cũng thắc mắc, lỗi ở chỗ nào? Ngài nói: Đã đeo còng lại mang gông.
Như vậy đeo còng ở đâu? Nếu câu hỏi con lỗi chỗ nào là mang gông thì cũng chịu được. Tại sao trước đeo òng? Bởi vì bị đầu lưỡi Lão hòa thượng lừa, bảo lại gần thì cứ lại gần, không biết gì hết. Đó là đeo còng, rồi bị rầy bảo tự lãnh hai mươi gậy. Như vậy mà còn trách: Con lỗi ở chỗ nào? Đó là thêm lớp gông.
Lối dạy của ngài rất nhanh lẹ, người không sáng liền bị gạt.
Bình thường Sư thấy tăng đến liền đóng cửa. Hoặc thấy giảng sư đến, Sư gọi: “Tọa chủ!” Tọa chủ: “Dạ!” Sư bảo: “Kẻ vác bảng.” Hoặc bảo: “Ở đây có thùng cho tôi gánh nước.”
Những câu nói Kẻ vác bảng hoặc Ở đây có thùng cho tôi gánh nước... có ý nghĩa gì không? Thật ra chỉ kêu dạ là xong, từ bi đáo để rồi. Nhưng vì Tăng không hiểu nên ngài nói gạt: cho mượn thùng lấy nước... Cái ngài muốn chỉ đã qua rồi.
Một hôm Sư đứng ngoài hành lang, có vị tăng đến hỏi:
- Phòng Trần Tôn Túc ở chỗ nào?
Sư liền cởi giày, đè đầu vị tăng ấy đập. Vị tăng ấy chạy. Sư gọi:
- Đại đức!
Tăng xoay đầu nhìn lại. Sư chỉ bảo:
- Đi bên này.
Sao ngài tàn nhẫn quá vậy? Người ta hỏi phòng Trần Tôn Túc ở chỗ nào, chỉ hay không chỉ thì thôi, tại sao đè đầu người ta xuống mà đánh? Lỗi tại đâu?
Đối diện Trần Tôn Túc mà không biết, đó là trường hợp hình thức ở ngoài. Như cái hiện tiền bên trong sẵn đủ mà còn đi tìm, đó là đánh chỗ không nhận ra hiện tiền mà còn chạy tìm. Đánh thì ông tăng chạy, với lòng từ bi ngài gọi: Đại đức! Tăng xoay đầu lại mà không biết gì. Ngài mới bảo: Đi bên này. Đây là câu nói đùa chơi không có ý nghĩa.
Có vị sứ thần đến viếng. Sứ thần hỏi:
- Ba cửa đều mở, từ cửa nào vào?
Sư gọi:
- Thượng thư.
Sứ thần ứng thanh:
- Dạ!
Sư bảo:
- Từ cửa tín vào.
Sứ thần nhìn lên vách thấy tượng vẽ, hỏi:
- Hai tôn giả đối mặt luận việc gì?
Sư gõ cây cột nói:
- Trong ba thân cái nào chẳng nói pháp?
Sứ thần này có thông minh không? Như chùa chúng ta có ba cửa, một vị khách quan trọng đến hỏi: Ba cửa này, tôi vô cửa nào? Nếu chúng ta trọng khách thì mời khách đi cửa giữa. Đó là lẽ thường, nhưng với thiền sư thì không đơn giản như vậy.
Khi Sứ thần hỏi đi cửa nào, không phải là không biết ba cửa, mà hỏi là có lý do. Ngài kêu, Thượng thư! Sứ thần Dạ! Như thế từ cửa đó mà vô. Ngài liền thêm câu: Từ cửa tín mà vào. Lối dạy này có giống tổ Lâm Tế không? Tổ Lâm Tế luôn luôn nhắc chúng ta người đang nghe pháp đó, chỉ vì các ông tin không đến. Ai cũng có người đang nghe pháp mà không dám tin, không dám nhận nên rồi bỏ qua.
Đây ngài kêu Thượng thư. Thượng thư ứng lên: Dạ. Đó là chỉ người đang nghe thấy rõ ràng, phải tin nhận cửa đó mà vào.
Sứ thần nhìn lên vách thấy tượng vẽ, hỏi: Hai tôn giả đối mặt luận việc gì? Ngài gõ cây cột nói: Trong ba thân cái nào chẳng nói pháp? Dường như ngài nói lạc đề, nhưng không phải. Hình vẽ trên vách là từ tâm nghĩ tưởng mà vẽ ra, trong nhà thiền gọi là hóa thân. Như vậy pháp thân nói pháp, báo thân nói pháp thì hóa thân này cũng nói pháp. Nếu nhìn đó mà hiểu, nhìn đó mà ngộ, nhìn đó mà tin thì trong ba thân, thân nào cũng nói pháp.
Tăng hỏi:
- Thế nào là ý Tào Khê?
Sư bảo:
- Lão tăng ưa sân chẳng ưa hỷ.
Tăng hỏi:
- Vì sao như thế?
Sư đáp:
- Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ nói thơ.
Muốn biết ý Tổ sư thì cứ nhìn thấy cái sân cái hỷ của người hiện tại đây, đừng tìm nơi nào khác. Vừa khởi ý tìm đã trật rồi, ngay trong hiện tại mà nhận. Tăng không hiểu, tưởng Hòa thượng hay giận, nên hỏi vì sao như thế? Ngài nói, gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ nói thơ. Vì ông không phải kiếm khách nên tôi không cho xem kiếm, không phải nhà thơ nên tôi không nói thơ. Tức là chê Tăng không xứng tay với ngài.
Tăng hỏi:
- Giáo ý Tổ ý là đồng là khác?
Sư bảo:
- Núi xanh tự núi xanh, mây trắng tự mây trắng.
Tăng hỏi:
- Thế nào là núi xanh?
Sư bảo:
- Trả một hạt mưa cho ta.
Tăng thưa:
- Nói chẳng được, thỉnh Thầy nói.
Sư bảo:
- Pháp Hoa xông trước trận, Niết-bàn câu chót thâu.
Khi nhìn lên những ngọn núi cao, chúng ta thấy mây vây phủ núi, mây với núi có dính nhau không? Mây là mây, núi là núi, mây tạm có hợp rồi tan, còn núi vẫn y nguyên không tan hợp. Núi là ngầm nói ý Tổ, là lẽ thật, mây là ngầm nói ý kinh giáo, tùy duyên dựng lập vì chúng sanh.
Tăng hỏi: Thế nào là núi xanh? Ngài bảo: Trả một hạt mưa cho ta. Đó là muốn hỏi thẳng ý Tổ. Tại sao ngài trả lời một câu vẻ ngớ ngẩn? Hỏi thế nào là núi xanh thì hoặc nói núi xanh là bất sanh bất diệt, núi xanh là gì đó, lại đòi hạt mưa? Vì núi xanh là chỗ không còn lời, không có niệm nghĩ, ông hỏi như thế đã là ngớ ngẩn, nên ngài đáp lại bằng một câu ngớ ngẩn: Trả một hạt mưa cho ta.
Tăng thưa: Nói chẳng được, thỉnh Thầy nói. Ngài bảo: Pháp Hoa xông trước trận, Niết-bàn câu chót thâu. Ngài bảo con trả hạt mưa, câu này con bí rồi đáp không được, xin ngài đáp giùm. Câu đáp này có ý nghĩa gì không? Đó chỉ là một câu đáp cho có lời không giải thích gì cả.
Sư xem kinh, thượng thư Trần Tháo đến hỏi:
- Hòa thượng xem kinh gì?
Sư bảo:
- Kinh Kim Cang.
Tháo bảo:
- Lục triều phiên dịch, đây là thứ mấy dịch?
Sư đưa quyển kinh lên bảo:
- Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh.
Kinh Kim Cang do sáu nhà phiên dịch từ Phạn sang Hán, mỗi nhà phiên dịch ở một triều đại, như triều Ngụy, triều Lương, triều Đường... nên gọi là Lục triều phiên dịch. Nói theo Lục triều phiên dịch là nói theo danh số thứ tự, nếu đáp bằng danh số thứ tự thì mắc kẹt. Vì thế khi hỏi triều thứ mấy, ngài bèn đưa quyển kinh lên, rồi nói: Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh. Đó là lối gỡ bẫy khéo léo không mắc kẹt vào thời đại hay thứ tự.
Sư xem kinh Niết-bàn, có vị tăng hỏi:
- Hòa thượng xem kinh gì?
Sư đưa quyển kinh lên bảo:
- Cái này là phẩm trà-tỳ rốt sau.
***
Vị tăng mới đến lễ bái Sư, Sư quở:
- Xà-lê tại sao trộm trái cây của Thường trụ ăn? Tăng thưa:
- Con vừa mới đến, vì sao Hòa thượng nói trộm trái cây? Sư bảo:
- Tang vật vẫn còn.
Sao tàn nhẫn vậy? Người ta mới bước vô chùa, liền rầy ăn trộm trái cây làm mất mặt quá phải không? Chúng ta có ăn trộm trái cây của thường trụ không? Lúc nào? Khi chúng ta bước vào chùa, con mắt nhìn bên đây ngó bên kia, rồi ý chạy duyên theo cảnh tượng phân biệt... đó là đã đi ăn trộm rồi. Như vậy mà còn nói mới vào chùa đâu có ăn trộm. Ngài nói tang vật vẫn còn, cãi chối tức rõ ràng chú ăn trộm mà chưa biết lỗi.
Có vị đại đức được vua ban tử y đến lễ bái. Sư cầm cái mũ lên, hỏi:
- Cái này gọi là gì?
Đại đức đáp:
- Mũ triều thiên.
Sư bảo:
- Thế ấy thì lão tăng chẳng đội.
Sư hỏi:
- Ông chuyên về sự nghiệp gì?
- Duy thức.
Sư lại hỏi:
- Nói thế nào?
Đại đức đáp:
- Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.
Sư chỉ cánh cửa hỏi:
- Cái ấy là gì?
Đại đức đáp:
- Sắc pháp.
Sư bảo:
- Trước rèm ban tử y, đối vua thuyết pháp, tại sao không giữ năm giới?
Đại đức không đáp được.
Vị tăng này phạm giới gì? Đây có hai điều: Thứ nhất, ông tăng được vua ban tử y, nên khi vào triều, đội mũ triều thiên là chầu thiên tử, vua như con trời, nên phải chầu vua. Mình là người xuất gia cầu giải thoát, có chầu vua không? Cho nên ngài nói ta không có đội mũ đó. Thứ hai, Tăng nói rằng: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Ngài chỉ cánh cửa hỏi cái ấy là gì? Tăng đáp là sắc pháp. Ngài liền kết tội đối vua mà phạm tội nói dối. Bởi vì tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, thì tất cả pháp có ra đều từ thức, cánh cửa là cũng thức biến, tại sao ông nói là sắc pháp ngoài thức. Như vậy có nói dối không? Nên nói tại sao không giữ năm giới?
Sư thượng đường:
- Xé tan ra cũng là ta, gom nhóp lại cũng là ta.
Có vị tăng ra hỏi:
- Thế nào là xé tan ra?
Sư bảo:
- Ba lần chín là hai mươi bảy, Bồ-đề Niết-bàn chân như giải thoát tức tâm tức Phật. Ta đã nói thế ấy, ngươi lại nói thế nào?
Tăng thưa:
- Con chẳng nói thế ấy.
Sư bảo:
- Cái chén đánh rơi xuống đất, cái đĩa bể thành bảy miếng.
Tăng hỏi:
- Thế nào là gom nhóp lại?
Sư bèn ngồi khoanh tay.
Biết thế nào là xé tan, thế nào là gom góp không? Hỏi xé tan, ngài đáp: Ba lần chín là hai mươi bảy. Tức là làm toán nhân theo cửu chương chồng lên. Bởi do một thể không tên nhưng phân tích chồng chất thành tên này tên nọ tên kia. Phân tích thế nào? Là đặt tên Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, giải thoát, tức tâm tức Phật... Một cái không tên mà đặt rất nhiều tên, không phải xé tan ra là gì?
Thế nào là gom góp? Ngài ngồi khoanh tay rồi thôi, không nói một lời. Trở về bản vị của nó thì không lời, còn xé tan ra manh mún thì có lời, khi có nhiều tên gọi đó là manh mún vụn vặt.
Sư dạy chúng:
- Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.
Câu này nghe có lạ không? Nếu việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ là phải, việc lớn đã sáng tại sao như đưa ma mẹ? Đây là câu tôi tâm đắc nhất, vì thấy rõ chủ yếu tu hành của người xưa. Chúng ta tu nếu chưa sáng được việc lớn, tức là chưa nhận ra bản tâm chưa thấy bản tánh, thì phải luôn luôn thao thức trăn trở, cố gắng tu hành để làm sao cho thấy, làm sao cho đạt được. Chúng ta không bao giờ hài lòng, phải nỗ lực, phải luôn luôn cố gắng, đó là việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ.
Khi đã sáng việc lớn, thấy được tâm chân thật, như bài kệ tôi thường dẫn: Đốn ngộ tuy đồng Phật, chóng ngộ tuy đồng chư Phật, nhưng còn gì nữa? Đa sanh tập khí thâm. Nhiều đời tập khí còn sâu dày, không phải một lần ngộ một lần thấy là xong. Ngộ được rồi thấy được rồi, đó mới là giai đoạn đầu, nếu ngang đó mà tự mãn hài lòng, phát sanh tật ca hát làm thơ vịnh phú... rồi có khi rượu chè be bét, nói ta ngộ rồi, ta cũng như Phật, không còn gì phải sợ nữa... Chúng ta thấy hiện nay có nhiều người như vậy, cũng nói thấy đạo rồi, giới không giữ, ăn nhậu bừa bãi, đó là cái bệnh. Cho nên sau khi thấy đạo rồi cũng phải nỗ lực tu hành, để tập khí nhiều đời mòn mỏng, đến bao giờ thật hết thì chừng đó mới xong.
Như có một số người đi tìm trầm hoặc đi ăn ong ở rừng. Họ cùng đi với nhau sâu trong rừng, đi mãi quên lối về, khi đó hết lương thực, loanh quanh lẩn quẩn trong rừng, thật là khổ sở. Cho tới khi mệt đừ, đói khát kiệt lực, bỗng dưng có người tìm được lối về, thấy được đầu đường lúc mới vào rừng. Người đó mừng vui, coi như mình thoát được mê lầm, hết lạc đường rồi. Nhưng mà có tới nhà chưa? Thấy đường về chưa phải là kẻ tới nhà, nhớ như vậy. Muốn tới nhà phải còn gì nữa? Còn phải tận lực đi cho tới bao giờ về ngồi được trong nhà. Chừng đó mới nhẹ nhàng thoải mái, khỏi lo đói khát. Nếu thấy đường về mà không chịu đi thì cũng còn đói khổ như thường. Người tu cũng vậy, bao nhiêu kiếp luân hồi quay vòng trong sanh tử không biết lối ra, bây giờ thức tỉnh tu hành tức là thấy được lối đi, thấy được lối đi gọi là sáng được việc lớn.
Sáng được việc lớn nhưng ngang đó rồi chưa? Bao nhiêu tập khí muôn đời còn đầy ắp ở trong. Cho nên ngang đó rồi phải nỗ lực tiến tu, đến bao giờ tập khí tan hết chừng đó mới xong. Như Huệ Trung quốc sư, sau khi ngộ ở Lục Tổ rồi lên núi Bạch Nhai ở bốn mươi hai năm, lúc đó mới gọi là xong việc. Ngài Triệu Châu ngộ đạo ở tổ Nam Tuyền rồi, mà còn nói: Ba mươi năm sau mới thấy thân tâm là một. Như vậy có đơn giản không? Chúng ta bây giờ mới hiểu được chút chút thì lo nói dóc, rồi sẽ đi tới đâu? Đó là chuyện hết sức lớn lao không phải thường.
Câu nói này là câu răn, chúng ta phải biết rõ, nếu chúng ta có duyên sáng được việc lớn, đừng tự mãn, rồi còn phải nỗ lực tu cho tới bao giờ sạch hết những tập khí, chừng đó mới xong. Vì thế sáng việc lớn rồi cũng như đưa ma mẹ.
Lại dạy:
- Ta thấy tổ Bá Trượng không biết tốt xấu, đại chúng vừa họp lấy gậy đồng thời đánh đuổi, lại gọi “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, bèn bảo: “Ấy là gì? Có chỗ nào cùng nói?” Lại Hòa thượng Hoàng Bá cũng vậy, đánh chúng chạy, lại gọi “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, bèn bảo “Trăng tợ cung loan mưa ít gió nhiều.”
Ngài Trần Tôn Túc giống hệt như tổ Lâm Tế, đặt nặng trọng tâm ở chỗ làm sao mình thấy được con người đang nghe pháp, cho nên dẫn câu chuyện tổ Bá Trượng và tổ Hoàng Bá.
Các ngài khéo léo, chúng đang nhóm họp lại xách gậy đuổi đi, rượt chạy mịt mù, ai biết cái gì! Khi chạy rồi, lại gọi: Đại chúng! Chúng xoay đầu lại, tổ Bá Trượng nói: Ấy là gì?
Ấy là gì? Tức là đưa cho câu nghi vấn để xem chúng có hiểu không, biết chỗ ngài muốn dạy không? Nếu không biết, không thấy thì ngài nói có chỗ nào cùng nói, như vậy là hết nói rồi. Dồn mình tới chỗ bí, rồi kêu để cho dễ thấy. Kêu mà chưa ngộ, nên thêm một câu “Ấy là gì?” để cho nhớ sực lại cái mà ngài muốn chỉ. Nếu cũng không thấy thì ngài phải nói sao? Có chỗ nào cùng nói? Hết chỗ nói mấy ông rồi, dốt như vậy là hết chỗ nói rồi, chỉ hai lần mà còn không biết. Tổ Bá Trượng từ bi quá chừng.
Ngài Hoàng Bá cũng từ bi giống như vậy: Đại chúng họp rồi cũng đánh chúng chạy, chạy rồi lại gọi: Đại chúng! Chúng xoay đầu lại, bèn bảo: Trăng tợ cung loan mưa ít gió nhiều. Ngài nói kiểu nên thơ quá. Câu thơ này để giải nghĩa chỗ ngài đánh đuổi, hay là để chi? Chỉ là câu nói vuốt đuôi, không có ý nghĩa gì. Có ý nghĩa là đánh đuổi rồi kêu cho mình xoay lại, đó là chủ tâm của ngài. Nhưng xoay lại mà không hiểu gì hết, nên nói một câu cho vui. Người đọc sách thiền không hiểu, cứ lo giải nghĩa câu: Trăng tợ cung loan mưa ít gió nhiều, thật là tức cười.
Sư sắp tịch gọi môn đồ lại nói:
- Nơi đây hết duyên, ta sẽ đi vậy.
Rồi ngồi kiết già thị tịch, thọ 98 tuổi được 76 tuổi hạ. Người trong quận dùng củi thơm trà-tỳ, thu được xá lợi nhiều như mưa, dựng tháp thờ tại chùa.
Các ngài đi sung sướng quá chừng, hết duyên thì đi, không bận rộn lo lắng sợ sệt gì cả.
✵✵✵
THIỀN SƯ NGƯỠNG SƠN HUỆ TỊCH
(807 - 883)
Tổ thứ hai tông Quy Ngưỡng
Thiền sư Huệ Tịch quê ở Hoài Hóa, Thiều Châu, con nhà họ Diệp. Lên chín tuổi, Sư theo thiền sư Thông xuất gia ở chùa Hòa An tại Quảng Châu. Năm mười bốn tuổi, cha mẹ bắt về tính chuyện hôn nhân cho Sư, Sư không chịu. Sư chặt hai ngón tay, đến trước cha mẹ quỳ thệ cầu chánh pháp để báo ơn sanh thành dưỡng dục. Cha mẹ mới cho xuất gia.
Sư trở lại chỗ thiền sư Thông, được cạo tóc đắp y ở chùa Nam Hoa. Chưa được thọ giới Cụ túc, Sư đã đi du phương.
Tinh thần xuất gia của ngài, chúng ta sánh kịp không? Phần nhiều xin ba má đi xuất gia, nếu không cho thì năn nỉ, năn nỉ không được thì khóc, khóc không được thì trốn, chứ không dám chặt hai ngón tay, dâng lên xin nguyện cầu chánh pháp để báo ơn sanh thành dưỡng dục. Ý chí xuất gia của ngài rất mạnh. Mười bốn tuổi đã phát tâm, do đâu mà thâm ngộ sớm như thế? Có thể nói đó là chủng tử quá khứ thúc đẩy ngài, không phải là chuyện mới.
Lần trở lại này thì thầy bổn sư qua Việt Nam, nên ngài cũng đi hành cước sớm.
Sư đến yết kiến Đam Nguyên, nhân đây được huyền chỉ.
Đam Nguyên bảo:
- Quốc sư lúc đương thời truyền cho chín mươi bảy viên tướng (tướng tròn) của sáu đời tổ sư, trao cho Lão tăng dặn rằng: “Sau khi ta tịch diệt ba mươi năm, có ông Sa-di từ phương Nam đến, sẽ làm hưng thịnh tông giáo này, ngươi nên thứ lớp truyền trao chớ để đoạn dứt.” Nay ta trao cho con, con phải vâng giữ.
Nói xong, Đam Nguyên trao bản ấy qua cho Sư. Sư nhận được, xem qua một lượt, bèn đem đốt.
Hôm khác, Đam Nguyên hỏi Sư:
- Những tướng ta trao cho hôm trước cần phải quý trọng giữ kín.
Sư thưa:
- Hôm ấy xem xong, con đốt quách rồi.
Đam Nguyên bảo:
- Pháp môn này của ta không người hội được, chỉ có thầy ta và các bậc đại thánh tổ sư mới hiểu hết, sao con lại đốt đi?
Sư thưa:
- Con một phen xem qua đã biết ý chỉ trong đó, ứng dụng được chẳng cần cầm bản.
Đam Nguyên bảo:
- Tuy như thế, nơi con thì được, người sau làm sao tin đến được?
Sư thưa:
- Hòa thượng nếu cần, con chép lại chẳng khó.
Sư liền chép hết lại thành một tập chẳng sót một điều, trình lên. Đam Nguyên khen là đúng.
Qua giai đoạn đến với thiền sư Đam Nguyên, chúng ta thấy ngài đã tu nhiều đời. Đam Nguyên là thị giả Quốc sư Huệ Trung. Ngài Huệ Trung được truyền chín mươi bảy viên tướng tròn, trong đó hoặc vẽ chữ “Phật”, chữ “ngưu”... mỗi tướng có ý nghĩa riêng. Quốc sư Huệ Trung dặn rằng, sau khi ta tịch ba mươi năm có ông Sa-di từ phương Nam đến sẽ làm hưng thịnh tông này, nên mang cái đó mà truyền. Sa-di này là người đã có căn tánh lâu đời mà Quốc sư biết trước sẽ đến đây hay là Sa-di này là thân sau của Quốc sư? Chưa biết thế nào nhưng dặn dò như vậy.
