Về phần thi phú của ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà, ở đây tôi chọn lọc những bài có tính cách Phật pháp để học hiểu tinh thần đạo đức của ngài. Còn chuyện xử thế, chuyện trong triều chính chúng ta không cần học.
Bài đầu trong phần thi phú này là Đăng Bảo Đài Sơn.
Âm:
ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN
Địa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận,
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm ngữ tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.
Dịch:
LÊN NÚI BẢO ĐÀI
Đất vắng đài thêm cổ,
Ngày qua xuân chửa nồng.
Gần xa mây núi ngất,
Nắng rợp ngõ hoa thông.
Muôn việc nước trôi nước,
Trăm năm lòng nhủ lòng.
Tựa hiên nâng ống sáo,
Đầy ngực ánh trăng lồng.
(Ngô Tất Tố)
Giảng:
Bài này vừa tả cảnh Bảo Đài Sơn, vừa nói lên tâm hồn đạo đức của một con người đã sống trong đạo. Bảo Đài Sơn, theo sử ghi có ba chỗ: 1- Bảo Đài thuộc về Bảo Lộc ở châu Ái (nay là Thanh Hóa), 2- Bảo Đài Sơn ở xã Đông Mạc huyện Vọng Doanh, 3- Bảo Đài là một ngọn trong dãy núi Yên Tử. Theo đây chúng ta có thể hiểu Bảo Đài Sơn này là một ngọn trong dãy núi Yên Tử, thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Lời dịch của ông Ngô Tất Tố được các nơi công nhận là hay, nên chúng ta không cần sửa lại.
Đất vắng đài thêm cổ,
Ngày qua xuân chửa nồng.
Hai câu này nói lên cảnh vắng vẻ tô điểm thêm cho đài. Nếu đài xưa nằm ở chỗ nhộn nhịp sẽ mất đi vẻ cổ kính của nó. Và khi ngài lên thăm Bảo Đài Sơn chưa phải vào cuối mùa xuân.
Gần xa mây núi ngất,
Nắng rợp ngõ hoa thông.
Nghĩa là mây phủ trên đầu núi, ở xa trông thấy mờ mịt, và khi trời nắng những con đường leo lên núi, hoa nở nhiều rợp bóng. Đó là bốn câu diễn tả hình ảnh đẹp của Bảo Đài Sơn.
Muôn việc nước trôi nước,
Trăm năm lòng nhủ lòng.
Khi nhìn xuống dòng nước hay dòng suối, chúng ta sẽ thấy từng đợt nước chảy qua, đợt sau nối tiếp liên tục không dừng. Sự việc ở đời cũng vậy, cứ việc này nối tiếp việc khác liên miên trôi mãi không bao giờ dừng lại một chỗ. Con người chúng ta cũng vậy, như ngay giờ phút này chúng ta đang như thế này, qua một hai phút sau nó đã đổi thay, rồi hai ba phút sau lại đổi, đổi mãi, từ con người trẻ lần đến già, ai cũng như ai đều thế cả. Như vậy mọi sự vật trên thế gian này luôn luôn biến chuyển, biến chuyển tức là không dừng đứng ở một chỗ nào, nhưng chúng ta cứ nghĩ mình trẻ mãi chứ không dám nghĩ mình đang già và từ từ đi đến chỗ cuối cùng là chết.
Vì vậy tôi thường dùng thí dụ “chiếc xe định mệnh”: Có một số người bước lên chiếc xe lửa tự động, mà cuối đường rầy là bờ vực nhô ra biển. Lúc đầu xe chạy chúng ta thấy cảnh thành phố, nhà cửa, người, vật... nên cảm thấy vui. Khi xe chạy gần tới biển mới hốt hoảng muốn nó dừng, nhưng xe tự động làm sao dừng được. Nó cứ chạy, chạy mãi và đến cuối đường là rơi xuống biển, thế là hết một đời. Chuyến xe định mệnh đó cũng giống câu muôn việc nước trôi nước, là muôn sự việc cứ trôi qua mãi, muốn dừng lại cũng không được. Con người cũng vậy, đang sống an ổn bình thường, cảm thấy đời cũng vui, không có gì phải lo sợ. Nhưng khi già yếu bệnh hoạn mới bắt đầu lo cái chết sắp đến, lúc đó lại muốn sống. Cầu trời khẩn Phật sao cho sống thêm năm mười tuổi nữa, nhưng cầu vẫn không được. Đến phút chót cũng phải đành tắt thở thôi, không ai thối thác, không ai trốn tránh được sự việc như thế cả. Vậy mà trong lúc xe đang chạy chưa gần biển, ai cũng hỉ hả vui cười, còn giành chỗ ngồi của nhau nữa chứ. Thấy chỗ ngồi người khác tốt hơn lại muốn giành. Người bị ngồi dưới sập, dưới gầm xe thì trách hờn, chửi rủa; người được chỗ tốt thì ngồi tréo chân nhịp đùi, hát chơi... Nhưng trong số người bước lên xe đó, có vài người sáng suốt biết số phận mình sớm chầy cũng rơi xuống biển. Vì ý thức được như thế nên khi lên xe, dù có ai giành chỗ, ai cãi vã, ai chê ngu cũng mặc, họ cứ cặm cụi tìm những miếng nylon kết lại thành phao. Những người ngồi tréo chân ở trên cho những người này ngu si kỳ lạ, không ngồi chơi ngắm cảnh có phải sướng hơn là cặm cụi kết phao làm gì. Đến khi xe chạy gần biển, họ mới hoảng sợ mong nó đừng chạy tới nữa, nhưng nó vẫn chạy và cuối cùng phải rơi xuống biển. Khi ấy những người biết lo kết phao, nhờ ôm phao họ nổi và trôi giạt vào bờ, còn những người chỉ lo ăn chơi cười giỡn khi rớt xuống biển thì không cứu được.
