I- TÔNG TÀO ĐỘNG ĐỜI THỨ BA
Nối pháp Tào Sơn Bổn Tịch có mười bốn vị
1- Thiền sư Quang Huệ núi Hà Ngọc
2- Thiền sư Tùng Chí ở Kim Phong
3- Thiền sư Xử Chơn núi Lộc Môn...
II- TÔNG LÂM TẾ ĐỜI THỨ BA
Nối pháp Hưng Hóa Tồn Tương
Thiền sư Bảo Ứng hay Nam Viện Ngung
III- TÔNG QUY NGƯỠNG ĐỜI THỨ TƯ
Nối pháp thiền sư Quang Dũng có năm vị
1- Thiền sư Toàn Phó hiệu Thanh Hóa
2- Thiền sư Huệ Thanh núi Ba Tiêu...
IV- NỐI PHÁP ĐỨC SƠN ĐỜI THỨ HAI
A- Nối pháp Nham Đầu Toàn Khoát
Có chín vị
1- Thiền sư Sư Ngạn ở Thụy Nham...
B- Nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn
Có năm mươi sáu vị
1- Thiền sư Sư Bị ở Huyền Sa
2- Thiền sư Huệ Lăng ở Trường Khánh
3- Thiền sư Văn Yển ở Vân Môn
Khai Tổ tông Vân Môn…
✵✵✵
THIỀN SƯ HUYỀN NGỘ
hiệu QUANG HUỆ ở HÀ NGỌC
Ban đầu Sư ở Long Tuyền thượng đường dạy chúng:
- Hòa thượng Tuyết Phong vì người như chim đại bàng cánh vàng bắt rồng ăn.
Có vị tăng ra hỏi:
- Hòa thượng thì thế nào?
Sư bảo:
- Ở nơi nào đi đến?
- Thế nào ý Tổ sư từ Ấn sang?
- Sao chẳng lễ bái đợi chừng nào?
- Thế nào là mật truyền tâm?
Sư lặng thinh giây lâu. Tăng thưa:
- Thế ấy luống nhọc lắng tai.
Sư gọi thị giả bảo:
- Hãy thắp lửa lên.
Ngài kế thừa tông Tào Động, đầu tiên ngài ở Long Tuyền dạy rằng: Hòa thượng Tuyết Phong vì người như chim đại bàng cánh vàng bắt rồng ăn. Tăng thắc mắc thưa: Còn Hòa thượng thì thế nào? Ngài bảo: Ở nơi nào đi đến?
Tăng hỏi: Hòa thượng thì thế nào, tức muốn biết hành vi, giáo hóa của ngài như thế nào mà ngài lại hỏi ở nơi nào đi đến? Câu hỏi đó hợp lý không? Thật là hợp lý. Ta thế nào nếu ngươi ở chỗ ta thì biết liền, như thời khóa của tôi thế nào thì mấy chú ở đây đều biết. Nếu mấy chú hỏi tôi thời khóa thế nào, tức là mấy chú ở đâu đến. Ở trong đó mà không biết tức là không phải ở trong đó, nên nói ở nơi nào đi đến?
Hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang? Câu này là câu không trả lời, ngài nói: Sao chẳng lễ bái đợi chừng nào? Đó là trả lời khéo.
Tăng hỏi: Thế nào là mật truyền tâm ấn? Ngài im lặng, im lặng có mật truyền chưa? Tăng không hiểu nên nói: Thế ấy luống nhọc lắng tai. Như vậy là nhọc công tôi lắng tai nghe mà không được câu nào. Ngài gọi thị giả bảo: Hãy thắp lửa lên.
Tăng hỏi:
- Cổ nhân nói: “Nếu nhớ một câu luận, một kiếp làm dã hồ tinh”, chẳng biết ý cổ nhân thế nào?
Sư bảo:
- Nhà tăng Long Tuyền chưa từng khóa.
- Hòa thượng thế nào?
- Gió thổi bên tai.
Tăng dẫn câu cổ nhân nói: Nếu nhớ một câu luận, một kiếp làm dã hồ tinh. Câu đó khiến chúng ta nghi: nếu nhớ câu thế tục hoặc những câu không đúng đạo lý thì làm dã hồ tinh là phải, nhớ kinh nhớ luận tại sao thành dã hồ tinh? Đó là người xưa răn chúng ta chỉ học để thuộc để nhớ mà không lo tu, nay đến chỗ này công kích, mai đến chỗ kia khoe khoang, học Phật với tâm như thế thì thành dã hồ tinh. Nếu đem chỗ nhớ kinh điển của mình rồi công kích người này người kia, như thế gây thêm tội lỗi, không có lợi gì cả.
Tăng hỏi: Chẳng biết ý cổ nhân thế nào? Ngài đáp: Nhà tăng Long Tuyền chưa từng khóa, ở đây ngài không cấm việc đó.
Hỏi: Hòa thượng thế nào? Riêng Hòa thượng thì sao? Ngài đáp: Gió thổi bên tai. Ngài vẫn nghe kinh luận, nhưng nghe để tu chứ không nhớ không giữ, nên nói như gió thổi bên tai.
Tăng hỏi:
- Thế nào là một câu trước tiếng?
Sư đáp:
- In tuồng chẳng nói.
- Cổ nhân nói: “Như một hạt tuyết trên lò lửa”, ý chỉ thế nào?
Sư bảo:
- Khéo tiếc giữ lông mày.
- Chỉ dạy thế nào liền chẳng lầm trong thời gian?
- Không thể trên tuyết lại thêm sương.
- Thế ấy là toàn nhân nơi Hòa thượng?
- Nhân cái gì?
Tăng hỏi: Thế nào là một câu trước tiếng? Trước tiếng có câu không? Ngài đáp: In tuồng chẳng nói, trước tiếng tức là chưa mở miệng nói.
Tăng hỏi: Cổ nhân nói: “Như một hạt tuyết trên lò lửa”, ý chỉ thế nào? Chư Tổ thường nói mạng sống chúng ta như một hạt tuyết trên lò lửa, vừa rơi xuống liền khô. Thân huyễn này đối với thể chân thật của mình không có nghĩa lý, không thấm vào đâu. Vì thế dẫn lời cổ nhân nhắc cho thấy thể chân thật rộng lớn thênh thang, huyễn thân hiện hữu chẳng khác nào hạt tuyết rơi trên lò lửa. Đó là phương tiện dạy chúng ta biết thân này tạm bợ.
Ngài trả lời: Khéo tiếc giữ lông mày. Khi các thiền sư muốn dùng phương tiện chỉ dạy, thường nói “Lão tăng không tiếc mấy sợi lông mày”, lông mày tức là phương tiện. Tại sao? Mắt là cứu cánh, lông mày chỉ che bụi ngừa mồ hôi là phương tiện phụ, không phải cứu cánh.
