Chúng tôi giảng giải về những lời dạy của ngài Pháp Loa để cho quý vị biết rõ tinh thần của chư tổ Trúc Lâm từ Sơ Tổ tới Nhị Tổ.
Đầu tiên là bài Khuyến Xuất Gia Tiến Đạo Ngôn.
✵✵✵
LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO
Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này:
Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, thánh hiền ẩn bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi buồn thay!
Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.
1. Ba thứ pháp là: Rõ tông sư, biện pháp chân ngụy, biết thiện ác.
a. Rõ tông sư - Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?
b. Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.
c. Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn... Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.
Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.
2. Phải học pháp cầu thầy - Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.”
Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.
Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Các người nên xét kỹ lời nói này. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.
Từ trước, các tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp.
Giảng:
Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này:
Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, thánh hiền ẩn bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi buồn thay!
Qua lời mở đầu, chúng ta ý thức được thân phận của mình sanh nhằm thời nào. Vì chúng ta nghiệp dày phước mỏng, nên khi ra đời, đức Phật Thích-ca đã nhập diệt, chẳng gặp thời chánh pháp. Đức Phật chia giáo pháp ngài ra ba thời: chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thời chánh pháp là năm trăm năm đầu từ khi Phật còn tại thế, thời tượng pháp là năm trăm năm kế tiếp, và sau đó là thời mạt pháp. Hiện nay chúng ta sanh ra nhằm thời mạt pháp, việc đi tu thật quá muộn màng. Phật Thích-ca đã nhập diệt, Phật Di-lặc chưa sanh, ở khoảng giữa này thánh hiền ẩn bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi buồn thay! Các bậc thánh hiền đã ẩn, pháp tà lại thịnh, thật đáng buồn cho thân phận người xuất gia trong thời này. Giờ đây ý thức được phận mình, chúng ta phải cố gắng làm những gì?
Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ.
Là người xuất gia, chúng ta phải hiểu rõ vì sao chúng ta đi tu. Lý tưởng của người tu là muốn trên đền đáp bốn trọng ân, dưới cứu giúp ba đường khổ.
Bốn trọng ân là: ơn cha mẹ, ơn thầy tổ (hay là ơn Tam bảo), ơn quốc gia và ơn đàn-na thí chủ.
1. Ơn cha mẹ
Ơn cha mẹ rất là sâu nặng. Người đời còn hiếu kính cha mẹ, huống là chúng ta biết đạo đi tu mà không biết đền ơn cha mẹ hay sao? Cha mẹ có công ơn sanh thành dưỡng dục, chúng ta đi tu không sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha, nếu đi tu vì sự an vui thảnh thơi cá nhân thì thật là tội lớn vô kể. Để đền ơn cha mẹ, chúng ta phải tu cho đạt đạo, trở về hướng dẫn cha mẹ cùng tu. Đó mới là người con chí hiếu.
Hồi xưa bà Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề xin Phật xuất gia, Phật từ chối. Ngài A-nan xót xa mới vào bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, khi xưa ngài sanh ra mới có bảy hôm thì Hoàng hậu băng hà, Di mẫu nuôi ngài từ thuở bé đến ngày khôn lớn, công ơn bà rất nặng, vì sao Thế Tôn không cho bà xuất gia? Như vậy ngài không biết đền ơn người có công lớn với mình hay sao?
Đức Phật bảo:
- Ta đã đền ơn Phụ vương và Di mẫu rồi. Sau khi thành đạo, ta trở về thành Ca-tỳ-la-vệ giáo hóa Phụ vương và Di mẫu thọ trì tam quy ngũ giới, đó là ta đã đền ơn.
Vậy sự đền ơn của người tu khác với người cư sĩ là giáo hóa cho cha mẹ biết được đạo đức, biết thọ trì tam quy ngũ giới để thoát khỏi ba đường khổ, đồng thời có chủng tử lành để sau này gặp lại Phật pháp tiến tu. Đền ơn cha mẹ là cứu cha mẹ khỏi rơi trong ba đường ác địa ngục ngạ quỷ súc sanh, hoặc hơn thế nữa là hướng dẫn cha mẹ tu thập thiện, hay là xuất gia tu Phật để thoát khỏi trầm luân trong sanh tử. Thế nên vì cứu cha mẹ mà chúng ta đi tu, nếu đời này chưa tròn bản nguyện, thì đời vị lai chúng ta cố gắng làm tròn bổn phận của mình. Đi tu không phải là quên cha mẹ, không phải vì sự an vui của bản thân mình, mà chính vì muốn đền đáp công ơn cha mẹ.
2. Ơn thầy tổ
Thầy tổ là những bậc đã chỉ dẫn cho mình con đường tu hành để tiếp nối ngọn đèn chánh pháp, soi sáng cho mọi người khỏi bị tối tăm trong sanh tử. Muốn đền ơn Phật tổ, chúng ta phải hiểu thông đạo lý, tu hành có đạo lực mới có thể nối tiếp ngọn đèn chánh pháp được.
3. Ơn quốc gia
Sống trong đất nước, dù ít dù nhiều chúng ta cũng phải nhớ công ơn những người đã gìn giữ đất nước được thanh bình an ổn, để chúng ta ngồi yên tu hành. Không nên nghĩ rằng chúng ta đi tu rồi ai làm gì cũng mặc, không cần biết tới. Công ơn người giúp mình yên ổn ngồi tu không bị loạn lạc, đói thiếu, đó là công ơn quốc gia.
4. Ơn đàn-na thí chủ
Các Phật tử cúng dường là để quý thầy quý cô được yên tu, làm Phật sự, rồi sau này độ lại Phật tử, chứ không phải để tăng ni xài chơi thỏa thích. Đây là món nợ, đâu phải là chuyện bỗng dưng. Thế nên mỗi khi nhận lãnh sự cúng dường, chúng ta phải cố gắng tu để đền ơn đàn-na thí chủ.
Như vậy muốn đền đáp bốn ơn, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải tu làm sao cho thấy đạo, cho đủ công đức để sau này đáp lại công ơn sâu nặng đối với người đã sanh ra mình, đã nuôi dưỡng mình bằng chánh pháp, bằng tiền của và tạo cho mình điều kiện được an ổn tu hành.
Lại nữa, chúng sanh ngày đêm đang đau khổ trong ba đường địa ngục ngạ quỷ súc sanh, cho nên chúng ta phải thấy đạo, hiểu rõ chánh pháp để giáo hóa cho mọi người trong hiện tại biết tu, không tạo nhân rơi vào ba đường khổ. Và mỗi ngày mỗi đêm tu, chúng ta hồi hướng công đức, nguyện họ sớm thức tỉnh để mau thoát khỏi ba đường ác. Muốn được như thế, chúng ta phải có tài có đức, bằng không thì chẳng bao giờ chúng ta làm tròn được bổn phận của mình.
Tóm lại, lý tưởng của người xuất gia là phải trên đền đáp bốn ơn, dưới cứu giúp ba đường khổ. Đừng nghĩ rằng chúng ta đi tu để giải thoát đời này rồi nhập Niết-bàn cho yên, không nghĩ tới công ơn cha mẹ, thầy tổ và đàn-na thí chủ. Vô tình chúng ta thành người ích kỷ, không thấy được cái khổ của chúng sanh, của những người đã đem bao nhiêu công của để lo cho mình. Thế nên chúng ta phải hiểu thật kỹ, thấy thật rõ bổn phận người tu phải làm gì, để đừng bao giờ lãng quên, đừng bao giờ phai nhạt ý nghĩa xuất gia.
Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.
1. Ba thứ pháp là: Rõ tông sư, biện pháp chân ngụy, biết thiện ác.
a. Rõ tông sư - Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?
Chúng ta là người học Phật, mà Phật đã nhập Niết-bàn hơn hai ngàn năm, làm sao học với Phật được? Học Phật có nghĩa là học với thầy. Vậy phải học với thầy nào? Nếu thầy không hiểu đạo, không nắm vững đường lối của Phật tổ dạy, thì chúng ta có nên học không? Cho nên muốn học Phật thì phải tìm thầy. Ngài không nói ý riêng mà dẫn kinh làm chứng. Kinh Bản Hạnh dạy: Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?
Chúng ta phải hiểu từ đức Phật đến chư tổ truyền đạo thế nào, và hiện nay thầy nào, chúng nào đáng cho mình đến học. Chúng đáng cho mình đến học là chúng có sự thừa kế từ chư Phật, chư tổ nối tiếp mãi đến ngày nay. Nếu những người không biết gốc nguồn, không biết chỗ chân thật của Phật tổ mà chúng ta nương theo thì sẽ bị lệch lạc. Thế nên bước đầu vào đạo là phải tìm ra những bậc tông sư đã hiểu được đường lối của Phật tổ chỉ dạy, thế mới đúng là người biết lựa chọn bậc thầy. Đó là nền tảng của người tu chứ không phải là thường. Nhiều khi người học đạo đi tìm thầy, gặp người ăn nói nhỏ nhẹ hiền lành, tiếp đãi tử tế liền tôn làm thầy xin vào tu học, thế là mãn nguyện rồi mà không biết vị đó đã học với ai, tu như thế nào, hiểu đạo hay không. Đó là không biết chọn tông sư. Tông sư phải là bậc kế thừa đạo lý, nắm vững đường lối của Phật tổ để chúng ta nương theo đó tiến tu.
b. Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu là pháp chân thật thì pháp đó dạy chúng ta phải giữ gìn giới luật, y theo chánh pháp tiến tu. Luật và pháp là hai môn chúng ta phải nắm cho vững, đó gọi là pháp chân.
Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau. Luận bàn giáo lý của ngoại đạo, rồi phóng đại nghĩa lý, nghĩ thế nào nói thế ấy mà không y cứ vào kinh điển, vào giới luật, đó là pháp ngụy. Rồi cứ như vậy mà truyền dạy cho nhau, điều này hiện nay rất là phổ biến.
Muốn biện chân ngụy, chúng ta phải nhớ: chân là y cứ theo giới luật của Phật mà gìn giữ, y cứ theo pháp của Phật để tiến tu, ngụy là bàn luận hay học hỏi theo ngoại đạo, rồi tự ý đặt ra nghĩa này, lý kia truyền dạy cho nhau.
c. Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn. Bạn lành thường khuyên mình ăn năn sám hối, chừa những lỗi trước. Siêng năng tìm thiện tri thức là siêng năng tìm những người bạn lành, những người thầy giỏi khuyến khích mình tu hành tinh tấn. Vậy chúng ta phải kiểm tra lại những người bạn chung quanh mình xem ai là bạn lành giúp chúng ta trên đường tu.
Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn. Bạn ác là những người tuy nói là xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục. Thí dụ như chúng ta tu có chùa có bổn đạo, nên còn dư chút đỉnh, có người cũng xuất gia như mình đến rủ mở mang việc làm ăn, hay cho vay lấy lời, xem như thương mình lắm, nhưng sự thật thì họ xui mình làm giống người thế tục. Đồng tiền của Phật tử cúng dường chỉ để nuôi tăng ni tu học, ngoài ra là làm việc từ thiện, chứ không cầu lợi theo thế gian. Nếu hùn hạp làm ăn có lời rồi cố gắng kinh doanh mãi sẽ thành người thế tục, chứ không phải là nhà tu nữa! Thế nên người xuất gia chúng ta phải dè dặt đừng sống theo nghiệp thế gian. Tự làm và dạy người làm, mình đã làm chuyện thế tục, còn dạy người khác làm theo mà tâm không biết hổ thẹn, lại thấy hài lòng thỏa mãn, đó là trái với đạo lý.
Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi. Thử kiểm nghiệm lại xem, trên đường tu chúng ta có thực thi đúng ba pháp nên gần gũi và ngăn chừa các pháp không nên gần gũi hay không? Nếu người tu ở riêng rẽ dễ bị khuyên dụ làm những việc theo thế tục, còn nếu ở tập thể như trong thiền viện thì chắc chắn tránh được điều này.
2. Phải học pháp cầu thầy - Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.” Về pháp cầu thầy, ngài không có đặt ra tiêu chuẩn riêng, mà bảo chúng ta phải học theo trong Lễ Tán dạy:
Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức tức là phải luôn luôn ở trong chỗ đông đảo có những bậc thầy đáng tin tưởng để hướng dẫn mình. Hằng nằm trong khuôn vức của tổ sư là ở trong phạm vi chùa chiền của các tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.
Chúng ta nên nhớ người tu ở những nơi có bậc thầy lo lắng chỉ dạy, hướng dẫn tu hành thì dễ tu hơn. Nếu chúng ta ở chỗ riêng rẽ rất là khó tu, vì có đủ các thứ duyên ràng buộc, duyên tốt duyên xấu đều có, duyên tốt thì được, duyên xấu thì hỏng. Thế nên người tu phải ở nơi tùng lâm của thiện tri thức, phải ở trong khuôn vức của tổ sư. Đó là gốc của người biết học pháp và biết chọn thầy.
Kết thúc, ngài dạy:
Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử. Nếu chưa đầy đủ hai pháp trên thì chưa xứng đáng là người xuất gia.
Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Ngài hỏi câu này thật là đau. Như người chí thân bên trong là cha mẹ, chúng ta đã bỏ; bên ngoài là đạo lý, chúng ta học cũng không thông; thế mà chúng ta xưng là tu hành, vậy tu cái đạo gì? Nếu nói tu Phật thì phải thông hiểu Phật pháp. Nếu không hiểu thì tu cái gì. Câu hỏi này phải đáp như thế nào? Các người nên xét kỹ lời nói này, các người phải tự vấn và tự trả lời, chúng tôi không trả lời thế được.
Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Công ơn cha mẹ sâu dày, người xuất gia còn bỏ, huống là kẻ bên ngoài. Thế lại chấp tình thầy trò, chấp tình huynh đệ, không thể cởi bỏ, không bị buộc trói trở lại tìm cầu buộc trói! Chúng ta vào đạo tu hành với mục đích là giải thoát sanh tử, thế mà vào đạo rồi trói cột với người này người kia thì giải thoát chỗ nào? Thật là đáng trách! Chúng ta phản bội lại lý tưởng của mình, phản bội lại lời hứa với cha mẹ. Có người nào xin đi tu mà thưa với cha mẹ là ở nhà con buồn quá, cho con vô chùa kiếm huynh đệ chơi cho vui, có nói như vậy không? Hay là thưa, ở nhà tình cảm gia đình trói buộc tu hành khó, con vào đạo để chuyên tu cầu giải thoát sanh tử, sau này về độ cha mẹ tu hành, có phải thưa như vậy không? Chuyên tu cầu giải thoát mà vào chùa rồi trói buộc với huynh đệ thì làm sao giải thoát? Thật là điều đáng trách!
Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy. Đi tu chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chỉ muốn kết bè bạn đặng làm ra nhiều tiền nhiều của, mà không sợ rơi trong ba đường khổ, hay trầm luân trong tam giới. Đi tu mà chỉ tham danh tham lợi, không hiểu biết chi cả! Ấy đều là bọn vô minh, chứ không phải là người giác ngộ tu hành. Chúng ta phải kiểm lại xem mình có rơi vào bọn vô minh đó không? Người xưa thật đã đắng miệng khô môi chỉ dạy chúng ta làm sao cho xứng đáng là người tu cầu đạo giải thoát.
Từ trước, các tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp. Các tổ sư ngày xưa tu hành, tâm các ngài giống như hư không, không có dính mắc, cho nên mặc tình đến mặc tình đi, không có gì ràng buộc. Hoặc đi phương nam, hoặc đi phương bắc, cốt làm sao tìm hỏi cho ra đạo lý, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha. Được như vậy mới thật là người ở trong Phật pháp, bằng không tức là bọn vô minh.
Bài học này tuy ngắn mà rất thấm thía. Ngài Pháp Loa nói thẳng cho toàn chúng thấy rõ trọng trách của người tu. Nếu không thực hiện được thì việc tu của chúng ta còn nhiều lệch lạc.
✵✵✵
KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC
(Thượng Thừa Tam Học Khuyến Chúng Phổ Thuyết)
Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chặn. Tuy nói ngăn chặn mà không phải ngăn chặn. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.
Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: thân này từ đâu mà đến, tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp mới hay chứng nhập thiền.
Người tu tập thiền định không được chấp dụng công; dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?
Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.
Thiền có chia làm năm: 1- Phàm phu thiền, 2- Ngoại đạo thiền, 3- Tiểu thừa thiền, 4- Đại thừa thiền, 5- Thượng thừa thiền. Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ và sáu vị tổ ở Trung Hoa, rồi tổ tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.
Các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò, chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả, mênh mang bát ngát chiêu ương họa. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.
Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!
Giảng:
Bài này nhắc nhở bổn phận người tu chúng ta, đúng ra là đi thẳng vào Thiền tông, quý vị ráng chú tâm nghe thật kỹ.
Khuyên chúng Thượng thừa tam học. Tam học là giới định tuệ. Đây nói về giới định tuệ của Thượng thừa, không phải của Nhị thừa hay của Bồ-tát thừa.
Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Là người học Phật trước phải thấy tánh. Chúng tôi nhắc thật kỹ, quý vị phải thầm hiểu, thầm nhận. Phàm người học Phật, nhất là chuyên về Thượng thừa thiền, cốt phải thấy tánh tức là kiến tánh, cũng như Lục Tổ nói: cốt phải kiến tánh.
Thấy tánh không phải có tánh bị thấy. Chỗ này phải hết sức chú ý vì chúng ta thường bị kẹt ở chữ thấy tánh. Thí dụ như chúng ta nói “tôi thấy cuốn sách”, thì cuốn sách ở bên ngoài tôi, nó là cái bị thấy, còn tôi là cái hay thấy. Như vậy cuốn sách và tôi là hai, phải không? Nếu nói thấy tánh thì tánh đó là mình hay là của ai? Mà tánh của mình, làm sao mình thấy? Đó là một vấn đề, nếu không khéo chúng ta dễ bị lầm lẫn.
Nghe nói thấy tánh, chúng ta ngỡ rằng tu để mình thấy tánh của mình, mà tánh của mình là cái gì ở ngoài mình để mình thấy? Như vậy mình muốn thấy tánh thì tánh là cái bị thấy, và mình là cái hay thấy. Vậy cái bị thấy là mình hay cái hay thấy là mình? Cái bị thấy không bao giờ là mình được. Còn nếu cái hay thấy là mình thì nói thấy tánh là thấy ai? Mình thấy mình được không? Tôi thấy là thấy người thấy vật ở ngoài, chứ tôi không thấy con mắt tôi, có phải thế không? Hay nói cách khác là tôi không thấy cái hay thấy của tôi, cũng như con mắt không thấy được con mắt! Vậy nói thấy tánh là thấy mình, có được không?
Tôi cho thí dụ nếu quý vị nào khéo sáng một chút thì nhận ra. Khi con mắt tôi bệnh thì tôi không thấy được các vật bên ngoài, nếu con mắt tôi mạnh thì tôi nhìn thấy tất cả sự vật. Nếu có người hỏi: - Con mắt Thầy sáng hay tối? Tôi trả lời: - Con mắt tôi sáng.
Hỏi: - Tại sao Thầy biết con mắt Thầy sáng? Đáp: - Vì tôi thấy tất cả vật bên ngoài, cho nên tôi biết mắt tôi sáng.
Khi tôi khẳng định con mắt tôi sáng, không chút nghi ngờ, cái khẳng định đó từ ngữ nhà Phật gọi là kiến.
Bây giờ nếu con mắt tôi mờ và có người nói “có bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn”, vì mắt mờ nên tôi chưa thấy rõ. Nếu có người hỏi “Thầy thấy bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn không?”, vì chưa thấy rõ nên tôi còn nghi ngờ, không biết phải hay không. Trái lại, nếu mắt tôi sáng, tôi thấy rõ thì tôi khẳng định là “phải, có bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn”. Tôi khẳng định đó là do mắt sáng tôi nhìn thấy, còn mắt mờ tôi chưa thấy thì chưa dám khẳng định. Bây giờ tôi khẳng định là tôi có con mắt sáng, tức là tôi thấy con mắt tôi sáng, chứ không phải tôi thấy được con mắt sáng, mà tôi chỉ khẳng định con mắt tôi sáng. Chữ thấy là khẳng định không ngờ vực gì cả.
Chữ kiến tánh cũng vậy, có nghĩa là chúng ta nhận nơi mình có tánh tri giác bất sanh bất diệt, nhận rõ không chút nghi ngờ, đó gọi là kiến tánh chứ không phải kiến tánh là thấy được tánh mình. Nhiều người không hiểu cứ nghĩ kiến tánh là thấy tánh mình, nếu tánh mình mà mình thấy thì vô lý. Nếu là tánh mình thì người ngoài thấy chứ mình không thấy, còn mình thấy là thấy tánh của người khác chứ không phải tánh mình.
Thế nên trong bài ngài nói rất rõ: Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Nếu ai khéo thì có thể nhận ra cái không thể thấy mà thấy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy thì chân tánh hiện. Thấy mà không thể thấy, vì nó không phải là hình tướng là sự vật cho nên không thể thấy. Nhưng nhận được cái hiện hữu của nó không nghi ngờ, gọi đó là thấy.
Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có. Tánh thấy không sanh không diệt, nếu vừa khởi thấy nó thì cái đó không phải nó. Chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi, nhưng nhận ra cái thật đó, cái thật đó không có dời đổi, nó bất sanh bất diệt. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh. Chân thật thấy tánh là như vậy.
Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Khi nhận ra bản tánh rồi, mới nói tu. Cho nên khi dạy tu là dạy chung, có người nhận được bản tánh, có người chưa nhận được, nhưng vì trong chúng làm việc gì cũng phải làm chung, lý đáng thì sau khi thấy tánh phải giữ giới cho thanh tịnh.
Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Khi nhận được bản tánh rồi thì bên ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn động. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Cảnh đến là cảnh gì? Vì tâm không loạn động, cho nên mắt thấy sắc đẹp, tai nghe tiếng khen tiếng chê mà chúng ta vẫn an nhàn. Tất cả những gì đến với mình, chúng ta đều không xao xuyến, đó gọi là cảnh đến vẫn an nhàn.
Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Nó không chạy ra cũng không bị chun vào. Thí dụ như có người mang chiếc đồng hồ quý đẹp đến khoe với chúng: “Tôi có chiếc đồng hồ đẹp.” Khi mắt nhìn thấy chiếc đồng hồ thì chiếc đồng hồ là cảnh. Thức không vì mắt thấy đồng hồ mà chạy ra, đồng hồ không có chun vào con mắt, cho nên ở trong không chạy ra, ở ngoài không chun vào, vì thế nhìn chiếc đồng hồ đẹp mà tâm vẫn an nhàn. Còn nếu có chạy ra chun vào thì tấm tắc khen chiếc đồng hồ đẹp quá, quý quá, nên khi người ta đem đồng hồ đi rồi, ngồi đây mà nhớ mãi chiếc đồng hồ, không biết mua nó bao nhiêu, giá trị nó như thế nào, vì vậy tâm bị xao động bất an. Nếu như chiếc đồng hồ quý để trước mắt mà thức không theo con mắt để duyên với đồng hồ, đồng hồ cũng không theo chỗ hở của con mắt mà chun vào, trong không ra ngoài không vào thì tâm an nhiên nhàn hạ. Bây giờ thử hỏi tất cả quý vị khi gặp cảnh đó, có ra có vào hay không? Cho nên không đeo đồng hồ là cái duyên để chúng ta dễ tu. Đồng hồ đẹp đồng hồ xấu gì cũng mặc, chỉ thấy thôi, không có ra không có vào. Còn nếu đeo đồng hồ thì so sánh đồng hồ này đẹp đồng hồ kia xấu, tức là có ra có vào. Vì thế không mang đồng hồ thì không dính kẹt trong đồng hồ tốt xấu, giá trị đồng hồ cao thấp v.v... cho nên thức không vì con mắt mà chạy ra, cái đồng hồ vì chúng ta không lưu tâm nên cũng không có chỗ chen vào. Ra vào không có, cho nên đồng hồ để trước mắt mà tâm vẫn thản nhiên không có gì dính dáng. Đó là kết quả của sự tu.
Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chặn. Tuy nói ngăn chặn mà không phải ngăn chặn. Thật ra đâu có gì ngăn chặn. Trước cảnh chỉ thản nhiên thôi, chứ có ngăn chặn chi đâu. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Từ mắt rồi nghiệm qua tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Tức là sáu căn đối với sáu trần, không có chạy ra không có chun vào.
Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ. Giới này Tiểu tăng hay Đại tăng cũng đều phải giữ. Giới Đại thừa hay giới vô thượng tức là giới không gì hơn, vô đẳng đẳng là không có gì sánh bằng, đây là chỉ cho giới cao tột, giới tuyệt đỉnh. Trong tam học giới định tuệ, giới là đầu. Đối với người tu thiền, giới là ở chỗ sáu căn đối với sáu trần không cho chạy ra không cho chun vào. Tức là giữ sáu căn không bị thức duyên ra, cảnh chui vào, đó gọi là giới Đại thừa, giới vô thượng, giới vô đẳng đẳng, không còn gì hơn, không có gì sánh bằng. Vậy người biết tu thì phải giữ giới đó hằng ngày.
Nhân giữ giới vững chắc không động. Giới này là thượng thừa, là vô đẳng đẳng nhưng khó giữ, cho nên mỗi tối chúng ta đều sám hối. Sám hối sáu căn cho thuần thục, như mắt vừa thấy sắc đẹp liền nhớ sám hối về mắt, tai nghe lời gì hơi trái hơi khó chịu thì nhớ sám hối về tai. Như thế sám hối cho đến thuần thục, ngăn chặn không cho trong chạy ra ngoài chạy vào, đó là giới thanh tịnh, là giới của người tu thượng thừa.
Kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Yếu chỉ của thiền là thân tâm đều xả. Xả tâm là vừa dấy niệm liền buông. Còn xả thân là sao? Không phải là bỏ thân này, là hủy hoại cho nó chết, đừng hiểu lầm như vậy. Xả thân có nghĩa là xả tất cả những nhu cầu mà thân đòi hỏi quá đáng, phải xả những thụ hưởng đừng cho thân đắm trước. Phải thấy thân là tạm bợ giả dối, đừng luyến ái mà cố giữ gìn cho được sống lâu, trái lại phải dùng nó trong những điều lợi ích cho đạo, lợi ích cho chúng sanh, như vậy gọi là xả thân.
Trước tập định tâm, thường tự suy xét: thân này từ đâu mà đến, tâm này từ đâu mà có? Muốn định tâm, chúng ta phải tự đặt câu hỏi như vậy để phân tích tìm cho ra manh mối về thân này và tâm này. Đến đây ngài mới giải thích: Tâm không thật có, thì từ đâu có thân?
Khi chúng ta đặt câu hỏi: tâm này từ đâu mà có? Tâm đây là chỉ tâm vọng tưởng, chúng ta tìm xem tâm vọng tưởng từ đâu mà có, tìm cho kỹ thì tâm vọng tưởng không có. Nghĩa là tìm cho đến nơi đến chốn thì nó là không, nên nói tâm không thật có, thì từ đâu có thân? Vì con người sống là có thân và tâm, thân là hình thức vật chất, tâm là phần tinh thần, phần hiểu biết. Phần tinh thần hiểu biết tìm cho tận cùng thì nó không có hình thức, không có chỗ nơi, tức là không thật có. Tâm đã không thật có thì thân vật chất này thật có được chăng? Nếu tìm cho kỹ thì thân vật chất này cũng không thật. Thế nên: Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có?
Trước là quán tâm cho kỹ thì biết tâm không thật, kế là quán thân cho tường tận thì thấy thân không thật, đúng là chiếu kiến ngũ uẩn giai không, ngũ uẩn là chỉ cho thân và tâm, nếu thấy không thật thì sự vật bên ngoài tức là các pháp có thật hay không? Thân tâm không thật thì cái bàn này do thân tâm tạo nên có thật không? Thân tâm không thật thì cái bàn cũng không thật. Hay nói một cách gọn hơn, dễ hiểu hơn: Thân do duyên hợp, tâm do duyên hợp đều không thật, thì sự vật bên ngoài do duyên hợp cũng đều không thật. Thường thấy như vậy là có tu rồi. Sở dĩ ngày nay chúng ta tu khó nhọc, không có kết quả, là vì thấy thân thật, tâm thật, cảnh thật. Cứ như thế mà khổ sở, buồn khóc, sám hối cũng vì những cái thấy thật đó. Nếu thấy thân tâm cảnh đều không thật thì đâu còn gì phải bận bịu dính mắc!
Pháp không thật có, vì không có cái có, thì cái có có đó từ đâu mà có? Pháp tức là sự vật, không thật có. Thí dụ chúng ta nói cái bàn cái nhà không thật có, kể cả núi sông cũng không thật có, như vậy tất cả những gì người ta nói có có đó xét kỹ đều không thật có. Vì không thật có thì cái có có đó từ đâu mà có? Đều là duyên hợp, đều không thật.
Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Vì cái có mà mình thấy trước mắt đều không thật, thì không có pháp có. Như vậy các pháp thế gian nói có đều là không thật có, không có pháp nào là thật có cả. Mỗi pháp chẳng phải pháp thì mỗi pháp nương vào đâu? Mỗi pháp, mỗi vật đã không thật, thì nương vào đâu mà gọi là có cái này, có cái kia?
Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Vì không có chỗ nương thật, nên mỗi sự vật đều là không thật, không có cái gì gọi là thật hết. Thí dụ đây là quyển sách, kia là cái đồng hồ, mỗi pháp đều không có chỗ nương thì mỗi pháp đều là không thật. Cho nên pháp không phải mỗi pháp nghĩa là tất cả sự vật hiện thấy hiện biết đều không có cái gì thật.
Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Sự vật hiện hữu là không thật, nhưng cũng chẳng phải không thật, tại sao? Đứng về giả tướng duyên hợp thì các pháp là không thật, nhưng thật tánh hay tánh không của tất cả pháp đâu phải là không! Thế nên: Chứng được thật pháp mới hay chứng nhập thiền. Tất cả pháp là không, không thật, duyên hợp hư giả, tánh nó là không. Thấy được tánh không đó rồi, mới đi tới chỗ chứng nhập thiền.
Chúng tôi thường nhắc lại nhiều lần câu nói của thiền sư Duy Tín đời Tống, ngài nói: Ba mươi năm trước, khi chưa gặp thiện tri thức, tôi thấy núi sông là núi sông - tức là thấy núi là thật, thấy sông là thật. - Sau khi gặp thiện tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là núi sông. - Đó là pháp không phải pháp, nghĩa là thấy các pháp không thật có, duyên hợp hư giả, tự tánh là không, tức là đạt được tánh không của tất cả pháp. - Nay ba mươi năm sau, tôi thấy núi sông là núi sông. Tức là tâm không còn so đo nghĩ tính, pháp này là có, pháp kia là không, pháp này đẹp, pháp kia xấu, tâm hoàn toàn thanh tịnh, đó là nhập thiền. Phải ba mươi năm tâm thuần thục rồi mới nhập thiền chứ không phải năm tháng bảy tháng hay ba năm năm năm là được.
Chúng ta tu đến khi nhìn thấy các sự vật đều không có tự tánh, tánh nó là không, duyên hợp hư giả, thì chúng ta không còn bận tâm với các pháp nữa. Thế nên phải thâm nhập lý Bát-nhã rồi mới nhập được thiền, vì thiền là đối cảnh vô tâm, tức là “không ra không vào.” Vì các sự vật duyên hợp hư dối, không còn hấp dẫn mình được, nên mới không ra không vào. Giả sử hiện nay có người đi xa mang về một món đồ thật quý như chiếc đồng hồ đẹp, khoe với chúng, mọi người nhìn thấy cười thôi, không bàn tán gì cả, thì khả dĩ thấm mùi thiền. Còn nếu thấy món đồ quý đẹp liền xúm lại xem rồi bàn tán xôn xao, đó là chưa nhập được thiền.
Người tu phải cẩn thận, muốn bước vào cảnh giới thiền, trước phải thấu suốt lý Bát-nhã, thấy rõ thân, tâm và cảnh cả ba đều không thật. Dù có ai chê mình đen xấu hay khen mình trắng đẹp, cũng chỉ là giả tướng, đâu có gì quan trọng, thấy rõ như vậy thì lời khen chê không làm động lòng mình. Đối với cảnh đẹp cảnh xấu mình cũng không động, vì cảnh đâu có thật. Đến tâm chúng ta cũng vậy. Nói người khôn kẻ dại cũng là thừa, vì khôn dại đều là vọng, không có gì quan trọng. Khi biết thân, tâm và cảnh không thật thì không còn chấp, không còn dính mắc, đó là thiền. Thật đúng với câu ngài Điều Ngự Giác Hoàng nói: Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Đối cảnh không tâm dính mắc là đã nhập thiền rồi, còn hỏi thiền chi nữa. Người tu nào đối cảnh vô tâm thì được phép không ngồi thiền, còn chưa được thì phải tinh tấn tăng giờ.
Việc tu thật đơn giản, làm sao cả ngày đối với thân mình, ai chê ai khen gì cũng không dính, ai lý luận nói mình ngu dốt cũng không buồn bực, cái gì đẹp xấu đến trước mắt, mình cũng chẳng bận lòng. Được như vậy cả ngày tới lui tự do, không cần ngồi thiền, không phải thỉnh nguyện gì nữa. Thật nhàn làm sao! Thầy làm việc của thầy, trò làm việc của trò, không ai bận bịu đến ai, thảnh thơi vô cùng. Đây là chủ trương của ngài Điều Ngự Giác Hoàng. Đối cảnh không tâm, đó là nhập thiền rồi, đừng hỏi thiền chi nữa.
Người tu tập thiền định không được chấp dụng công; dụng công mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Người tu thiền không được chấp dụng công. Nếu khi đi cứ một bề ngó xuống, không cho ai đối diện với mình, thấy ai cũng tránh né, đó là chấp dụng công, chưa phải là thật thiền. Thiền mà không thấy mình tu gì cả, chỉ thấy người, thấy cảnh, thấy vật, tâm không dính mắc là được rồi. Nếu không muốn thấy là còn sợ dính, phải không? Thí dụ như tay mình có keo có nhựa thì cầm cây viết dính cây viết, cầm cục phấn dính cục phấn, cầm vật nào dính vật nấy, cho nên mới sợ dính. Còn nếu tay mình không có keo nhựa thì tha hồ cầm các vật, có dính gì đâu! Cho nên chấp dụng công là còn đang dính.