Nếu ngài Ngưỡng Sơn chưa từng học cái này, một phen coi qua làm sao nhớ được? Phải chi hai ba tướng thì nhớ nổi, chín mươi bảy tướng mà coi qua một lần đốt phứt đi, vậy mà biểu chép lại thì chép đầy đủ không thiếu. Chứng tỏ ngài đã từng coi bao nhiêu lần rồi. Quả thật ngài là người tái lai, không phải là hạng thường.
Sư giặt y, Đam Nguyên hỏi:
- Chính bây giờ làm gì?
Sư đáp:
- Chính bây giờ nhằm chỗ nào thấy?
Câu hỏi này, nếu tôi hỏi mấy chú làm gì thì mấy chú sẽ đáp gọn là giặt đồ, hay giặt y. Như vậy nghe cũng hay, nhưng cái hay đó không bằng câu ngài đáp ở đây. Chính bây giờ nhằm chỗ nào thấy? Vì thể đó con mắt Phật còn không thấy, ngài nói chính bây giờ, tức là ngay cái đó, ngay bây giờ muốn hỏi cái đó, chỗ đó thì không ai thấy được. Ngài chỉ thẳng chỗ đã chứng được hay là đã ngộ được. Nói như vậy rất rõ ràng.
Sư còn Sa-di đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu.
Quy Sơn hỏi:
- Ngươi là Sa-di có chủ hay Sa-di không chủ?
Sư thưa:
- Có chủ.
- Chủ ở chỗ nào?
Sư từ bên đông sang bên tây đứng. Quy Sơn biết con người kỳ lạ nên cố tâm chỉ dạy.
Sư hỏi:
- Thế nào là chỗ ở của chân Phật?
Quy Sơn đáp:
- Dùng cái diệu tư (nghĩ nhớ) mà không tư (nghĩ nhớ), xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng, tư cùng tận trở về nguồn, tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, chân Phật như như.
Ngay câu nói ấy, Sư đốn ngộ, dừng lại đây hầu hạ Quy Sơn.
Câu chuyện đối đáp này, nếu ai hỏi chắc là mấy chú đáp câu đầu trúng phải không? Ví dụ hỏi: Chú là Sa-di hay Tỳ-kheo? Nói: Dạ con là Sa-di. Hỏi: Sa-di có chủ hay không chủ? Tự nhiên là có chủ rồi. Nhưng hỏi chủ ở chỗ nào thì mấy chú nói sao? Chỉ trên đầu hoặc nơi tim. Ngài Ngưỡng Sơn chỉ ông chủ bằng cách từ bên đông qua bên tây đứng. Đó là ông chủ hiện tiền, không phải ông chủ suy nghĩ ở trên trán, cái tưởng tượng ở trong tâm. Do đó ngài Quy Sơn biết là người kỳ đặc.
Ngài hỏi: Thế nào là chỗ ở của chân Phật? Chân Phật là Phật thật, không phải Phật gỗ Phật xi-măng, cũng không phải Phật sanh diệt bằng thân ba mươi hai tướng tốt.
Quy Sơn đáp: Dùng cái diệu tư mà không tư, xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng, tư cùng tận trở về nguồn, tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, chân Phật như như. Cái diệu tư mà không tư, tức là cái nghĩ nhớ nhiệm mầu rất đặc biệt, nghĩ nhớ mà không nghĩ nhớ. Xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng, tư cùng tận trở về nguồn, tới đó là tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, chân Phật như như.
Lối dạy này nghe hơi vòng vo một chút, nhưng chủ yếu không khác với lối dạy của tổ Bồ-đề Đạt-ma: Đem tâm ra ta an cho. Khi đó ngài Huệ Khả làm gì? Dùng cái nghĩ mà tìm xem tâm ở đâu, đó là diệu tư. Khi xoay lại tìm, tìm tột cùng chỗ tinh anh sáng suốt rồi, lúc đó mới nói: Con tìm tâm không được. Sơ Tổ nói: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Như vậy, tột cùng đến chỗ không còn hình dáng, không còn tướng sanh diệt, gọi là chân Phật như như.
Sư sang Giang Lăng thọ giới ở lại một hạ để học luật. Sau đó Sư đến tham vấn Nham Đầu. Nham Đầu thấy Sư liền giở phất tử lên. Sư trải tọa cụ. Nham Đầu đưa phất tử lại sau lưng. Sư vác tọa cụ lên vai đi ra. Nham Đầu bảo:
- Ta chẳng nhận ông buông, chỉ nhận ông thâu.
Hai vị có đối đáp gì không? Đây có hai điểm cần phải nhớ:
Điểm thứ nhất ngài Ngưỡng Sơn ngộ đạo mà vẫn còn phải học luật, nhớ như vậy. Bây giờ có nhiều người mới hiểu chút chút mà nghênh ngang, nói ta phá tướng, phá chấp... Đó là điên khùng, không biết thật biết hư. Người ngộ rồi vẫn giữ giới luật tinh nghiêm chứ không phải ngộ rồi làm bậy làm bướng. Hiểu được một chút, giả nói ta là người thấy đạo, là người không chấp hình tướng, tưởng như vậy là hay.
Điểm thứ hai là khi tới Nham Đầu, Nham Đầu giở phất tử lên dọ thử người đó đã thấy đạo chưa. Đưa phất tử lên ngài đáp lại bằng cách trải toạ cụ xuống. Người đưa lên thì người trải xuống. Khi đó ngài Nham Đầu biết gã này là đối địch rồi, liền đưa cây phất tử lại sau lưng. Đưa lại sau lưng thì đầu phất tử chúi xuống, vác tọa cụ lên vai trả lời như vậy liền bước ra đi.
Trong cách đối đáp lạ lùng này, biết người đó có thầy hay không thầy. Nhưng nếu ra đi mà ngài Nham Đầu làm thinh thì không được câu chót, nên mới nói câu: Ta chẳng nhận ông buông, chỉ nhận ông thâu.
Sư đến tham vấn Thạch Thất, hỏi:
- Phật với đạo cách nhau bao nhiêu?
Thạch Thất đáp:
- Đạo như xòe tay, Phật như nắm tay.
Sư từ Thạch Thất, Thạch Thất tiễn ra tới cổng bảo rằng:
- Ngươi chớ một bề đi, về sau ở lại bên ta.
Đạo với Phật cách xa bao nhiêu mà nói: Đạo như xòe tay, Phật như nắm tay? Dầu xòe dầu nắm hình dáng dường như hai, nhưng thể của bàn tay không hai. Như vậy nói đạo nói Phật không phải là hai việc.
Vi Trụ đến Quy Sơn xin một bài kệ. Quy Sơn bảo:
- Thấy mặt trình nhau vẫn là kẻ độn, huống là bày trên giấy mực.
Vi Trụ đến xin Sư. Sư vẽ trên giấy một tướng tròn, chú rằng: “Nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ hai, chẳng nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ ba.”
Chúng ta thấy, xin bài kệ mà tổ Quy Sơn quở thấy mặt trình nhau còn là độn thay, huống nữa là viết chữ viết nghĩa trên giấy. Hai ba lớp độn.
Vi Trụ tới ngài xin, ngài liền vẽ một vòng tròn, ghi chú rằng: Nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ hai, chẳng nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ ba.
Cái nào lỗi nhiều, cái nào lỗi ít? Đầu thứ ba lỗi nhiều hơn đầu thứ hai phải không? Thường trong nhà thiền hay nói lỗi hai bên, nghĩ mà biết là thuộc hai bên, là đầu thứ hai. Đầu thứ ba ở chỗ nào? Đó là một câu nói chỉ thẳng mà gạt, không nghĩ mà biết thì là lẽ thật, nhưng đây gạt một cách khéo léo, nói đầu thứ ba tưởng đâu lỗi hơn nữa.
Một hôm Thượng tọa ở Quy Sơn đưa phất tử lên bảo:
- Nếu người nào làm được đạo lý liền cho phất tử.
Sư thưa:
- Tôi làm được đạo lý, lại được chăng?
Thượng tọa bảo:
- Chỉ làm được đạo lý liền được.
Sư bèn chụp tay giật cây phất tử đi.
Đạo lý ở chỗ nào? Ở chỗ biết làm ngay hiện tại, không qua lời nói. Nếu nói cái này, cái nọ, cái kia... thì đạo lý qua ngôn ngữ, không phải thật, vì vậy ngài giật phất tử đi luôn. Đó là đã làm đạo lý rồi.
Quy Sơn cùng Sư du hành, bỗng chim tha quả hồng chín đánh rơi trước mặt. Quy Sơn lượm quả hồng đưa Sư. Sư nhận quả hồng đi lấy nước rửa, rửa xong Sư dâng Quy Sơn. Quy Sơn bảo:
- Ở chỗ nào con được quả này?
Sư thưa:
- Đây là đạo đức của Hòa thượng cảm nên.
Quy Sơn nói:
- Con đâu phải không có.
Liền bẻ nửa quả hồng cho Sư.
Câu chuyện này có gì lạ? Hay là chuyện thầy lượm đưa trò, trò rửa rồi thầy chia cho trò ăn thôi?
Ban đầu tổ Quy Sơn thấy quả hồng lượm đưa cho ngài, ngài đi rửa, rửa xong đưa lên. Quy Sơn biết rõ hồi nãy mình đưa chứ ai, mà còn hỏi: Ở chỗ nào con được quả này? Hỏi để chi vậy? Ngài Ngưỡng Sơn đã ngộ ở Đam Nguyên rồi mới tới Quy Sơn, được một lần ngộ nữa tức là triệt ngộ. Nhưng chưa biết Ngưỡng Sơn định tôn ai làm thầy, nhận ai làm thầy của mình, nên mới đặt câu hỏi: Ở chỗ nào con được quả này? Quả này không phải là trái hồng, mà ngầm chỉ chỗ ông sống được, ông nhận được. Ngài Ngưỡng Sơn trả lời vừa thật thà vừa ngầm ý: Đây là đạo đức của Hòa thượng cảm nên. Con được quả này là nhờ đạo đức của Hoà thượng, như vậy nhận Quy Sơn làm thầy. Đó là một cách khéo lạ. Ngài Quy Sơn nói, con đâu phải không có, tức là con cũng có phần ở trong đó, thôi chia hai.
Trong một sự việc thấy như chơi, mà có ngầm ý rất thâm sâu. Vì vậy sau này ngài kế thừa Quy Sơn, chứ đầu tiên ngài đã biết lý huyền ở ngài Đam Nguyên rồi.
Sư đang chăn trâu ở sườn núi phía trước, thấy một vị tăng lên núi không bao lâu lại xuống. Sư bèn hỏi:
- Thượng tọa sao không lưu lại trong núi?
Tăng nói:
- Chỉ vì nhân duyên chẳng hợp.
Sư hỏi:
- Có nhân duyên gì thử nói xem.
Tăng nói:
- Hòa thượng hỏi tôi tên gì, tôi đáp Quy Chân. Hòa thượng hỏi Quy Chân ở đâu, tôi đáp không được. Sư bảo:
- Thượng tọa trở lên thưa với Hòa thượng: con nói được. Hòa thượng hỏi nói thế nào, chỉ đáp: trong mắt trong tai trong mũi.
Vị tăng trở lại nói đúng như Sư dạy. Quy Sơn quở:
- Kẻ nói suông vô ích, đây là lời của thiện tri thức năm trăm người.
Vị tăng này đến với tổ Quy Sơn, tổ Quy Sơn nghe nói tên là Quy Chân bèn hỏi quy chân ở chỗ nào? Tức là trở về cái chân thật ở đâu? Ông tăng bí không biết chỗ chỉ. Cho nên xuống nói lại thì Ngưỡng Sơn biết, bảo trở lên nói: Trong mắt, tai, mũi... Tăng trở lên nói đúng như vậy là trúng rồi, nhưng tại sao bị tổ Quy Sơn quở: Kẻ nói suông vô ích? Bởi vì nếu biết thì khi hỏi đã chỉ rồi, đợi xuống núi trở lên nói, đó là đợi suy nghĩ mới biết, hoặc nghe ai nói mới nói lại. Như vậy tức là nói suông, không phải tự mình nói đúng. Người nói được câu đó là thiện tri thức của năm trăm người.
Chúng ta thấy trở về chỗ chân thật không xa, ngay nơi sáu căn mình khéo thì được trở về, không khéo thì nó đi tuốt.
Sư nằm mộng thấy vào nội viện của đức Di-lặc, trong nhà tăng các tòa đều có người ngồi, chỉ có tòa thứ hai trống, Sư liền lên tòa ngồi. Có vị tôn giả bạch chùy (khai kẻng) rằng:
- Hôm nay tòa thứ hai nói pháp.
Sư đứng dậy bạch chùy rằng:
- Pháp Đại thừa ly tứ cú tuyệt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe!
Chúng đều giải tán. Sư thức giấc đem việc ấy thuật lại Quy Sơn. Quy Sơn bảo:
- Con đã vào vị thánh.
Sư lễ tạ.
Đây là một điểm mà lâu nay nhiều người nghi ngờ, tôi cũng đã từng nói nhiều lần, sẵn dịp này nói lại cho rõ. Trong nhà thiền thường nói, người tu đến chỗ miên mật thì khi ngủ cũng như khi thức, ngủ thức không hai. Có nhiều người nói như vậy tối không được ngủ, phải tỉnh luôn, ban ngày tỉnh thì tối cũng phải tỉnh. Người tu miên mật rồi thì ngày đêm tỉnh luôn khỏi ngủ, mà nếu không ngủ chừng ba tháng phát điên, vì đó là bệnh. Như vậy thì làm sao trúng? Nếu không ngủ thì ngài Ngưỡng Sơn đâu có nằm mộng. Rõ ràng ngài nằm mộng. Dầu mộng lên cung trời Đao-lợi hay cung trời Đâu-suất cũng là mộng trong giấc ngủ. Ngài được miên mật chưa? Như vậy nói miên mật không ngủ là sai lầm. Nhưng khác ở chỗ này, khi miên mật rồi lúc ngủ cũng như lúc thức không hai.
Ví dụ khi chúng ta mới tu trong vòng vài ba năm, lúc thức thì giữ giới luật, ăn chay đàng hoàng. Nhưng khi ngủ mộng thấy bà con rủ đi ăn đám, có tiệc tùng rượu thịt, mình có từ chối nói tôi ăn chay không? Mình vẫn thấy ăn mặn như bình thường. Tại sao? Vì chủng tử đạo mới huân, mà chủng tử thế gian còn nặng. Bởi vậy nên trong giấc ngủ mình sống trở về với chủng tử cũ, không nhớ cái mới.
Như mấy chú mới tu, khi nằm ngủ ít thấy ở chùa, thấy ở nhà thường hơn, thấy đi làm việc này việc nọ ngoài đời. Đó là chủng tử cũ còn mạnh. Mấy chú ở chùa mười năm hoặc hơn nữa, nếu người nào thật tu, mộng thấy mình ở chùa, việc gì trái với đạo lý không làm. Đó là đã tiến lên.
Đây ngài Ngưỡng Sơn nghe bảo rằng tòa thứ hai thuyết pháp, thì ngài liền lên tòa nói: Pháp đại thừa ly tứ cú tuyệt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe! Như vậy lúc tỉnh ngài thuyết pháp cũng như lúc mộng ngài thuyết pháp, không khác chút nào. Tỉnh như thế nào mộng cũng như thế ấy, gọi là thức ngủ như nhau. Đừng hiểu lầm thức ngủ như nhau rồi thức luôn suốt đêm thành bệnh. Học mà không biết tới nơi dễ sanh bệnh hoặc buông lung hoặc tinh tấn thái quá.
Như vậy thì bao giờ mấy chú tu, lúc mộng thấy mình miên mật công phu, cái gì trái với việc tu liền từ chối, đó là khá rồi, đó là chủng tử đạo sâu dày. Nếu khi mộng thấy việc gì không phải giới luật mà mình cứ làm thì biết mình tệ lắm, mình chưa thật sạch.
Sư vẫn theo Quy Sơn ngót mười lăm năm. Được Quy Sơn mật ấn, Sư lãnh chúng ở núi Vương Mãng. Hóa duyên ở đây không hợp, Sư dời đến Ngưỡng Sơn, học chúng đua nhau đến đấy rất đông.
Sư thượng đường dạy chúng:
- Hết thảy các ngươi mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thủy đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được. Do đó, giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có gì là phải. Như người đem các thứ hàng hóa cùng vàng lập tiệm bán, bán hàng hóa chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói “Thạch Đầu là tiệm chân kim, chỗ ta là tiệm tạp hóa”. Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho.
Tăng hỏi:
- Chẳng cần phẩn chuột, xin Hòa thượng cho chân kim?
Sư bảo:
- Cắn tên định mở miệng, năm lừa cũng chẳng hội.
Tăng không đáp được. Sư tiếp:
- Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói Thiền tông, bên thân cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng? Nếu ta nói đông nói tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc mé ngọn của thánh. Hiện nay cần thức tâm đạt bản, cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này khi khác sẽ tự đầy đủ. Nếu chưa được gốc, dù cho đem tâm học y cũng chẳng được. Các ngươi đâu chẳng nghe Hòa thượng Quy Sơn nói: “Tình phàm thánh hết, bày hiện chân thường, sự lý chẳng hai, tức như như Phật.”
Hết thảy các ngươi mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thủy đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được... Những câu này là lời người xưa dạy hết sức tha thiết, chúng ta mỗi người phải phản quán lại chính mình, chớ chạy theo ngôn ngữ. Từ kiếp vô thủy đến giờ chúng ta trái sáng hợp tối. Thế nào là trái sáng, hợp tối? Con mắt chạy theo sắc trần, lỗ tai chạy theo thanh trần, lỗ mũi chạy theo hương trần... sáu căn theo sáu trần là tối hay sáng? Sáu trần là hình ảnh bên ngoài, là tối. Nơi sáu căn chúng ta có cái sáng suốt tinh anh mà lại quên, cứ chạy theo ngoại cảnh nên gọi là trái sáng hợp tối. Danh từ chuyên môn gọi là bối giác hợp trần.
Khi mê chúng ta bối giác hợp trần, khi tỉnh thì phải bối trần hợp giác. Nhưng đặt câu hỏi lại, mấy chú đang tỉnh hay đang mê? Đi tu rồi mà mê sao? Đi tu tức là phản tỉnh, là bối trần hợp giác. Giả sử mình đang ngồi chơi, ai kêu tên mình chửi, lúc đó bối trần hợp giác thì nổi giận hay cười? Bối trần tức là không dính với trần cảnh ở ngoài, vì mình đang sống với tánh giác nên lúc đó chỉ cười. Nếu giận thì lúc đó là bối giác hợp trần, nếu mình vẫn tỉnh bơ mỉm cười thì đó là bối trần hợp giác.
Với đức Phật, dù cho ai chửi mắng ngài vẫn thản nhiên không dính gì hết, ngài nói: Ngươi có món đồ tặng ta, ta không nhận thì về ai? Như vậy không phải bối trần hợp giác là gì! Chúng ta thì ai tặng gì cũng nhận, chưa đưa tới tay cũng chụp liền. Tu mà cứ bối giác hợp trần hoài sẽ đến đâu? Phải biết rõ người tu khác với người thế tục, người thế tục thì bối giác hợp trần, người tu là phải bối trần hợp giác. Thấy sắc nghe tiếng... mà vẫn không dính, vẫn nhớ cái thấy cái nghe của mình, đó là bối trần hợp giác. Nếu thấy sắc đẹp liền dính sắc, nghe tiếng hay liền dính tiếng, đó là bối giác hợp trần, kinh Lăng-nghiêm gọi là quên mình theo vật. Người xưa khéo một chút chỉ ra chỗ này.
Ngài Cảnh Thanh ngồi ở trong thất có thị giả đứng bên hầu, ngoài kia mưa ào ào, ngài hỏi: Tiếng gì đó? Thị giả thưa: Tiếng mưa rơi. Ngài nói: Chúng sanh quên mình theo vật. Một chút đó thấy chúng ta quên mình theo vật, cứ đợi có tiếng, nghe hỏi thì nhớ tiếng ở ngoài, không bao giờ nhớ mình.
Cũng như vậy ngài ngồi ở trong thất, có thị giả đứng hầu, nghe con rắn bắt nhái éc éc, ngài hỏi tiếng gì đó? Thị giả trả lời: Tiếng con rắn bắt nhái. Ngài nói: Chúng sanh khổ lại có khổ chúng sanh. Câu đó thấm thía làm sao! Con rắn bắt con nhái, con nhái đang khổ đó là chúng sanh khổ, mà có khổ chúng sanh là ai? Tức là thị giả quên mình theo vật, đó là khổ chúng sanh. Chúng ta có bệnh đó không? Như vậy thì thật là khổ chúng sanh.
Học những câu này rồi mới thấy chúng ta quên mình hồi nào không hay. Thấy cái này phân tích, thấy cái kia phân tích, tưởng là mình hay không ngờ chính đã quên mình. Như thế nghĩa bối giác hợp trần, bối trần hợp giác rất rõ. Chúng ta tu là phải bối trần hợp giác, người thế gian chưa biết tu nên bối giác hợp trần. Bởi vậy họ cứ chạy theo ngoại cảnh luân hồi sanh diệt. Chúng ta biết tu rồi không nên để ngoại cảnh chi phối, phải trở về với mình.
Nếu trở về với mình cả ngày thì sắc đẹp có quyến rũ được không? Tiếng khen chê có làm phiền hà không? Không biết trở về, để ngoại cảnh quấy nhiễu mình, rồi đổ thừa: Tôi bị cảnh chung quanh làm cho khó tu. Tại sao khó tu? Tại vì bối giác hợp trần, chạy theo ngoại cảnh, nó rủ gì mình làm nấy, nên nói tu không được. Nếu bối trần hợp giác thì có gì khó, có gì trở ngại việc tu của mình đâu?
Lời nói của ngài hết sức đơn giản, mang ý nghĩa cụ thể cho chúng ta thấy chỗ tu đúng thật rõ ràng hay sai lầm là ngay chỗ này. Nếu trái sáng hợp tối, đó là mê, gốc vọng tưởng quá sâu. Không phải mới có vọng tưởng trong đời này, mà cả nhiều đời nhiều kiếp, cho nên rất sâu dày, khó nhổ mau được. Biết nó là vọng tưởng mà bỏ không đứt, dứt không rời. Bỏ rồi lại duyên theo, bỏ rồi lại khởi lên nữa, chỉ vì ăn sâu nhiều đời.