Như vậy những người biết lo kết phao đó thí dụ như ai? Không biết quý vị có chịu ngồi cặm cụi kết phao, hay nghe ai nói trái ý, hoặc chê mình ngu dại rồi cũng nổi giận cãi lại với họ, thì thời giờ kết phao đã muộn, phao kết không kịp lúc xe rớt xuống biển không làm sao thoát nguy được. Vì vậy chúng ta tu là đã thấy xa, biết số phận mình dài lắm cũng chỉ tám chín mươi tuổi thôi, nhưng bây giờ nhìn lại mỗi người thì có người được một phần tư, người được phân nửa, có người đã hai phần đường rồi. Thế mà có người biết lo, người chưa biết lo, chưa biết được số phận của mình. Do đó người tu là người biết lo xa có cái nhìn tường tận thấy rõ thân phận con người từ buổi đầu cho đến lúc cuối, nên chuẩn bị những gì sắp đến cho mình chứ không phải tu là tiêu cực là buồn nản. Nếu chúng ta giỏi kết được nhiều phao, khi gần rơi xuống biển thấy ai sợ thì bố thí cho họ, như vậy là tiếp cứu thêm một số người chung quanh. Còn nếu dở chỉ kết được một phao thì chỉ giúp mình thoát nạn cũng là quý rồi. Đó là dẫn ý câu vạn sự thủy lưu thủy hay muôn việc nước trôi nước.
Trăm năm lòng nhủ lòng. Nghĩa là mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm khi thấy việc gì ở thế gian có vẻ quyến rũ, chúng ta liền tự nhủ: Ta là người xuất gia tu đạo giải thoát, là người có trách nhiệm cứu vớt chúng sanh, thì không nên vướng bận chuyện tầm thường thế tục. Những gì làm cho ô nhiễm, làm cho chúng ta lơi lỏng trên con đường tu, chúng ta phải dừng, phải ngăn chặn không cho tiến tới nữa. Chúng ta phải tự nhắc nhở mãi như vậy, chứ không đợi thầy tổ nhắc. Giả sử chúng ta đi đâu xa, gặp duyên lôi kéo, nếu chờ thầy nhắc e muộn mất đi. Vì vậy chúng ta phải ghi nhớ những gì đã phát nguyện và phải quyết tâm thực hành không nên xao lãng. Vừa có một chút lơi lỏng là phải cảnh tỉnh ngay, không để nó trôi qua mất đi một đời vô ích. Như vậy hai câu này đã mang hết ý nghĩa nhắc nhở đời tu của chúng ta rồi.
Tựa hiên nâng ống sáo,
Đầy ngực ánh trăng lồng.
Ngài tu sao thấy nhàn quá! Đứng tựa lan can, cầm ống sáo thổi, trong lúc đó nhìn ánh trăng rọi sáng đầy cả ngực. Đây ngài diễn tả, khi đứng trên ngọn núi, tựa lan can, đài cổ cầm ống sáo thổi, nhìn lại ánh trăng đã rọi sáng đầy cả lồng ngực mình. Đó là hình ảnh đẹp đẽ sau hình ảnh đen tối ở trước. Hình ảnh đen tối ở trước đưa chúng ta đến đường cùng ngõ cụt. Hai câu này diễn tả trên chỗ an tịnh của ngọn núi: tựa lan can, cầm ống sáo thổi, đó là một hiện tượng vui vẻ. Không phải thổi sáo để cho tâm hồn phiêu diêu nơi này nơi kia, mà khi cầm sáo lên thổi, thấy cả lồng ngực sáng ngời. Đây diễn tả tâm người đạt đạo nhìn thấy muôn sự muôn vật bị vô thường cuốn hút mà các ngài vẫn an nhiên tự tại. Các ngài được an nhiên tự tại vì nội tâm các ngài đã sáng ngời, đã giác.
Cho nên người đến chỗ này không còn sợ vô thường, không còn phải nhắc nhở ráng tu nữa. Vì đã giác ngộ nên mới tự tại. Ở đây người nào được như vậy có cầm sáo thổi cũng không tội, còn chưa được thì xin miễn, vì thổi sáo thì phải nhịp ca, mà ca toàn những bài tình tứ thế gian là có lỗi làm cho tâm mình phiêu bạt, phóng túng. Vì vậy nếu thật giác ngộ, thật thấy đạo thì trước cảnh vô thường chúng ta vẫn thong dong tự tại vì tâm hồn đã trong sáng rồi.
Tóm lại bài này chúng ta thấy tuy ngài tả cảnh mà rất là đạo lý.
✵✵✵
Âm:
ĐẠI LÃM THẦN QUANG TỰ
Thần Quang tự liểu hứng thiên u,
Sanh thố phi ô thiên thượng du.
Thập nhị lâu đài khai họa trục,
Tam thiên thế giới nhập thi mâu.
Tục đa biến thái vân thương cẩu,
Tùng bất tri niên tăng bạch đầu.
Trừ khước chú hương tham Phật sự,
Tá dư niệm liễu tổng hưu hưu.
Dịch:
CHÙA THẦN QUANG NÚI ĐẠI LÃM
Thần Quang chùa vắng hứng u nhàn,
Thỏ ngọc, vầng ô dạo khắp trời.
Mười mấy lầu đài bày tranh vẽ,
Ba ngàn thế giới mắt thơ trùm.
Thói đời thay đổi dường mây nổi,
Tùng chẳng biết năm, sư bạc đầu.
Ngoài tuần hương đốt tham Phật sự,
Bao nhiêu niệm lự thảy thôi thôi.
Giảng:
Mỗi bài tả cảnh, ngài dùng bốn câu để tả cảnh, còn bốn câu có ý nghĩa đạo lý. Tựa bài Đại Lãm Thần Quang Tự là chùa Thần Quang ở trên núi Đại Lãm thuộc huyện Quế Dương, được xây dựng từ thời vua Lý Nhân Tông. Vua Trần Nhân Tông hay nói cách khác là Điều Ngự Giác Hoàng hoặc ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà lên viếng, khi đến viếng ngôi chùa này ngài nhìn thấy cảnh u tịch của nó nên tức cảnh đề thơ.
Thần Quang tự liểu hứng thiên u,
Sanh thố phi ô thiên thượng du.
Hai câu này diễn tả cảnh chùa u tịch làm cho lòng người cảm thấy thích thú, thêm vào trí tưởng tượng là cưỡi mặt trăng mặt trời ngao du trong cõi hư không.
Thập nhị lâu đài khai họa trục,
Tam thiên thế giới nhập thi mâu.
Họa trục là bức tranh vẽ. Mười hai lâu đài mở bày bức tranh vẽ. Ba ngàn thế giới vào trong con mắt của nhà thơ.
Tục đa biến thái vân thương cẩu,
Thế tục có nhiều đổi thay kỳ lạ giống như mây hiện ra hình chó xanh. Ý nói sự đời thay đổi không lường.
