I- NỐI PHÁP VÂN NHAM ĐÀM THẠNH
Có bốn vị
1- Thiền sư Động Sơn Lương Giới
2- Thiền sư Hạnh Sơn Giám Hồng
3- Thiền sư Thần Sơn Tăng Mật
4- Hòa thượng U Khê
II- NỐI PHÁP THIỀN SƯ ĐẠO NGÔ VIÊN TRÍ
Có ba vị
1- Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư
2- Thiền sư Tiệm Nguyên Trọng Hưng
3- Hòa thượng Lộc Thanh
III- NỐI PHÁP THIỀN SƯ ĐỨC THÀNH (HOA ĐÌNH THUYỀN TỬ)
Có một vị
Thiền sư Giáp Sơn Thiện Hội
IV- NỐI PHÁP THIỀN SƯ THÚY VI VÔ HỌC
Có năm vị
1- Thiền sư Lệnh Tuân núi Thanh Bình
2- Thiền sư Đại Đồng núi Đầu Tử
3- Thiền sư Như Nột núi Đạo Tràng
4- Thiền sư Bạch Vân Ước
5- Thiền sư Nguyên Đạo núi Phục Ngưu.
✵✵✵
THIỀN SƯ ĐỘNG SƠN LƯƠNG GIỚI
(807 - 869)
Khai Tổ tông Tào Động
Hai năm nay chỉ nói về giáo, nên tôi giảng kinh luận cho đại chúng. Kể từ phần này nói thẳng về thiền, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng, khó hiểu. Người tu thiền phải hiểu căn bản của thiền là không bao giờ nói trắng như bình thường. Lục Tổ đã dạy các đệ tử sau này khi gặp người hỏi trắng thì lấy đen đáp, như hỏi “thế nào là trắng”, đáp “vì không phải đen”. Hỏi “thế nào là đen”, đáp “vì không phải trắng”. Trắng và đen chỉ là những cặp giả lập đối đãi nhau không có thật. Nếu xác nhận trắng là trắng thì không đúng lý, lại gây thêm tình chấp. Vì thế khi nói nó không phải đen để biết rằng trắng không tự có, vì có đen mà lập trắng, chúng đối đãi nhau chứ không có thật. Nếu nhân đó mà thấu hiểu thì thấy đạo, nếu không hiểu thì nghe đáp vẫn không có gì mới. Chúng ta đáp kỹ quá, xác định quá nên trở thành đóng đinh gắn chặt không cho sai chạy, không cho tháo rời gỡ bỏ, đó là gốc của chấp nê.
Sư họ Du quê ở Cối Kê. Thuở nhỏ theo thầy tụng kinh Bát-nhã đến câu “vô nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý”, Sư chợt lấy tay rờ mặt hỏi thầy:
- Con có mắt, tai, mũi, lưỡi... cớ sao trong kinh nói không?
Ông thầy kinh lạ, bảo:
- Ta chẳng phải thầy của ngươi.
Ông giới thiệu Sư đến núi Ngũ Duệ làm lễ thiền sư Linh Mặc xin xuất gia. Năm hai mươi mốt tuổi, Sư đến Tung Sơn thọ giới Cụ túc.
Ngài Động Sơn là Tổ của tông Tào Động truyền bá đến nay vẫn còn. Ngài đã có mặt khoảng đầu thế kỷ thứ IX, đến giờ là thế kỷ XX, hơn một ngàn năm, dòng thiền của ngài vẫn được lưu giữ, nhất là ở Nhật Bản, để thấy tông Tào Động rất dài lâu bền bỉ.
Mở đầu là câu chuyện của ngài Động Sơn lúc còn bé, theo thầy tụng kinh Bát-nhã, đến câu “vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý” nghĩa là không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ngài rờ mặt thấy có mắt, tai, mũi, lưỡi rõ ràng, tại sao kinh nói không, bèn xuống hỏi thầy. Câu chuyện nhỏ thôi nhưng có điều kỳ đặc, ngài Động Sơn lúc này chỉ mười hai mười ba tuổi mà đã nghi ngờ lời kinh, kinh nói không mà hiện mình có thì ngài khởi nghi thắc mắc hỏi. Như chúng ta thì kinh nói sao cứ tụng hết rồi thôi, không nghi gì hết. Trí tuệ của ngài nhạy bén từ lúc còn bé, với tinh thần học đạo là dù kinh nói mà thấy không đúng thì phải nghi. Nếu cho rằng kinh nói thì không có quyền nghi, không hiểu cũng cứ tụng cho có phước, đó là không biết học đạo.
Thầy ngài kinh ngạc, nói: Ta chẳng phải thầy ngươi. Biết người đệ tử này có chủng tử thiền nên giới thiệu đến thiền sư Linh Mặc. Khi học ở đây ngài đã lãnh hội được một phần nào lý thiền, năm hai mươi mốt tuổi thọ giới Cụ túc rồi, ngài liền đi du phương, tức là đi tham vấn nơi này nơi kia. Ngày xưa tinh thần học đạo không bị hạn cuộc vào một chỗ, học nơi thầy này rồi có thể tùy phương tiện đến các vị thầy khác học hỏi thêm để tìm ra lẽ thật.
Sư du phương, trước yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện. Gặp ngày kỵ trai Mã Tổ, Nam Tuyền hỏi chúng:
- Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng?
Cả chúng đều không đáp được. Sư bước ra thưa:
- Đợi có bạn liền đến.
Nam Tuyền bảo:
- Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giũa gọt.
Sư thưa:
- Hòa thượng chớ ép kẻ lành thành đứa giặc.
Ngài đến chỗ ngài Nam Tuyền là đệ tử Mã Tổ. Gặp ngày kỵ trai cúng dường Mã Tổ, ngài Nam Tuyền hỏi chúng: Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng? Cả chúng đều không đáp được. Sư bước ra thưa: Đợi có bạn liền đến.
Câu hỏi của ngài Nam Tuyền, cúng trai Mã Tổ có đến hay chăng, là hỏi giác linh của Mã Tổ đến hay cái gì đến? Ý hỏi về thực thể bất sanh bất diệt có đi có đến không. Chúng ta nhớ Bàng Uẩn hỏi Mã Tổ: Người không cùng muôn pháp làm bạn là người gì? Mã Tổ liền bảo: Khi nào ông hớp một ngụm cạn hết nước Tây Giang, tôi sẽ vì ông nói. Người không cùng muôn pháp làm bạn cũng là chỉ cho Mã Tổ ở đây, nhớ như vậy, nên khi hỏi có đến hay chăng, Động Sơn liền thưa: Đợi có bạn liền đến. Bạn là ai? Người đó không cùng muôn pháp làm bạn, nhưng đợi có bạn liền đến, nghĩa là thực thể đó không dính kẹt gì cả, nói có đến có đi hợp lý không? Đợi có bạn liền đến, tức là khởi diệu dụng độ sinh thì đến, không khởi thì không đến. Ngài Nam Tuyền khen: Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giũa gọt.
Câu đó có phạm lỗi gì mà ngài thưa: Hòa thượng chớ ép kẻ lành thành đứa giặc? Theo tâm niệm người thường, khi được khen thì dễ sanh ngã mạn. Vì thế lúc chưa được khen thì mình là người tốt, được khen rồi thì sanh tâm ngã mạn thành kẻ hèn. Hòa thượng khen con là Hòa thượng đã ép người tốt thành kẻ hèn.
Người xưa sợ tiếng khen, sợ mình đâm ra ngạo mạn. Chúng ta sợ chê, ngược với người xưa phải không? Người xưa muốn dẹp cái ngã qua một bên, chúng ta thì muốn đưa cái ngã lên cao, cho nên sợ chê. Tâm niệm của người học đạo hơn kém ở chỗ này. Như vậy ở chỗ ngài Nam Tuyền, Động Sơn đã thố lộ được một đôi phần, sau đi tiếp đến chỗ ngài Quy Sơn.
Kế đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu. Sư thưa:
- Được nghe Quốc sư Huệ Trung nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu thấu chỗ vi diệu ấy?
Quy Sơn bảo:
- Ta ở đây cũng có, chỉ là ít gặp được người kia.
Sư thưa:
- Con chưa hiểu, xin Thầy chỉ bày.
Quy Sơn dựng đứng phất tử, hỏi:
- Hội chăng?
Sư thưa:
- Chẳng hội, thỉnh Hòa thượng nói.
Quy Sơn bảo:
- Miệng do cha mẹ sanh, trọn không thể vì ngươi nói.
Sư thưa:
- Lại có người cùng Thầy đồng thời mộ đạo chăng?
Quy Sơn bảo:
- Ở Lễ Lăng tại huyện Du, trong các thất đá nối nhau, có đạo nhân Vân Nham, nếu hay bạt cỏ dại đón gió lành, ắt vị ấy là người kính trọng.
Sư bèn từ Quy Sơn, thẳng đến Vân Nham.
Tham vấn Quy Sơn, ngài dẫn câu: Được nghe Quốc sư Huệ Trung nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu thấu chỗ vi diệu ấy? Quy Sơn nói: Ta ở đây cũng có, chỉ là ít gặp được người kia. Người kia là người nào? Người kia là người vô tình, vì không gặp nên không hiểu nhau được.
Sư thưa: Con chưa hiểu, xin Thầy chỉ dạy. Ngài Quy Sơn dựng đứng phất tử, hỏi: Hội chăng? Nói: Chẳng hội, thỉnh Hòa thượng nói. Quy Sơn nói: Miệng do cha mẹ sanh, trọn không thể vì ngươi nói. Qua hình ảnh đó Quy Sơn có thuyết pháp cho ngài chưa? Thuyết bằng cách nào?
Trong nhà thiền thủy chung không có khác, đức Phật Thích-ca trong hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên nhìn toàn thể hội chúng, không nói gì. Ai nấy ngồi yên không hiểu, chỉ có ngài Ca-diếp chúm chím cười, Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm... phó chúc cho Ca-diếp.” Phật thuyết pháp bằng cách nào mà phó chúc cho ngài Ca-diếp? Phật đưa cành sen, có khác với ngài Quy Sơn đưa phất tử không? Hoa sen khác với cây phất tử nhưng đưa lên không khác. Việc làm của đức Phật và tổ Quy Sơn xưa nay cùng một ý, thuật đó chúng ta phải thấy rõ.
Ngài Quy Sơn đưa phất tử lên là đã nói rồi còn thỉnh nói gì nữa, nên ngài Quy Sơn bảo, miệng do cha mẹ sanh trọn không thể vì ngươi nói. Dùng miệng nói là còn trong ngôn ngữ đối đãi, không thể chỉ được lẽ thật nên không nói. Động Sơn chưa lãnh hội, nên hỏi thăm ngài Quy Sơn có người đồng thời ngộ đạo chỉ cho để tìm tới. Ngài Quy Sơn chỉ đến ngài Vân Nham.
Đến Vân Nham, Sư hỏi:
- Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe?
Vân Nham bảo:
- Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe.
Sư hỏi:
- Hòa thượng nghe chăng?
Vân Nham bảo:
- Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp.
Sư thưa:
- Con vì sao chẳng nghe?
Vân Nham dựng phất tử, hỏi:
- Lại nghe chăng?
Sư thưa:
- Chẳng nghe.
Vân Nham bảo:
- Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp?
Sư hỏi:
- Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì?
Vân Nham bảo:
- Đâu không thấy kinh Di-đà nói: “Nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật niệm Pháp”?
Ngay câu này Sư liền tỉnh ngộ, thuật bài kệ:
Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Vô tình thuyết pháp bất tư nghì
Nhược tương nhĩ thính chung nan hội
Nhãn xứ văn thanh phương đắc tri.
Dịch:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Vô tình nói pháp chẳng nghĩ nghì
Nếu đem tai ngóng trọn khó hội
Phải lấy mắt nghe mới liễu tri.
Sư thưa:
- Con còn dư tập (thói quen) chưa hết.
Vân Nham hỏi:
- Ngươi từng làm gì?
Sư thưa:
- Thánh đế cũng chẳng làm.
Vân Nham hỏi:
- Được hoan hỷ chưa?
Sư thưa:
- Hoan hỷ thì chẳng không, như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng.
Đến Vân Nham thì thắc mắc ôm ấp trong lòng cũng là vô tình thuyết pháp, nên khi đến ngài liền hỏi: Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe? Vân Nham trả lời: Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe. Dễ quá, phải không? Ai muốn nghe vô tình thuyết pháp thì phải là người vô tình mới được nghe.
Động Sơn liền hỏi thêm: Hòa thượng nghe chăng? Con không hiểu không nghe, Hòa thượng nghe chăng? Nếu Hòa thượng nghe tức là Hòa thượng thành vô tình.
Vân Nham trả lời rất khéo: Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp. Nếu ta là vô tình mà ngươi chưa vô tình làm sao nghe ta được?
Ngài vẫn thắc mắc: Con vì sao chẳng nghe? Ngài Vân Nham cũng y như cũ đưa cây phất tử lên, chúng ta thấy thuật này cụ thể rõ ràng. Hỏi: Lại nghe chăng? Động Sơn thưa: Chẳng nghe. Ngài Vân Nham bảo: Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp? Đó là thuật khéo của các thiền sư, vô tình thuyết pháp là như vậy.
Động Sơn có học kinh, nên xoay qua hỏi: Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì? Nói kinh thì con hiểu, nói như ngài con không hiểu nổi. Ngài Vân Nham liền dẫn kinh: Đâu không thấy kinh Di-đà nói: “Nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm Pháp”?
Ngay câu đó Động Sơn tỉnh ngộ vô tình thuyết pháp, ngài làm bài kệ:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Vô tình nói pháp chẳng nghĩ nghì
Nếu đem tai ngóng trọn khó hội
Phải lấy mắt nghe mới liễu tri.
Tại sao tai nghe không hội, mắt thấy mới liễu tri? Khi đưa cây phất tử lên, lấy lỗ tai nghe được gì? Ngay nơi đó mà nhìn thấy thì liễu tri vô tình thuyết pháp, nếu cứ tìm lời để nghe thì không bao giờ hiểu được vô tình thuyết pháp. Khi ngộ được điều này, Động Sơn hiểu vô tình thuyết pháp không phải do lỗ tai nghe mà chính mắt thấy.
Qua bài kệ này Động Sơn đã ngộ, có thể lần thứ hai, trước là đã lãnh hội ở thiền sư Nam Tuyền nên trả lời ngày giỗ Tổ: Đợi có bạn mới đến. Đây là chỗ ngộ sâu hơn, xem như ngài Vân Nham là bậc thầy của mình, nên ngài thưa: Con còn dư tập chưa hết, tuy thấy thì thấy vậy nhưng tập khí còn nhiều.
Ngài Vân Nham hỏi: Ngươi từng làm gì? Động Sơn thưa: Thánh đế cũng chẳng làm. Thói quen cũ thì còn chứ hiện giờ thì không làm gì.
Hỏi: Được hoan hỷ chưa? Thánh đế không làm tức là ông đã thấy được chỗ đó rồi, nhưng ông có hoan hỷ hay chưa? Động Sơn thưa: Hoan hỷ thì chẳng không, như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng.
Câu này rất rõ ràng, hoan hỷ thì chẳng không, vì khi thấy đạo, nhận ra bản lai diện mục rồi thì làm sao không hoan hỷ, nhưng như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng, thấy được hòn ngọc trong đống rác là rất mừng nhưng còn dơ lắm. Lấy ra được phải gạt bỏ rác rến, chùi rửa sạch sẽ mới thành hòn ngọc quý. Đống rác dụ cho dư tập, hòn ngọc quý dụ cho tâm chân thật.
Nói theo chúng ta bây giờ là “Hoan hỷ thì chưa có, nhưng tin ở trong đống rác có hòn ngọc”, phải không? Tin thôi, chưa có được hoan hỷ, vì chưa thốt lên tiếng “À!”. Phải có một hai lần “À” thì mới có hoan hỷ. Vậy nên chỉ tin trong đống rác, nghe Phật tổ nói mà tin thôi chứ chưa thấy, huống nữa là lấy ra. Người học thiền phải biết cách nói của các ngài mượn hình ảnh, không nói rõ như ngôn ngữ thường trong kinh sách.
Sư từ Vân Nham đi nơi khác. Vân Nham hỏi:
- Đi nơi nào?
Sư thưa:
- Tuy lìa Hòa thượng mà chưa định chỗ ở?
Vân Nham hỏi:
- Phải đi Hồ Nam chăng?
Sư thưa:
- Không.
Vân Nham hỏi:
- Phải đi về quê chăng?
Sư thưa:
- Không.
Vân Nham hỏi:
- Bao lâu trở lại?
Sư thưa:
- Đợi Hòa thượng có chỗ ở thì trở lại.
Vân Nham bảo:
- Từ đây một phen đi khó được thấy nhau.
Sư thưa:
- Khó được chẳng thấy nhau.
Sắp đi, Sư lại thưa:
- Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi “Tả được hình dáng của Thầy chăng?”, con phải đáp làm sao?
Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo:
- Chỉ cái ấy.
Sư trầm ngâm giây lâu. Vân Nham bảo:
- Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kỹ.
Sư vẫn còn hồ nghi.
Ngài từ giã Vân Nham đi. Ngài Vân Nham bảo: Từ đây một phen đi khó được thấy nhau. Ngài nói: Khó được chẳng thấy nhau.
Ngài Vân Nham biết khi Động Sơn đi một thời gian thì ngài tịch, thầy trò không gặp lại nên nói câu có tính cách huyền ký. Động Sơn liền thưa: Khó được chẳng thấy nhau. Thầy và trò đã khế hợp thì dầu ở xa ngàn dặm cũng hằng thấy nhau. Như kinh Phật nói, người làm đúng lời Phật dạy thì ở xa Phật ngàn dặm cũng như ở bên Phật, ngược lại làm khác lời Phật thì dù ở gần bên cũng không thấy Phật.
Khi ngài từ giã đi còn hỏi câu này: Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi “Tả được hình dáng của Thầy chăng?”, con phải đáp làm sao? Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo: Chỉ cái ấy.
Câu hỏi tả hình dáng của thầy chúng ta tưởng dễ, nhưng không phải tả hình dáng tướng mạo bằng xương thịt, mà là thật thể của thầy. Thể đó nếu có người bảo diễn tả thì làm sao con nói? Ngài Vân Nham lặng thinh một lúc rồi nói: Chỉ cái ấy. Chỉ cái ấy là cái gì? Động Sơn đã ngộ rồi mà đến đây cũng vẫn còn hơi suy nghĩ, bởi còn suy nghĩ nên ngài Vân Nham dặn dò: Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kỹ. Việc như vậy còn chưa xét kỹ, ngộ một phen không phải là xong việc.
Sau, Sư nhân qua suối nhìn thấy bóng, đại ngộ ý chỉ trước, liền làm một bài kệ:
Thiết kỵ tùng tha mịch
Điều điều dữ ngã sơ
Ngã kim độc tự vãng
Xứ xứ đắc phùng cừ.
Cừ kim chính thị ngã
Ngã kim bất thị cừ
Ưng tu nhậm ma hội
Phương đắc khế như như.
Dịch:
Rất kỵ tìm nơi khác
Xa xôi bỏ lảng ta,
Ta nay riêng tự đến
Chỗ chỗ đều gặp va.
Va nay chính là ta
Ta nay chẳng phải va
Phải nên như thế hội
Mới mong hợp như như.
Các thiền sư thường dùng một lời nói mang hai hình ảnh, đạo lý và sự vật, hai cái gắn liền sít sao với nhau. Đó là thuật khéo léo. Khi chúng ta đứng trên cầu, nhìn bóng mình ở dưới nước thì bóng và thân mình là một hay khác? Bóng chính là mình nhưng mình không phải bóng. Nếu không có thân ta thì làm sao có bóng nhưng thân tứ đại nặng nề, bóng không có sức nặng tuy không phải khác mà cũng không phải một.
Bài kệ này nói ý nghĩa người học đạo. Thiết kỵ tùng tha mịch, tức là tối kỵ không nên tìm ở nơi khác. Điều điều dữ ngã sơ, xa xôi cùng ta xao lãng, nếu tìm ở nơi khác thì càng ngày càng cách xa mình. Ngã kim độc tự vãng, nay tôi riêng tự đến. Xứ xứ đắc phùng cừ, chỗ chỗ đều gặp nó, nơi nào chốn nào cũng đều thấy nó.
Nó ra sao? Cừ kim chính thị ngã, nay nó chính là tôi. Ngã kim bất thị cừ, tôi không phải là nó, tại sao? Hai hình ảnh rõ ràng, bóng của ta và chính ta. Thân ta không phải là bóng vì là thân tứ đại có tướng sắc chất, còn bóng không có hình tướng nặng nề. Đây cũng ngầm ý thể chân thật kia không có tướng mạo nên không sanh diệt, còn thân này có tướng mạo nên sanh diệt. Thân không phải là thể chân thật kia, nhưng thể kia chính là thân này, vì nếu không có thể kia thì thân này không thành, không thân này thì làm sao nhận ra thể kia. Hai cái không rời nhau như hình với bóng, nhưng thân này không phải thể kia, nếu thân này là thể kia thì thân này hoại, thể kia cũng mất.
Ưng tu nhậm ma hội, tức là phải hiểu như thế ấy. Phương đắc khế như như, mới khế hợp với như như.
Đây là lần triệt ngộ của Động Sơn, hiểu được ý chỉ của ngài Vân Nham, khi nói về chỗ tả hình dáng của thầy. Người học thiền học đạo không phải chỉ ngộ một lần, mà phải qua năm bảy phen, đến cuối cùng mới gọi là triệt ngộ, lúc đó mới viên mãn. Chúng ta mới lơ mơ hiểu được chút gì rồi vỗ ngực xưng ta thế này thế nọ là chưa đến đâu, phải triệt ngộ thì mới không còn nghi ngờ.
Sư đến Lặc Đàm yết kiến Thủ tọa Sơ. Thủ tọa dạy chúng có câu:
Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Phật giới, đạo giới bất tư nghì.
Dịch:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Phật giới, đạo giới chẳng nghĩ nghì.
Sư hỏi:
- Phật giới, đạo giới chẳng hỏi, người nói Phật giới đạo giới là gì? Chỉ xin nói một câu?
Thủ tọa làm thinh không đáp. Sư giục:
- Sao chẳng nói mau?
Thủ tọa bảo:
- Nói chẳng được.
Sư thưa:
- Nói cũng chưa từng nói, cái gì mà “nói chẳng được”?
Thủ tọa cũng không đáp. Sư thưa:
- Phật với đạo chỉ là danh tự, sao chẳng dẫn kinh.
Thủ tọa hỏi:
- Kinh nói thế nào?
Sư thưa:
- Được ý quên lời (Đắc ý vong ngôn).
Thủ tọa bảo:
- Vẫn còn đem ý kinh để trong tâm làm thành bệnh.
Sư thưa:
- Nói Phật giới, đạo giới bệnh lớn nhỏ?
Thủ tọa không đáp được, sáng hôm sau tịch. Thời nhân gọi Sư là “hỏi chết Thủ tọa”.
Ngài đến tham vấn Thủ tọa Sơ, Thủ tọa nói một câu rằng:
Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Phật giới, đạo giới bất tư nghì.
Dịch:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Phật giới, đạo giới chẳng nghĩ nghì.
Phật giới và đạo giới, hai cái không thể nghĩ nghì. Ngài hỏi: Phật giới, đạo giới chẳng hỏi, người nói Phật giới, đạo giới là gì? Thông thường chúng ta cứ hỏi về câu nói, đây không hỏi câu nói mà hỏi về người nói câu ấy là gì. Thủ tọa không đáp được, ngài cứ thúc hoài, Thủ tọa bảo: Đáp không được. Hai ba phen như thế. Ngài bảo: Phật đạo chỉ là danh tự, sao chẳng dẫn kinh? Thủ tọa hỏi: Kinh nói thế nào? Ngài thưa: Được ý quên lời.
Thủ tọa bèn bẻ lại: Vẫn còn đem ý kinh để trong tâm làm thành bệnh. Nói như vậy vẫn là bệnh. Động Sơn bẻ lại câu khác: Nói Phật giới, đạo giới bệnh lớn nhỏ? Phật giới, đạo giới cũng từ kinh ra, tôi bảo dẫn kinh thì ngài nói bệnh, như ngài nói Phật giới, đạo giới thì bệnh lớn hay nhỏ?
Đến chỗ này Thủ tọa bí luôn, sáng hôm sau thị tịch. Không phải tức mà tịch, Thủ tọa chứng minh mình đã nhập đạo, nhưng ngôn ngữ có lẽ không được lanh lẹ, bị hỏi thì lúng túng, tuy lúng túng mà sanh tử tự tại. Ngài tịch là để giữ uy tín, tuy trả lời không được nhưng đã nhận được tánh thật rồi, nên muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. Đó là đặc biệt của người đã thấy đạo.
Đến cuối niên hiệu Đại Trung (847-860) đời Đường, Sư trụ núi Tân Phong tiếp dẫn học chúng, về sau giáo hóa thạnh hành ở Động Sơn thuộc Cao An, Dự Chương.
Một hôm nhân ngày thiết trai cúng kỵ Vân Nham, có vị tăng hỏi:
- Hòa thượng ở chỗ Tiên sư được chỉ dạy gì?
Sư đáp:
- Tuy ở trong ấy mà chẳng nhờ Tiên sư chỉ dạy.
Tăng hỏi:
- Đã chẳng nhờ chỉ dạy, lại thiết trai cúng dường làm gì?
Sư bảo:
- Tuy nhiên như thế, đâu dám trái lại Tiên sư.
Tăng hỏi:
- Hòa thượng trước yết kiến Nam Tuyền tìm được manh mối, vì sao lại thiết trai cúng dường Vân Nham?
Sư bảo:
- Ta chẳng trọng Tiên sư đạo đức, cũng chẳng vì Phật pháp, chỉ trọng chẳng vì ta nói phá.
Về sau, ngài giáo hóa thạnh hành ở Động Sơn. Nhân ngày thiết trai cúng Vân Nham, có vị tăng hỏi: Hòa thượng ở chỗ Tiên sư được chỉ dạy gì? Ngài đáp: Tuy ở trong ấy mà chẳng nhờ Tiên sư chỉ dạy. Nghe thật là bạc bẽo, ở chỗ tiên sư mà không nhờ chỉ dạy gì hết.
Tăng hỏi: Đã chẳng nhờ chỉ dạy, lại thiết trai cúng dường làm gì? Nếu không nhờ chỉ dạy thì có ân nghĩa gì mà cúng dường. Ngài trả lời: Tuy nhiên như thế, đâu dám trái lại Tiên sư. Tuy nhiên như thế tức là tuy không nhờ chỉ dạy mà không dám trái lại tiên sư, luôn trung thành không sai một mảy. Đây là chỗ khéo léo, trung thực với đường lối của thầy. Thầy chỉ dạy chỗ tu thì mình gắng thực hành tu tập, không phải tổ chức lễ giỗ lớn gọi là trung thành có hiếu với thầy.
Tăng hỏi: Hòa thượng trước yết kiến Nam Tuyền tìm được manh mối, vì sao lại thiết trai cúng dường Vân Nham? Ngài bảo: Ta chẳng trọng Tiên sư đạo đức, cũng chẳng vì Phật pháp, chỉ trọng chẳng vì ta nói phá. Không trọng tiên sư đạo đức, vì đạo đức là chuyện riêng của thầy, cũng không trọng Phật pháp vì Phật pháp là chuyện của Phật, mà trọng chỗ chẳng vì ta nói phá.
Đây là một lối giáo dục kỳ đặc. Thông thường thế gian, người giáo dục giỏi khi giảng bài cho học trò nghe thì khéo dùng những ví dụ khiến cho học trò dễ hiểu. Người dạy càng giỏi thì càng nhiều ví dụ. Hay hơn nữa là khi dạy đến đề tài gì đều có hình ảnh hay những vật cụ thể cho học trò thấy hiểu. Lối giáo dục của nhà thiền lại có một cái kỳ đặc khác, không giảng mà chỉ gợi cho người ta nghi, nghi rồi ôm cái nghi đó bất chợt phát ngộ ra. Như vậy ông thầy chỉ đưa học trò đến chỗ phải nghi ngờ, rồi từ nghi vỡ ra thì học trò tự hiểu, tự phát minh.