Tăng hỏi: Chỉ dạy thế nào liền chẳng lầm trong thời gian? Ngài đáp: Không thể trên tuyết lại thêm sương. Đây tạm ví dụ như những trận mưa đá và những hạt sương buổi sáng. Hai cái đó tuy khác nhưng tạm bợ như nhau. Tuyết rơi xuống rồi tan, sương không thành khối, rơi xuống cũng tan. Ý nói thời gian cũng như vậy, tạm bợ không thật. Người tu chân chính thấy thời gian không thật, đã không thật mà muốn đừng lầm đừng kẹt trong thời gian, đúng hay sai? Vì vậy ngài nói: Không thể trên tuyết lại thêm sương.
Tăng hỏi thêm: Thế ấy là toàn nhân nơi Hòa thượng? Như vậy cái gì cũng nhân nơi Hòa thượng. Ngài đáp: Nhân cái gì?
Có khi Sư đưa gậy lên chỉ chúng:
- Từ trước vẫn lưu lại một đường phương tiện này để tiếp người.
Vị tăng ra hỏi:
- Hòa thượng lại đứng đầu đường vậy.
Sư bảo:
- Tạ nhau xong.
Đường phương tiện này là cây gậy hay là gì? Có vị tăng hỏi ngài Càn Phong: Kinh Lăng-nghiêm nói, Thập phương Bạc-già-phạm nhất lộ Niết-bàn môn, mười phương chư Phật có một con đường vào cửa Niết-bàn. Bạch Hòa thượng! Đầu đường ở chỗ nào? Ngài Càn Phong cầm cây gậy vạch một đường nói: Đầu đường ở đây. Đầu đường ở chỗ cây gậy đưa lên hoặc phất tử đưa lên. Đó là phương tiện, nên ngài Huyền Ngộ nói, lưu lại một phương tiện. Tăng ra hỏi: Hòa thượng lại đứng đầu đường vậy. Nếu lưu lại phương tiện tức là ngài đứng đầu đường chỉ.
Tăng hỏi:
- Thế nào là Văn-thù?
Sư đáp:
- Không có mặt trăng thứ hai.
- Việc hiện giờ thế nào?
- Chính là mặt trăng thứ hai.
Hỏi: Thế nào là Văn-thù? Ngài đáp: Không có mặt trăng thứ hai. Văn-thù là căn bản trí, nên nói không có mặt trăng thứ hai. Kinh Lăng-nghiêm nói, tánh thấy tánh nghe là mặt trăng thứ hai kề cận bên mặt trăng thật, nó không phải là bóng mặt trăng. Căn bản trí là mặt trăng thật, vì ấn mắt nên thấy có mặt trăng lòe ra, gọi là mặt trăng thứ hai. Từ căn bản trí khởi diệu dụng thấy nghe... nên nói không phải là mặt trăng thứ hai. Tăng hỏi: Việc hiện giờ thế nào? Hiện giờ mắt thấy tai nghe thế nào? Ngài đáp: Chính là mặt trăng thứ hai.
Tăng hỏi:
- Thế nào là lời Như Lai?
Sư đáp:
- Gió mạnh có dây trói.
- Thế nào là diệu minh chân tánh?
- Rộng rãi chớ bóp hẹp.
Tại sao hỏi lời của Như Lai mà ngài đáp: Gió mạnh có dây trói? Có dính dáng gì không? Những lời Phật dạy là phương tiện nhắc nhở chúng ta thức tỉnh tu hành, lời của ngài không phải là cứu cánh. Đa số chúng ta lại cho lời đó là cứu cánh, nên ngài nói: Gió mạnh có dây trói. Gió mạnh là chỉ cho những lời Phật dạy tôn quý như gió mạnh. Nhưng bởi tôn quý quá nên chúng ta tự cột trói mình trong đó, không chịu ứng dụng. Điều này thấy quá rõ, ngày nào cũng tụng lời Phật, tụng rồi xá lui xuống, cho là tôi tu rồi. Như vậy cứ làm hoài suốt đời, chừng nào thành Phật? Tụng lời Phật có thành Phật được không? Đó là chỗ thiết yếu để thấy việc tu của mình không đi đến cứu cánh vì còn bị trói.
Tăng hỏi: Thế nào là diệu minh chân tánh? Đây là danh từ trong kinh Lăng-nghiêm, diệu minh chân tánh là thể tánh nhiệm mầu sáng suốt trùm khắp. Ngài đáp: Rộng rãi chớ bóp hẹp. Thể tánh ấy vốn rộng rãi, nhưng nếu ông chấp trên ngôn ngữ, đó là bóp hẹp nó rồi.
Sư thượng đường giây lâu. Có vị tăng bước ra hỏi:
- Vì chúng kiệt lực, họa ra cửa tư, chưa biết tha lỗi, chẳng tha lỗi?
Sư vẫn lặng thinh.
Tại sao nói Vì chúng kiệt lực họa ra cửa tư? Tư tức là riêng, nghĩa là mình đem hết sức vì chúng thì cái họa riêng mình mang lấy. Tại sao? Ngài Huệ Tư nói, nếu không vì chúng giáo hóa thì ta đã chứng được Kim địa, nhưng vì lo cho chúng mà ta xuống Ngân địa. Như vậy có phải họa ra cửa tư không? Đây cũng vậy, nếu vì chúng mà dùng tất cả phương tiện để chỉ bày chỗ chân thật, tự mình đã hạ thấp, là lỗi của mình.
Tăng hỏi tiếp: Chưa biết tha lỗi, chẳng tha lỗi? Ngài im lặng.
✵✵✵
THIỀN SƯ TÙNG CHÍ
hiệu HUYỀN MINH ở KIM PHONG
Thượng tọa Tiến hỏi:
- Thế nào là chánh chủ Kim Phong?
Sư đáp:
- Đây cách trấn huyện chẳng xa, Xà-lê chớ vội vàng.
- Sao chẳng nói?
- Miệng như bàn đá.
- Ngàn phong muôn phong, thế nào là Kim Phong?
Sư bèn vỗ trán rồi thôi.
Thiền sư Tùng Chí, hiệu Huyền Minh ở Kim Phong.
Thượng tọa Tiến hỏi: Thế nào là chánh chủ Kim Phong? Nếu tôi là thiền sư, có người đến gặp tôi hỏi: “Thế nào là chủ thiền viện Thường Chiếu?” Đó là câu hỏi thẳng tìm chủ.
Ngài đáp: Đây cách trấn huyện chẳng xa, Xà-lê chớ vội vã. Chỗ đó không ngôn ngữ, không tên mà hỏi có tên là vội vàng. Tăng nói: Sao chẳng nói? Ngài nói: Miệng như bàn đá. Chỗ đó không mở miệng được làm sao nói.