Tùng bất tri niên tăng bạch đầu.
Cây tùng không biết bao nhiêu tuổi mà nhìn vị tăng đã bạc đầu rồi.
Trừ khước chú hương tham Phật sự,
Nghĩa là ngoài việc thắp hương để thưa hỏi Phật sự thì:
Tá dư niệm liễu tổng hưu hưu.
Nghĩa là bao nhiêu niệm lự hãy buông đi.
Như vậy chúng ta thấy bốn câu đầu ngài diễn tả Thần Quang chùa vắng hứng u nhàn. Cảnh chùa Thần Quang là nơi vắng vẻ u nhàn. Thỏ ngọc, vầng ô dạo khắp trời. Mặt trăng, mặt trời qua lại trong hư không, ngài tưởng như được cưỡi trên mặt trăng mặt trời dạo khắp bầu hư không. Mười mấy lầu đài bày tranh vẽ. Những lầu đài ở trên chùa hiện ra giống như một bức tranh vẽ. Ba ngàn thế giới mắt thơ trùm. Tam thiên đại thiên thế giới nằm trong con mắt của nhà thơ. Đây là nói lên tâm hồn thi sĩ của ngài.
Thói đời thay đổi dường mây nổi.
Chỗ nói vân thương cẩu là khi những cụm mây trắng tụ lại chúng ta thấy nó như con chó, cái nhà, hoặc cây cối..., như khi mây mờ hiện trên nền trời xanh thì giống hình con chó xanh, khi mây trắng nổi thì giống như con chó trắng, tùy theo sự thay đổi của cụm mây. Ở đây muốn nói tình đời thay đổi dường như mây nổi, lúc thấy hình này khi thì dạng khác không cố định, không dừng một chỗ. Quý vị thấy tình đời có đổi thay không? Chúng ta thấy, những người chung quanh có khi rất thương mến chúng ta có khi lại không thương. Nếu ôn lại bao nhiêu năm qua chúng ta sẽ thấy tình đời đổi thay. Khi mình ở địa vị quyền thế thì người chung quanh đối với chúng ta rất tốt, khi thất thời thất vận không làm gì được, thì những người chung quanh sẽ đối xử với mình ra sao? Chắc là tình thương và sự quý kính của ngày xưa biến thành ghét và khinh thường của ngày nay, chẳng khác nào chùm mây nổi đổi thay luôn luôn. Nghe như thế quý vị sẽ trách đời sao không có thủy chung, một lòng một dạ, nhưng quý vị trách vậy có được không? Trách đời hay trách mình, mình có vậy không? Mình tự hỏi mình có đổi thay hay không? Ngay như tôi đã khác xưa lắm rồi, nhờ có khác nên mới tiến bộ. Như vậy đứng trên lãnh vực người tu, khi mới xuất gia tâm hồn mình khác, thí dụ lúc mới tu nghe bà con thân nhân đến thăm thì mừng vì được người thân đến thăm, khi tu lâu rồi mới thấy càng bị trói buộc trong tình thế gian, tình gia đình thì sự tu hành bị ngưng trệ. Vì một người thân đến thăm có bao giờ nói Thầy tu tốt lắm, ráng tu đi, chẳng lẽ chỉ nói câu đó thôi sao? Ban đầu hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm ba má anh em. Sau được nghe kể người này giận người kia làm sao, xử sự tốt xấu thế nào, mình nghe rồi cũng bận lòng không yên. Như vậy càng được thăm càng rối rắm. Thế nên, ngày xưa mình muốn được nhiều người thân thăm viếng, nhưng lâu rồi không muốn ai thăm để an ổn tu hành cho có kết quả, đó là đổi thay rõ ràng. Chính lòng người tu cũng đổi thay huống nữa người đời. Tuy nhiên người tu đổi thay theo chiều tiến, còn người đời đổi thay bất thường. Mới ngày nào thân, bất thần có sự việc gì xảy ra rồi trở thành thù. Do đó người ta hay trách nhân tình thế thái là như vậy. Còn người tu luôn luôn chuyển hướng từ chỗ sơ cơ tầm thường tiến đến chỗ thâm thúy cao siêu, đó là chuyện thường của người tu. Tóm lại lòng người luôn luôn thay đổi kể cả lòng người tu, chứ không phải dừng ở một chỗ mãi.
Tùng chẳng biết năm, sư bạc đầu.
Những cây thông đâu biết nó bao nhiêu tuổi, nhưng lâu lâu nhìn lại chỉ thấy những vị tu ở đây đầu bạc trắng. Như vậy tất cả sự vật chung quanh tuy có đổi thay nhưng nó không ý thức được nó đổi thay, chỉ có con người biết nhìn lại mới thức tỉnh, biết rằng thân này sẽ đi lần đến cái già cái chết. Vì vậy chỉ có người tu mới biết được sự chuyển biến đó.
Hai câu kết thật là lý thú:
Ngoài tuần hương đốt tham Phật sự,
Bao nhiêu niệm lự thảy thôi thôi.
Ngoài tuần hương đốt để tham vấn hay học kinh ra, còn bao nhiêu niệm lự khác xin hãy thôi đi, đừng nuôi dưỡng chứa chấp nó. Quý vị có ưng ý câu đó không?
Như vậy chúng ta thấy cái nhìn hay đường lối tu của vua Trần Nhân Tông tức Trúc Lâm Đại Đầu-đà thật rõ ràng, ngài dạy hay ngài nói lên tâm niệm tu hành, ngoài sự lễ bái, tọa thiền, lúc nào có một niệm lự dấy lên đều phải thôi, phải dừng, phải buông, không nên giữ, không nên chứa chấp. Đó là lời ngài nhắc nhở sự tu hành cho chúng ta.
✵✵✵
Âm:
XUÂN HIỂU
Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.
Dịch:
BUỔI SỚM MÙA XUÂN
Ngủ dậy mở cửa sổ,
A, xuân về rồi đây!
Kìa một đôi bướm trắng,
Nhằm hoa phơi phới bay.
(Trần Lê Văn)
Giảng:
Bài này nói về buổi sáng mùa xuân, ngài diễn tả rất hay, rất khéo nhưng chỉ tả cảnh chứ không có ý nghĩa đạo lý nên tôi không phải giảng.
✵✵✵
Âm:
XUÂN CẢNH
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.
Dịch:
CẢNH XUÂN
Dương liễu hoa dày, chim hót thưa,
Bóng thềm, nhà vẽ, cụm mây chiều.