Do đó, giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có gì là phải. Vì vọng tưởng quá sâu khó nhổ, nên chư Tổ lập phương tiện, dạy bảo ngồi thiền quán tưởng, thấy vọng đừng theo... Đó là dùng phương tiện dẹp thức thô của chúng ta, như cầm lá vàng trong tay dỗ con nít khóc. Như bà mẹ đi chợ, đứa con nhỏ đòi đi theo, giãy khóc, bà mẹ cầm chiếc lá dỗ: Bánh đây, má cho con nè! Nín đi, nín đi. Đứa bé tưởng thật tạm nín khóc, đợi mẹ đi chợ về cho bánh thật.
Cũng thế, các phương tiện Phật tổ dạy tu để trở về cái thật của chính mình, khi cái thật thấy rồi thì cái kia là đồ chơi thôi. Kinh Kim Cang nói, như người nương bè qua sông, khi qua bờ rồi thì chiếc bè phải bỏ, qua bờ rồi mà còn vác bè theo là ngu. Phương tiện Phật tổ dạy để dẹp thức thô của chúng ta, khi thức thô lặn rồi, trở về được cái chân thật thì những phương tiện đó không còn giá trị gì nữa.
Như người đem các thứ hàng hóa cùng vàng lập tiệm bán, bán hàng hóa chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói “Thạch Đầu là tiệm chân kim, chỗ ta là tiệm tạp hóa”. Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho. Thạch Đầu là quán chân kim, vì các thiền sư thường nói đường Thạch Đầu trơn. Làm gì thì ngài chỉ nói ròng cái đó thôi nên ít người nhận được. Ngài Ngưỡng Sơn nói quán ngài là quán tạp hóa nhưng có cả chân kim ở trong. Nếu người nào cần phân chuột thì có phân chuột, người nào cần vàng bạc thì có vàng bạc. Đó là tùy nhu cầu, tùy phương tiện lập bày.
Như bây giờ có người tới nói: Thưa Thầy ba má con mất, con thỉnh chư tăng ni tụng kinh cầu nguyện, như vậy có phước không? Tôi trả lời nếu Phật tử vì lòng hiếu thảo cha mẹ trăm tuổi rồi thỉnh chư tăng ni cầu nguyện, có hai điều tốt. Một là lòng hiếu của con, hai là tăng ni tụng kinh. Đó là có phước. Khi người ta hỏi việc nào thì nói đúng việc đó, nếu nói trên lý tánh, không ngôn ngữ... thì người ta phủi áo đi liền.
Nếu có người cần chỉ dạy chân thật thì chúng ta nói về tâm về tánh. Đó là cần chân kim thì bán chân kim, cần phân chuột thì bán phân chuột. Như có bà cụ tới hỏi tôi: Thưa Thầy một đêm con niệm Phật mười chuỗi, như vậy có đúng không? Tôi nói niệm vậy tốt, nhưng nếu muốn có kết quả hơn thì bà cụ niệm từng câu nghe cho rõ để tâm được định, mình nhớ Phật không nhớ nghĩ chuyện này chuyện kia, như vậy tốt. Chúng ta không thể nói: “niệm Phật không được, chỉ quay về chân tâm thôi”, như thế mất niềm tin làm sao người ta tu. Mỗi trường hợp tùy duyên mà hướng dẫn sao có lợi ích cho người và lòng tin họ tăng trưởng, đó là đúng. Còn nói để mất lòng tin, để người không biết làm sao tu, đó là điều không hay.
Tăng hỏi: Chẳng cần phẩn chuột, xin Hòa thượng cho chân kim? Sư bảo: Cắn tên định mở miệng, năm lừa cũng chẳng hội. Tăng không đáp được. Người ta thì muốn mua thứ này thứ kia, riêng con muốn mua vàng ròng. Như vậy cho chân kim đó. Chân kim là sao? Ở đây chúng ta đừng nhớ hết mọi chữ, chỉ cần nhớ ba chữ đoạn sau là đủ, định mở miệng năm lừa cũng chẳng hội. Tăng không biết đáp.
Sư tiếp: Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói Thiền tông, bên thân cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng? Nếu ta nói đông nói tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc mé ngọn của thánh. Hiện nay cần thức tâm đạt bản, cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này khi khác sẽ tự đầy đủ. Nếu chưa được gốc, dù cho đem tâm học y cũng chẳng được. Các ngươi đâu chẳng nghe Hòa thượng Quy Sơn nói: “Tình phàm thánh hết, bày hiện chân thường, sự lý chẳng hai, tức như như Phật.”
Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói Thiền tông, bên thân cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng? Nếu ta nói đông nói tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật. Có tìm hỏi, đáp lại tức là có trao đổi, kẻ qua người lại, nếu không tìm hỏi thì không ta (vô ngã). Bởi ngay nơi chỗ đó mà không tìm cầu nữa thì còn thấy có mình có người không? Cho nên nếu nói theo Thiền tông thì không có một người, đừng nói năm bảy trăm. Chứng Đạo Ca nói thường độc hành thường độc bộ, cũng như Bàng Uẩn hỏi Mã Tổ người không cùng muôn pháp làm bạn. Đó là hỏi ngay bên Thiền tông. Nếu chúng ta nghe nói rồi chạy giành nhau mà học thì chỉ bị gạt thôi.
Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc mé ngọn của thánh. Chỗ này ngài nói việc bên thánh tức là việc của thánh, việc đó là gì? Là chớ đem tâm nghĩ tính. Nếu muốn có việc của thánh thì đừng đem tâm khởi nghĩ, đừng tính toán, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Biển tánh như thế nào? Nếu có tu rồi mới thấy chỗ này không nghi ngờ. Đôi khi tôi tự thấy tức cười, thể tánh đó trùm khắp mà chúng ta cứ cho cái suy nghĩ loáng thoáng ở trong đầu, nháng chút rồi mất, thoáng xẹt qua rồi mất, cho cái đó là mình, còn cái trùm hết thì không thấy. Cái trùm hết trong kinh Lăng-nghiêm gọi là biển, còn cái loáng thoáng trong đầu là hòn bọt. Chúng sanh mê lầm nhận bọt cho là biển.
Thể kia trùm hết không có hình tướng, cái loáng thoáng trong đầu mình có hình tướng. Vừa động vừa có tướng chợt sanh chợt diệt mà chúng sanh lầm nhận cái chợt sanh chợt diệt là mình thì làm sao qua khỏi luân hồi? Cả một biển pháp tánh lặng lẽ trong sáng thì quên mất không ai biết. Nên đây ngài nói đừng đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm biển pháp tánh chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Nhiều người tu ham thích thần thông, mong biết quá khứ vị lai, mong biết bay, độn thủy độn thổ... những thứ đó là phụ, là phần trên ngọn thôi.
Hiện nay cần thức tâm đạt bản, cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này khi khác sẽ tự đầy đủ. Khi thức tâm đạt bản rồi, gốc nắm vững thì ngọn tự tới, ngọn là chỉ tam minh lục thông. Nếu không được gốc thì ngọn có tới cũng chỉ là vô ích, không làm gì được. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói thế nào? Thức tâm đạt bản danh viết Sa-môn. Sa-môn là người biết được tâm mình, thấu suốt được nguồn gốc; không phải cạo đầu thọ hai trăm năm mươi giới thành Sa-môn. Các kinh từ lớp Sơ đẳng đã dạy chúng ta phải thấy nghĩa Sa-môn là như vậy, không phải Sa-môn trên hình thức suông.
Nếu chưa được gốc, dù cho đem tâm học y cũng chẳng được. Các ngươi đâu chẳng nghe Hòa thượng Quy Sơn nói: “Tình phàm thánh hết, bày hiện chân thường, sự lý chẳng hai, tức như như Phật.” Ngài dạy cho chúng ta biết tổ Quy Sơn thường nói tình phàm thánh hết, tức là có phàm có thánh gọi là tình chấp hai bên, dứt sạch. Nếu tình chấp dứt sạch thì chân thường bày hiện không đâu xa. Khi sự và lý không còn hai tức là Phật như như, khỏi tìm kiếm. Chúng ta thử một giờ đi đứng nằm ngồi đừng thấy hai bên thì Phật hiện tiền. Ráng tập làm Phật một giờ rồi từ từ tập làm Phật hai giờ. Thường suốt ngày chúng ta cứ thấy hai bên, người này dễ thương, người kia khó thương, người này học giỏi, người kia học dở... thấy hai hoài nên cứ mãi làm phàm phu không thành thánh.
Thánh với phàm dễ hay khó? Chỉ một chút thôi, đừng nghĩ nhớ hai bên là thành thánh, còn mắc kẹt hai bên là phàm, rất dễ. Nghe thì dễ mà làm thì khó, chỉ tại mình chưa thực hành được.
Tăng hỏi:
- Thế nào là ý Tổ sư?
Sư lấy tay vẽ vòng tròn trong hư không, giữa vòng tròn viết chữ Phật. Tăng không đáp được. Sư gọi đệ nhất tọa bảo:
- Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính khi ấy là gì?
Đệ nhất tọa đáp:
- Chính khi ấy là chỗ buông thân mạng của con.
Sư bảo:
- Sao không hỏi lão tăng?
Đệ nhất tọa đáp:
- Chính khi ấy chẳng thấy có Hòa thượng.
Sư bảo:
- Đỡ tông giáo của ta chẳng đứng.
Đây là cái khéo của ngài khi Tăng hỏi ý Tổ sư. Ý Tổ sư nói được không? Tổ Lâm Tế nói, nếu có ý thì tự cứu chẳng xong. Ngài vẽ vòng tròn trong hư không, viết chữ Phật, Tăng không đáp, ngài liền kêu đệ nhất tọa bảo chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính khi ấy là gì? Đệ nhất tọa liền đáp chính khi ấy là chỗ buông thân mạng của con, như thế đệ nhất tọa này là người xứng đáng.
Ngài muốn gạn lại nên bảo sao chẳng hỏi lão tăng? Đệ nhất tọa này xác định không nghi, chính khi ấy chẳng thấy có Hòa thượng thì còn gì mà bảo con hỏi. Ngài bảo đỡ tông giáo của ta chẳng đứng. Như vậy khen hay chê?
Sư về Quy Sơn thăm, Linh Hựu hỏi:
- Con đã xưng là thiện tri thức, có biện được những người các nơi đến: biết có chẳng biết có, đã kế thừa thầy hay không kế thừa thầy, là nghĩa học là huyền học, con thử nói xem.
Sư thưa:
- Con có chỗ nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến liền dựng phất tử hỏi y: Các nơi lại nói cái này hay chẳng nói? Lại bảo: Cái này hãy gác lại, ý lão túc các nơi thế nào?
Linh Hựu khen:
- Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trước!
Linh Hựu lại hỏi:
- Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có?
Sư thưa:
- Con có chỗ nghiệm.
Lúc ấy có vị tăng đi qua trước mặt, Sư gọi:
- Xà-lê!
Vị tăng xoay đầu lại. Sư thưa:
- Bạch Hòa thượng! Cái này là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.
Linh Hựu bảo:
- Đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa.
Biết có tức là tri hữu, biết ngay mình có cái đó hay không có cái đó. Kế thừa thầy tức là được thầy truyền trao. Nghĩa học tức là học kinh, huyền học là học thiền.
Ngài thưa: Con có chỗ nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến liền dựng phất tử hỏi y: Các nơi lại nói cái này hay chẳng nói? Lại bảo: Cái này hãy gác lại, ý lão túc các nơi thế nào? Đó là cách ngài Ngưỡng Sơn nghiệm được người đã biết có hay chẳng biết có, đã được truyền thừa hay chưa được truyền thừa. Ngài đưa phất tử lên, nếu người được truyền thừa thì thấy đưa phất tử lên liền biết phải làm gì. Hoặc hỏi ông ở đâu đến, hỏi thầy dạy cái gì? Đó là những câu dọ dẫm để biết người thế nào.
Linh Hựu khen: Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trước! Linh Hựu lại hỏi: Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có? Tức là có thấy được mình hay không thấy được mình.
Sư thưa: Con có chỗ nghiệm. Lúc ấy có vị tăng đi qua trước mặt, Sư gọi: Xà-lê! Vị tăng xoay đầu lại. Sư thưa: Bạch Hòa thượng! Cái này là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa. Linh Hựu bảo: Đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa. Chỉ một tiếng gọi liền biết người đó thế nào, nên thường thường các Tổ hay dùng tiếng gọi. Người nghe tiếng gọi mà biết thì ứng đối thích hợp, người chưa biết thì ngơ ngác không hiểu gì. Đó là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.
Có vị tăng người Ấn Độ từ hư không đến, Sư hỏi:
- Vừa rời chỗ nào?
Tăng thưa:
- Tây Thiên.
Sư hỏi:
- Rời Tây Thiên lúc nào?
Tăng thưa:
- Sớm mai.
Sư bảo:
- Sao mà chậm lắm vậy?
Tăng thưa:
- Vì còn dạo núi xem nước.
Sư bảo:
- Thần thông du hý thì chẳng không, Phật pháp của Xà-lê cần trao lại cho lão tăng mới được.
Tăng thưa:
- Định sang Đông độ lễ Văn-thù, lại gặp Tiểu Thích-ca.
Bèn đem sách chữ Phạn bằng lá bối trao cho Sư, làm lễ rồi nương hư không mà đi.
Từ đây Sư có hiệu là Tiểu Thích-ca.
Từ Ấn Độ sang Trung Hoa, đường xa diệu vợi, phải đi mất nhiều năm tháng, tăng Ấn Độ này đi hồi sớm mai, trưa tới Trung Hoa mà ngài chê sao chậm trễ. Chúng ta nghĩ không hiểu lý do. Nếu thật là thần thông thì phải như ý, tức là ý vừa nghĩ Ấn Độ thì thấy ở Ấn Độ, ý vừa nghĩ ở Trung Hoa thì thấy ở Trung Hoa. Tâm vừa khởi nghĩ thì thân tới liền. Sớm mai đi mà trưa mới tới cũng là thần thông nhưng chưa phải Như ý túc. Tăng nói sở dĩ con đến chậm là còn đi mấy chỗ kia nữa. Như vậy để thấy người xưa biết được thần thông là thế nào, không phải như chúng ta nghe lóm hiểu lóm, không đúng lẽ thật.
Ngài cũng biết vị tăng ấy có mang theo kinh lá bối nên bảo đưa lại cho ngài. Hai bên dường như đã từng gặp nhau. Tăng tặng ngài danh hiệu Tiểu Thích-ca.
Quy Sơn niêm một mặt gương gửi cho Sư. Sư thượng đường đưa lên bảo:
- Chúng hãy nói, là gương Quy Sơn hay gương Ngưỡng Sơn? Có người nói được thì không đập nát.
Toàn chúng đều không nói được. Sư liền đập nát.
Như vậy có phụ lòng thầy cho không? Việc làm của ngài Ngưỡng Sơn với việc làm của ngài Nam Tuyền có khác nhau không? Ngài Nam Tuyền thì hai bên giành nhau con mèo, ngài liền đưa dao lên bảo nói được thì tha, không nói được thì chặt con mèo. Làm một việc bức thiết, gấp rút để thử lòng của chúng, thấy sao thì trình vậy, nếu trình đúng thì cứu được con mèo, trình không đúng thì giết con mèo. Đó vì muốn thấy chúng có người nào đến được chỗ đó chưa. Đây là lòng từ bi muốn thấy được sở ngộ của chúng, không phải ác ý muốn giết con mèo.
Cũng như ở đây đưa cái gương lên, ai cũng biết là của Thầy gửi cho, nhưng ngài bảo nói được thì để, không nói được thì đập. Cũng là dùng cách bức thiết. Nếu biết thì phải nói liền, không nói được thì ngài đập. Nhà thiền thường nói lệnh đã ra thì phải thi hành không dừng được. Nếu dừng thì lệnh không nghiêm, chúng không sợ.
Ngài Ngưỡng Sơn đập gương thì không ai kết án, ngài Nam Tuyền chặt con mèo thì bị người kết tội sát sanh. Ngài có cố tình sát sanh không? Đến chiều ngài Tùng Thẩm vào thì ngài lặp lại câu chuyện hồi sáng, ngài Tùng Thẩm lấy dép đội lên đầu đi ra, ngài nói: “Phải chi sáng có ngươi thì đã cứu được con mèo!” Ngài trông có người trình được nhưng không thấy, buộc lòng phải thi hành. Vì muốn thấy được có người ngộ đạo chứ không phải vì việc hiện tại. Nếu căn cứ việc trước mắt mà kết tội là không biết trọng tâm của các ngài ở chỗ nào.
Sư hỏi Song Phong:
- Gần đây chỗ thấy của Sư đệ thế nào?
Song Phong đáp:
- Cứ chỗ thấy của tôi, thật không một pháp có thể xứng tình.
Sư bảo:
- Ngươi hiểu vẫn còn tại cảnh.
Song Phong hỏi:
- Tôi chỉ hiểu như thế, Sư huynh thế nào?
Sư đáp:
- Ngươi đâu chẳng biết, không một pháp có thể xứng tình.
Quy Sơn nghe khen:
- Một câu của Huệ Tịch nghi chết người trong thiên hạ.
Cái hay cái dở ở chỗ nào? Người ta nói như vậy không chịu, hỏi lại mình thì mình cũng nói y như vậy. Đó thật là chỗ đặc biệt của người xưa.
Câu không có một pháp có thể xứng tình là bối trần hợp giác. Nếu có một pháp nào mà tâm mình thích thì đó là xứng tình, không một pháp nào để tâm thích ứng, đó là bối trần hợp giác. Như vậy là đúng rồi, nhưng ngài biết Song Phong còn ngờ vực nên lặp lại một cách khéo léo, để lòng tin của Song Phong được vững. Câu sau là câu xác nhận chắc chắn chỗ thấy của Song Phong.
Sư cùng một vị tăng nói đạo, bên cạnh có vị tăng thưa:
- Người nói là Văn-thù, người nín là Duy-ma.
Sư bảo:
- Người chẳng nói chẳng nín, đâu chẳng phải là ngươi?
Tăng lặng thinh. Sư bảo:
- Sao chẳng hiện thần thông?
Tăng thưa:
- Chẳng từ chối hiện thần thông, chỉ ngại Hòa thượng bắt vào dạy.
Sư bảo:
- Xét rõ chỗ đến của ngươi chưa có con mắt giáo ngoại biệt truyền.
Tăng nghe ngài nói chuyện đạo lý với người bên cạnh, mới xen vô để tỏ rằng ta đây cũng thâm nhập đạo lý nên nói, người nói là Văn-thù, người nín là Duy-ma. Ý câu này rút từ phẩm “Pháp môn bất nhị” trong kinh Duy-ma. Ngài hỏi người chẳng nói chẳng nín, đâu chẳng phải là ngươi. Như vậy ông là người không nói không nín phải chăng? Tăng lặng thinh chấp nhận. Ngài bảo, nếu ông tới đó thì hiện thần thông coi. Tăng nói hiện thần thông cũng được, nhưng sợ Hòa thượng bắt vô dạy. Vì hiện thần thông là chuyện bên ngoài. Ngài nói xét rõ chỗ đến của ngươi chưa có con mắt giáo ngoại biệt truyền. Ngươi nói như thế chứ chưa đến được.
Tăng hỏi:
- Ý vào cửa Thiền tông đốn ngộ thế nào?
Sư bảo:
- Ý này khó tột. Nếu người thượng căn thượng trí trong tông môn của Tổ phải một nghe ngàn ngộ được đại tổng trì. Căn cơ bậc này thật khó có. Còn hàng căn trí kém nhỏ, như cổ đức nói “Nếu chẳng an thiền tịnh lự đến đây trọn không biết gì cả”.
Tăng thưa:
- Trừ ngoài bậc đặc cách này, lại riêng có phương tiện khiến kẻ học được vào chăng?
Sư bảo:
- Có.
Tăng thưa:
- Thế nào là đúng?
Sư bảo:
- Ngươi là người xứ nào?
Tăng thưa:
- Người U Châu.
Sư bảo:
- Ngươi có nhớ xứ ấy chăng?
- Thường nhớ.
- Hay nghĩ nhớ là tâm, bị nghĩ nhớ là cảnh. Xứ ấy lầu đài vườn rừng người ngựa rộn ràng, ngươi xoay cái nhớ lại xem có nhiều thứ chăng?
- Con đến chỗ ấy tất cả đều chẳng thấy có.
- Ngươi hiểu còn ở tâm, tín vị thì phải, nhân vị thì chẳng phải.
Tăng thưa:
- Ngoài chỗ này, lại riêng có ý gì không?
Sư bảo:
- Riêng có riêng không khiến tâm ngươi chẳng an.
Tăng thưa:
- Đến chỗ đó thế nào mới đúng?
Sư bảo:
- Căn cứ chỗ hiểu của ngươi chỉ được một huyền, được ngồi mặc y, về sau tự xem.
Tăng lễ tạ lui ra.
Ngài nói người muốn vào cửa Thiền tông đốn ngộ thì phải một nghe ngàn ngộ. Nghe có một mà ngộ tới ngàn, làm sao nhiều vậy? Như chuyện bà già mất trâu. Bà nói, bạch Hòa thượng bói giùm con một quẻ, xem trâu của con còn hay mất, ngài kêu: Bà già! Bà dạ. Ngài nói: Còn đó! Nếu ngay đó bà ngộ thì tất cả tiếng kêu của các thiền sư bà đều biết. Nghe một cái đó mà ngộ thì biết hết cả ngàn cái, nên gọi là một nghe ngàn ngộ.
Chúng ta thì không được như vậy, nên nói hàng căn trí kém nhỏ, như cổ đức nói “Nếu chẳng an thiền tịnh lự đến trong đó trọn không biết gì cả”. Không phải bậc thượng căn thì phải an thiền tịnh lự tức là phải tọa thiền, phải lóng tâm. Được như vậy thì còn mong biết được đôi chút, nếu không thì trọn chẳng biết gì. Nên biết tập tọa thiền là phương tiện để tâm yên lặng, tâm lặng thì trí mới sáng.
Ông tăng này muốn ngài chỉ phương tiện để vào cửa Thiền tông đốn ngộ. Ngài hỏi ông là người ở đâu. Như tôi hỏi mấy chú ở đâu? Mấy chú nói con ở Châu Đốc. Ở Châu Đốc thấy những gì, nhớ những gì, chú kể coi? Kể nào bến đò, bến xe, nhà lầu, chùa chiền... cả trăm thứ. Cảnh thì có trăm ngàn thứ nhưng cái nhớ cảnh thì có mấy thứ? Cái nhớ đó con tìm thì nó mất tiêu.