Thầy không chỉ dạy, chỉ làm cho tự mình phát minh thì điều đó không bao giờ quên. Không nói trắng cho hiểu theo lời thầy dạy, chỉ gợi cho nghi ngờ rồi tự tìm, sáng lên. Ngài quý trọng tiên sư Vân Nham tạo điều kiện cho ngài phát minh, đó là điều đáng phục nhất, mang ơn đời đời. Tinh thần nhà thiền muốn chúng ta tự nhận ra để muôn đời không quên. Nếu thầy giải thích rõ ràng thì đó là chuyện của thầy nói, người nghe cũng phơn phớt thôi không nhớ lâu, còn tự mình tìm được, nhận ra được, đó mới thật là của mình. Đây là điều kỳ đặc của nhà thiền, nên Động Sơn nói chỉ trọng chẳng vì ta nói phá.
Sau, Sư quyền khai Ngũ vị để giáo hóa học đồ. Ngũ vị là: 1- Chánh trung thiên. 2- Thiên trung chánh. 3- Chánh trung lai. 4- Thiên trung chí. 5- Kiêm trung đáo.
Có bài tụng ngũ vị:
Chánh trung thiên
Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền
Mạc quái tương phùng bất tương thức
Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm.
Thiên trung chánh
Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh
Phân minh địch diện biệt vô chân
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.
Chánh trung lai
Vô trung hữu lộ cách trần ai
Đản năng bất xúc đương kim húy
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.
Thiên trung chí
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ
Hảo thủ do như hỏa lý liên
Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.
Kiêm trung đáo
Bất lạc hữu vô thùy cảm hòa
Nhân nhân tận dục xuất thường lưu
Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa.
Dịch:
Chánh trung thiên
Đêm tối canh ba trăng rọi hiên
Lạ chi cùng gặp chẳng cùng biết
Ẩn ẩn vẫn còn ôm hận phiền.
Thiên trung chánh
Mất sáng lão bà tìm cổ kính
Rõ ràng đối diện đâu riêng chân
Thôi chớ quên đầu theo nhận bóng.
Chánh trung lai
Đường cái trong không cách trần ai (bụi bặm)
Chỉ hay chẳng chạm ngày nay kỵ
Cũng thắng tiền triều cắt lưỡi tài.
Thiên trung chí
Hai kiếm đua nhau cần gì tránh
Tay khéo vẫn như lò lửa sen
Nguyên vẹn nơi mình xung thiên chí.
Kiêm trung đáo
Chẳng rơi có không ai dám hòa
Người người trọn muốn vượt dòng thường
Tan hợp trở về ngồi trong tro.
Sau, ngài quyền khai Ngũ vị để giáo hóa học đồ. Ngũ vị là: 1- Chánh trung thiên. 2- Thiên trung chánh. 3- Chánh trung lai. 4- Thiên trung chí. 5- Kiêm trung đáo.
Bài kệ thứ nhất:
Chánh trung thiên
Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền
Mạc quái tương phùng bất tương thức
Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm.
Chánh là chỉ cho thể, thiên là chỉ cho dụng. Chánh trung thiên là trong thể có dụng, trong lý có sự. Thể tượng trưng cho cái tối, nên nói Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền, đêm tối canh ba lúc nửa đêm rất tối, lại là trước khi có trăng. Đã tối thì có gặp cũng không biết nhau, nên nói Mạc quái tương phùng bất tương thức, chớ cho là lạ khi gặp nhau mà không biết nhau. Khi chúng ta nhận được bản thể, bản thể ấy từ đâu mà có? Thể không rời dụng.
Chủ trương của tông Tào Động dùng hai chữ hồi hỗ là xoay lại với nhau, nghĩa là cái này với cái kia không tách rời mà chuyển qua xoay lại, trong cái này có cái kia, trong cái kia có cái này. Vì thế nói trong thể có dụng, thể thì tượng trưng cho cái tối, nên nói Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền, đã là trong tối thì gặp nhau không thấy biết nhau.
Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm, thầm thầm ôm lòng hận của ngày xưa. Đó là để chỉ cho khi người tu ở bước thứ nhất ngộ được bản thể, nhận ra nơi mình có bản thể bất sanh bất diệt, là chỗ ví như nửa đêm không trăng. Nhận ra được rồi nhưng tập khí của muôn đời vẫn chưa sạch hết nên mới nói Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm. Những tạp khí như vướng víu khiến hòn ngọc chưa phát huy hết tánh sáng của nó. Đây là giai đoạn thứ nhất, người tu khi ngộ được bản thể nhưng thói quen, tập khí nhiều đời vẫn còn ôm ấp chưa tan hết. Vì thế nói trong chánh có thiên, tức là trong thể có dụng, nhưng dụng chưa đến chỗ rốt ráo.
Bài kệ thứ hai:
Thiên trung chánh
Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh
Phân minh địch diện biệt vô chân
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.
Thiên là chỉ cho dụng, trong dụng có thể. Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh, thất hiểu là mất sáng, lão bà thì đầu bạc, cổ cảnh là gương xưa, hai cái này sáng hết, vừa mới mất sáng thì gặp sáng. Những hình ảnh đó để nói lên chữ thiên tức là dụng, dụng là sáng của gương. Từ cái dụng này khởi công tu hành, nghĩa là đã nhận được thể rồi, còn phải khởi công tu hành để trở về với nó. Đây là chỗ rõ ràng sáng suốt, nên nói phân minh địch diện biệt vô chân, rõ ràng đối diện không còn cái chân nào riêng khác nữa.
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh, thôi chớ quên đầu theo nhận bóng, tại sao? Đây dẫn kinh Lăng-nghiêm, Diễn-nhã-đạt-đa một hôm nhìn vô gương, thấy đầu mặt trong gương rõ ràng, cho đó là đầu mặt thật của mình. Khi úp gương lại không thấy đầu mặt thì hoảng sợ, ôm đầu chạy la “tôi mất đầu rồi!” Đó là quên đầu mà nhận bóng, quên cái thật mà nhận cái giả. Như người mê không nhận ra thể chân thật mà chỉ chấp nhận cái giả dối cho là mình.
Thể chân thật ấy là tâm không sanh diệt, tất cả bóng ảnh là thân giả dối là vọng tưởng lăng xăng. Chúng ta quen sống với vọng tưởng, bất chợt lúc vọng tưởng lặng hết thì tưởng như mất mình. Như Diễn-nhã-đạt-đa úp gương lại, không thấy bóng liền hoảng la mất đầu rồi. Cái đầu thật có mất không? Chỉ mất cái bóng trong gương. Cũng vậy, niệm vọng tưởng lăng xăng khiến chúng ta nghĩ suy tính toán, khi niệm lặng xuống thì hết vọng tưởng, nhưng cái thấy được niệm vọng tưởng không mất. Cũng như cái đầu thật thấy được bóng trong gương không mất bao giờ, chỉ mất cái bóng trong gương. Người tu đến giai đoạn này không còn quên cái thật nhận cái giả nữa mà hằng trở về với cái thật. Như thế Thiên trung chánh là trong dụng có thể, dụng luôn luôn hướng về thể, tức là dụng công tu hành để trở về thể, đó là ý bài kệ thứ hai.
Bài kệ thứ ba:
Chánh trung lai
Vô trung hữu lộ cách trần ai
Đản năng bất xúc đương kim húy
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.
Chánh trung lai, tức là trong chánh có thiên, lai là đến, như Động Sơn nói đợi có bạn liền đến, nơi thể có diệu dụng đến hỗ trợ.
Vô trung hữu lộ cách trần ai, trong chỗ không mà có đường thì bị bụi bặm ngăn cách. Trong không tức là trong lý không mà còn dùng phương tiện thì còn có cái ngăn cách bụi bặm. Đản năng bất xúc đương kim húy, chỉ hay khéo đừng chạm húy đương triều. Dùng tất cả ngôn ngữ phương tiện trình nói cho người mà không kẹt không dính, không để cho người chấp chặt lời nói. Như chúng ta nói bản lai diện mục, chân như, Phật tánh... chính là húy kỵ của nhà thiền. Vì nói ra là gây chấp, chỉ nhớ tên mà không thấy được thể. Nên đây bảo phải khéo đừng chạm húy. Các thiền sư không bao giờ nói đến chân như, Phật tánh..., chỉ nói những lời không dính dáng. Đó là cái khéo của các ngài ứng dụng mà không bị kẹt.
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài, cũng thắng tiền triều cắt lưỡi tài. Động Sơn sanh ở đời Đường, trước đó đời Tùy có vị quan có tài biện luận rất giỏi, khi biện luận hay chỉ trích lỗi của vua nên bị kết tội tử hình. Sắp hành hình ông kêu con trai đến dặn dò: cha chết là vì cái lưỡi, từ đây về sau con lấy kim châm vào lưỡi của mình để nhớ rằng chính cái lưỡi này đã giết mình. Bảo con lấy kim châm lưỡi cho đau cho nhớ đời đời. Đó là châm lưỡi mà đây gọi là cắt lưỡi, nghĩa là dầu cho biện luận đại tài rồi cũng phải bị tử hình, không bằng người khéo nói, không bị dính kẹt trong danh từ. Đây là diệu dụng đã nhập thể, bởi diệu cho nên rất khéo.
Bài kệ thứ tư:
Thiên trung chí
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ
Hảo thủ do như hỏa lý liên
Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.
Chữ Thiên ở đây có bản khác để chữ Kiêm, Kiêm trung chí. Đến chỗ này không còn thiên không còn chánh mà gồm hết tức là diệu dụng đầy đủ.
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ, hai mũi kiếm giao tranh không cần né tránh. Hảo thủ do như hỏa lý liên, người tay khéo cũng tợ như hoa sen ở trong lò lửa. Thường hoa sen để vô lửa thì khô héo cháy rụi, đây hoa sen trong lò lửa mà tươi nhuần. Người đến chỗ này có diệu dụng hoàn hảo thì giống như hoa sen trong lò lửa, như lưỡi kiếm nhắm thẳng vào mình, khỏi cần tránh né cũng không bị thương tích. Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí, uyển nhiên tức là rõ ràng, tự có chí xung thiên nghĩa là vượt hơn hết.
Sự tu tập của chúng ta, theo mười mục chăn trâu thì Chánh trung lai là mục thứ tám, một vòng tròn trắng, trâu và chăn đều mất, còn Thiên trung chí là diệu dụng nhập thể giống như mục thứ chín trở về nguồn gốc.
Bài kệ thứ năm:
Kiêm trung đáo
Bất lạc hữu vô thùy cảm hòa
Nhân nhân tận dục xuất thường lưu
Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa.
Kiêm trung đáo đặc biệt hơn. Kiêm là gồm, trung đáo tức là gồm hết những phần ở trên, đến đây là viên mãn.
Bất lạc hữu vô, đến đây không còn có không, tức là không còn đối đãi; thùy cảm hòa, đã không còn đối đãi thì lấy gì hòa hợp. Nói hòa hợp là còn cái này với cái kia, đến chỗ không đối đãi nên không có gì hòa hợp. Nhân nhân tận dục xuất thường lưu, mỗi người đều muốn ra khỏi dòng thường. Dòng thường là dòng đối đãi sanh tử. Người đến chỗ viên mãn đạo quả, vượt khỏi sanh tử thường tình.
Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa, tan hợp lại trở về ngồi trong tro. Đây là trở về thể. Thể là chỗ tối như bài kệ ban đầu, nên đây dùng chữ ngồi trong tro. Từ dụng nhập thể viên mãn không còn cách biệt. Như bức tranh số mười thõng tay vào chợ, hình ảnh thiền sư áo bày ngực, chân không giày dép đi vào chợ, làm việc bình thường như mọi người.
Như vậy Ngũ vị của Động Sơn nói lên sức tu hành của người từ khi ngộ đạo rồi khởi dụng tu, từ chỗ khởi dụng ban đầu chưa viên mãn, kế đó là công dụng càng ngày càng tiến càng đầy đủ, đến vị sau cùng viên mãn. Ý nghĩa của năm vị này nói đầy đủ chỗ dụng công, không có gì khó hiểu.
Qua giai đoạn nói về Hướng, Phụng, Công, Cộng Công, Công Công. Động Sơn thấy năm vị đó còn nặng về lý thuyết, người ta khó ứng dụng, nên ngài nói qua năm cái này để ứng dụng được rõ ràng.
Sư thượng đường dạy chúng:
- Khi Hướng làm sao? Khi Phụng làm sao? Khi Công làm sao? Khi Cộng Công làm sao? Khi Công Công làm sao?
Có vị tăng đứng ra hỏi:
- Thế nào là Hướng?
Sư đáp:
- Khi ăn cơm thì sao?
- Thế nào là Phụng?
- Khi trái thì sao?
- Thế nào là Công?
- Khi buông cuốc thì sao?
- Thế nào là Cộng Công?
- Chẳng được sắc.
- Thế nào là Công Công?
- Chẳng chung.
Sư nói tụng:
Hướng
Thánh chúa do lai pháp đế Nghiêu
Ngự nhân dĩ lễ khúc long yêu
Hữu thời náo thị đầu biên quá
Đáo xứ văn minh hạ thánh triều.
Phụng
Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy
Tử quy thanh lý khuyến nhân quy
Bách hoa lạc tận đề vô tận
Cánh hướng loạn phong thâm xứ đề.
Công
Khô mộc hoa khai kiếp ngoại xuân
Đảo ky ngọc tượng sấn kỳ lân
Nhi kim cao ẩn thiên phong ngoại
Nguyệt kiểu phong thanh hảo nhật thần.
Cộng công
Chúng sanh chư Phật bất tương xâm
Sơn tự cao hề thủy tự thâm
Vạn biệt thiên sai minh để sự
Chá cô đề xứ bách hoa tân.
Công Công
Đầu giác tài sanh dĩ bất kham
Nghĩ tâm cầu Phật hảo tu tàm
Điều điều không kiếp vô nhân thức
Khẳng hướng nam tuần ngũ thập tam.
Dịch:
Hướng
Thánh chúa từng dùng pháp đế Nghiêu
Kẻ hầu theo lễ khúc long yêu
Chợ ồn có lúc đi qua thẳng
Đến chỗ văn minh mừng thánh triều.
Phụng
Tắm sạch máu me đấy là ai?
Trong tiếng đỗ quyên khuyến người về
Trăm hoa rụng hết, kêu không bặt
Lại đến núi sâu hót mải mê.
Công
Hoa nở cây khô, xuân kiếp ngoại
Cưỡi ngược voi ngọc đuổi kỳ lân
Ngoài ngàn chót núi hôm nay ẩn
Trăng sáng gió lành buổi sáng tươi.
Cộng Công
Chúng sanh chư Phật nào lẫn xen
Núi tự cao chừ nước tự sâu
Ngàn sai muôn khác rõ việc ấy
Chá cô vừa hót trăm hoa cười.
Công Công
Đầu mới mọc sừng việc chẳng nên
Đem tâm cầu Phật thật hư hèn
Xa xôi không kiếp nào ai biết
Chịu hướng về nam năm mươi ba.
Tăng hỏi: Thế nào là Hướng? Ngài đáp: Khi ăn cơm thì sao? Hướng là nhìn lên nhắm vào vật gì đó. Như nhắm đến cái đèn, hay nhắm về tượng Phật, hướng về tượng Phật. Hướng là luôn luôn nhìn lên, hỏi nhìn lên mà ngài nói khi ăn cơm thì sao? Tức là hỏi trắng lấy đen đáp, hỏi ngước lên thì đáp nhìn xuống. Đó là cái thuật của nhà thiền, nếu không nắm được thuật này thì nghe rất kỳ lạ. Hỏi thế nào là Hướng, trả lời khi ăn cơm thì sao? Ăn cơm có ai nhìn lên không? Nhìn xuống mâm mới ăn được, chứ nhìn lên làm sao ăn? Đây là đáp khéo.
Hỏi: Thế nào là Phụng? Đáp: Khi trái nhau thì sao? Phụng là vâng, là tuân theo, ngược với vâng là trái. Như vậy hỏi Phụng thì lấy trái đáp.
Hỏi: Thế nào là Công? Công tức là công phu. Nói: Khi buông cuốc thì sao? Nếu cầm cuốc cuốc đất thì có công, còn buông cuốc nghỉ là không công. Hỏi công thì lấy không công đáp.
Hỏi: Thế nào là Cộng công? Cộng công tức là chung cái công lại hai ba lớp. Đáp: Chẳng được sắc. Tức là sao? Công phu chung lại đầy đủ là thành hình tướng. Như nói tôi đóng cái bàn, bàn đóng xong thì có hình tướng. Đây trả lời cộng công là chẳng được sắc, nghĩa là không có hình tướng.
Hỏi: Thế nào là Công công? Đáp: Chẳng chung. Công công tức là hai lớp công chung, trả lời chẳng chung, tức là lấy cái riêng đáp. Đó là ngài ứng dụng lối đáp trái lại để trả lời các câu hỏi. Người học thiền không nắm vững thuật này thì không hiểu gì hết, hỏi một đàng trả lời một ngả.
Đến bài tụng này chúng ta càng thấy rõ ý, nhìn các hình vẽ tô đen trắng sẽ dễ hiểu. Hình đen nhiều trắng ít, đen là tượng trưng cho Chánh. Chánh trung thiên là Hướng, Thiên trung chánh là Phụng, Chánh trung lai là Công, Thiên trung chí là Cộng công, Kiêm trung đáo là Công công, mỗi cái theo nhau, hiểu được một cái thì mấy cái kia đều hiểu. Tuy ngôn ngữ khác nhưng hình ảnh hay lối tu không khác, hiểu rồi thì xem trong các bài kệ thấy rất rõ.
Hướng
Thánh chúa do lai pháp đế Nghiêu
Ngự nhân dĩ lễ khúc Long yêu
Hữu thời náo thị đầu biên quá
Đáo xứ văn minh hạ thánh triều.
Thánh chúa tức là vua, tượng trưng cho chánh, là thể; thần là tượng trưng cho thiên, là dụng. Thánh chúa do lai pháp đế Nghiêu, Thánh chúa từ xưa pháp vua Nghiêu, đó là nói về thể. Ngự nhân dĩ lễ khúc Long yêu, ngự nhân tức là thần, dùng khúc lễ nhạc tên là Long yêu, là nói về dụng. Hữu thời náo thị đầu biên quá, có khi ở chỗ ồn náo mà đi qua. Đáo xứ văn minh hạ thánh triều, đáo xứ là tới cuối cùng, hạ thánh triều tức là vào triều chầu vua.
Phần Hướng này là nhắm trở về thể, nhận ra thể, rồi có chút ít dụng công để trở về với nó. Như bầy tôi về triều chầu vua. Phối hợp với Ngũ vị tức là Chánh trung thiên.
Phụng, tương tợ Thiên trung chánh. Phụng tức là vâng, vâng là chỉ cho Thiên là thực hành.
Phụng
Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy
Tử quy thanh lý khuyến nhân quy
Bách hoa lạc tận đề vô tận
Cánh hướng loạn phong thâm xứ đề.
Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy, tịnh tẩy nùng trang là tắm gội máu me sạch, vi a thùy là vì cái gì. Máu me tượng trưng cho ô nhiễm không sạch, tắm gội là cố gắng tu hành, dẹp bao nhiêu thứ phiền não. Bài trước ý nói ngộ rồi nhưng phiền não chưa hết, như biết có viên ngọc ở trong đống rác. Bây giờ vẹt rác ra nhặt lấy viên ngọc đem đi rửa sạch, đó là giai đoạn Phụng nên dùng chữ tắm sạch máu mủ. Khi dọn dẹp nhớp nhúa cho chính mình cũng là làm lợi ích cho chúng sanh.
Tử quy thanh lý khuyến nhân quy, tử quy là con chim tử quy, trong tiếng chim tử quy khuyên người trở về. Chim tử quy còn gọi là chim đỗ quyên hay chim quốc. Chim tử quy luôn luôn hót, tiếng nó thiết tha như kêu nhắc. Câu này nói ý gì? Đem hết thân tâm, khả năng của mình giáo hóa, khuyến dụ chúng sanh thấy đạo, trở về với đạo.
Bách hoa lạc tận đề vô tận, trăm hoa rụng hết mà tiếng hót của chim tử quy cũng không hết, ý chỉ sự lợi tha không có bờ bến. Cánh hướng loạn phong thâm xứ đề, lại nhằm trong núi sâu chập chùng hót luôn không ngừng. Ý nói người đến giai đoạn dụng công này bản thân đã dẹp sạch hết những ô uế phiền não, lại còn luôn luôn nhắc nhở khuyến hóa dạy dỗ mọi người cùng trở về, không kể thời gian không gian, không kể khi an khi nguy. Đó là tiếng hót không ngừng của chim tử quy. Dùng hình ảnh đời mà nói đạo, như thế không phạm húy.
Công
Khô mộc hoa khai kiếp ngoại xuân
Đảo ky ngọc tượng sấn kỳ lân
Nhi kim cao ẩn thiên phong ngoại
Nguyệt kiểu phong thanh hảo nhật thần.
Công, tương tợ Chánh trung lai. Khô mộc hoa khai kiếp ngoại xuân, khô mộc là cây khô, hoa khai là hoa nở, kiếp ngoại xuân là mùa xuân ở ngoài thời gian. Đây là giai đoạn Chánh trung lai, cây khô là tượng trưng thể, cây khô nảy hoa là được thể rồi khởi ra dụng. Đây là cái dụng phi thường, nên giống như trong cây khô trổ hoa, hoa ấy vượt ngoài thời gian, biểu hiện bằng kiếp ngoại xuân.
Đảo ky ngọc tượng sấn kỳ lân, đảo ky là cưỡi ngược, ngọc tượng là voi ngọc, sấn kỳ lân là đuổi kỳ lân, cưỡi ngược con voi ngọc mà đuổi kỳ lân. Diệu dụng này giống như người cưỡi voi bằng ngọc mà đuổi kỳ lân. Voi ngọc có chạy được không? Mà đây cưỡi ngược chứ không cưỡi xuôi, rồi đuổi theo con kỳ lân. Đây ví dụ người thể nhập chỗ này rồi thì công phu giáo hóa, tiếp độ chúng sanh không còn chướng ngại. Diệu dụng không thể lường, không thể biết hết được, nên mượn hình ảnh đó diễn tả tính bất tư nghì.
Người có những diệu dụng như thế bản thân họ thì sao? Nhi kim cao ẩn thiên phong ngoại, mà nay ở ẩn ngoài ngàn ngọn núi, ở ngoài ngàn ngọn núi làm mọi việc lợi ích chúng sanh mà không dính không kẹt.
Nguyệt kiểu phong thanh hảo nhật thần. Đến lúc này trăng sáng, gió mát, mặt trời đẹp, tất cả đều tươi sáng. Đó là lúc ở trong cảnh rất nhàn hạ thảnh thơi, đẹp đẽ, làm lợi ích cho chúng sanh mà không có gì bận nhọc.
Cộng Công
Chúng sanh chư Phật bất tương xâm
Sơn tự cao hề thủy tự thâm
Vạn biệt thiên sai minh để sự
Chá cô đề xứ bách hoa tân.
Cộng Công, tức là Thiên trung chí hay gọi là Kiêm trung chí, không còn đối đãi nữa. Chúng sanh chư Phật bất tương xâm, chúng sanh hay chư Phật không xâm phạm nhau. Đến đây thì không còn danh từ Phật, danh từ chúng sanh, không thấy Phật khác với chúng sanh. Sơn tự cao hề thủy tự thâm, núi thì tự cao, nước thì tự sâu không còn nằm trong đối đãi riêng biệt.
Trên cái thiên sai vạn biệt của muôn sự muôn vật đều hiện bày chân thật, cho nên vạn biệt thiên sai minh để sự, tức là ngàn sai muôn khác đều rõ được việc đó. Thể chân thật trùm khắp trên muôn vật không còn có riêng tư. Chính chỗ này, ngài Thiền Lão thiền sư trả lời vua Lý Thái Tông. Vua hỏi Hòa thượng ở đây bao lâu? Ngài đáp: Đản tri kim nhật nguyệt, thùy thức cựu xuân thu. Chỉ biết ngày nay, ai biết những năm về trước. Hỏi: Ngài ở đây làm gì? Đáp: Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh, bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân. Nghĩa là trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác, trăng trong mây bạc hiện toàn chân. Như vậy tất cả đều thể hiện chân thực, chính chỗ này diễn tả rõ ràng trong vạn biệt thiên sai đó chính là làm sáng rõ việc này.
Chá cô đề xứ bách hoa tân, chỗ chim chá cô hót trăm hoa tươi. Đó là lúc người và cảnh không còn phân chia, không còn thấy mình khác, chúng sanh khác.
Công Công
Đầu giác tài sanh dĩ bất kham
Nghĩ tâm cầu Phật hảo tu tàm
Điều điều không kiếp vô nhân thức
Khẳng hướng nam tuần ngũ thập tam.
Cuối cùng, Công Công tức sánh ngang Kiêm trung đáo. Đầu giác tài sanh dĩ bất kham, đầu vừa mọc sừng đã không kham nhận. Đã thể nhập cái chân thật đó rồi thì còn khởi gì nữa, vì thế xem như đầu mọc sừng không chấp nhận được. Nhà thiền hay nói đầu thêm đầu là thế, đã tới nơi rồi mà còn khởi tâm mong cầu là trật, là bệnh.
Câu sau nói rõ Nghĩ tâm cầu Phật hảo tu tàm, vừa khởi tâm cầu Phật thì phải nên hổ thẹn. Điều điều không kiếp vô nhân thức, điều điều là xa xôi vời vợi, không kiếp là từ cái kiếp không, vô nhân thức là không ai biết. Thể chân thật ấy sẵn từ thuở nào xa xôi, không ai nhận biết được.
Khẳng hướng nam tuần ngũ thập tam, nhận đi về phương nam năm mươi ba. Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm khi phát tâm tu, nhờ sự khuyến khích của ngài Văn-thù đi tham vấn năm mươi ba vị thiện tri thức, cuối cùng gặp lại ngài Văn-thù, tức là trở về căn bản trí. Khởi tâm ban đầu từ căn bản trí, cuối cùng thể nhập viên mãn cũng về căn bản trí. Phối hợp với bài tụng Kiêm trung đáo thì đây là chỗ trở về ngồi trong tro (Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa). Chỗ thể nhập này, bức tranh thứ mười diễn tả thiền sư đầu trần chân đất, đi vào hàng thịt hàng cá dạy người tu. Đây là chỗ đặc biệt của thiền sư, các ngài nói không kẹt không dính, không lập ngôn để chúng ta không vướng trên ngôn ngữ.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn bửa củi, bèn bó một bó củi ném trước mặt Sư. Sư hỏi:
- Nặng nhiều ít?
Tuyết Phong thưa:
- Người khắp trên mặt đất chung giở không nổi.
Sư hỏi:
- Sao đem đến đây được?
Tuyết Phong đáp không được.
Tuyết Phong bửa củi, bó một bó ném trước mặt ngài. Ngài hỏi: Nặng nhiều ít? Nếu chúng ta thì chắc nổi giận, người ta đang ngồi mà vác bó củi quăng ngang trước mặt, vô lễ không? Nhưng người xưa lúc nào cũng chỉ nhắm vào cái đó, không để tâm thương ghét, lễ phép hay không. Ngài hỏi nặng nhiều ít? Đó là giương bẫy, nói nhiều nói ít gì cũng đều mắc kẹt trong bẫy hết. Ngài Tuyết Phong khéo trả lời: Người khắp trên mặt đất chung giở không nổi. Như vậy là gỡ được cái bẫy rồi.
Phá được hầm bẫy nhưng lại kẹt cái khác. Ngài liền hỏi: Sao đem đến đây được? Không ai giở nổi, làm sao đem đến đây? Ngang đó Tuyết Phong không đáp được. Cách đối đáp của người xưa rất khéo, nhanh như chớp không chậm trễ như chúng ta.
Có vị tăng hỏi:
- “Luôn luôn siêng lau chùi”, vì sao không được y bát? Chẳng biết người nào nên được?
Sư bảo:
- Người không vào cửa được.
Tăng thưa:
- Vả như người không vào cửa lại được hay không?
Sư bảo:
- Tuy nhiên như thế, chẳng được chẳng trao cho người kia. Nói thẳng rằng “xưa nay không một vật” vẫn chưa nên được y bát kia. Ngươi hỏi người nào nên được, nơi đây nên có một chuyển ngữ, hãy nói có chuyển ngữ gì?