Tăng hỏi thêm: Ngàn phong muôn phong, thế nào là Kim Phong? Ngài bèn vỗ trán, Kim Phong ở chỗ đó.
Sư đưa chiếc gối chỉ Tăng bảo:
- Tất cả người gọi là chiếc gối, Kim Phong nói chẳng phải.
Tăng thưa:
- Chẳng biết Hòa thượng gọi là gì?
Sư cầm chiếc gối đưa lên. Tăng thưa:
- Như thế thì y đó mà hành?
Sư hỏi:
- Ngươi kêu là gì?
- Chiếc gối.
- Rơi trong hang Kim Phong.
Ngài đưa chiếc gối nói, người ta gọi là chiếc gối, nhưng ngài nói không phải. Tăng hỏi: Nếu không phải chiếc gối, Hòa thượng gọi nó là gì? Ngài đưa chiếc gối lên không nói tên, đó là đưa lên để chỉ. Tăng nói: Như vậy y đó mà hành được rồi. Ngài dè dặt không biết ông tăng này hiểu chưa, nên hỏi lại: Ngươi kêu là gì? Tăng nói: Chiếc gối. Như vậy biết ông không y đó mà hành, nên nói: Rơi trong hang Kim Phong.
Tăng hỏi:
- Thân này vô tri như cây đất ngói đá, ý này thế nào?
Sư bước xuống giường thiền lại nắm lỗ tai vị tăng ấy vặn. Tăng đau quá la lên. Sư bảo:
- Ngày nay mới nắm được cái vô tri.
Tăng lễ bái đi ra. Sư gọi:
- Xà-lê!
Tăng xoay đầu lại. Sư bảo:
- Nếu vào nhà tăng không được nói lại. Tăng hỏi:
- Vì sao?
Sư bảo:
- Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà.
Đây là chỗ đặc biệt của ngài. Tăng vụng về cho rằng, thân này vô tri như cây đất ngói đá, còn có một cái riêng, là thế nào? Đó là tách rời hai bên, tâm và vật, thân này là vật còn bên kia là tâm.
Câu hỏi đã sai lầm nên ngài không đáp, chỉ cần nắm lỗ tai vặn mạnh, Tăng đau quá la lên. Ngài nói: Bắt được cái vô tri. Vô tri sao biết la? Để thấy chỗ lầm của Tăng, không có tâm ngoài thân, nói thân này vô tri như cây đá là sai lầm. Ngài chỉ cần vặn lỗ tai một cái biết đau liền la lên. Như vậy bắt được vô tri hay bắt được hữu tri?
Khi đó Tăng lễ bái, tưởng hiểu được chỗ ngài dạy, nhưng thật ra chưa hiểu. Ngài muốn đem hết lòng từ bi mà giúp, nên liền gọi: Xà-lê! Tăng xoay đầu lại mà không biết gì. Ngài nói: Nếu vào nhà tăng không được nói lại. Nghe câu đó thì phải biết mà lễ bái ngài rồi đi, Tăng còn thắc mắc tại sao không cho nói lại. Ngài nói: Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà, cười tôi vì ông quá mức.
Sư thượng đường:
- Sự còn giấu kín hộp, lý nên tên nhọn chống. Có người nói được chăng? Nếu có người nói được, Kim Phong sẽ chia nửa viện cho ở.
Có vị tăng bước ra làm lễ. Sư bảo:
- Gặp nhau dễ được tốt, ở chung khó vì người.
Sư bèn xuống tòa.
Đoạn này ngài nói: Sự còn giấu kín hộp, lý nên tên nhọn chống. Sự còn giấu kín, là việc này mọi người đều sẵn đủ mà không thấy, giống như ở trong hộp đậy nắp. Muốn việc ấy hiển lộ thì dùng mũi tên nhọn khơi ra. Mũi tên nhọn là trí tuệ, muốn thấy được nó thì phải có trí tuệ mới nhận ra.
Ngài nói, nếu có người nói được sẽ chia nửa viện cho. Khi đó có vị tăng bước ra lễ bái, tức là tỏ ra nói được. Ngài liền bảo: Gặp nhau dễ được tốt, ở chung khó vì người.
Câu này tương tợ câu châm ngôn của Trung Hoa “Trường đồ tri mã lực, sự cửu kiến nhân tâm”, đường dài biết sức ngựa, ở lâu biết lòng người. Gặp nhau qua loa thì ai cũng tốt, huynh nào cũng dễ thương, ở chung năm bảy năm chừng đó mới thấy cái dễ ghét bày ra. Vì thế ngài nói ở lâu mà được tốt đẹp là việc rất khó, gặp đôi ba ngày tốt đẹp dễ. Mượn một câu châm ngôn để nói với vị tăng rằng, ông nghe rồi tạm hiểu, tưởng như vậy là dễ, nhưng đi sâu vô mới thấy chuyện đó chưa chắc ông đã hiểu.
Sư hỏi Tăng:
- Ra đi từ đâu?
Tăng thưa:
- Từ Triệu Châu.
Sư hỏi:
- Triệu Châu nối pháp ai?
Tăng thưa:
- Nam Tuyền.
Sư bảo:
- Ông đâu phải từ Triệu Châu đi?
Tăng thưa:
- Chẳng biết tôn ý Hòa thượng thế nào?
Sư bảo:
- Triệu Châu thật nối pháp Nam Tuyền.
Đến chiều giờ thưa thỉnh, Tăng thưa:
- Sáng này nhờ ơn Hòa thượng từ bi mà con chưa hội, thỉnh Hòa thượng chỉ dạy.
Sư bảo:
- Nếu đến chỗ khác, chớ nói câu sau của Kim Phong.
Tăng hỏi:
- Vì sao thế?
Sư bảo:
- E làm nhục Triệu Châu.
Đoạn này nghe rất lạ. Khi hỏi Triệu Châu nối pháp ai? Chúng ta đều biết ngài nối pháp Nam Tuyền. Tại sao ngài Kim Phong bảo: Ông đâu phải từ Triệu Châu đi. Tăng hỏi: Chẳng biết tôn ý Hòa thượng thế nào? Ngài lặp lại: Triệu Châu thật nối pháp Nam Tuyền.
Tại sao Tăng đáp trúng mà ngài lại chê? Tất cả thiền sư khi thầy trò kế thừa nhau, chỉ là trên hình thức sự tướng, còn trong chỗ chân thật không ai trao cho ai được. Như ngài Tuyết Phong, Tăng hỏi: “Ngài ở Đức Sơn nhận được gì?”, ngài trả lời: “Ta đi tay không, về tay không.” Không có gì để trao và nhận, nếu có thì đó chỉ là hình thức bên ngoài.