Tăng nói con đến chỗ ấy tất cả đều chẳng thấy có. Như vậy để chỉ, nếu đừng mắc kẹt ở cảnh mà tìm lại cái hay biết cảnh, tìm lại thì tự nhiên nó hết. Tín vị là được niềm tin, còn thuộc về tâm, nên ngài nói hiểu còn ở tâm, chưa phải nhân vị. Theo Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế gọi là “đoạt cảnh chẳng đoạt nhân”. Đối với tam huyền của Lâm Tế thì được một huyền, cũng xứng đáng khoác y Sa-môn.
Sư trước ở Ngưỡng Sơn, sau dời về Quan Âm chỉ dạy Tăng chúng làm tiêu chuẩn cho Thiền tông. Còn vài năm tịch, Sư có làm bài kệ:
Niên mãn thất thập thất
Lão khứ thị kim nhật
Nhậm tánh tự phù trầm
Lưỡng thủ phan quật tất.
Dịch:
Năm đầy bảy mươi bảy
Chính là ngày tôi đi
Mặc tánh tự chìm nổi
Hai tay ngồi bó gối.
Khi Sư sắp tịch ở tại núi Đông Bình, có vài vị tăng đứng hầu, Sư nói kệ:
Nhất nhị nhị tam tử
Bình mục phục ngưỡng thị
Lưỡng khẩu nhất vô thiệt
Thử thị ngô tông chỉ.
Dịch:
Một hai hai ba con
Mắt thường lại ngước xem
Hai miệng một không lưỡi
Đây là tông chỉ ta.
Nói xong, Sư ngồi hai tay bó gối tịch, thọ 77 tuổi. Vua ban thụy Trí Thông thiền sư, tháp hiệu Diệu Quang.
Hai miệng một không lưỡi tức là hai miệng mà không có lưỡi, đó là tông chỉ của ngài, tông chỉ không lời. Ở Việt Nam chúng ta có thiền sư Vô Ngôn Thông, Sơ tổ thiền phái Vô Ngôn Thông, chính là bổn sư thế phát cho Ngưỡng Sơn. Từ nhỏ ở với thầy năm năm, chính Sư được ý chỉ từ đây.
Về niên đại của ngài, có thuyết là ngài sanh năm 814, 815, chúng ta đã thấy là không phù hợp rồi, huống nữa là sanh năm 840.
✵✵✵
THIỀN SƯ HƯƠNG NGHIÊM TRÍ NHÀN
Sư quê ở Thanh Châu, chán tục xuất gia, đi tham vấn các nơi. Khi ở chỗ tổ Bá Trượng, Sư tánh thức minh mẫn, tham thiền chẳng ngộ. Đến tổ Bá Trượng tịch, Sư theo tham học với Quy Sơn Linh Hựu.
Một hôm Quy Sơn bảo:
- Ta nghe ngươi ở chỗ tiên sư Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đó là ngươi thông minh lanh lợi, ý hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem?
Sư bị một câu hỏi này mờ mịt không đáp được. Trở về liêu, Sư soạn hết sách vở đã học qua, tìm một câu đáp trọn không thể có. Sư than: “Bánh vẽ chẳng no bụng đói!” Đến cầu xin Quy Sơn nói phá. Quy Sơn bảo:
- Nếu ta nói cho ngươi, về sau ngươi sẽ chửi ta; ta nói là việc của ta đâu can hệ gì đến ngươi?
Sư bèn đem những sách vở đã thu thập được đồng thời đốt hết. Sư nói:
- Đời này chẳng học Phật pháp nữa, chỉ làm tăng thường làm việc cơm cháo, khỏi nhọc tâm thần.
Sư khóc từ giã Quy Sơn ra đi.
Nói một câu khi cha mẹ chưa sanh. Ngài Hương Nghiêm bị một câu hỏi này mờ mịt không đáp được. Trở về liêu soạn hết sách vở đã học qua, tìm một câu đáp trọn không thể có. Ngài than: Bánh vẽ chẳng no bụng đói. Đến cầu Quy Sơn nói phá.
Thẳng đến Nam Dương chỗ di tích Quốc sư Huệ Trung, Sư trụ tại đây. Một hôm nhân cuốc cỏ trên núi, lượm hòn gạch ném trúng cây tre vang tiếng, Sư chợt tỉnh ngộ phá lên cười. Sư trở về tắm gội thắp hương nhắm hướng Quy Sơn đảnh lễ, ca tụng rằng:
- Hòa thượng từ bi ơn như cha mẹ, khi trước nếu vì con nói rồi thì làm gì có ngày nay.
Sư làm bài tụng:
Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu trì.
Động dung dương cổ lộ
Bất đọa thiểu nhiên ky (cơ).
Xứ xứ vô tung tích
Thanh sắc ngoại oai nghi.
Chư phương đạt đạo giả
Hàm ngôn thượng thượng ky (cơ).
Dịch:
Một tiếng quên sở tri
Chẳng cần phải tu trì.
Đổi sắc bày đường xưa
Chẳng rơi cơ lặng yên.
Nơi nơi không dấu vết
Oai nghi ngoài sắc thanh.
Các nơi bậc đạt đạo
Đều gọi thượng thượng cơ.
Bài tụng này, chúng ta xét kỹ cái hay ở chỗ nào? Nhất kích vong sở tri, tức là nghe một tiếng chạm vào cây trúc, liền quên hết hiểu biết. Cánh bất giả tu trì, lại chẳng nhờ tu gì hết. Động dung dương cổ lộ, dung tức là dung nhan, gương mặt vừa biến động thì đã bày đường xưa, như nói nheo mày, chớp mắt... đều hiện bày cái biết xưa. Bất đọa thiểu nhiên ky (cơ), không rơi cơ lặng yên. Nghĩa là chỗ thấy của ngài ngay trong hiện tại chứ không phải ngồi yên mới thấy. Xứ xứ vô tung tích, nơi nơi không có dấu vết. Thanh sắc ngoại oai nghi, thể của nó ngoài hình sắc tiếng tăm. Chư phương đạt đạo giả, hàm ngôn thượng thượng ky, những người thật đạt đạo đều gọi là cơ tối thượng. Như vậy cho thấy cái ngộ của ngài đúng là Tổ sư thiền.
Quy Sơn nghe được, nói với Ngưỡng Sơn:
- Kẻ này đã triệt ngộ.
Ngưỡng Sơn thưa:
- Đây là máy tâm ý thức trước thuật được, đợi con đến nơi khám phá mới chắc.
Ngưỡng Sơn đến thăm Sư, bảo:
- Hòa thượng khen ngợi sư đệ đã phát minh đại sự, thử nói tôi nghe?
Sư đọc bài tụng trước cho Ngưỡng Sơn nghe. Ngưỡng Sơn bảo:
- Đó là do trước kia học tập ghi nhớ mà thành, nếu thật chánh ngộ hãy làm bài tụng khác.
Sư nói tụng:
Khứ niên bần vị thị bần
Kim niên bần thủy thị bần
Khứ niên bần do hữu trác chùy chi địa
Kim niên bần chùy dã vô.
Dịch:
Năm xưa nghèo chưa thật nghèo
Năm nay nghèo mới thật nghèo
Năm xưa nghèo vẫn còn có đất cắm dùi
Năm nay nghèo dùi cũng không.
Ngưỡng Sơn bảo:
- Sư đệ ngộ Như Lai thiền mà chưa ngộ Tổ sư thiền.
Sư lại nói bài tụng:
Ngã hữu nhất ky (cơ)
Thuấn mục thị y
Nhược nhân bất hội
Biệt hoán Sa-di.
Dịch:
Ta có một ky (cơ)
Chớp mắt chỉ y
Nếu người chẳng hội
Riêng gọi Sa-di.
Ngưỡng Sơn gật đầu và về thưa lại Quy Sơn:
- Đáng mừng! Sư đệ Trí Nhàn đã ngộ Tổ sư thiền.
Ngộ Như Lai thiền mà chưa ngộ Tổ sư thiền. Câu này làm thiên hạ thắc mắc. Tại sao bài kệ này lại nói là Như Lai thiền, không phải Tổ sư thiền?
Đa số người học Phật nghe nói Như Lai thiền tưởng là bậc cao, Tổ sư thiền là bậc thấp. Không phải vậy, Như Lai thiền là thiền phổ thông, Phật dạy chung cho tất cả người tu. Nếu ai tu đến chỗ nhân ngã đều dứt hay thân cảnh đều không kẹt thì nhập quả vị A-la-hán. Nên câu cuối bài kệ nói, năm ngoái nghèo còn có đất cắm dùi, năm nay nghèo dùi cũng không, đúng với bài kệ thứ tám trong Mười mục chăn trâu. Tới đây trâu và chăn không còn, ngã ngã sở hết, được quả A-la-hán, đó là Như Lai thiền, chưa phải Tổ sư thiền. Phải hiểu chỗ này mới thấy sự sai biệt hai bên.
Sư lại nói bài tụng. Bốn câu hết sức là đơn giản. Ngã hữu nhất ky, ta có một cơ. Thuấn mục thị y, chớp mắt chỉ y tức trong chớp mắt là thấy y liền. Nhược nhân bất hội, biệt hoán Sa-di, nếu người chẳng hội, riêng gọi Sa-di. Chỗ chớp mắt thấy y là ngay hiện tiền mà thấy, không đợi qua trình độ tu chứng như các bậc thiền Như Lai. Ngay hiện tại thấy rõ như trước nói vừa đổi mặt liền bày nét xưa. Nếu người ngay đó mà chẳng hội thì riêng gọi Sa-di, cũng chỉ cái hiện tiền không đâu xa.
Ngưỡng Sơn gật đầu và về thưa lại Quy Sơn: Đáng mừng! Sư đệ Trí Nhàn đã ngộ Tổ sư thiền. Hai pháp thiền có giá trị đặc biệt riêng của nó, nếu người không nghiền ngẫm kỹ chỗ này rất dễ hoang mang. Tại sao bài kệ trước là ngộ Như Lai thiền, bài kệ sau lại nói ngộ Tổ sư thiền? Trước nói ngã pháp hay năng sở đều dứt thì ngang chỗ bặt dứt đó là Như Lai thiền. Bài sau nói ngay hiện tại trong chớp mắt, trong tiếng gọi mà thấy, đó là Tổ sư thiền.
Sau, Sư về trụ tại Hương Nghiêm, tăng chúng nghe danh kéo nhau đến tham vấn. Sư thượng đường:
- Đạo do ngộ mà đạt, chẳng tại ngữ ngôn, huống là thấy miên mật rỡ rỡ chưa từng cách rời, chẳng nhọc tâm ý. Tạm nhờ hồi quang phản chiếu, hàng ngày công dụng trọn vẹn, kẻ mê thì tự trái.
Ngài nói rõ ràng: Đạo do ngộ mà thấu suốt được chứ không phải ở tại ngôn ngữ, huống là cái này miên mật rỡ rỡ hiện tiền chưa cách rời bao giờ. Vì chưa cách rời nên khỏi phải nhọc tâm ý tìm kiếm đâu xa. Tạm nhờ hồi quang phản chiếu, tức là quay ánh sáng đó trở lại đừng cho chạy theo sáu trần. Hàng ngày có công dụng như thế dần dần được trọn vẹn. Người tu hồi quang phản chiếu là việc cần thiết. Hàng ngày chúng ta buông bỏ ánh sáng của mình, chạy theo cái tối bên ngoài, bây giờ mỗi niệm không chạy theo mà quay ánh sáng soi xét chính mình thì lâu ngày thuần thục đầy đủ. Kẻ mê thì trái sáng hợp tối, luôn chạy theo trần cảnh nên không thấy đạo. Chúng ta muốn mình tỉnh hay mê?
Tăng hỏi:
- Khi chẳng mộ chư thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào?
Sư đáp:
- Muôn cơ thôi bỏ, ngàn thánh chẳng đeo.
Khi ấy có Sơ Sơn ở trong chúng phát tiếng ụa, hỏi:
- Ấy là tiếng gì?
Sư hỏi:
- Ai đó?
Chúng thưa:
- Sư thúc.
Sư hỏi:
- Chẳng bằng lòng lão tăng sao?
Sơ Sơn bước ra nói:
- Phải.
Sư hỏi:
- Ngươi nói được chăng?
Sơ Sơn nói:
- Nói được.
- Ngươi thử nói xem.
- Nếu bảo tôi nói cần phải dùng lễ thầy trò mới được.
Sư liền bước xuống tòa lễ bái, hỏi lại câu trước. Sơ Sơn nói:
- Sao chẳng nói, khẳng (nhận) trọng chẳng được toàn.
Sư bảo:
- Ngươi nói thế ấy, ba mươi năm tiêu ngược, dù ở núi không có củi đốt, ở gần nước không có nước uống. Rõ ràng nhớ lấy!
(Sau Sơ Sơn bị bệnh mửa hai mươi bảy năm mới bớt, còn ba năm sau mỗi khi ăn xong cũng lấy tay móc cho mửa ra. Đúng như lời Hương Nghiêm thọ ký.)
Chỗ này có gì lạ? Hỏi rằng người mà ngoài không mộ chư thánh, trong chẳng trọng tánh linh là người thế nào? Ngài nói một câu cũng tương đối rõ, muôn cơ thôi bỏ, ngàn thánh chẳng mang tức là nếu được như vậy thì không còn gì để dính. Sơ Sơn không bằng lòng, lên tiếng “ụa” coi như mửa ra. Ngài hỏi ai, chúng nói sư thúc, tức là đàn em của ngài.
Sơ Sơn bảo nếu bảo tôi nói phải làm lễ thầy trò mới được. Ngài không tự ái liền bước xuống tòa đảnh lễ. Đảnh lễ rồi, tưởng nói sao: Khẳng trọng chẳng được toàn. Khẳng là nhận, trọng là quý trọng. Chẳng được toàn là không được hoàn toàn. Nguyên câu này có nghĩa là xem trọng thì không được toàn, có khác gì muôn cơ buông bỏ, ngàn thánh chẳng mang? Vậy mà bắt người ta lạy, nên ngài thọ ký cho, nói thế ấy thì ba mươi năm tiêu ngược, tức là đảo ngược chứ có gì lạ đâu! Mà đúng vậy, sau Sơ Sơn mửa hai mươi bảy năm mới bớt, còn ba năm nữa thì mỗi lần ăn xong phải lấy tay móc ra, đúng là ba chục năm.
Tăng hỏi:
- Thế nào là đạo?
Sư đáp:
- Trong cây khô trổi nhạc.
- Con chẳng hội.
Sư bảo:
- Tròng con mắt trong đầu lâu.
Hỏi:
- Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Hòa thượng nói? Sư đáp:
- Trước thợ săn chẳng được nói giới của Bổn sư.
Hỏi thế nào là đạo, ngài đáp trong cây khô trổi nhạc. Tăng không hiểu, ngài đáp thêm câu nữa tròng con mắt trong cái sọ khô. Sọ khô có tròng con mắt không? Trong cây khô có khúc nhạc không? Chúng ta quen tìm đạo ở nơi này nơi kia mà không biết đạo ở hiện tiền. Ngay trong thân vô thường sanh diệt đã có cái chân thật, nên nói trong cây khô trổi nhạc hay tròng con mắt trong đầu lâu cũng không khác câu hoa sen tươi trong lò lửa.
Nhưng khi Tăng hỏi ly tứ cú tuyệt bách phi thỉnh Hòa thượng nói. Lìa lý luận mà hỏi đạo, đó là chỗ không lời, nên ngài nói trước thợ săn chẳng được nói giới của Bổn sư. Trước thợ săn mà nói Phật dạy cấm sát sanh, được không? Chỉ vô ích.
Sư bảo chúng:
- Ví như người leo lên cây cao, dưới là vực thẳm ngàn thước. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi “Ý Tổ sư từ Ấn Độ sang”. Nếu mở miệng đáp thì mất mạng nát thân, bằng chẳng đáp thì phụ lòng người hỏi. Chính khi ấy phải làm sao?
Khi ấy có thượng tọa Chiêu bước ra thưa:
- Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thì thế nào?
Sư cười rồi thôi.
Ngài diễn tả một cảnh không thể nào mở miệng được. Như người leo lên cây cao, miệng cắn cành cây, dưới chân không có chỗ bám. Nếu có người hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, mở miệng đáp thì rớt nát thây, không đáp thì mích lòng người hỏi. Như vậy làm sao? Chắc phải chịu mích lòng, chứ không bao giờ dám mở miệng. Câu hỏi đó phần nhiều các Tổ hay đập hay đánh là vậy, vì mở miệng là đã trật rồi.
Khi ấy có thượng tọa Chiêu bước ra thưa: Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thì thế nào? Chưa leo lên mà người ta hỏi thì sao? Ngài cười rồi thôi, chỗ đó không mở miệng được.
Có vị tăng từ Quy Sơn đến, Sư hỏi:
- Những ngày gần đây Hòa thượng có dạy những câu gì?
Tăng thưa:
- Có người hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, Hòa thượng liền dựng đứng phất tử.
Sư hỏi tiếp:
- Trong ấy huynh đệ hiểu ý Hòa thượng thế nào? Tăng thưa:
- Trong ấy bàn với nhau rằng “chính nơi sắc mà rõ tâm, gá nơi vật mà hiển lý”.
Sư bảo:
- Hội thì liền hội, chẳng hội mắc kẹt nơi ấy chết gấp.
Tăng lại hỏi Sư:
- Ý Thầy thế nào?
Sư liền đưa phất tử lên.
Câu đó chỉ có thể làm thinh hoặc đưa phất tử lên hoặc đập một gậy, không có lời để nói. Ai dùng suy nghĩ để hiểu thì càng trật xa.
Sư có làm bài kệ:
Tử thốt mẫu trác
Tử giác mẫu xác
Tử mẫu câu vong
Ứng duyên bất thác.
Dịch:
Con kêu mẹ mổ
Con biết mẹ vỏ
Con mẹ đều quên
Hợp duyên chẳng lố.
Con kêu mẹ mổ: Đây là hình ảnh gà mẹ ấp trứng, khi gà con trong trứng tượng hình có đủ các bộ phận rồi, nó muốn chui ra thì ở trong nó kêu chíp chíp. Nghe tiếng kêu chíp chíp ở trong thì gà mẹ liền mổ vỏ bể để gà con chui ra.
Con biết mẹ vỏ, tức là con vừa biết kêu thì mẹ liền làm bể vỏ trứng.
Con mẹ đều quên, tức là con và mẹ đều quên hết.
Hợp duyên chẳng lố, chẳng còn ở hai bên, tùy duyên mà giáo hóa không lầm lẫn.
Đây nói gà con với gà mẹ giống như học trò với ông thầy. Học trò khi thấy đạo, trình bày chỗ sở ngộ thì thầy liền ấn chứng cho, cũng như gà con kêu thì gà mẹ mổ vỏ. Tông Quy Ngưỡng gọi là “sư tư tương hội” tức là thầy trò hợp nhau.
Sư tùy cơ dạy chúng những lời đơn giản, và có làm trên hai trăm bài tụng đối cơ ứng dụng không theo quy luật, các nơi truyền bá rất thạnh.
Chúng ta học đạo rồi cảm thấy hổ thẹn vì chưa xứng đáng. Người tu phải bối trần hợp giác mà chúng ta mải chạy theo trần, đó là bổn phận chưa tròn, chưa xứng. Đã chưa tròn chưa xứng mà cứ nhận người lạy cúng dường, có hổ thẹn không? Nếu hàng ngày mình bối trần hợp giác thì lãnh bao nhiêu cũng được, tiêu muôn lượng vàng ròng cũng xong. Hiểu rồi mới thấy cái yếu cái dở của chúng ta.
Đúng theo tinh thần người tu là hàng ngày phải bối trần hợp giác, bao nhiêu thanh sắc đều không dính... Nhưng chúng ta vẫn còn bối giác hợp trần, cảnh đến thì dính như keo, chưa xứng đáng với người đi ngược con đường thế tục. Như vậy ngang đây phải biết hổ thẹn, nhớ luôn luôn bối trần. Hôm nào huynh đệ thử kêu tên chửi mà mình vẫn cười không dính mắc, lúc đó là đi ngược với trần. Nếu mới nói nặng một câu mà đỏ mặt đỏ mày thì vẫn còn hợp trần lắm. Tu phải thực tu, có vậy mới được.
Câu hỏi: Bạch Hòa thượng, trong chỗ ngài Hương Nghiêm thọ ký cho Sơ Sơn phải bị ói ba mươi năm, như vậy có trái lòng từ bi không?
Trả lời: Không phải ngài Hương Nghiêm nói với tâm ác. Vì hành động của Sơ Sơn là do nghiệp khiến như vậy, nên ngài nói theo nghiệp của Sơ Sơn, đâu phải do thọ ký mà bị bệnh. Như thời Phật có những vị Tỳ-kheo tạo nghiệp dữ, Phật thọ ký đọa địa ngục. Đó là do nghiệp lực, không phải do Phật thọ ký. Cũng có các vị tu tới cỡ nào rồi Phật thọ ký cho bao nhiêu đời nữa thành Phật. Đó là do Phật thọ ký mà thành Phật hay do sức tu của vị đó? Do sức tu. Cũng vậy, việc này do nghiệp của Sơ Sơn khiến như thế, thiếu gì cách nói nhưng ông lại lên tiếng “ụa”. Ngài Hương Nghiêm thấy trước cái nghiệp mà thọ ký vậy thôi, không phải vì thọ ký mà Sơ Sơn bị bệnh.
✵✵✵
THIỀN SƯ THƯỜNG THÔNG
ở núi TUYẾT ĐẬU
(834 - 905)
Sư họ Lý quê ở Hình Châu, vào núi Thước xuất gia. Năm hai mươi tuổi, Sư trở về chùa Khai Nguyên ở bản châu thọ giới, ở đây học kinh luật bảy năm.
Sư tự than:
- Ma-đằng sang Hán dịch ra văn này, Đạt-ma đến Lương nói rõ việc gì?
Ngài học kinh bảy năm rồi lại tự than rằng: Ma-đằng sang Hán dịch ra văn này, Đạt-ma đến Lương nói rõ việc gì? Văn này là văn gì? Theo lịch sử Phật giáo Trung Hoa, hai ngài Ma-đằng và Trúc Pháp Lan là người đầu tiên sang Trung Hoa dịch kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán, vậy nói văn này là chỉ cho văn kinh. Kinh thì đã được học nhưng Đạt-ma đến Lương tức là tổ Đạt-ma khi sang Trung Hoa, đầu tiên đến nước Lương, nói về thiền nhưng chưa biết nói rõ việc gì. Vì thế ngài phát tâm đi tham vấn các thiền sư để tìm cho ra lý thiền.
Sư bèn cất bước du phương, đến tham vấn Hòa thượng Trường Sa. Trường Sa hỏi:
- Ngươi người ở xứ nào?