Lúc ấy có tăng nói đến chín mươi sáu chuyển ngữ mà chưa khế hợp, một chuyển ngữ sau rốt mới khế hợp ý Sư. Sư bảo:
- Xà-lê sao không nói chuyển ngữ ấy trước?
Một vị tăng hỏi: “Luôn luôn siêng lau chùi” vì sao không được y bát? Chẳng biết người nào được? Câu hỏi này lấy ý trong bài kệ của ngài Thần Tú, câu “thời thời cần phất thức”. Ngài Thần Tú không được y bát, chẳng biết người nào được? Ai không biết Lục Tổ, tại sao lại hỏi? Ngài trả lời: Người không vào cửa được.
Tăng hỏi lại: Vả người không vào cửa lại được hay không? Nếu đã không vào cửa thì còn thấy gì là được hay không được. Ngài trả lời: Tuy nhiên như thế, chẳng được chẳng trao cho, tức là tuy không vào cửa mà không từ chối truyền y bát, nên nói: Nói thẳng rằng “xưa nay không một vật” vẫn chưa nên được y bát kia. Đây là câu trích trong bài kệ của Lục Tổ: “Bản lai vô nhất vật”, xưa nay không một vật, câu đó chỉ được vào cửa chứ chưa được truyền y bát. Tại sao? Nếu câu đó xứng đáng truyền y bát thì đâu đợi Ngũ Tổ phải nói kinh Kim Cang. Ngũ Tổ nói đến đoạn “Bất ưng trụ sắc sanh tâm... Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Lục Tổ mới thốt lên “đâu ngờ... đâu ngờ...” cũng như “À!” lên một tiếng. “Đâu ngờ tự tánh xưa nay thanh tịnh...” ngang đó mới được truyền y bát. Đây là dẫn tích này tích nọ một cách khéo léo không nói trắng ra.
Có vị tăng hỏi:
- Bình thường Thầy dạy chúng con đi đường chim (điểu đạo), chưa biết thế nào là đường chim?
Sư bảo:
- Chẳng gặp một người.
Tăng thưa:
- Đi thế nào?
Sư bảo:
- Phải ngay dưới chân không việc khác.
Tăng thưa:
- Như đi đường chim, phải là “bản lai diện mục” chăng?
Sư bảo:
- Xà-lê nhân đâu mà điên đảo?
Tăng thưa:
- Chỗ nào là con điên đảo?
Sư bảo:
- Nếu không điên đảo vì sao lại nhận giặc làm con?
Tăng thưa:
- Thế nào là bản lai diện mục?
Sư bảo:
- Chẳng đi đường chim.
Ở thế gian có đường thủy đường bộ, cũng có đường chim là hàng không. Đường thủy đường bộ thì gặp tàu bè xe cộ, người, vật..., đường chim thì không gặp ai cả. Ngài trả lời cụ thể: Chẳng gặp một người. Ý nói không gặp ai cũng có nghĩa không còn thấy có ngã nhân đối đãi. Còn ngã nhân là chưa phải đi đường chim. Câu này hay ở chỗ vừa là hình ảnh cũng vừa là ý thâm trầm bên trong.
Hỏi: Đi thế nào? Đã không gặp ai thì đi thế nào? Đáp: Phải ngay dưới chân không việc khác. Đi thì phải cất bước, rất thực tế. Nhưng còn mang ngụ ý rằng, cái đó ngay ở dưới chân ông, ngay ở nơi ông thôi chứ không đâu xa lạ. Một câu mà hai ý rõ ràng.
Tăng chưa hiểu, liền chuyển qua câu khác: Như đi đường chim, phải là “bản lai diện mục” chăng? Ngài bảo rằng: Xà-lê nhân đâu mà điên đảo? Đó là chỗ không gặp một người, huống nữa có danh tự. Đã dùng danh tự bản lai diện mục, đó là điên đảo.
Tăng không chịu: Chỗ nào là con điên đảo? Ngài nói: Nếu không điên đảo vì sao lại nhận giặc làm con? Cái thật mà không thấy lại chấp vào ngôn ngữ văn tự, đó là nhận giặc làm con.
Tăng lại hỏi: Thế nào là bản lai diện mục? Nói như vậy mà vẫn còn chấp danh từ bản lai diện mục. Ngài nói: Chẳng đi đường chim. Nếu còn chấp giữ thì chẳng bao giờ đi đường chim. Chúng ta thấy đối đáp rất khéo, nếu không hiểu thì thấy dường như nói trên trời trên mây.
Ban đêm tham vấn mà không thắp đèn. Có vị tăng ra thưa hỏi, hỏi xong thối lui. Sư bảo thị giả thắp đèn và gọi vị tăng vừa thưa hỏi đến. Vị tăng ấy ra đến gần Sư. Sư bảo:
- Lấy ba lạng bột đến cho Thượng tọa này.
Vị tăng ấy phủi áo trở lui. Từ đây tỉnh giác bèn đem tất cả y và dụng cụ cho hết, thiết trai cúng dường. Ba năm sau vị tăng ấy đến từ giã Sư. Sư bảo:
- Đi vui vẻ!
Lúc đó Tuyết Phong đứng hầu, hỏi Sư:
- Vị tăng này từ giã bao lâu sẽ trở lại?
Sư bảo:
- Y chỉ biết một lần đi, mà không biết trở lại.
Vị tăng ấy về nhà tăng đến chỗ để y bát, ngồi tịch. Tuyết Phong đến báo tin cho Sư. Sư bảo:
- Tuy nhiên như thế, so với lão tăng vẫn còn ba đời.
Ban đêm tham vấn đặc biệt không đốt đèn, thầy trò đối đáp nhau. Có vị tăng tham vấn hỏi xong rồi lui ra, có thể ngài thấy vị này sắp tỉnh giác nên bảo đốt đèn và gọi Tăng vừa tham vấn. Tăng đến gần, ngài bảo thị giả lấy ba lạng bột cho ông tăng này. Nói vậy thì ông tỉnh liền. Tại sao? Hiểu được ý trên không có gì khó. Tối là thể, sáng là dụng, ông nhận được thể thì phải khởi dụng mới thành công. Tăng ngộ được ý chỉ đó, phủi tay áo lui ra. Từ đây tỉnh giác tu tập ba năm, thấy được tự tại nên đến từ giã, ngài khen, bảo: Đi vui vẻ!
Tăng đó đi, ngài Tuyết Phong đứng hầu hỏi: Vị tăng này từ giã bao lâu sẽ trở lại? Ngài nói: Y chỉ biết một lần đi, mà không biết trở lại. Ngài biết Tăng từ giã là đi luôn.
Tăng tịch xong tin báo đến ngài, ngài nói: Tuy nhiên như thế mà so với lão tăng vẫn còn ba đời. Tức là còn thua Lão tăng ba đời. Người xưa chết sống tự tại, tuy nhiên câu nói của Động Sơn cho chúng ta hiểu rõ hơn. Trong nhà thiền, có người ngộ tới đó mà duyên độ sanh không có, có người ngộ tới đó mà duyên độ sanh mạnh. Nhiều người ngộ rồi tịch vì thấy duyên độ sanh không có, người có duyên thì nỗ lực giáo hóa, không phải người nào ngộ rồi đều cũng như nhau.
Sư thượng đường dạy chúng:
- Lại có người không đền đáp bốn ơn ba cõi chăng?
Chúng đều không đáp, Sư lại bảo:
- Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, bước bước không chỗ nơi, thường không gián đoạn mới được tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày!
Sư thượng đường dạy chúng: Lại có người không đền đáp bốn ơn ba cõi chăng? Chúng ta tu luôn luôn nguyện đem hết sức mình đền đáp bốn ơn ba cõi. Nghĩa là đền đáp ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, ơn đàn-na thí chủ, ơn đất nước, ơn thầy tổ giáo hóa... Có thân thì phải đền đáp. Có một cái không ăn uống, không thọ dụng của ai, cũng không ai sanh ra được nên không có đền đáp.
Tăng đáp không được. Ngài nói: Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Nếu không nhận ra con người đó thì khó thoát khỏi họa sanh tử luân hồi tiếp nối. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, tâm phải luôn luôn không dính mắc vật nào hết, bước bước không chỗ nơi, đi mà không bước đi vì không dính nơi này chốn nọ. Thường không gián đoạn mới được tương ưng, phải hằng sống không dính không kẹt, luôn luôn miên mật không xen hở, chánh niệm mới có thể tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày! Đây là lời nhắc nhở của ngài. Tu phải cẩn mật tha thiết, tu lếu lếu như chúng ta thì chắc là lâu xa lắm.
Tào Sơn Bổn Tịch đến từ Sư, Sư bèn phó chúc:
- Ta ở chỗ tiên sư Vân Nham thân được ấn chứng “Bảo cảnh tam-muội” là yếu chỉ cùng tột, nay phó chúc cho ngươi. Lời rằng:
Như thị chi pháp
Phật tổ mật phó
Nhữ kim đắc chi
Nghi thiện bảo hộ.
Ngân uyển thạnh tuyết
Minh nguyệt tàng lộ
Loại chi phất tề
Hỗn tắc tri xứ
Ý bất tại ngôn
Lai cơ diệc phó.
Động thành khòa cữu
Sai lạc cố trữ
Bối xúc câu phi
Như đại hỏa tụ
Đản hình văn thể
Tức thuộc nhiễm ô.
Dạ bán chánh minh
Thiên hiểu bất lộ
Vi vật tác tắc
Dụng bạt chư khổ
Tuy phi hữu vi
Bất thị vô ngữ.
Như lâm Bảo cảnh
Hình ảnh tương đổ
Nhữ bất thị cừ
Cừ chánh thị nhữ
Như thế anh nhi
Ngũ tướng hoàn cụ.
Bất khứ bất lai
Bất khởi bất trụ
Bà bà hòa hòa
Hữu cú vô cú
Chung bất đắc vật
Ngữ vị chánh cố.
Trùng ly lục hào
Thiên chánh hồi hỗ
Điệp nhi vi tam
Biến tận thành ngũ
Như trì thảo vị
Như Kim cang xử.
Chánh trung diệu hiệp
Xao xướng song cử
Thông tông thông đồ
Hiệp đới hiệp lộ
Thố nhiên tắc kiết
Bất khả phạm ngỗ.
Thiên chân nhi diệu
Bất thuộc mê ngộ
Nhân duyên thời tiết
Tịch nhiên chiêu trước.
Tế nhập vô gián
Đại tuyệt phương sở
Hào hốt chi sai
Bất ưng luật lữ.
Kim hữu đốn tiệm
Duyên lập tông thú
Tông thú phân hỹ
Tức thị quy củ
Tông thông thú cực
Chân thường lưu chú.
Ngoại tịch trung dao
Hệ câu phục thử
Tiên thánh bi chi
Vi pháp đàn độ
Tùy kỳ điên đảo
Dĩ truy vi tố.
Điên đảo tưởng diệt
Khẳng tâm tự hứa
Yếu hợp cổ triệt
Thỉnh quán tiền cổ
Phật đạo thùy thành
Thập kiếp quán thọ.
Như hổ chi khuyết
Như mã chi chú
Dĩ hữu hạ liệt
Bảo kỷ trân ngự
Dĩ hữu kinh dị
Ly nô bạch cổ.
Nghệ dĩ xảo lực
Xạ trúng bách bộ
Tiễn phong tương trị
Xảo lực hà dự.
Mộc nhân phương ca
Thạch nữ khởi vũ
Phi tình thức đáo
Ninh dung tư lự.
Thần phụng ư quân
Tử thuận ư phụ
Bất thuận phi hiếu
Bất phụng phi phụ.
Tiềm hành mật dụng
Như ngu như lỗ
Đản năng tương tục
Danh chủ trung chủ.
Dịch:
Pháp như thế ấy
Phật tổ thầm trao
Nay ngươi được đó
Nên khéo giữ gìn.
Chén bạc đựng tuyết
Trăng sáng che cò
Loại đó chẳng đồng
Lẫn thì biết chỗ
Ý chẳng ở lời
Cơ đến cũng đến.
Động thành hang ổ
Sai rơi đoái giữ
Tránh chạm đều lỗi
Như đống lửa lớn
Chỉ bày màu vẻ
Liền thuộc nhiễm ô.
Nửa đêm sáng tỏ
Trời sáng chẳng bày
Vì vật làm phép
Dùng nhổ các khổ
Tuy chẳng hữu vi
Chẳng phải không nói.
Như đến gương báu
Hình bóng thấy nhau
Ngươi chẳng phải y
Y chính là ngươi
Như trẻ trong nôi
Năm tướng đầy đủ.
Chẳng đi chẳng lại
Chẳng dậy chẳng đứng
Tu oa! Tu oa!
Có câu không câu
Trọn chẳng được vật
Vì lời chưa rõ.
Trùng ly sáu hào
Thiên chánh hồi hỗ
Chồng chất làm ba
Biến khắp thành năm
Như vị trì thảo
Như chày Kim cang.
Chánh trung khéo gộp
Nhịp xướng đồng cử
Thông tông thông đồ
Hiệp đới hiệp lộ
Cẩn thận thì tốt
Chẳng nên phạm nghịch.
Thiên chân mà diệu
Chẳng thuộc mê ngộ
Thời tiết nhân duyên
Lặng lẽ rành rõ.
Nhỏ vào chẳng hở
Lớn tột chỗ nơi
Sai trong mảy may
Chẳng hợp luật lữ.
Nay có đốn tiệm
Duyên lập tông thú
Tông thú phân vậy
Tức là quy củ
Tông thông thú tột
Chân thường trôi chảy.
Ngoài yên trong loạn
Cột ngựa dẹp chuột
Thánh trước thương đó
Vì làm pháp thí
Tùy kia điên đảo
Lấy đen làm trắng.
Tưởng điên đảo diệt
Khứng tâm tự nhận
Cốt hợp vết xưa
Xin xem xưa trước
Phật đạo sắp thành
Mười kiếp quán cây.
Như khuyết của cọp
Như đốm của ngựa
Do có thấp kém
Bàn báu xe quý
Do có sợ hãi
Mèo nhà bò trắng.
Nghệ do sức khéo
Trăm bước bắn trúng
Tên nhọn sắp chạm
Sức khéo làm gì?
Người gỗ vừa ca
Gái đá đứng múa
Tình thức chẳng đến
Đâu cho suy nghĩ.
Thần phụng nơi vua
Con thuận nơi cha
Không thuận chẳng hiếu
Không phụng chẳng phụ.
Làm thầm dụng kín
Như ngu như ngốc
Chỉ hay tiếp nối
Gọi chủ trong chủ.
Sau đây là bài Bảo cảnh tam-muội của tổ Vân Nham truyền cho Động Sơn, ngài truyền lại cho Tào Sơn. Sao gọi là Bảo cảnh tam-muội? Bảo cảnh là gương báu, tam-muội là chánh định, nghĩa là chánh định như gương báu. Chánh định thâm sâu tột cùng thì trong định vẫn sáng suốt, như gương sáng không lay động. Các thiền sư thường nói: “Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán”, nghĩa là nó vẫn yên tịnh sáng suốt, không phân biệt, tuy không phân biệt nhưng cái gì ra cái nấy. Khi người tu trở về với tâm thể chân thật thì hằng yên lặng sáng suốt giống như gương báu không lay động chiếu soi hình bóng trung thực. Đây dùng hình ảnh gương báu để ví dụ cho chánh định này.
BẢO CẢNH TAM MUỘI
Như thị chi pháp
Phật tổ mật phó
Nhữ kim đắc chi
Nghi thiện bảo hộ.
Pháp như thế ấy tức là pháp Bảo cảnh tam-muội, Phật tổ thầm trao pháp ấy cho ông, nay ông được đó phải khéo bảo hộ.
Mở đầu là lời dặn dò, đến phần nội dung bên trong:
Ngân uyển thạnh tuyết
Minh nguyệt tàng lộ
Loại chi phất tề
Hỗn tắc tri xứ
Ý bất tại ngôn
Lai cơ diệc phó.
Ngân uyển thạnh tuyết, minh nguyệt tàng lộ. Chén bạc đựng tuyết, trăng sáng che cò. Đây là những hình ảnh rất khó phân biệt. Chén bằng bạc là trắng mà đựng tuyết cũng trắng, thì có thể phân biệt cái nào là tuyết, cái nào là chén được không? Mặt trăng sáng và con cò trắng đậu ngoài đồng, khi mặt trăng sáng dễ thấy con cò không? Tuy hai cái tương tợ khó so sánh khó phân biệt, nhưng còn có thể phân biệt được.
Loại chi phất tề, loại đó chẳng đồng, giống loại không đồng, chén bạc với tuyết tuy khó phân biệt nhưng còn có thể biết, thể chân thật này không thể xếp vào loại nào để so sánh cho bằng được. Cái này chỉ có thể hỗn tắc tri xứ, hỗn là mờ tối, là thầm lặng, trong cái thầm lặng mà tự nhận biết. Chỉ có thầm lặng mà biết được chỗ đó, không thể dùng trí suy xét hay dùng thức phân biệt đến chỗ đó được. Ý nói thể chân thật không hình tướng, không đối đãi so sánh ví dụ gì được, người muốn biết được chỉ là thầm lặng mà biết, trí hay thức đều không biết tới được.
Ý bất tại ngôn là ý không ở nơi lời, nghĩa là lời nói và ý của nó không ở một chỗ. Thường chúng ta căn cứ nơi lời mà hiểu được ý, nhưng lời của các Tổ sư ở ngoài ý. Như ngài Vân Môn nói “Hướng mặt về nam để xem sao bắc đẩu”, sao bắc đẩu ở phía bắc mà xây mặt về nam làm sao thấy? Lời nói và ý không giống nhau, nếu căn cứ trên lời nói thì không thể nào hiểu ý Tổ sư, tuy vậy nhưng gặp cơ đến thì cũng trao. Tức là gặp những người căn cơ bén nhạy hay đã chín muồi thì một câu một lời liền được trao phó, vì thế nói Lai cơ diệc phó.
Động thành khòa cữu
Sai lạc cố trữ
Bối xúc câu phi
Như đại hỏa tụ
Đản hình văn thể
Tức thuộc nhiễm ô.
Động thành khòa cữu, vừa dấy niệm phân biệt thì đã thành hang ổ rồi. Sai lạc cố trữ, sai lạc tức là sai đi thì rơi vào chỗ cố trữ là kìm giữ. Như chúng ta nghe nói tâm thể thanh tịnh không có vọng niệm, muốn sống với tâm thể thanh tịnh đó, bèn đè xuống kìm giữ vọng niệm. Như vậy là sai lạc hay trúng? Hiểu sai thì thành ra kìm giữ.
Bối xúc câu phi, trái chạm đều chẳng được. Bối là trái có nghĩa là ly, xúc là chạm có nghĩa là hợp. Có cái gì chạm nhau mà không hợp? Ví dụ tay tôi muốn chạm cái bàn thì phải hợp đến cái bàn. Bối là xây lưng lại, tức là lìa ra. Hai bên nào ly nào hợp đều chẳng phải, nghĩa là không mắc kẹt hai bên.
Như đại hỏa tụ giống như đống lửa lớn, quăng cái gì vô đều cháy tuốt hết, không còn lại gì. Tất cả thuận nghịch, thị phi... những gì đối đãi hai bên đến chỗ này đều tiêu hết, không còn một vật gì. Đây chỉ cho thể chân thật không dính một vật gì.
Đản hình văn thể, tức thuộc nhiễm ô. Chỉ có hình, có văn, có thể, thì liền thuộc về nhiễm ô. Nếu đem hình tướng diễn tả hay đem văn thể để nói về nó thì đều thuộc về nhiễm ô, không phải là thể thanh tịnh.
Dạ bán chánh minh
Thiên hiểu bất lộ
Vi vật tác tắc
Dụng bạt chư khổ
Tuy phi hữu vi
Bất thị vô ngữ.
Dạ bán chánh minh, nửa đêm chính sáng. Chỗ này không tách rời giữa thể và dụng, giữa sự và lý, cho nên nửa đêm tối cũng là đúng ngọ là sáng. Tối và sáng, hai cái không rời nhau, như trong bài tụng Chánh trung thiên, Thiên trung chánh. Chánh là thể, thiên là dụng, thể dụng không tách rời nhau, hay sự lý không có riêng biệt.
Thiên hiểu bất lộ, thiên hiểu là trời sáng, bất lộ là không hiển bày, tức là giữa trời sáng vẫn tối. Sáng và tối cũng không tách rời. Hai câu này nói lên ý rằng người muốn đạt đến chỗ đó thì không nên chia riêng đây là dụng kia là thể, đây là lý kia là sự, mà phải ngay nơi sự có lý, ngay nơi thể có dụng. Ứng dụng như vậy thì tu hành không sai lệch.
Vi vật tác tắc, vì vật mà làm phép tắc. Đây chỉ cho cái thể trùm hết muôn vật, nó là chủ của muôn vật nên nó vì vật làm phép tắc. Câu này tương tợ câu kệ: “Hữu vật tiên thiên địa, vô hình bản tịch liêu”, tức là có vật trước cả trời đất, không có hình tướng, luôn luôn vắng lặng. Nó chính là nguyên tắc của muôn sự muôn vật. Dùng cái đó để làm gì? Để nhổ hết gốc khổ của chúng sanh, nên nói dụng bạt chư khổ. Như vậy, thể chân thật ấy nếu chúng ta nhận được rồi thì mới nhổ hết gốc khổ cho chúng sanh.
Tuy phi hữu vi, bất thị vô ngữ. Tuy chẳng phải hữu vi, mà không phải không nói. Thể này không phải hữu vi nhưng không phải không nói, vẫn có phương tiện để nói. Nói bằng cách nào? Như có người hỏi ngài Triệu Châu: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Ngài trả lời: “Cây bá trước sân.” Ý Tổ sư từ Ấn độ sang là hữu vi hay vô vi? Ngài trả lời cây bá ở trước sân, thì tuy không phải hữu vi mà vẫn có lời nói. Không phải vì vô vi rồi làm thinh. Tuy nói được mà không thể nói đến cái đó.
Như lâm bảo cảnh
Hình ảnh tương đổ
Nhữ bất thị cừ
Cừ chánh thị nhữ
Như thế anh nhi
Ngũ tướng hoàn cụ.
Như lâm bảo cảnh, hình ảnh tương đổ. Như đến trước gương báu hình ảnh đều hiện rõ ràng. Gương báu là dụ cho thể chân thật. Thể chân thật thì không có bóng dáng hình tượng, gương báu không có hình nhưng tùy duyên, người đến thì hiện người, vật đến thì hiện vật. Không có hình tướng tùy duyên hiện ra muôn hình muôn tướng.
Nhữ bất thị cừ, cừ chánh thị nhữ. Nhữ là ngươi, cừ là y. Ngươi không phải là y, y chính là ngươi, tại sao? Mình không phải là cái đó vì mình là thân tứ đại sanh diệt mà cái đó thì không sanh diệt. Cái đó chính là thể của mình, không có thể chân thật này thì không có mình. Chúng ta lầm nhận tướng sanh diệt cho là mình là nhận cái giả, còn thể chân thật chính là mình thì quên nó. Người quên lãng thể chân thật nên gọi là mê. Đây chỉ rõ cho chúng ta thấy có một cái chân thật không phải là cái thân này, cái chân thật đó chính là chúng ta mà chúng ta không biết, nên nói ngươi không phải là y mà y chính là ngươi.
Như thế anh nhi, như đứa bé ở đời, bé này còn ở trong nôi. Ngũ tướng hoàn cụ là năm tướng đầy đủ. Năm tướng là thân thể đủ năm vóc đầu mình tay chân.
Bất khứ bất lai
Bất khởi bất trụ
Bà bà hòa hòa
Hữu cú vô cú
Chung bất đắc vật
Ngữ vị chánh cố.
Bất khứ bất lai, bất khởi bất trụ. Đứa bé còn nằm trong nôi không đi không lại, không ngồi không đứng. Bà bà hòa hòa là tiếng bập bẹ của đứa bé. Hữu cú vô cú, có câu không câu, dù nó nói bi bô mà cũng không thành câu thành lời có ý nghĩa.
Đứa bé có năm tướng nhưng thể của nó là một, ví dụ cho một thể chân, phân biệt có năm thứ Chánh trung thiên, Thiên trung chánh…
Chung bất đắc vật, ngữ vị chánh cố. Lời khóc của đứa bé oa oa thầm nói cái gì? Không nói ra vật gì, không thành câu, không có nghĩa vì lời của nó chưa đúng, nên nói ngữ vị chánh, lời chưa chánh. Các thiền sư khi muốn diễn tả chỗ không lời, các ngài nói những câu giống như đứa bé, như “hư!” hay một tiếng hét. Những câu đó chỉ có tiếng mà không thành câu không thành lời.
Trùng ly lục hào
Thiên chánh hồi hỗ
Điệp nhi vi tam
Biến tận thành ngũ
Như trì thảo vị
Như Kim cang xử.
Trùng ly lục hào, ly là quẻ ly, trùng là lặp lại, quẻ ly mà lặp lại hai lần thành ra sáu hào, hào là các vạch âm dương của quẻ trong kinh Dịch. Thiên chánh hồi hỗ, hồi hỗ tức là xoay qua xoay lại trộn lẫn nhau. Trong Ngũ vị quân thần thì thiên và chánh xen lẫn.
Điệp nhi vi tam, biến tận thành ngũ, điệp là chồng chất, nghĩa là chồng chất lại thì thành ba, biến khắp ra thì thành năm. Thành ba là chỉ cho Bát-nhã, Pháp thân, Giải thoát, thành năm là từ Chánh trung thiên, tới Kiêm trung đáo là năm vị.
Như trì thảo vị, trì thảo là cây ngũ vị tử, cây này trong thuốc nam thuốc bắc có dùng, trái nó có năm thứ mùi: đắng, cay, ngọt, chua, mặn. Một trái có năm mùi nhưng thể chỉ là một, dụ cho chia ra thì có năm vị mà chỉ là một thể.
Như Kim cang xử. Xử là cái chày, không phải chày giã gạo mà là chày đóng chuông như người ta nói chày kình. Cái chày có hai đầu lớn, ở giữa nhỏ, như chày giã gạo của người miền Thượng. Đây nói chày Kim cang, vì lực sĩ Kim cang thường cầm chày để dẹp quân ma. Đây ý dùng Ngũ vị thiên chánh hồi hỗ như phương tiện tu tập, như thuốc hay, như vũ khí phá dẹp ma.
Chánh trung diệu hiệp
Xao xướng song cử
Thông tông thông đồ
Hiệp đới hiệp lộ
Thố nhiên tắc kiết
Bất khả phạm ngỗ.
Chánh trung diệu hiệp, trong chánh có cái khéo hợp tức là trong Chánh có Thiên, trong Thiên có Chánh, rất khéo hòa hợp. Xao xướng song cử, xao là gõ, xướng là hát, gõ và xướng đồng cất lên, như người gõ nhịp và người hát, tiếng nhịp và tiếng hát cử lên một lượt, ăn khớp với nhau.
Thông tông thông đồ, tông là chỉ cho thiền hay chỉ cho tâm, đồ là chỉ cho giáo, thiền và giáo đều thông suốt. Hiệp đới hiệp lộ, hợp dãy hợp đường không sai chạy. Thiền và giáo hợp đường để dẫn đạo chúng sanh không tách lìa.
Thố nhiên tắc kiết, chữ thố nhiên đây là cẩn thận, cẩn thận thì tốt. Bất khả phạm ngỗ, không nên phạm trái, trái tức là điều sai trái.
Thiên chân nhi diệu
Bất thuộc mê ngộ
Nhân duyên thời tiết
Tịch nhiên chiêu trước.
Thiên chân nhi diệu, thiên chân mà diệu, thiên chân là cái chân thật sẵn có, không phải mới làm ra, mới tạo nên. Nó sẵn có mà rất nhiệm mầu, không thuộc về mê hay ngộ, nên nói bất thuộc mê ngộ. Thường chúng ta cho rằng ngộ mới thấy được thiên chân, tại sao đây nói không thuộc mê ngộ? Như chúng ta có một món đồ quý cất giữ để chỗ nào đó rồi quên, tìm kiếm khắp hết không ra. Lúc quên là dụ cho mê. Một hôm bỗng dưng nhớ lại, đến chỗ cất lấy món đồ quý ra. Món đồ đó khi quên có mất không? Khi nhớ có thêm gì không? Chỉ là quên nhớ tại mình thôi.