Khách sang chẳng hỏi việc nhân thế,
Cùng tựa lan can ngắm bầu trời.
Giảng:
Cảnh xuân này thật là xuân đạo vị, chẳng phải xuân thường.
Dương liễu hoa dày, chim hót thưa,
Nhìn thấy cảnh xuân qua cây dương liễu trổ hoa dày mịt với tiếng chim hót trên cành thưa từng tiếng.
Bóng thềm, nhà vẽ, cụm mây chiều.
Gió thổi đong đưa cành lá in bóng trên thềm, nhà vẽ là cảnh trang trí người ta vẽ lên ngôi nhà. Mùa xuân đã về có dương liễu trổ hoa, có chim hót trong cảnh chung quanh là bóng thềm, nhà vẽ với cụm mây chiều là những hiện tượng vô thường giả tạm, không thật có.
Khách sang chẳng hỏi việc nhân thế,
Cùng tựa lan can ngắm bầu trời.
Nếu có khách đến thăm không đem việc đời ra hỏi, chẳng hạn hỏi huynh đệ ở nhà có mạnh khỏe không, năm nay làm ăn có phát đạt không, thường gặp chuyện như ý không v.v...; mà chỉ cùng khách đứng ngắm bầu trời là đủ rồi. Song ít ai chịu như thế, nếu khách đến mình chỉ dẫn lên lan can để ngắm bầu trời thì chắc người đó ra về sẽ không bao giờ trở lại thăm nữa. Họ sẽ cho mình không biết lịch sự, tiếp khách mà không nói được một câu nào! Nhưng thật ra tất cả cảnh đã nói hết rồi, nào là hoa liễu nở, nào là chim hót, thêm vào đó những hình bóng tạm bợ vô thường không có gì thật hết, nhìn thấy cảnh liền tỉnh, nói chi nữa cho dư. Đó là ý nghĩa rất thâm trầm mà người đời ít ai chấp nhận. Khi gặp khách đến tiếp đón nồng hậu cười nói líu lo họ mới chịu, nếu không họ sẽ không vui.
✵✵✵
Âm:
XUÂN VÃN
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Dịch:
CUỐI XUÂN
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Chúa xuân nay bị ta khám phá,
Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.
Giảng:
Bài này nói theo từ ngày xưa là đắc ý nhất, nói theo từ thời nay là tâm đắc nhất của tôi, nên tôi đã từng giải thích nhiều lần rồi.
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Ý nói lúc còn nhỏ, về lý Bát-nhã sắc tức thị không, không tức thị sắc mình chưa biết, cho nên:
Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Mùa xuân đã về, thấy hoa nở lòng mình cũng rộn ràng thích thú, cũng vui tươi cười giỡn mừng đón xuân.
Chúa xuân nay bị ta khám phá,
Chúa xuân là dịch chữ đông hoàng diện, là chỉ vị thần của mùa xuân, nhưng nói chúa xuân thì nghe rõ hơn. Chúa xuân đây không phải là vị thần ở bên ngoài mà để chỉ tâm chân thật của chính mình, ngày nay mình đã nhận ra được nó rồi.
Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.
Khi đã nhận ra có cái chân thật ở ngay nơi mình, thì lúc đó trải chiếu ngồi trên giường thiền ngắm bao nhiêu thứ hoa nở hoa tàn rơi rụng từng cánh, lòng vẫn an nhiên không động. Quý vị thấy, cũng cảnh xuân đó mà khi mê thì có những thích thú, vui mừng nhộn nhịp theo cảnh xuân; khi đạt được đạo lý chân thật rồi, thì dù cho thấy hoa nở hoa tàn, lòng mình vẫn bình thản không rộn rã, không dính kẹt nó nữa. Nghĩa là không vì cảnh đẹp xấu, hoa nở hay tàn mà tâm xao xuyến. Chẳng qua khi mê tâm bị cảnh chuyển, lúc tỉnh cảnh phải tùy tâm. Quý vị thấy có được phần nào điều này hay chưa? Hay là xuân đến cũng vui mừng rộn rã, xuân tàn cũng buồn bã, cũng se thắt trong lòng chứ không thản nhiên nhìn hoa nở hoa tàn. Vì vậy chúng ta tu khi mê với lúc tỉnh có khác, cùng một cảnh mà hai cái nhìn khác nhau. Thế nên cổ nhân có câu:
Như nhau dọc mũi ngang mày,
Lòng phàm, lòng thánh khác nhau muôn trùng.
Về hình thức thì ai cũng như ai, nhưng trong lòng khi mê khi ngộ có khác. Không những người này khác với người kia mà chính bản thân mình lúc mê lúc ngộ cũng khác. Đó là để nói lên tâm hồn con người khi chưa hiểu đạo thấy cuộc đời cách khác, lúc hiểu đạo rồi lại thấy khác hơn. Như vậy quý vị đã tu chắc nhìn đời phải hơn người chưa tu chứ! Nếu chúng ta đã tu mà nhìn cuộc đời không khác với người chưa tu thì tâm chưa đổi chút nào, vì nếu tâm đã đổi thì phải thấy khác. Bài này tôi thích nhất là ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà diễn tả hai tâm trạng, lúc còn nhỏ và khi đã hiểu đạo, hết sức cụ thể chỉ trong bốn câu thơ ngắn gọn. Hồi chưa rõ lý sắc không là chưa hiểu đạo cho nên khi xuân về nhìn thấy hoa nở rộ, lòng mình cũng rộn rã bồi hồi. Ở đây tuy nói mùa xuân nhưng cũng muốn nói lên tất cả. Khi gặp cảnh vui, cảnh ưa thích thì tâm hồn cũng xao xuyến loạn động. Ngày nay đã đạt đạo rồi thì tất cả những gì ngày xưa mến thích, bây giờ đến mình vẫn thản nhiên, giả sử nó có bị tàn phai cũng không bận bịu, bồn chồn. Đó là tâm hồn của người tu. Làm sao trong một, hai, ba hoặc năm mười năm, tất cả tăng ni đều được như hai câu cuối của bài thơ này. Ngồi trên giường thiền nhìn cảnh đến đi, vui buồn mà lòng vẫn bình thản không vướng bận, không rộn rã nữa.
✵✵✵
Âm:
SƠN PHÒNG MẠN HỨNG
I
Thùy phược cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm hà tất mịch thần tiên.