Sư thưa:
- Ở Hình Châu.
- Ta bảo chẳng phải từ kia đến.
- Hòa thượng đã từng ở đây chăng?
Trường Sa chấp nhận, cho vào thất.
Câu hỏi và đáp có đạo lý gì không? Hỏi Ngươi người ở xứ nào, như tôi hỏi mấy chú người ở xứ nào, có chú nói ở An Giang, có chú nói ở Sa Đéc... Đáp như vậy là việc thường, nhưng ngài Trường Sa nói thêm Ta bảo chẳng phải từ kia đến. Câu nói đó có ý nghĩa gì? Người ở Hình Châu đến là con người hiện thực của ông, còn cái kia không phải từ đó đến. Ngài Thường Thông liền hỏi lại: Hòa thượng đã từng ở đây chăng? Nếu vậy Hòa thượng đã từng ở đó chăng? Ngay đó ngài Trường Sa thấy ông tăng này có tinh thần gần với đạo, nên ngài chấp nhận cho vào thất. Trong nhà thiền, hàng đệ tử nhập thất là hàng căn cơ lanh lợi.
Sau, Sư đến Động Sơn, Thạch Sương, thấy pháp không có vị khác. Khoảng cuối niên hiệu Hàm Thông (860-874), Sư dạo Tuyên Thành, Quận thú lập Thiền uyển nơi núi Tạ Tiên để hiệu Thụy Thánh Viện thỉnh Sư trụ trì. Tăng chúng tìm đến tham vấn.
Sau ngài đến Động Sơn tham vấn, đến Thạch Sương tham vấn nhưng ở những nơi đó thấy không có gì khác hơn chỗ của ngài đã thấy. Ngài trở về nhận trụ trì.
Tăng hỏi:
- Thế nào là mật thất?
Sư đáp:
- Chẳng thông tin tức.
Tăng hỏi:
- Thế nào là người trong mật thất?
Sư đáp:
- Các thánh tìm xem chẳng thấy.
Lại nói:
- Ngàn Phật không thể nghĩ, muôn thánh chẳng thể bàn, càn khôn hoại mà không hoại, hư không bao mà chẳng bao, tất cả so sánh không bằng, ba đời xướng mà chẳng khởi.
Khi ngài đã là trụ trì, có Tăng đến hỏi: Thế nào là mật thất? Mật thất là thất kín. Ngài trả lời: Chẳng thông tin tức. Câu trả lời dễ hiểu, vì nếu thất kín thì chẳng có gì lọt vào. Khi Tăng hỏi, thế nào là người trong mật thất? Ngài đáp: Các thánh tìm xem chẳng thấy. Không chỉ thánh thôi mà ngàn Phật không thể nghĩ, muôn thánh chẳng thể bàn, càn khôn hoại mà người trong thất không hoại, hư không bao bọc mà cũng không bao bọc được người trong thất đó, tất cả đều không sánh bằng, ba đời xướng mà chẳng khởi. Xướng tức là đề lên, dù có kêu gọi đề khởi cũng không động. Người trong mật thất là người nào? Chúng ta có người trong mật thất không? Nếu có thì liền biết người đó ở đâu.
Khoảng niên hiệu Quang Khải (885-888) giặc cướp nổi loạn, Sư đem đồ chúng đến Tứ Minh. Đến niên hiệu Đại Thuận năm thứ hai (891), Quận thú thỉnh Sư ở núi Tuyết Đậu, ở đây sự giáo hóa được hưng thịnh.
Niên hiệu Thiên Hựu năm thứ hai (905) tháng bảy, Sư có chút ít bệnh, nhóm chúng thắp hương phó chúc xong, chắp tay thị tịch, thọ 72 tuổi.
Ở đây ngài không có gì đặc biệt lắm, chỉ một vài đoạn đối đáp. Ngài là đệ tử của ngài Trường Sa, Trường Sa là đệ tử của ngài Nam Tuyền. Hệ thống của Lục Tổ chia làm hai chi: chi phái Hoài Nhượng và chi phái Hành Tư. Từ ngài Hoài Nhượng truyền xuống Mã Tổ. Mã Tổ truyền xuống Nam Tuyền. Đến ngài Thường Thông là đời thứ năm sau Lục Tổ.
✵✵✵
NI LIỄU NHIÊN ở MẠT SƠN
(? -?)
Hòa thượng Quán Khê Nhàn đi du phương đến núi này, tự nói: “Nếu khế hợp thì ở, chẳng vậy thì xô ngã giường thiền.” Nhàn vừa vào tăng đường, Liễu Nhiên sai thị giả đến hỏi:
- Thượng tọa du phương đến hay vì Phật pháp đến?
Nhàn đáp:
- Vì Phật pháp đến.
Các thiền sư tăng thì lịch sử ghi rất rõ sanh ở đâu? Năm nào? Học trò của ai? Đi tham vấn hiểu đạo ra sao? Còn đây thiền sư ni Liễu Nhiên này là đệ tử của ngài Đại Ngu, mà sách sử không nói gì, không nói sanh năm nào, ở đâu. Sở dĩ có ghi được đoạn này là nhờ ngài Quán Khê Nhàn, đệ tử của ngài Lâm Tế, cũng là một thiền sư nổi danh đi tham vấn các nơi. Bởi có ngài tới đây nên mới ghi chuyện đối đáp với ni Liễu Nhiên, nếu ngài không đến chắc không ai nhắc tới. Lệ thường hồi xưa trọng nam khinh nữ là như vậy.
Khi thiền sư Nhàn ở Quán Khê đến chỗ ni Liễu Nhiên, ngài là trụ trì ở núi Mạt Sơn, nên khi tới thì ngài sai thị giả hỏi: Thượng tọa đi du phương đến, hay vì Phật pháp đến? Tới chùa là đi xem cảnh chơi hay đi hỏi đạo lý? Thiền sư Quán Khê Nhàn nói tôi tới đây vì Phật pháp.
Liễu Nhiên lên tòa, Nhàn đến tham. Liễu Nhiên hỏi:
- Hôm nay Thượng tọa rời ở đâu đến?
Nhàn đáp:
- Rời cửa đường đến.
Liễu Nhiên bảo:
- Sao chẳng đậy lại?
Nhàn không đáp được, mới lễ bái hỏi:
- Thế nào là Mạt Sơn?
Liễu Nhiên đáp:
- Chẳng bày đảnh.
Nhàn hỏi:
- Thế nào chủ Mạt Sơn?
Nhiên đáp:
- Chẳng phải tướng nam nữ.
Nhàn nạt rằng:
- Sao chẳng biến đi?
Nhiên đáp:
- Chẳng phải thần chẳng phải quỷ, biến cái gì?
Nhàn mới kính phục, ở lại làm Tri viên ba năm.
Vì Phật pháp nên ngài lên tòa bắt đầu xổ cờ ra trận. Ngài hỏi ngài Quán Khê: Hôm nay Thượng tọa rời ở đâu đến? Nếu thông thường thì nói tôi ở chỗ nào đó, nhưng ngài Quán Khê muốn khám nghiệm nên nói: Rời cửa đường đến. Như đường cái có ngã ba, ngã tư thì đầu đường gọi là cửa đường.
Ni Liễu Nhiên bảo: Sao chẳng đậy lại? Sao không đậy cửa đó lại? Ông thầy bí đáp không được, bèn lễ bái. Như thế đã phá lệ rồi. Theo luật Phật dạy, vị ni một trăm tuổi hạ gặp Tỳ-kheo tăng mới thọ giới cũng phải lễ bái. Ở đây Thượng tọa bế tắc, đáp không được phải lễ bái ngược lại, rồi hỏi: Thế nào là Mạt Sơn? Đó là cách dọ dẫm người. Ngài liền đáp: Chẳng bày đảnh. Núi này cao chót vót không thấy đảnh, ý nói cơ phong rất cao. Nhàn hỏi: Thế nào là chủ Mạt Sơn, Ni liền đáp: Chẳng phải tướng nam nữ. Ngài là người nữ, khi hỏi chủ Mạt Sơn thì người ta cứ tưởng ngài là chủ vì trụ trì ở đó, nhưng ngài nói rõ Chẳng phải tướng nam nữ.
Ngài Quán Khê liền nạt: Sao chẳng biến đi? Nếu không phải là nam là nữ thì có lẽ là quỷ thần, vậy thì biến đi. Ngài đáp: Chẳng phải thần, chẳng phải quỷ, biến cái gì? Cái đó không phải tướng nam nữ cũng không phải thần quỷ, đừng bảo nó biến. Nhàn mới kính phục ở lại làm Tri viên ba năm.
Khi Quán Khê đi du phương đến Mạt Sơn, ngài nói tới đây hỏi đáp không xong thì xô ngã giường thiền, tức là dẹp mất danh tiếng Mạt Sơn. Nếu hỏi đáp được thì sẽ ở lại làm Tri viên ba năm. Bây giờ thua rồi nên ở lại làm Tri viên.
Có vị tăng đến tham vấn, Nhiên bảo:
- Rất lam lũ vậy?
Tăng đáp:
- Tuy nhiên như thế vẫn là sư tử.
Nhiên bảo:
- Đã là sư tử, vì sao bị Văn-thù cưỡi?
Tăng không đáp được.
Vị tăng ăn mặc có vẻ xốc xếch hay là lam lũ rách rưới. Ngài nói: Rất lam lũ vậy? Vị tăng này nói: Tuy bên ngoài dáng lam lũ chứ gốc là sư tử. Đã là sư tử, vì sao bị Văn-thù cưỡi? Truyền thuyết Bồ-tát Văn-thù cưỡi sư tử, Tăng tự xưng sư tử mà bị một câu nói, đáp không được.
Tăng hỏi:
- Thế nào là tâm cổ Phật?
Nhiên đáp:
- Thế giới nghiêng đổ.
Tăng hỏi:
- Thế giới vì sao nghiêng đổ?
Nhiên đáp:
- Trọn không thân ta.
Tâm cổ Phật là tâm của chư Phật từ ngàn xưa sẵn có, cũng là chỉ cho ông Phật sẵn muôn đời của mình và của mọi người. Ông Phật đó không bị tất cả tướng sanh diệt che lấp, mà ngược lại hay làm chủ tất cả tướng sanh diệt. Tâm cổ Phật là chỗ không còn cảnh không còn người, vì thế hỏi tâm cổ Phật thì ngài trả lời thế giới nghiêng đổ, là không còn cảnh. Hỏi tại sao nghiêng đổ, trả lời trọn không thân ta, là không còn người. Như vậy còn thấy có ngã có pháp thì thấy được cổ Phật không? Bởi không còn ngã không còn pháp, đó mới là cổ Phật.
Tra khảo nơi bản khác thì thấy ngài có làm bài kệ Pháp thân:
Ngũ uẩn sơn đầu cổ Phật đường,
Tỳ-lô trú dạ phóng hào quang.
Nhược năng ư thử phi đồng dị,
Tức thị Hoa Nghiêm biến thập phương.
Dịch:
Chót núi năm uẩn nhà Phật xưa,
Pháp thân hằng lúc phóng hào quang.
Nếu hay nơi ấy không đồng dị,
Quả thật Hoa Nghiêm khắp mười phương.
Ngũ uẩn sơn đầu cổ Phật đường, tức là trên đầu núi năm uẩn có nhà Phật xưa. Chúng ta có thân năm uẩn này, trong đó có ngôi nhà Phật xưa. Tất cả núi năm uẩn đều có Phật, Phật đó hiện ra như thế nào?
Tỳ-lô trú dạ phóng hào quang. Tỳ-lô tức là Tỳ-lô-giá-na chỉ cho pháp thân. Pháp thân ngày đêm luôn phóng hào quang. Hào quang sáng suốt phóng khắp thân, hào quang ở mắt tai mũi lưỡi thân ý, suốt đêm ngày không lúc nào dừng. Hai câu này ý nói tất cả chúng ta đều có pháp thân lồng ở trong thân năm uẩn. Pháp thân đó lúc nào cũng phóng hào quang ra sáu cửa không thiếu. Vì vậy chúng ta tin chắc nơi mình sẵn có pháp thân.
Nhược năng ư thử phi đồng dị. Nếu hay nơi đây mà không thấy có đồng dị, tức là thấy hai bên. Người nào phá được cái chấp bên này bên kia, không thấy có đồng dị, không còn phải quấy, tốt xấu, đúng sai... chấp hai bên chấm dứt thì sao? Tức thị Hoa Nghiêm biến thập phương. Hoa Nghiêm tức là kinh Hoa Nghiêm, trong đó phẩm quan trọng nhất là Nhập Pháp giới. Nói về Hoa Nghiêm là nói về pháp giới. Như vậy câu thứ tư này nói tánh pháp giới trùm khắp mười phương. Hai câu sau nói lên cái dụng của người tu.
Nếu người biết trong thân sẵn có Phật xưa luôn phóng ánh sáng. Ngay đây đừng khởi niệm phân biệt đối đãi hai bên. Niệm phân biệt đối đãi hai bên dứt rồi thì pháp giới tánh hay là Hoa Nghiêm tánh sẽ trùm khắp cả mười phương.
Phần tiểu sử của thiền sư ni Liễu Nhiên tuy ngắn gọn nhưng bài kệ rất đầy đủ ý nghĩa. Ngài Liễu Nhiên nối pháp thiền sư Đại Ngu, thuộc hàng đệ tử đời thứ năm sau Lục Tổ.
✵✵✵
THIỀN SƯ ĐỨC SƠN TUYÊN GIÁM
(780 - 865)
Sư họ Chu quê ở Kiếm Nam, Giản Châu, xuất gia lúc hai mươi tuổi, cũng năm ấy thọ giới Cụ túc. Sư nghiên cứu tinh thâm Luật tạng, thông suốt chỉ thú các kinh thuộc Tánh tông và Tướng tông. Vì thường giảng kinh Kim Cang Bát-nhã, nên thời nhân gọi Sư là Chu Kim Cang. Sư thường nói với đồng học: “Một sợi lông nuốt bể cả, tánh bể không thiếu; hạt cải nhỏ ném trên mũi nhọn, mũi nhọn chẳng động, học cùng không học chỉ có ta biết thôi.”
Ông già Đức Sơn thật là gay cấn, đọc tiểu sử ngài nếu không khéo thì chúng ta sẽ giật mình rởn óc.
Ngài Đức Sơn là một người đã từng tham học kinh luật luận. Về luật thì ngài tinh thâm, về kinh ngài thông cả Tướng tông và Tánh tông. Tánh tông ở đây có thể là Không tông, vì kinh Kim Cang Bát-nhã thuộc về Không tông mà ngài thông cả hai, bên Tướng tông và Không tông. Ngài diễn đạt chỗ thấy hiểu của mình bằng câu Một sợi lông nuốt bể cả, tánh bể không thiếu, đứng về mặt tánh Không, thì tất cả pháp không có lớn nhỏ. Sợi lông trên hình tướng là nhỏ, biển cả là lớn, nhưng trên tánh không thì tánh không của sợi lông, tánh không của biển cả không có lớn nhỏ, cho nên dung nhau. Hạt cải nhỏ ném trên mũi nhọn, mũi nhọn chẳng động, mũi nhọn đây cũng có nghĩa là chót núi. Trên tánh thì nhỏ như sợi lông có thể nuốt biển cả, nhỏ như một hạt cải có thể trùm cả một quả núi. Học, không học chỉ có ta biết thôi, những điều đó tự mình nhận, trên tánh thì không có hơn thua, lớn nhỏ.
Nghe phương Nam Thiền tông thạnh hành, Sư bất bình nói: “Kẻ xuất gia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật, còn chẳng được thành Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”. Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giống ấy để đền ơn Phật.” Sư bèn khăn gói lên đường mang theo bộ Thanh Long Sớ Sao, ra khỏi đất Thục, nhắm Lễ Dương tiến bước.
Ngài Đức Sơn là một con người kỳ đặc, đây là chỗ chúng ta phải lưu tâm. Thường nếu chúng ta là người tự mãn thì mình hiểu đạo tu yên thân là đủ rồi, chung quanh ai sao thì mặc họ, hay nhờ dở chịu, không can dự gì đến ta. Nhưng với ngài Đức Sơn, khi hiểu Phật pháp rồi, thấy Phật pháp là chân lý là cứu cánh, ba tạng kinh luật luận là tối ưu, vậy mà giờ đây những người tu thiền lại nói khác với kinh luật. Kinh nói người xuất gia phải trải qua ba vô số kiếp tu mới thành Phật. Thiền tông lại nói trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật dễ quá. Như vậy là trái với kinh, trái lời Phật nói, là ma nói. Vì thế ngài nhất định phải quảy gánh kinh đi dẹp bọn ma này, ruồng đuổi tận hang ổ, diệt hết họ để đền ơn Phật. Nhiệt tình của ngài là khi mình thấy điều hay mà người khác làm trái ngược thì nhất định phải làm sao dẹp cái dở đó, không thể để mặc họ làm gì thì làm. Nhiệt tình đặc biệt của ngài Đức Sơn, chúng ta sẽ thấy qua những việc làm sau này của ngài.
Trên đường, Sư gặp một bà già bán bánh, bèn dừng nghỉ chân và bảo bà lấy ít bánh điểm tâm. Bà già chỉ gánh của Sư hỏi:
- Gói ấy là sách vở gì?
Sư bảo:
- Thanh Long Sớ Sao.
Bà hỏi:
- Thầy thường giảng kinh gì?
Sư đáp:
- Kinh Kim Cang.
Bà nói:
- Tôi có một câu hỏi, nếu Thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp chẳng được, mời Thầy đi nơi khác. Kinh Kim Cang nói “quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”, xin hỏi Thượng tọa điểm tâm nào?
Sư đáp không được, bèn hỏi đường lên Long Đàm.
Lúc đầu, ngài có vẻ ngạo nghễ khinh mạn, bà già bán bánh mà có giá trị gì, phải không? Mình là người thông kinh luận, bà hỏi một câu có gì mà sợ? Bà già rất kỹ, thấy gói kinh hỏi kinh gì, rồi hỏi Thầy giảng kinh gì. Nếu như chúng ta bất thần nghe nói giảng kinh Kim Cang thì cũng không biết hỏi sao, vì không thuộc kinh. Còn bà thuộc kinh Kim Cang nên đem ra hỏi. Kinh Kim Cang nói quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Tâm quá khứ đã qua tìm không được, tâm vị lai chưa đến cũng không thể được, còn tâm hiện tại sanh diệt từng phút từng giây, cũng không thể được. Ba thời tìm tâm đều không thể được mà ông nói điểm tâm là điểm tâm nào?
Nghe bà già hỏi ngài đứng sựng, ngỡ ngàng quá nên mới hỏi gần đây có thiền sư không? Bà già chỉ đường lên núi Long Đàm là chỗ thiền sư Sùng Tín. Bây giờ ngài mới bớt kiêu khí tìm đến Long Đàm.
Đến pháp đường gặp Long Đàm, Sư nói:
- Lâu nay nghe danh Long Đàm, đi đến nơi Đàm (đầm) chẳng thấy, mà Long (rồng) cũng không hiện. Sùng Tín bảo:
- Ngươi đã gần đến Long Đàm.
Sư không đáp được, liền dừng lại đây.
Bên đường gặp bà già bị chinh phục một lần, bây giờ tới ngay Long Đàm, câu nói của Long Đàm dễ quá, nhưng tại sao ngài đáp không được? Theo thuật của nhà thiền, mới đến gặp vị nào thì người ta hay dùng phương tiện hạ uy tín người đó trước để thử coi dáng vẻ người đó ra sao. Có sân hay bực bội không? Nên nói, Lâu nay nghe danh Long Đàm, đi đến nơi Đàm chẳng thấy, mà Long cũng chẳng hiện. Nghe danh Long Đàm đã lâu mà tới đây thì thấy tầm thường quá không có gì. Ngài Long Đàm chỉ nói rằng: Ngươi đã gần đến Long Đàm, câu đó làm ngài phục. Phục ở chỗ nào?
Theo kinh giáo, Bồ-tát tu hành đến chỗ buông cả ngã và pháp. Đức Sơn nói không thấy đầm là pháp, không thấy rồng là ngã, nên ngài Long Đàm nói nếu ông không còn thấy có ngã có pháp thì gần ta rồi, như vậy không phải Bồ-tát là gì? Phải lanh lợi mới nhận ra chỗ này. Mang kinh sách đi chinh phục người mà tới đây ngược lại bị người chinh phục. Một bà lão bán bánh, rồi đến gặp thiền sư nói cho một câu là bó tay đầu hàng. Dừng lại đây tức là xin làm đệ tử, nhưng với nhiệt tình đó nên khao khát mong sao sớm được thầy khai ngộ.
Một đêm Sư đứng hầu. Sùng Tín bảo:
- Đêm khuya sao chẳng xuống?
Sư kính chào bước ra, lại trở vào, thưa:
- Bên ngoài tối đen.
Sùng Tín thắp đèn cầy đưa Sư. Sư toan tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó Sư đại ngộ, liền lễ bái. Sùng Tín hỏi:
- Ngươi thấy cái gì?
Sư thưa:
- Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Lão hòa thượng trong thiên hạ.
Hôm sau Sùng Tín lên tòa bảo chúng:
- Trong chúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vót dựng lập đạo của ta.
Sư đem bộ sớ sao chất đống trước pháp đường nổi lửa đốt, nói:
- Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu ở đời như một giọt nước gieo trong hồ lớn.
Sư lễ từ Sùng Tín đi du phương.
Lúc ngài mới ra đi thì thấy kinh điển là chân lý, là vàng ngọc không thể rời nên đi đâu cũng quảy theo. Đến khi ngộ rồi thì liền đốt hết, như vậy còn nhiệt tình không? Khi trước thiết tha bao nhiêu thì bây giờ thấy sai rồi ngài liền dứt khoát dẹp hết, không vì sự thiết tha buổi đầu mà tiếc nuối.
Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không. Tất cả biện luận siêu huyền dù hay khéo tột đỉnh cũng là lời nói bên ngoài. Cái chân thật đó nói không đến, vì thế nói như một sợi lông ném trong hư không. Hết sạch các trọng yếu ở đời, những gì gọi là quan trọng ở đời đối với cái đó chẳng khác nào một hạt nước gieo vào trong hồ lớn, không thấm vào đâu. Người thấy được sống được với cái đó rồi thì không còn thấy gì quan trọng ở trên đời nữa. Tất cả thứ thiên hạ cho là quan trọng đều là tướng vô thường sanh diệt. Danh lợi tài sắc... đều là giả tướng sanh diệt, được đó rồi mất đó, có còn mãi không? Cái chân thật này muôn đời không mất, thấy được rồi nhìn lại mấy cái kia không ra gì. Người tu khi nhận được cái này rồi, đối với danh lợi tài sắc mới xem thường, nếu chưa nhận được thì cũng mang thân vô thường chạy theo cảnh vô thường. Cuối cùng kết quả tất cả đều là vô thường, không đi đến đâu.
