Chánh văn:
Mở đầu pháp hội, ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị thượng thủ bạch chùy v.v... rồi ngài nói:
- Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?
Ngồi giây lâu, ngài ngâm:
Âm:
Thân như hô hấp tỹ trung khí,
Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân.
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất thị tầm thường không quá xuân.
Dịch:
Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Cuốc kêu từng chặp trăng ngời sáng,
Đâu phải tầm thường qua một xuân.
Ngài vỗ bàn một cái, nói:
- Không có gì sao? Ra đây, ra đây!
***
Có vị tăng hỏi: - Thế nào là Phật?
Ngài đáp: - Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
- Thế nào là pháp?
- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
- Thế nào là tăng?
- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
- Cứu cánh thế nào?
Đáp:
Chữ bát đã bày trao hết sạch,
Đâu còn có việc nói cùng ngươi.
Lại hỏi: - Thế nào là một việc hướng thượng?
Ngài đáp: - Đầu gậy khêu nhật nguyệt.
- Dùng công án cũ làm gì?
- Một lần nhắc lại một lần mới.
- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?
- Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.
- Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?
- Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.
- Vẫn là nhảy chẳng khỏi.
Ngài bèn lớn tiếng nạt: - Kẻ mù! Thấy cái gì?
- Đại tôn đức lừa người làm gì?
Ngài liền “hừ, hừ”.
Vị tăng suy nghĩ. Ngài liền đánh.
Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi. Ngài liền hét. Vị tăng cũng hét. Ngài hỏi:
- Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau! Nói mau!
Vị tăng suy nghĩ. Ngài lại hét một tiếng, nói:
- Con chồn hoang quỷ quái! Vừa rồi tinh lanh, giờ ở chỗ nào?
Vị tăng lễ bái lui ra.
***
Tăng hỏi:
- Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, ngài đã được mấy thông?
Ngài đáp: - Cũng được sáu thông.
- Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông?
- Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.
Vị tăng liền đưa nắm tay lên nói:
- Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì?
Ngài đáp: - Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.
- Xưa có vị tăng hỏi hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Ý chỉ thế nào?
- Thật giống thuyền chài ra biển.
- Ý này thế nào?
Ngài đáp:
Ai biết khói sóng xa,
Riêng có chỗ suy nghĩ.
***
Hỏi: - Thế nào là gia phong Phật quá khứ?
Đáp:
Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc,
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.
Hỏi: - Thế nào là gia phong Phật hiện tại?
Đáp:
Gia phong sóng bạc lầm én sớm
Đào thắm vườn tiên say gió xuân.
Hỏi: - Thế nào là gia phong Phật vị lai?
Đáp:
Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.
Hỏi: - Gia phong Hòa thượng thế nào?
Đáp:
Áo rách che mây, sáng ăn cháo,
Bình xưa rót nguyệt, tối nấu trà.
Lại hỏi:
- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào?
Đáp:
Tự nở tự tàn theo thời tiết,
Đông quân bị hỏi cũng không lời.
Hỏi: - Khi giết người không nhìn lại thì sao?
Đáp: - Gan dạ cùng mình.
Hỏi: - Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?
Đáp:
Khẩu tự huyết bồn ha Phật tổ,
Nha như kiếm thọ chủy thiền lâm.
Nhất triêu tử nhập A-tỳ ngục,
Tiếu sát nam-mô Quán Thế Âm.
Dịch:
Miệng dường chậu máu chê Phật tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tỳ ngục,
Cười ngất nam-mô Quán Thế Âm.
Hỏi:
Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
Khi ấy thế nào?
Đáp: - Lầm!
Hỏi: - Theo Đại tôn đức thì thế nào?
Đáp:
Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
Tăng nói: - Đó là câu nói của tôi.
Đáp:
Muốn biết thần tiên thuật luyện thuốc,
Linh đơn vốn thật tử châu sa.
Hỏi: - Thế nào là pháp thân thanh tịnh?
Đáp:
Đục vàng rơi trong phân sư tử,
Người đen đúa vác bó hương thơm.
Tăng thưa: - Học nhân không hiểu.
Đáp:
Chớ học thói bán buôn trả giá,
Cười người chân thật dối lầm nhau.
Hỏi: - Thế nào là báo thân viên mãn?
Đáp:
Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.
Vị tăng lễ bái. Ngài bảo:
Xưa nay đầy đủ nhiều công dụng,
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.
Hỏi: - Thế nào là hóa thân thiên bách ức?
Đáp:
Mây dồn sương phủ mù trời đất,
Tấc nước như xưa ngay đỉnh đầu.
Tăng thưa: - Đúng thế.
Ngài bảo:
Cười ngất kẻ gom mây giữa núi
Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.
Vị tăng lễ bái lui ra.
***
Pháp Loa hỏi:
- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được?
Ngài đáp:
Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở,
Lách cách vành xe một tiếng vang.
Pháp Loa toan mở miệng nói, ngài liền bảo:
Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng,
Non tây như trước phủ mây chiều.
Pháp Loa hỏi:
- Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?
Đáp: - Mưa tầm tã.
- Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?
- Trăng vằng vặc.
- Cứu cánh thế nào?
- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.
- Thế nào là bản lai diện mục?
Ngài im lặng giây lâu, hỏi: - Hiểu chăng?
Đáp: - Chẳng hiểu.
Ngài liền đánh.
***
Pháp Loa hỏi:
- Thế nào là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp?
Ngài đáp:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.
Pháp Loa lại hỏi: - Thế nào là Phật?
Ngài đáp: - Tấm cám ở dưới cối.
- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?
- Bánh vẽ.
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
- Cùng hầm, đất không khác.
- Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không? Triệu Châu nói không, ý chỉ thế nào?
- Chất muối ở trong nước, keo xanh ở trong sắc.
Hỏi: - Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào?
Ngài bèn nói kệ:
Hữu cú vô cú
Đằng khô thọ đảo
Cơ cá nạp tăng
Chàng đầu khái não.
Hữu cú vô cú
Thể lộ kim phong
Hằng hà sa số
Phạm nhẫn thương phong.
Hữu cú vô cú
Lập tông lập chỉ
Đả ngõa toản quy
Đăng sơn thiệp thủy.
Hữu cú vô cú
Phi hữu phi vô
Khắc chu cầu kiếm
Sách ký án đồ.
Hữu cú vô cú
Hỗ bất hồi hỗ
Lạp tuyết hài hoa
Thủ chu đãi thố.
Hữu cú vô cú
Tự cổ tự kim
Chấp chỉ vong nguyệt
Bình địa lục trầm.
Hữu cú vô cú
Như thị như thị
Bát tự đả khai
Toàn vô bả tỹ.
Hữu cú vô cú
Cố tả cố hữu
A thích thích địa
Náo quát quát địa.
Hữu cú vô cú
Đao đao phạ phạ
Tiệt đoạn cát đằng
Bỉ thử khoái hoạt.
Dịch:
Hữu cú vô cú
Bìm khô cây ngã
Mấy kẻ nạp tăng
U đầu sứt trán.
Hữu cú vô cú
Thể lộ gió thu
Hằng hà sa số
Va dao chạm bén.
Hữu cú vô cú
Lập tông lập chỉ
Đập ngói dùi rùa
Trèo non lội nước.
Hữu cú vô cú
Chẳng có chẳng không
Khắc thuyền mò kiếm
Tìm ngựa cứ hình (bản đồ).
Hữu cú vô cú
Hồi hỗ, hay không
Nón tuyết giày hoa
Ôm cây đợi thỏ.
Hữu cú vô cú
Tự xưa tự nay
Chấp tay quên trăng
Đất bằng chết chìm.
Hữu cú vô cú
Như thế như thế
Chữ bát mở ra
Sao không nắm mũi?
Hữu cú vô cú
Ngó tả ngó hữu
Lau chau mồm mép
Ồn ào náo động.
Hữu cú vô cú
Đau đáu lo sợ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây vui thích.
Ngài bèn bước xuống tòa.
Giảng:
Mở đầu pháp hội, ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị thượng thủ bạch chùy v.v... rồi ngài nói:
- Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?
Ngồi giây lâu, ngài ngâm:
Thân như hô hấp tỹ trung khí,
Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất thị tầm thường không quá xuân.
Dịch:
Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Cuốc kêu từng chặp trăng ngời sáng,
Đâu phải tầm thường qua một xuân.
Ngài vỗ bàn một cái, nói:
- Không có gì sao? Ra đây, ra đây!
Mở đầu pháp hội, ngài niêm hương báo ân. Niêm hương tức là cầm cây hương đưa lên, rồi ngài nguyện đem công đức truyền bá chánh pháp hồi hướng về bốn ơn là ơn cha mẹ, ơn thầy tổ, ơn quốc gia và ơn thí chủ.