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.
II
Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.
Dịch:
PHÒNG NÚI KHỞI HỨNG
I
Ai trói lại mong cầu giải thoát,
Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên.
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người đã lão,
Như cũ vân trang một chõng thiền.
II
Phải quấy niệm rơi hoa buổi sớm,
Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm.
Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng,
Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.
Giảng:
Hai bài thơ này tôi cho là rất lý thú và thật thiết yếu đối với người tu.
Thùy phược cánh tương cầu giải thoát,
Thùy phược là ai trói buộc, cánh là lại, tương cầu giải thoát là tìm cầu giải thoát. Nghĩa là ai trói buộc, mình lại đi tìm cầu giải thoát. Quý vị tu có phải cầu giải thoát không? Chúng ta tu là để cầu giải thoát. Như vậy giải thoát là nghĩa gì? Giải là mở, thoát là ra khỏi trói buộc, cho nên giải thoát là mở trói cho mình. Vậy thì chúng ta bị ai trói mà mong cầu mở? Thí dụ như mắt thấy sắc đẹp, thích sắc đẹp bị sắc đẹp trói; Tai nghe tiếng hay, thích tiếng hay, bị tiếng hay trói; mũi ngửi mùi thơm thích mùi thơm, bị mùi thơm trói; lưỡi nếm vị ngon thích vị ngon, bị vị ngon trói; thân xúc chạm vật mềm mại ưa thích, bị cái mềm mại trói... Nghĩa là tất cả sáu căn bị sáu trần trói buộc. Như vậy sáu trần trói buộc mình hay mình tự trói buộc? Hầu hết mọi người thường nói: tôi bị nghiệp trói, nên tu để giải nghiệp. Nghiệp trói bằng cách nào quý vị có thấy không? Nếu mắt thấy sắc đẹp không nhiễm thì nó có trói được không? Tai nghe tiếng hay không dính mắc bận bịu, nó có buộc được không? Đâu có gì trói buộc, trói buộc là do lòng mình nhiễm trước. Thực tế không ai trói mà mình tự trói nên ở đây nói Ai trói lại mong cầu giải thoát. Như vậy chúng ta tu cầu giải thoát hay cầu không nhiễm? Cầu giải thoát là thực tế hay cầu không nhiễm là thực tế? Nghĩa là chính chúng ta nhiễm thì bị trói, không nhiễm thì ai trói? Vì vậy chúng ta không thể cầu bên ngoài cứu mình mà chỉ cầu sao mình thường tỉnh không bị nhiễm sáu trần, đó là gốc.
Đây tôi dẫn câu chuyện tổ Tăng Xán gặp một Sa-di mới mười bốn tuổi là ngài Đạo Tín. Ngài Đạo Tín biết Tổ là người đạt đạo liền chắp tay bạch:
- Bạch Hòa thượng dạy cho con pháp môn giải thoát.
Tổ Tăng Xán nhìn thẳng vào mặt ngài Đạo Tín nói:
- Ai trói buộc ngươi?
Câu hỏi của Tổ làm cho ngài Đạo Tín sửng sốt, tìm kỹ lại một lúc rồi ngài thưa với Tổ:
- Không ai trói buộc con.
Tổ bảo:
- Không ai trói buộc, cầu giải thoát làm gì?
Ngay câu nói đó ngài Đạo Tín ngộ đạo.
Thật giản đơn làm sao! Không ai trói buộc, mình không cầu giải thoát, có giải thoát được không? Nếu không nhiễm thì không cần cầu, còn nhiễm dù ít vẫn bị trói, vì vậy phải cầu giải thoát. Từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của chúng ta, cái nào nhiễm đều bị trói, nếu không nhiễm thì được giải thoát tự tại. Như vậy trọng tâm của giải thoát là do mình, không nhiễm, không bị trói buộc mà cầu giải thoát là dư, là thừa, nên nói: Ai trói buộc mong cầu giải thoát.
Bất phàm hà tất mịch thần tiên.
Nghĩa là không phải phàm thì đâu cần tìm kiếm thần tiên làm gì? Tất cả chúng ta có mặt ở đây là phàm hay thánh? Ai cũng nói tôi là kẻ phàm phu, nếu tu thì nói là phàm tăng, không ai dám nói là thánh tăng cả. Mình đã nhận mình là phàm tại sao ngài lại nói bất phàm tức là không phàm? Trên thực tế thấy mình là phàm nhưng xét kỹ đến chỗ cứu cánh thì tất cả chúng ta không ai phàm hết. Nếu nói như thế quý vị sẽ thầm nghĩ mình là thánh, nhưng nếu nói là thánh ắt có tội vì mình còn nhiều xấu xa phiền não. Vậy tại sao ngài nói bất phàm hà tất mịch thần tiên? Trong kinh Lăng-nghiêm Phật dạy: Chỉ sạch phàm tình không cầu thánh giải (Đản tận phàm tình bất cầu thánh giải). Thế nên chúng ta tu chỉ dứt hết những cái xấu dở của tình phàm. Khi sạch hết rồi tức hết phàm là thánh. Như vậy thánh đâu ngoài con người phàm này. Đây tôi nói thực tế cho quý vị thấy, như chúng ta hiện nay thấy cái gì tốt thì ham muốn gọi đó là tham. Ai nói trái tai nổi giận gọi đó là sân. Thấy ai hơn thì ganh tỵ, thấy ai có tài có đức hơn, mình không ưa v.v... Tất cả những thứ tham, sân, si, ganh tỵ, oán hờn... đó là phàm tình. Bây giờ quý vị chịu khó bỏ đi, bỏ từng cái, khi những cái đó hết sạch thì quý vị là thánh rồi. Như vậy thánh không ở ngoài đến, thánh là do hết tâm phàm trở thành thánh, đâu cần tìm thần tiên làm gì. Chính mình hãy gạt bỏ sạch hết những thứ thói hư tật xấu thì cái sáng suốt trong lành của tâm thánh hiện ra. Do đó ngài không nói thánh mà nói bất phàm. Vì vậy chúng ta có thể tạm nói mình là nửa phàm nửa thánh, nếu sống với nửa phàm thì thánh ẩn. Thế nên chúng ta tu không cần bên ngoài, bên ngoài không làm cho chúng ta thành thánh, chính chúng ta bỏ được cái phàm thì là thánh chứ không tìm đâu xa.