Thể thiên chân cũng vậy, sẵn có nơi mình mà quên tức là mê, nhớ nhận ra tức là ngộ. Mê hay ngộ nơi người, vật ấy xưa nay không đổi, nên nói không thuộc mê ngộ. Khi thời tiết nhân duyên đến thì lặng lẽ rành rõ, đúng thời hợp cơ thì chợt tỉnh, thân tâm sáng suốt tĩnh lặng. Như gương lặng lẽ sáng tỏ lúc nào cũng chiếu soi rõ ràng.
Tế nhập vô gián
Đại tuyệt phương sở
Hào hốt chi sai
Bất ưng luật lữ.
Tế nhập vô gián, nếu nhỏ thì không chút xíu chỗ hở, không thể chen vào. Nhà thiền thường nói mũi kim dùi không thủng, nếu mũi kim dùi thủng tức là có chỗ hở, còn đây ý nói chỗ không hở cách, mũi kim qua không lọt. Tại sao? Phàm cái gì có hình tướng là do nhân duyên. Do nhân duyên nên có khoảng cách xen hở. Như thân chúng ta do duyên hợp, nhìn tưởng như khít khao liền lặn, nhưng mũi kim đâm qua được, bơm thuốc vô đầy trong đó rồi tan từ từ, tức là nó có trống có hở mới xen vào được. Vì có những tế bào ráp nối với nhau mới có chỗ trống hở. Vật chất ở bên ngoài do các nguyên tử hợp với nhau nên có trống hở, còn cái này không do nhân duyên hợp thì làm sao có trống hở?
Đại tuyệt phương sở, lớn bặt không nơi chốn. Nếu lớn như núi như biển thì cũng có bờ mé giới hạn, còn cái này không có hình tướng thì lấy đâu làm giới hạn? Lớn như biển Thái Bình cũng có giới hạn giữa bờ này là châu Á bờ kia là châu Mỹ. Cái không hình tướng không có gì làm giới hạn, tuy không thấy chỗ nơi nhưng trùm kín khít khao. Vì thế nói nhỏ thì đầu mũi kim cũng nhét không được, còn lớn thì dứt bặt nơi chốn.
Hào hốt chi sai, hào hốt là một tý xíu, sai chạy một chút xíu. Bất ưng luật lữ, luật lữ là chỉ cho âm nhạc, không ứng hợp âm nhạc. Âm nhạc nếu sai một nốt hay một nhịp thì phép tắc đã trật rồi. Hai câu này ý chỗ khít khao tương ứng, không cho sai lệch một tý xíu nào.
Kim hữu đốn tiệm
Duyên lập tông thú
Tông thú phân hỹ
Tức thị quy củ
Tông thông thú cực
Chân thường lưu chú.
Kim hữu đốn tiệm, duyên lập tông thú. Từ câu đầu đến đây là nêu lên bản thể có diệu dụng bất tư nghì. Tới đây nói về phương tiện, nay có đốn tiệm, tùy duyên lập ra tông thú.
Tông thú phân hỹ, tức thị quy củ. Tông thú đã phân chia rồi thì liền đó trở thành quy củ phép tắc. Từ sau Lục Tổ đến đời ngài Động Sơn lập ra tông Tào Động, đời ngài Lâm Tế lập tông Lâm Tế. Tông Tào Động có Ngũ vị quân thần, tông Lâm Tế có Tam huyền Tam yếu... Mỗi tông phái có quy củ riêng, đó là phương tiện của chư Tổ tiếp người.
Tông thông thú cực, tông thông là thấu suốt về tâm hay về thiền, thú cực tức là thấu suốt về lý hay giáo. Hai chỗ đó thấu suốt nhưng chân thường lưu chú, nghĩa là chỗ chân thường trôi chảy. Tại sao? Tức là dù có trí tuệ lanh lẹ hiểu biết tột cùng nhưng trên niệm vi tế dẹp chưa hết vẫn còn thầm trôi chảy.
So sánh với phần phá ngũ ấm ma theo kinh Lăng-nghiêm thì chỗ này tương đương phần phá hành ấm. Hành ấm là sức trôi chảy liên tục như thác nước đổ, nhìn xa như một vạt trắng đứng yên nhưng đến gần thì từng hạt từng hạt nước tuôn chảy. Chúng ta cũng vậy, tu tới chỗ này thì bên ngoài thấy dường như rất lặng lẽ, nhưng sâu bên trong vẫn còn những niệm tế nhị luôn hoạt động nên gọi chân thường trôi chảy.
Ngoại tịch trung dao
Hệ câu phục thử
Tiên thánh bi chi
Vi pháp đàn độ
Tùy kỳ điên đảo
Dĩ truy vi tố.
Ngoại tịch trung dao, ngoài lặng lẽ mà trong còn dao động. Người tu đã hiểu thông thiền và giáo, có sức tu tập thuần thục nhưng vẫn còn niệm tế nhị trôi chảy, nên ngoài yên trong động. Đây nói chỗ khó khăn sâu kín để đừng lầm lẫn cho là xong việc.
Hệ câu phục thử, hệ câu là cột ngựa, phục thử là dẹp chuột. Người xưa khéo dùng hình ảnh, như thường ta nói “tâm viên ý mã”, tâm ý ví như khỉ ngựa. Tu là cột con ngựa, nhốt con khỉ. Còn con chuột có lỗi gì mà dẹp nó? Con chuột thường lén đi ăn ban đêm, dụ cho tâm niệm lén thầm thầm trốn đi mình không hay, nên phải trừ dẹp. Đây dùng hình ảnh rất hay, con ngựa chạy đông chạy tây phải cột nó lại, con chuột lén bò đi ăn trong đêm tối cũng dẹp luôn. Chỗ tu hành là phải canh chừng trừ bỏ, từ những vọng tưởng nổi cho tới những vọng tưởng chìm thầm lặng. Ý tưởng chạy rong dễ thấy, còn tâm lén thầm khó thấy. Như khi ngồi thiền sực nhớ chuyện này chuyện kia, đó là bề nổi, còn khi ngồi thấy như yên mà vẫn có những niệm nhỏ tế nhị dấy lên rất nhẹ. Đó là mấy chú chuột lén đi, không thành chuyện, không phải là việc lớn nên chúng ta không thấy rõ, cần phải để ý kỹ mới biết.
Tiên thánh bi chi, tiên thánh là bậc thánh trước, chỉ cho Phật tổ, bi chi là thương đó. Vi pháp đàn độ, vì lập pháp giáo hóa, đàn độ là bố thí, tức là bố thí pháp cho chúng ta. Tùy kỳ điên đảo, tùy chúng sanh kia có những điên đảo, dĩ truy vi tố, lấy đen làm trắng. Câu này có hai ý. Một là các bậc tiên thánh thấy sự điên đảo của chúng ta mà khởi lòng thương, các ngài trong chỗ vô ngôn phải dùng hữu ngôn, trong cái không hình tướng mà phải mượn hình tướng. Chỗ vô ngôn không hình tướng là đen, chỗ có hình tướng có ngôn ngữ là trắng, các ngài trên chỗ đen mà dùng trắng để chỉ bày. Ý thứ hai là nói chúng sanh điên đảo cho trắng là đen, cho đen là trắng, nhận giặc làm con nên chịu luân chuyển.
Điên đảo tưởng diệt
Khẳng tâm tự hứa
Yếu hợp cổ triệt
Thỉnh quán tiền cổ
Phật đạo thùy thành
Thập kiếp quán thọ.
Điên đảo tưởng diệt, tư tưởng điên đảo diệt, chúng ta nhờ các bậc tiên thánh dùng pháp thí dạy cho cách dẹp trừ điên đảo nơi thân tâm. Lúc ấy thì khẳng tâm tự hứa, ngay nơi tâm mình tự chấp nhận, khẳng tức là bằng lòng, tự hứa tức là tự nhận. Ngay nơi tâm mình tự nhận lấy, không phải ai làm việc đó giùm mình. Khi chúng ta diệt hết tưởng điên đảo rồi thì tự mình nhận ra thể chân thật đó, không phải Phật tổ cho chúng ta chân thật. Phật tổ chỉ dạy cho cách diệt điên đảo, cái chân thật thì tự mình nhận ra, không nhờ bên ngoài. Nhận ra rồi đừng tự mãn. Đây là lời ngài dạy kỹ, chúng ta có bệnh khi nhận hiểu rồi tưởng là đúng trăm phần trăm, tự xưng Thánh, nói pháp oang oang, cái đó chưa bảo đảm.
Khi nhận rồi yếu hợp cổ triệt, cốt phải hợp với vết xưa, vết xưa tức là đường lối của Phật tổ đi. Nghĩa là mình đã nhận được cái đó rồi, phải đối chiếu lại với đường lối của người trước. Thỉnh quán tiền cổ, hãy xem xét quán sát xưa trước. Những gì người trước đã đi đã làm, mình cần xem kỹ đừng tự ý, tự ý sẽ dễ lầm lạc.
Chúng ta thấy rõ chỗ này, khi diệt được điên đảo, nhận ra bản tâm rồi cũng đừng tự phụ, tưởng như vậy là đủ; mà còn phải đối chiếu với lời Phật dạy trong kinh, đối chiếu với lời Tổ chỉ dẫn, xem cái thấy cái nhận của mình có đúng hay chưa? Nếu đúng thì y theo đó mà tu, không nên nhận ra rồi tự thấy thỏa mãn sau trở thành bệnh.
Phật đạo thùy thành, thập kiếp quán thọ, như Phật sắp thành đạo, mười kiếp xem cây. Kinh Pháp Hoa nói đức Phật Đại Thông Trí Thắng sắp thành đạo rồi mà còn phải mười kiếp ngồi dưới cội Bồ-đề, sau đó Phật pháp mới hiện tiền. Câu này ý nhắc chúng ta ngộ rồi đừng thỏa mãn, còn phải công phu dài lâu mới đến chỗ Phật pháp hiện tiền. Có một số nông nổi người tu vừa được chút ít liền cho là đủ, khoe khoang mà không nỗ lực cố gắng tu. Tự cho mình là Thánh rồi uống rượu ăn thịt, ngồi quán ngồi tiệm, nói mình không nhiễm. Những bệnh như vậy cần biết để tránh. Nếu không hiểu, tưởng thấy đạo là xong việc, không ngờ tập khí muôn đời còn rất nặng, tham sân si chẳng dễ hết.
Đoạn trước ngài có nói như trong đống rác lượm được viên ngọc sáng. Tuy có viên ngọc sáng nhưng còn dơ bẩn, phải công phu chùi rửa bụi nhơ rồi mới sáng. Người thời nay cứ thấy đạo liền cho là đủ, chưa chắc là thấy triệt, chưa phải là triệt ngộ mà chỉ là một lóe sáng nào đó, rồi sanh tự mãn. Từ chỗ đó đi đến tai họa như ngoại đạo phá hoại Phật pháp. Tu mà thiếu học thiếu hiểu đưa tới tai họa, nói thì nghe rất hợp đạo lý, chúng ta nói không bằng họ, phải không? Lý thì nói hay lắm nhưng hành thì không, đó là đại bệnh. Ngài dạy rất kỹ, nghĩa là đã diệt hết điên đảo rồi mới khẳng tâm tự hứa, nhưng cần phải hợp với dấu vết xưa, phải xem chỗ làm của bậc đi trước. Dẫn chứng đức Phật Đại Thông Trí Thắng đã ngộ đạo rồi, mười kiếp ngồi dưới cội Bồ-đề, Phật pháp mới được hiện tiền, huống chi ngày nay quá sơ sài cứ cho là xong việc.
Như hổ chi khuyết
Như mã chi chú
Dĩ hữu hạ liệt
Bảo kỷ trân ngự
Dĩ hữu kinh dị
Ly nô bạch cổ.
Như hổ chi khuyết, như mã chi chú, như vết khuyết của cọp, như đốm của ngựa. Nghĩa là tu cho đến khi công phu đầy đặn giống như chỗ khuyết của con cọp. Truyền thuyết nói rằng khi cọp ăn thịt một người thì vành tai nó khuyết một dấu, nếu ăn thịt nhiều người thì lỗ tai nó như cái răng cưa. Nhìn con cọp nào mà lỗ tai như răng cưa thì biết nó đã ăn thịt rất nhiều người. Dùng hình ảnh ví dụ này để nói bước tiến của người tu, người tiến được nhiều, công phu đầy đủ giống con cọp có vành tai như răng cưa, nên nói như khuyết của cọp.
Như đốm của ngựa, con ngựa hay nhất giỏi nhất thì chân trái hay chân phải phía sau có hai cái đốm. Nếu con ngựa có hai đốm trắng ở chân trái thì đó là ngựa giỏi, chạy nhanh như gió. Vì vậy ngài khuyên chúng ta phải có công phu như con cọp vành tai như răng cưa, như con ngựa đuổi gió. Công phu như vậy mới xứng đáng, không nên tưởng ngộ rồi là xong việc.
Dĩ hữu hạ liệt, bởi có kẻ hạ liệt, hạ liệt tức là tâm thấp kém. Bảo kỷ trân ngự, bảo kỷ là ghế báu, trân ngự tức là đồ nhà vua sang trọng. Đây lấy ý trong kinh Pháp Hoa, phẩm Tín Giải. Khi chàng cùng tử về quê thấy ông cha ngồi trên ghế báu mặc đồ sang trọng như vua bèn sợ hãi bỏ chạy. Cha biết đó là con mình, thấy cha sang trọng mà sợ bỏ chạy vì tâm hạ liệt. Ông trưởng giả từ bỏ ghế báu, cởi y phục sang trọng lại mặc áo rách, cầm đồ hốt phân, dẫn dụ con đến gần, nói chuyện nó mới chịu nghe. Dùng hình ảnh này để dụ cho sau khi được công đức viên mãn rồi, khởi tâm giáo hóa, gặp kẻ căn cơ hạ liệt thì phải bỏ những cái cao quý, dùng phương tiện thấp để giáo hóa họ, không phải một bề nói cao tột.
Chính chỗ này chúng ta thấy lối dạy mà gặp ai cũng bảo khán công án thoại đầu thì không hợp. Người căn cơ thấp thì dạy thấp, người căn cơ cao thì dạy cao, không phải gặp người nào cũng một bề chỉ dạy nói việc đó. Đây là phương tiện giáo hóa, vì vậy ngài Ngưỡng Sơn nói như có một tiệm tạp hóa bán đủ thứ, ai cần phân chuột thì bán phân chuột, ai cần vàng ròng thì bán vàng ròng. Chúng sanh có nhiều hạng, kẻ nghèo người giàu kẻ trung bình, tùy duyên mà giáo hóa. Nếu chỉ bán vàng ròng thì người mua vàng mới đến, còn những người nghèo làm sao tới. Đây cũng vậy, nếu gặp kẻ hạ liệt thì những gì sang quý mình phải ẩn đi, chỉ dùng những cái thấp, cái gần giáo hóa họ.
Dĩ hữu kinh dị, kinh dị tức là kinh ngạc lạ lùng, do có hạng người lạ thường thì ly nô bạch cổ, làm sao hiểu? Ly nô là mèo nhà, bạch cổ là trâu trắng, nếu có kẻ kỳ đặc thì mèo nhà, trâu trắng. Nghĩa là nếu gặp hàng đặc biệt thì chỉ dạy họ đói ăn mệt ngủ, như con trâu khát thì uống nước, đói thì gặm cỏ, con mèo cũng vậy, sống một cách trực tiếp không dùng tâm suy tính trí phán đoán hơn thua. Đây là chỗ sống với cái chân thật như ngây như ngô. Như vậy gặp hạng người kỳ đặc thì chỉ thẳng đến chỗ như đói ăn mệt ngủ. Gặp hạng tầm thường mà nói đói ăn mệt ngủ thì càng làm biếng thêm. Chỗ khéo léo của người xưa là dạy kỹ càng, gặp hạng nào phải dạy thế nào, không phải chỉ có một bề.
Nghệ dĩ xảo lực
Xạ trúng bách bộ
Tiễn phong tương trị
Xảo lực hà dự.
Nghệ dĩ xảo lực, nghệ tức là Hậu Nghệ trong truyền thuyết Trung Hoa, xảo là khéo, lực là sức, tức là có sức mạnh và có tài khéo léo. Tương truyền có một năm hạn hán thiêu đốt thế gian, trên bầu trời xuất hiện mười mặt trời, Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời để cứu trái đất. Đó là thần thoại hóa một người bắn giỏi thời cổ đại. Xạ trúng bách bộ, bắn trúng trăm bước. Nếu có cái đích cách mình một trăm bước, bắn trúng cái đích đó thì phải có hai điều kiện: một là nhắm cho khéo, hai là sức mạnh. Sức mạnh và nhắm khéo bắn mới trúng đích, nên nói Nghệ dĩ xảo lực, xạ trúng bách bộ.
Tiễn phong tương trị, xảo lực hà dự, tiễn là mũi tên, phong là mũi nhọn, hai cái đó chọi nhau. Đây là chỗ quá kỳ diệu, không thể dùng sức hay tài khéo nữa. Như người này bắn mũi tên, người kia bắn mũi tên, hai mũi tên chạm nhau thì làm sao nhắm? Đó là chỗ diệu ngoài sức luyện tập. Vì thế nên nói xảo lực hà dự, cái khéo và cái mạnh không thể dự vào chỗ đó được.
Mộc nhân phương ca
Thạch nữ khởi vũ
Phi tình thức đáo
Ninh dung tư lự.
Đây là diệu dụng không thể nghĩ bàn, như hai mũi tên chọi nhau. Mộc nhân phương ca, thạch nữ khởi vũ, người gỗ vừa ca, gái đá đứng múa, người gỗ gái đá không tình thức mà kẻ thì ca người thì múa. Ngày xưa không có chuyện đó nhưng bây giờ có mấy chú rô-bốt bằng gỗ bằng sắt cũng hát múa được. Nhưng ở đây cốt ý nói đến chỗ không do tình thức, mà là chỗ diệu của người đạt đạo.
Vì thế nói Phi tình thức đáo, ninh dung tư lự, chẳng phải tình thức đến, đâu cho tư lự. Nhận được thể này không còn dùng tình thức, không cần suy nghĩ, diệu dụng tự phát. Chúng ta còn sống với tình thức nên điều gì tình thức hiểu biết qua thì có ai hỏi mới nói được, nếu chưa có hiểu biết thì nói không được. Đối với đức Phật, ngài không cần học thiên văn địa lý, nhưng vũ trụ vô lượng thế giới ngài đều biết rõ. Đây không do tình thức mà là diệu dụng không thể lường.
Thần phụng ư quân
Tử thuận ư phụ
Bất thuận phi hiếu
Bất phụng phi phụ.
Đây trở lại phần hồi hỗ trong Chánh trung thiên. Chánh là chỉ cho vua, thiên là chỉ cho thần. Hai cái đó hỗ tương với nhau, sự về lý, dụng về thể, nên nói Thần phụng ư quân, thần phụng nơi vua, thần là sự vua là lý. Tử thuận ư phụ, con thuận nơi cha, con là dụng cha là thể. Bất thuận phi hiếu, nếu không thuận không phải là hiếu. Bất phụng phi phụ, không phụng sự vua không phải là bề tôi, tức là không thể nhập chỗ chân thật cứu cánh. Thể nhập rồi thì cuộc sống hàng ngày ra sao?
Tiềm hành mật dụng
Như ngu như lỗ
Đản năng tương tục
Danh chủ trung chủ.
Tiềm hành mật dụng, tiềm hành là hành thầm, mật dụng là dụng kín. Như ngu như lỗ, như ngu như đần. Người đó bề ngoài thấy như ngu dốt mà có hành thầm, dụng kín ở trong, khi cần hiểu thì hiểu, cần nói chuyện gì cũng nói được. Chúng ta bây giờ thấy như sáng suốt lanh lẹ lắm nhưng khi đến chỗ cao siêu thì không nói được. Các ngài có diệu thể ẩn mật bên trong nên ứng cơ tiếp vật dễ dàng.
Đản năng tương tục, chỉ hay tương tục, nghĩa là nối tiếp luôn luôn cái đó không gián đoạn. Chúng ta tuy cũng có một hai phút được chỗ này, nhưng chỉ trong chốc lát, còn các ngài luôn mãi như vậy. Đó mới là Danh chủ trung chủ, gọi là chủ trong chủ.
Trọn một bài Bảo cảnh tam-muội chỉ dạy chúng ta đường hướng tu hành rất rõ ràng. Bắt đầu giới thiệu thể chân thật ấy không nằm ở ngôn ngữ. Làm sao thể nhập, thể nhập rồi làm sao để biết đúng sai, khi ứng dụng phải thế nào, đến đâu mới gọi là viên mãn. Đây là tinh yếu được chư Tổ tông Tào Động truyền nhau để làm mẫu mực trong sự tu hành.
Nếu chúng ta chỉ học sơ sài, không biết đầu đuôi gốc ngọn, tu cũng càn bướng nên khi được chút gì kỳ lạ thì cho là đủ là tốt, rồi bày ra nhiều chuyện. Đó là vì chúng ta không theo gương người trước, không hiểu được đường lối người xưa đã làm đã tu. Phải hiểu rõ chỗ này để không lầm lạc.
Sư lại bảo:
- Thời mạt pháp người nhiều càn tuệ, nếu cần nghiệm rõ chân ngụy có ba thứ sấm lậu (rỉ chảy). Một là Kiến sấm lậu, căn cơ không rời địa vị, rơi trong biển độc. Hai là Tình sấm lậu, dính mắc tại xoay về và bỏ đi, chỗ thấy chênh lệch khô khan. Ba là Ngữ sấm lậu, giỏi nghiên cứu mất chân tông, căn cơ mờ mịt trước sau, trí ô trọc trôi chảy. Đối ba thứ này, ngươi phải khéo biết.
Kiến sấm lậu, kiến là kiến chấp, cái thấy bị rơi lọt, chấp vào cái thấy hỏng của mình gọi là kiến sấm lậu. Người tu cho mình được cái này cái kia, chứng địa vị như thế như thế... thấy có chứng đắc là còn ở trong địa vị, rơi trong biển độc, không giải thoát. Đa số người tu thường có bệnh mong chứng đắc, đạt quả vị, nghe ai nói chứng quả A-la-hán thì thích lắm, đảnh lễ. Ngài gọi đó là rơi trong biển độc.
Hai là Tình sấm lậu, dính mắc tại xoay về và bỏ đi, xoay về tức là hợp, bỏ đi tức là ly. Tình sấm lậu là rơi lọt vào tình chấp hai bên, dính mắc bởi hai bên. Chỗ thấy chênh lệch khô khan, vì còn thấy bên này bên kia nên chấp thiên lệch, như chủ trương chết rồi còn mãi, thuộc về thường, chủ trương chết rồi mất hết thuộc về đoạn. Nghiêng về một bên không tròn đầy nên gọi là chênh lệch khô khan.
Ba là Ngữ sấm lậu, giỏi nghiên cứu mất chân tông, ngữ sấm lậu là rơi lọt vào danh ngôn tự ngữ, nghiên cứu thông suốt, diễn bày rành rẽ mà thiếu tu hành, căn cơ mờ mịt trước sau, trí ô trọc trôi chảy, căn cơ mê muội không rõ gốc ngọn, có trí mà trí ấy ô nhiễm lưu chuyển luân hồi.
Đây là lời dạy để nghiệm xét người có ba thứ bệnh. Chúng ta tu hiện giờ đang kẹt cái nào? Nếu nói tôi đang chứng quả vị gì, hoặc được đệ tam thiền, đệ tứ thiền... đó là kẹt về kiến sấm lậu. Hoặc nghĩ rằng mình tu thì sau khi chết rồi còn mãi để hưởng thụ, đó là kẹt về tình sấm lậu. Hoặc thông minh học hiểu rất giỏi nói thông suốt nhưng đó là trí ô trọc không thanh tịnh. Việc tu rất khó, có trí trong lặng thì mới thanh tịnh, dùng trí suy gẫm là ô trọc. Như gương sáng không động mà chiếu soi rõ ràng, không động mà sáng, còn dùng trí suy nghĩ mà hiểu, đó là trí ô trọc không phải trí sáng thanh tịnh.
Sư lại làm ba bài kệ cương yếu:
1- XAO XƯỚNG CÂU HÀNH
Kim châm song tỏa bị
Hiệp lộ ẩn toàn cai
Bảo ấn đương phong diệu
Trùng trùng cẩm phùng khai.
2- KIM TỎA HUYỀN LỘ
Giao hỗ minh trung ám
Công tề chuyển giác nan
Lực cùng vong tiến thối
Kim tỏa võng man man.
3- BẤT ĐỌA PHÀM THÁNH
Sự lý câu bất thiệp
Hồi chiếu tuyệt u vi
Bối phong vô xảo chuyết
Điện hỏa thước nan truy.
Dịch:
1- NHỊP XƯỚNG ĐỒNG HÀNH
Kim vàng đính lai mảnh
Trọn giấu kín đường may
Ấn báu tài chống gió
Lớp lớp gấm dệt bày.
2- XÍCH VÀNG BỦA ĐƯỜNG HUYỀN
Lẫn nhau sáng trong tối
Chuyển giác khó, công bằng
Sức tột quên lui tới
Xích vàng bủa khắp nơi.
3- CHẲNG RƠI PHÀM THÁNH
Sự lý đều chẳng mắc
Soi lại bặt u vi
Trái gió không khéo vụng
Điện chớp khó theo tầm.
Sư lại làm kệ rằng:
Đạo vô tâm hợp nhân
Nhân vô tâm hợp đạo
Dục thức cá trung ý
Nhất lão nhất bất lão.
Dịch:
Đạo không tâm hợp người
Người không tâm hợp đạo
Muốn biết ý trong đó
Một già một chẳng già.
Ngài làm ba bài kệ cương yếu:
1- XAO XƯỚNG CÂU HÀNH
Kim châm song tỏa bị
Hiệp lộ ẩn toàn cai
Bảo ấn đương phong diệu
Trùng trùng cẩm phùng khai.
Xao xướng câu hành, nhịp và hát đồng một lượt, tức là ngầm ý nói thể và dụng không tách rời. Kim châm song tỏa bị, thể và dụng như hai mảnh được cây kim may khâu liền lạc. Hiệp lộ ẩn toàn cai, là kim vàng hay tay thợ khéo giấu nên không thấy đường khâu, tức là thể và dụng hai cái đan trùm nhau, không tách rời như không thấy dấu nối.
Thể và dụng hay lý và sự phải trùm nhau, được như vậy thì Bảo ấn đương phong diệu, tức là ấn báu ngay đầu gió mà được nhiệm mầu. Trùng trùng cẩm phùng khai, tức là lớp lớp gấm tự mở tự bày ra. Người nào tu buổi đầu nhận được thể không rời dụng, ngay nơi thể khởi dụng hay ngay dụng mà trở về thể, hai cái song hành như một thì người đó sẽ có diệu dụng như ấn báu để đối với gió lành, hay là bao nhiêu lớp gấm đều bày ra. Đó là bước đầu.
2- KIM TỎA HUYỀN LỘ
Giao hỗ minh trung ám
Công tề chuyển giác nan
Lực cùng vong tiến thối
Kim tỏa võng man man.
Giao hỗ minh trung ám. Giao hỗ là xen lẫn nhau, cái này với cái kia xen lẫn, minh trung ám là trong sáng có tối. Chánh là tối Thiên là sáng. Trong chánh có thiên và ngược lại, hai cái giao xen lẫn nhau, sự lý không thể tách rời hay thể dụng không thể tách rời.
Công tề chuyển giác nan, nghĩa là công thì bằng mà chuyển giác khó. Người tu đến đây công phu đã bình ổn nhưng chuyển lên giác hết sức khó. Như kinh Lăng-nghiêm nói đến giai đoạn phá hành ấm. Người tu phá hành ấm rồi thấy tâm mình dường như lặng lẽ, nhưng còn dòng lưu chú bên trong mà không biết, đến chỗ này thì chìm lặng ở đó, muốn vượt qua không nổi, phải nhờ chư Phật chư Bồ-tát gia bị mới qua được. Vì thế nói công phu đến đây rồi chuyển lên giác rất khó! Nhà thiền thường gọi là đến đầu sào trăm trượng phải nhảy ra khỏi mới được viên mãn. Trong mười mục chăn trâu thì đây tương đương mục thứ tám, còn một vòng tròn, không trâu không chăn. Muốn tiến lên thật rất khó, vì không còn chỗ dụng công.