Niêm hương xong ngài bước lên tòa. Vị thượng thủ bạch chùy, tức là đánh kẻng. Mở đầu buổi tham vấn, ngài nói:
Thích-ca Văn Phật (tức là đức Phật Thích-ca) vì một đại sự mà xuất hiện ở giữa cõi đời này. Đại sự đó là gì? Nói theo kinh Pháp Hoa, đại sự là khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, tức là chỉ cho con người ngộ được tri kiến Phật hay là Phật tánh của mình.
Suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi, mà chưa từng nói một lời. Chuyển động đôi môi tức là nói, sao lại bảo chưa từng nói một lời? Chưa từng nói một lời, mà sao ghi lại thành tam tạng kinh điển? Như vậy là có nói hay không nói? Cũng như hiện giờ tôi giảng rất nhiều, đến khi tôi tịch, quý vị sẽ nói tôi bao nhiêu năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Tại sao? Vì bao nhiêu ngôn ngữ được dùng đều là phương tiện để giảng dạy cho mọi người hiểu thấu đạo lý, mà đạo lý cuối cùng, theo kinh Lăng-già, là chỉ tâm Phật của chính mình. Song tâm Phật không thể nói tới được, vì tất cả ngôn ngữ là tướng động, tướng sanh diệt, còn tâm Phật là bất động, không sanh diệt. Lấy cái động sanh diệt để nói cái bất động không sanh diệt thì không thể được.
Lại nữa có nói là có khởi nghĩ. Khởi nghĩ tức là động, mà động thì mất tâm Phật, cho nên nói: bốn mươi chín năm thuyết pháp mà chưa từng nói một lời; vì tâm Phật hoàn toàn thanh tịnh. Muốn chỉ con người nhận biết được cái chân thật nhưng không thể dùng cái sanh diệt hư dối để diễn tả, nên không nói một lời. Khi xưa Phật không nói, thì bây giờ ngài biết nói gì đây?
Ngồi giây lâu, ngài ngâm:
Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Cuốc kêu từng chặp trăng ngời sáng,
Đâu phải tầm thường qua một xuân.
Bài kệ có bốn câu, song trong Tam Tổ Thực Lục chỉ ghi có hai câu sau, bỏ hai câu trước. Vậy hai câu trước xuất xứ từ đâu? Khi trước chúng tôi dịch cũng y cứ theo bản Tam Tổ Thực Lục và những bản dịch khác nên chỉ thấy có hai câu sau. Nhưng khi tra lại trong Thiền Tông Bản Hạnh của thiền sư Chân Nguyên, chúng tôi thấy trong đó có bốn câu, nên mới bổ túc thêm hai câu trước. Thiền Tông Bản Hạnh là một quyển sách bằng chữ Nôm, nhưng mấy câu thơ thì ngài Chân Nguyên vẫn để nguyên chữ Hán. Có đủ bốn câu, chúng ta mới thấy nghĩa của bài kệ thật hay; nếu chỉ có hai câu sau thì không biết làm sao giải thích.
Thân như hơi thở ra vào mũi.
Thân của chúng ta hiện giờ mỏng manh tạm bợ giống như hơi thở hít vào thở ra nơi mũi, không có bền, không có thật. Hít vào rồi phải thở ra, thở ra rồi nếu không hít vào là chết, nên nói mạng sống thân này mỏng manh như hơi thở ra vào.
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Cuộc đời hay thế gian này không bền lâu vững chắc, giống như gió thổi mây trôi trên đỉnh núi xa xôi kia. Những đám mây trôi không dừng lại một chỗ, mây theo chiều gió cứ trôi trôi mãi. Đây là diễn tả cái vô thường trôi chảy không dừng. Đám mây trôi, rồi nó tan từ từ không có thật, không có bền. Gió thổi mây trôi là những hiện tượng luôn luôn di chuyển tạm bợ, còn mất bất thường.
Hai câu kệ đầu nói lên thân con người mỏng manh tạm bợ như hơi thở, không có gì lâu dài. Cuộc đời trên thế gian này luôn luôn dời đổi, không dừng một phút giây nào, sự đổi dời chuyển dịch cũng là hư dối tạm bợ, như cụm mây trôi tụ tán vô thường. Thân người và ngoại cảnh không có gì bền lâu, không có gì chắc chắn. Hiểu như vậy chúng ta phải làm sao?
Cuốc kêu từng chặp trăng ngời sáng.
Nếu chỉ có hai câu kệ đầu thì buồn bã làm sao, vì thấy thân vô thường, cuộc đời vô thường không có gì bền chắc. Song trong cái vô thường đó vẫn còn có cái diệu dụng phi thường. Cái diệu dụng nằm sẵn trong thể chân thường hằng hữu. Thế nên tiếng chim cuốc kêu và mặt trăng sáng như ban ngày. Trăng sáng là tĩnh, chim kêu là động, động tĩnh đầy dẫy trên nhân gian này, đây là chỉ cái mầu nhiệm vi diệu sẵn có, không thiếu vắng bao giờ. Chúng ta không thấy, để nó trôi qua đi, cho nên nói:
Đâu phải tầm thường qua một xuân.
Không phải tầm thường mà để qua hết một mùa xuân. Cuộc sống của chúng ta trên thế gian này giống như một mùa xuân tươi đẹp, song chúng ta không biết hưởng, để nó qua mất thì uổng đi một cuộc đời.
Tóm tắt bài kệ, hai câu đầu diễn tả thân phận con người là tạm bợ, cuộc đời là giả trá. Hai câu sau chỉ cho chúng ta hiện có sẵn cái chân thật nhiệm mầu, động tĩnh thường hằng, mà chúng ta không nhận ra được, để một cuộc đời trôi qua suông, rất là đáng tiếc. Chẳng lẽ chúng ta sống để rồi chờ chết sao? Chúng ta phải làm thế nào nhận cho ra cái chân thật đó, để hưởng một mùa xuân vĩnh cửu. Bốn câu thơ lý thú vô cùng, nếu thiếu hai câu đầu chỉ còn hai câu sau thì mất hết ý nghĩa.
Ngài ngâm bốn câu thơ rồi bắt đầu vào vấn đáp.
Ngài vỗ bàn một cái, nói:
- Không có gì sao? Ra đây, ra đây!
Lên tham vấn mà ngồi ngó nhau, không ai thưa hỏi gì, nên ngài mới vỗ bàn nói: Không có gì sao? Ra đây, ra đây! Tức là có gì nghi, nên ra hỏi.
***
Có vị tăng hỏi: - Thế nào là Phật?
Ngài đáp: - Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Hỏi: - Thế nào là pháp?
Đáp: - Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Hỏi: - Thế nào là tăng?
Đáp: - Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Hỏi ba câu: thế nào là Phật, thế nào là pháp, thế nào là tăng, ngài chỉ dùng một câu đáp: Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải. Hiện nay nếu ai hỏi chúng ta như thế, hẳn chúng ta định nghĩa rõ ràng và rất hay, không lẽ ngài lại vụng hơn chúng ta? Vì cái nhìn của thiền thâm sâu, không phải như nghĩa rõ ràng của giáo. Thiền chỉ cho chúng ta nhận ra cái không thể dùng ngôn ngữ tầm thường diễn tả được.
Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải nghĩa thế nào? Nếu có ai đem một chiếc đồng hồ tặng, chúng ta đưa tay nhận rồi cảm ơn. Như vậy có một vật để chúng ta nhận thì đó là vật bên ngoài chứ không phải của mình. Còn Phật là ngay nơi mình hiển lộ chứ không phải cái gì bên ngoài đưa tới, nếu nói nhận được là không phải. Còn pháp tức kinh điển người đưa chúng ta nhận, sao cũng nói không phải? Câu hỏi về tăng cũng trả lời giống như vậy là tại sao? Đối với giáo thì Phật là đấng giác ngộ, pháp là những lời dạy của Phật, tăng là những người tu sau này, như vậy Phật pháp tăng là riêng. Đối với cái nhìn của Thiền tông, Lục Tổ dạy Phật là giác, pháp là chánh, tăng là tịnh. Giác, chánh, tịnh không rời nhau, một thể mà ba dụng, nói một tức đủ cả ba. Nếu không hiểu điều này chúng ta thấy ngài không biết giải thích, chỉ lập lại câu nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Vị tăng hỏi thêm: Cứu cánh thế nào?
Ngài dạy:
Chữ bát đã bày trao hết sạch,
Đâu còn có việc nói cùng ngươi.
Khi nghe ngài trả lời về Phật pháp tăng, vị tăng không hiểu nên hỏi thêm: Cứu cánh thế nào?
Ngài bảo: Chữ bát đã mở ra trao hết sạch, đâu còn việc gì giấu giếm để nói với ngươi nữa. Đôi chân mày chúng ta giống hình chữ bát “?” đã mở ra, lỗ mũi nằm ngay dưới chân mày lại không chịu nắm, còn gì nữa mà chỉ. Đôi chân mày chỉ cho phương tiện, mũi chỉ cho cái chân thật. Phương tiện đã vạch rồi, cái chân thật nằm sẵn ngay đó lại không nhận. Nói nhận đến như xưa vẫn chẳng phải là đã nói thẳng, nói chí tình rồi, còn hỏi cứu cánh chi nữa.