Trong nhà thiền không nói chúng ta tu phải cầu được cái này cái kia, nếu cầu mà được là không phải chúng ta rồi. Chỉ cần dẹp bỏ những cái phàm thì thánh hiện, đó mới thật là chính mình. Như vậy chúng ta có dám tự hào chúng ta là bất phàm hay vẫn cho mình là phàm phu không khác? Thật ra mỗi người đều có phàm thánh lẫn lộn. Vì vậy người tu mà nói chờ ai điểm đạo cho mình mới thành thánh là nói gạt. Nếu có người điểm đạo mà mình còn tham, sân, si, tật đố, kiêu mạn... mà được thành thánh là chuyện vô lý vì không có ông thánh nào còn tham, sân... chẳng lẽ điểm đạo cho mình hết tham, hết sân liền sao? Mà chính mình phải dẹp sạch những tham, sân, si, xấu dở của mình rồi thì tự cái thánh sẽ hiện bày ra không cần tìm ở đâu. Như vậy chúng ta mới thật hiểu được Phật pháp, nếu khác đi là hiểu sai lầm. Vậy thì chỉ cần hai câu, chúng ta thấy bao nhiêu đạo lý trong đó: Không ai trói buộc thì không cần cầu giải thoát, chẳng phải phàm thì tìm thần tiên làm gì?
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.
Viên nhàn là vượn nhàn, mã quyện là ngựa mệt, nhân ưng lão là người đã già. Vượn nhàn đây tức là mỏi mệt được dừng nghỉ, ngựa thì nhọc, người thì già. Vượn, ngựa, người tất cả đều hiện tướng nhọc nhằn, mệt mỏi do sự biến chuyển đưa đến gần chỗ cuối cùng là tướng già. Nói tóm lại ba hình ảnh trên nói lên sự vô thường của cuộc đời. Tuy cuộc đời luôn luôn bị vô thường thúc bách con người đến chỗ già, chỗ chết, nhưng y cựu là như xưa, vân trang tức là cái nhà ở trên núi, nhất tháp thiền là một giường thiền, dù cho cuộc đời biến chuyển, dù cho con người bị đổi thay từ trẻ đến già, nhưng nơi vân trang người ngồi trên giường thiền như xưa không có gì đổi thay. Điều đó nói, mặc cho cuộc đời có muôn ngàn biến chuyển, nhưng người đạt được tâm chân thật thì trước sau như một không chút đổi thay, như xưa ở vân trang không có gì thay đổi. Đó là tinh thần của người tu.
Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Thị phi là phải quấy, niệm trục là niệm đi theo, triêu hoa lạc là sáng sớm hoa rơi rụng. Nghĩa là sáng sớm nhìn ở ngoài sơn phòng thấy các đóa hoa rơi từng cánh xuống đất thì niệm thị phi của chúng ta cũng theo đó mà rụng. Tâm danh lợi cũng theo trận mưa đêm mà lạnh đi.
Như vậy hai câu này ngài diễn tả ở trên sơn phòng, tức là căn phòng trên núi để tu, khi sáng ra thấy hoa trước cửa thất rơi rụng thì tâm thị phi cũng theo đó mà rụng, tối mưa đêm lạnh thì tâm danh lợi cũng lạnh theo mưa đêm.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.
Hoa đã hết, mưa đã tạnh, núi non quạnh quẽ. Một tiếng chim kêu, mùa xuân đã qua. Hai câu này nghe khó hiểu nhưng ý nghĩa rất thâm trầm. Bởi vì khi niệm thị phi của chúng ta rơi rụng hết, tâm danh lợi tan nát rồi, lúc đó cũng giống như là hoa hết, mưa tạnh, chỉ còn ngọn núi lặng lẽ. Như vậy khi tâm thị phi hết, tâm danh lợi cạn thì lúc đó còn một tâm thể nguyên vẹn lặng lẽ, cho nên dùng hình ảnh một ngọn núi lặng lẽ dường như vô tình, nhưng đây: Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn, trong ngọn núi tịch tĩnh đó lại có tiếng chim hót lên là mùa xuân đã qua. Như vậy để thấy niệm thị phi đã sạch, tâm danh lợi đã hết thì chúng ta còn một tâm thể thanh tịnh, tâm thể không phải vô tri vô giác, mà tánh giác bừng khởi ở trong đó không còn bị chi phối bởi thời gian cho nên nói mùa xuân tàn. Đó là chỗ kỳ đặc của ngài chỉ cho chúng ta thấy vậy.
Tóm lại tôi có ít lời nhắc nhở tăng ni và Phật tử qua hai bài Sơn Phòng Mạn Hứng. Hai bài này tăng ni cần phải học thuộc lòng, bởi vì trong đó có hai đặc điểm tôi muốn nhắc cho quý vị nhớ.
Thứ nhất, trong bài đầu ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ trọng tâm giải thoát nằm ở chỗ nào. Thứ hai, chỉ cho chúng ta thấy rõ tu cầu thành Phật, thành thánh là cầu nơi mình hay cầu nơi ai khác? Đó là hai đặc điểm mà Phật tử chúng ta hiện nay hay sai lầm.
Muốn được giải thoát sanh tử thì tâm sanh tử chúng ta phải dừng. Vậy tâm sanh tử là tâm nào quý vị có biết không? Tâm là cái biết, cái giác, mà cái biết cái giác nào dấy động là nhân sanh diệt, còn cái giác biết không dấy động thì không sanh diệt. Khi chúng ta khởi nghĩ thương, ghét, buồn, giận v.v... đó là những cái nghĩ động nên nó là nhân sanh tử. Như vậy chúng ta muốn giải thoát sanh tử, hay không sanh tử, thì phải dừng cái nhân sanh tử. Nhân sanh tử dừng lặng thì quả không sanh tử sẽ đến, không phải cầu, không phải tìm kiếm. Bởi giáo lý nhà Phật rất thâm sâu nên nhiều người học Phật không hiểu thấu đáo dễ bị mắc kẹt hoặc hiểu lầm, đi kiếm tìm, cầu xin ai khác bên ngoài cứu độ cho mình được giải thoát, đó là việc làm không hợp với Phật pháp. Muốn giải thoát là tự mình phải dừng những ý niệm dấy động tạo nghiệp, ý niệm dấy động tạo nghiệp dừng thì nghiệp quả đâu còn. Vì không có nghiệp nhân làm gì có nghiệp quả; mà không có nghiệp, cái gì lôi mình đi trong luân hồi sanh tử nữa, tức là tự mình đã giải thoát rồi. Thế nên bao nhiêu phương tiện tu hành của Phật tổ dạy chúng ta đều cốt dừng tâm sanh tử, mà muốn dừng tâm sanh tử thì phải chịu khó ngày đêm ngồi thiền mấy thời, tận lực hạn chế không cho dấy động tạo nghiệp. Khi tâm đã dừng lặng thì mầm sanh tử không còn, do đó nhân không tạo thì quả không có. Đây là gốc của sự tu hành, chứ không phải tu là cầu xin.