Lực cùng vong tiến thối, sức cùng rồi tiến không được mà thối cũng không được, lên tới đầu sào rồi không lẽ tuột xuống, mà bước qua nữa, chỗ nào bước? Kim tỏa võng man man, xích vàng phủ bốn bề. Đó là lúc bị vòng xích vàng phủ chụp chung quanh. Tuy xích vàng là đẹp là quý nhưng bị chết trong chỗ quý đó. Chư Tổ thường nói chìm trong biển vô sanh, chỗ hết sức khó là chỗ này.
3- BẤT ĐỌA PHÀM THÁNH
Sự lý câu bất thiệp
Hồi chiếu tuyệt u vi
Bối phong vô xảo chuyết
Điện hỏa thước nan truy.
Sự lý câu bất thiệp, sự lý đều chẳng dính mắc. Đến chỗ này là không còn phân chia phàm thánh, không còn nói sự lý, nghĩa là sự lý đã dung thông, phàm thánh đã một nhà. Trong kinh thường nói “tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt”, đây không còn riêng cách nữa. Hồi chiếu tuyệt u vi, soi về bặt u vi, u vi tức là tối tăm nhỏ nhiệm còn gọi là vô minh vi tế, lúc này dứt bặt không còn nữa.
Bối phong vô xảo chuyết, ngược gió không khéo vụng. Lúc này không cần dụng công khéo hay vụng, vẫn đi ngược với gió lục trần, như gió thổi sau lưng không can dự. Điện hỏa thước nan truy, lửa chớp sáng khó đuổi kịp. Nghĩa là lửa của lằn chớp chợt nháng lên thì khó đuổi theo, khó tìm kiếm nó được. Ý nói đến chỗ này diệu dụng nhanh lẹ như lửa xẹt, không thể lường, không thể lấy tâm để suy xét. Đây là bước cuối cùng của người tu.
Sư lại làm kệ rằng:
Đạo vô tâm hợp nhân
Nhân vô tâm hợp đạo
Dục thức cá trung ý
Nhất lão nhất bất lão.
Dịch:
Đạo không tâm hợp người
Người không tâm hợp đạo
Muốn biết ý trong đó
Một già một chẳng già.
Đạo vốn không tâm, bởi không tâm nên hợp với người, người muốn hợp với đạo cũng phải không tâm mới hợp. Chúng ta tu muốn trở về với đạo, phải không tâm mới trở về hợp đạo. Không tâm thế nào? Buông bỏ tất cả suy tư phàm thánh, dấy nghĩ lăng xăng... Nếu còn có tâm so đo tức là không hợp đạo.
Muốn biết được ý này thì một già một không già. Vì chỗ đạo hợp với người, người thì già còn đạo không già. Đây ý chỉ chỗ đạo không già là không bị vô thường. Ngài đã chỉ rõ không giấu giếm. Chỉ ra đạo không già, không bị sanh diệt chi phối, đạo ấy hợp với người vô tâm. Muốn được đến đó phải thôi dứt tâm sanh diệt thì tự nhiên ứng hợp.
Sư bệnh, sai Sa-di báo tin Vân Cư hay. Sư dặn Sa-di:
- Vân Cư hoặc hỏi Hòa thượng an vui chăng, ngươi chỉ nói “con đường Vân Nham sắp dứt”. Ngươi nói xong phải đứng xa, e y đánh ngươi.
Sa-di lãnh mệnh đi báo tin, nói chưa dứt lời đã bị Vân Cư đánh một gậy.
Ngài sắp tịch, bảo Sa-di báo cho Vân Cư biết, chỉ nói rằng “con đường Vân Nham sắp dứt”, bảo nói rồi thì phải đứng xa, coi chừng y đánh ngươi. Sa-di vâng lời đi báo tin, vừa nói xong liền bị ăn đòn. Tại sao?
Bởi vì Vân Nham tịch, nhưng con đường Vân Nham tức là truyền thừa của Vân Nham không có dứt, nếu nói dứt thì không người tiếp nối. Ngài Động Sơn Lương Giới kế thừa ngài Vân Nham và truyền pháp rất nhiều đệ tử, trong đó có Vân Cư Đạo Ưng. Nghe nói con đường Vân Nham dứt, ngài Vân Cư liền đánh. Lời nói của Động Sơn cũng là dọ thử đồ đệ có thấy biết được chỗ tâm truyền của mình, có thể kế thừa tiếp nối hay không. Nếu ngang đó mà làm thinh thì chắc con đường dứt; đánh cho Sa-di một gậy thì biết con đường còn tiếp nối.
Ngài biết Sa-di nói vậy là ăn đòn, nên bảo nói rồi phải tránh xa. Vân Cư thấy rõ chỗ này nên ra tay liền. Nếu chúng ta nghe báo tin như thế thì thế nào? Lo chùi nước mắt, không biết phản ứng gì hết. Đạo lý của người xưa rất thâm sâu, một lời nói sai là trị liền, không như chúng ta nghe nói thì cứ sống theo tình, không thấy được chỗ cao siêu đó.
Sắp viên tịch, Sư bảo chúng:
- Ta có tiếng tăm ở đời, người nào vì ta trừ được?
Cả chúng đều không đáp được, lúc đó có Sa-di ra thưa:
- Xin pháp hiệu Hòa thượng.
Sư bảo:
- Tiếng tăm của ta đã hết.
Có vị tăng hỏi:
- Hòa thượng bệnh lại có cái chẳng bệnh chăng?
Sư đáp:
- Có.
Tăng thưa:
- Cái chẳng bệnh lại thấy Hòa thượng chăng?
Sư bảo:
- Lão tăng xem y có phần.
Tăng thưa:
- Chưa biết Hòa thượng làm sao xem y?
Sư bảo:
- Khi lão tăng xem chẳng thấy có bệnh.
Sư lại hỏi Tăng:
- Lìa cái hình hài rỉ chảy này, ngươi đến chỗ nào thấy ta?
Tăng không đáp được.
Sư bèn làm bài kệ:
Học giả hằng sa vô nhất ngộ
Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ
Dục đắc vong hình dẫn tung tích
Nỗ lực ân cần không lý bộ.
Dịch:
Kẻ học hằng sa không người ngộ
Lỗi tại tìm y trên ngữ ngôn
Muốn được quên thân bặt dấu vết
Ân cần nỗ lực bước trong không.
Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo:
- Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?
Sư bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn luyến mến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Khi thọ trai, Sư cũng tùng chúng thọ. Thọ trai xong, Sư bảo chúng:
- Nhà tăng không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.
Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch.
Bấy giờ là tháng ba năm thứ mười niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (869). Sư thọ 63 tuổi, được 42 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ngộ Bổn thiền sư.
Ngài sắp tịch, bảo chúng: Ta có tiếng tăm ở đời, người nào vì ta trừ được? Cả chúng đều không đáp được, lúc đó có Sa-di ra thưa: Xin pháp hiệu Hòa thượng. Ngài liền bảo: Tiếng tăm của ta đã hết.
Chúng ta thấy người xưa quá khôn ngoan, ngài nói ta có danh tiếng ở đời, tức là nổi tiếng ai cũng nghe. - Động Sơn thời ấy năm sáu trăm tăng chúng không phải thường. - Bây giờ ta muốn dẹp cái tiếng tăm đó, ai dẹp giùm ta đây? Không ai đáp được. Nếu là mấy chú thì đáp sao? Đừng bắt chước ông Sa-di này. Sa-di rất khôn, đứng ra xin pháp hiệu Hòa thượng. Như vậy bao nhiêu danh tiếng đồn đãi là vì cái gì? Như nói vị Bồ-tát này tên gì, vị Bồ-tát kia tên gì... đó là danh tiếng. Tiếng tăm từ danh xưng mà có, xin pháp hiệu tức là mất tên, mất tên rồi thì tiếng tăm không còn. Nên ngài bảo, tiếng tăm của ta đã hết.
Câu chuyện đối đáp rất thường mà cũng rất lý thú. Hỏi: Ngài bệnh mà có cái không bệnh chăng? Đáp: Có. Chúng ta khi bệnh có thấy cái không bệnh chăng? Tại sao cứ sống với cái bệnh mà không sống với cái không bệnh? Lại hỏi: Cái không bệnh thấy Hòa thượng chăng? Ngài đáp: Ta thấy y chứ y không thấy ta. Người ngộ đạo hay đạo ngộ người? Người ngộ đạo thì ta thấy y chứ y không thấy ta, tức là dụng trở về thể, nếu không có thể thì không khởi dụng. Lại hỏi: Hòa thượng xem y làm thế nào? Ngài nói: Khi lão tăng xem chẳng thấy có bệnh. Bệnh là thân tứ đại bệnh chứ cái đó không bệnh.
Ngài lại hỏi tăng: Lìa cái vỏ lủng này, ngươi đến chỗ nào cùng ta thấy nhau? Tăng không đáp được. Nghĩa là khi thân này hoại rồi thì ta với ngươi gặp nhau ở đâu? Câu hỏi đó làm tăng trả lời không được.
Ngài làm bài kệ:
Học giả hằng sa vô nhất ngộ
Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ
Dục đắc vong hình dẫn tung tích
Nỗ lực ân cần không lý bộ.
Hai câu đầu là quở học giả nhiều như số cát sông Hằng mà không có một người ngộ. Tại sao không ngộ? Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ, lỗi tại tìm y trên đầu lưỡi. Kẻ ấy ở chỗ nào? Không biết chỗ làm sao nói. Kẻ ấy làm gì có chỗ nơi, có tung tích để chỉ ra. Vì thế mắc kẹt trong lời nói của các vị Hòa thượng, tìm kiếm nơi lời làm sao thấy được mà đối đáp.
Hai câu sau là dạy: Dục đắc vong hình dẫn tung tích, muốn được quên thân mất dấu vết. Nỗ lực ân cần không lý bộ, cố gắng siêng năng đi trong không. Làm sao đi trong không? Tức là đừng dính bên này, bên kia... tất cả không dính, chỗ khác gọi là “nhất thiết bất thọ”, không dính tất cả chỗ thì mới có thể đi tới đó được, mới có thể gặp người không lủng chảy. Lời của ngài dạy rất rõ ràng thấu đáo.
Đến giờ thị tịch, Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?
Ngài ngồi tịch an nhiên, đại chúng khóc quá, thấy có vẻ phiền, ngài mở mắt quở: Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Chúng ta có tu hành chân chánh không? Hai xấp vải, một đẹp một xấu, người nào gặp vải xấu thì có vẻ buồn, giả sử không cãi mà buồn, đó là dính mắc nơi vật. Còn dính mắc những cái đó thì chưa phải người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, chưa thể tự tại. Đối với ngài thì sống mệt thích chết. Chết là cái người ta thích mà còn khóc lóc thương xót làm chi. Người còn sợ chết khổ, thương giùm là phải, còn người thích chết đến đó khỏe mà còn thương người khỏe sao?
Ngài quở rồi bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường, đãi chúng tiệc chay ngu si, tu hành bao nhiêu năm mà chưa thấy đạo, còn ngu lắm. Trong bảy ngày ngài cũng vẫn ăn uống như thường, ngày thứ bảy xong rồi từ giã chúng nói: Nhà tăng không việc, sắp đến giờ ra đi chớ làm ồn náo. Ngài vào trượng thất ngồi yên, tịch. Ngài ra đi rất thảnh thơi, muốn đi là đi, muốn ở là ở. Sở dĩ ngài tu hành đến mức cao siêu như vậy là nhờ cái gì?
Tôi đọc ở bản khác có một đoạn ghi rằng: Một hôm ở trong chúng, ngài đi xuống nhà bếp thăm, cũng như tôi lâu lâu xuống nhà bếp ngó qua. Hôm đó thấy mấy thầy làm bún, gạo đổ lang lệ dưới đất, ngài quở: Tu hành phải tiết kiệm của đàn-na thí chủ, mấy ông hoang phí như vậy là phải tội! Ngài quở xong thì thấy có một người quỳ ở trước mặt, ngài hỏi: Ông là ai? Bạch ngài, con là thổ địa ở đây. Hỏi: Ông tới đây có chuyện gì? Bạch ngài, ba mươi năm nay con muốn ra mắt ngài mà tìm không thấy, hôm nay con mới thấy ngài. Tại sao hôm nay thấy? Vì ngài khởi tâm rầy chúng nên mới thấy, còn ba mươi năm tìm không ra. Ngài như vậy nên sanh tử tự tại, chúng ta thì khởi tâm liên miên, đi vô đi ra thổ địa cũng thấy, giờ ngồi thiền mà cũng thấy giở mùng chạy. Có khi chạy tới tương lai, có khi chạy về quá khứ, có khi chạy về Sài Gòn... không có gì tự do tự tại. So với sự tu hành của ngài không bằng một góc.
***
Ngài Động Sơn có những lá thư gửi về nhà và lá thư của mẹ ngài gửi lại cho ngài, đọc rất cảm động. Đây là thư thứ nhất ngài gửi về nhà:
Được nghe, chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sinh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên, không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ơn dưỡng dục, đều thọ đức chở che.
Song mà tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường chưa lìa sanh diệt. Tuy ơn bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền chắc. Trong Hiếu Kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để cúng hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi nhau vào vòng trầm luân chịu muôn kiếp luân hồi.” Muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng sông ái sanh tử, vượt qua khỏi biển khổ phiền não, đáp ơn cha mẹ ngàn đời, đền công từ thân muôn kiếp, bốn ơn ba cõi thảy đều đền đáp. Kinh nói: “Một đứa con xuất gia, chín họ đều sanh lên cõi trời.” Con thệ bỏ thân mạng đời này, chẳng trở về nhà, đem căn trần muôn kiếp chóng tỏ sáng Bát-nhã.
Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, ý chớ trông mong, học theo gương phụ vương Tịnh Phạn và thánh mẫu Ma-da. Hẹn đến sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật, còn hiện nay cam chịu lìa nhau. Con chẳng phải quên ơn dưỡng dục, chỉ vì thời giờ chẳng đợi người. Cho nên nói: “Thân này chẳng thẳng đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này?” Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong.
Tụng rằng:
Vị liễu tâm nguyên độ số xuân
Phiên ta phù thế mạn thuân tuần
Cơ nhân đắc đạo không môn lý
Độc ngã yêm lưu tại thế trần
Cẩn cụ xích thư từ quyến ái
Nguyện minh đại pháp báo từ thân
Bất tu sái lệ tần tương ức
Thí tự đương sơ vô ngã thân.
Dịch:
Chưa rõ nguồn tâm trải mấy xuân
Thương thay mê mãi luống bâng khuâng.
Cửa không đã lắm người được đạo
Riêng kẻ thô hèn mãi phong trần.
Viết lá thư này từ cha mẹ
Nguyện thông đại pháp báo từ thân.
Không nên rơi lệ nhiều thương nhớ
Xem tợ buổi đầu con không thân.
Đây là lá thư thứ hai viết về cho mẹ:
Con từ lìa cha mẹ chống tích trượng dạo phương Nam, tháng ngày trôi qua tính đã mười năm, trên đường con đã trải qua muôn dặm.
Cúi mong mẹ đem hết tâm ý hướng về Phật pháp, đừng ôm ấp tình ly biệt, chớ đứng tựa cửa trông con. Mọi việc trong nhà tùy thời sắp đặt, việc nhiều thì phiền não thêm nhiều. Phần anh Cả thì nên tận tâm hiếu thuận, học đòi gương Vương Tường nằm giá, còn tiểu đệ thì hết sức bắt chước theo Mạnh Tông khóc măng. Phàm người ở đời thì phải biết tu thân hiếu đễ mới hợp lòng trời. Kẻ làm tăng trong cửa Không thì mộ đạo tham thiền để đáp ơn cha mẹ. Ngày nay hai đường xa cách muôn sông ngàn núi, mượn giấy mực viết vài hàng để tỏ bày tấc dạ.
Tụng rằng:
Bất cầu danh lợi bất cầu nho
Nguyện nhạo không môn xả tục đồ
Phiền não tận thời sầu hỏa diệt
Ân tình đoạn xứ ái hà khô
Lục căn giới định hương phong dẫn
Nhất niệm vô sanh huệ lực phò
Vị báo Bắc đường hưu trướng vọng
Thí như tử liễu thí như vô.
Dịch:
Chẳng cầu danh lợi chẳng cầu nho
Ưa thích cửa Không bỏ thế đồ
Phiền não hết rồi lửa sầu tắt
Ân tình dứt bặt sông ái khô.
Sáu căn giới định gió thơm cuốn
Một niệm vô sanh sức huệ phò
Xin nhắc mẹ già thôi trông ngóng
Ví con đã chết, ví như không.
Tâm hồn của ngài Động Sơn như thế. Khi ra đi là dứt khoát từ đó về sau không về, quyết đạt đạo để đền ơn cha mẹ, ngài xin mẹ đừng trông con, xem như con không có... như vậy có phải là bất hiếu không? Chúng ta dám viết như vậy không? Thư của mẹ ngài trả lời thật là cảm động:
Mẹ cùng con đời trước có nhiều nhân duyên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu thần khấn Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng mạng sống như chỉ mành, sanh con được toại nguyện quý như châu bảo. Không nề sự hôi hám của phẩn uế, chẳng ngại sự bú sú nhọc nhằn. Con vừa thành người dắt đến trường lo học tập. Hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ đứng tựa cửa trông mong.
Con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, mẹ già, anh yếu, em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ, chứ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ! Khổ thay! Khổ thay!
Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chí nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh Lan khắc cây, chỉ mong con như tôn giả Mục-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy e phải có tội. Con cần phải giải quyết cho xong.
Chúng ta thấy ở ngài có ba điểm đặc biệt. Điểm thứ nhất là ngay từ lúc còn bé đã có tinh thần nhận thức, việc nào đúng mới tin, không đúng không tin. Dù tụng kinh Phật mà kinh nói không nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý, sờ thấy mình có mắt tai mũi lưỡi, nhất định không tin, phải hỏi thầy. Đó là tinh thần không tự mãn, không tuân phục nếu không đúng.
Điểm thứ hai, từ tinh thần đó đến tinh thần dứt khoát, một đi không trở về. Bao nhiêu tâm niệm dồn hết trong sự tu, không nghĩ rằng tháng bảy tháng tám về thăm má hay về ăn giỗ. Tâm của ngài lúc nào cũng có một việc; chúng ta thì vừa nghĩ về nhà, sửa soạn ba bốn ngày ngủ không được, về rồi trở lại chùa cũng cả tuần lễ chưa ổn, mất bao nhiêu thì giờ. Ngài chí quyết nhất tâm tu phải đến nơi, không nghĩ việc gì khác, dù là người thân nhất. Con người dứt khoát, nhất quyết như vậy thật là gan dạ cùng mình, thái độ đó làm cho ngài tiến đến nơi đến chốn.
Điểm thứ ba là tâm từ bi, khi thấy đạo rồi thì tạo phương tiện để dẫn dắt người sau. Lập ngũ vị quân thần, tạo phương tiện để dẫn dắt người khiến cho ngọn đèn chánh pháp nối tiếp không cùng.
Nơi ngài có đủ ba yếu tố ấy, nên tông Tào Động đến giờ lưu truyền không dứt, nhất là tại Nhật Bản. Từ đời ngài đến chúng ta hơn một ngàn năm mà dòng mạch vẫn còn. Người xưa làm được việc lớn phải có những yếu tố đó. Chúng ta học gương xưa để hiểu rõ. Đôi khi cứ nghĩ về thăm cha mẹ là hiếu thảo, đã tu làm không ra tiền, không có gì hết thì hiếu thảo cái gì, về chỉ thêm tốn cơm tốn gạo, thăm lếu lếu rồi cũng chạy đi, có làm gì được? Lăng xăng ít bữa nhớ nhà nhớ cha mẹ, trong đạo làm không tròn, ngoài đời cũng không xong, đời đạo đều không ra gì hết, đó là bệnh. Đây là tấm gương dứt khoát, làm việc gì xong việc đó, không lừng chừng. Làm xong là đền đáp tứ ân, còn nửa chừng không được gì, tu không thành, đời cũng không xong. Hiếu thảo có làm đồng xu nào được đâu mà nuôi cha nuôi mẹ, về chỉ tốn cơm, nói dóc rồi đi, tu cũng không xong vì đi tới đi lui hoài thì giờ đâu mà tu? Rồi cũng không ra gì!
Phải tập ý chí người xưa quyết chiến là phải thắng chứ không thua, không thất bại. Nếu là cha mẹ, thầy tổ, khả dĩ tôi còn cho về thăm, đến những vị sư thúc sư bá rồi Phật tử đàn-na thí chủ... càng thêm bận rộn mất thì giờ. Không tu thì thôi, biết tu thì phải gan dạ quyết tử không lôi thôi, nếu lừng chừng qua ngày qua tháng uổng một đời. Chúng ta học gương người xưa là học những việc như thế, nên khi đọc những bức thư này tôi thấy thực là thiết yếu, đem ra dạy thêm cho đại chúng biết để ứng dụng.
✵✵✵
THIỀN SƯ TĂNG MẬT
(? -?)
Sư ở chỗ Nam Tuyền đang rây bột. Nam Tuyền thấy hỏi:
- Làm gì?
Sư đáp:
- Rây bột.
Nam Tuyền hỏi:
- Ông lấy tay rây hay chân rây?
Sư thưa:
- Thỉnh Hòa thượng nói hộ.
Nam Tuyền bảo:
- Hãy ghi nhớ rõ ràng đợi sau gặp người tác gia sáng mắt chỉ kể lại như thế.
Thiền sư Tăng Mật, có chỗ gọi là Mật sư bá, vì ngài với Động Sơn là huynh đệ, đệ tử ngài Động Sơn rất đông, thường gọi ngài là Sư bá. Vì vậy sách sử ghi là Mật sư bá.
Đây là chỗ đối đáp lúc hai ngài học với ngài Nam Tuyền. Tăng Mật rây bột, ngài Nam Tuyền hỏi: Làm gì? Tăng Mật thưa: Rây bột. Nam Tuyền hỏi: Ông lấy tay rây hay lấy chân rây? Tăng Mật trả lời: Thỉnh Hòa thượng nói hộ. Nam Tuyền nói: Hãy ghi nhớ rõ ràng, đợi sau gặp người tác gia sáng mắt chỉ kể lại như thế.
Người xưa lúc nào cũng ở trong đạo lý, khi nói rây bột thì ngài Nam Tuyền liền hỏi: tay rây hay chân rây? Đó là giương bẫy cho mắc kẹt hai bên. Nếu trả lời là tay cũng kẹt, trả lời là chân cũng kẹt. Tăng Mật biết được cái bẫy đó nên phá: Thỉnh Hòa thượng nói hộ, thỉnh nói hộ tức là dẹp cái bẫy. Ngài Nam Tuyền ngang đó dừng thì xem như thua, nên nói một câu gượng: việc này để đem ra trình với bậc tác gia sáng mắt. Nói để cho qua không quan trọng nữa.
Người xưa một câu nói mang hai ý, một là ngay chỗ đang sống đang làm, hai là đạo lý thầm bên trong.
Sư cùng Động Sơn qua suối. Động Sơn bảo:
- Chớ lầm hạ chân.
Sư bảo:
- Lầm tức qua chẳng được.
Động Sơn bảo:
- Việc chẳng lầm thì sao?
Sư bảo:
- Cùng Trưởng lão qua suối.
Khi ngài cùng Động Sơn qua suối, Động Sơn bảo: Chớ lầm hạ chân. Tức là chớ bước xuống vũng lầy mắc kẹt, đó là chuyện thực mà cũng có ý hạ chân là hạ thủ công phu, coi chừng ông tu đừng lầm. Ngài trả lời rất hay: Lầm tức qua chẳng được. Nếu bước lầm sụp xuống hố, mắc kẹt ở dưới làm sao qua suối được, tôi qua được tức là không lầm. Cũng ngụ ý nếu tu lầm thì tôi không thể đi chung với huynh được.
Ngài Động Sơn hỏi lại: Việc chẳng lầm thì sao? Ông nói không lầm thì việc đó ra sao? Trả lời: Cùng Trưởng lão qua suối. Không lầm thì cả hai cùng qua, nếu lầm tôi mắc kẹt lại, không lầm nên được qua suối. Đây là cái khéo của người xưa, nói như chuyện chơi mà đạo lý thâm trầm trong đó.
Một hôm Sư cùng Động Sơn cuốc cỏ trong vườn trà. Động Sơn ném cây cuốc xuống đất bảo:
- Hôm nay tôi mệt không còn một chút khí lực.
Sư bảo:
- Nếu không khí lực làm sao nói được như thế?
Động Sơn bảo:
- Huynh cho rằng có khí lực là phải chăng?
Một hôm ngài Tăng Mật cùng ngài Động Sơn cuốc vườn trà, Động Sơn quăng cuốc nói: Hôm nay tôi mệt không còn một chút khí lực. Ngài liền hỏi: Nếu không khí lực làm sao nói được như thế? Có hơi sức mới nói, không còn khí lực thì làm gì nói được? Ngài Động Sơn bẻ lại một cách khéo: Huynh cho rằng có khí lực là phải chăng? Chỗ đó là chỗ khí lực sao? Tăng Mật không đáp được.
Sư cùng Động Sơn đi núi, chợt thấy một con thỏ trắng chạy qua. Sư khen:
- Giỏi thay!
Động Sơn hỏi:
- Cái gì?
Sư bảo:
- Rất giống bạch y bái tướng.
Động Sơn nói:
- Già cả rồi mà còn nói lời ấy.
Sư hỏi:
- Huynh thì sao?
Động Sơn nói:
- Bậc trâm anh thời xưa tạm thời mất hồn.
Hai huynh đệ đi núi, thấy con thỏ trắng chạy ngang, ngài khen: Giỏi thay! Động Sơn hỏi: Cái gì? Nói: Rất giống bạch y bái tướng. Ngài Động Sơn quở: Già cả rồi mà còn nói lời ấy. Sư hỏi: Huynh thì sao? Đáp: Bậc trâm anh thời xưa tạm thời mất hồn.
Những câu này mới nghe rất khó hiểu. Ngài Tăng Mật nói đúng hay sai mà bị ngài Động Sơn quở? Thấy con thỏ bạch chạy ngang khen, tại sao? Thỏ bạch tượng trưng cho trắng, là Thiên, là dụng công tu hành. Việc tu hành giống như bạch y bái tướng, bạch y là hàng dân thường, bái tướng là được cử làm soái tướng, được thăng chức cao, như vậy là còn kẹt ngôi vị, nên bị Động Sơn quở, già cả rồi mà còn nói ra lời ấy. Tăng Mật hỏi, huynh thì sao? Động Sơn nói, bậc trâm anh thời xưa tạm thời mất hồn. Bậc trâm anh là chỉ hàng tôn quý, mất hồn là suy thoái, mất vị trí. Nghĩa là chỗ này không còn ngôi vị, phải thoát hết ngôi vị mới được. Câu chuyện này rất hay, cho thấy công phu của ngài Tăng Mật chưa đến.
Sư đang may đồ. Động Sơn thấy, hỏi:
- Làm gì?
Sư đáp:
- May đồ.
Động Sơn hỏi:
- Việc may đồ thế nào?
Sư bảo:
- In tuồng may may.
Động Sơn bảo:
- Hai mươi năm đồng hành, nói ra lời ấy đâu có được công phu.
Sư hỏi:
- Huynh nói sao?
Động Sơn nói:
- Đạo lý này như đại địa phát hỏa.
Sư hỏi:
- Chỗ trí thức đã thông đều có dấu vết, chỗ thẳng tắt thỉnh huynh một lời.
Động Sơn bảo:
- Sư bá ý đâu được chấp công.
Sư nhân đây đốn giác, lời nói phi thường.