Ông tăng vẫn chưa hiểu nên lại hỏi:
- Thế nào là một việc hướng thượng?
Ngài đáp: - Đầu gậy khêu nhật nguyệt.
Tăng nói: - Dùng công án cũ làm gì?
Câu đó là câu người xưa nói, nay ngài đem câu cũ nói với con làm gì?
Ngài đáp: - Một lần nhắc lại một lần mới.
Tuy đó là việc cũ, nhưng mỗi lần nhắc lại là mỗi lần mới.
Tăng hỏi: - Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?
Ngài bảo: - Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.
Tăng hỏi tiếp: - Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?
Ngài đáp: - Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.
Tăng nói: - Vẫn là nhảy chẳng khỏi.
Ngài bèn lớn tiếng nạt: - Kẻ mù! Thấy cái gì?
Tăng nói: - Đại tôn đức lừa người làm gì?
Đây là câu lanh lợi.
Ngài liền “hừ hừ”. Vị tăng suy nghĩ.
Lẽ ra nghe hừ hừ thì lễ nhưng không lễ mà còn suy nghĩ nên ngài liền đánh. Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi, ngài liền hét, vị tăng cũng hét. Ra vẻ rồi đấy.
Ngài hỏi:
- Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau, nói mau! Vị tăng suy nghĩ. Ngài lại hét một tiếng, nói:
- Con chồn hoang quỷ quái, vừa rồi tinh lanh, giờ ở chỗ nào?
Nghĩa là trước dám nói Đại tôn đức lừa người làm gì, đó là tinh lanh, rồi sau dám hét, đó là tinh lanh, nhưng bây giờ lại suy nghĩ để đi tới đâu? Ông tăng không biết nên lễ bái rồi lui.
Đây chúng tôi nhắc lại cho quý vị rõ. Thiền tông là giáo ngoại biệt truyền, nghĩa là truyền riêng ngoài giáo lý. Ngài trả lời: Ễnh ương nhảy không khỏi đấu, câu này là nói để cho chúng ta không có gì phải suy gẫm, không có chỗ để bám víu nghĩ suy, nếu ngay đó lãnh hội được thì đúng, không lãnh hội được thì sai. Vì chưa lãnh hội được nên vị tăng hỏi thêm: Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?
Ngài nói dễ dàng: Lại theo con ếch nhảy xuống bùn. Ra khỏi đấu thì nhảy xuống bùn chứ đi đâu nữa! Câu nói như lời nói đùa nhưng thật ra đã nói lên việc bắt buộc chúng ta phải thấy ở bên kia, chứ không phải ngay trong ngôn ngữ.
Vị tăng còn chấp ngôn ngữ nên nói: Vẫn là nhảy chẳng khỏi. Nhảy xuống bùn tức là nhảy chưa khỏi.
Ngài bèn lớn tiếng nạt: Kẻ mù! Thấy cái gì? Nếu nói như thế là ngươi không thấy gì cả.
Vị tăng trở lại nói: Đại tôn đức lừa người làm gì? Ngài nói như thế là một cách lừa người, chứ không nói lẽ thật. Thấy vị tăng có vẻ hơi thấm nên ngài liền “hừ hừ” tức là hư hư. Nhưng vị tăng lại suy nghĩ, ngài liền đánh. Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi, ngài liền hét. Đến đây vị tăng nhạy bén một chút liền hét lại.
Ngài hỏi: Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau! Nói mau! Ngay đó nếu biết thì trả lời bằng một hành động, nhưng vì không biết, đứng suy nghĩ, nên ngài mới hét nói: Con chồn hoang quỷ quái! Vừa rồi tinh lanh, giờ ở chỗ nào? Cái tinh lanh khi nãy, giờ đâu mất rồi. Vị tăng không đáp được phải đảnh lễ rồi lui. Đây là lối đối đáp hoàn toàn là thiền, không có giáo.
***
Một vị tăng khác hỏi: - Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, ngài đã được mấy thông? Câu hỏi này hơi khó trả lời, nghĩa là chịu cực khổ tu hành, Phật được sáu thông, nay ngài được mấy thông rồi?
Ngài đáp: - Cũng được sáu thông. Nghĩa là Phật được sáu thông, tôi cũng được sáu thông.
Vị tăng mới thử: - Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông? Năm thông thì bỏ qua, hỏi thế nào là tha tâm thông.
Ngài liền đáp: - Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy. Ngài không nói thẳng mà dẫn trong kinh Kim Cang, Phật nói: Đầy cả quốc độ chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm Như Lai đều biết. Như vậy ngài có sáu thông như Phật thì ngài cũng biết, cũng thấy.
Vị tăng liền đưa nắm tay lên nói: Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì? Tức là trong nắm tay tôi có vật gì. Vị tăng này thử đến nơi chứ không chịu thua. Khi dẫn kinh Phật để đáp, nếu người hỏi lại theo cách này thì chúng ta cũng khó trả lời.
Ngài khéo nói: - Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc. Thế nào là như có như không? Tất cả sự vật duyên hợp tạm thấy như có, nhưng thể tánh là không, nên thấy như có mà là như không, nhưng nó cũng không phải không, cũng không phải sắc. Trả lời như thế nên không làm sao bẻ được ngài.
Vị tăng liền hỏi:
- Xưa có vị tăng hỏi hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Ý chỉ thế nào?
Ngài đáp: - Thật giống thuyền chài ra biển.
Vị tăng hỏi thêm: - Ý này thế nào?
Ngài đáp:
Ai biết khói sóng xa,
Riêng có chỗ suy nghĩ.
Hòa thượng Lang Gia là thiền sư Huệ Giác ở núi Lang Gia, nối pháp ngài Thiện Chiêu tông Lâm Tế, vào đời Tống ở Trung Quốc.
Khi hỏi thanh tịnh bản nhiên vì sao chợt sanh sơn hà đại địa, ngài Trúc Lâm Đầu-đà đáp: Thật giống thuyền chài ra biển. Thuyền đậu trong bờ rất bình yên, mở neo giong thuyền ra biển là vào chỗ hiểm nguy. Nghĩa là thể thanh tịnh bản nhiên là thanh tịnh như vậy, khởi nghĩ hỏi là giống như thuyền chài đang đậu bình yên trong bờ chợt giong thuyền ra biển khơi. Chúng ta thích như thế nào? Có sóng gió mới vui, ở yên lâu thì buồn phải không? Như vậy thật giống thuyền chài ra biển.
Vị tăng chưa hiểu nên hỏi: Ý này thế nào?
Ngài giải thích thêm:
Ai biết khói sóng xa,
Riêng có chỗ suy nghĩ.
Đó là ra ngoài nơi sóng gió thì chỗ đó suy nghĩ tùy ý.
***
Đến vị tăng khác hỏi:
- Thế nào là gia phong Phật quá khứ?
Ngài đáp:
Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc,
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.
Vị tăng hỏi thêm:
- Thế nào là gia phong Phật hiện tại?
Ngài đáp:
Gia phong sóng bạc lầm én sớm,
Đào thắm vườn tiên say gió xuân.
Vị tăng hỏi tiếp:
- Thế nào là gia phong Phật vị lai?
Ngài đáp:
Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.
Hỏi: - Gia phong Hòa thượng thế nào?
Ngài đáp:
Áo rách che mây, sáng ăn cháo,
Bình xưa rót nguyệt, tối nấu trà.
Lời đối đáp trong đoạn này rất thi vị. Hỏi thế nào là gia phong Phật quá khứ, tức là phong thái của Phật quá khứ như thế nào? Phật quá khứ là Phật không còn những hoạt động hiện tại ở thế gian, nên ngài diễn tả:
Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc,
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.
Nghĩa là không còn người chú ý, chăm sóc vườn rừng nữa, nhưng cây lý vẫn trổ hoa trắng, cây đào vẫn trổ hoa hồng một cách tự nhiên, chứ không phải là chẳng có gì.
Đến câu hỏi thế nào là gia phong Phật hiện tại? Ngài đáp:
Gia phong sóng bạc lầm én sớm,
Đào thắm vườn tiên say gió xuân.
Gia phong của Phật hiện tại là hình ảnh một mặt trăng tròn sáng trong hư không, soi khắp cả bầu trời. Dưới mặt biển những lượn sóng do ánh trăng rọi chiếu, dường như tô bạc trên đầu sóng, làm cho chim én tưởng là trời sáng nên đua nhau bay đi kiếm mồi. Trong vườn tiên, cây đào trổ hoa đỏ làm gió xuân say mê. Như vậy gia phong Phật hiện tại giống như mặt trăng sáng vằng vặc trên bầu trời, nhưng chúng sanh như chim én mê lầm tưởng là trời sáng; cũng như trong vườn tiên, hoa đào thắm nở báo hiệu mùa xuân thì gió xuân lại mê say thổi quyện bên hoa thắm. Đó là chỉ gia phong Phật hiện tại, là những hình ảnh đẹp đẽ tươi sáng, lúc nào cũng hiện tại như ánh trăng trong, như hoa đào thắm, không thiếu vắng, nhưng chúng sanh như chim én, như gió xuân mê say là vì chúng sanh không biết được lẽ thật.