Vì thế khi Lục Tổ thấy ai ngồi thiền, ngài đến nắm lỗ tai thổi. Lẽ ra vị nào ngoài giờ ngồi thiền công cộng của chúng, còn ngồi thêm ở hành lang hay ở gốc cây, phải được khen là tinh tấn, còn Lục Tổ tại sao lại nắm lỗ tai thổi không cho ngồi? Vì ngài thấy nếu tâm của mình không dính với cảnh thì cần gì phải ngồi chỗ này hay chỗ kia. Hiện nay trong chúng có nhiều người ngoài giờ công tác hay tìm chỗ vắng tránh huynh đệ ngồi một mình cho tâm thanh tịnh, cũng là hay. Thật ra nếu trước mặt trăm người mà mình không dính thì ở trong chúng vẫn thanh tịnh. Còn nếu ngồi một mình dưới gốc cây mà cứ nhớ huynh này huynh kia nói những câu gì đó, tức là có dính. Như vậy trọng tâm của việc tu là đừng dính mắc, còn lựa chỗ để ngồi thiền chỉ là phần phụ thôi. Điều quan trọng là phải nhớ gạn lọc cho nội tâm được trong sáng.
Vậy thiền định là không chấp dụng công, dụng công mà không có chỗ dụng gọi là Thiền thượng thừa. Dụng công mà không chỗ dụng tức là không cho tâm dính mắc; nhưng thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe mà không dính mắc, đó là Thiền thượng thừa.
Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được? Theo cái nhìn của ngài Pháp Loa, ngoài lối tu Thượng thừa thiền ở trên, muốn cho được miên mật thì ứng dụng phương tiện phụ là tham thoại đầu, cốt làm sao cho mình được luôn luôn trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, dù lăn mặt nào cũng là sáng cả. Cũng như gương trên đài lúc nào cũng sáng. Đến chỗ đó thì đi đứng nằm ngồi đều tự tại.
Chúng tôi xin nhắc lại cho tất cả quý vị nhớ, nếu chúng ta nắm được trọng tâm tu thiền thì trên đường tu chúng ta không có gì nghi ngờ cả. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát-nhã, Lục Tổ nói người tu thiền phải thông suốt lý Bát-nhã. Nhờ trí tuệ Bát-nhã chúng ta phá được ba cái chấp: chấp tâm, chấp thân và chấp cảnh. Tâm, thân và cảnh đều không chấp, thì tâm mới không chạy ra, không dính mắc với ngoại cảnh. Nếu còn chấp một cái nào đều là dính hết. Thế nên khi chúng ta phá được cái chấp đó rồi thì chúng ta ứng dụng tu đối cảnh vô tâm, như vậy lúc nào cũng là thiền. Song hiện giờ chúng ta chưa phá được chấp nên phải ngồi, niệm dấy lên biết là hư dối, đó là phá chấp tâm trước. Thấy tâm không thật thì mới thấy thân cũng hư dối không thật. Thấy tâm thấy thân hư dối rồi tiếp tục thấy cảnh cũng hư dối. Nếu chúng ta chưa có thể thực hiện một lượt ba phần thì đầu tiên chúng ta thực hiện một phần, phần tâm là đi đầu. Ở đây ngài cũng dạy quán tâm trước, kế quán thân rồi quán cảnh. Quán thứ tự như vậy để quý vị thực hành cho có kết quả từng bước chắc chắn, chứ không phải chỉ có bấy nhiêu đó thôi.
Phá chấp tâm là gốc, nếu tâm dấy lên biết nó hư dối không theo thì từ từ chúng ta buông được những cái chấp khác dễ dàng. Nếu chúng ta quán thân giả dối mà tâm cứ nghĩ là thật thì cũng còn chấp khá nặng. Vì vậy chúng ta đi từ bước đầu thấy tâm không thật, cho nên chữ vọng tưởng có nghĩa vọng là hư dối, tưởng là tưởng tượng, tất cả niệm tưởng đều hư dối, hư dối tức không thật, không thật tức là không. Bước đầu quý vị tu cho thuần thục, rồi sẽ tới những bước sau.
Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của thiền tổ. Bảy phen soi, tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Đoạn trên ngài nói về giới và thiền định, đến đây là phần tuệ. Nói về tuệ ngài dẫn những danh từ trong nhà thiền rất khó hiểu nào là tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của thiền tổ. Chúng tôi sẽ lần lượt giải thích cho quý vị rõ.
Tam quan là ba cửa hay ba cổng mình phải qua khỏi. Tam quan có chỗ nói là: Tổ sư quan, trùng quan và lao quan.
Tam quan cũng có nghĩa khác, theo thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long, ngài dùng tam quan hay ba cổng để hỏi.
Cổng thứ nhất: Ai cũng có sanh duyên (quê quán), vậy sanh duyên của Thượng tọa ở đâu?
Cổng thứ hai: Tay tôi sao giống tay Phật?
Cổng thứ ba: Chân tôi sao giống chân lừa?
Ba câu hỏi đó, ai trả lời thế nào cũng mặc, ngài không để ý, không nói đúng, không nói sai. Có nhiều người thắc mắc hỏi lại: Thưa ngài, ngài hỏi chúng con đáp, đúng hay sai ngài dạy cho chúng con biết, vì sao ngài lại làm thinh? Ngài trả lời rằng: Nếu anh muốn qua cổng, khi qua khỏi cổng rồi, anh có cần hỏi người gác cổng không? Nếu còn hỏi người gác cổng là anh chưa qua khỏi cổng. Vì vậy nên ta làm thinh không trả lời.
Sau này người ta gọi là tam quan của ngài Huệ Nam.
Còn Tam huyền Tam yếu là của ngài Lâm Tế. Ngài thường nói: “một câu nói phải đủ tam huyền tam yếu”, nhưng ngài không có giải thích thế nào là tam huyền tam yếu. Nếu có giải thích chăng là do người sau chứ tổ Lâm Tế không có giải, cho nên điều đó khó mà phân minh.
Rồi đến Ngũ vị của tông Tào Động gồm có:
Vị thứ nhất: Chánh trung thiên.
Vị thứ hai: Thiên trung chánh.
Vị thứ ba: Chánh trung lai.
Vị thứ tư: Thiên trung chí.
Vị thứ năm: Kiêm trung đáo.
Ngũ vị được giải thích rõ ở chương ngài Động Sơn Lương Giới, trong quyển Thiền Sư Trung Hoa tập II.
Đến phần Tứ liệu giản của tông Lâm Tế, gồm có:
Thứ nhất: Đoạt nhân bất đoạt cảnh, nghĩa là dẹp người mà không dẹp cảnh. Người ở đây là chỉ cho nội tâm, người tu chỉ một bề hướng về nội tâm mà dẹp. Thí dụ như hiện giờ chúng ta tu vừa thấy vọng tưởng dấy lên liền buông xả, đó thuộc về đoạt nhân bất đoạt cảnh, không cần dẹp ở bên ngoài.
Thứ hai: Đoạt cảnh bất đoạt nhân, tức là dẹp cảnh mà không dẹp người, không nhìn vào trong mà nhìn các pháp ở bên ngoài. Thấy người, thấy vật đều biết nó hư dối không thật, đó là đoạt cảnh. Nếu thấy cảnh không thật thì trong tâm không chạy theo. Đây là đoạt cảnh mà không đoạt nhân.
Thứ ba: Nhân cảnh câu đoạt, tức là ở trong thì dẹp tâm, ở ngoài thì dẹp cảnh, tâm cảnh đều phá.
Thứ tư: Nhân cảnh câu bất đoạt. Cảnh là cảnh, tâm là tâm, không dính nhau, cho nên cả hai đều không đoạt.
Kế đó là Tứ tân chủ, tông Lâm Tế và tông Tào Động đều có nói. Trong tông Lâm Tế, tân là khách đến tham vấn, chủ là vị thầy, vị sư để cho người tham vấn. Tứ tân chủ gồm có:
1. Tân khán chủ là người khách xem xét thấy rõ ông chủ.
2. Chủ khán tân là người chủ thấy tường tận được kẻ khách.
3. Chủ khán chủ là người chủ nhìn lại thấu suốt nơi mình.
4. Tân khán tân là người khách nhìn rõ ràng về họ.
Phần giải thích, tôi có nói kỹ trong quyển Thiền Sư Trung Hoa nên ở đây chỉ nói đơn lược thôi.
Tứ chiếu dụng cũng thuộc về tông Lâm Tế. Chữ chiếu là nói về người nhận thức, về chủ thể, còn chữ dụng là cái áp dụng bên ngoài, thuộc về khách thể. Chủ thể khách thể soi chiếu cho nhau nên gọi là chiếu dụng. Trong chiếu dụng có chia ra:
1. Trước chiếu sau dụng.
2. Trước dụng sau chiếu.
3. Chiếu dụng đồng thời.
4. Chiếu dụng bất đồng thời.
Nếu giải ra thì rất dài, nên chúng tôi chỉ kể tên thôi, chứ không thể giải hết được. Phần nhiều ở các nơi giải thích mỗi chỗ có sai biệt nhau chút ít, nên sau này nếu có dịp tra khảo lại quý vị sẽ thấy rõ hơn.
Bảy phen soi, tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Người tu thiền khi nắm được những cơ quan thiền tổ thì phải chịu khó soi cho phủng, dùi cho thấu và xét tới xét lui, đây gọi là nhồi đi ép lại để thấu triệt nguồn chân.
Chừng đó mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương. Mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương xuất xứ từ kinh Duy-ma-cật, quyển trung, phẩm Bất Tư Nghì, trong đó có kể ngài Duy-ma-cật ở trong thất nhỏ, có chư Bồ-tát, chư A-la-hán đến thăm rất đông. Ngài mới đưa tay lên cõi Phật Tu-di Đăng Vương ở thế giới Tu-di Tướng phương đông mượn các tòa đem về cho chư vị Bồ-tát ngồi. Các tòa của Phật Tu-di Đăng Vương để gần đầy cả bầu hư không, thế mà ngài mượn các tòa trên đó đem về trong thất nhỏ xíu để mời các vị Bồ-tát ngồi. Đó là để nói lên ý nghĩa khi người tu đạt đến chỗ viên mãn cứu cánh thì lớn nhỏ dung hợp nhau, không có gì chướng ngại.
Nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa. Sừng thỏ lông rùa có hay không? Những cái không biến thành có, những cái có biến thành không, có không đều không chướng ngại nhau. Cho nên khi được diệu dụng rồi thì tất cả lớn nhỏ, có không đều không chướng ngại.
Tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Tay của các ngài một phen xoay chuyển thì tất cả mọi người trong bốn chúng đều không thể hiểu nổi, không thể thấu được ý nghĩa thâm trầm của các ngài. Đó là để diễn tả người tu thiền khi thấu suốt được các ý nghĩa cao siêu của chư tổ thì sẽ có những diệu dụng không thể lường được. Những diệu dụng đó từ một hành động, từ một lời nói, đều chỉ ra chỗ chân thật mà mọi người ít ai hiểu, ít ai thấu suốt. Cho nên nói: Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Lúc đó trí tuệ vô thượng sẽ phát sanh, chiếu soi cùng khắp.
Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ. Người đạt đạo rồi thì tất cả pháp của Phật dạy đều có thể được viên mãn, cho nên nói lời gì, làm việc gì đều không ngoài pháp của Phật, và tất cả pháp của Phật dạy đều nằm trong cái thấy, cái biết, cái trình bày của chính mình, không có ra ngoài. Thế nên cái gì Phật có là mình cũng sẽ có, cái gì mình có tức là Phật đã có. Như vậy pháp Phật và pháp của người ngộ đạo nói ra không hai.
Về các từ ngữ chúng tôi sẽ giải thích tên cho quý vị rõ. Tứ vô lượng tâm là: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Người tu chắc rằng ai cũng có tâm từ bi hỷ xả, nhưng có tâm từ bi hỷ xả vô lượng thì không phải dễ. Vì chúng ta mới tập tu hoặc là tập mà chưa thuần, cho nên lòng từ bi hỷ xả chỉ có trong giới hạn, chứ chưa có trong vô lượng. Khi nào tâm từ bi hỷ xả được vô lượng thì được ngang với Bồ-tát, cho nên nói Tứ vô lượng tâm là tâm của Bồ-tát.
Kế đến là tứ niệm xứ. Tại sao gọi là tứ niệm xứ? Xứ là chỗ, niệm là chuyên nhớ, tức là bốn chỗ mình phải nhớ. Về pháp quán, Nhị thừa luôn luôn lấy tứ niệm xứ làm đề tài thiền quán.
Thứ nhất là quán thân bất tịnh, tức là quán thân này nhơ nhớp bất tịnh. Người tu phải luôn luôn chuyên tâm nhớ thân này là nhơ nhớp bất tịnh, đó là nhớ đúng lẽ thật. Vì chúng ta điên đảo tưởng thân là tịnh, cho nên bắt buộc chúng ta phải nhớ cho đúng lẽ thật, thân nhơ nhớp bất tịnh thì biết là thân nhơ nhớp bất tịnh. Nếu thân mình bất tịnh thì thân người khác cũng bất tịnh. Hằng nhớ như vậy thì dứt được bệnh luyến ái về thân, thân mình và thân người.
Thứ hai là quán thọ thị khổ. Thọ tức là tất cả cảm giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình. Hằng quán tất cả cảm giác đều là khổ. Trong kinh nói thọ chia ra ba thứ: khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ, tức là cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ. Thí dụ cảm giác của lưỡi, khi chúng ta để thức ăn ngon vào lưỡi thì có cảm giác vui, còn để thức ăn quá đắng vào lưỡi thì có cảm giác khổ, nếu bưng ly nước lã uống thì cảm giác không khổ không vui, nước lã không thích cũng không không thích, trừ khi nào khát.
Lẽ ra cảm giác có khi khổ khi vui, vì sao ở đây chỉ dạy chúng ta phải quán thọ là khổ, cảm giác là khổ? Cảm giác dù là vui, nhưng mọi cảm giác đều vô thường, qua rồi mất. Cái gì bị vô thường chi phối đều là khổ. Tại sao vậy? Vì cảm giác vui thì mình muốn giữ, mà nó qua mất cho nên khổ. Còn cảm giác khổ, muốn qua cho nhanh mà cứ nhớ hoài. Thí dụ như uống một chén thuốc bắc vừa hôi vừa đắng, cảm giác khi uống là khổ, cho nên muốn uống cho mau. Uống qua rồi mà vị đắng vẫn chưa hết! Muốn qua mau, lại nhớ lâu, cho nên cũng khổ. Thọ vui rồi mất, thọ khổ lại kéo dài, cho nên tất cả thọ dù khổ dù vui hay không khổ không vui, Phật đều kết luận là khổ. Nếu mọi cảm giác đều là khổ thì chúng ta có thích cảm giác vui chán cảm giác khổ hay không? Vì biết cảm giác nào cũng là gốc khổ, nên chúng ta không tìm không thích. Đó gọi là quán thọ thị khổ.
Thứ ba là quán tâm vô thường. Tâm vô thường là những tâm niệm của mình, giờ phút này nó nghĩ khác, giờ phút sau nó nghĩ khác, luôn luôn chạy nhảy không dừng giống như khỉ vượn. Vì tâm là vô thường, làm sao tin được nó. Thế mà có nhiều người nói tâm tôi tốt lắm, có nên tin lời đó không? Khi gặp cảnh tốt thì nó tốt, gặp cảnh xấu chưa chắc nó tốt. Thí dụ gặp ai khen mình, lúc đó chúng ta rất tốt, rất vui mừng. Nếu gặp ai chửi mình, chúng ta còn tốt không? Lúc đó tâm sân hận nổi lên ngay, làm sao tốt được!
Như vậy tâm chúng ta không cố định là tốt hay xấu, luôn luôn chuyển biến theo cảnh bên ngoài. Người đời không biết nên cứ nuôi dưỡng tâm vô thường cho nó là hay là quý. Người tu biết nên dùng chữ vọng hay huyễn để chỉ nó, và không theo nó. Trong kinh Phật dạy: Chừng nào chứng A-la-hán, các ông mới nên tin tâm mình. Còn chưa chứng A-la-hán, thì không tin nó được. Vậy mà có nhiều người nói tâm tôi cứng cỏi không sợ. Cứng cỏi không sợ là vì người ta yếu hơn mình, còn nếu người mạnh hơn thì mình thua ngay. Thế nên ai tin tâm mình là giống như tin kẻ trộm cướp, thế nào cũng bị nó gạt. Vậy phải luôn quán tâm là vô thường, không đáng tin.
Thứ tư là quán pháp vô ngã. Tất cả pháp chia làm hai loại: một là pháp ở nội tâm, gọi là tâm sở pháp, hai là pháp ở bên ngoài gọi là các pháp. Tất cả pháp dù ở nội tâm hay ở bên ngoài đều là duyên hợp, không có thật thể, nên gọi là vô ngã.
Bốn pháp quán này là pháp tu của Nhị thừa, gọi là quán tứ niệm xứ.
Đến đây chúng tôi nói về bát chánh đạo, đây là pháp tu của Nhị thừa, là căn bản của Phật pháp. Chư tăng ni đi thọ giới thường được hỏi về ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong đó bát chánh đạo là gốc, gồm có:
1- Chánh kiến, 2- Chánh tư duy, 3- Chánh ngữ, 4- Chánh nghiệp, 5- Chánh mạng, 6- Chánh tinh tấn, 7- Chánh niệm, 8- Chánh định.
Trong bát chánh đạo tuy không nói về tuệ, nhưng chánh kiến thuộc về tuệ rồi, còn chánh niệm chánh định thuộc về định. Vậy bát chánh đạo là nền tảng của người tu Phật, chúng ta phải nắm cho thật vững, đó là con đường đi không thể quên được.
Tứ vô úy cũng gọi là tứ vô sở úy, tức là bốn đức chẳng sợ, đây nói về bốn đức chẳng sợ của Phật, gồm có:
1. Có trí biết tất cả, nên chẳng sợ chi hết.
2. Dứt hết các phiền não, nên chẳng sợ chi hết.
3. Giảng thuyết chỉ chỗ ngăn hại đạo, nên chẳng sợ chi hết.
4. Giảng thuyết dạy dứt hết các khổ, nên chẳng sợ chi hết.
Bốn đức này của Phật, người tu cần phải biết.
Thập lực của Phật gồm có:
1. Biết rõ nhân duyên quả báo trong mọi trường hợp.
2. Biết rõ nghiệp nhân nghiệp quả của mọi chúng sanh quá khứ, hiện tại, vị lai.
3. Biết rõ tất cả mọi cấp thiền định cạn sâu hướng đến giải thoát.
4. Biết rõ căn tánh hơn kém và quả báo nặng nhẹ của mọi chúng sanh.
5. Biết rõ những việc thiện ác và các dục vọng khác nhau của mọi chúng sanh.
6. Biết rõ hoàn cảnh, tình huống khác nhau của mọi chúng sanh.
7. Biết rõ sự vận hành các quy luật thiện ác.
8. Biết rõ các đời sống quá khứ.
9. Biết rõ các đời sống vị lai.
10. Biết rõ các lậu hoặc đã dứt sạch.
Về mười tám pháp bất cộng của Phật, trong Đại Phẩm Bát-nhã có nói:
1. Thân không lầm lỗi.
2. Miệng không lầm lỗi.
3. Niệm không lầm lỗi.
Thân, miệng và niệm của Phật không bao giờ lầm lỗi. Trái lại thân miệng và ý niệm của chúng ta thường lầm lỗi, cho nên chúng ta phải tu thật lâu mới có thể sạch được phần nào.
4. Bình đẳng cứu độ tất cả chúng sanh.
5. Tâm luôn luôn ở trong thiền định.
6. Tâm luôn luôn vắng lặng, an tịnh trước mọi cảnh khổ vui.
7. Tâm mong muốn cứu độ chúng sanh không nhàm chán.
8. Luôn luôn tinh tấn trong mục đích độ sanh.
9. Đầy đủ niệm lực.
10. Đầy đủ trí tuệ.
11. Đầy đủ giải thoát.
12. Đầy đủ giải thoát tri kiến.
13. Thân nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
14. Khẩu nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
15. Ý nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
16. Biết rõ các đời sống quá khứ.
17. Biết rõ các đời sống vị lai.
18. Biết rõ hiện tại đã dứt sạch các lậu hoặc.
Mười tám pháp này gọi là thập bát bất cộng, vì chỉ đức Phật biết còn tất cả chúng ta chưa ai biết được, cho nên không có cộng, không có chung.
Cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, đà-la-ni là thần chú, tức là tám muôn bốn ngàn pháp thần chú. Tại sao Phật nói nhiều thần chú như vậy? Vì Phật đã ngộ đã chứng nên những điều Phật nói hay Phật làm đều là cứu khổ độ sanh, giống như thần chú có diệu dụng làm cho người hết khổ, thế nên nói tám muôn bốn ngàn môn thần chú đà-la-ni.
Trần trần sát sát, trần là bụi, sát là cõi nước.
Tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất, mỗi mỗi đều đầy đủ. Tam-muội là chánh định. Dù cho bao nhiêu hạt bụi, bao nhiêu cõi nước, tất cả môn tam-muội đều từ chỗ giác ngộ của mình mà xuất hiện đầy đủ không có thiếu sót. Khi chúng ta tu đầy đủ diệu dụng thì tất cả diệu dụng của Phật từ từ chúng ta cũng sẽ có.
Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.
Ở đây ngài dạy cho chúng ta thấy rõ, nếu chúng ta tu được định rồi phát tuệ thì định và tuệ hỗ tương nhau, nên chúng ta mới làm được những việc lợi ích cho chúng sanh, nào là ban cho chúng sanh những nguyện lực không cùng tận, nào là chúng ta tự giác rồi giác ngộ cho người, tứ sanh và cửu loại tất cả đều được thấm nhuần. Tứ sanh là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Cửu loại tức là chín loài, gồm có:
1. Loài sanh bằng trứng.
2. Loài sanh bằng thai.
3. Loài sanh từ nơi ẩm thấp.
4. Loài sanh bằng biến hóa.
5. Loài sanh có sắc.
6. Loài sanh không có sắc.
7. Loài sanh có tưởng.
8. Loài sanh không có tưởng.
9. Loài sanh không có tưởng cũng không phải không có tưởng, tức là phi phi tưởng.
Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền. Nếu chúng ta tu mà chỉ dùng trí tuệ quán chiếu, tâm không an định thì gọi là càn tuệ tức tuệ khô. Còn nếu thiền định yên lặng mà không có trí tuệ, gọi là si thiền tức là tu thiền mà không sáng suốt.