Ngài may đồ. Động Sơn hỏi: Việc may đồ thế nào? Ngài trả lời: In tuồng may may. Cũng hay chứ! May thì chỉ biết may may. Động Sơn quở: Hai mươi năm đồng hành, nói ra lời ấy đâu có được công phu. Nghĩa là hai mươi năm anh cùng tôi tu mà anh nói vậy là công phu chưa đến. Nghe một câu nói mà biết công phu chưa tới, chưa tới ở chỗ nào? Thấy còn may may tức là còn dụng công, chưa thoát được. Tăng Mật hỏi: Huynh thì nói thế nào? Động Sơn đáp: Đạo lý này như đại địa phát hỏa. Nghĩa là cháy rụi không còn một mảy may dụng công mới được, còn thấy một chút công phu là chưa tới.
Tăng Mật hỏi lại: Chỗ trí thức đã thông đều có dấu vết, còn chỗ thẳng tắt thỉnh huynh nói cho một lời để thoát được. Động Sơn bảo: Sư bá ý đâu được chấp công. Vì ông còn chấp công nên qua không được. Ngay đó Tăng Mật lãnh hội dứt hết chấp công, từ đây ứng xử linh động.
Sư cùng Động Sơn qua cây cầu khỉ, Động Sơn qua trước rồi, giở cây cầu lên bảo:
- Qua đây! Qua đây!
Sư gọi:
- Xà-lê Giới!
Động Sơn bèn hạ cây cầu xuống.
Hai huynh đệ qua cầu khỉ, Động Sơn qua trước rồi giở cây cầu lên bảo: Qua đây! Qua đây! Cây cầu mà giở tuốt làm sao qua? Tăng Mật gọi: Xà-lê Giới! Động Sơn liền hạ cầu xuống. Tại sao? Đây là chỗ thử thách của ngài Động Sơn. Vì người tu đến chỗ thấu hiểu rồi thường nghĩ tới thần thông, nên giở cầu để xem ngài Tăng Mật làm sao qua được. Nếu người có thần thông thì vén áo bước trên nước mà đi qua. Nhưng đây không nghĩ đến việc đó, chỉ thực tế là kêu tên ngài Động Sơn, tôi chỉ là lẽ thực không có thần thông. Động Sơn hạ cầu xuống, đúng là chỗ huynh đệ cùng qua.
Bùi Hưu hỏi chúng tăng:
- Cúng dường Phật có đến ăn chăng?
Chúng tăng đáp:
- Như Đại phu tế gia thần.
Bùi Hưu đem câu này đến hỏi Vân Nham. Vân Nham đáp:
- Có bao nhiêu thức ăn đồng thời đem đến.
Vân Nham lại hỏi Sư:
- Đồng thời đem đến, sau làm gì?
Sư đáp:
- Gom dẹp chén bát.
Vân Nham gật đầu.
Bùi Hưu hỏi chúng tăng: Cúng dường Phật có đến ăn chăng? Chúng tăng đáp: Như Đại phu tế gia thần. Tức là tế thì cứ tế, gia thần thổ địa ăn hay không chẳng thành vấn đề. Bùi Hưu đem câu đó kể lại cho ngài Vân Nham nghe. Vân Nham đáp thay: Có bao nhiêu thức ăn đồng thời đem đến. Vân Nham lại hỏi Sư: Đồng thời đem đến, sau làm gì? Sư trả lời: Gom dẹp chén bát.
Như vậy thì chuyện đến hay không đến không thành vấn đề, khi cúng thì cứ cúng. Đây nói, bao nhiêu thức ăn đem hết lên, là ý gì? Nói cúng Phật, Phật là chỉ cho thể, muốn trở về thể là toàn dụng nhập thể, nên bao nhiêu thức ăn đồng đem đến. Khi dụng nhập thể rồi thì sau đó thế nào? Đói ăn, khát uống xong rồi gom chén bát, đó là chuyện tự nhiên không có gì lạ. Ngài Vân Nham hài lòng với câu trả lời của ngài Tăng Mật.
Sau, Sư về trụ tại Thần Sơn thuộc Đàm Châu.
Có vị tăng đến hỏi:
- Thế nào không có chỗ nghe mới là nghe kinh?
Sư bảo:
- Ghét hội chăng?
Tăng thưa:
- Cần hội.
Sư bảo:
- Chưa hiểu nghe kinh.
Tăng hỏi:
- Tại sao Nhất địa chẳng thấy Nhị địa?
Sư bảo:
- Ông chẳng lầm ư? Ông là địa nào?
Khi ngài Tăng Mật làm thầy độ chúng, có vị tăng hỏi: Thế nào không có chỗ nghe mới là nghe kinh? Ngài hỏi: Ghét hội chăng? Hội là hiểu, ông ghét hiểu ư? Tăng nói: Cần hội. Ngài bảo: Chưa hiểu nghe kinh. Tăng hỏi, không có chỗ nghe mới là nghe kinh. Nếu không có chỗ nghe thì không có chỗ hiểu, không nghe không hiểu mới là nghe kinh chân thật. Nếu nói ghét hiểu thì cũng trúng, vì không nghe thì không hiểu, nhưng đây ông nói cần hiểu, như thế thì đâu có biết nghe kinh. Đó là ý hết sức rõ.
Tăng hỏi: Tại sao Nhất địa chẳng thấy Nhị địa? Sư bảo: Ông chẳng lầm ư? Ông là địa nào? Đó là bệnh của chúng ta. Có nhiều người tu nói không biết sau khi nhập Niết-bàn rồi ra sao? Chưa Niết-bàn mà hỏi sau khi Niết-bàn, đó chẳng phải là nói dóc sao, chừng nào nhập Niết-bàn rồi mới thấy, chưa tới được mà hỏi trước thì làm sao nói? Cũng như chưa được địa nào hết mà hỏi Nhất địa sao không thấy Nhị địa. Đó là hỏi lầm, hỏi chơi thôi, không có nghĩa lý gì hết. Người học đạo bây giờ có bệnh tu chưa ra gì mà cứ hỏi trên trời trên mây, khi đó mình chưa ứng dụng được gì hết. Ngài quở ông tăng là chỗ này.
Có một cư sĩ hỏi:
- Vì việc sanh tử xin Thầy một lời.
Sư bảo:
- Ngươi khi nào sanh tử?
Cư sĩ thưa:
- Con chẳng hội, thỉnh Thầy nói.
Sư bảo:
- Chẳng hội cần một phen chết đi.
Cư sĩ Đào Lý Vỹ hỏi rằng: Vì việc sanh tử xin Thầy một lời. Một lời để con thoát ly sanh tử. Ngài nói: Ngươi khi nào sanh tử? Tức ông hết sanh tử chưa? Cư sĩ thưa: Con chẳng hội, thỉnh Thầy nói. Ngài trả lời: Chẳng hội cần một phen chết đi. Nghĩa là ông muốn hết sanh tử thì ông đừng còn một niệm nào. Chết là tâm chết đi thì hết sanh tử. Chúng ta nghe, tưởng ngài xúi người chết, không hiểu ý nghĩa thâm trầm. Các thiền sư không nói chuyện tầm thường, nếu không nghiên cứu sách thiền khi nghe câu nói của các ngài tưởng như không có đạo lý. Không nói chân như, Niết-bàn, Bồ-đề, Bát-nhã... nhưng chính đó mới là cái thật.
✵✵✵
THIỀN SƯ THẠCH SƯƠNG KHÁNH CHƯ
(807 - 888)
Sư họ Trần quê ở Tân Cam, Lô Lăng. Năm mười ba tuổi, Sư theo thiền sư Thiệu Loan xuất gia, hai mươi ba tuổi đến Tung Nhạc thọ giới Cụ túc, sang Lạc Dương học luật. Tuy học luật, Sư vẫn biết là tông Tiệm. Sư lại sang Đại Quy, vào pháp hội làm mễ đầu (tri khố).
Một hôm, Sư ở trong liêu sàng gạo, Quy Sơn Linh Hựu đến bảo:
- Vật của thí chủ chớ ném bỏ.
Sư thưa:
- Chẳng dám ném bỏ.
Quy Sơn lượm trên đất một hạt gạo, bảo:
- Ngươi nói chẳng ném bỏ, cái này từ đâu đến?
Sư lặng câm. Quy Sơn lại bảo:
- Chớ khi một hạt này, trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh.
Sư thưa:
- Trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh, chưa biết một hạt này từ chỗ nào sanh?
Quy Sơn cười ha hả trở về phương trượng.
Đến chiều, Quy Sơn thượng đường bảo chúng:
- Đại chúng! Trong gạo có sâu. Các ông chú ý!
Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư khi học với ngài Quy Sơn, làm tri khố ở trong liêu sàng gạo. Quy Sơn đến bảo: Vật của thí chủ chớ ném bỏ. Nhà thiền thường mượn cảnh thực tế để nói về một cái không hình tướng. Sàng gạo nếu không khéo thì gạo văng tứ tung, đó là ném bỏ của thí chủ, nhưng trong đó cũng có ngầm ý nhắc phải tu khéo léo, đừng để tâm chạy tứ tung. Sư thưa: Chẳng dám ném bỏ. Ý tỏ rằng mình là thật tình đàng hoàng.
Khi ấy ngài Quy Sơn tìm lượm một hạt gạo, bằng chứng cụ thể là có ném bỏ, ngài đưa hạt gạo lên, nói: Ngươi nói chẳng ném bỏ, cái này từ đâu đến? Thạch Sương bị mắc kẹt, vì đã nói không ném bỏ mà bây giờ có một hột gạo ngoài sàng, nên ngài lặng câm không đáp được. Lúc đó ngài Quy Sơn biết, muốn mở một đường mới cho Thạch Sương nên nói câu: Chớ khi một hạt này, trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh. Có người hiểu rằng một hạt gạo đó khi gieo lên cây lúa thì sanh trăm ngàn hạt gạo, nhưng gạo ươm đâu có ra lúa, phải không? Đến đây không còn nghĩa một hạt gạo nữa mà ngài chuyển qua ý khác rõ ràng rồi. Khi chuyển qua thì Thạch Sương liền có cớ để khởi nghi. Như vậy một hạt này không còn là hạt gạo nữa, nó là cái gì có thể tự biết.
Ngài Thạch Sương nói: Trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh, chưa biết một hạt này từ chỗ nào sanh? Cái đó hay sanh ra tất cả cái kia, nó từ cái gì sanh ra? Câu hỏi mới nghe dường như hợp lý, nhưng nên nhớ rằng cái chân thật đó không có tướng mạo, không sanh diệt. Chỗ không còn ngôn ngữ, không còn suy tư mà đặt vấn đề hỏi cái gì sanh ra nó là sai lầm. Vì thế, buổi chiều ngài Quy Sơn bảo: Đại chúng! Trong gạo có sâu. Ngài Thạch Sương không lãnh hội được chỗ này nên buồn bỏ đi nơi khác.
Sư đến tham Đạo Ngô, hỏi:
- Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?
Đạo Ngô gọi: - Sa-di!
Sa-di ứng thanh: - Dạ!
Đạo Ngô bảo: - Thêm nước trong tịnh bình.
Đạo Ngô lại hỏi Sư:
- Ông vừa hỏi cái gì?
Sư định nêu câu hỏi trước. Đạo Ngô đứng dậy đi. Sư nhân đây tỉnh giác.
Đến ngài Đạo Ngô, Thạch Sương đặt câu hỏi: Thế nào chạm mắt là Bồ-đề? Nghĩa là ở đâu khi mắt mình chạm đến đều là Bồ-đề. Chúng ta nhìn khắp có thấy Bồ-đề không? Tại sao nói chạm mắt là Bồ-đề? Ngài không trả lời trực tiếp mà xoay qua gọi Sa-di, Sa-di dạ!
Với hình ảnh người kêu người dạ đó là để chỉ chỗ chạm mắt tức Bồ-đề, nhưng ngài Thạch Sương còn dửng dưng, chưa thấy được chỗ đó. Ngài Đạo Ngô buộc lòng phải nói, thêm nước trong tịnh bình. Câu nói đó để đánh lừa, người không hiểu thì đến đây cũng ngơ ngác. Kêu Sa-di là để chỉ bày ý nghĩa, ngài Thạch Sương ngay đó không hội được nên ngài Đạo Ngô phải nói thêm một câu.
Ngài Đạo Ngô lại hỏi Sư: Ông vừa nói cái gì? Tức là thấy chỗ không hội của ngài Thạch Sương nên hỏi lại câu này. Ngài quá thật thà định lặp lại câu hỏi, ngài Đạo Ngô đứng dậy đi, nhân đó ngài tỉnh. Ngài tỉnh chỗ đứng dậy đi hay tỉnh chỗ nào? Tỉnh chỗ chạm mắt tức là Bồ-đề. Ở đây giữa thầy và trò không nói trắng, vì vừa nói trắng thì thành bệnh chấp nê danh tự. Chỉ khéo léo nhìn bên này nói bên kia, đối đáp với Sa-di mà trả lời cho ngài Thạch Sương. Lúc đó ngài còn hiền lành quá không hiểu, đến khi nghe hỏi lại mới giật mình, định nêu câu hỏi thì ngài Đạo Ngô đứng dậy đi. Nhân đó ngài Thạch Sương hiểu câu trả lời dứt khoát, chạm mắt tức Bồ-đề.
Đạo Ngô sắp tịch, bảo chúng:
- Trong tâm ta có một vật để lâu thành bệnh, người nào hay vì ta dẹp nó?
Sư thưa:
- Tâm vật đều phi, dẹp đó thêm bệnh.
Đạo Ngô khen:
- Hiền thay! Hiền thay!
Ngài Đạo Ngô sắp thị tịch, bảo chúng: Trong tâm ta có một vật để lâu thành bệnh, người nào hay vì ta dẹp nó? Như chúng ta nghe nói như vậy thì tìm thuốc, phải không? Người xưa khéo nói, nói bên đây phải hiểu ở bên kia chứ đừng hiểu ở lời nói, nếu hiểu ngay lời nói là mắc kẹt. Mượn cái có hình thức để nói cái không hình thức.
Ngài Thạch Sương hiểu ý nên bước ra thưa: Tâm vật đều phi, dẹp đó thêm bệnh. Không phải tâm không phải vật, nếu nói dẹp là mang bệnh. Câu này giống như câu của Lục Tổ nói bản lai vô nhất vật, vốn không phải vật, chẳng dẹp bỏ chẳng thêm bớt. Ngài Đạo Ngô biết đã thâm nhập được nên khen: Hiền thay! Hiền thay!
Làm tăng mới được hai tuổi hạ, Sư bèn ẩn trong dân gian, vào xóm thợ gốm vùng Lưu Dương, Trường Sa, sáng sớm dạo đi, đến chiều trở về, mọi người không biết được Sư.
Nhân một vị tăng từ Động Sơn đến. Sư hỏi:
- Hòa thượng có lời gì dạy chúng?
Tăng đáp:
- Hôm giải hạ, Hòa thượng thượng đường dạy: “Đầu thu cuối hạ, huynh đệ hoặc đi đông đi tây, nên đi thẳng đến chỗ muôn dặm không có một tấc cỏ.” Im lặng giây lâu, nói: “Chỗ muôn dặm không một tấc cỏ, làm sao đi?”
Sư hỏi:
- Có người đáp được chăng?
Tăng thưa:
- Không.
Sư bảo:
- Sao chẳng nói “Ra khỏi cửa liền là cỏ”?
Tăng trở về thuật lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn bảo:
- Ở Lưu Dương có cổ Phật.
Ngài ở ẩn trong vùng thợ gốm ở Lưu Dương. Nhân có vị tăng từ Động Sơn đến, ngài hỏi: Hòa thượng có lời gì dạy chúng? Tăng đáp: Hôm giải hạ, Hòa thượng thượng đường dạy: “Đầu thu cuối hạ, huynh đệ hoặc đi đông đi tây, nên đi thẳng đến chỗ muôn dặm không có một tấc cỏ.” Đi đến chỗ muôn dặm không một tấc cỏ là chỗ nào? Ngài Thạch Sương hỏi: Có người đáp được chăng? Tăng nói: Không. Ngài bảo: Sao chẳng nói “Ra khỏi cửa liền là cỏ”. Đi là khi sáu căn vừa phóng ra, gặp sáu trần là cỏ, chỗ muôn dặm không cỏ là căn trần không tiếp xúc. Ý ngài Thạch Sương nói, vừa có phóng ra là cỏ rồi, nếu không phóng ra thì cỏ ở đâu?
Tăng trở về thuật lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn bảo: Ở Lưu Dương có cổ Phật. Ngài Động Sơn nói có quá đáng hay không? Như tôi nói mấy chú là cổ Phật mấy chú dám nhận không? Thực ra Phật không xa chúng ta chỉ vì chúng ta quên Phật nên làm chúng sanh. Nhớ lại thì thành Phật sẵn có, mà Phật sẵn tức là xưa rồi, không phải Phật mới. Phật từ xưa tức là cổ Phật. Nếu chúng ta nhớ như ngài Thạch Sương thì cũng được gọi là cổ Phật.
Chúng thỉnh Sư trụ trì tại núi Thạch Sương, Sư cũng cho đây là nơi hợp với chí mình.
Đạo Ngô sắp viên tịch giải tán chúng, thân tìm đến Thạch Sương, chọn Sư làm Trưởng tử. Sư hàng ngày chuyên cần hầu hạ, giữ đúng tư cách thờ thầy. Sau khi Đạo Ngô quy tịch, học chúng quy tụ thường trên năm trăm.
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Sư đáp:
- Trong không, một phiến đá.
Tăng lễ bái. Sư hỏi:
- Hội chăng?
Tăng thưa:
- Chẳng hội.
Sư bảo:
- May mà ngươi chẳng hội, nếu hội ngươi đã bị vỡ đầu.
Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Ngài đáp: Trong không, một phiến đá. Trong hư không chứa được phiến đá không? Câu trả lời của ngài có cho chúng ta suy nghĩ không? Tăng lễ bái, tưởng như ngộ rồi. Ngài hỏi: Hội chăng? Tăng thưa: Chẳng hội. Ngài bèn kết thúc một câu: May mà ngươi chẳng hội, nếu hội tức bị vỡ đầu. Nghĩa là nếu ngươi hội thì phiến đá rơi, ngươi vỡ đầu. Chỗ này vừa khởi hiểu thì mắc kẹt hình tướng, mắc kẹt sự vật, nên ngài nói nếu hội thì bị vỡ đầu. Đó là chỗ khéo léo của ngài không để cho người mắc kẹt.
Sư ở trong phương trượng, có vị tăng ở ngoài cửa sổ hỏi:
- Cách nhau mấy tấc, vì sao chẳng thấy mặt Thầy?
Sư đáp:
- Ta nói khắp hết chẳng từng giấu.
Vị tăng ấy đến hỏi Tuyết Phong:
- Khắp hết chẳng từng giấu, ý chỉ thế nào?
Tuyết Phong đáp:
- Chỗ nào chẳng phải Thạch Sương.
Vị tăng trở lại thuật lời Tuyết Phong cho Sư nghe. Sư bảo:
- Cái lão này sao mà chết gấp.
Tuyết Phong nghe lời này, tự nói:
- Lão tăng tội lỗi.
Sư ngồi trong phương trượng, Tăng đứng ngoài cửa hỏi: Cách nhau mấy tấc, vì sao chẳng thấy mặt Thầy? Mặt Thầy đây là mặt thật của Thầy hay là mặt nào? Sư đáp: Khắp hết chẳng từng giấu. Mặt này là bản lai diện mục, khắp hết chẳng từng giấu. Tăng không hiểu đến hỏi Tuyết Phong: Khắp hết chẳng từng giấu, ý chỉ thế nào? Tuyết Phong nói: Chỗ nào chẳng phải Thạch Sương. Câu đó nói trắng ra rõ ràng. Ngài nghe được bảo: Cái lão này sao mà chết gấp. Câu đó khen hay chê? Như chúng ta gọi là rủa đó. Ông nói như vậy là quá đáng, tức làm cho người dễ thấy, người ta coi thường. Ngài Tuyết Phong nghe câu đó liền tự hối, nói rằng: Lão tăng tội lỗi. Người xưa hiểu nhau, khi nói một câu liền biết mình nói hớ nên hối lỗi.
Vân Cái đến hỏi:
- Muôn cửa đều đóng chẳng hỏi, khi muôn cửa đều mở thì thế nào?
Sư bảo:
- Trong nhà làm việc gì?
Vân Cái đáp:
- Không người tiếp được y.
Sư bảo:
- Nói đến tột chỗ, chỉ nói được tám chín phần.
Vân Cái hỏi:
- Chẳng biết Hòa thượng nói thế nào?
Sư đáp:
- Không người biết được y.
Ngài Vân Cái cũng là hàng tác gia trong thời đó, đến hỏi: Muôn cửa đều đóng chẳng hỏi, khi muôn cửa đều mở thì thế nào? Ngài liền khéo ở trong cảnh đó trả lời: Trong nhà làm việc gì? Nếu căn nhà mở hoác cửa thì lúc đó trong nhà có chủ hay không, hoặc chủ đang làm gì đều thấy hết. Nên đây trả lời khéo, các cửa đều mở thì thấy trong nhà làm việc gì.
Ngài Vân Cái là một tay tác gia nên đáp: Không người tiếp được y. Nghĩa là chỗ đó không ai hết. Ngài chê: Nói đến tột chỗ, chỉ được tám chín phần. Vân Cái hỏi lại: Chẳng biết Hòa thượng nói thế nào? Ngài đáp: Không người biết được y. Chữ biết, chữ tiếp có ý nghĩa sai biệt. Chữ tiếp là có hình tướng, khi tiếp ai, mình và người đều có hình tướng. Còn cái biết không hình tướng, không biết được vì cái đó hoàn toàn không hình tướng, con mắt ngàn thánh cũng không thấy. Đó là để chỉ cho ông chủ trong nhà.
Tú tài Trương Chuyết đến tham vấn, Sư hỏi:
- Tú tài tên họ gì?
Tú tài thưa:
- Tôi họ Trương tên Chuyết.
Sư bảo:
- Tìm cái xảo (khéo) còn không thể được, cái Chuyết (vụng) từ đâu lại?
Chuyết chợt tỉnh ngộ, trình kệ:
Quang minh tịch chiếu biến hà sa
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động bị vân già.
Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh
Thú hướng chân như diệc thị tà.
Tùy thuận thế duyên vô quái ngại
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Dịch:
Quang minh lặng chiếu khắp hà sa
Phàm thánh hàm linh vốn chung nhà.
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị che lòa.
Phá trừ phiền não càng thêm bệnh
Tìm đến chân như âu cũng tà.
Tùy thuận các duyên không chướng ngại
Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
Tú tài Trương Chuyết, có câu chuyện mà trong đây không ghi, trong phần Quảng Lục có ghi. Ông này không phải mới lần đầu đi hỏi đạo mà đã tham vấn nhiều nơi. Ông đến hỏi ngài Tây Đường: Có thiên đường địa ngục không? Ngài trả lời: Có. Ông hỏi lại: Hòa thượng có lầm chăng? Tôi hỏi ngài Kính Sơn có thiên đường địa ngục chăng, Ngài trả lời đều không, tại sao Hòa thượng lại nói có? Ngài Tây Đường hỏi: Ông có vợ không? Có. Ngài Kính Sơn có vợ không? Không. Ngài Tây Đường nói: Bởi ngài Kính Sơn không có vợ nên cái gì cũng nói không, còn ông có vợ nên cái gì ta cũng nói có. (Đoạn này Bích Nham Lục cũng ghi lại như vậy. Tuy nhiên nếu xét niên đại thì vị tú tài không phải Trương Chuyết.)
Tham vấn rất nhiều nơi nên chỗ đó ông cũng sắp ngộ, sắp tỉnh rồi, khi đến ngài Thạch Sương, đầu tiên vô nhà khách gặp ba người: Thái Bố Nạp, Tề Kỷ, Quán Hưu. Ba vị này lanh lợi, đàm luận thao thao. Trương Chuyết nói: Trong ba vị sao không chọn một người làm Trưởng lão? Ý ngầm chê ngài Thạch Sương. Thái Bố Nạp bảo: “Hòa thượng đường đầu là nhục thân Bồ-tát. Chúng đây một ngàn năm trăm người, phân nửa bằng như chúng tôi, phân nửa hơn chúng tôi.” Người xưa khi nghe chê thầy mình, khen mình thì liền hạ mình xuống, tôi là hạng thấp nhất trong chúng đây. Nói như vậy nên Trương Chuyết mới nể phục, đến hỏi đạo với ngài Thạch Sương.
Ngài Thạch Sương hỏi: Tú tài tên họ gì? Tôi họ Trương tên Chuyết. Ngài bảo: Tìm cái xảo còn không thể được, cái chuyết từ đâu lại? Xảo là khéo, chuyết là vụng, cái khéo còn không có huống nữa cái vụng. Nghe câu đó là ông tỉnh liền. Xảo và chuyết là do đối đãi mà lập, xảo không thật thì chuyết làm gì có? Thấy tất cả đối đãi đều là không thật nên ông tỉnh ngộ, làm bài kệ. Bài kệ này trong nhà thiền thường nhắc đến.
Quang minh tịch chiếu biến hà sa
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động bị vân già.
Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh
Thú hướng chân như diệc thị tà.
Tùy thuận thế duyên vô quái ngại
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Bài kệ này gồm bốn phần. Ý thứ nhất, hai câu đầu diễn tả thể chân thật của mọi người sẵn có. Ý thứ hai, hai câu ba bốn chỉ cách tu để trở về thể chân thật. Ý thứ ba, hai câu năm sáu chỉ cho chúng ta biết nếu không khéo tu, chấp phiền não thật chân như thật thì lại càng thêm bệnh. Ý thứ tư, hai câu bảy tám chỉ cho chúng ta biết cách sống.
Quang minh tịch chiếu biến hà sa, quang minh là sáng suốt, tịch chiếu là lặng lẽ chiếu soi, nghĩa là thể sáng suốt lặng lẽ mà chiếu soi này đầy khắp mọi nơi. Thế giới nhiều như cát sông Hằng, thể quang minh tịch chiếu này cũng trùm hết muôn ngàn triệu ức thế giới. Thể ấy ở đâu?
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia, phàm thánh và chúng hàm linh đều chung trong một thể, gọi là cộng ngã gia, chung nhà của ta. Nhưng đừng hiểu lầm tất cả chỉ có một, tất cả chỉ về một thể đó thôi. Như tôi chỉ bình bông ở trên bàn, tất cả người ở đây đồng thời nhìn thấy nó. Cái thấy đó có khác nhau, có chướng ngại nhau không? Cái thấy đó là của một người hay của chung tất cả người? Thấy thì đồng nhưng riêng ai người ấy thấy chứ không phải là một. Đứng về mặt đồng thì nói chung nhà của ta, đừng hiểu tất cả là một khối. Hai câu này là chỉ cho cái thể chân thật đó.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện, một niệm chẳng sanh, toàn thể hiện. Muốn trở về thể chân thật ấy mà vừa dấy niệm thì đã khuất rồi, nếu không có niệm nào dấy lên thì thể chân thật hiện tiền rõ ràng. Lục căn tài động bị vân già, sáu căn vừa dấy động thì bị mây che. Nơi con mắt mình mở ra có bị mây che không? Lỗ mũi thở ra hít vào có bị mây che không? Các căn thấy nghe rõ ràng, mây che lúc nào? Như trước nói, sáu căn mở hoác mà vừa có niệm phóng ra là cỏ, đi ra là cỏ. Đây cũng vậy, nơi sáu căn vừa có một niệm chạy ra thì đã bị mây che, nếu không có niệm chạy thì mây không che được. Hai câu này chỉ dạy cách tu để trở về.
Hai câu tiếp theo là dẹp trừ bệnh chấp. Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh, dẹp trừ phiền não càng tăng bệnh. Chúng ta tu luôn luôn nghĩ phải làm sao dẹp hết phiền não. Nhưng đây nói dẹp phiền não là thêm bệnh, như vậy để nguyên phiền não phải không? Chỗ này phải hiểu rõ. Trong ba thứ tham sân si thì sân là thô nhất, ai cũng sợ mà ai cũng có. Sân ở đâu, chỉ ra được không? Nếu sân là thật thì phải có chỗ nơi, không có chỗ nơi tức là không thật. Đợi khi gặp duyên như nghe một tiếng chửi mắng, thấy một dáng vẻ bực bội thì sân mới nổi lên. Cái gì đợi duyên mới có là không thật. Sân là chúa phiền não, nhưng sân không thật mà muốn dẹp trừ cái không thật làm sao dẹp trừ. Như hiện nay đang ngồi nghe giảng, có thấy sân ra sao không? Người nào người nấy hiền như Phật đâu có ai nổi sân gì. Chỉ cần gặp duyên đừng chạy theo, vừa khởi niệm không tiếp tục khởi thì sân đâu còn. Ngay sáu căn mà không có niệm chạy ra thì sân có mặt không? Như vậy không cần dẹp trừ, chỉ không theo niệm thì tự nó hết. Như khi nghe ai nói câu gì, mình chạy theo câu đó suy nghĩ, suy nghĩ rồi mới bực bội nổi sân. Nếu nghe rồi bỏ qua, nghe rồi bỏ qua thì sân không có mặt. Rõ ràng nếu chúng ta cho phiền não là thật để dẹp để trừ, đó là bệnh. Nghĩa là vì nó không thật mà cố dẹp trừ tức là thấy nó thật, là bệnh.