Khi hỏi gia phong Phật vị lai, ngài đáp:
Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.
Triều là nước lớn nước ròng. Vị lai là chưa đến, là chỉ sự mơ ước sự trông chờ, nên nói bãi biển chờ nước triều lên, bầu trời đợi trăng mọc. Những người thuyền chài đánh lưới ngoài biển nghe tiếng sáo thổi liền nhớ nhà. Như thế nói đến Phật vị lai là nói đến sự mong chờ, vì hiện tại chưa có, nên ngài dùng những hình ảnh đẹp vô cùng, như bãi biển chờ nước triều lên, bầu trời đợi trăng mọc, xóm chài nghe tiếng sáo thổi liền nhớ nhà. Đó là nói gia phong ba đời chư Phật.
Lại hỏi gia phong Hòa thượng thế nào? Ngài đáp:
Áo rách che mây, sáng ăn cháo,
Bình xưa rót nguyệt, tối nấu trà.
Thật đẹp làm sao! Khi mặt trời lên cao, những gợn mây che chỗ dày chỗ trống, nhìn thấy lỗ chỗ giống như chúng ta mặc chiếc áo rách. Như vậy có thích không? Mình và trời đất không có khác! Vậy gia phong của tôi là tôi mặc áo rách giống như mây che bầu trời, và sáng tôi ăn cháo.
Bình xưa rót nguyệt, tối nấu trà. Bình rót trăng là rót thế nào? Nếu cầm thùng nước có vòi rót thì nhìn thấy trên nước có mặt trăng.
Áo che mây, bình rót trăng, thật là đẹp kỳ diệu. Nói đơn giản là sáng tôi mặc áo rách ăn cháo, chiều tối cầm bình tưới rồi uống trà, đó là gia phong của tôi, tức là những cái hiện tại, chứ không có gì xa xôi. Chúng ta thấy người xưa nói đến gia phong là nói đến nếp sống giản đơn, mặc áo rách, ăn cháo, đi tưới kiểng, tưới hoa và uống trà. Như vậy đúng với câu bình thường tâm thị đạo, nghĩa là trong tất cả sự ăn mặc, lao động, uống trà... chư tổ vẫn giữ tâm bình thường, đó là gia phong của các ngài chứ không có gì khác lạ.
Lại có vị tăng hỏi:
- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào?
Ngài đáp:
Tự nở tự tàn theo thời tiết,
Đông quân bị hỏi cũng không lời.
Ngài Linh Vân là đệ tử của tổ Quy Sơn Linh Hựu. Khi nhìn thấy hoa đào nở, bỗng dưng ngài ngộ đạo, do đó có vị tăng nghi nên hỏi, Sơ tổ Trúc Lâm đáp là hoa đào tùy theo thời tiết mà có nở có tàn. Nếu hỏi tại sao xem hoa đào ngộ đạo, giả sử như Đông quân cũng không đáp được. Đông quân là chỉ thần mặt trời hay thần mùa xuân. Nói cách khác, ngài Linh Vân nhìn thấy hoa đào mà ngộ đạo, đó là tùy theo thời tiết nhân duyên, khi chín muồi chợt gặp thì ngộ. Còn muốn hỏi lý do thì không ai đáp được.
Hỏi: - Khi giết người không nhìn lại thì sao?
Ngài đáp: - Gan dạ cùng mình.
Nếu giết mà không nhìn lại tức là gan dạ cùng mình chứ gì.
Lại hỏi thêm:
- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?
Ngài liền đáp:
Khẩu tự huyết bồn ha Phật tổ,
Nha như kiếm thọ chủy thiền lâm.
Nhất triêu tử nhập A-tỳ ngục,
Tiếu sát nam-mô Quán Thế Âm.
Dịch:
Miệng dường chậu máu chê Phật tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tỳ ngục,
Cười ngất nam-mô Quán Thế Âm.
Tiếu sát, chúng ta có chữ dịch rất sát, rất hay là cười ngất. Câu hỏi này là do câu chuyện: Trong pháp hội tổ Bá Trượng, một hôm sau buổi tham vấn, toàn chúng ra về chỉ còn một ông già ở lại. Tổ đến hỏi:
- Sao ông chưa về?
Ông thưa:
- Con không phải là người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp, con là một vị Tỳ-kheo tăng ở núi này, nhân có người hỏi: người đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng, con đáp: không rơi vào nhân quả. Do đó con phải đọa làm thân chồn đến năm trăm kiếp. Nay xin Hòa thượng nói cho con một chuyển ngữ để con thoát khỏi kiếp chồn.
Tổ bảo:
- Ông hỏi lại ta đi.
Ông già hỏi:
- Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không?
Tổ đáp:
- Không lầm nhân quả.
Ngay câu nói ấy ông ngộ được, làm lễ thưa:
- Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ tống táng con như một vị tăng.
Câu hỏi trên hết sức quan trọng đối với người tu. Người đại tu hành là người nào? Nói cho dễ hiểu là người ngộ đạo. Ngộ đạo rồi, đời sau có rơi vào nhân quả không? Tôi dẫn cho quý vị thấy: Người đại tu hành không ai bằng Phật, thế mà đức Phật còn bị nạn kim thương mã mạch, nghĩa là ngài còn chưa ra khỏi nhân quả. Thế nên ông già trả lời không rơi vào nhân quả, là trái với giáo lý đức Phật dạy, đã tạo nhân thì phải chịu quả. Tuy nhiên nếu chúng ta dẫn lại lời thiền sư Huyền Giác, ngài nói:
Liễu tức nghiệp chướng bản lai không,
Vị liễu ưng tu hoàn túc trái.
Nghĩa là người liễu ngộ rồi thì nghiệp chướng xưa nay là không, còn người chưa liễu ngộ thì phải đền nợ trước, tức là bị nhân quả. Thế thì ông già trả lời đúng như lời ngài Huyền Giác nhưng tại sao ông bị đọa? Đó là vì ông hiểu lầm chữ liễu của ngài, ông tưởng rằng liễu rồi là không còn kẹt vào nhân quả nữa, nhưng không ngờ liễu thì nghiệp chướng bản lai không.
Ngài Trần Nhân Tông trả lời rất khéo như sau:
Miệng dường chậu máu chê Phật tổ,
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Nghĩa là tạo tội tạo nghiệp, chê Phật chê tổ, phá những người tu.
Một mai chết đọa A-tỳ ngục,
Cười ngất nam-mô Quán Thế Âm.
Nếu làm việc ác, chết phải đọa địa ngục A-tỳ tức là địa ngục Vô gián. Làm ác thì chịu quả ác không nghi ngờ, nhưng khi quả ác đến thì cười ngất nam-mô Quán Thế Âm. Đây là câu của người đại tu hành. Tại sao? Tôi dùng một thí dụ nhỏ cho quý vị hiểu. Khi chúng ta mê muội, tranh hơn tranh thua với một người nào, cãi vã rồi chửi mắng họ, lúc đó vì thế yếu họ không dám chống nhưng họ hận. Mai kia thế chúng ta yếu, người đó lại mạnh, khi gặp chúng ta họ xử sự như thế nào? Xưa chúng ta mắng họ một, nay họ trả lại gấp hai, ba phần. Tuy nhiên rất mừng là chúng ta đã ngộ đạo, nên trước những lời mắng chửi nặng nề, chúng ta chỉ cười ngất. Vậy có trả hay không? Nếu chưa ngộ đạo, chúng ta thấy những lời mắng chửi là thật, tự nhiên mình chịu không nổi, nên rất khổ sở. Nhờ ngộ đạo, biết những lời chửi rủa như gió thoảng qua tai, có nghĩa lý gì đâu nên chúng ta cười. Như vậy để thấy rằng nhân quả vẫn phải trả, nhưng khi mê thì khổ, khi ngộ thì cười. Thế nên ngài dùng hình ảnh rất đẹp:
Một mai chết đọa A-tỳ ngục,
Cười ngất nam-mô Quán Thế Âm.
Người mê rơi xuống địa ngục thì than khóc khổ sở, còn người ngộ thì cười, đó là hiện tại nhân quả không mất, nhưng ngộ rồi thì trả mà không trả. Đây là một câu trả lời khéo vô cùng.
Tăng hỏi:
Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
Khi ấy thế nào?
Ngài đáp: - Lầm!
Tăng hỏi tiếp: - Theo Đại tôn đức thì thế nào?
Ngài bảo:
Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
Tăng thưa: - Đó là câu nói của tôi.
Ngài tiếp:
Muốn biết thần tiên thuật luyện thuốc,
Linh đơn vốn thật tử châu sa.
Qua đoạn này quý vị thấy có điều gì lạ? Vị tăng dẫn hai câu thơ đặt thành câu hỏi:
Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
Khi ấy thế nào?