Trên chỗ đất thật không ai trao cho ai, có gì gọi là kế thừa, có gì gọi là nối pháp? Nhưng trên sự tướng cũng không thể nói không. Vì thế, ban đầu ngài hỏi chỗ thật, Tăng không biết, trả lời về sự tướng, ngài chê. Khi Tăng hỏi lại thì ngài nói theo sự tướng: Triệu Châu thật nối pháp Nam Tuyền.
Đến chiều, Tăng thắc mắc, thưa hỏi lại: Sáng này nhờ ơn Hòa thượng từ bi mà con chưa hội, thỉnh Hòa thượng chỉ dạy. Ngài nói: Nếu đến chỗ khác, chớ nói câu sau của Kim Phong. Tăng hỏi: Vì sao thế? Ngài bảo: E làm nhục Triệu Châu. Nói Triệu Châu nối pháp Nam Tuyền là làm nhục Triệu Châu. Triệu Châu không có cái đó sao phải đợi thầy cho mới được gọi là kế thừa? Ý của ngài rõ ràng.
Tăng hỏi:
- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Sư đáp:
- Trước cửa Kim Phong không có tấm bảng năm dặm.
Gia phong của ngài là chỉ cho đạo lý trong tông môn hay là dòng phái của ngài thừa kế. Cái đó không có tướng mạo, không có danh tự. Đã không có thì làm sao có tấm bảng? Vì vậy ngài nói: Trước cửa Kim Phong không có tấm bảng năm dặm.
Về sau Sư trụ tại viện Báo Ân ở Kim Lăng và tịch tại đây.
Vua phong thụy là Viên Quảng thiền sư, tháp hiệu Quy Tịch.
✵✵✵
THIỀN SƯ XỬ CHƠN ở LỘC MÔN
Sư trụ trì tại viện Hoa Nghiêm ở núi Lộc Môn.
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Sư đáp:
- Có muối không giấm.
Tăng hỏi:
- Thế nào là đạo nhân?
Sư đáp:
- Có miệng giống hệt lỗ mũi.
Tăng hỏi:
- Chợt gặp khách đến, đem cái gì đối đáp?
Sư bảo:
- Cổng gỗ cửa lá cảm ơn ông đi qua.
Ba câu đối đáp của ngài Xử Chơn gọi là không động lưỡi. Hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa thượng? Ngài nói: Có muối không giấm. Hỏi: Thế nào là đạo nhân? Ngài đáp: Có miệng giống hệt lỗ mũi...
Tăng hỏi:
- Tổ Tổ tương truyền, truyền vật gì?
Sư bảo:
- Ca-sa kim lan.
Tăng hỏi:
- Thế nào là Bát-nhã trong rương?
Sư bảo:
- Trong điện Phật để sáu trăm quyển.
Tăng hỏi:
- Sau khi Hòa thượng trăm tuổi sẽ đi về đâu?
Sư đáp:
- Làm con trâu nhà họ Lý ở dưới núi.
Tăng thưa:
- Cho con cùng đi theo được chăng?
Sư bảo:
- Nếu ông đi theo chớ giống đầu mọc sừng.
Tăng đáp: - Dạ!
Sư hỏi:
- Nên đến chỗ nào?
Tăng thưa:
- Con mắt Phật biện còn chẳng được.
Sư bảo:
- Nếu chẳng bỏ qua cũng là mờ mờ.
Tăng muốn biết cội nguồn thật thể mà chư Phật chư Tổ truyền nhau, nên hỏi: Tổ Tổ tương truyền, truyền vật gì?
Truyền thuyết nói rằng tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa gặp tổ Huệ Khả, thầy trò cảm thông nhau, ngài truyền tâm ấn rồi sau truyền y bát để làm biểu tín. Biểu tín là vật bên ngoài để mọi người tin rằng giữa tổ Đạt-ma là người Ấn và Huệ Khả là người Hoa có sự cảm thông nhau, có y kim lan và chiếc bát làm bằng chứng. Y bát ấy không có giá trị tâm ấn, chỉ có giá trị chứng minh rằng người đó được truyền thật, có bằng cứ.
Hỏi: Thế nào là Bát-nhã trong rương? Đây không phải hỏi kinh Bát-nhã để trong rương, mà hỏi về trí tuệ Bát-nhã còn phủ kín chưa hiển lộ. Ngài lại trả lời: Trong điện Phật để sáu trăm quyển, kinh Đại Bát-nhã sáu trăm quyển đang để trong điện Phật. Như vậy người hỏi nhắm lý sâu, ngài đáp sự tướng bên ngoài.
Ngài Tào Sơn nói có ba thứ đọa, nên câu đáp của ngài: Làm con trâu nhà họ Lý ở dưới núi, là “loại đọa”, đi trong dị loại. Tăng hỏi: Cho con cùng đi theo được chăng? Ngài bảo, nếu muốn đi theo ngài thì chớ giống đầu mọc sừng. Sao vậy? Làm trâu không cho mọc sừng làm sao thành trâu. Chỗ “loại đọa” này là chỉ cho người đi trong lục đạo mà không nhiễm không dính mắc. Làm trâu không có sừng, là trâu mà không phải trâu. Đó là ý nghĩa nếu ông đi trong lục đạo mà không nhiễm thì đi theo ta, nếu nhiễm thì đừng theo.
Tăng “Dạ”, tỏ rằng mình hiểu. Ngài hỏi: Nên đến chỗ nào? Đến chỗ nào để gặp nhau. Tăng thưa: Chỗ đó con mắt Phật biện còn chẳng được. Vị tăng này thật thông minh thấy rõ, nhưng ngài còn dè dặt, nói một câu: Nếu chẳng bỏ qua cũng là mờ mờ. Nếu ông thấy vậy mà còn chấp chặt thì e cũng mờ mờ.
Tăng hỏi:
- Thế nào là thiền?
Sư đáp:
- Loan phượng vào lồng gà.
Tăng hỏi:
- Thế nào là đạo?
Sư đáp:
- Tơ sen cột voi lớn.
Tăng hỏi:
- Khi kiếp hoại cái này có hoại chăng?
Sư đáp:
- Bên đồi dòm mắt cọp, khắp nơi một trường sầu.
Tăng hỏi:
- Thế nào là chỗ Hòa thượng chuyển thân?
Sư đáp:
- Canh ba đêm qua rơi mất chiếc gối.
Tất cả lối đáp của ngài đều không cho suy nghĩ, không có chỗ để tâm tư duyên theo. Tăng hỏi: Thế nào là đạo? Ngài nói: Tơ sen cột voi lớn. Tơ sen là sợi tơ kéo ra từ cọng sen, dùng chỉ đó cột con trùng còn không được, làm sao cột voi lớn? Đó là lối nói không cho suy nghĩ.