Thú hướng chân như diệc thị tà, thú hướng chân như cũng là tà. Thú hướng là tìm đến. Chân như ở đâu mà tìm đến? Chỉ khi niệm không sanh thì nó hiện tiền. Như mặt biển khi không có gió, không dậy sóng là mặt biển lặng. Muốn tìm mặt biển lặng thì đợi khi dừng sóng, chính lúc đó hiện ra, không cần tìm kiếm nơi khác, càng tìm càng sai. Cũng như không cần tìm chân như, khi tất cả ngoại duyên buông hết, một niệm không sanh đó là phải. Sơ tổ Đạt-ma dạy: muôn duyên buông hết, một niệm không sanh, tâm như tường vách khả dĩ vào đạo. Lúc ấy chân như hiện tiền không có gì khác; vừa khởi tâm tìm kiếm đã lạc vào đường tà, đã không đúng lẽ thật.
Hai câu kết là chỉ cách sống. Tùy thuận thế duyên vô quái ngại, Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa, tùy thuận các duyên không có gì chướng ngại, Niết-bàn sanh tử đều như hoa đốm trong hư không. Tại sao? Vì đối sanh tử nói Niết-bàn, danh từ sanh tử không thật, danh từ Niết-bàn cũng không thật. Người tu thường sợ sanh tử ưa Niết-bàn, mà chúng đều không thật thì còn gì làm trở ngại? Hàng ngày phải làm sao để tùy thuận chúng duyên? Chúng ta cũng đi đứng nằm ngồi, cũng ăn mặc, cũng sống như mọi người không khác. Trong khi ăn, mặc, sống như mọi người mà không có gì làm chướng ngại, luôn nhớ và thấy rõ tất cả đối đãi đều không thật, đó là tùy thuận chúng duyên. Trong tất cả cảnh không khởi phiền não, không dấy niệm chạy theo, đó là vô quái ngại. Còn khởi phiền não, còn dấy niệm chướng thì bị quái ngại.
Tú tài Trương Chuyết là cư sĩ, khi ngộ rồi làm bài kệ, trong đó nói về thể chân thật, chỗ tu, cách dẹp bệnh, cuộc sống của người tu thế nào, chỉ gọn có tám câu mà rất đầy đủ. Cái thấy của ông đến nơi đến chốn, vì thế bài kệ này đa số ở trong nhà thiền đều thuộc.
Bùi tướng công đến. Sư nắm giở cái hốt của Bùi công hỏi:
- Cái này ở trong tay thiên tử gọi là Khuê, ở trong tay quan nhân gọi là Hốt, ở trong tay lão tăng gọi nó là gì?
Bùi Công lặng câm. Sư giữ cái hốt lại.
Bùi tướng công tức là Tướng quốc Bùi Hưu cũng là tay cự phách trong nhà thiền, đến gặp ngài tay cầm cái hốt, ngài liền nắm cái hốt đưa lên nói: Cái này ở trong tay thiên tử gọi là Khuê, ở trong tay quan nhân gọi là Hốt, ở trong tay lão tăng gọi nó là gì?
Lời ngài như là đùa chơi, nhưng mà trong đó có ngầm ý gì không? Như vậy thì vua có, quan có, tôi có, cái đó gọi là gì? Bùi Hưu lặng thinh, ngài giữ cái hốt lại.
Sư dạy chúng:
- Kẻ sơ học chưa gặp được việc lớn, trước phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến.
Sơ Sơn hỏi:
- Thế nào là đầu?
Sư đáp:
- Cần phải biết có.
- Thế nào là đuôi?
- Dẹp hết hiện giờ.
- Khi có đầu không đuôi thì sao?
- Mửa được vàng ròng kham làm việc gì?
- Khi có đuôi không đầu thì sao?
- Vẫn còn nương tựa.
- Khi đầu đuôi được cân xứng thì sao?
- Y chẳng khởi giải hội, cũng chưa cho y ở.
Ngài dạy chúng: Kẻ sơ học chưa gặp được việc lớn, trước phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến. Câu nói có ý nghĩa rất thâm trầm. Tất cả chúng ta tu học, chưa gặp việc lớn tức là chưa ngộ đạo, cần phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến. Cái gì là đầu, cái gì là đuôi? Như chúng ta nghe có thầy nào biết quá khứ vị lai, có thần thông, bay lên hư không, muốn hóa rồng thì thành rồng, hóa cọp thì thành cọp... thích không? Tất cả thần thông biến hóa đó là cái dụng nhiệm mầu, từ thể chân thật mà ra. Người tu cần phải trở về thể chân thật, không nên mê diệu dụng. Nhưng đa số người lại mê cái đó. Những thần thông phép lạ làm mọi người mê thích đó là cái đuôi, dụng là đuôi không phải đầu. Chính vì vậy Phật cấm các vị A-la-hán không được dùng thần thông. Bệnh của chúng sanh là thích những gì lạ lùng thỏa mãn tánh hiếu kỳ, nghe biến hóa thần thông thì nể phục, nếu cứ chạy theo thần thông là tu theo đuôi, không phải theo đầu. Chủ yếu tu để tâm thanh tịnh, tất cả phiền não lặng hết, thể nhập chân thật, đó là đầu, khi thể nhập rồi thì diệu dụng tự có, nên nói, trước phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến.
Sơ Sơn hỏi: Thế nào là đầu? Ngài đáp: Cần phải biết có. Ai cũng có cái đó hết, phải thẳng nhận cái của chính mình.
Hỏi: Thế nào là đuôi? Đáp: Dẹp hết hiện giờ, tức là mọi động tác hiện giờ đều là dụng của cái đó.
Khi có đầu không đuôi thì sao? Ngài đáp: Mửa được vàng ròng kham làm việc gì? Có đầu tức là nhận được thể mà chưa có đủ dụng, giống như trong bụng chứa vàng ròng, mửa ra thêm bệnh không lợi ích gì.
Khi có đuôi không đầu thì sao? Vẫn còn nương tựa, tức là chỉ theo cái đuôi thì còn nương tựa chưa làm chủ được.
Khi đầu đuôi được cân xứng thì sao? Ngài đáp: Y chẳng khởi giải hội, cũng chưa cho y ở. Nếu còn nói cân xứng là còn so sánh, còn so sánh đầu đuôi thì còn giải hội, chưa thể nhập được.
Sư ở Thạch Sương hai mươi năm, học chúng thường ngồi chẳng nằm, ngồi thẳng như gốc cây. Thời nhân gọi là “Chúng cây khô”.
Vua Đường Hy Tông nghe đạo hạnh của Sư, sai sứ đem tử y ban cho. Sư cố từ chối không nhận.
Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (888), ngày hai mươi tháng hai năm Mậu Thân, Sư có chút ít bệnh, báo tin chúng hay sắp tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ.
Vua sắc phong là Phổ Hội đại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.
Chúng của ngài ở núi Thạch Sương hai mươi năm thường ngồi chẳng nằm, ngồi thẳng như gốc cây, thời nhân gọi là Chúng cây khô. Các thiền sư dạy người có chỗ khác nhau, như ở chỗ ngài Lâm Tế lại dạy không ngồi thiền. Vương thường thị hỏi ngài: Chúng đông quá như thế này có tụng kinh không? Không. Có ngồi thiền không? Không. Như vậy dạy họ làm gì? Dạy làm Phật làm Tổ.
Ngài Lâm Tế không đặt nặng tụng kinh ngồi thiền. Còn ở đây ngài Thạch Sương thì bắt phải ngồi thiền, ngồi thẳng như cây khô. Ngài Thạch Sương có hiểu đạo không mà bắt ngồi? Về chỗ ngộ vị nào cũng ngộ tương đương, nhưng trên phương tiện tu, mỗi vị có chủ trương khác nhau, không nên cố chấp một bên. Nói tu thiền là không ngồi, thấy ai ngồi thì cười chê; hoặc mình ngồi giỏi rồi thấy ai ngồi dở hơn, cũng cười chê... Như thế không đúng, có người không ngồi thiền nhưng tâm không chạy, còn nếu mình ngồi mà tâm không chạy thì càng hay.
Vua Đường Hy Tông nghe đạo hạnh của ngài, sai sứ đem tử y ban cho. Ngài cố từ chối không nhận. Vua ban tử y là một danh dự lớn, là khen tặng vị tăng đó. Lệnh nhà vua ban mà từ chối không khéo thì bay đầu. Nếu nhận thì được danh dự lại khỏi nguy hiểm, ngài chấp nhận không danh dự và nguy hiểm, chúng ta có dám như vậy không? Học về ngài Thạch Sương để thấy đặc điểm này, không phải ai cũng làm được.
✵✵✵
THIỀN SƯ ĐẠI ĐỒNG núi ĐẦU TỬ
(819 - 914)
Sư họ Lưu người Hoài Ninh, Thư Châu. Thuở bé Sư xuất gia với thiền sư Mãn ở Bảo Đường, Lạc Dương. Ban đầu Sư tập quán hơi thở, kế xem kinh Hoa Nghiêm phát minh tánh hải, lại đến núi Thúy Vi nơi hội của thiền sư Vô Học tham vấn và được thâm ngộ.
Một hôm Sư hỏi:
- Thế nào là Phật lý?
Thiền sư Vô Học đáp:
- Phật tức chẳng lý.
- Chẳng rơi vào không chăng?
- Chân không chẳng không.
Thiền sư Vô Học lại dùng bài kệ sấm ký rằng:
Phật lý hà tằng lý
Chân không hựu bất không.
Đại Đồng cư tịch trụ
Phu diễn ngã sư tông.
Dịch:
Phật lý đâu từng lý
Chân không lại chẳng không.
Đại Đồng ở tịch trụ
Bày diễn đạo cha ông.
Sau Sư về ở ẩn tại núi Đầu Tử cất am tranh tên Tịch Trụ.
Thiền sư Đại Đồng đến thiền sư Vô Học ở núi Thúy Vi hỏi: Thế nào là Phật lý? Thiền sư Vô Học đáp: Phật tức chẳng lý. Câu hỏi và đáp thường có sự và lý. Sự là những gì có hình tướng hiển bày, lý là cái ẩn trong hình tướng đó. Hỏi thế nào là Phật lý. Phật là giác, giác là giác, không còn có lý, không còn cái ẩn khuất ở trong, nên hỏi Phật lý thì thiền sư Vô Học đáp Phật tức chẳng lý.
Ngài hỏi: Chẳng rơi vào không chăng? Nếu Phật không lý thì e rơi vào không chăng? Ngài Thúy Vi đáp: Chân không chẳng không. Tại sao? Nghĩa là cái Không chân thật chẳng phải không. Như cái hằng nghe hằng thấy hằng biết của chính mình, có thể diễn tả hình dáng không? Nó không có hình tướng, nó là chân không nhưng chẳng không. Nếu là không thì làm sao chúng ta có thấy có nghe? Vì vậy chân không chẳng phải không.
Ngài Đại Đồng đã ngộ qua kinh Hoa Nghiêm, nên thiền sư Vô Học lại dùng bài kệ sấm ký rằng:
Phật lý đâu từng lý
Chân không lại chẳng không
Đại Đồng ở tịch trụ
Bày diễn đạo cha ông.
Ý nói sau này ông ở am Tịch Trụ diễn nói đạo của thầy tổ. Quả nhiên sau ngài về ở viện Đầu Tử, cất am tên là Tịch Trụ.
Một hôm Triệu Châu Tùng Thẩm đến huyện Đồng Thành, Sư cũng có việc xuống núi, giữa đường hai người gặp nhau mà không biết nhau. Triệu Châu hỏi thăm những người cư sĩ biết là Đầu Tử, liền đón hỏi:
- Phải chủ núi Đầu Tử chăng?
Sư đáp:
- Cho tôi xin tiền trà muối.
Triệu Châu đi thẳng đến am trước, ngồi chờ. Sư mang một bình dầu về am. Triệu Châu hỏi:
- Nghe danh Đầu Tử đã lâu, đến đây chỉ thấy ông già bán dầu.
Sư đáp:
- Thầy chỉ thấy ông già bán dầu là không biết Đầu Tử.
- Thế nào là Đầu Tử?
Sư đưa bình dầu lên đáp:
- Dầu! Dầu!
Tùng Thẩm Triệu Châu là vị thiền sư lanh lẹ lợi khẩu nhất, nghe tên ngài cũng tìm tới. Ngài Đầu Tử ở trên núi đi xuống, ngài Triệu Châu ở dưới núi đi lên, hai người gặp nhau giữa đường mà không biết. Triệu Châu hỏi thăm cư sĩ thì biết đó là Đầu Tử, nên đón hỏi: Phải chủ núi Đầu Tử chăng? Hỏi chủ núi Đầu Tử là người ta trọng mình, mình phải thấp xuống, nên ngài đáp: Cho tôi xin tiền trà muối. Đây là hàng tác gia khéo léo, khi người đưa lên thì mình phải hạ xuống, hiểu nhau liền.
Ngài Triệu Châu về am trước, ngồi chờ, thấy ngài Đầu Tử mang bình dầu bèn nói: Nghe danh Đầu Tử đã lâu, đến đây chỉ thấy ông già bán dầu. Câu nói có vẻ coi thường hạ thấp mình. Ngài Đầu Tử đáp: Thầy chỉ thấy ông già bán dầu là không biết Đầu Tử. Như thế là đưa mình lên. Đối đáp của bậc tác gia khéo ở chỗ đó, khi hạ xuống thì dùng vươn lên đáp.
Ngài Triệu Châu liền hỏi: Thế nào là Đầu Tử? Tôi không nói ông bán dầu, biết ông là Đầu Tử rồi. Ngài liền đưa bình lên nói: Dầu! Dầu! Vừa thấp mình xuống mà cũng vừa chỉ hiện tại. Đó là cái khéo léo của hàng tác gia đối đáp.
Triệu Châu hỏi:
- Khi ở trong chết được sống là thế nào?
Sư đáp:
- Chẳng cho đi đêm, đợi sáng sẽ đến.
Triệu Châu nói:
- Ta sớm là trắng, y lại là đen.
Ngài Triệu Châu hỏi: Khi ở trong chết được sống là thế nào? Lời hỏi lấy ý từ câu “tuyệt hậu tái tô”, sau khi chết rồi sống trở lại. Người tu đến chỗ cao tột thì thường diễn tả bằng hình ảnh đầu sào trăm trượng, hay nói là cây cột trăm thước cho dễ hiểu. Từ dưới trèo lên mút đầu cây cột đó dễ hay khó? Khó mà trèo còn được vì có chỗ nương, lên tới đầu cây cột rồi, muốn nhảy ra nữa dễ hay khó? Đó là chỗ chết, nhảy ra khỏi đầu cột rồi sống trở lại gọi là tuyệt hậu tái tô.
Người tu đến giai đoạn này, gọi là giai đoạn thoát khỏi hầm vô minh, hầm sanh tử. Đến đó mới là cái sống thực. Trong mười mục chăn trâu, chỗ đầu sào trăm trượng tương đương bức tranh thứ tám, mất cả trâu và chăn, chỉ còn một vòng tròn. Nhảy qua khỏi vòng tròn đó là trở về nguồn cội, tranh thứ chín, là chỗ sống lại sau khi chết.
Ngài đáp: Chẳng cho đi đêm, đợi sáng sẽ đến. Một hình ảnh rất tầm thường, không cho đi đêm đợi sáng sẽ đến. Nghĩa là nếu còn ở trong mê thì làm gì biết được cái đó, khi giác rồi sẽ thấy, khi sống rồi sẽ biết.
Ngài Triệu Châu nói, ta sớm là trắng, tức là ngài hỏi rõ, y lại là đen, tức là ngài Đầu Tử mượn hình ảnh không cho đi đêm đợi sáng sẽ đến, nói một cách ẩn mật, không nói trắng.
Từ đó đạo hạnh của Sư đồn khắp, khách tầm đạo đua nhau kéo đến.
Sư bảo chúng rằng:
- Các ngươi đến đây nghĩ tìm ngôn ngữ hay đẹp, góp lời văn vẻ, trong miệng quý có nói ra, lão già này khí lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt. Nếu các ngươi hỏi ta, ta tùy câu hỏi mà đáp. Đối đáp không có gì huyền diệu có thể kịp được ngươi, cũng không dính gì đến tai ngươi. Trọn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có pháp, có phàm có thánh. Trong chỗ các ngươi bị trói buộc, biến hiện ngàn thứ, thảy đều khiến các ngươi sanh hiểu rồi tự mang gánh lấy, sau này tự làm tự chịu. Trong ấy không có gì cho các ngươi, chẳng dám lừa dối các ngươi, không ngoài không trong, có thể nói được na ná. Các ngươi lại biết chăng?
Ngài dạy chúng: Các ngươi đến đây nghĩ tìm ngôn ngữ hay đẹp, góp lời văn vẻ, trong miệng quý có nói ra. Tức là tìm những lời hay, văn đẹp từ miệng các vị Hòa thượng nói ra để ghi chép. Lão già này khí lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt. Nếu các ngươi hỏi ta, ta tùy câu hỏi mà đáp. Đối đáp không có gì huyền diệu có thể kịp được ngươi, cũng không dính gì đến tai ngươi. Tức là không có gì quan trọng chủ yếu. Trọn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có pháp, có phàm có thánh. Ngài không nói ra điều gì dính mắc hai bên. Trong chỗ các ngươi bị trói buộc, biến hiện ngàn thứ, thảy đều khiến các ngươi sanh hiểu rồi tự mang gánh lấy, sau này tự làm tự chịu. Trong tâm tư mọi người bị đủ thứ trói buộc rồi biến hiện ngàn muôn thứ, nghe nói gì cũng sanh hiểu, rồi tự ôm lấy để sau này tự nói tự khoe, đó là mình làm mình chịu. Trong ấy không có gì cho các ngươi. Trong cái thật đó không có gì cho các ngươi. Chẳng dám lừa dối các ngươi. Không phải như các ông thầy nói, đến đây tôi ấn chứng cho, đến đây tôi điểm đạo cho, đến đây tôi thọ ký cho... Chỗ này là mỗi người tự có, khéo nhắc để tự nhận, ngoài ra không có gì cho các ngươi. Nếu có cho cái này kia là lừa dối các ngươi rồi. Không ngoài không trong. Thể ấy không ngoài cũng không trong. Có thể nói được na ná. Nói thì nói na ná chứ không bao giờ nói tới được cái đó. Các ngươi lại biết chăng? Cái đó mỗi người tự thấy tự biết, người khác không làm cho thấy biết được.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn đứng hầu, Sư chỉ một phiến đá trước am bảo:
- Chư Phật ba đời thảy ở trong ấy.
Tuyết Phong thưa:
- Nên biết có cái chẳng ở trong ấy.
Sư bảo:
- Thùng sơn chậm lụt.
Ngài Tuyết Phong đứng hầu, ngài Đầu Tử chỉ một phiến đá trước am bảo: Chư Phật ba đời thảy ở trong ấy. Tuyết Phong thưa: Nên biết có cái chẳng ở trong ấy. Ngài bảo: Thùng sơn chậm lụt.
Tại sao trong một phiến đá lại có ba đời chư Phật ở trong? Khi giác ngộ thấy cái cây, cục đá, tất cả đều có tánh giác tức là có Phật trong mọi vật, đều không khác nhau. Chúng ta thấy thì cứ khen đẹp chê xấu... không thấy tính giác ngộ nơi mọi vật. Vì thế đây nói một phiến đá ba đời chư Phật đều ở trong đó, đều là giác như nhau không khác.
Ngài Tuyết Phong thì muốn nói đến cái khác, cái không ở trong đó tức là ý ngài muốn nói có cái ngoài cái đó. Ngài Đầu Tử liền quở, thùng sơn chậm lụt. Thùng sơn ý chỉ chỗ đen hắc như thùng sơn đen. Người không thông đạo lý, còn dày đặc tình chấp cũng như thùng sơn. Khi ngộ rồi thì gọi là thùng sơn lủng đáy, vì tất cả khối nghi đặc cứng đều tuột ra hết, bung ra hết. Ngài Đầu Tử luôn gọi ngài Tuyết Phong là thùng sơn, ý răn nhắc còn chỗ kẹt dính.
Một hôm Tuyết Phong theo Sư đi thăm am chủ Long Miên. Tuyết Phong hỏi:
- Đường Long Miên đi về phía nào?
Sư lấy cây gậy chỉ tới trước mặt. Tuyết Phong hỏi:
- Đi bên đông hay đi bên tây?
Sư bảo:
- Thùng sơn chậm lụt.
Một hôm Tuyết Phong theo ngài đi thăm am chủ Long Miên. Tuyết Phong hỏi: Đường Long Miên đi về phía nào? Ngài cầm cây gậy chỉ tới trước mặt. Tuyết Phong cố tìm cách gạt lão già này một chút, liền nói: Đi bên đông hay đi bên tây? Ông già này cứng quá nên nói: Thùng sơn chậm lụt. Ông còn thấy đông tây là còn chậm lụt không thông đạo lý.
Hôm khác Tuyết Phong hỏi:
- Khi một chùy liền thành thì thế nào?
Sư đáp:
- Chẳng phải kẻ tánh thô tháo.
- Khi chẳng nhờ một chùy thì sao?
- Thùng sơn chậm lụt.
Hôm khác, ngài Tuyết Phong hỏi: Khi một chùy liền thành thì thế nào? Ngài đáp: Chẳng phải kẻ tánh thô tháo.
Những câu này nghe qua khó hiểu. Nhà thiền thường gọi chỗ thiện tri thức là chỗ lô bị. Lô bị là lò rèn, rèn đúc nên những đồ vật hữu dụng. Người học như cây sắt vô dụng phải qua tay thiện tri thức rèn luyện mới thành tựu. Một cây sắt muốn thành hình thì phải đập nhiều lần, đập một lần mà thành thì đó là thô tháo. Vì thế hỏi khi một chùy liền thành thì thế nào, ngài đáp rằng chẳng phải kẻ tánh thô tháo. Kẻ thô tháo được một chút liền cho là đủ.
Tuyết Phong hỏi: Khi chẳng nhờ một chùy thì sao? Ngài đáp: Thùng sơn chậm lụt. Nghĩa là không có Phật tự nhiên, không có người đạt đạo tự nhiên, mà phải qua những cuộc rèn luyện, đập đánh cho tiêu tan những thứ sét gỉ rồi mới thành đồ hữu dụng. Nếu không nhờ mài giũa mà thành là chuyện vô lý, nên nói thùng sơn chậm lụt. Ý quở trách không hội được ý chỉ.
Sư ngồi trong am, Tuyết Phong hỏi:
- Hòa thượng độ này có người tham vấn chăng?
Sư với lấy cây cuốc dưới sàn ném trước mặt Tuyết Phong. Tuyết Phong thưa:
- Thế ấy thì chính chỗ này cuốc đi.
Sư bảo:
- Thùng sơn chậm lụt.
Tuyết Phong từ biệt Sư ra đi, Sư tiễn ra cửa, liền gọi:
- Đạo giả.
Tuyết Phong ngoái đầu lại:
- Dạ!
Sư bảo:
- Đi đường vui vẻ.
Sư ngồi trong am, Tuyết Phong hỏi: Hòa thượng độ này có người tham vấn chăng? Sư với lấy cây cuốc dưới sàn ném trước mặt Tuyết Phong. Như vậy là có người tham vấn không? Cây cuốc để dưới sàn là đang xài hay đang nghỉ? Đó là ý ngài nói thiền. Tuyết Phong liền thưa: Thế ấy thì chính chỗ này cuốc đi. Như vậy con đến đây tham vấn. Ngài đáp: Thùng sơn chậm lụt.
Có một câu chuyện lý thú không ghi ở đây, ghi ở chỗ khác, tôi chép vào sổ của tôi: Một hôm có bà già tìm tới núi Đầu Tử: “Bạch Ngài đêm qua con mất trâu, thỉnh Hòa thượng bói giùm một quẻ xem còn hay mất?” Ngài là thiền sư sao lại thỉnh bói quẻ? Như vậy mà ngài liền gọi: “Bà già.” Bà: “Dạ.” Ngài nói: “Còn đó.” Bà vái chào rồi đi. Bà già cừ khôi không? Chúng ta cũng phải nể phục.
Tuyết Phong từ biệt Sư ra đi, Sư tiễn ra cửa, liền gọi: Đạo giả. Tuyết Phong ngoái đầu lại: Dạ! Sư bảo: Đi đường vui vẻ.
Đó là vẫn con trâu còn mà Tuyết Phong không nhận ra, nên bị câu sau Đi đường vui vẻ. Chúng ta tưởng ngài lại nhắc đi đường bình ổn, không ngờ kêu nhắc con trâu còn.
Có vị tăng hỏi Triệu Châu:
- Trẻ con mới sanh có đủ sáu thức chăng?
Triệu Châu đáp:
- Trên dòng nước chảy xiết, đá cầu.
Sau, vị tăng ấy đến hỏi Sư:
- Trên dòng nước chảy xiết đá cầu, ý nghĩa thế nào?
Sư đáp:
- Niệm niệm chẳng tạm dừng.
Đến ngài Triệu Châu, có vị tăng hỏi Triệu Châu: Trẻ con mới sanh có đủ sáu thức chăng? Triệu Châu đáp: Trên dòng nước chảy xiết, đá cầu.
Câu này nghe ít người hiểu nổi. Trẻ con mới sanh thì sáu căn có đủ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nhưng sáu thức nó có hoạt động như mình hay không? Con mắt thường phân biệt đẹp xấu không? Lỗ tai có biết khen chê không? Khi đó sự phân biệt theo từng cơ quan của nó không nhạy bén, nhưng dòng tâm thức luôn trôi chảy liên miên, tuy có dụng mà chưa phát ra đầy đủ. Vì thế ngài Triệu Châu nói trên dòng nước chảy xiết, đá cầu, là chỉ cho dòng tâm thức trôi chảy liên miên bên trong chứ không phải không.
Sau, vị tăng ấy đến hỏi ngài: Trên dòng nước chảy xiết, đá cầu, ý nghĩa thế nào? Ngài đáp: Niệm niệm chẳng tạm dừng. Thì đây nói thẳng.
Có vị tăng hỏi Sư:
- Cũng đồng là nước, tại sao ở biển mặn, ở sông lạt?
Sư đáp:
- Trên trời sao, dưới đất cây.
- Hòa thượng lâu nay ở đây có cảnh giới gì?
- Bé gái chừa hai chỏm, đầu bạc như tơ.
- Thế nào là Tỳ-lô (pháp thân)?
- Đã có danh tự.
- Thế nào là Tỳ-lô sư (thầy pháp thân)?
- Khi chưa có Tỳ-lô hội lấy.
- Khi bốn núi (sanh, lão, bệnh, tử) ép ngặt làm thế nào?
- Năm uẩn đều không.
- Khi một niệm chưa sanh là thế nào?
- Thật là lời nói dối.
- Trên trời dưới đất chỉ ta là hơn hết, thế nào là ta?
- Xô té ông già Hồ (Phật) có lỗi gì?
- Thế nào là Hòa thượng sư?
- Đón đó chẳng thấy đầu, theo đó chẳng thấy hình.
- Khi mặt trời mặt trăng chưa sáng, Phật cùng chúng sanh ở chỗ nào?
- Thấy lão tăng giận liền nói giận, thấy lão tăng mừng liền nói mừng.
Có vị tăng hỏi ngài: Cũng đồng là nước, tại sao ở biển mặn, ở sông lạt? Ngài đáp: Trên trời sao, dưới đất cây. Hỏi mặn lạt thì ngài nói trên trời sao, dưới đất cây, dùng hai hình ảnh để đối lại.