Hai câu thơ rất là tuyệt. Dưới thửa ruộng trống, bầy cò trắng đậu trông như những điểm tuyết trên đồng cỏ. Trên cành chim oanh vàng đậu, nhìn thấy như đóa hoa nở trên cây. Khi vị tăng hỏi như vậy, ngài đáp: Lầm! Tại sao? Vì ông dẫn câu của người khác diễn tả cảnh để hỏi về thiền nên ngài nói lầm. Vị tăng mới hỏi thêm: Theo Đại tôn đức thì thế nào? Nghĩa là vậy ý ngài nghĩ như thế nào? Ngài liền dẫn lại nguyên văn hai câu trên:
Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
Ông tăng tức quá mới thưa: đó là câu nói của tôi, như vậy đâu phải ý của ngài, ngài chỉ lặp lại ý của tôi thôi. Ngài liền đáp:
Muốn biết thần tiên thuật luyện thuốc,
Linh đơn vốn thật tử châu sa.
Những người tu tiên lấy tử châu sa để trong lò luyện thành linh đơn, như vậy linh đơn gốc từ tử châu sa ra chứ không có gì lạ. Ngài đáp cho vị tăng hiểu thâm ý của ngài muốn dạy cho người học. Người tu thiền khi thấy tâm cảnh không hai thì tất cả cảnh không ngoài tâm. Bầy cò đậu dưới ruộng hay chim hoàng oanh đậu trên cành cây... những cảnh đó đều không ngoài tâm. Như vậy ngài dẫn hai câu thơ trên để nói ngoài cảnh không tâm, cũng như ngoài tâm không cảnh. Chúng ta đừng tìm kiếm cái gì xa lạ kỳ đặc, nên ngài nói người tu tiên luyện linh đơn là thứ thuốc trường sanh bất tử, nhưng gốc từ tử châu sa mà ra. Như vậy chỗ ngộ đạo, chỗ thấy được chân tánh không ngoài hình ảnh bầy cò đậu dưới ruộng giống như ngàn điểm tuyết, chim hoàng oanh đậu trên cành cây giống như một đóa hoa. Ngay trước mắt là cái chân thật mà tất cả người tu thiền cần phải đạt đến, đừng bỏ cảnh này đi tìm cái gì xa lạ khác, không có cái chân thật ngoài những cảnh hiện tiền.
Tăng hỏi: - Thế nào là pháp thân thanh tịnh?
Ngài đáp:
Đục vàng rơi trong phân sư tử,
Người đen đúa vác bó hương thơm.
Vị học tăng không hiểu, nói: - Học nhân không hiểu.
Ngài bảo:
Chớ học thói bán buôn trả giá,
Cười người chân thật dối lầm nhau.
Như vậy ngài trả lời câu thế nào là pháp thân thanh tịnh chưa? Đục vàng rơi trong phân sư tử. Cây đục là cái tầm thường nhưng vàng là quý. Phân là cái xấu xa mà sư tử là quý. Câu này nói rằng cái quý cái tiện không có hai, không rời nhau. Người đen đúa vác bó hương thơm là dịch câu Thiết côn lôn thượng chá cô ban. Người đen đúa là tiện, hương thơm là quý. Câu này nói quý không rời tiện, quý tiện không hai.
Tóm lại, hai câu thơ diễn tả hình ảnh quý không rời tiện, tiện không ngoài quý. Pháp thân thanh tịnh không tìm ngoài cái quý tiện. Tại sao? Nếu chúng ta còn thấy quý khác tiện khác là thấy hai bên. Thấy hai bên, kẹt ở hai bên thì không bao giờ thấy được pháp thân. Đó là ý nghĩa ngài chỉ rõ ràng nhưng vị tăng lại thưa: học nhân không hiểu, nghĩa là câu ngài trả lời con không hiểu gì cả. Ngài bảo:
Chớ học thói bán buôn trả giá,
Cười người chân thật dối lầm nhau.
Có phải ngài mắng vị tăng không? Bán buôn trả giá, trả giá tức là có đắt rẻ, hơn thua. Nếu còn thấy có đắt rẻ hơn thua thì không bao giờ thấy được pháp thân, nghĩa là muốn nhận ra pháp thân thì đừng so sánh phân biệt. Như câu chuyện ngài Hưng Hóa Tồn Tương khi vua Đường Trang Tông đi Hà Bắc trở về Ngụy phủ, dừng tại hành cung, nghe đồn ngài là một vị thiền sư nổi tiếng, nhà vua cho mời ngài đến để hỏi đạo. Khi ngài đến, nhà vua nói:
- Trẫm thâu Trung Nguyên nhận được hòn ngọc quý, chưa từng có người trả giá.
Sư nói:
- Xin bệ hạ cho xem.
Vua lấy hai tay vuốt từ đầu đến chân. Ngài Hưng Hóa nói:
- Ngọc quý của đấng quân vương ai dám trả giá.
Nghĩa là nhà vua đã trình cái pháp thân thanh tịnh, mà pháp thân thanh tịnh là một hòn ngọc vô giá, nhà vua hỏi thử thiền sư xem người thấu rõ được hòn ngọc đó hay chưa, nên nói: Mời Thiền sư đánh giá hòn ngọc. Ngài Hưng Hóa nói rõ rằng: Hòn ngọc của đấng quân vương ai dám trả giá. Nếu trả giá thì thuộc về hạng hồ đồ rồi. Hiểu như thế mới thấy được ý chớ học thói bán buôn trả giá. Chúng ta quen thói gặp đâu đánh giá đó, trúng cũng được, sai cũng được. Nhưng đó là chỗ không đánh giá tức là không so sánh, không thấy có hơn thua v.v... Ngài nói thật, ngài chỉ pháp thân, nhưng vị tăng không hiểu tưởng như ngài giấu giếm.
Vị tăng hỏi thêm: - Thế nào là báo thân viên mãn?
Thường trong kinh nói Phật có ba thân: pháp thân, báo thân và hóa thân. Pháp thân là pháp thân thanh tịnh cũng gọi là Tỳ-lô-giá-na. Báo thân là báo thân viên mãn hay gọi là Lô-giá-na. Khi hỏi thế nào là báo thân viên mãn, ngài đáp:
Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.
Vị tăng lễ bái. Ngài bảo:
Xưa nay đầy đủ nhiều công dụng,
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.
Tôi giải thích lại ba thân để quý vị thấu suốt được câu hỏi này. Thanh tịnh pháp thân là chỉ cho pháp thân hoàn toàn thanh tịnh, không tướng mạo; pháp thân đó không sanh diệt, là thể của tất cả thân. Báo thân là thân do quả báo, như thân người thế gian thì gọi là nghiệp báo, người tu gọi là phước báo. Đức Phật có ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, đó là thân phước báo. Như vậy hỏi thế nào là báo thân viên mãn, tức là thân phước báo của Phật. Thân thứ ba là hóa thân, tức là tùy theo các loài chúng sanh cần gì thì hóa hiện theo đó, nó không thật. Thí dụ như kinh Phổ Môn kể lại: Nếu người cần được Tỳ-kheo độ thì Bồ-tát Quán Thế Âm hiện thân Tỳ-kheo độ, nều cần được Tỳ-kheo-ni độ thì ngài hiện thân Tỳ-kheo-ni, cần đồng nam độ thì hiện thân đồng nam, cần đồng nữ thì hiện thân đồng nữ, cho đến tướng tể quan v.v... tùy theo nhu cầu đương cơ mà hiện ra để hóa độ. Thân hóa độ đó gọi là hóa thân chứ không phải là thân thật.
Ở đây khi hỏi về báo thân, ngài Điều Ngự trả lời:
Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió,
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.
Nghĩa là cánh chim đại bàng bay bổng lên không làm cho gió phải đứng lại, hạt ngọc ở dưới cằm con rồng ly long (ly châu) có giá trị lắng hết cặn bã ở dưới biển làm cho nước biển được mát mẻ và trong ngần. Hai câu này nói gì về nghĩa báo thân? Báo thân là thân do phước báo đầy đủ của chư Phật, thân đó có diệu dụng không thể lường, giống như con chim đại bàng cất cánh bay lên cao làm cho gió phải đứng lại, như hạt ngọc của con rồng khi ở sâu dưới đáy biển làm cho nước biển mát và trong.
Vị tăng nghe liền lễ bái, nhưng không biết hiểu hay chưa, nên ngài nói thêm:
Xưa nay đầy đủ nhiều công dụng,
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.
Ai cũng có báo thân nhưng vì chúng ta không nhận ra, không sống được, không được thành, nên nói là quàng xiên. Những tâm tưởng lăng xăng nhớ việc này tưởng việc kia, chạy ngược chạy xuôi, tâm tưởng đó là quàng xiên. Chúng ta vẫn nuôi dưỡng nó nên không thấy được báo thân đầy đủ công đức của chính mình.