Tăng hỏi: Thế nào là chỗ Hòa thượng chuyển thân? Người tu là chuyển phàm thành thánh, hỏi chỗ Hòa thượng chuyển thân là hỏi chỗ xoay phàm thành thánh của ngài. Ngài liền đổi qua hình thức rất tầm thường, nói: Canh ba đêm qua rơi mất chiếc gối. Hôm qua giữa đêm, tôi ngủ lăn mình rớt chiếc gối xuống sàn. Lăn mình tức là xoay chuyển thân. Ngài dùng lời nói bình dị để trả lời câu hỏi có ý cao sâu.
Sư có làm bài kệ dạy chúng:
Nhất phiến ngưng nhiên quang xán lạn
Nghĩ ý truy tầm tốt nan kiến
Bỉnh nhiên trịch trước khoát nhân tình
Đại sự phân minh giai tổng biện.
Thị khoái hoạt, vô hệ bạn
Vạn lượng hoàng kim chung bất hoán
Nhậm tha thiên thánh xuất đầu lai
Tùng thị hướng cừ ảnh trung hiện.
Dịch:
Một mảnh lóng trong sáng khắp trời
Để lòng tìm kiếm cách xa vời
Rõ ràng ném hết nhân tình rỗng
Việc lớn phân minh thảy biện rồi.
Thật là vui sống, không buộc ràng
Muôn lượng vàng ròng đổi chẳng màng
Mặc tình ngàn thánh hiện ra đời
Từ ấy theo y trong bóng vàng.
Bài kệ này, hai câu đầu ngài chỉ cho chúng ta thấy thể chân thật sẵn có trong sáng trùm khắp. Nếu khởi tâm tìm kiếm thì càng cách xa.
Hai câu tiếp theo, ý nói muốn được gần nó thì phải sao? Ném hết tất cả nhân tình được rỗng rang, chỗ khác gọi là vô sự. Lúc đó việc lớn rõ ràng hiện trước mắt.
Hai câu năm và sáu nói, khi nhận được tâm mình rõ ràng, thênh thang trùm khắp thì liền sống vui vẻ không gì ràng buộc. Nhận được của báu nhà mình, dù đem bao nhiêu vàng ròng đánh đổi, mình cũng không cần, không màng đến.
Hai câu cuối cùng nói, có Phật hiện ra đời, mình cũng vẫn sống trong bóng của y. Bóng của y tức là thể chân thật, chúng ta cứ nương theo đó mà sống, không tìm Phật, không cầu Thánh ở ngoài.
✵✵✵
THIỀN SƯ HUỆ NGUNG
hiệu BẢO ỨNG ở NAM VIỆN
Sư trụ trì Nam Viện của thiền viện Bảo Ứng ở Nhữ Châu, nên gọi là Nam Viện Huệ Ngung, cũng gọi là hòa thượng Bảo Ứng.
Sư thượng đường dạy chúng:
- Trên cục thịt đỏ vách đứng ngàn nhẫn.
Có vị tăng hỏi:
- Trên cục thịt đỏ vách đứng ngàn nhẫn, đâu chẳng phải lời của Hòa thượng?
Sư đáp:
- Phải.
Vị tăng ấy liền giở giường thiền. Sư bảo:
- Con lừa mù này.
Liền đánh.
Thiền sư Huệ Ngung hiệu Bảo Ứng ở Nam Viện là đệ tử thuộc tông Lâm Tế. Tổ Lâm Tế nói, trên cục thịt đỏ có vô vị chân nhân, ngài Huệ Ngung nói: Cục thịt đỏ trên vách đứng ngàn nhẫn, cục thịt đỏ cao vót không thể với tới được. Tăng hỏi, câu đó phải là lời Hòa thượng không? Ngài nói: Phải. Tăng liền giở giường thiền. Ngài đánh, nói: Con lừa mù này.
Sư hỏi vị tăng mới đến:
- Vừa rời nơi nào đến?
Tăng thưa:
- Vừa rời Trường Thủy.
Sư bảo:
- Đi dòng đông hay dòng tây?
Tăng thưa:
- Thảy không thế ấy.
Sư hỏi:
- Làm sao?
Tăng trân trọng. Sư liền đánh, đuổi xuống pháp đường.
Vị tăng này tương đối khéo. Ngài hỏi vừa rời chỗ nào, Tăng thưa: Vừa rời Trường Thủy. Trường Thủy là tên địa phương, cũng có nghĩa là sông dài. Ngài hỏi: Đi dòng đông hay dòng tây? Đưa ra hai dòng để thử xem vị tăng này thoát được không? Tăng lanh lẹ nói: Thảy không thế ấy, không đi dòng đông dòng tây.
Ngài hỏi: Làm sao? Nếu không đi dòng đông hay dòng tây làm sao tới đây? Tăng trân trọng kính chào. Ngài đánh, đuổi xuống pháp đường, tức chấp nhận.
Sư hỏi Tăng:
- Vừa rời nơi nào đến?
Tăng thưa:
- Vừa rời Tương Châu.
Sư hỏi:
- Đến làm gì?
Tăng thưa:
- Riêng đến lễ bái Hòa thượng.
Sư bảo:
- Dường như lão Bảo Ứng chẳng ở đây.
Tăng liền hét! Sư bảo:
- Đã nói với ông chẳng có ở đây, lại hét làm gì?
Tăng lại hét! Sư liền đánh. Tăng lễ bái. Sư bảo:
- Gậy này bổn phận ngươi đánh ta, mà ta lại đánh ngươi, ba gậy năm gậy cốt lời này.
Ngài vừa cùng Tăng đối đáp mà nói dường như không có ở đây, Tăng làm sao? Tăng hét thì ngài đánh. Tăng lễ bái, ngài nói lẽ ra gậy đó ông đánh ta, nhưng ta lại đánh ông.
Trong nhà thiền, nếu người đối diện không nhận chính mình, muốn người đó hiển lộ thì đập một gậy thử xem có mặt hay không. Tăng không dám đập chỉ hét thôi, hét thì ngài đánh. Đó là lẽ ra ông đánh ta, nhưng ông không đánh ta thì ta đánh ông.
Hòa thượng Tư Minh khi chưa trụ Tây Viện đến tham vấn Sư, lễ bái xong, nói:
- Không có vật gì tốt khác, từ Hứa Châu mua được dao cạo Giang Tây đến hiến Hòa thượng.
Sư hỏi:
- Ông từ Hứa Châu đến, nơi nào mua được dao cạo Giang Tây?
Tư Minh nắm tay Sư, bấm một cái. Sư bảo:
- Thị giả nhận lấy.