Thiền có chia làm năm: 1- Phàm phu thiền, 2- Ngoại đạo thiền, 3- Tiểu thừa thiền, 4- Đại thừa thiền, 5- Thượng thừa thiền. Đây là nói theo nhận định của ngài Tông Mật. Năm loại thiền này chúng tôi đã giảng trong cuốn Nguồn Thiền, nay xin nhắc lại.
1. Phàm phu thiền. Tu thiền định theo nhà Phật, tuy chứng được bốn thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, cũng gọi là phàm phu thiền, vì tu bốn thiền này người tu chỉ sanh từ cõi trời Sắc giới trở xuống thế gian thôi, chứ chưa giải thoát.
2. Ngoại đạo thiền. Cách tu thiền này có hai trường hợp: một là tu để cầu thần thông, hai là tu không hướng về nội tâm, lại hướng bên ngoài để cầu trợ lực. Trong nhà thiền định nghĩa ngoại đạo thiền một cách đơn giản là ngoài tâm cầu đạo, tức là tu thiền mà không hướng vào nội tâm để an định, lại mong cái gì bên ngoài trợ lực cho mình.
3. Tiểu thừa thiền. Chúng ta đã biết qua rồi.
4. Đại thừa thiền là cách tu thiền của ngài Huệ Tư dạy cho ngài Trí Giả đại sư về pháp quán Không, Giả, Trung.
5. Thượng thừa thiền hay Tối thượng thừa thiền, tức là thiền tông.
Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ và sáu vị tổ ở Trung Hoa, rồi tổ tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.
Phật Tỳ-lô-giá-na là chỉ Phật pháp thân, mà Phật pháp thân là Phật sẵn có của tất cả chúng sanh, chứ không phải riêng một đức Phật nào. Nói rằng, đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca-mâu-ni, đó là một lối nói, thật ra Phật pháp thân đã có sẵn từ vô số kiếp, đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã phát hiện và ngài đã sống được, rồi chỉ dạy lại, truyền cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ, sáu vị tổ ở Trung Hoa và trao lần cho đến sau này. Tất cả người ngộ được chứng được đều có đường lối chung như vậy.
Đến đây ngài răn: Này các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò. Chúng tôi thêm các cô vào cho đủ: Các chú và các cô, quý vị đã vào trong chùa làm người tu, làm học trò...
Chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật tổ? Không chịu tham cứu cho cùng tột, xem chỗ nào Phật đã ngộ tổ đã ngộ, tìm cho tột chỗ đó.
Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Chúng ta phải biết rõ Tiểu thừa tu thế nào, ngoại đạo tu ra sao.
Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến, ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả, mênh mang bát ngát chiêu ương họa. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.
Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!
Đây là lời khuyên nhắc của ngài: Là người tu trong đạo, chúng ta phải tìm cho tận cội nguồn, chỗ chư tổ đã ngộ, chỗ đức Phật đã giác ngộ và giải thoát. Kế đến phải thấy chỗ tu của ngoại đạo, chỗ thực hành của Tiểu thừa. Rồi chúng ta cố gắng tu cho vững, làm sao nơi mình có đầy đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh. Được như vậy chúng ta mới có thể thoát khỏi quỷ vô thường dẫn xuống vua Diêm-la. Chớ bác không nhân quả để rồi phải tự chuốc lấy họa, làm cho Phật pháp suy vi, đó là lỗi lớn ở chính mình.
Về ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chúng tôi kể cho quý vị nghe. Đó là căn cứ vào hai trăm năm mươi giới của Tỳ-kheo, phối hợp với bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi thì được một ngàn oai nghi. Lại kết hợp với ba đời quá khứ hiện tại vị lai, thành ba ngàn oai nghi. Đồng thời phối hợp với bảy chi của thân và khẩu là sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ thành ra hai mươi mốt ngàn, rồi phối hợp với bốn thứ phiền não tham, sân, si, đẳng phần, như vậy thành tám muôn bốn ngàn tế hạnh. Đây chỉ là con số tượng trưng.
Qua bài này tổ Pháp Loa muốn cho tất cả người tu chúng ta phải đủ ba môn: giới, định, tuệ. Giới định tuệ viên mãn, chúng ta mới có thể thành công trên đường tu giác ngộ và giải thoát. Nếu trong ba môn mà thiếu một thì khó được giải thoát. Trên đây dùng rất nhiều danh từ, chúng tôi chỉ nói đơn giản, chứ không giải thích hết được.
✵✵✵
NÓI CHỖ CỐT YẾU CỦA ĐẠI THỪA
(Đại Thừa Yếu Thuyết)
Nếu người học cần yếu phải từ cạn đến sâu. Tức là gồm ba môn tuệ học, văn tư tu, ba môn này thảy đều là Bát-nhã. Giải rằng: Trước cần nghe pháp sanh tri giải, gọi là văn tuệ. Kế suy gẫm pháp đã nghe, nhận định yếu lý rõ ràng, do suy gẫm nhập tâm mình, gọi là tư tuệ. Rốt sau, như chỗ đã nghe, đã suy gẫm, căn cứ vào đó tu hành không cho sai chạy, gọi là tu tuệ. Hai tuệ trước thuộc về hữu lậu, một tuệ sau thuộc vô lậu. Trước thì cạn, sau thì sâu. Tuy cạn sâu có khác, đều gọi chung là tuệ.
Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu người được nghe hiểu, suy gẫm tu hành, ắt biết người ấy được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Lại nói Giáo Lý Hạnh Quả rằng: “Do suy tầm Giáo nên ngộ được Lý, nhân ngộ Lý khởi Hạnh, Hạnh thành thì chứng Quả.” Cho nên gọi là Giáo, Lý, Hạnh, Quả.
Nay lược nêu ít điều để chỉ bày cho người học, nếu khéo nhận rõ được chỗ này thì sẽ thông suốt chỗ kia. Cổ đức nói: “Học một quyển kinh được thông thì muôn quyển kinh đều hiểu.” Đây là chỗ tôi nhắc, người học phải thẩm tra tường tận.
Giảng:
Bài trước ngài nói về tam vô lậu học giới định tuệ, ở đây ngài nói về tam tuệ học văn tư tu. Chúng ta cần nắm vững trên đường tu cái nào quan trọng, phải biết cho thật rõ.
Nếu người học cần yếu phải từ cạn đến sâu. Tức là gồm ba môn tuệ học, văn tư tu, ba môn này thảy đều là Bát-nhã (trí tuệ). Giải rằng: Trước cần nghe pháp sanh tri giải, gọi là văn tuệ. Kế suy gẫm pháp đã nghe, nhận định yếu lý rõ ràng, do suy gẫm nhập tâm mình, gọi là tư tuệ. Rốt sau, như chỗ đã nghe, đã suy gẫm, căn cứ vào đó tu hành không cho sai chạy, gọi là tu tuệ. Hai tuệ trước thuộc về hữu lậu, một tuệ sau thuộc vô lậu. Trước thì cạn, sau thì sâu. Tuy cạn sâu có khác, đều gọi chung là tuệ.
Chúng tôi sẽ giải thích cho quý vị thấy tam tuệ học này rất thiết yếu đối với người tu học. Trước là văn tuệ, kế là tư tuệ, sau là tu tuệ. Nếu người nào học đạo mà thiếu ba môn này, đó là người không biết học đạo.
Trước hết tôi nói về văn tuệ, văn là nghe. Thí dụ như nghe giảng về các pháp vô thường, quý vị hiểu được, đó là văn tuệ.
Nếu chúng ta nghe hiểu rồi thôi, thì cái hiểu đó chỉ là cạn cợt ngoài da, không thấm vào tâm tư mình, nên phải có tư, nghĩa là chúng ta phải ngồi lại suy gẫm cho thấu đáo xem các pháp vô thường như thế nào. Căn cứ vào thân mình từ nhỏ đến lớn, rồi già và chết, vậy thân mình là vô thường. Cái nhà khi nào mới xây cất, nay cũ rồi hư hoại, căn nhà là vô thường. Đến cây cối chúng ta trồng, từ một mầm nhỏ, lớn thành cây rồi già, khô cành gãy nhánh và chết rụi. Suy gẫm từ con người đến sự vật chung quanh như cái nhà, cây cối v.v..., chúng ta thấy tất cả đều vô thường, suy gẫm như thế gọi là tư tuệ.
Chúng tôi thường trách tăng ni chỉ nghe giảng kinh dạy sử, rồi về xếp lại không suy gẫm xem những lời Phật tổ chỉ dạy ý nghĩa như thế nào, rồi tìm từ sự vật chung quanh cho đến bản thân mình xem những lời Phật tổ dạy có đúng như thật hay không. Suy gẫm kỹ, thấy tường tận gọi là tư, như vậy mới là trí tuệ của mình.
Nghe và hiểu được những lời Phật tổ dạy là hay, là đã có trí tuệ rồi, nhưng phải suy tư thật kỹ mới thấm. Khi thấm được, biết đó là chân lý, thì phải ứng dụng tu, đó là tu tuệ.
Đa số người học đạo chỉ có văn mà không có tư, nên hiểu cạn ngoài da. Chỉ khi nào làm thầy dạy người mới có tư một chút, suy gẫm lời Phật dạy, phải hiểu thế nào để giải cho người hiểu, nhờ đó mới thấm. Thế nên người học nhiều kinh điển mà không dạy người khác thì không có tư tuệ nên dễ quên. Nhờ dạy mà chúng ta nhớ lâu, nhìn được tường tận.
Lúc xưa khi viết về ba môn tuệ này, chúng tôi nói: Phật dạy ba môn tuệ rất khoa học, thích hợp với cuộc sống hiện tại của chúng ta. Ở thế gian bất cứ ai đi học, muốn giỏi và thành nghề, đều phải qua ba phần: thứ nhất là lý thuyết, tức là văn; thứ hai là thí nghiệm hay nghiền ngẫm, tức là tư; thứ ba là thực hành, tức là tu. Trong đạo nói văn, tư, tu, ngoài đời gọi là lý thuyết, thí nghiệm và thực hành. Vậy người học Phật không phải nghe rồi tin, mà phải nghe rồi hiểu, hiểu rồi suy gẫm cho tường tận, đối chiếu từ cái này đến cái kia coi đúng như thật hay không. Chừng nào suy gẫm đúng, chừng đó mới ứng dụng tu.
Như vậy văn tư tu là ba môn rất thiết yếu trong nhà Phật. Trong đây chia ra hai cái trước là trí tuệ cạn, cái thứ ba mới là sâu. Tại sao? Vì thực hành rồi, mới là cái thực chứng của mình, còn chưa thực hành thì chưa thực chứng.
Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu người được nghe hiểu, suy gẫm tu hành, ắt biết người ấy được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Nếu người nào có đủ ba môn văn tư tu thì người đó gần với Phật, bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại nói Giáo Lý Hạnh Quả rằng: “Do suy tầm Giáo nên ngộ được Lý, nhân ngộ Lý khởi Hạnh, Hạnh thành thì chứng Quả.” Cho nên gọi là Giáo, Lý, Hạnh, Quả.