Đến Quy Sơn, Sư vào pháp đường từ phía tây đi qua phía đông, lại từ phía đông sang phía tây, hỏi:
- Có chăng? Có chăng?
Quy Sơn ngồi lặng lẽ không ngó tới. Sư nói:
- Không, không.
Liền đi thẳng ra cửa, tự nói:
- Tuy nhiên như thế cũng chẳng đặng thô xuất.
Sư bèn đầy đủ oai nghi đi trở vào. Vừa bước qua cửa, Sư đưa tọa cụ lên, gọi:
- Hòa thượng!
Quy Sơn toan nắm phất tử, Sư liền hét, phủi áo ra đi.
Chiều, Quy Sơn hỏi Thủ tọa:
- Vị tăng mới đến khi sáng còn ở chăng? Thủ tọa thưa:
- Ngay khi đó, y trở ra pháp đường mang giày cỏ đi luôn.
Quy Sơn bảo:
- Gã ấy về sau, lên tận ngọn núi cao, cất am cỏ ở, để rồi quở Phật mắng Tổ.
Giai đoạn ngài đi du phương đến Quy Sơn. Người xưa khi thấy hành động liền biết người đó sau kết quả thế nào. Thường khi tới Quy Sơn thì người ta đảnh lễ để hỏi, còn ngài tới thì đi đông qua tây, rồi tây qua đông. Đó là đã trình ông chủ, như Ngưỡng Sơn trình ông chủ với ngài Quy Sơn để xem Quy Sơn có thái độ nào? Ngài Quy Sơn làm thinh, nên Đức Sơn hỏi: Có chăng? Có chăng? Ngài Quy Sơn làm thinh, Đức Sơn lại nói: Không, không. Rồi đi ra cửa. Tuy nhiên như vậy chưa được, phải đủ oai nghi vô trở lại để coi sao. Ngài đầy đủ oai nghi bước vào, vừa tới cửa đưa tọa cụ lên gọi Hòa thượng. Ngài Quy Sơn ngay đó mới ra tay, vừa sửa soạn nắm phất tử, Đức Sơn hét một tiếng phủi áo ra đi. Chưa đợi phất tử đưa lên, ngài đã hét rồi đi, chỗ thấy của ngài nhanh như lằn chớp, không cần nói là biết thêm. Ngài Quy Sơn biết con người kỳ đặc nên thọ ký gã này sau sẽ quở Phật mắng Tổ.
Sư dừng lại Lễ Dương ba chục năm. Gặp lúc Đường Võ Tông phế giáo, Sư tỵ nạn ở một mình trong thạch thất tại Phù Sơn. Đến thời Đại Trung năm đầu (847), thái thú Vũ Lăng tên Tiết Đình Vọng tái trùng tu tịnh xá Đức Sơn để hiệu là Cổ Đức thiền viện, tìm kiếm những vị đạo hạnh trụ trì. Nghe tiếng Sư, Đình Vọng nhiều phen đến thỉnh, Sư chẳng chịu xuống núi. Đình Vọng lập kế, lấy trà, muối đến phao vu Sư phạm cấm pháp, điệu Sư về Châu chiêm lễ. Đình Vọng cố thỉnh cho được Sư ở Đức Sơn. Sau cùng Sư chấp nhận. Ở đây Sư xiển dương tông phong rất thạnh.
Sư dừng lại Lễ Dương ba chục năm. Tuy thấy biết như vậy mà phải dừng trụ ba chục năm, không phải như chúng ta ở một hai năm, mà than sao con chưa hết vọng tưởng? Gặp lúc Đường Võ Tông phế giáo, Sư tỵ nạn ở một mình trong thạch thất tại Phù Sơn. Thời gian đó ngài ở một mình trong thạch thất ba mươi năm.
Lúc sau, Thái thú muốn thỉnh ngài tại sao dùng trà, muối để phao vu? Hồi xưa thường có tiếng đi bán muối lậu, nếu người nào chứa muối hay trà nhiều mà không khai báo thì gọi là mắc tội bán đồ lậu, vì vậy phao vu để rước ngài về chứ không có gì lạ.
Sư thượng đường bảo chúng:
- Nơi mình vô sự thì chớ vọng cầu, vọng cầu mà được cũng chẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự thì hư mà linh, không mà diệu.
Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Còn có mảy may nghĩ nhớ, là nghiệp nhân tam đồ. Bất chợt sanh tình (vọng khởi) là muôn kiếp bị khóa kín (địa ngục). Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó, mà không bị lụy sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều là vô ích.
Bao nhiêu đó đủ cho chúng ta tu. Nơi mình vô sự là ngồi không chơi hoài, phải không? Vô sự là không vọng cầu. Vọng cầu mà được cũng chẳng phải được, vọng cầu mà được là cái vô thường biến hoại, nên được mà không phải được. Chỉ cần vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự. Nghĩa là trong tâm mình thì rỗng thênh không có việc, không có vấn đề, đối với cảnh ngoài thì tâm không dính với cảnh. Trong không niệm khởi, ngoài không đuổi theo cảnh, bao nhiêu đó đủ để tu suốt đời.
Có lúc nào trong lòng chúng ta không chứa một cái gì không? Không chứa mà rồi ở đâu nó chạy ra! Theo kinh giáo nói tu phải qua nhiều ngôi vị, theo tinh thần thiền tông thì chỉ một việc nơi tâm vô sự, không có vấn đề nào làm cho nó mờ tối. Nếu khi tâm vô sự thì hư mà linh, nghĩa là rỗng mà sáng, không mà diệu, thấy như không có mà nhiệm mầu. Đây là chỗ rất quan trọng, trong không tâm, ngoài không theo cảnh, lúc đó rỗng suốt mà sáng rỡ, không việc gì không thông. Đó mới thực là sống với ông chủ của mình. Chúng ta hiện nay sống với ai? Sống với đám lâu la ở ngoài, phải không? Nó dẫn mình chạy đầu này đầu kia… hết cái này sanh, cái kia diệt, có khi thì mang tướng hiền thánh hiện vô, có khi mang tướng ma quái. Hiện đủ thứ cảnh, dẫn chúng ta chạy cả sáng đến chiều, luôn cả tối không cho yên lúc nào. Vì thế mà lặn lội trong luân hồi.
Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Thực ra có một lời gì khác cũng là dối gạt, cái gốc chỉ chừng ấy, vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự, đó là cái gốc. Còn có mảy may nghĩ nhớ, là nghiệp nhân tam đồ. Vừa còn có nghĩ cái này nhớ cái kia là nghiệp tam đồ. Bất chợt sanh tình là muôn kiếp bị khóa kín. Bất chợt dấy niệm sanh tình chấp là muôn kiếp bị đóng kín trong hầm vô minh không thoát nổi. Như vậy thật đáng sợ.
Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó, mà không bị lụy sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều là vô ích. Chúng ta tu luôn luôn bỏ phàm cầu thánh, phải không? Nhưng danh hiệu đó chỉ là cái giả bên ngoài, là tiếng rỗng thôi. Hình tướng đẹp xấu có quan trọng không? Đẹp như tiên hay xấu như ma thì cũng chỉ là một thây thúi. Nếu muốn cầu thân tướng đẹp thì có khỏi bị lụy không? Vì còn đuổi theo giả tướng vô thường thì còn bị vô thường cuốn đi trong luân hồi, làm sao chạy khỏi? Ngược lại chán thân huyễn hóa này, cho nó là xấu là dở, là nhớp nhúa... chán nó muốn bỏ nó thì có lụy không, có thành bệnh không? Nó đã là không thật thì chán chi cầu chi? Cái không thật mà cầu cũng bệnh, chán cũng bệnh.
Sư thượng đường bảo:
- Hôm nay tối không được thưa hỏi, ai thưa hỏi sẽ ăn ba mươi gậy.
Khi ấy có một vị tăng bước ra lễ bái, Sư liền đánh. Tăng ấy thưa:
- Con chưa thốt ra lời hỏi, vì sao Hòa thượng đánh con?
Sư hỏi:
- Ông là người xứ nào?
- Con người Tân La (Triều Tiên).
Sư bảo:
- Ông khi chưa xuống thuyền đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.
Ngài giao hẹn rằng tối không cho hỏi, hỏi thì ăn ba mươi gậy. Tăng ra lễ bái vì nghĩ rằng lễ bái thì đâu có lỗi gì. Vừa lễ bái ngài đánh liền, Tăng hỏi con chưa nói lời nào tại sao Hòa thượng đánh? Ngài hỏi ông ở đâu? Nói con ở xứ Tân La tức Triều Tiên bây giờ. Ngài bảo: Ông sửa soạn xuống thuyền lúc đó ăn gậy rồi không đợi đến nơi. Lời nói là hư dối, do ngôn ngữ đối đãi mà ra, nhưng khi khởi nghĩ chưa nói, cũng đã đáng ăn gậy rồi, nên đánh trước khi hỏi.
Long Nha hỏi:
- Khi con cầm kiếm Mạc Da toan chặt đầu Thầy thì sao?
Sư đưa cổ đến trước. Long Nha nói:
- Rơi.
Sư cười ha hả.
Sau, Long Nha đến Động Sơn thuật lại việc ấy. Động Sơn hỏi:
- Đức Sơn nói thế nào?
Long Nha thưa:
- Đức Sơn không nói.
Động Sơn bảo:
- Chớ nói Đức Sơn không nói, hãy đem đầu Đức Sơn trình lão tăng xem?
Long Nha biết lỗi xin sám hối.
Có người đem việc ấy thuật lại Sư, Sư bảo:
- Ông già Động Sơn không biết tốt xấu, gã ấy đã chết được bao lâu, cứu được chỗ dụng gì?
Ngài Long Nha này cũng là tay cừ khôi, đến Đức Sơn không hỏi đạo mà nói rằng con có cây kiếm bén muốn chặt đầu Thầy thì sao? Kiếm Mạc Da là cây kiếm bén trong truyền thuyết. Ngài đưa cổ, ông muốn chặt ta đưa cổ cho chặt, Long Nha nói: Rơi. Ngài cười thôi. Long Nha tưởng như mình đã nắm được cái gì của Đức Sơn rồi. Khi thuật lại cho ngài Động Sơn nghe, ngài hỏi lúc đó Đức Sơn nói gì, Long Nha nói không nói gì. Ngài Động Sơn hỏi: Nếu ông được thì trình đầu của Đức Sơn cho ta xem. Ngang đó Long Nha bí, biết rằng mình chưa được cái gì ở Đức Sơn nên sám hối. Câu chuyện đó thuật lại cho ngài Đức Sơn nghe, ngài nói ông già Động Sơn không biết tốt xấu, không biết tốt xấu tức là không suy xét giản trạch hay để chỉ bày cho người ta có lợi gì. Gã ấy đã chết được bao lâu, cứu được chỗ dụng gì? Ngài thấy Long Nha như không nắm được, không thấu hiểu, bây giờ có cứu cũng không dùng được.
Sư thượng đường bảo:
- Hỏi tức có lỗi, chẳng hỏi lại trái.
Có vị tăng bước ra lễ bái, Sư liền đánh. Tăng thưa:
- Con mới lễ bái vì sao Hòa thượng đánh?
Sư bảo:
- Đợi ngươi mở miệng làm gì kịp.
Vừa chuẩn bị mở miệng, đánh trước rồi, đợi mở miệng là đã đi xa làm gì kịp. Câu nói vừa như cợt đùa nhưng ý nghĩa hết sức thâm sâu. Chúng ta đợi hành động ngôn ngữ phát ra mới cho là hành động xấu hoặc lời nói xấu. Nhưng vừa khởi niệm đã xấu từ trong ý, chặn ngay chỗ khởi niệm đó mới là tu giỏi. Như khi giận người, vừa nổi giận là dở rồi, đến lúc nói ra lời thì đã hư việc. Vì thế phải chặn ngay trong tâm, đợi nói làm sao kịp! Việc tu muốn nhanh thì phải thấy ngay ý nghĩ trong lúc vừa manh nha, đừng đợi nó thành hình.
Sư sai thị giả gọi Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn đến. Sư bảo:
- Ta bảo kêu Nghĩa Tồn, ngươi đến làm gì?
Nghĩa Tồn không đáp được.
Có phải ngài đùa không? Nếu là người thấy đạo thì khi nghe kêu đến phải nói lời gì khác để vị thầy thấy chỗ được của mình. Nếu đáp không được là mình không biết. Ngài Nghĩa Tồn lúc này chưa ngộ nên đáp không được.
Sư thấy vị tăng đến, liền đóng cửa. Vị tăng gõ cửa. Sư hỏi:
- Ai?
Tăng thưa:
- Sư tử.
Sư mở cửa. Tăng lễ bái. Sư liền leo lên cổ cưỡi, nói:
- Súc sanh này từ xứ nào đến?
Thấy những hành động như ngài quái đản, nhưng đó là lối chỉ dạy rất chính xác. Vì ông tăng tự xưng mình là sư tử, trong nhà thiền, nói sư tử là người kế thừa trách nhiệm của tông môn. Đã xưng là sư tử phải có hành động của sư tử, đây mới mở cửa mà lễ bái quỳ mọp thì đâu phải là sư tử. Ngài trèo lên cổ cưỡi, rồi nói súc sanh này từ đâu đến? Ông tăng bí, thực là không phải sư tử.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn hỏi:
- Tông thừa từ trước, riêng con có phần chăng?
Sư đánh một gậy bảo:
- Nói gì?
Nghĩa Tồn thưa:
- Chẳng hội.
Hôm sau, giờ thưa hỏi Sư nói:
- Tông ta không ngữ cú, thật không có một pháp dạy người.
Tuyết Phong nhân câu này được tỉnh.
Ngài Tuyết Phong hỏi: Tông thừa từ trước riêng con có phần chăng? Nghe câu đó ngài đánh cho một gậy, hỏi: Nói gì? Ngay đó mà không ngộ, nên Nghĩa Tồn thưa: Chẳng hội. Đến giờ thưa hỏi, ngài nói: Tông ta không ngữ cú, thật không có một pháp dạy người. Ngài không có một lời để dạy, cái đánh đó đã là dạy rồi. Nhân đây Nghĩa Tồn mới tỉnh.
Sư dạy chúng:
- Các ông từ sáng đến chiều có việc gì? Chẳng cần khoe môi lừa mỏ ngựa hỏi lão già Đức Sơn sao? Ta chẳng sợ các ông, chưa biết các ông có những nghi vấn gì?
Gần đây trong thời kỳ mạt pháp, có rất nhiều bọn quỷ thần chạy bên ngoài nói “ta là Thiền sư”. Chẳng biết học được bao nhiêu thiền đạo, nói tương tợ cho lão tăng nghe? Các ông! Những lão trọc ở mọi nơi dạy các ông tu hành thành Phật, chạy bên ngoài thành được bao nhiêu ông Phật? Các ông nếu không thể học, lại chạy tìm cái gì? Nếu có học, các ông thử đem cái học được trình cho lão tăng xem. Một câu chẳng tương đương phải ăn một gậy đau điếng mới được.
Ngài bắt đầu đi từng bước nặng dần, nói rằng nhiều bọn quỷ thần ở bên ngoài tự xưng “ta là thiền sư”. Chẳng biết học được bao nhiêu thiền đạo, nói tương tợ cho lão tăng nghe? Thiền là học được hay không học được? Đạo là học được hay không học được? Không học được sao bắt mấy chú học? Thực ra thiền đạo không phải học mà được, chỉ vì chúng ta sẵn có viên ngọc quý mà không tự biết lấy ra dùng. Viên ngọc quý đó đang nằm ở dưới đáy thùng rác, dạy học là phương tiện dạy hốt rác bỏ ra, quăng sạch hết rác rồi thì viên ngọc hiện lồ lộ. Hòn ngọc ấy do học mà được, do liệng rác ra mà được hay tự nó sẵn có? Nó sẵn có nhưng bị rác che phủ nên không thấy được. Khi chúng ta quăng sạch rác, ném hết những thứ che phủ thì viên ngọc hiện ra.
Lời dạy của Phật tổ là phương tiện dẹp bớt phiền não, phá bớt những chấp nê mê tối của mình, phiền não và chấp nê hết sạch thì chân thật hiện ra. Cái chân thật đó không do tu học mà được, nó đã có sẵn ngay bây giờ. Nói học mà được là không đúng sự thật.
Nói dạy tu hành thành Phật, Phật ở đâu mà thành? Nếu chạy ra ngoài tìm kiếm thì muôn kiếp không có Phật để thành, vì Phật là cái giác sẵn của chính mình. Nếu nói ráng tu để thành Phật thì đó là lối nói cầu cạnh không bao giờ được. Các ông nếu không thể học, lại chạy tìm cái gì? Chỗ đó không phải do học mà được, thì tìm cái gì? Nếu có học, các ông thử đem cái học được trình cho lão tăng xem? Cái chân thật đó đã sẵn tại nơi mỗi người chúng ta, chỉ là không thấy không nhận, cứ nghĩ tìm kiếm ở bên ngoài.
Các ông bị những lão trọc ở khắp nơi mê hoặc, nói ta là người tu hành, làm ra hình thức in tuồng bộ mặt người đắc đạo. Chớ có nhận dụng tâm như thế, muôn kiếp ngàn đời luân hồi trong tam giới đều là “Có tâm”. Vì cớ sao? Vì tâm sanh thì các thứ pháp sanh. Nếu khéo một niệm chẳng sanh thì hằng thoát khỏi sanh tử, chẳng bị sanh tử trói buộc, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, lại còn có việc gì?
Đây nói những người tu mê hoặc kẻ khác, nói ta là người tu hành, làm ra hình thức in tuồng bộ mặt người đắc đạo, giả bộ như người đắc đạo. Như có vài huynh đệ đang ngồi ăn uống hoặc bàn tán ồn náo, chợt có khách tới liền ra vẻ nghiêm trang tề chỉnh. Đó là làm ra vẻ chứ không phải thật. Tu mà còn làm ra vẻ thì tu không đến đâu. Tu là ngay trong tâm mình, mỗi niệm dấy lên đã thấy, đã buông rồi, không cần hình thức bên ngoài. Càng làm ra vẻ thì càng xa với đạo.
Đây nói có tâm là muôn kiếp ngàn đời luân hồi trong tam giới. Biết còn có tâm là còn kẹt, vì sao? Vì tâm sanh thì các thứ pháp sanh. Nếu khéo một niệm chẳng sanh thì hằng thoát khỏi sanh tử. Một niệm không sanh là gốc ra khỏi sanh tử. Tất cả niệm dấy lên là chạy theo thanh sắc ở thế gian. Niệm vô thường, thanh sắc vô thường, dấy niệm chạy theo thanh sắc tức là bị cuốn trong vô thường, không bị luân hồi là gì? Dù thanh sắc đẹp hay xấu cũng là đi trong vô thường. Không có một niệm đó là giải thoát, còn cái gì cuốn mình được, còn cái gì lôi mình được.
Nhân giả! Ta thấy các ông đi khắp nơi phát tâm, đến trong hội những lão trọc học Phật pháp, gánh vác chẳng tiếc thân mạng, rốt cuộc các ông đều bị đâm đui mắt, đoạn dứt mạng căn. Có hai ba trăm kẻ tợ như dâm nữ, nói: “Ta làm hóa chủ dựng lập pháp tràng, vì người sau mở mắt cho họ.” Kẻ ấy tự cứu được chăng?
Ngài nói rất mạnh, đến chỗ mấy lão trọc học Phật pháp, gánh vác chẳng tiếc thân mạng, nghĩa là hy sinh lo cho Phật pháp. Rốt cuộc rồi bị đâm đui mắt, đoạn dứt mạng căn. Người học đạo lấy trí tuệ làm mạng căn. Học hết sức rồi vẫn chìm trong mê lầm không phát sanh trí tuệ, nên nói đoạn dứt mạng căn, bị đâm đui con mắt trí tuệ. Đôi khi không khéo chúng ta tu học rồi bị mắc kẹt hết cái này tới cái kia.
Đây lại nói có hai ba trăm kẻ tợ như dâm nữ, tại sao? Người nào chỉ lo đón khách đưa khách, ngài nói là dâm nữ. Làm hóa chủ tức là trụ trì, dựng lập pháp tràng, nói vì người sau mở mắt cho họ. Chính mình cứu mình chưa được mà mở mắt cho ai?
Nhân giả! Nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe nói lão Hồ (ông già Ấn Độ, chỉ đức Phật) trải ba kiếp a-tăng-kỳ tu hành mà nay còn đâu? Sau tám mươi năm chết mất, cùng các ông có khác gì?
Các ông chớ cuồng! Khuyên các ông không gì hơn Thôi Hết đi, Vô Sự đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.
Các ông thấy Đức Sơn ra đời, năm người mười người đồng nghĩ tụ họp nhau đến nạn vấn, mong ta đớ lưỡi không lời. Các ông thật là người giỏi giang, nay sao chẳng bước ra. Cây dùi đựng trong đãy rách mà chẳng ló đầu mới là cao thủ. Ta muốn hỏi các ông, người thật thì chớ lầm.
Nếu tu để cầu phước, cầu các nghiệp lành thì như trong kinh nói Phật tu vô số kiếp, tích công lũy đức nên khi sanh ra ngài có tám mươi vẻ đẹp, ba mươi hai tướng tốt. Tướng tốt vẻ đẹp đó bây giờ tìm còn không? Tướng tốt tướng xấu rồi cũng hoại, nếu nghĩ rằng tu để được tướng tốt thì bây giờ kiếm không còn.
Ngài lặp tớ lặp lui câu Thôi hết, Vô sự. Nghĩa là trong lòng đừng chứa chấp buồn thương giận ghét, mọi vấn đề hơn thua phải quấy... đó là thôi hết. Đối với ngoại cảnh không bị quyến rũ khiến phải khởi niệm chạy theo, đó là vô sự. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.
Trong nhà thiền thường ví dụ thiền sư, thiền khách là cao thủ, giống như cây dùi đựng trong đãy rách mà không ló đầu.
Nhân giả! Các ông chạy lăng xăng bên ngoài, nói ta hiểu thiền hiểu đạo; chỉ ngực chỉ sườn, khen ngợi, trịnh trọng... Những cái ấy cần phải mửa hết mới được vô sự.