Đến câu hỏi thứ ba: Thế nào là hóa thân thiên bách ức? Nghĩa là thân ứng hóa trăm ngàn thứ, trăm ngàn loại là thế nào? Thân đó không cố định, tùy theo duyên chúng sanh mà hiện rất nhiều.
Ngài đáp:
Mây dồn sương phủ mù trời đất,
Tấc nước như xưa ngay đỉnh đầu.
Ba thứ mây sương mù, mây che cả không gian, sương cũng rơi đầy, mù cũng khắp cả vùng. Nhưng cả ba gốc từ cái gì? Gốc từ tấc nước ở đỉnh đầu mà ra. Đó là để nói hóa thân hiện trăm ngàn muôn thứ, bao nhiêu diệu dụng, tùy duyên hóa độ chúng sanh. Hóa thân đó không ngoài cái thể của pháp thân, nó không có riêng cũng không phải tự thành, đều từ pháp thân mà ra, cũng như từ nước biển thành mây, thành sương, thành mù che khắp trời đất, cả ba chẳng qua là một tấc nước ở đỉnh đầu ông, chứ không có gì lạ.
Vị tăng thưa: đúng thế, tức là đúng rồi, con biết rồi!
Ngài bảo:
Cười ngất kẻ gom mây giữa núi,
Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.
Nghĩa là có kẻ ngu thấy mây phủ ở sườn núi, toan tính lên đó gom lại dồn vào bao đem về, nên cười ngất kẻ gom mây giữa núi. Như vậy ông sẽ không khỏi bị nuốt hòn sắt nóng ở địa ngục. Nói rằng đúng là xem như ông thấy, nhưng sự thật là chưa thấy gì, ông là kẻ ngớ ngẩn chưa được cái gì. Tuy nghe chê, nhưng ông tăng vẫn lễ bái lui ra.
Như thế ngài giải rõ ba thân: pháp thân, báo thân và hóa thân, giải rất là rõ nhưng rất là khó hiểu.
***
Đến ngài Pháp Loa hỏi: Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được? Nói xưa nói nay, nói gì cũng là nói đùa thôi, không đến lẽ thật. Nay một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói, nói thử xem. Ngôn ngữ là lời chúng ta nói ra, mà nói không kẹt lời làm sao nói được!
Ngài liền đáp:
Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở,
Lách cách vành xe một tiếng vang.
Câu đáp này vừa thi vị vừa hay đáo để. Gió đông là gió từ hướng đông về, tức là sang mùa xuân. Khi gió đông nhè nhẹ thổi mát thì các cành cây nở hoa, gió đông đâu có muốn vuốt ve cho hoa nở, nhưng gió thổi nhè nhẹ thì hoa nở. Lách cách vành xe một tiếng vang, vành xe lăn khua nghe lách cách, nó không muốn làm tiếng vang mà phát ra tiếng vang.
Như vậy không phải vành xe muốn làm thành tiếng vang hay gió đông muốn an ủi cho hoa nở, nhưng vì gió đông thổi nên hoa nở, vì vành xe lách cách nên thành tiếng vang. Vậy câu không kẹt trong ngôn ngữ là câu gì? Có ngôn ngữ tức là có phân biệt, có suy tính, còn nói mà không phân biệt suy tính, thì tuy có nói nhưng không kẹt trong ngôn ngữ, cũng như gió đông thổi đúng thời tiết thì hoa nở, vành xe khua nghe tiếng vang. Những cái đó tuy có công dụng nhưng không có ý tạo tác, như thế đâu có lỗi lầm. Thế nên chúng ta thấy, dù có ngôn ngữ nhưng không kẹt trong suy tính thì không có lỗi lầm. Nếu bảo không nói mới đúng, là sai. Nếu không nói làm sao đức Phật đã giảng bao nhiêu kinh điển, các thiền sư để lại bao nhiêu quyển ngữ lục? Như vậy để thấy rằng nói không kẹt trong ngôn ngữ thì lời nói không có lỗi. Vì thế ngài dùng hai câu thơ này đáp rất rõ ràng.
Pháp Loa toan mở miệng nói, ngài liền bảo:
Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng,
Non tây như trước phủ mây chiều.
Khi Pháp Loa muốn hỏi thêm thì ngài bảo: Dầu cho chim hót, hót mãi đến ra máu cổ cũng không ai quan tâm đến nó, ngọn núi phía tây buổi chiều mây đã phủ che. Đó là để nói chỗ cứu cánh này ông cố hỏi, cố nói cũng không đến đâu, chỉ là luống công vô ích thôi.
Ngài Pháp Loa liền hỏi:
- Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?
Ngài đáp: - Mưa tầm tã.
Hỏi: - Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?
Ngài đáp: - Trăng vằng vặc.
Hỏi thêm: - Cứu cánh thế nào?
Ngài nói: - Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.
Những câu trả lời này thấy lạ nhưng không khó. Tại sao?
Trả lời câu khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào, ngài đáp: mưa tầm tã, tức là nói ngược lại.
Hỏi khi muôn dặm mây che kín thì thế nào, ngài đáp trăng vằng vặc, nghĩa là hỏi trắng lấy đen đáp, hỏi sáng lấy tối đáp. Đó là thuật mà Lục Tổ đã dạy để thấy rằng mưa, mây, trăng... tất cả đều là những giả tướng từ duyên mà có, do tối nên có sáng, vì mây che mới nói trăng tối... Đó là những đối đãi không thật, vì thế khi hỏi cứu cánh thế nào, ngài đáp rằng chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy. Nghĩa là chỗ cứu cánh chân thật không dùng ngôn ngữ, không dùng trí suy nghĩ mà đến được. Nếu dùng ngôn ngữ, dùng trí suy nghĩ thì bị đòn.
Lại hỏi thêm: - Thế nào là bản lai diện mục?
Đây là câu hỏi mà người tu thiền thường chú ý và thắc mắc. Bản lai diện mục là mặt thật xưa nay của chính mình. Mặt hiện tại chúng ta đang mang là thật hay giả? Mặt này không thật nên lúc trẻ nó tươi hồng mịn màng, già thì nhăn nheo đen nám. Nếu thật thì nó đâu có đổi thay. Có đổi thay thì không thật. Như gương mặt của chúng ta thuở mười tám, mười chín tuổi, đến ba mươi năm sau những người quen gặp lại còn nhớ không? Hẳn là không. Tại sao? Tại mặt chúng ta đổi rồi. Nếu khoảng ba mươi năm sau gặp lại lần nữa thì hẳn là không nhớ nổi. Nó luôn luôn đổi thay, như vậy sao gọi là thật được? Còn mặt thật xưa nay thì ngàn đời không đổi, nghĩa là ai nhận được thì thấy nó không đổi thay bao giờ.
Hỏi bản lai diện mục như thế nào, đến chỗ đó thì ngài im lặng giây lâu, nhưng không phải im lặng rồi thôi, mà ngài hỏi lại: Hiểu chăng? Pháp Loa thưa chẳng hiểu, liền bị đánh đòn. Như vậy ngài đã chỉ mặt thật xưa nay chưa? Nếu đã biết có chỉ rồi thì phải thấy, nếu không thấy cũng như chưa chỉ. Chỗ này phải ráng thấy chứ tôi cũng không chỉ được.
Pháp Loa hỏi: - Thế nào là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp?
Ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp là chỉ báo thân hay ứng thân Phật. Phật do tu nên có những phước báo, hiện thân có tướng tốt.
Ngài đáp:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.
Đây là ngài dẫn trong kinh Kim Cang ở đoạn Phật giải thích về pháp thân. Chữ Ta trong bài kệ là chỉ cho Như Lai, mà Như Lai là chỉ cho pháp thân. Chúng ta học đạo là cốt đạt được pháp thân chứ không phải trọng tâm ở báo thân hay hóa thân, vì hai thân này có tướng nên thuộc về sanh diệt. Dù tướng tốt như Phật, hiện nay cũng không còn, chỉ có những tượng trên bàn chúng ta thờ lạy. Pháp thân mới là không sanh không diệt. Thế nên ngài Pháp Loa hỏi về ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của báo thân thì ngài liền dẫn kinh Kim Cang giải thích về pháp thân. Nghĩa là nếu còn nặng về báo thân, hóa thân đó là hành đạo tà, không thấy được Phật pháp thân.
Pháp Loa hỏi: - Thế nào là Phật?
Ngài đáp: - Tấm cám ở dưới cối.
Câu nói nghe thật lạ lùng. Nếu là chúng ta chắc hẳn sẽ giải thích rõ Phật là giác, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn. Chúng ta trả lời có vẻ thông suốt hơn ngài. Ngài đáp nghe lạ, không dính với câu hỏi. Tại sao hỏi Phật lại trả lời tấm cám ở dưới cối? Nếu hỏi gạo trắng gạo lức mới chỉ như thế. Thật ra từ lâu chúng ta thường quen định nghĩa mà không nhận chân cái thật. Như đoạn trước đã nói, nếu ngộ nếu thấy được thì không có gì ngoài Phật, tức là ngoài tâm. Ngoài tâm không có Phật, ngoài tâm cũng không có vật. Vật không ngoài tâm, tâm không rời vật, tâm vật không hai, nên nói tấm cám dưới cối tức là nói đến tâm, mà tâm đó là tâm Phật. Đó là đã trả lời về ý Phật.