Trong kinh Phật luôn luôn đặt ra giáo, lý, hạnh, quả. Từ giáo chúng ta được lý, nếu khéo tu thì từ lý sẽ đi tới hành, mà hành tức nhiên đạt được quả. Chúng tôi dẫn một câu trong kinh Kim Cang Phật dạy: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến Như Lai. “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, phàm cái gì có tướng đều là hư dối, biết rõ được lời Phật dạy như thế gọi là giáo. Khi nghe như vậy, chúng ta phải suy gẫm, do suy gẫm mà ngộ được lý: tất cả pháp đều là hư vọng. Vậy nương nơi giáo suy gẫm mà đạt lý, là các pháp như huyễn, hư dối, không thật.
Đến câu “nhược kiến chư tướng phi tướng” là biết các pháp duyên hợp hư huyễn. Hiểu rõ như vậy, chúng ta nhìn pháp nào cũng biết là hư huyễn, nên các tướng của nó đều không phải tướng, tức là hư dối, huyễn hóa. Thấy tường tận như vậy gọi là hạnh. Thấy các pháp là huyễn hóa không thật, dù thiên hạ khen pháp đó là đẹp là quý, chúng ta cũng biết nó là huyễn, tức là “kiến chư tướng phi tướng”, chừng đó liền được quả “tắc kiến Như Lai”, nghĩa là thấy Phật.
Như vậy từ nơi giáo chúng ta ngộ lý, từ lý mà quán chiếu thực hành, do thực hành nên được kết quả. Chỉ trong một câu kinh của Phật gồm đủ cả giáo, lý, hạnh, quả. Nếu chúng ta khéo tu thì sẽ được kết quả tốt đẹp không nghi ngờ, còn không khéo tu thì khó biết được kết quả như thế nào!
Nay lược nêu ít điều để chỉ bày cho người học, nếu khéo nhận rõ chỗ này thì sẽ thông suốt chỗ kia. Nếu hiểu được chỗ này tường tận thì chỗ kia chúng ta cũng thấu suốt.
Cổ đức nói: “Học một quyển kinh được thông thì muôn quyển kinh đều hiểu.” Đây là chỗ tôi nhắc, người học phải thẩm tra tường tận. Học một quyển kinh mà thông suốt, thâm nhập được thì đọc những quyển khác chúng ta đều hiểu. Còn đọc quyển nào cũng qua loa, dù đọc một ngàn quyển cũng không hiểu gì cả. Đó là ý nghĩa của đoạn này.
✵✵✵
CÁCH HỌC CẦN BIẾT RÕ
(Yếu Minh Học Thuật)
Người học trước phải khảo xét Kinh, Pháp, sau mới tu hành. Kinh có năm vị, Pháp có bốn pháp.
Kinh có năm vị: 1- Tư lương vị tức là Thập tín. 2- Gia hạnh vị tức là Thập trụ. 3- Kiến đạo vị tức là Thập hạnh. 4- Tu đạo vị tức là Thập hồi hướng. 5- Cứu cánh vị tức là Thập địa.
Pháp có bốn pháp: 1- Pháp chọn bạn. 2- Pháp nghe đạo. 3- Pháp giữ đạo. 4- Pháp chứng đạo.
Vị tư lương ở đầu là phước điền chung cho tất cả, bốn vị sau là tu hành riêng. Bốn vị phối hợp với bốn pháp:
1. Pháp chọn bạn có hai: Không nên thân cận, nên thân cận.
a. Không nên thân cận
Tăng có bốn hạng si: tăng tham, tăng ác, tăng dối trá, tăng không có lòng tin. Thầy có bốn thứ lỗi: thầy tà, thầy ngoại đạo, thầy tật đố, thầy tiểu tâm. Bạn có bốn hạng kém: chấp pháp Tiểu thừa, tham cầu phước báo, chấp tướng ngã nhân, tâm không trí tuệ. Những vị này đều không nên thân cận.
b. Nên thân cận
Tăng có lục hòa: thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh, ý hòa không trái (ý hòa cùng vui), hiểu biết hòa cùng giải bày, giới hòa cùng tu, lợi hòa chia đồng nhau. Thầy có bốn hạng chánh: thầy chánh tông, thầy chánh tâm, thầy chánh hạnh, thầy chánh ngữ. Bạn có bốn hạng thù thắng: học Đại thừa, thông suốt kinh điển, thấy việc vô ích thì khuyên can, có nạn giúp đỡ nhau. Những người này nên thân cận, tức thuộc Gia hạnh vị.
2. Pháp nghe đạo. Vì thân cận thầy bạn nên được ngộ chánh tông, xa lìa pháp tướng, thường giữ nội tâm, tức là vị Kiến đạo.
3. Pháp giữ đạo. Người đã ngộ chánh tông nên chọn cảnh mà ở. Cảnh thì có núi dữ, nước (sông) dữ không nên ở. Cảnh phải đủ bốn duyên: nước, lửa, lương thực, rau quả, là đủ bốn duyên. Lại nói: Cảnh không gần nhân gian, chẳng xa nhân gian - gần thì ồn náo, xa thì không người hộ trì - đây là cảnh nên ở. Ở cảnh này dễ dứt nghiệp, dưỡng thần nuôi trí, sanh tâm Bát-nhã, tính ghi nhớ, nuôi lớn thai thánh, ắt được chứng đạo. Đây tức thuộc vị cứu cánh, tức pháp viên mãn đạo, mới được siêu phàm nhập thánh.
Kinh Pháp Hoa phẩm An Lạc Hạnh dẫn kinh A-hàm nói: Xa lìa bốn hạng bạn ác, gần gũi bốn hạng bạn lành.
Xa lìa bốn hạng bạn ác là:
a. Gần gũi bạn ác bên ngoài thì sợ, mà trong lòng không thân.
b. Nói lời êm đẹp với bạn ác, lời thì thuận mà ý thì trái.
c. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận đối với việc làm thiện ác đều hùa theo, mà không có tâm can gián nhau.
d. Đồng sự với bạn ác, là cùng bạn ác làm việc ác, như cùng uống rượu, cờ bạc, dâm dật, ca múa…
Gần gũi bốn hạng bạn lành là:
a. Bạn lành dừng lỗi, mọi việc ác cùng dừng.
b. Bạn lành thương mến, gặp việc khổ thương mến nhau.
c. Bạn lành lợi người, được việc vui chia sớt nhau.
d. Bạn lành đồng sự, gặp việc lành chung nhau làm.
Thấy học giả thời nay, chưa nghe đạo tự xưng mình hành đạo. Chẳng biết họ hành cái đạo gì? Cổ đức nói: “Ăn được vài cọng rau, tự xưng là Tổ sư trai.” Lại nói: “Như con trâu trọn đời ăn cỏ, mà chưa từng thành Phật.” Cho nên ngài Tuệ Trung nói: “Ăn rau cùng ăn thịt, chúng sanh mỗi sở thuộc; xuân về trăm cỏ sanh, làm sao thấy tội phước?” Lý Nguyên nói: “Ba chục năm qua tầm kiếm khách.” Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy.
***
Vả lại, Sư là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ. Thường ngày bàn thiền nói pháp, mà không một pháp có thể được. Nơi nơi tiếp độ chúng sanh, mà không phải chúng sanh, nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi. Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hý gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Ai có thể dò xét được bờ mé của ngài.
Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi. Nếu không được vậy, ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác.”
Tuy tôi có duyên kim cải, gặp được sách quý, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết thánh hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ơn. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ơn như trời cao lồng lộng. Nghe một câu mà lặng thần có thể được thành Chánh giác.
Ôi!
Kiếm vì bất bình rời vỏ báu,
Thuốc do trị bệnh thoát bình vàng.
Kệ rằng:
Ma cường pháp nhược, đạo sao côi!
Phật tổ khuyên răn tạo bản đồ.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực,
Ai hay thức giả giải hạnh vô.
(Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu khắc bản in.)
Giảng:
Người học trước phải khảo xét Kinh, Pháp, sau mới tu hành. Kinh có năm vị, Pháp có bốn pháp.
Kinh có năm vị:
1. Tư lương vị, tức là Thập tín.
2. Gia hạnh vị, tức là Thập trụ.
3. Kiến đạo vị, tức là Thập hạnh.
4. Tu đạo vị, tức là Thập hồi hướng.
5. Cứu cánh vị, tức là Thập địa.
Kinh có năm vị, mỗi vị có mười phần gọi là Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng và Thập địa.
Theo kinh Lăng-nghiêm, năm vị gồm có:
1. Tư lương vị tức là Thập tín. Bước vào vị Bồ-tát, Thập tín là căn bản, gồm có: 1- Tín tâm, 2- Niệm tâm, 3- Tinh tấn tâm, 4- Tuệ tâm, 5- Định tâm, 6- Bất thối tâm, 7- Hộ pháp tâm, 8- Hồi hướng tâm, 9- Giới tâm, 10- Nguyện tâm.
2. Gia hạnh vị tức là Thập trụ: 1- Phát tâm trụ, 2- Trị địa trụ, 3- Tu hành trụ, 4- Sinh quý trụ, 5- Phương tiện cụ túc trụ, 6- Chánh tâm trụ, 7- Bất thối trụ, 8- Đồng chân trụ, 9- Pháp vương tử trụ, 10- Quán đỉnh trụ.
3. Kiến đạo vị tức là Thập hạnh: 1- Hoan hỷ hạnh, 2- Nhiêu ích hạnh, 3- Vô sân hận hạnh, 4- Vô tận hạnh, 5- Ly si loạn hạnh, 6- Thiện hiện hạnh, 7- Vô trước hạnh, 8- Tôn trọng hạnh, 9- Thiện pháp hạnh, 10- Chân thật hạnh.
4. Tu đạo vị tức là Thập hồi hướng: 1- Cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng, 2- Bất hoại hồi hướng, 3- Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng, 4- Chí nhất thiết xứ hồi hướng, 5- Vô tận công đức tạng hồi hướng, 6- Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng, 7- Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng, 8- Chân như tướng hồi hướng, 9- Vô phược giải thoát hồi hướng, 10- Pháp giới vô lượng hồi hướng.
5. Cứu cánh vị tức là Thập địa: 1- Hoan hỷ địa, 2- Ly cấu địa, 3- Phát quang địa, 4- Diệm tuệ địa, 5- Nan thắng địa, 6- Hiện tiền địa, 7- Viễn hành địa, 8- Bất động địa, 9- Thiện tuệ địa, 10- Pháp vân địa.
Đây là phối hợp năm vị trải qua năm mươi địa của chư Bồ-tát.
Pháp có bốn pháp: 1- Pháp chọn bạn, 2- Pháp nghe đạo, 3- Pháp giữ đạo, 4- Pháp chứng đạo.
Vị tư lương ở đầu là phước điền chung cho tất cả, bốn vị sau là tu hành riêng. Bốn vị phối hợp với bốn pháp.
Đây nói bốn pháp:
1. Pháp chọn bạn có hai: Không nên thân cận, nên thân cận.
Về chọn bạn thì phải biết bạn nên thân cận và bạn không nên thân cận. Đây là nói về pháp số, nhưng thật ra là chỉ cho chúng ta sống trong tùng lâm biết người nào nên gần, người nào không nên gần.
a. Không nên thân cận
Tăng có bốn hạng si: tăng tham, tăng ác, tăng dối trá, tăng không có lòng tin. Tăng là chỉ chung cả tăng và ni.
Một là tăng tham, người tu dù tăng hay ni nhưng lòng tham muốn chứa chấp nhiều của cải tiền bạc, tăng đó chúng ta không nên thân cận gần gũi.
Hai là tăng ác, thường gọi là ác tăng, cũng không nên gần gũi. Tại sao? Vì những người đó tuy hình thức người tu mà không có tâm từ bi hỷ xả, chỉ chứa chấp sự nóng giận hung dữ.