Tư Minh phủi áo ra đi. Sư nói:
- A la la!...
Hai vị đều là hàng tác gia. Người kia đến thăm người này, nói rằng tôi ở Hứa Châu đến, không có gì tặng huynh, mua được dao cạo ở Giang Tây tặng huynh. Giang Tây là chỗ của Mã Tổ.
Ngài hỏi, ông từ Hứa Châu đến, mua được dao cạo Giang Tây ở chỗ nào? Ngài Tư Minh liền nắm tay bấm một cái, dao cạo Giang Tây của tôi là đây. Ngài Huệ Ngung kêu thị giả nhận lấy. Nếu lúc đó mấy chú làm thị giả thì làm sao nhận? Ông kia phủi áo đi, ngài cười: A la la!
Sư thượng đường nói:
- Các nơi chỉ đủ con mắt thốt trác đồng thời, mà chẳng đủ dụng thốt trác đồng thời.
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là dụng thốt trác đồng thời?
Sư đáp:
- Tác gia thấy nhau chẳng thốt trác thì thốt trác đồng thời mất.
Tăng thưa:
- Đây vẫn chưa phải chỗ con hỏi.
Sư hỏi:
- Chỗ ngươi hỏi thế nào?
Tăng thưa:
- Mất.
Sư liền đánh. Vị tăng ấy chẳng chấp nhận.
Sau vị tăng ấy ở trong hội Vân Môn nghe hai vị tăng nhắc lại nhân duyên này. Một vị tăng nói: “Đương thời gậy Nam Viện gãy.” Ông nghe lời nói này hốt nhiên đại ngộ, mới thấy chỗ đáp của Nam Viện. Ông bèn trở về Nhữ Châu yết kiến Sư, Sư đã quy tịch. Ông đến thưa hỏi Phong Huyệt. Phong Huyệt nhận ra liền hỏi:
- Thượng tọa khi xưa hỏi Tiên sư câu thốt trác đồng thời đây chăng?
Tăng thưa:
- Phải.
Phong Huyệt hỏi:
- Hội chưa?
Tăng đáp:
- Hội.
Phong Huyệt hỏi:
- Ông khi ấy hội thế nào?
Tăng nói:
- Tôi khi ấy in tuồng đi trong bóng đèn.
Phong Huyệt nói:
- Ông hội.
Thốt trác là gà con ở trong vỏ trứng, đủ lông đủ cánh kêu chíp chíp, gà mẹ liền mổ vỏ cho con chui ra, gọi là thốt trác đồng thời. Ngài nói, các nơi đủ con mắt thốt trác đồng thời, mà không đủ dụng thốt trác đồng thời.
Tăng hỏi: Thế nào là dụng thốt trác đồng thời? Ngài nói: Hàng tác gia thấy nhau chẳng thốt trác thì thốt trác đồng thời mất. Khi hàng tác gia gặp nhau có sự cảm thông tương ứng, nếu không tương ứng thì mất dụng thốt trác đồng thời.
Tăng nói, đó chưa phải là chỗ con hỏi. Ngài hỏi: Chỗ ngươi hỏi thế nào? Tăng nói: Mất. Ngài liền đánh. Nói mất như thế, đánh là phải rồi, nhưng ông tăng không chấp nhận.
Sau vị tăng ấy ở trong hội Vân Môn nghe hai vị tăng nhắc lại nhân duyên này. Một vị tăng nói: Đương thời gậy Nam Viện gãy. Ông nghe lời nói này hốt nhiên đại ngộ. Chừng đó mới hiểu chỗ đáp của Nam Viện, bèn trở về Nhữ Châu yết kiến ngài. Ngài đã quy tịch, Tăng đến thưa hỏi Phong Huyệt. Phong Huyệt nhận ra liền hỏi: Thượng tọa khi xưa hỏi Tiên sư câu thốt trác đồng thời đây chăng? Tăng thưa: Phải. Phong Huyệt hỏi: Hội chưa? Đáp: Hội. Phong Huyệt hỏi: Ông khi ấy hội thế nào? Tăng nói: Tôi khi ấy in tuồng đi trong bóng đèn. Phong Huyệt nói: Ông hội. Cây đèn tỏa ánh sáng chiếu khắp, nhưng không chiếu đến được phía dưới chụp đèn nên để lại cái bóng cây đèn.
✵✵✵
THIỀN SƯ TOÀN PHÓ
hiệu THANH HÓA
(882 - 947)
Sư quê ở Côn Sơn quận Ngô, cha làm nghề mua bán. Sư theo cha đến Dự Chương nghe các thiền hội thạnh hành, liền xin xuất gia.
Sư đến Giang Hạ yết kiến đại sư Thanh Bình. Thanh Bình hỏi:
- Ngươi đến cầu cái gì?
Sư thưa:
- Cầu pháp.
Thanh Bình cho là lạ, chấp nhận vào chúng. Sư được thọ giới, thờ thầy rất thuần cẩn.
Một hôm Sư tự bảo: “Ông thầy học vô thường, há lại trói buộc ở đây ư?” Sư liền từ tạ thầy đi du phương.
Thiền sư Toàn Phó hiệu Thanh Hóa. Ngài được thọ giới, thờ thầy rất thuần cẩn. Một hôm tự bảo: Ông thầy học vô thường, há lại trói buộc ở đây ư? Tại sao gọi là thầy học vô thường? Chúng ta học giáo lý của Phật, bài pháp đầu tiên là Tứ đế, trước nhất nói về Khổ đế. Đó là học vô thường, đã là vô thường, không có gì bền chắc, đâu cần trói buộc một nơi. Vì thế ngài từ tạ xin đi du phương.
Đến Nghi Xuân, Sư yết kiến thiền sư Quang Dũng. Quang Dũng hỏi:
- Từ đâu đến?
Sư thưa:
- Từ Ngạc Châu đến.
Quang Dũng hỏi:
- Sứ quân Ngạc Châu tên gì?
Sư thưa:
- Ở đất Hóa chẳng dám xúc phạm.
Quang Dũng bảo:
- Ở đây chẳng sợ.
Sư thưa:
- Đại trượng phu đâu cần thử nhau.
Quang Dũng vui vẻ cười to.
Sư dừng lại đây và thâm ngộ tông chỉ, được Quang Dũng ấn khả.
Khi đến chỗ thiền sư Quang Dũng, ngài hỏi, ông ở đâu đến, nói: Từ Ngạc Châu đến. Quang Dũng hỏi: Sứ quân Ngạc Châu tên gì? Nói: Ở đất Hóa chẳng dám xúc phạm. Như chúng ta ở tỉnh Biên Hòa, về Cần Thơ học đạo. Đến đó, thầy hỏi: “Ở đâu đến?” Thưa: “Ở Biên Hòa xuống.” Hỏi: “Ông tỉnh trưởng Biên Hòa tên gì?” Trả lời tên Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B... Nhưng đây hỏi tên tỉnh trưởng, không phải hỏi thật, các ngài muốn mượn việc thế gian để nói việc kia. Hỏi ông tỉnh trưởng là hỏi ông chủ của mình.