Các ông chỉ cần ngoài không mắc thanh sắc, trong không hiểu biết năng sở. Vì thể không phàm thánh, lại học cái gì? Dù học được trăm ngàn diệu nghĩa, chỉ là con quỷ ăn ghẻ bướu, thảy đều là tinh mỵ. Ta trong ấy rỗng thênh, nói có chẳng phải có, nói không chẳng phải không, nói phàm chẳng phàm, nói thánh chẳng thánh, tất cả chỗ đặt để y chẳng được, mà làm thầy muôn pháp, cái ấy ta chẳng dám chê y.
Ngài dạy chúng ta buông sạch tận cùng, ngoài không mắc thanh sắc, trong không có niệm khởi phân biệt năng sở hai bên. Tại sao? Vì thể không phàm thánh, lại học cái gì? Thể đó không có đối đãi, không đối đãi thì lấy gì học?
Chỉ có cái đó là trên hết, còn trăm ngàn diệu nghĩa mình học được thì ngài cho rằng ăn ghẻ bướu của người. Tại sao? Vì đó là cái tích lũy trong bụng của họ, họ thốt ra cho mình nghe, tưởng là mình học hỏi chứng đắc. Không dè là ăn đàm dãi, ăn ghẻ bướu của người, không quan trọng. Có một cái rỗng thênh, nói có chẳng phải có, nói không chẳng phải không, nói phàm chẳng phàm, nói thánh chẳng thánh, tất cả chỗ để y chẳng được. Y không để chỗ nào được mà y làm chủ muôn pháp, đó là cái không thể cho được.
Sở dĩ lão Hồ mửa ra bao nhiêu phương tiện đàm dãi dạy các ông vô sự đi, chớ nhằm bên ngoài tìm. Các ông lại chẳng nhận, muốn được gom góp những ngôn cú thù thắng, dồn trong hông trong ngực, nói lời khéo léo, lấy đầu lưỡi biện đến quần vải, cốt mong cho người biết, nói ta là Thiền sư, mong có chỗ xuất đầu lộ diện. Nếu có kiến giải như thế là con quỷ ở xương trôn, có ngày sẽ vào địa ngục Bạt thiệt. Đến đó rồi, tìm người nói ta là Thiền sư đi!
Ngài nói Sở dĩ lão Hồ mửa ra bao nhiêu phương tiện đàm dãi, lão Hồ là đức Phật, ngài nói bao nhiêu phương tiện ghi chép lại thành tam tạng giáo điển, đó chỉ là đàm dãi của ngài. Những lời đó cốt dạy chúng ta buông hết để trở thành vô sự, mình không buông lại cứ chứa hết. Pháp Phật dạy trong kinh có kinh nào dạy chứa không? Phá ngã, phá pháp, tất cả chấp đều phá hết. Bao nhiêu kinh điển để phá chấp mà chúng ta không phá, lại dồn chứa kinh điển đầy hông ngực cho là thù thắng. Khoe biện tài để cốt được xuất đầu lộ diện cho mọi người biết. Người như thế ngài gọi là con quỷ ở xương trôn.
Kẻ khách trong nhà thiền vừa bị người hỏi đến việc bổn phận, miệng in cây cọc, liền trở lại nói với họ Bồ-đề Niết-bàn chân như giải thoát, dẫn rộng trong ba tạng, nói giáo là thiền là đạo, dối gạt người chung quanh, có gì là dính dáng, chê bai tiên tổ của ta.
Bổn phận chính trong nhà thiền mà bị người hỏi tới là bí, dẫn đầu này đầu kia, nói quanh co mà rốt cuộc không ra gì. Đó là người không làm được bổn phận của mình, vì thế người học đạo chân thật không thể quên việc bổn phận. Mục đích người xuất gia bổn phận chính là cốt giác ngộ giải thoát. Ai cũng vậy, mục đích đó là cái gốc của mình, hỏi đến chỗ đó mà không biết, lại dẫn chứng kinh tạng dối gạt người. Rất đáng quở trách.
Chỗ thấy của lão Đức Sơn này chẳng phải thế. Trong ấy Phật cũng không pháp cũng không, Đạt-ma là ông già Hồ tanh hôi, Bồ-tát Thập địa là kẻ gánh phẩn, Đẳng giác Diệu giác là kẻ phàm phu phá giới, Bồ-đề Niết-bàn là cây cọc cột lừa, mười hai phần giáo là bộ sổ của quỷ thần là giấy lau ghẻ, Tứ quả Tam hiền Sơ tâm Thập địa là quỷ giữ mồ xưa, tự cứu được chăng? Phật là cục phân của ông già Hồ.
Tại sao ngài nói quá mạnh như vậy? Đây là chỗ mà chỉ có ở tù rồi mới thông cảm, thương người ở tù. Vì trước ngài nhiệt tình với kinh điển đi đâu cũng gánh theo. Nhiệt tình như vậy, tin tưởng trăm phần trăm như vậy, tưởng kinh điển có thể làm cho mình ngộ đạo. Khi ngộ được lý thiền, thấy được cái chân thật, mới biết kinh điển là việc bên ngoài. Như tôi muốn chỉ mọi người thấy bóng đèn, tôi đưa tay chỉ. Mọi người nương ngón tay để thấy bóng đèn hay cứ nhìn đầu ngón tay mà cho là bóng đèn? Người như thế là khôn hay không khôn? Cũng vậy, kinh điển không phải là giác ngộ giải thoát, nương kinh điển để thấy đường đi, để tiến tới giác ngộ giải thoát. Nếu cứ đem kinh điển ra tụng đọc hết bộ này sang bộ kia, có giải thoát không? Như người chấp ngón tay cho là mặt trăng có được không? Phải nói mạnh để thức tỉnh chỗ này.
Phật là giác, danh từ Phật mà chúng ta thường xưng tụng là đồ bỏ, cái giác mới là cái thật. Vì thế ngài nói Phật là cục phân của ông già Hồ, danh từ không phải là cái thật đừng kẹt chấp trên danh từ. Như nói Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, Phật tánh, Đẳng giác, Diệu giác... nghe rườm rà, nghe đầy lỗ tai, thực sự không có gì thật. Ngài muốn chỉ cho chúng ta thấy tất cả danh từ đó là phương tiện giả danh, tạm dùng để biểu thị cái chân thật. Không chịu nhận cái chân thật, cứ bám vào phương tiện giả danh cho là cứu cánh thì không trách sao được?
Kinh Kim Cang, Phật ví dụ kinh điển như chiếc bè đưa người qua sông. Đến bờ rồi thì phải bỏ bè mới lên bờ được, nếu cứ bám vào chiếc bè hoài chừng nào lên bờ? Có người xuống thuyền hài lòng quá, ngang đây mình khỏe rồi, cứ ở dưới thuyền đó năm này qua năm khác, cho tới thuyền lủng chìm luôn. Người như vậy là muốn qua bờ hay muốn chết chìm? Cũng thế, người không biết kinh điển không biết tu thì chết chìm luôn là phải, mình biết kinh điển rồi cứ bám vào ôm bao nhiêu đó làm sự nghiệp, có chết chìm theo không? Phải nương kinh điển làm phương tiện để tiến qua bờ kia, không nên xem đó là cứu cánh.
Ngài nói dường như phỉ báng, mười hai phần giáo là bộ sổ của quỷ thần, là giấy lau ghẻ. Nếu không thấy được cái thật thì giáo lý trở thành vô nghĩa. Như có người vẽ bản đồ hướng dẫn đường đi vào một thành phố lớn là chỗ mình cần đến. Rồi mình cầm bản đồ học thuộc lòng, đọc thao thao bất tuyệt mà không chịu đi, thì người vẽ bản đồ có tức không? Có muốn lấy xé không? Người đó nói đồ này đồ bỏ, tôi vẽ để ông đi, không phải vẽ cho ông đọc.
Chính ngài Đức Sơn là người ở trong cuộc, bị kẹt trong giáo lý cho đến khi thấy đạo rồi mới giật mình. Nhìn lại bạn đồng tu đang kẹt nên ngài phải nói nặng nề để người ta thức tỉnh. Nếu không thì cứ hài lòng cho đó là cứu cánh, như một số người tu học được mấy thời khóa tụng cho là đủ tu rồi. Sáng tụng, chiều tụng, bổn phận xong, tu như vậy chừng nào thành Phật?
Nhân giả! Chớ lầm thân mặc áo ghẻ bướu, học việc gì? Ăn cơm no rồi nói chân như Niết-bàn, dưới da lại có máu chăng? Cần phải có ý khí trượng phu mới được.
Các ông chớ mến thánh, thánh là danh từ rỗng. Đến tam giới mười phương thế gian, nếu có một hạt bụi, một pháp thật để cho các ông nhận lấy, sanh hiểu gìn giữ quý trọng, trọn rơi vào thiên ma ngoại đạo. Ấy là có học được, cũng là bọn tinh mỵ dã hồ nương cỏ dựa cây.
Áo ghẻ bướu là áo xác thịt này, là thân vô tích sự có học được gì. Ăn cơm no rồi nói chân như Niết-bàn, nói hoài chỉ nói dóc mà không thấy! Dưới da lại có máu chăng? Trong khắp cơ thể chúng ta chích chỗ nào mà không có máu. Cái đó là trùm khắp hết mà mình không nhận, cứ nói danh từ chân như, Phật tánh... Cái chân thật hiện hữu thì không nhận, như vậy có đáng tiếc không? Ngài bảo chúng ta phải có ý khí trượng phu, phải là con người gan dạ, xông tới vượt qua, không phải chỉ là con người hài lòng trên ngôn ngữ văn tự.
Tất cả danh từ, dù thánh hay phàm... cho đến khắp tam giới trọn không có một pháp thật. Nếu chấp vào đó thì rơi vào bọn tinh mỵ dã hồ nương cỏ dựa cây không có thật chất.
Các ông! Ta khoảng này không có một pháp cho các ông giải hội, tự mình cũng chẳng hội thiền. Ta cũng chẳng phải thiện tri thức, mọi việc đều không hiểu, chỉ biết đi ỉa đi đái, ăn cơm mặc áo, còn có việc gì?
Nói rằng khoảng này không có một pháp cho các ông giải hội, tức là cái đó không phải là pháp ngoài mình, tự mình phải nhận ra không ai cho được, ngài muốn chúng ta đừng nương tựa vào ngài nên nói tự mình cũng chẳng hội thiền. Ta cũng chẳng phải là thiện tri thức, nếu nói thiền đạo, nói tri thức cũng là danh từ, cái thật đó biểu hiện qua các oai nghi. Ngài nói: Đi ỉa đi đái, ăn cơm mặc áo, còn có việc gì? Như tôi thường nói mấy chú khi đi cầu chỉ đi cầu, khi ăn cơm chỉ ăn cơm, khi mặc áo chỉ mặc áo, khi đi tiểu chỉ đi tiểu... Có được vậy không, hay là ngồi trong cầu mà nghĩ đủ thứ chuyện? Lại có khi đứng trong chùa lại nghĩ chuyện ở đâu đâu, nghĩ tào lao tầm bậy. Không bao giờ chúng ta sống an ổn trong lòng, nó xao xuyến, lăng xăng lộn xộn, không trật tự, không có một chút làm chủ. Tu là gì? Tức là làm chủ tâm mình, khi làm cái gì biết cái đó, không thêm gì khác. Mấy chú thử ngồi năm phút bảy phút trong cầu thực là đi cầu thôi, không thêm cái gì, đó là tốt rồi. Đi tiểu, ăn cơm, mặc áo cũng như vậy. Đó là làm chủ được.
Lão Đức Sơn này khuyên các ông chi bằng giữ bổn phận đi, sớm thôi dứt đi, chớ học cuồng loạn, mỗi người gánh tử thi một cách linh hoạt đi.
Các lão trọc trong miệng ưa ăn đàm dãi của người, nói “Ta là người vào tam giới tu hạnh uẩn tích, nuôi lớn thai thánh, nguyện thành quả Phật”. Những bọn như thế, lão Đức Sơn này thấy như tên độc bắn vào tim, kim châm vào mắt, đã cô phụ tiên tổ, làm lụy tông của ta. Họ nói “Ta là kẻ xuất gia”, như thế ăn tiêu của thí chủ mười phương, thực sự một giọt nước cũng chẳng tiêu đặng, còn chẳng dám đi trên đất quốc vương, cha mẹ không nuôi món ngon vật lạ, đâu phải là không việc. Chớ lầm dụng tâm, vua Diêm-la sẽ thăm hỏi ngươi, sẽ xỏ mũi ngươi trói vào cột trụ để đền lại nợ trước. Chớ bảo lão tăng chẳng nói.
Ngài dạy chúng ta phải giữ bổn phận là cái gốc của mình. Chúng ta sống mang thân này gọi là gánh tử thi, gánh một cách linh hoạt đừng để nghiệp lôi.
Bao nhiêu lời đó là nhiệt tình đáo để của ngài. Như tôi đã nói, nếu với tâm bình dị như mình thì ai làm gì mặc ai, không can dự gì tới mình. Nhưng với ngài thấy những người cho là học nhiều hiểu nhiều, gọi là nuôi dưỡng thánh thai, thành Phật quả,... thấy như tên độc bắn vào tim, kim châm vào mắt chịu không nổi, rất đau đớn khổ sở, không thể làm thinh mà nhìn. Những người như vậy mà nói là xuất gia chẳng thể ăn tiêu của thí chủ mười phương, chính bản thân họ không nuôi cha mẹ, không tròn bổn phận với xã hội. Bây giờ thấy họ như không có việc gì, khi chết vua Diêm vương sẽ lôi xuống, trói vào cột đồng đền nợ trước, đừng tưởng vậy là sướng, là thong thả. Lúc đó chớ trách ngài sao chẳng nói. Vì thế tu mà không tìm đến nơi không thấy tới chốn thì dễ lầm lẫn, uổng một đời.
Các ông thật là có phước gặp Đức Sơn ra đời, vì các ông cởi dây trói buộc, thoát khỏi lồng giam, gỡ khỏi lưng ngựa, được làm người tốt, tam giới lục đạo bắt ông chẳng được. Lại không có pháp khác. Cái sáng rỡ rỗng rang không ngại tự tại ấy, chẳng phải vật do các ông trang nghiêm được. Từ Phật đến Tổ đều truyền pháp này mà được xuất ly. Một Đại tạng kinh chỉ là chỉnh lý các ông hiện thời.
Ngài nói trắng giống như tổ Lâm Tế. Ngài muốn nhắc cho chúng ta có chỗ phấn khởi một chút, nên nói rằng gặp ngài ra đời vì cởi dây trói buộc thoát khỏi lồng giam. Vì chúng ta cố chấp, chấp thế này chấp thế kia, ngài gỡ những cái chấp đó là cởi dây trói buộc. Thoát khỏi lồng giam, lồng giam là lồng giam năm uẩn. Gỡ khỏi lưng ngựa, ngày xưa người ta trói những người bại trận trên lưng ngựa đem về. Ngài ra đời chỉ dạy cho chúng ta khỏi những cái khổ đó. Nhưng sự thật ngài nói không có pháp khác, chỉ có cái sáng rỡ rỗng rang không ngại tự tại ấy, ngài không nói nó ở đâu, không nói ở tai nghe như ngài Lâm Tế. Nhưng khi chúng ta ngồi yên năm phút mười phút trong lúc tọa thiền hay là lúc bình thường, tâm không có một niệm nào dấy khởi, con mắt có sáng không? Lỗ tai có thính không? Nó sáng rỡ không ngại. Vì dấy niệm là có ngại, lúc không có niệm thì cái đó là sáng rỡ vô ngại thênh thang, ngay nơi đó. Chính cái đó không phải do làm mà được, nên nói chẳng phải vật do trang nghiêm mà được. Từ Phật đến Tổ đều truyền cái ấy, một Đại tạng kinh để chỉnh lý mình cho thấy cái đó, nếu không chịu nhận thì rất là uổng.
Các ông chớ nhằm chỗ khác tìm kiếm, cho đến Đạt-ma - tiểu tăng mắt xanh nước Hồ - đến xứ này cũng chỉ dạy các ông Vô sự đi, dạy các ông chớ tạo tác, mặc áo ăn cơm, đi ỉa đi đái, lại không có sanh tử đáng sợ, cũng không Niết-bàn nên được, không Bồ-đề để chứng, chỉ là tầm thường một người Vô sự.
Nhất là, chớ khoanh tay làm thiền sư, tìm chỗ xuất đầu, dùng lời khéo léo lừa gạt kẻ hậu sanh, muốn được người gọi mình là Trưởng lão, trên phần của chính mình không chút dính dáng, vẫn là tâm thức lăng xăng ngày đêm tác quái chẳng dừng, tán thán trịnh trọng ta là tông đồ của Mã đại sư ở Giang Tây. Lão Đức Sơn này chẳng phải thế.
Chủ yếu của tổ Đạt-ma từ Tây sang là chỉ cho chúng ta làm người vô sự. Như lời của Tổ trong Thiếu Thất Lục Môn nói Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh không phải vô sự là gì. Đây ngài nhắc lại, trong cuộc sống hiện tại khi ăn cơm, khi đi đại đi tiểu... những lúc đó cũng vẫn là vô sự. Làm gì thì cứ làm mà tâm không có một niệm, đó là tầm thường vô sự, không cần nói Niết-bàn Bồ-đề... Niết-bàn, Bồ-đề... là một lối nói, chỉ là văn tự không phải là cái thật.
Tỏ ra ta là thiền sư để tìm chỗ xuất đầu, tức là để cho mọi người biết đến quý trọng, thỉnh làm trụ trì chỗ này giáo hóa chỗ nọ. Như vậy là khéo léo lừa gạt kẻ hậu sanh, muốn được người tôn mình làm trưởng lão. Trên phần của chính mình không chút dính dáng, trong tâm thì còn lăng xăng lộn xộn. Vẫn là tâm thức lăng xăng ngày đêm tác quái chẳng dừng, chúng ta có khi nào không bị nó tác quái không? Nếu còn tác quái thì xứng đáng là thiền sư chưa? Như vậy để thấy rằng chuyện này không phải là chuyện thường, không phải là chuyện dễ.
Này hết thảy các ông! Ta thấy Hòa thượng Thạch Đầu ông già không biết tốt xấu, sở dĩ mắng các đồ đệ: “Các ngươi chớ mắc nơi thanh sắc, danh ngôn cú nghĩa, cảnh trí cơ quan, đạo lý thiện ác, phàm thánh, thủ xả, phan duyên, nhiễm tịnh, minh ám, hữu vô, trong các cái đáng nghĩ, được thế mới phải là người Vô sự. Phật cũng chẳng bằng ngươi, Tổ cũng chẳng bằng ngươi.”
Ngài dẫn lời của ngài Thạch Đầu để làm chứng. Ngài Thạch Đầu dạy chúng ta chớ mắc kẹt nơi thanh sắc, tất cả những gì đối đãi, những gì đáng ghi nhớ đừng kẹt đừng dính, như vậy mới là người vô sự. Được là người Vô sự rồi thì Phật cũng chẳng bằng ngươi, Tổ cũng chẳng bằng ngươi. Bởi vì được là người Vô sự rồi thì danh từ Phật tổ đối với mình đã vô nghĩa. Chỉ có cái đó mới là cái thật.
Nhân giả! Chớ chạy mòn gót chân các ông, không có thiền đạo nào khác có thể học. Nếu có học được, tức là hai đầu ba cổ, là kiến giải của ngoại đạo. Cũng không có thần thông biến hóa thật. Nếu ông nói thần thông là thánh thì chư thiên, long thần, tiên, ngoại đạo được ngũ thần thông và tu-la cũng có thần thông lý ưng là Phật sao?
Ở trên đảnh núi một mình, ngày ăn một bữa, ngồi mãi chẳng nằm, sáu thời lễ tụng, vẫn còn hồ nghi sanh tử. Lão Hồ (Phật) có nói: “Các hạnh vô thường là pháp sanh diệt.” Nếu nói nhập định ngưng thần tịnh lự mà được, bọn Ni-kiền Tử... các thầy ngoại đạo cũng nhập được đại định tám muôn kiếp, đâu chẳng phải là Phật ư? Phải biết rõ tà kiến tinh mỵ.
Ngài dạy chúng ta đừng chấp những hình thức huyền bí linh nghiệm, đừng ham thích thần thông biến hóa. Nếu thần thông biến hóa là Phật thì các vị thần tiên, ngoại đạo kể cả a-tu-la có thần thông cũng là Phật sao? Nếu cho thần thông là quan trọng thì không đúng.
Ngài quở lối chấp nhập định lâu, nếu nói nhập định được lâu là Phật, thì phái Ni-kiền Tử, các ngoại đạo... nhập định cũng thật lâu, như vậy họ cũng là Phật. Không nên lấy hình tướng bên ngoài cho là Phật. Cần thiết là phải thấy được cái chân thật chính mình, còn chạy theo bên ngoài tìm cầu thì tất cả đều sai, dầu cho ngồi thiền nhập định, đó chỉ là phương tiện để mình làm chủ, không phải là cái thật.
Nhân giả! Lão Hồ chẳng phải Thánh. Phật là cục cứt của lão Hồ. Cần thiết nhân giả biện rành tốt xấu, chớ mắc nhân ngã thì khỏi bị chư thánh cột, Bồ-đề cột, giải thoát, thù thắng, danh ngôn diệu nghĩa nhận chìm, trói buộc. Vì cớ sao? Vì một niệm vọng tâm chẳng sạch tức là sanh tử tiếp nối.
Nhân giả! Thời giờ chẳng đợi người, chớ để trôi qua tháng ngày, thời gian đáng tiếc. Lão tăng chẳng mong các ông làm kẻ tớ gánh vác ruộng nhà. Nếu các ông chấp nhận thì tin lấy, nếu chẳng chấp nhận thì mỗi người có một cái bát mang lên vai mà đi. Lão tăng cũng chẳng cần các ông.
Các lão trọc ở mọi nơi, một người chiếm cứ một xứ, nói thiền nói đạo, các ông mau đi học lấy chép lấy. Ta trong đây không có một pháp cho các ông.
Chúng ta cứ tưởng rằng Phật là trên hết, sự thật Phật chỉ là danh tự, danh tự đó là cái đồ bỏ của Phật không phải là cái thật. Bây giờ có những lối học rất là tội nghiệp, như giải thích danh từ Phật: đây là phiên âm tiếng Phạn của Buddha, Bud là gì? Dha là gì? Giải nghĩa, cổ âm... Cứ mắc kẹt ở danh từ, không biết Phật thật là gì. Càng học lại càng xa chân lý. Vì vậy ngài quở, nói đó là đồ bỏ, không đáng gì. Nếu còn mắc kẹt trên ngôn ngữ thì còn bị nhân ngã trói buộc. Những danh từ nào là Bồ-đề, giải thoát, thù thắng... đều là những cái trói buộc.
Vì một niệm vọng tâm chẳng sạch tức là sanh tử tiếp nối, chỉ lo chạy theo danh từ, khởi niệm tìm cầu thù thắng, vọng tâm không dứt nên sanh tử tiếp nối.