Tăng hỏi: Hòa thượng lâu nay ở đây có cảnh giới gì? Tức là hỏi sự tu hành đạt được của ngài, ngài đáp: Bé gái chừa hai chỏm, đầu bạc như tơ. Bé gái chừa hai chỏm là còn rất nhỏ mà đầu bạc như tơ là bà già. Ngài còn theo hệ của ngài Động Sơn, dùng hình ảnh hồi hỗ. Trong Chánh có Thiên, đứa bé là chỉ cho Chánh, bà già đầu bạc là chỉ cho Thiên, Thiên và Chánh không rời nhau, trong Chánh có Thiên và ngược lại, tức là thể dụng không rời. Đó là ý nói cảnh giới của ngài.
Tăng hỏi: Thế nào là Tỳ-lô? Ngài đáp: Đã có danh tự. Vừa đặt tên Tỳ-lô hay pháp thân thì kẹt danh tự, không thể thấy được.
Hỏi: Thế nào là Tỳ-lô sư? Ông thầy này cũng bướng, đã nói kẹt danh từ còn hỏi thầy của pháp thân. Ngài đáp: Khi chưa có Tỳ-lô hội lấy. Nghĩa là muốn biết cha, thì lúc có con gọi là cha. Đây ngài nói ngược, muốn biết thầy nhằm khi chưa có tên pháp thân nhận ra thầy của pháp thân.
Tăng hỏi: Khi bốn núi ép ngặt làm thế nào? Ngài trả lời rất rõ: Năm uẩn đều không. Sở dĩ thấy sanh lão bệnh tử ép ngặt là vì thấy năm uẩn thật có. Thấy thật nên thấy có già đuổi gấp theo, lo sợ chết gần đến. Nếu thấy năm uẩn đều không thì sanh lão bệnh tử làm gì được.
Tăng hỏi: Khi một niệm chưa sanh là thế nào? Ngài đáp: Thật là lời nói dối. Vừa khởi nghĩ hỏi là có niệm, hỏi niệm chưa sanh tức là nói dối.
Hỏi: Trên trời dưới đất chỉ ta là hơn hết, thế nào là ta? Đây là hỏi khi Thái tử sanh ra, tay chỉ trời tay chỉ đất nói Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, như vậy thế nào là ngã (ta)? Ngài đáp: Xô té ông già Hồ có lỗi gì? Chữ ngã (ta) trong câu Thái tử mới đản sanh là chỉ cho pháp thân, không phải thân của ngài. Muốn thấy cái ngã đó thì đừng kẹt trên hình tướng, nên nói: Xô té ông già Hồ có lỗi gì?
Hỏi: Thế nào là Hòa thượng sư? Tức là thầy của Hòa thượng. Ngài đáp: Đón đó chẳng thấy đầu, theo đó chẳng thấy hình. Thầy của tôi là ông đón không thấy đầu, ông theo không thấy bóng dáng.
Hỏi: Khi mặt trời mặt trăng chưa sáng, Phật cùng chúng sanh ở chỗ nào? Ngài nói: Thấy lão tăng giận liền nói giận, thấy lão tăng mừng liền nói mừng. Khi mặt trời mặt trăng chưa sáng là lúc hỗn độn sơ khai chưa có trời đất rõ ràng thì Phật, chúng sanh ở đâu? Ngài liền đáp: Thấy lão tăng giận liền nói giận, thấy lão tăng mừng liền nói mừng. Câu này muốn nói gì? Người tu chỉ nhìn thẳng thực tại hiện hữu, đừng nghĩ tới quá khứ xa xôi. Thực tại hiện hữu nên thấy tôi giận thì nói giận, thấy tôi mừng thì nói mừng, ngay đây không nói chuyện xa vời.
Chính ý nghĩa này làm sáng tỏ tinh thần bài kinh Tiễn Dụ trong Trung A-hàm. Có Sa-môn hỏi Phật: Thế giới hữu biên hay vô biên, con người sau khi chết là thường hay đoạn?... Nếu Phật trả lời thì con theo ngài tu, không trả lời thì con hoàn tục. Phật quở ngu si, ngươi hãy nhìn thẳng thân này là khổ hay không khổ, thấy thẳng cái hiện tại đây để giải quyết, còn cái xa vời kia chưa cần biết. Cái khổ hiện tại có hay không? Hãy giải quyết nó đi.
Sư hỏi một vị tăng mới đến:
- Ở đâu đến?
Tăng thưa:
- Ở núi đông núi tây lễ Tổ sư mới đến.
Sư bảo:
- Tổ sư không ở núi đông núi tây.
Tăng lặng câm.
***
Trà đầu (Tăng phụ trách nước uống) vào phương trượng thưa hỏi. Sư bảo:
- Hãy đi, đợi khi không người sẽ đến, ta vì Xà-lê nói.
Hôm sau, Trà đầu rình đợi lúc không người đến thưa:
- Thỉnh Hòa thượng nói.
Sư bảo:
- Lại gần đây.
Trà đầu đến gần. Sư bảo:
- Liền chẳng đặng nói lại cho người.
Trà đầu vào phương trượng thưa hỏi, ngài bảo: Hãy đi, đợi khi không người sẽ đến, ta vì Xà-lê nói. Hôm sau Trà đầu rình đợi lúc không người đến thưa thỉnh. Ông tăng này quá lương thiện. Ngài bảo đợi khi không người đến sẽ nói, không người này là lúc vắng, lúc tôi rảnh hay lúc nào? Ngài khéo nhắc chỗ dẹp sạch tình thức, nhưng Trà đầu tưởng Hòa thượng bảo mình khi nào vắng người đến. Ông đến thỉnh, thì ngài bảo: Lại gần đây. Tăng lại gần, ngài nói: Liền chẳng đặng nói lại cho người. Câu gì mà bảo chẳng đặng nói lại? Chưa nói bảo đừng nói lại, vậy là có nói chưa? Đó là một cách nói khéo làm cho Trà đầu bị gạt. Ngài cố tình gạt chăng? Một lối chỉ dạy không dùng ngôn ngữ.
Tăng hỏi:
- Sư tử là vua trong loài thú, tại sao bị sáu trần nuốt?
Sư đáp:
- Đừng ngạo mạn, không ngã nhân.
Tăng hỏi: Sư tử là vua trong loài thú, tại sao bị sáu trần nuốt? Sư tử tức là chỉ cho ông chủ, bị sáu trần nuốt tức là sáu căn bị sáu trần kéo lôi. Ngài đáp: Đừng ngạo mạn, không có ngã nhân.
Sư ở núi Đầu Tử hơn ba mươi năm, những thiền khách qua lại tham vấn thường đầy cả thất. Sư dùng biện tài vô úy tùy hỏi liền đáp, ứng cơ đối đáp lời lẽ tinh vi rất nhiều, đây lược ghi ít phần mà thôi.
Đời Đường niên hiệu Trung Hòa (881-885) giặc cướp nổi dậy, dân chúng tán loạn, có bọn cuồng đồ cầm đao lên núi, hỏi Sư:
- Ở đây làm gì?
Sư tùy nghi thuyết pháp, bọn chúng nghe đều bái phục, cởi y phục cúng dường, rồi giải tán.
Thời Ngũ Đại niên hiệu Càn Hóa năm thứ tư (914) ngày mùng sáu tháng tư, Sư có chút ít bệnh. Đại chúng rước thầy thuốc. Sư bảo chúng:
- Động tác của tứ đại họp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy.
Nói xong, Sư ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Thọ 96 tuổi, vua ban hiệu là Từ Tế đại sư, tháp hiệu Chân Tịch.
Ngài sắp tịch, có chút ít bệnh. Đại chúng rước thầy thuốc, ngài bảo: Động tác của tứ đại họp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy. Nói xong, ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Thường người đời nói rằng có sanh có tử, nhưng với ngài thì không có sanh tử. Thân này do tứ đại, khi hợp gọi là sanh, khi tan gọi là tử. Họp hay tan là việc của tứ đại, còn ta không có sanh tử. Người xưa khi thấy đạo rồi, không bị mắc kẹt trong họp tan của tứ đại. Các ngài không thấy có sanh tử thật, ngay trong sanh tử thể nhập được lý vô sanh. Đây là điều đặc biệt.
✵✵✵
THIỀN SƯ THIỆN HỘI ở GIÁP SƠN
(805 - 881)
Sư họ Liêu, quê ở Hiện Đình, Quảng Châu. Lúc chín tuổi, Sư xuất gia tại núi Long Nha, Lễ Châu. Sau, Sư đến Giang Lăng tập học kinh luận chuyên luyện tam học và gắng sức tham thiền. Sư trụ trì tại Kinh Khẩu (Lễ Châu), một hôm nhân Đạo Ngô Viên Trí đi đến, rồi mách Sư đến tham vấn Hoa Đình Thuyền Tử, do đó được ngộ đạo. Sư trốn ẩn nơi vắng vẻ, mà học giả vẫn tấp nập tìm đến.
Đời Đường niên hiệu Hàm Thông thứ mười một (870), toàn chúng thỉnh Sư đến trụ tại Giáp Sơn, nơi đây liền biến thành thiền viện.
Sư thượng đường dạy chúng:
- Từ có Tổ đến đây, người ta lầm hội, nối nhau đến nay đều lấy lời Phật tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng người vô trí rồi. Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi: “Không pháp vốn là đạo, đạo không một pháp; không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể thủ, không pháp có thể xả.” Cho nên lão tăng nói: Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt (mục tiền vô pháp, ý tại mục tiền). Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật tổ mà học, người này chưa có mắt sáng, đều thuộc về pháp có chỗ nương không được tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do.
Ngàn muôn dặm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chân chánh hằng thoát khỏi hư dối, định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay là thật không? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát.
Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà nhận lấy? Chỗ nào lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây:
Lao trì sanh tử pháp
Duy hướng Phật biên cầu.
Mục tiền mê chánh lý
Bát hỏa mịch phù âu.
Dịch:
Nhọc gìn pháp sanh tử
Chỉ nhằm bên Phật cầu.
Trước mắt lầm lý chánh
Trong lửa bọt có đâu.
Ngài thượng đường dạy chúng: Từ có Tổ đến đây, người ta lầm hội, nối nhau đến nay đều lấy lời Phật tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng người vô trí rồi. Lấy lời Phật lời Tổ làm mô phạm dạy người là hợp lý, tại sao ngài nói trở thành kẻ cuồng người vô trí? Chúng ta phải nghiệm thật kỹ chứ không thì mắc kẹt. Như tôi lấy tay chỉ cái đèn ở đây, người nào muốn thấy cái đèn thì nương ngón tay mà thấy. Có người nhìn ngay đầu ngón tay tôi, nói cái đèn chỗ đầu ngón tay này thì được không? Có phải cuồng vô trí không?
Kinh Phật lời Tổ là phương tiện để chỉ cái chân thật, nếu chấp vào phương tiện cho đó là thật rồi bám vào đó, chẳng khác nào chấp ngón tay quên mặt trăng. Ý ngài nhắc người học không chịu nhận cái thật của mình, chỉ theo phương tiện truyền tụng của kinh Phật lời Tổ lấy đó đi nói đi khoe. Dẫn chứng câu này lời nọ nghe như hay, nhưng thật tình không thấy được mình. Đó gọi là kẻ cuồng, người vô trí.
Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi: Không pháp vốn là đạo. Kia tức là lời trong kinh trong luận. Đạo không một pháp, đạo là tâm thể thanh tịnh không có một pháp nào, nên nói đạo không một pháp. Không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể thủ, không pháp có thể xả. Những câu này nghe rất nặng. Không Phật có thể thành, như vậy tu để làm chi? Có người nào không nghĩ rằng tôi tu để thành Phật không? Tại sao ngài nói Không Phật có thể thành?
Ví dụ tấm gương vốn trong sáng, bây giờ bị bụi phủ mờ, chúng ta lấy đồ chùi lau gương sáng ra. Cái sáng ra đó mới được hay là có sẵn? Gương bị bụi tối, khi chùi thấy sáng tưởng như mới, bản chất gương là sáng, tối là tại bụi, không phải tại gương, khi sáng là trở về cái cũ của nó, không có gì mới thành. Phật là Phật sẵn có mà bị vô minh phiền não che phủ, khi dẹp sạch vô minh phiền não thì Phật hiện như xưa không có gì để thành. Như chúng ta đem mấy tấm ván ráp đóng thành cái bàn, thì nói cái bàn là cái mới có. Còn đây là Phật sẵn, hết vô minh Phật vẫn như xưa, vì thế nói không Phật có thể thành.
Không đạo có thể đắc, đạo là thể tánh chân thật cũng không phải mới được. Không pháp có thể thủ, không pháp có thể xả, chúng ta có xả phiền não không? Xả rồi đổ ở đâu? Phàm những gì bỏ đi, đem đổ chỗ chứa rác. Còn xả phiền não thì đem đi đâu? Không chỉ được chỗ đổ thì có xả gì? Nó không thật lấy gì xả. Chỉ vì chúng ta quen chấp những thứ không thật cho là thật, nên nói xả phiền não này kia. Đó là chỉ lối nói không có thật.
Cho nên nói: Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt. Rõ ràng trước mắt không pháp, ý ở ngay trước mắt. Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Kia tức là chỉ cho thể chân thật không phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật tổ mà học, người này chưa có mắt sáng, đều thuộc về pháp có chỗ nương không được tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do. Nghĩa là còn trông vào Phật còn tựa vào Tổ thì người đó còn nương tựa, chưa sáng mắt, không được tự tại, vẫn bị nghiệp thức lôi đi trong sanh tử.
Ngàn muôn dặm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chân chánh hằng thoát khỏi hư dối. Cái thấy chân chánh là thấy tâm chân thật để thoát khỏi hư dối. Cái gì là hư dối? Tứ đại là hư dối, tất cả những tư tưởng nghĩ suy là hư dối. Biết rõ chúng hư dối, nhận ra chân thật ngay nơi mình, nên nói cốt tìm cái thấy chân chánh để thoát khỏi hư dối.
Định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay là thật không? Như vậy thì quyết định xem, cái sanh tử hiện giờ là thật có hay thật không? Quyết định được chăng? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát. Nếu quyết định rằng sanh tử hiện giờ là không thật có, chắc chắn các ông sẽ giải thoát. Nếu nói nó thật có, chắc chắn các ông trầm luân không nghi ngờ, tại sao? Vì thấy sanh tử thật thì thân này thật. Thấy thân thật mà mất thì nguy quá nên rất sợ mất thân. Bởi sợ mất thân nên nó vừa mất liền tìm thân khác gá sanh, không để mất. Như thế luôn đi trong luân hồi.
Như có người rất sợ chết, họ đang trèo lên cây cau hoặc cây dừa cao mười mấy thước, gần đó có bụi tre gai. Khi đang lên trên cao chợt sảy tay rớt, thì họ chụp đại tre gai hay để rớt xuống đất chết? Tuy biết nó là cây gai nhưng vì sợ chết vẫn níu chụp. Cũng vậy, khi thân này sắp hoại chúng ta sợ mất thân, nên dù đi trong lục đạo tốt xấu đều chạy đến chụp thọ sanh không có lựa chọn. Nhiều khi gặp thân xấu xí như con chó con heo cũng chui đại vô đó, miễn làm sao có chỗ nương là được. Đây là bệnh thấy thân là thật, phải chấp nhận luân hồi. Nếu thấy thân không thật, sanh tử không thật, không bận tâm tìm kiếm níu kéo, thì thảnh thơi hết sanh tử. Do đó ngài nói dứt khoát: Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát.
Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà nhận lấy? Chỗ nào lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây:
Nhọc gìn pháp sanh tử
Chỉ nhằm bên Phật cầu
Trước mắt lầm lý chánh
Trong lửa bọt có đâu.
Nhọc gìn pháp sanh tử, vì gìn giữ pháp sanh tử nên khi nghe nói thân đau nặng, thì tâm hoảng hốt, bắt đầu nước mắt tuôn ra, kêu người này cầu người kia... Chỉ nhằm bên Phật cầu, nghĩa là tìm cầu xin cứu giúp, rủ huynh đệ đến cầu an, nếu chết thì xin cầu siêu giùm. Cứ như vậy mà cầu, không nhận ông Phật của mình. Nếu nhận ra Phật của mình thì tự do không cầu bên ngoài nữa. Chúng ta dạy Phật tử nên nhận ra cái đó hay chỉ một bề hướng về Phật cầu?
Trước mắt lầm lý chánh. Lý chân thật hiện tiền trước mắt, Phật hiện tại ở ngay nơi mình lại không nhận ra. Vì mê lầm nên tu lầm, chỉ dạy lầm, không đưa người đi đúng đường. Trong lửa bọt có đâu. Trong lò lửa có bọt nước không? Chỉ làm việc không công. Tổ quở chúng ta làm việc không ra gì, qua suông một đời tu.
Lời dạy của ngài rất tha thiết, chỉ thẳng chỗ chân thật. Vì thương chúng ta không nhận ra Phật của chính mình, tìm cầu Phật bên ngoài, mệt nhọc chạy theo sanh tử. Cầu nguyện là thói quen khó bỏ, tuy biết là không thực tế, như tìm bọt trong lò lửa, nhưng đa số lầm mê cứ đi theo. Đạo lý chân thật là quay trở về với chính mình, nhận rõ ý này chúng ta hiểu lời dạy của thiền sư Thiện Hội.
Có vị tăng hỏi:
- Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ này Hòa thượng nói không?
Sư đáp:
- Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói.
- Đã không người đói, tại sao con chẳng ngộ?
- Chỉ vì ngộ mê đuổi Xà-lê.
Sư nói tụng:
Minh minh vô ngộ pháp
Ngộ pháp khước mê nhân
Trường thư lưỡng cước thùy
Vô ngụy diệc vô chân.
Dịch:
Rõ ràng không pháp ngộ
Pháp ngộ đuổi người mê
Duỗi thẳng hai chân ngủ
Không ngụy cũng không chân.
Có vị tăng hỏi: Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ này Hòa thượng nói không? Nghĩa là từ các bậc tiên thánh đều nói có ý Tổ ý kinh rõ ràng, tại sao Hòa thượng nói không? Ngài đáp: Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói. Câu đáp này ý nói gì? Nếu có ăn mới no là thuộc hình tướng sanh diệt không ăn mà không đói là chỉ cái không sanh diệt sẵn có không cần bồi bổ gì hết. Tăng hiểu được ý này nên hỏi: Đã không người đói, tại sao con chẳng ngộ? Ngài nói: Chỉ vì mê ngộ đuổi Xà-lê. Vì còn thấy hai bên cho nên ông không ngộ.
Ngài nói tụng:
Rõ ràng không pháp ngộ
Pháp ngộ đuổi người mê.
Duỗi thẳng hai chân ngủ
Không ngụy cũng không chân.
Người tu rất mong được chứng ngộ, khởi tâm tìm cầu pháp ngộ. Ngài khẳng định không có pháp nào gọi là mê hay ngộ, chỉ vì thấy có ngộ có mê, là hai pháp đuổi nhau. Người không còn thấy có hai bên mê ngộ khác nhau, duỗi thẳng hai chân ngủ, không còn ngụy cũng không còn chân.
Chúng ta thử suy nghĩ, điều gì không dính hai bên, không kẹt mê ngộ, phàm thánh... lúc đó tâm thế nào? Rõ ràng không dính hai bên là chỗ chân thật, nếu còn suy nghĩ đây là Niết-bàn kia là sanh tử, đây là chân như kia là phiền não... đều còn có hai bên, còn có xao xuyến. Không còn có niệm hai bên thì lúc đó an ổn, nằm duỗi thẳng chân ngủ. Như vậy đạo lý không xa vời, không cần tìm ngộ bỏ mê, chỉ cần không dính hai bên. Ngài thường dùng chữ “thùng sơn” ý quở trách cái dính khắn của người tu.
Sư có nuôi một đạo nhỏ theo làm thị giả đã lâu, sau khi Sư dừng trụ bèn khiến đi hành khước. Ông đạo đi khắp các thiền hội mà không có chỗ dụng tâm, nghe thầy họp chúng dạy đạo nổi danh vang dậy. Ông bèn trở về hầu hạ, thưa:
- Hòa thượng có việc kỳ đặc như thế, tại sao trước chẳng chỉ dạy cho con?
Sư bảo:
- Ngươi nấu cơm thì ta nhóm lửa, ngươi bưng dọn thì ta giở chén, có chỗ nào mà ta cô phụ ngươi?
Ông đạo nhân đây ngộ nhập.
Ngài có nuôi một ông đạo nhỏ sai làm thị giả đã lâu, sau ngài trụ Giáp Sơn bèn sai đi tham vấn các nơi. Ông thầy nhỏ này tham vấn các nơi, không được gì, nghe thầy mình dạy chúng nổi danh, ông trở về trách thầy: Hòa thượng có việc kỳ đặc như thế, tại sao trước chẳng chỉ dạy cho con? Ngài trả lời: Ngươi nấu cơm thì ta nhóm lửa, ngươi bưng dọn thì ta giở chén, có chỗ nào mà ta cô phụ ngươi? Ngay đó ngộ nhập, ông thầy này cũng lanh lợi.
Có đại đức đến hỏi:
- Về ý kinh thì con chẳng nghi, chỉ việc trong thiền môn là thế nào?
Sư đáp:
- Lão tăng cũng chỉ biết biến sống thành chín.
- Thế nào là lý thật tế?
- Cây trên đá không rễ, núi ngậm mây chẳng động.
- Thế nào là sư tử ra khỏi hang?
- Hư không chẳng hình bóng, dưới chân mây đồng nội dậy.
Có đại đức đến hỏi: Về ý kinh thì con chẳng nghi, chỉ việc trong thiền môn là thế nào? Ngài đáp: Lão tăng cũng chỉ biết biến sống thành chín. Trong thiền môn chỉ có việc biến sống thành chín. Như trái xoài hay trái mít, sống và chín cũng là trái đó, chỉ khác là khi sống thì chua chát không ăn được, chín thì ngọt thơm. Nhà thiền cũng vậy, chúng sanh sẵn có cái đó mà khi chưa nhận ra, chưa được viên mãn thì các ngài nói là sống, khi chỉ cho nhận ra rồi các ngài nói là chín, biến sống thành chín, không cho thêm gì cả.
Tăng hỏi: Thế nào là lý thật tế? Ngài đáp: Cây trên đá không rễ, núi ngậm mây chẳng động. Lý thật tế là như vậy, cây mọc trên đá không có rễ, núi ngậm mây không dấy động.
Hỏi: Thế nào là sư tử ra khỏi hang? Sư tử là ông chủ, ra khỏi hang là dụng. Khi sư tử ra khỏi hang đi tìm mồi, đó là khi ông chủ đã khởi dụng. Ngài trả lời: Hư không chẳng hình bóng, dưới chân mây đồng nội dậy. Trong hư không có hình bóng gì không? Trong bầu hư không đó, khi nắng rồi mưa, hơi dưới đất bốc lên thành mây, mây nổi lên trong hư không. Đó là trả lời câu hỏi sư tử ra khỏi hang. Sư tử dụ cho hư không, ra khỏi hang là dụ cho mây đồng nội dậy.
Trong hội của Sư có một vị tăng đi đến Thạch Sương, vào cửa liền nói:
- Chào Thầy!
Thạch Sương bảo:
- Chẳng cần, Xà-lê.
Tăng liền nói:
- Thế ấy thì trân trọng.
Tăng lại đi đến Nham Đầu, cũng nói:
- Chào Thầy!
Nham Đầu bèn “Hư! Hư!”
Tăng nói:
- Thế ấy thì trân trọng.
Tăng vừa bước trở ra, Nham Đầu bảo:
- Tuy là hậu sanh cũng khá sắp xếp.
Tăng về tường thuật cho Sư. Hôm sau, Sư lên tòa bèn gọi:
- Vị tăng hôm qua từ Thạch Sương Nham Đầu về, ra đây thuật lại lời trước xem.
Tăng thuật xong, Sư bảo:
- Đại chúng lại hội chăng? Nếu không người nói, lão tăng chẳng tiếc hai sợi lông mày để nói ra. Thạch Sương tuy có dao sát nhân mà không có kiếm hoạt nhân. Nham Đầu có dao sát nhân cũng có kiếm hoạt nhân.
Có vị tăng trong hội của ngài đi đến Thạch Sương, vào cửa liền nói: Chào Thầy! Ngài Thạch Sương bảo: Chẳng cần, Xà-lê. Tăng liền nói: Thế ấy thì trân trọng. Trân trọng là chào ra đi.
Tăng lại đi đến ngài Nham Đầu nói: Chào Thầy! Nham Đầu bèn Hư! Hư! Hai tiếng “hư hư” đâu có gì để nói, Tăng cũng trân trọng chào đi. Khi ra đi, ngài Nham Đầu nói thêm một câu: Tuy là hậu sanh cũng khá sắp xếp. Đó là câu khen, nếu vị tăng này lanh lợi thì có hành động để đối lại. Nhưng ông không nói câu gì, về thuật lại với ngài Thiện Hội. Ngài bảo: Đại chúng lại hội chăng? Nếu không người nói, lão tăng chẳng tiếc hai sợi lông mày để nói ra. Bèn nói: Thạch Sương tuy có dao giết người, không có kiếm cứu người. Nham Đầu cũng có dao giết người cũng có kiếm cứu người.
Tăng hỏi:
- Thế nào là cảnh Giáp Sơn?
Sư đáp:
Vượn bồng con về ngọn núi biếc
Chim ngậm hoa đậu trước non xanh.
Giáp Sơn là cảnh của ngài ở. Giả sử có người đến hỏi: Thế nào là cảnh Thường Chiếu? Chúng ta trả lời thế nào? Cửa bước vào có hai hàng dương, bên phải là ruộng, bên trái là hàng đào hay vườn đào. Đó là cảnh của đất đai cây cối, không phải cảnh của mình. Nói về cảnh của mình tức là nói chỗ sở đắc. Vì thế ngài trả lời: Vượn bồng con về ngọn núi biếc, chim ngậm hoa đậu trước non xanh. Câu này nên thơ, cảnh Giáp Sơn là như vậy, phải không? Ý ở đây còn liên hệ tông Tào Động, cứu cánh là nhiếp dụng quy thể. Vượn chim trở về núi, đó là dụng trở về thể.
Đời Đường niên hiệu Trung Hòa năm đầu (881) ngày mùng bảy tháng mười một, Sư gọi Chủ sự bảo:
- Ta cùng chúng tăng nói pháp nhiều năm, ý chỉ thâm sâu của Phật pháp mỗi người nên tự biết. Nay chất huyễn của ta khi hết liền đi, các ông khéo gìn giữ như ngày ta còn, chớ giống như người đời sinh ra buồn thảm.
Ngay đêm ấy, Sư an nhiên mà tịch, thọ 77 tuổi, 57 tuổi hạ. Vua phong là Truyền Minh đại sư, tháp hiệu Vĩnh Tế.
Ngài sắp tịch, dặn dò đệ tử, ngài dạy đã lâu nói đã nhiều, việc tu hành mỗi người hãy gắng tự biết.
Nay chất huyễn của ta khi hết liền đi, các ông khéo gìn giữ như ngày ta còn, chớ giống như người đời sinh ra buồn thảm. Người đạt đạo thấy thân này như huyễn, hết duyên liền đi, nhất định giải thoát không ràng buộc. Nếu còn thấy thật tức còn trầm luân. Ngài để lại lời căn dặn: Các ông phải khéo giữ gìn như ngày ta còn. Nghĩa là khi ta còn thì việc tu hành như vậy, ta đi thì cũng phải giữ như vậy, đó là tốt. Không nên bày ra khóc lóc giống như phàm tình. Đó là tinh thần của người tu.
Học ngôn hạnh các thiền sư, chúng ta thấy rõ con đường sanh tử không khó thoát ra. Thấy khó là tại chúng ta chấp mê thân không thật, tâm duyên theo sáu trần không thật. Từ cái chấp đó mà dính hết sáu trần, vì vậy cứ chìm trong sanh tử. Nếu phá được chấp mê đó, thấy thân này như huyễn hóa, đủ duyên thì hợp thiếu duyên thì tan, còn có một cái không sanh diệt. Như thế là giải thoát không nghi ngờ.