Lại hỏi: - Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?
Ngài đáp: - Bánh vẽ.
Bánh vẽ có no bụng không? Chúng ta cứ tìm ý Tổ sư từ Ấn Độ sang mà không tìm lại nơi mình xem cái gì là chân thật, nên ngài bảo: Bánh vẽ.
Pháp Loa hỏi thêm: - Thế nào là đại ý Phật pháp?
Ngài đáp: - Cùng hầm, đất không khác.
Nếu hỏi ngài Hoàng Bá câu này thì bị đánh ba gậy. Ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà trả lời: Cùng hầm, đất không khác. Câu này nói điều gì? Như chúng ta đào đất dưới hầm, thì trong hầm hòn đất thứ nhất, thứ hai, thứ ba không khác nhau. Cũng như vậy hai câu hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang và thế nào là đại ý Phật pháp không khác nhau, đều là bánh vẽ. Cả hai câu hỏi giống như đất cùng một hầm, không có ý nghĩa khác, chỉ câu trả lời bánh vẽ ở trên là đủ.
Ngài Pháp Loa lại hỏi thêm:
- Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không? Triệu Châu nói không, ý chỉ thế nào?
Ngài đáp:
- Chất muối ở trong nước, keo xanh ở trong sắc.
Nước biển mặn, chất mặn không ở ngoài nước biển. Trong các thứ màu pha trộn để vẽ, màu được dính bền lâu là nhờ chất keo trộn ở trong. Vậy trong nước biển có sẵn chất muối, trong màu sẵn có chất keo. Câu trả lời không đó không phải là cái không suông mà đã ẩn sẵn cái có, giống như trong nước biển không thấy chất muối nhưng đã ẩn sẵn chất muối, trong sắc không thấy chất keo nhưng đã ẩn sẵn chất keo, không cần tìm ở đâu khác. Đó là để chỉ tất cả sự vật, tất cả các pháp không có hai bên, không thuộc về có, không thuộc về không. Trong cái không có cái có, trong cái có đã có cái không. Như vậy đúng là tinh thần Bát-nhã.
Ngài Pháp Loa hỏi thêm:
- Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào?
Nguyên ngài Sơ Sơn đến hỏi ngài Quy Sơn: Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi cây ngã bìm khô thì thế nào? Ngài Quy Sơn cười ha hả rồi thôi.
Hữu cú là câu có, vô cú là câu không. Tất cả ngôn ngữ của chúng ta đều lập trong đối đãi, hoặc có không, hoặc phải quấy, hơn thua, xấu tốt... Quý vị thử nói một câu không đối đãi nghĩa là đừng mắc kẹt bên này bên kia, thử nói xem! Chúng ta luôn luôn có bệnh khi nói thì hỏi phải không, tức là phải đối với quấy, hoặc hỏi có không là có đối với không, đúng không là đúng đối với sai... Nghĩa là ai nói chuyện với chúng ta cũng đều trông đợi mình đáp lại hoặc là đồng hoặc không đồng với quan niệm của họ, nhưng trả lời đồng hay không đồng cũng đều không đúng. Như vậy tất cả chúng ta cả ngày luôn luôn là nói hai bên, mà càng nói hai bên thì càng xa chân lý, nhưng vì quen trong đối đãi nên chúng ta cứ nói theo lối hai bên. Thế nên ngài làm một bài kệ dài để chê trách lối nói này:
Hữu cú vô cú
Bìm khô cây ngã
Mấy kẻ nạp tăng
U đầu sứt trán.
Hữu cú vô cú là câu có câu không. Nói có nói không là đại biểu cho tất cả lời nói đối đãi có không, phải quấy, hơn thua...; những gì hai bên đều nằm trong nghĩa có và không này. Bìm khô cây ngã, câu có câu không giống như dây bìm leo trên cây, vì nó chỉ là tạm không phải thật. Nếu cây ngã thì thế nào? Bìm và cây đều tiêu tan, nhưng mấy kẻ nạp tăng tức là những người xuất gia u đầu sứt trán vì cây ngã trúng! Chúng ta lúc nào cũng đeo dây có, dây không, nên nó ngã rồi u đầu sứt trán. Vì kẹt nơi có, nơi không mà đời tu của chúng ta phải nhọc nhằn khổ sở, khó thành công. Nếu cả ngày từ sáng đến chiều chúng ta đừng nói câu nào kẹt vào hai bên có không thì chúng ta thảnh thơi như là sống với Niết-bàn hiện tại, Niết-bàn ngay trước mắt. Trái lại thì Niết-bàn ở tít mù xa tìm không ra nên u đầu sứt trán. Đây là chỗ dứt ngôn ngữ vậy.
Hữu cú vô cú
Thể lộ gió thu
Hằng hà sa số
Va dao chạm bén.
Ở các nơi thời tiết rõ ràng có bốn mùa xuân hạ thu đông, mùa thu là mùa lá đổ, gió thu thổi lá vàng rơi, thân cây bày ra trơ trọi trước gió thu nên nói thể lộ gió thu. Khi chấp câu có câu không tức là chấp hai bên, thì cái chân thật hiện tiền người ta không bao giờ thấy, cũng như vào mùa thu lá rụng hết thân cây bày trơ trọi nhưng không ai thấy rõ. Rồi hằng hà sa số, bao nhiêu hạng người luôn kẹt bên này bên kia nên gọi là va dao chạm bén, tức là bị trầy da không được bình an lành lặn.
Hữu cú vô cú
Lập tông lập chỉ
Đập ngói dùi rùa
Trèo non lội nước.
Lập tông lập chỉ: trong đạo Phật có nhiều vị tu cũng lập tông nói về hữu (Hữu tông) nói về vô (Không tông). Như vậy lập tông lập chỉ để thừa nhận lý lẽ đối đãi như là chân thật. Nếu làm như thế chẳng khác nào kẻ đập ngói dùi rùa là hành động ngu xuẩn không bao giờ được kết quả, chỉ là khổ sở thôi, nên nói là trèo non lội nước để chỉ sự cực nhọc mà không có lợi ích.
Vậy bốn câu này nói nếu đứng bên có bên không rồi chủ trương tông chỉ của mình là có là không... thì chỉ là những chuyện nhọc công vô ích. Thuở xưa khi muốn nấu cơm người ta lấy cây dùi dùi thanh củi cho nó nóng phát khói rồi để bổi vào cho cháy. Dùi củi khô lấy lửa thì được, nếu dùi mai rùa để lấy lửa là việc làm tốn công vô ích. Lại muốn nấu cơm người ta phải giã gạo, nếu bỏ ngói vào cối giã hẳn không thành gạo.
Hữu cú vô cú
Chẳng có chẳng không
Khắc thuyền mò kiếm
Tìm ngựa cứ hình (bản đồ).
Ngày xưa người ta thường dùng tứ cú bách phi. Tứ cú là: có, không, cũng có cũng không, cũng chẳng phải có cũng chẳng phải không. Chẳng có tức thuộc về không, chẳng không thuộc về có, nên nói có không là đủ rồi, những vế sau chỉ làm rối thêm thôi. Nếu chúng ta mắc kẹt hai bên, hoặc thấy có hoặc thấy không thì chẳng khác nào người khắc thuyền mò kiếm. Trong sách Lã Thị Xuân Thu ghi: Có một người ngồi trên thuyền qua sông, khi thuyền đến giữa sông anh cầm kiếm sẩy tay rớt kiếm xuống nước, anh khắc vào mạn thuyền làm dấu. Khi thuyền đến bờ anh nhảy xuống nước, ngay chỗ khắc dấu để mò tìm cây kiếm. Như vậy làm sao tìm được? Đó là chỉ hạng người cố chấp ngu si.
Tìm ngựa cứ hình, hình là bản đồ. Sách xưa kể Bá Nhạc là một người giỏi xem tướng ngựa, ông viết một quyển sách tên là Tướng Mã Kinh, nói về tướng ngựa. Khi ấy con ông muốn mua một con ngựa giỏi, nên theo lời chỉ dẫn trong quyển sách để đi tìm mua ngựa, cứ đối chiếu theo những gì trong sách tả, rốt cuộc chỉ mua được ngựa tồi. Ông cha thấy vậy mới bảo con ông là kẻ án đồ sách ký, tức là căn cứ bản đồ mà tìm ngựa là ngu. Hai điển tích này nói lên sự sai lầm của người cố chấp khờ dại.
Hữu cú vô cú
Hồi hỗ hay không
Nón tuyết giày hoa
Ôm cây đợi thỏ.