Ngài nói: Ở đất Hóa không dám xúc phạm. Chỗ đó không thể nói tên. Ngài Quang Dũng nửa tin nửa ngờ, có thể ông tăng này thấy được lý thiền, cũng ngờ vì ở đất đó nên không dám nói. Ngài nói: Ở đây chẳng sợ, đây là tỉnh khác không sợ ai bắt lỗi.
Ngài Toàn Phó thưa: Đại trượng phu đâu cần thử nhau. Đại trượng phu biết nhau là đủ, đâu cần thử. Ngài Quang Dũng vui vẻ cười to. Đối đáp rất hay nên được ấn khả.
Sau, Sư dạo Lô Lăng, quan huyện An Phước lập thiền uyển Ứng Quốc thỉnh Sư trụ trì. Học chúng đua nhau đến tham vấn, ở đây trở thành thiền hội hưng thịnh. Nhà vua nghe tiếng ban cho Sư hiệu Thanh Hóa.
Tăng hỏi:
- Thế nào là chỗ Hòa thượng cấp thiết vì người?
Sư đáp:
- Sáng nhìn đông nam, chiều nhìn tây bắc.
- Chẳng hội.
- Luống khoe khách Đông Dương mà không biết vật báu Tây Dương.
- Thế nào là chánh pháp nhãn?
- Không thể ban ngày mà đái trên giường.
Không thể ban ngày mà đái trên giường, tức là không thể ban ngày mà đái dầm. Hỏi chỗ cấp thiết vì người, là chỗ tha thiết vì người, ngài nói: Sáng nhìn đông nam, chiều nhìn tây bắc. Tăng thưa: Chẳng hội. Như thế là khách Đông Dương mà không biết vật báu Tây Dương. Làm khách bên Đông không biết ngọc quý ở đây. Qua câu đó ngài đã chỉ chưa?
Tăng lại hỏi thêm: Thế nào là chánh pháp nhãn? Chánh pháp nhãn là con mắt chánh pháp, con mắt này ai cũng có, chỉ tự mình mở sáng cho mình. Chỗ này không có hình tướng, không có ngôn ngữ văn tự, mà hỏi thế nào, chẳng phải đái dầm ban ngày là gì?
Về sau, có vị tăng đồng hương khuyên Sư trở về cố hương. Văn Mục Vương đặc biệt quý trọng Sư. Nhà Hậu Tấn niên hiệu Thiên Phước năm thứ hai (937), Văn Mục Vương khai phá ngọn núi Vân Phong lập thiền viện cũng để Thanh Hóa, thỉnh Sư trụ trì. Nơi đây pháp lữ đông vầy.
Tăng hỏi:
- Hòa thượng được bao nhiêu tuổi?
Sư đáp:
- Mới thấy năm rồi chín tháng chín, hiện nay lại thấy lá thu vàng.
- Thế ấy tức là vô số?
- Hỏi lấy lá vàng.
- Cứu cánh việc thế nào?
- Sáu hột xí ngầu đầy bồn đỏ.
Hỏi tuổi, nếu trả lời bao nhiêu tuổi là còn chấp thân thật, thời gian thật. Các ngài thấy thân này không phải ta, còn một cái không hình tướng không tên tuổi. Ngài nói: Mới thấy năm rồi chín tháng chín, hiện nay lại thấy lá thu vàng. Các thiền sư thường đối đáp như vậy.
Vua Lý Thái Tông hỏi thiền sư Thiền Lão ở núi này bao lâu. Ngài đáp: “Chỉ biết ngày tháng này, ai rành xuân thu trước.”
Một thiền sư Nhật Bản với một Sư tu Tịnh độ. Thiền sư hỏi Tịnh sư: “Năm nay Thầy bao nhiêu tuổi?” Đáp: “Tuổi tôi bằng tuổi đức Di-đà.” Hỏi: “Đức Di-đà bao nhiêu tuổi?” Đáp: “Đức Di-đà bằng tuổi tôi.” Người chân thật hiểu nhau đối đáp trên lý thật, không chấp hình tướng.
Tăng nói: Thế ấy tức là vô số? Ngài bảo, hỏi lá vàng đáp cho. Hỏi: Cứu cánh việc thế nào? Ngài nói: Sáu hột xí ngầu đầy bồn đỏ. Hột xí ngầu hay hột súc sắc, người đánh bạc chơi ăn thua, gieo nhằm thì có sáu nút đỏ. Nói cho qua chuyện.
Tăng hỏi:
- Tăng chết sẽ đi đến đâu?
Sư đáp:
- Sông dài không gián đoạn, hòn bọt mặc gió trôi.
- Lại nhận thờ cúng chăng?
- Thờ cúng thì chẳng không.
- Thờ cúng thế nào?
- Lão chài giở chèo hát, trong hang nghe tiếng vang.
Người đạt đạo thấy thân này như hòn bọt, tâm thể chân thật như con sông dài. Sông dài chảy không gián đoạn, từ năm này sang năm khác chỉ một dòng chảy mãi, hòn bọt trên sông thì chợt hợp chợt tan. Thân này giống như hòn bọt, người đời không biết, chấp thân thật, chẳng khác nào chỉ biết hòn bọt không biết dòng sông.
Nếu thấy thân này như hòn bọt, khi tan rã có tiếc nuối, bịn rịn gì không? Kinh Lăng-nghiêm Phật dạy, thân này như hòn bọt trong biển cả, hợp tan không nghĩa lý gì. Chúng sanh mê chấp thân tạm bợ vô thường cho là thật, không nhận ra thể chân thật nơi mình. Vì thế, ngài trả lời khéo: Sông dài không gián đoạn, hòn bọt mặc gió trôi.
Hỏi: Lại nhận thờ cúng chăng? Ngài đáp, vẫn có thờ cúng. Hỏi: Thờ cúng thế nào? Đáp, ông chài đưa chèo hát, trong hang nghe tiếng vang. Như có một dòng sông chảy qua núi, khi ông chài giở chèo hát, trên núi có tiếng vọng lại, tiếng đó có thật không? Chỉ là âm thanh vang vọng. Biết thân như hòn bọt thì sự thờ cúng đều là ảnh hưởng tiếng tăm, như tiếng vang trong hang núi, không quan trọng.
Đến Trung Hiến Vương ban tử y phương bào cho Sư, Sư từ chối chẳng nhận. Sư nói:
- Tôi không thích dùng, sợ e người sau bắt chước tôi mà muốn như thế.