Ngài thiết tha khuyên chúng ta: Thời gian không đợi mình, cứ mỗi ngày qua mỗi ngày qua, hết ngày rồi đến già chết. Nếu để mất thời giờ vô ích như vậy thì rốt cuộc một đời rỗng không, có nghĩa lý gì! Ngài không muốn để chư tăng ở với ngài như kẻ tôi tớ săn sóc ruộng vườn. Mỗi người có một cái bát, nếu tin được thì ở tu, tin không được thì mang bát đi nơi khác.
Thiền viện chúng ta cũng vậy, ai tới để tìm thấy ứng dụng tu thì ở, nếu ai tới không bằng lòng mà để trôi hết thời giờ thì nên đi tốt hơn. Không phải cần nuôi người cho nhiều để tạo được nhiều ruộng vườn, đó là lợi dưỡng bên ngoài. Chủ yếu là làm sao mọi người thấy nơi mình có cái chân thật rồi ứng dụng tu, nên mọi phương tiện ở đây áp dụng cho mấy chú bớt tiếp khách, để sống được với cái thật của mình. Ở trong thiền viện đi tới đi lui cả buổi mà không ai nói chuyện với mình thì mới tập làm chủ được. Nếu mình ra khỏi nhà, khỏi chùa thì tới đâu cũng phải xã giao nói đủ chuyện. Tâm mình chạy nhảy chuyền cành như khỉ vượn, làm sao yên? Như ở đây ba tháng mà đi chừng mười bữa về thì tâm xáo trộn, rồi ở ba tháng đi mười bữa, xáo trộn, rất uổng công. Chúng ta phải uẩn tích cho thật mạnh, trí tuệ vững, cái gì đến mình không bị lay chuyển, chừng đó thì đi đâu không sao. Nếu mình chưa vững mà đi ra rồi tùy tục, tùy tục thì mất mình. Vì thế ở thiền viện hạn chế tiếp khách, hạn chế đi lại, mục đích làm sao cho tăng ni có thì giờ tập sống làm chủ từng phút từng giây. Như vậy khả dĩ mới tiến bộ, còn ở đây mà vẫn muốn đi nơi này nơi kia chơi cho thảnh thơi sung sướng, đó là niệm tu hành yếu đuối, không thật.
Nhân giả! Hỏi lấy học lấy để làm tri giải, lão tăng không thể vào địa ngục Bạt thiệt. Nếu có một hạt bụi, một pháp chỉ dạy cho người, nói rằng có Phật có pháp, có tam giới để ra, đều là dã hồ tinh mỵ.
Địa ngục Bạt thiệt là địa ngục cắt lưỡi. Tại sao đọa địa ngục đó? Vì nói dối, nếu học hỏi để làm tri giải thì ngài không thể dối gạt mà dạy cho kiến thức tri giải, vì như thế phải đọa địa ngục Bạt thiệt.
Nói có Phật pháp ngoài mình để cầu, để chỉ thì đó là dã hồ, tinh mỵ, mỗi người phải tự thấy tự nhận ra cái thật của chính mình.
Chư nhân giả! Muốn biết được chăng? Chỉ là cái rỗng không, còn không có một mảy bụi có thể được, nơi nơi thanh tịnh, sáng rỡ rỗng suốt, trong ngoài đều sáng suốt, vô sự vô y, không chỗ nương gá thì có việc gì? Lão tăng từ sanh đến tử chỉ là lão Tỳ-kheo, tuy sanh trong tam giới mà không cấu nhiễm, còn muốn được ra khỏi chỗ nào? Dù có chỗ đi, cũng là lồng bẫy, ma sẽ có cơ hội thuận tiện.
Cái rỗng rang sáng suốt thanh tịnh không có một mảy bụi, cái đó là vô sự, vô y. Chính cái đó không có việc gì, không có chỗ để gá nương. Ai cũng sẵn có cái đó, chỉ cần vô sự. Chúng ta nếu muôn việc buông đi là vô sự, nếu đa mang nhiều quá thì không vô sự được. Sẽ có nhiều chú nói tôi làm tri khố buông đâu được, sáng trưa phải lo thức ăn cho chúng... Giờ nào lo thì lo chừng mười lăm phút rồi buông, ai bắt lo cả ngày? Nhiều cái không đáng lo mà cứ lo. Như mình đang ở trong liêu mà nghe ai nói chuyện trên chùa, chuyện không dính gì với mình mà cũng lắng nghe, lắng nghe rồi phê bình, như vậy có phải là can thiệp vào chuyện của người không? Chừng nào kêu tên mình hãy nói, còn chuyện đâu đâu cũng xúm lại thị phi rồi sanh sự.
Ở đây giờ tu thì tu, giờ học thì học, giờ ăn thì ăn, không lo sợ thiếu thốn, cứ thế mà tu, rất khỏe. Chỉ cần khéo một chút, chuyện của mình cố gắng làm cho tròn, chuyện không phải của mình thì bỏ qua. Đó là người vô sự.
Chỗ đến của ngài, sanh trong tam giới mà không cấu nhiễm. Đã không cấu nhiễm thì muốn ra khỏi không? Mong ra khỏi tam giới vì bị cột trói, nếu không bị cột trói thì mong ra khỏi làm gì? Cái gì cột chúng ta? Danh vọng, tiền tài, sắc đẹp... Ai cột? Chỉ ta tự dính thôi, chứ chẳng ai cột. Chính mình cột rồi kêu trời, nói tại trong tam giới ràng buộc quá, phải ra khỏi nó mới giải thoát.
Chỗ này rất hợp với câu của ngài Đạo Tín hỏi Tam Tổ, con muốn cầu giải thoát, nhờ Hòa thượng chỉ phương pháp giải thoát. Tổ hỏi, ai trói buộc ngươi? Đạo Tín thưa, không ai trói buộc. Tổ bảo, không trói buộc cầu giải thoát làm gì? Mình bị trói mới kêu người mở, không bị trói mà kêu mở làm gì? Nếu ở trong tam giới mà không nhiễm thì tự nó là giải thoát, đâu cần cầu giải thoát chi nữa. Giải thoát không ở ngoài mình, chúng ta cứ kêu nài cầu cứu cái gì ở ngoài đem lại cho mình, không ngờ chính mình là chủ nhân mở trói. Ta tự cột không chịu mở, lại đi nhờ người mở, mở mối này cột mối khác, ai mở cho nổi. Người bên ngoài chỉ giúp mình một phần nhỏ, chủ là mình tự giải quyết, không ai thay thế được. Khi chết có ai thế cho mình hết nghiệp được không? Hiểu như vậy mới thấy giá trị của việc tu.
Nhân giả! Chớ dụng thân tâm, vì không thể được, chỉ cần trong tất cả thời chớ kẹt nơi thanh sắc, cốt phải những hành lý từ trước một lúc ném hết, chóng thoát xiềng xích, hằng lìa cái (ngũ cái) triền (thập triền). Một niệm không sanh thì mé trước mé sau dứt, không nghĩ không nhớ, không một pháp hợp tình.
Ngài dạy chúng ta, đầu tiên là đừng kẹt thanh sắc, kế đó thì những hành vi từ trước một lúc ném hết. Hành vi từ trước là gì? Bao nhiêu buồn thương giận ghét, hiểu biết lăng xăng, những tích lũy từ bao nhiêu năm ném sạch đi. Như vậy mới thoát được xiềng xích, lìa được ngũ cái thập triền. Nếu một niệm không sanh thì mé trước mé sau đều dứt, không khởi niệm thì có niệm trước, niệm sau không? Không nghĩ không nhớ, không có một pháp hợp tình, tức là không có pháp thích ứng để mình đuổi theo.
Nhân giả! Làm sao cắm mỏ xuống, các ông nhiều tri giải, đã từng biết mặt mày y chăng? Kẻ xuất gia, cho đến bậc Bồ-tát Thập địa mãn tâm tìm dấu vết của y cũng chẳng được. Do đó, chư thiên hoan hỷ, địa thần đỡ chân, mười phương chư Phật khen ngợi, ma vương khóc lóc. Vì cớ sao? Bởi cái rỗng không này hoạt bát rạng ngời, không cội gốc, không chỗ nơi. Nếu người đến được trong ấy, con mắt đứng chớp đều không liên hệ.
Nếu chúng ta còn mang nhiều tri giải thì cắm mỏ xuống không nói được, không thể nào biết mặt y. Đó là chỗ hàng Bồ-tát Thập địa mãn tâm cũng không thấy dấu vết, người biết được cái đó rồi thì chư thiên hoan hỷ, địa thần đỡ chân, mười phương chư Phật đều khen ngợi, ma vương liền khóc lóc. Thế nào là ma vương khóc? Như trong chúng ta có một người bình thường hay nói chuyện vui vẻ với huynh đệ, đến một lúc họ tỉnh họ sống được với cái đó, họ lơ là không nói gì với ai, những người trước kia thân thiết với họ có buồn không? Buồn! Bạn tu thì buồn còn ma vương thì khóc. Có mấy con ma mang lốt người, nó thấy người đó dễ thương muốn tới nói chuyện dụ dỗ mà người đó không ngó ngàng gì tới, con ma thất bại nên khóc. Người tu phải đến chỗ đó mới là chỗ chân thật vững chắc.
Bởi vì cái rỗng không này nó hoạt bát rạng ngời không cội gốc, không chỗ nơi. Cái chân thật này hoạt bát hằng thấy hằng nghe, chẳng phải ù lỳ không biết gì. Ở mắt thì sáng ngời, ở tai thì rất thính, ở đâu cũng linh hoạt. Khi tâm chúng ta thanh thản rỗng thênh lúc đó các cơ quan rất sáng. Chính cái sáng hoạt bát rạng ngời không chỗ nơi là vô y, vô sự. Người đến được trong ấy thì con mắt dầu đứng lặng hay chớp nháy cũng đều trúng.
Nhân giả! Chớ cầu Phật, Phật là kẻ giặc đại sát nhân lừa bao nhiêu người rơi vào hầm ma dâm. Chớ cầu Văn-thù Phổ Hiền, là kẻ tớ ruộng nhà. Đáng tiếc, là bậc trượng phu đường đường mà uống thuốc độc của người. Bèn toan làm Thiền sư, trước mặt thấy thần thấy quỷ, về sau cuồng loạn chạy sang nhà bên tìm Sư bà đập ngói bói cho. Bị các lão trọc vô tri xủ quẻ bảo lễ quỷ Tổ sư, quỷ Phật, quỷ Bồ-đề Niết-bàn. Kẻ dâm nữ ấy chẳng hội, liền hỏi “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Lão trọc kia liền đánh giường thiền làm cảnh, hoặc dựng phất tử, bảo “trời trong tốt, mưa tốt, lồng đèn tốt”, lời lẽ khéo léo gượng làm tiết mục, có huyền lộ, điểu đạo, xòe tay. Nếu nhận những lời nói như thế, khác nào đem bát báu đựng đồ dơ, như đem phẩn làm hương chiên-đàn.
Ngài nói tới nói lui để quở trách, chúng ta có một cái sáng rỡ thanh tịnh như vậy mà cứ chạy đi cầu Phật cầu Bồ-tát. Phật là kẻ giặc đại sát nhân, vì càng cầu càng mất, cầu Phật là mất mình. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: Cúng dường một trăm người không giữ giới chẳng bằng cúng dường một người giữ giới, cúng dường một ngàn người giữ giới không bằng cúng dường một vị Tỳ-kheo, cúng dường trăm ngàn vị Tỳ-kheo không bằng cúng dường một vị chứng A-la-hán... cho đến cúng dường trăm ngàn đức Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tu vô chứng. Đạo nhân vô tu vô chứng là người sáng rỡ hiện tiền, Phật còn thua người này. Chỉ người đó là hơn hết, chúng ta quên người đó lại chạy đi cầu Phật, giết người này đi tìm Phật, nên nói Phật là kẻ đại sát nhân. Cho đến Văn-thù Phổ Hiền là kẻ tớ của người này, không nhận ra mà nổi loạn phát cuồng đi bói, bị lừa gạt chỉ dạy cầu người này, cầu cái kia, thờ chỗ nọ, bày biện đủ thứ chuyện... Ngay nơi mình đã có cái trong sạch sáng ngời mà không sống, không giữ được, đi tìm những cái khác giống như đem bát báu mà đựng đồ dơ. Chúng ta đã có cái sáng suốt thanh tịnh, không chịu nhận mà đi tìm những danh từ Phật, danh từ Bồ-tát... để dồn vô. Như vậy cái thanh tịnh mà dồn cái này cái kia vô làm lộn xộn, đó là bát báu mà đựng đồ dơ, đem phẩn trâu làm chiên-đàn.
Nhân giả! Kia đã là trượng phu, ta cũng vậy, khiếp nhược với ai mà trọn ngày đến các lão trọc mọi nơi nhận lấy đàm dãi của họ, trọn không biết hổ thẹn. Khổ thay! Khổ thay! Làm cuồng loạn ngươi, nhân quả rõ ràng sẽ làm thân trâu kéo cày mang bừa.
Hoặc kẻ tròng mắt chợt hiện, khí lực chẳng thêm, dùng gậy to đập xương sống ông, ăn cướp áo cơm của Phật, nói “Ta tu hành xong”.
Đức Phật đã nhận được như thế nên gọi ngài là Phật, chúng ta cũng có cái đó tại sao không nhận lại chạy đi cầu ngài? Phật là trượng phu mình cũng là trượng phu, vậy có gì thua mà khiếp nhược?
Ngài quở những người tròng mắt chợt hiện, tức là mới sáng một chút lóe một chút, hiểu được một chút, khí lực chẳng thêm, tức là đạo đức tu hành chưa tăng, lại dùng cách này cách kia để tỏ mình là thiền sư, nói Ta tu hành xong. Đó là lừa gạt chúng sanh. Gần đây có những gã học đạo tu hành có thấy được chút chút gì đó rồi tự mãn tự khoe, ăn thịt uống rượu, cho ta là xong việc, đó là cướp áo cơm tín thí.
Sư dạy chúng:
- Có khi cưỡi đầu cọp nắm đuôi cọp, câu thứ nhất rõ tông chỉ, khi không nói thấy bày cơ phong, như đồng điện chớp.
Ngài nói có khi cưỡi đầu cọp, cũng có khi nắm đuôi cọp, câu thứ nhất thông tông chỉ, như trong tam cú của Lâm Tế. Câu thứ nhất là thể, nên nói: Trong đệ nhất cú tiến được kham cùng Phật tổ làm thầy, câu thứ hai thì cùng thiên nhân làm thầy.
Sư có bệnh, Tăng hỏi:
- Lại có cái chẳng bệnh chăng?
Sư đáp:
- Có.
Tăng hỏi:
- Thế nào là cái chẳng bệnh?
Sư bảo:
- Ôi da! Ôi da!
Sư lại bảo chúng:
- Chụp không tìm tiếng luống nhọc tâm thần các ngươi; mộng tỉnh, tỉnh rồi trọn không có việc gì.
Nói xong, Sư ngồi yên mà tịch. Nhằm đời Đường niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu (865), ngày mùng ba tháng chạp năm Ất Dậu. Sư thọ 86 tuổi. Vua sắc thụy Kiến Tánh đại sư.
Cái biết rên đó là bệnh hay không bệnh? Chúng ta tu, giả sử lát nữa chết, thấy rõ thân lạnh từ dưới chân lạnh lần lên. Nếu thấy rõ cái chết thì mình khỏi chết. Thấy biết rõ tức là không theo cái chết, như vậy mới sống được với cái thật. Cái chẳng bệnh là cái biết đau, cái đó không bệnh. Bệnh là thân bệnh, chỗ này hư chỗ kia hoại, cái biết hư hoại đó không bệnh. Vì vậy khi Tăng hỏi cái gì chẳng bệnh, ngài nói Ôi da! Ôi da!
Chụp không tìm tiếng, muôn sự vật ở thế gian này đều là duyên hợp, không có thật. Chúng ta đuổi theo nó chẳng khác nào chụp bắt hư không. Âm thanh cũng thế, có thật đâu mà cứ đuổi theo nó khiến nhọc tâm thần. Mộng tỉnh, khi tỉnh mộng rồi thì trọn không có việc gì. Trong bài Mộng câu chót tôi nói Biết được mộng, tỉnh cơn mộng, ngang đây tỉnh rồi trọn không có việc gì.
Việc tu của chúng ta là phải biết rõ nơi mình có cái thật, những cái giả chúng ta đang mê đều như mộng, đuổi theo làm chi vô ích. Gìn giữ tứ đại, mê thanh sắc đều là đuổi theo mộng. Tứ đại, thanh sắc hiện tại thấy có rồi ngày sau đâu còn, không phải mộng là gì? Ngay nơi đó biết là mộng thì cái biết mộng không phải mộng.
Về cuộc đời của ngài Đức Sơn, nếu chúng ta không hiểu rõ thì dễ sanh chấp, rất có hại. Ngài Đức Sơn có những điểm:
Thứ nhất là nhiệt tình. Đối với đạo muốn tiến đến chỗ cứu cánh mà thiếu nhiệt tình cũng khó tiến, muốn lợi ích cho nhiều người mà thiếu nhiệt tình cũng khó làm được. Nhiệt tình là then chốt đưa chúng ta tới cứu cánh. Ngài Đức Sơn là một con người nhiệt tình, buổi đầu xông pha đi ruồng đuổi đám ma thiền, khi ngộ thiền rồi thì dám đem kinh đốt hết. Như vậy để thấy ngài hết sức gan dạ dứt khoát.
Thứ hai, ngài nói chỗ đã làm đã sống được, không phải nói để khoe ngôn ngữ khoe kiến giải. Bởi ngài đã sống được nên muốn dẹp hết cố chấp sai lầm của người tu. Ngài không dùng những lời văn vẻ, mà nói những lời thô nặng để mọi người thấy chỗ sai lầm dở yếu của mình. Thấy rồi thức tỉnh, sửa đổi để nhanh chóng thấy đạo. Ngài Đức Sơn vừa nhiệt tình vừa sống được với đạo, ngài nói như vậy làm như vậy không có lỗi. Nếu chúng ta nhiệt tình không có, đạo thì chưa sống được mà nói theo, bắt chước làm theo thì sao? Cửa địa ngục mở ra mời chúng ta.
LỜI DỊCH GIẢ
Chúng tôi cố tránh né không dám lạm bàn những ngôn ngữ và hành động của chư thiền đức. Bởi lẽ không muốn độc giả nhai lại những bã xác mía khô, để mỗi độc giả tự thưởng thức vị cam lồ của chính mình phát minh.
Nhưng, qua ngôn ngữ của ngài Đức Sơn, nếu chúng tôi không bàn e có nhiều độc giả hiểu lệch lạc, khiến bản nguyện của chúng tôi không đạt được, mà có thể trái lại là khác. Do đó, chúng tôi có ít lời bình như sau:
Đức Sơn là một ngôi sao sáng trong thiền môn vào thời Đường mạt. Những thiền sinh đến tham vấn đa số được ngài cho ăn gậy. Mỗi khi thượng đường dạy chúng, ngài thường dùng những ngôn ngữ táo bạo, mà người ta gọi là “mắng Phật mạ Tổ”.
Vì sao Đức Sơn có hành động ngôn ngữ ấy? Bởi lẽ ngài quá NHIỆT TÌNH, nói theo danh từ nhà thiền là có “tâm lão bà”. Khi ngài cất gánh kinh lên vai sang phương Nam, không vì tìm hiểu thiền, mà cốt “tiêu diệt chúng ma quái (thiền tông) để báo ơn Phật”. Tâm niệm ấy, đã nói lên ngài là sứ giả của Luật, Giáo. Luật, Giáo là lý tưởng tối thượng đời ngài phải phụng thờ. Như vậy, ngài sang phương Nam với nhiệt tình hộ pháp “tồi tà phụ chánh” (dẹp tà giúp chánh).
Sau khi gặp Long Đàm, lý tưởng tối thượng của ngài tôn thờ đã trở thành hình ảnh chết, là cặn bã của người xưa. Chí nguyện “tồi tà phụ chánh” của ngài đã tan biến như mây khói, hay ngược lại chính ngài tự thấy mình là người “phụ tà tồi chánh” (giúp tà dẹp chánh). Đột biến bất thần ấy, khiến ngài mang gánh kinh ra trước pháp đường thiêu sạch.
Có ngồi nhà giam mới biết thương những người bị giam, đó là nhiệt tình của Đức Sơn qua giai đoạn hai.
Thiền, Đạo là cái linh minh hiện hữu nơi mình. Song vừa khởi tâm tìm nó liền mất, mong thấy nó đã chẳng hiện. Nó không phải những văn tự khô cằn, cũng không phải ngôn ngữ sanh diệt. Bám vào văn tự, vào ngôn ngữ để cầu thiền cầu đạo thật là đại sai lầm. Bỏ mình đi cầu thiền cầu đạo nơi người, thật là việc “cưỡi trâu tìm trâu”, “Bính Đinh cầu hỏa”.
Nhưng, nhà giam văn tự ngôn ngữ, dây xiềng cầu cạnh bên ngoài đã và đang giam giữ xiềng xích bao nhiêu người có thiện chí học đạo. Do đó, với nhiệt tình của Đức Sơn phải đập tan nó bằng gậy, mạt sát chúng bằng lời, hầu mong cởi trói cho mọi người. Đúng như lời bình của Vân Môn sau này “chỉ có Đức Sơn mới hay khen ngợi Phật, Tổ”.
Phật, Tổ cố lập mọi phương tiện để phá chấp cho chúng ta. Chúng ta không mượn phương tiện ấy để gột sạch vọng chấp của mình, trái lại bám lấy phương tiện cho là cứu cánh, thật là tự lấy dây trói mình. Khi đã bị trói rồi, chạy cầu người khác mở trói. Đó là từ sai lầm này sang sai lầm khác, cả đời lẩn quẩn làm sao thoát được!
Ai đã có “tâm lão bà” trông thấy thế mà chẳng thương? Huống nữa Đức Sơn là một nạn nhân vừa thoát nạn, trông thấy bạn đồng hành của mình đang bị bao vây, làm sao không có những cái đánh tóe lửa, những lời mắng tét tai, lấy làm phương tiện cứu cấp.
Cho nên đọc Đức Sơn, chúng ta đừng khó chịu bởi ngôn ngữ và hành động của ngài, vì biết đó là phương tiện cấp bách, cũng đừng bắt chước ngôn ngữ ấy để phỉ báng Tam bảo mà phải đọa địa ngục. Chúng ta cần phải học nhiệt tình của Đức Sơn, và cốt nhận ra chỗ chí yếu mà ngài muốn chỉ dạy.