Đa số chúng ta hiện nay nặng về cầu xin. Giả sử trong gia đình có chuyện gì sầu muộn buồn khổ, lại cầu Phật thương con, gia hộ cho con qua khỏi nghiệp chướng để được giải thoát sanh tử. Như vậy tất cả mọi việc đều trông cậy vào chư Phật, chư tổ cứu giúp cho, nhưng nếu không dừng ý nghiệp thì không ai giúp cho chúng ta được. Chẳng hạn như tôi hiện nay, có vị tăng hay ni nào khởi tâm nghĩ rằng cha mẹ mình già, để cha mẹ ở nhà buồn, mình nên về nuôi dưỡng cho tròn bổn phận con hiếu. Khi khởi nghĩ như thế rồi cứ để tăng trưởng mãi trong lòng và có ý muốn rời khỏi thiền viện. Vị ấy đến thưa với tôi hết sự tình và nhờ tôi gia hộ cho chú ở lại thiền viện tu hành. Trong trường hợp này tôi phải làm sao? Nếu tôi không cho thì vị ấy cũng lén trốn đi thôi. Cho nên việc này chỉ tự vị ấy dừng cái tâm nghĩ tưởng của mình, chứ không có cách nào khác. Tôi đơn cử thí dụ trên để quý vị thấy liên hệ đến bao nhiêu việc khác cũng như vậy. Nếu chúng ta lặng sạch hết những tâm danh lợi thị phi, thì không muốn giải thoát, giải thoát cũng đến. Ngược lại, tâm danh lợi thị phi còn thì chúng ta muốn giải thoát bằng cách cầu xin Phật tổ, thiện hữu tri thức cứu giúp mình cũng không làm sao giải thoát được. Việc tu hành rõ ràng như vậy.
Thêm một điều nữa, chúng ta không nên tự khi mình nghiệp nặng, tu hành không thể thành Phật được. Hiện nay, đa số tăng ni, Phật tử thường mặc cảm mình
thấp kém, tội lỗi... làm sao thành Phật nổi. Chúng ta không nên nghĩ như vậy. Vì sao? Vì tất cả những thứ này là cái bên ngoài, tham sân si v.v... đều là những niệm bên ngoài, chứ không phải cái gốc. Cái gốc của chúng ta rất trong sạch. Như hình ảnh trong đây đã nói hoa rụng, mưa tạnh, hoa thì có nở có rụng, mưa thì có tuôn có tạnh, nhưng tất cả đều tạm có, đều ở bên ngoài, nó sẽ hết, sẽ qua đi, còn núi vẫn nguyên vẹn như xưa không đổi thay.
Tham sân si của chúng ta theo duyên dấy khởi, chợt đến chợt đi, không thật có. Riêng tánh biết bình tĩnh sáng suốt an nhiên lúc nào cũng hiện tiền. Tại sao chúng ta quên, lại bỏ qua? Vì vậy, tổ Lâm Tế có dạy: Các ông muốn được biết Phật tổ chăng? Chính trước mặt các ông hiện nghe pháp ấy vậy! Tổ muốn chỉ cho chúng ta nhận ra cái chân thật nó đang hiện tiền không cần tìm cầu nơi khác. Thế nên, nếu chúng ta theo tham sân si, lệ thuộc vào nó thì chúng ta là phàm. Ngược lại, chúng ta thắng nó, không theo nó thì chúng ta là thánh. Cái thánh đã sẵn ngay nơi mình, chỉ tại chúng ta tự chối bỏ, tự quên mất mà thôi. Vì vậy, hình ảnh hoa rụng, mưa tạnh hiển bày một ngọn núi xanh thật đẹp vô cùng. Chớ bảo rằng ngọn núi chỉ là một hiện hữu vô tình mà ở đó còn có tiếng chim hót, lá reo... làm cho tất cả đều thức tỉnh. Việc tu hành theo đó cũng thật hay, thật quý báu nếu chúng ta rõ biết đâu là gốc, đâu là ngọn.
Nói tóm lại hai bài thơ này ngài chỉ dạy thật thiết yếu cho người tu.
✵✵✵
Âm:
NGUYỆT
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
Dịch:
TRĂNG
Đèn song chếch bóng, sách đầy giường,
Đêm vắng sân thu lác đác sương.
Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết,
Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương.
(Đào Phương Bình)
Giảng:
Bài này tả cảnh ban đêm có trăng, đêm vắng có sương mù lác đác, rồi nghe có tiếng chày nện vải từ đâu đưa lại, nhìn ra thấy bóng trăng rọi sáng chung quanh. Như vậy bài này ngài chỉ tả cảnh.
✵✵✵
Âm:
ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ
Huân tận thiên đầu mãn tọa hương,
Thủy lưu sơ khởi bất đa lương.
Lão dung ảnh lý tăng quan bế,
Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.
Dịch:
ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH
Nghìn hương thắp hết ngát đầy tòa,
Làn nước nhẹ nhàng gió lạnh qua.
Dưới bóng đa già chùa cửa đóng,
Ve ngâm dấy khởi tứ thu xa.
Giảng:
Khi ra Hà Nội, chúng tôi có về Nam Định viếng chùa Phổ Minh. Ngày nay cảnh chùa còn nguyên vẹn kể cả tháp. Chùa nằm bên cạnh cánh đồng chứ không ở chỗ thị tứ. Đây ngài diễn tả cảnh chùa ở phía trước có cây đa lớn và một cái hồ. Khi trong chùa đốt hương thì nghe mùi thơm tỏa ngát đầy tòa. Dưới mặt hồ gió thổi nhẹ, nước gợn sóng rọi bóng cội đa già nằm cạnh bên tháp. Một tiếng ve ngâm, ý thu mênh mang.
✵✵✵
Âm:
THIÊN TRƯỜNG PHỦ
Lục ám hồng hy bội tịch liêu,
Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu.