Niên hiệu Khai Vận năm thứ tư (947) tháng bảy năm Đinh Mùi, Sư có chút bệnh, ngồi an nhiên thị tịch, thọ 66 tuổi, 45 tuổi hạ.
✵✵✵
THIỀN SƯ HUỆ THANH
ở núi BA TIÊU
Sư người Tân La (Triều Tiên), năm hai mươi tám tuổi đến Ngưỡng Sơn yết kiến Nam Tháp Quang Dũng, nhân đây được ngộ đạo.
Sư trụ trì tại núi Ba Tiêu, đồ chúng đến tham vấn rất đông.
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là nước Ba Tiêu?
Sư đáp:
- Mùa đông ấm mùa hạ mát.
Tăng hỏi:
- Thế nào là kiếm thổi lông?
Sư tiến ba bước.
- Thế nào là Hòa thượng một câu vì người?
Sư đáp:
- Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.
Những đối đáp này rất khéo. Vì sao gọi ngài là Ba Tiêu? Ngài ở trên núi Ba Tiêu, Ba Tiêu là cây chuối. Như chúng ta đi Đà Lạt có qua đèo chuối, đồi núi trồng nhiều chuối. Chỗ ngài ở có thể rất nhiều chuối nên gọi là Ba Tiêu, trên núi có dòng suối chảy gọi là nước Ba Tiêu. Khi hỏi: Thế nào là nước Ba Tiêu? Thế nào là cảnh của ngài, ngài trả lời: Mùa đông ấm, mùa hạ mát. Hiểu được cái hay của câu nói mới thấm được ý vị của ngài. Mùa đông thì khí trời lạnh nhưng nước lại ấm, mùa hạ thì khí trời nóng nhưng nước lại mát. Thời tiết đông hạ đổi thay, nhưng nước Ba Tiêu không lệ thuộc vào thời tiết. Trời lạnh thì nước ấm, trời nóng thì nước mát. Thuộc về thời tiết thì vô thường, chỗ đó không thuộc thời tiết không bị vô thường chi phối.
Tăng hỏi: Thế nào là kiếm thổi lông? Kiếm thổi lông là cây kiếm bén, sợi lông thổi qua liền đứt, cũng có khi gọi là kiếm không mũi. Ngài chỉ tiến ba bước thôi, để chỉ cây kiếm đó. Tăng hỏi: Thế nào là Hòa thượng một câu vì người? Ngài nói: Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.
Sư thượng đường cầm gậy đưa lên bảo chúng:
- Các ông có cây gậy thì ta cho các ông cây gậy, các ông không có gậy thì ta cướp cây gậy các ông.
Sư chống gậy đứng, rồi bước xuống tòa.
Đây là câu nói nổi tiếng trong nhà thiền. Nghe qua dường như vô lý, đã có cây gậy còn cho cây gậy chi dư, không có cây gậy làm sao cướp?
Như có hai thiền sư nói chuyện, một vị hỏi, cõi này (Trung Hoa) có ý Tổ sư không? Vị khác đáp có. Hỏi, đã có ý Tổ sư thì tổ Đạt-ma qua làm gì? Đáp, vì có nên qua. Hiểu câu này thì hiểu câu của ngài Ba Tiêu. Người ngộ được cái đó thì ông thầy mới truyền tâm ấn, nên nói cho cây gậy; nếu không nhận được cái đó, như mất rồi, bị cướp cây gậy.
Tăng hỏi:
- Giặc đến cần đánh, khách đến cần xem, chợt gặp khách giặc đồng thời đến thì làm sao?
Sư bảo:
- Trong thất có một đôi giày cỏ rách.
- Chỉ như đôi giày cỏ rách lại kham thọ dụng chăng?
- Ông nếu đem đi, trước hung sau chẳng kiết.
Những câu này nghe như thần chú, nhưng hàm chứa lý đạo, các thiền sư nói khéo vô cùng. Thế nào là giặc, thế nào là khách? Giặc là vọng niệm xấu như tham sân si, khách là vọng niệm bình thường không quan trọng. Người tu thiền như người chăn trâu, nếu trâu đi bình thường thì đó là khách, nếu nó giẫm đạp lúa mạ thì đó là giặc, giặc thì phải đánh, khách thì thôi.
Vì thế nói: Khách đến cần xem, giặc đến cần đánh. Tăng đưa ra trường hợp giặc và khách đồng thời đến thì phải làm sao? Câu trả lời nghe như không có đạo lý tu hành gì, nhưng đó là cả một công phu tu tập. Trong thất có một đôi giày cỏ rách. Giày cỏ rách là đồ vô dụng, đồ bỏ đi, ngay đó đừng nhìn, đừng nhớ tới nó là được. Nếu giặc khách đồng thời đến thì coi như đồ bỏ không màng, vậy thôi. Rất hay, đầy đạo lý.
Vị tăng này hiểu, nên hỏi: Chỉ như đôi giày cỏ rách lại kham thọ dụng chăng? Chỗ không màng đó nên thọ dụng chăng? Ngài đáp: Ông nếu đem đi, trước hung sau chẳng kiết. Đã là cái không màng còn dùng vào chỗ nào?
Tăng hỏi:
- Quang, cảnh đều quên lại là vật gì?
Sư đáp:
- Tri.
- Tri cái gì?
- Kiến Châu Cửu Lang.
Người học thiền nghe những câu này như chuyện trên trời trên mây. Đây là chỗ dụng công, nhưng nói như không có tu gì cả. Quang là ánh sáng, chỉ cho tâm, cảnh là chỉ cho vật. Hỏi, khi tâm vật đều quên là vật gì? Ngài đáp: Tri. Lúc đó chỉ còn cái biết. Rất rõ. Chúng ta mắc kẹt hai bên, trong là tâm ngoài là vật, vì thế trong chấp tâm ngoài chấp cảnh, có ngã có pháp. Tâm vật đều quên là ngã pháp đều buông hết. Khi buông hết thì còn gì? Lúc đó chỉ còn cái biết, không nói thêm gì nữa. Đã còn cái biết mà Tăng lại hỏi: Tri cái gì? Ngài bèn nói: Kiến Châu Cửu Lang. Nói cho qua thôi, vì ông tăng dốt quá.
Tăng hỏi:
- Chẳng hỏi hai đầu ba cổ, thỉnh Thầy chỉ thẳng bản lai diện mục?
Sư ngồi thẳng lặng thinh.
Bản lai diện mục là chỗ không nói không bày, nên ngài ngồi im lặng.
Những câu đối đáp của ngài Ba Tiêu rất lý thú, nhưng cũng rất khó hiểu, nghe bể đầu bể óc.