Hồi hỗ là cái này lẫn cái kia, cái kia lẫn cái này. Nếu ai chấp chặt vào câu có câu không, có lẫn hay không lẫn nhau, cả hai giống như nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ. Chúng ta lấy hoa sứ kết làm giày, hoặc ở các nước có tuyết nhiều như Canada chẳng hạn, mình hốt tuyết làm thành nón v.v... có bền không? Nón tuyết giày hoa, nghe có giày, nón, chúng ta tưởng là thật nhưng chỉ là hư dối tạm bợ.
Ôm cây đợi thỏ, trong sách Hàn Phi Tử kể câu chuyện: Có anh nông dân đi làm ruộng, một hôm chợt có con thỏ từ trong rừng chạy ra gấp, đụng phải gốc cây nhào xuống chết, anh mừng quá lượm đem về làm thịt. Anh nghĩ chuyện ấy có thể sẽ xảy ra nữa, nên ngồi chờ ở gốc cây suốt mấy ngày, rốt cuộc không được con thỏ nào cả. Đó là để nói sự việc hy hữu bất thần xảy ra một lần, kẻ ngu lại tưởng là chuyện thường rồi bám vào đó chờ đợi, rốt cuộc chỉ là vô ích thôi. Chúng ta thường có bệnh ôm cây đợi thỏ. Như những người mua vé số được trúng một lần, đó là việc bất thần, nhưng lại đi mua tiếp để đợi trúng nữa, có khi suốt đời không trúng thêm lần nào.
Tóm lại đoạn này nói người chấp có chấp không hoặc lẫn có lẫn không, giống như kẻ đội nón tuyết, mang giày hoa, hay kẻ ngồi chờ thỏ đụng vào gốc cây chết. Đó là những người rất khờ dại.
Hữu cú vô cú
Tự xưa tự nay
Chấp tay quên trăng
Đất bằng chết chìm.
Người chấp câu có câu không hoặc chấp xưa chấp nay, cũng giống như người chấp ngón tay mà quên mặt trăng. Câu này xuất xứ từ hai bộ kinh, Viên Giác và Lăng-nghiêm. Trong kinh Viên Giác có câu: Tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ. Tất cả kinh Phật dạy giống như ngón tay chỉ mặt trăng. Câu này chỉ có đạo Phật dám nói chứ tôn giáo khác không dám. Câu nào của các vị giáo chủ nói ra, người tín đồ đều xem như khuôn vàng thước ngọc, không bao giờ dám xem thường, thế mà Phật dạy, tất cả kinh Phật nói ra giống như ngón tay chỉ mặt trăng. Vào đêm mùng ba mùng bốn, mặt trăng lưỡi liềm ở hướng tây, có người nghe nói đêm nay có trăng liền nhìn bốn phía nhưng không thấy, hỏi trăng ở đâu, người thấy mới lấy tay chỉ, người muốn tìm mặt trăng không phải nhìn đầu ngón tay mà phải nương đầu ngón tay nhìn thấy mặt trăng ở chân trời. Như vậy ngón tay không phải là mục đích mà là phương tiện hướng cho người nhìn theo để thấy mặt trăng, mặt trăng mới là cứu cánh. Cũng thế, không phải chúng ta chấp lời Phật dạy làm cứu cánh mà phải nương lời dạy để thấy được cái chân thật của chính mình. Cái chân thật đó không nằm trong kinh mà ở ngay nơi con người, nơi bản tâm bản tánh của chúng ta. Như vậy ai chỉ thấy kinh là cứu cánh thì lầm ý Phật. Thế mà ngày nay đa số người tu chỉ biết tụng kinh, cho tụng kinh là tu, chứ không nhân nơi kinh để nhận ra cái Phật muốn chỉ. Đó là một điều lầm lẫn. Việc này đã sẵn trong lời Phật dạy, không phải mới đặt ra sau này.
Nếu chúng ta chấp có chấp không, chấp xưa chấp nay cũng giống như người chấp ngón tay là mặt trăng nên không thấy được mặt trăng thật. Như vậy là đất bằng chết chìm. Người ta xuống sông xuống biển bị chết chìm, còn người chấp chặt có không ngay trên đất bằng đã chết chìm rồi, cũng như giữa ban ngày mà không thấy được ánh sáng vì đã bị mù.
Hữu cú vô cú
Như thế như thế
Chữ bát mở ra
Sao không nắm mũi?
Chữ bát mở ra nguyên chữ Hán là bát tự đả khai. Bát tự là chữ bát nhưng có chỗ giải nghĩa bát tự là tám chữ, rồi dẫn câu kinh Niết-bàn: sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc. Đây là một lầm lẫn vì không hiểu được ý nhà thiền. Hai chân mày trên mặt chúng ta nằm hai bên, ở giữa hở giống hình chữ “?” của chữ Hán. Chữ bát mở ra là hai chân mày đã mở trống, liền đó chụp lấy lỗ mũi, tức là phương tiện đã bày ra rồi thì phải nhận ra chỗ cứu cánh. Lỗ mũi là nguồn sống của chúng ta, nó nằm sẵn trên mặt nhưng ít ai thấy rõ lỗ mũi mình, chỉ lo nhìn người, nhìn vật, nhìn tất cả bên ngoài. Mũi là cái chân thật, là sự sống của thân này mà chúng ta không thấy, chỉ thấy những vật bên ngoài rồi tưởng là hay, là đủ, nhưng sự thật mạch sống của mình lại không thấy.
Trong đoạn này ngài muốn nói câu có câu không, những cái đó như thế như thế, tức là đã chỉ bày ở trên rồi, đã thấy rõ nó là không thật, chấp có không là khờ dại, là không đúng... Biết rõ như thế thì phương tiện đã chỉ bày giống như chữ bát đã mở liền nắm mũi tức là ngay đó nhận ra chân lý, không phải tìm kiếm ở đâu nữa. Đó là ngài nhắc cho chúng ta thấy rõ ngài đã chỉ bày cụ thể rồi.
Hữu cú vô cú
Ngó tả ngó hữu
Lau chau mồm mép
Ồn ào náo động.
Chấp có chấp không, ngó bên này bên kia, bên phải bên trái..., bày ra các thứ ngôn ngữ lăng xăng, cãi vã nhau phải quấy hay dở... nên ồn ào náo động. Hiện nay chúng ta hay cãi nhau, hay phân trần là tại chấp hai bên, tôi phải người quấy v.v... thế nên ai nói mình quấy người phải thì nổi giận phân trần với người này người khác thành ồn ào cả ngày.
Nếu người nào không chấp phải quấy có không thì hẳn là không cãi rầy với ai. Trái lại nếu chấp phải quấy có không thì khờ dại đến độ nào? Hiện nay tất cả chúng ta là người tu, người tỉnh giác, không lẽ lại khờ dại đến độ giống như kẻ ôm cây đợi thỏ, khắc thuyền mò kiếm? Sở dĩ thiên hạ cãi nhau ồn ào cũng là vì có không phải quấy. Nếu biết những cái đó không thật, là nón tuyết, là giày hoa thì cười thôi. Giả sử hai người cãi nhau rồi hỏi ai đúng ai sai, chúng ta sẽ nói thế nào? Hẳn là cười trừ chứ không nói đúng nói sai được, nhưng nếu chúng ta chỉ cười thì thiên hạ nói mình ba phải.
Thiên hạ đều bắt chúng ta ở một bên, hoặc đồng quan niệm với họ hoặc là phía đối nghịch, mà bên nào cũng là không đúng. Vì thế trong cuộc sống, một người mê dẫn những người khác đi theo trong mê, nên bao nhiêu thưa kiện, bao nhiêu cãi vã đi đến đánh nhau đều tại chấp hai bên.
Hữu cú vô cú
Đau đáu lo sợ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây vui thích.
Nếu còn kẹt ở có không thì luôn hồi hộp lo âu sợ sệt. Nay cắt đứt sắn bìm tức là cắt đứt có không thì tự nhiên đó đây vui thích, mình vui, người cũng vui.
Như vậy chúng ta thấy việc tu hết sức là giản đơn. Nói thì nhiều kinh sách nhưng đều gốc ở không chấp hai bên có không phải quấy. Vậy nếu trong chúng có ai làm gì trái ý nhau, lên thưa kiện nhờ phân xử, người lớn phải xử thế nào cho đúng đạo lý? Chỉ xử một câu: “hai gã ngu đi xuống đi!”, là xong việc. Câu đó là đúng nhất chứ không còn xử thế nào nữa, vì đó là những kẻ khắc thuyền mò kiếm, ôm cây đợi thỏ, xử làm sao được!
Thiết nghĩ khi người đến tham vấn, chỉ hỏi một câu mà ngài Trúc Lâm Đầu-đà đọc một mạch cả bao nhiêu câu như thế này, nếu không thông minh sáng suốt làm sao ngài nói được như vậy. Chúng ta giỏi lắm chỉ nói bốn câu là hết ý. Như thế mới thấy khi giác ngộ rồi thì ngôn ngữ không có giới hạn.
Nói đến đây ngài bèn bước xuống tòa.