Trai đường giảng hậu tăng quy viện,
Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều.
Tam thập tiên cung hoành dạ tháp,
Bát thiên hương sát động xuân triều.
Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc,
Phảng phất canh tường nhập mộng nhiêu.
Dịch:
PHỦ THIÊN TRƯỜNG
Lục rậm hồng thưa, cảnh quạnh hiu,
Mây quang mưa tạnh, đất tan rêu.
Phòng trai giảng đoạn, sư về viện,
Cầu bến canh đầu, bóng nguyệt treo.
Ba chục cung tiên, giường ngủ đặt,
Tám nghìn bóng tháp, nước triều reo.
Phổ Minh phong cảnh chùa như cũ,
Trong giấc mơ màng Thuấn thấy Nghiêu.
(Ngô Tất Tố)
Giảng:
Bài này ngài tả cảnh phủ Thiên Trường. Phủ Thiên Trường là quê hương của nhà Trần, nơi đó các ngài làm hành cung. Chùa Phổ Minh cũng nằm trong vùng này. Bài này tôi y theo bản dịch của Ngô Tất Tố. Trong câu phảng phất canh tường nhập mộng nhiêu là lấy sự tích nói theo Hậu Hán Thư. Theo tục xưa, vua Nghiêu mất, vua Thuấn để tang ba năm để tưởng nhớ, vì thế lúc ngồi thấy hình dáng vua Nghiêu trên tường, khi ăn thấy hình dáng vua Nghiêu trong bát canh. Ý nói khi về chùa Phổ Minh, ngài luôn luôn nhớ đến các vị vua tiền triều tổ phụ của ngài thuở trước, các ngài thường về đây nghỉ ngơi. Vì vậy mỗi khi nhìn cảnh trí ngôi chùa gợi ngài nhớ tưởng đến người xưa. Như vậy bài này ngài chỉ tả cảnh.
✵✵✵
Âm:
THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Dịch:
NGẮM CẢNH CHIỀU Ở THIÊN TRƯỜNG
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều dường có lại dường không.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
(Ngô Tất Tố)
Giảng:
Ở đây ngài ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường, bên cạnh cánh đồng. Ngồi ở trong nhìn ra thấy mục đồng cưỡi trâu về chuồng, thấy cò trắng từng đôi bay xuống đồng. Nhìn cảnh đẹp nên thơ, ngài diễn tả bằng lời thơ. Sở dĩ những bài tả cảnh này được chúng tôi đưa lên đây là để cho quý vị thấy tâm hồn thơ của ngài rất đặc biệt, rất sống động. Như vậy ngài là con người có tài về võ lẫn văn thơ.
✵✵✵
Âm:
TẢO MAI
I
Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
San hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ,
Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu!
II
Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông phong tiên dĩ đáo cô côn (căn).
Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,
Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Họa long xuy thấp Ngọc quan vân.
Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác hậu bất kham trì tặng quân!
Dịch:
HOA MAI SỚM
I
Năm cánh hoa tròn, vàng nhị phô,
Nổi nênh vảy cá, chìm san hô.
Đông ba tháng trải, cành khoe trắng,
Xuân một làn thơm, nhánh nhẹ đưa.
Đêm ngỡ nước trong, chim cháy cổ,
Sương lừng hương ngát, bướm tan mơ.
Hằng Nga như biết đây hoa đẹp,
Quế lạnh cung thiềm, há mến ưa!
II
Năm ngày ngại rét, lười ra cửa,
Gốc lẻ nào ngờ đã gió xuân.
Mặt nước băng tan, cây bóng ngả,
Đầu cành hoa trĩu, ấm chưa phân.
Trăng chìm xóm núi, lời ca bổng,
Mây ướt quan hà, tiếng sáo ngân.
Lạc tới chiêm bao, hoa một nhánh,
Muốn đem tặng bạn, khó vô ngần!
(Trần Lê Văn)
Giảng:
Bài thơ thứ nhất nói về hoa mai buổi sớm. Ở đây ngài diễn tả hoa mai buổi sớm ở Việt Nam hay ở thế gian này vừa đẹp vừa thơm. Nếu Hằng Nga ở trên cung trăng biết nơi đây có hoa mai đẹp đẽ như thế, chắc cũng bỏ cung quế để xuống thăm. Đó là lối diễn tả khéo của ngài.
Bài thứ hai cũng diễn tả hoa mai, nhưng vì mùa đông rét mướt nên năm ngày ngài không ra khỏi cửa, lúc bước ra thì thấy một gốc mai đã có gió xuân đưa đến. Khi nước băng tan, trên cành có những cánh mai nở tròn đầy, kế là những tiếng ca trong xóm núi, những tiếng sáo ngâm, những bước đi quan hà. Rồi trong mộng thấy một cành hoa mai đẹp, muốn đem tặng bạn nhưng không sao tặng được.
✵✵✵
Âm:
LẠNG CHÂU VÃN CẢNH
Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
Thủy minh, sơn tĩnh, bạch âu quá,
Phong định, vân nhàn, hồng thụ sơ.
Dịch:
CẢNH CHIỀU Ở LẠNG CHÂU
Chùa xưa lạnh lẽo khói thu mờ,
Chiều quạnh thuyền câu, chuông vẳng đưa.
Núi lặng, nước quang, âu trắng lượn,
Tạnh mây, im gió, đỏ cây thưa.
(Trần Lê Văn)
Giảng:
Lạng châu đời Trần thuộc lộ Lạng Giang, tức một phần tỉnh Bắc Giang ngày nay. Bài này tôi cũng theo bản dịch của ông Trần Lê Văn. Đây ngài tả cảnh chiều ở Lạng châu. Bài thơ chỉ tả cảnh nên tôi không giải thích theo đạo lý được.
✵✵✵
Âm:
VŨ LÂM THU VÃN
Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành,
Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh.
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
Thấp vân như mộng viễn chung thanh.
Dịch:
CHIỀU THU Ở VŨ LÂM
Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,
Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.
Lặng lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,
Mây giăng như mộng, tiếng chuông xa.
(Băng Thanh)
Giảng:
Động Vũ Lâm ngày nay thuộc huyện Hoa Lư, tỉnhNinh Bình. Bài này ngài tả cảnh chiều thu ở Vũ Lâm, cũng không có ý nghĩa đạo lý nên tôi không giảng giải rộng thêm.