Ba là tăng dối trá, bên ngoài thì hình thức người tu mà trong lòng chứa chấp những điều gian giảo, dối trá lừa bịp người chứ không thật tu.
Bốn là tăng không có lòng tin. Tuy tu Phật mà không tin Phật, lại tin những chuyện đâu đâu. Thí dụ như pháp Phật dạy phải lấy nhân quả làm căn bản, nhưng chúng ta không tin nhân quả, lại tin bùa chú... các thứ mê tín bên ngoài.
Đây là nói về tăng bạn bè ngang hàng.
Thầy có bốn thứ lỗi: thầy tà, thầy ngoại đạo, thầy tật đố, thầy tiểu tâm.
Thầy tà là thầy dạy mình những điều không đúng chánh pháp. Thầy ngoại đạo như ở những ngôi chùa có vị thầy dạy mình coi tay, coi tướng, bói quẻ v.v... Thầy tật đố, tức là thầy cứ chê người này, ghét người kia, giận người nọ, nghe nói ai hơn mình thì tức tối, chống cự v.v... Thầy tiểu tâm tức thầy tâm nhỏ hẹp, làm việc gì cũng nhắm vào sự ích kỷ của bản thân, của cá nhân.
Học những điều này có lợi cho người học trò và cả người thầy, để biết mình thuộc hạng nào mà dè dặt.
Bạn có bốn hạng kém: chấp pháp Tiểu thừa, tham cầu phước báo, chấp tướng ngã nhân, tâm không trí tuệ.
Những người bạn nói: “làm đi có phước lắm, đời sau sanh ra giàu sang sung sướng,” bạn đó là bạn tham cầu phước báo. Bạn chấp tướng ngã nhân là người bạn khi nói chuyện luôn luôn đem người này người kia ra để phê phán khen chê.
Bạn tâm không trí tuệ, si mê không biết lẽ phải quấy đúng sai, đó là không có trí tuệ.
Những vị này đều không nên thân cận. Tóm lại, ngài dạy chúng ta mỗi phần có bốn hạng không nên thân cận. Tăng là chung cho cả tăng ni, những vị tăng nào thuộc về tham, ác, dối trá, không có lòng tin thì chúng ta không nên gần. Kế đến là thầy, vị thầy nào không dạy chánh đạo lại đem pháp ngoại đạo dạy là thầy tà, thầy ngoại đạo không nên gần. Vị thầy nào khinh người này chê người kia, hoặc ai hơn thì kiếm chuyện gièm pha, nhỏ nhen ích kỷ là thầy tật đố, thầy tiểu tâm thì không nên gần. Còn bạn thì nhớ: bạn thích pháp Tiểu thừa, bạn thích cầu phước báo, bạn nói về nhân ngã, bạn không có trí tuệ thì không nên gần.
Những điều này quý vị phải biết để chọn tăng, chọn thầy, chọn bạn không bị lầm.
b. Nên thân cận
Tăng có lục hòa: thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh, ý hòa không trái (ý hòa cùng vui), tức là ý hòa đồng duyệt, duyệt là vui, chẳng những không trái mà còn vui với nhau. Hiểu biết hòa cùng giải bày, giới hòa cùng tu, lợi hòa chia đồng nhau. Tăng có sáu hòa là tăng chúng ta nên thân cận.
Thầy có bốn hạng chánh: thầy chánh tông, thầy chánh tâm, thầy chánh hạnh, thầy chánh ngữ. Thầy chánh tông là thầy dạy chúng ta con đường tu hành đúng như Phật tổ. Thầy chánh tâm là thầy hướng chúng ta tu, đi thẳng vào con đường đạo chứ không quanh co. Thầy chánh hạnh tức là thầy có hạnh chân chánh để hướng dẫn mình. Thầy chánh ngữ tức thầy dùng lời chân chánh của Phật tổ đem ra dạy.
Bạn có bốn hạng thù thắng: học Đại thừa, thông suốt kinh điển, thấy việc vô ích thì khuyên can, có nạn giúp đỡ nhau. Bốn hạng đó là nên thân cận. Quý vị nhớ bốn hạng bạn này để chọn cho kỹ và nên gần. Còn thấy chuyện vô ích mà không khuyên can để mặc làm gì làm, đó chưa phải là bạn tốt, chưa phải là bạn lành. Có tai nạn thì ngó lơ, đó cũng không phải là bạn lành.
Những người này nên thân cận, tức thuộc Gia hạnh vị. Tóm lại tăng thì phải được lục hòa mới nên gần. Thầy thì phải chánh tông, chánh tâm, chánh hạnh, chánh ngữ mới nên gần. Bạn thì phải thông Đại thừa, suốt kinh điển, khuyên can mình điều quấy, giúp đỡ khi khó khăn, mới nên gần.
2. Pháp nghe đạo. Vì thân cận thầy bạn nên được ngộ chánh tông, xa lìa pháp tướng, thường giữ nội tâm, tức là vị Kiến đạo. Nếu người tu được gần những vị tăng lục hòa, những thầy chân chánh, những người bạn tốt, tức là đã tiến được một bước rồi.
3. Pháp giữ đạo. Người đã ngộ chánh tông nên chọn cảnh mà ở. Cảnh thì có núi dữ, nước (sông) dữ không nên ở. Chữ dữ này là chỗ xấu, tức là những núi hiểm nguy, những nơi nước độc v.v... không nên ở.
Cảnh phải đủ bốn duyên: nước, lửa, lương thực, rau quả, là đủ bốn duyên. Ở đâu có đủ bốn duyên đó thì nên ở, vì ở mà không có rau ăn cũng không được, không có lương thực làm sao ở? Cho nên chỗ ở phải có đủ nước, đủ lửa, đủ lương thực, đủ rau quả.
Lại nói: Cảnh không gần nhân gian, chẳng xa nhân gian - gần thì ồn náo, xa thì không người hộ trì - đây là cảnh nên ở. Người xưa kỹ như vậy. Chúng ta có bệnh là khi thích ồn thì đến chỗ chợ búa thật đông, khi thích vắng thì muốn vào tận rừng sâu. Chợ búa hoặc rừng sâu, thích hai nơi đó đều là bệnh. Thế nên ở đây dạy đừng gần nhân gian lắm, gần thì ồn, mà xa thì không ai ủng hộ, như vậy phải vừa chừng. Trúc Lâm bây giờ rất là vừa, không gần mà không xa. Cho nên chỗ ở phải lựa kỹ, không phải muốn ở đâu là ở chỗ đó cho bằng được.
Ở cảnh này dễ dứt nghiệp, dưỡng thần nuôi trí, sanh tâm Bát-nhã, tính ghi nhớ, nuôi lớn thai thánh, ắt được chứng đạo. Đây tức thuộc vị cứu cánh, tức pháp viên mãn đạo, mới được siêu phàm nhập thánh.
Kinh Pháp Hoa phẩm An Lạc Hạnh dẫn kinh A-hàm nói: Xa lìa bốn hạng bạn ác, gần gũi bốn hạng bạn lành.
Xa lìa bốn hạng bạn ác là:
a. Gần gũi bạn ác bên ngoài thì sợ, mà trong lòng không thân. Vì họ có quy luật thì sợ chứ trong lòng không ưa.
b. Nói lời êm đẹp với bạn ác, lời thì thuận mà ý thì trái. Nói hùa, nói nịnh theo, trong ý lại không thuận.
c. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận đối với việc làm thiện ác đều hùa theo, mà không có tâm can gián nhau. Tốt xấu gì cũng hùa làm hết, không biết can gián nhau.
d. Đồng sự với bạn ác, là cùng bạn ác làm việc ác, như cùng uống rượu, cờ bạc, dâm dật, ca múa...
Gần gũi bốn hạng bạn lành là:
a. Bạn lành dừng lỗi, mọi việc ác cùng dừng. Gần bạn lành thì những lỗi lầm của mình nhờ bạn khuyên can nên càng ngày chúng ta càng dừng được lầm lỗi.
b. Bạn lành thương mến, gặp việc khổ thương mến nhau. Khi gặp tai nạn thì thương mến cứu giúp nhau.
c. Bạn lành lợi người, được việc vui chia sớt nhau, nghĩa là những gì cùng vui, cùng được lợi ích thì chia sớt với nhau.
d. Bạn lành đồng sự, gặp việc lành chung nhau làm.
Ngài muốn dẫn cho chúng ta nhớ trong kinh dạy phải nên gần những người lành như vậy, chứ không nên gần những người dữ.
Thấy học giả thời nay, chưa nghe đạo tự xưng mình hành đạo. Chưa có học mà nói hành là hành cái gì? Nói hành đạo là phải học đạo, không học đạo mà nói hành đạo, đó là nói dối không đúng sự thật.
Chẳng biết họ hành cái đạo gì? Cổ đức nói: Ăn được vài cọng rau, tự xưng là Tổ sư trai. Mới ăn vài cọng rau mà xưng là Tổ rồi, Tổ sư trai.
Lại nói: “Như con trâu trọn đời ăn cỏ, mà chưa từng thành Phật.” Cho nên ngài Tuệ Trung nói: “Ăn rau cùng ăn thịt, chúng sanh mỗi sở thuộc; xuân về trăm cỏ sanh, làm sao thấy tội phước?”
Lý Nguyên nói: “Ba chục năm qua tầm kiếm khách.” Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy.
Tôi nghi ngài lầm Linh Vân là Lý Nguyên, vì câu ba chục năm qua tầm kiếm khách, là một câu trong bốn câu thơ của ngài Linh Vân. Khi thấy hoa đào ngộ đạo, ngài đọc lên bài kệ:
Tam thập niên lai tầm kiếm khách,
Kỷ hồi lạc diệp hựu sưu chi.
Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu,
Trực chí như kim cánh bất nghi.
Như vậy câu được dẫn là câu đầu bài thơ của ngài Linh Vân. Nguyên thiền sư Chí Cần ở núi Linh Vân, khi nhìn thấy hoa đào ngài ngộ đạo làm bài kệ này, cho nên không thể nói câu này là của Lý Nguyên được. Vì thế câu này là của Linh Vân thì hợp lý hơn.
Tóm lại ngài nói rõ rằng người muốn ngộ đạo, trước phải học đạo, nên nói ba chục năm qua tầm kiếm khách, tức là đi chỗ này chỗ kia để cầu học, tìm hiểu. Đó là ý: Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy. Nhờ tìm học, chúng ta mới thực hiện được những gì đã học, gọi đó là hành.
***
Đến phần của người khắc bản in.
Vả lại, Sư là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ. Thường ngày bàn thiền nói pháp mà không có một pháp có thể được. Nơi nơi tiếp độ chúng sanh mà không phải chúng sanh, nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi. Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hý gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Ai có thể dò xét được bờ mé của ngài.
Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi. Nếu không được vậy, ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác.”
Tuy tôi có duyên kim cải, gặp được sách quý, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết thánh hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ơn. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ơn như trời cao lồng lộng. Nghe một câu mà lặng thần có thể được thành Chánh giác.
Ôi!
Kiếm vì bất bình rời vỏ báu,
Thuốc do trị bệnh thoát bình vàng.
Kệ rằng:
Ma cường pháp nhược, đạo sao côi!
Phật tổ khuyên răn tạo bản đồ.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực,
Ai hay thức giả giải hạnh vô.
(Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu khắc bản in.)
Tôi giải thích cho quý vị thấy rõ đoạn này. Phần trên là phần của ngài Pháp Loa dạy, phần này là phần kết thúc của người in sách. Ông cũng là người rất thâm hiểu Phật pháp, thâm hiểu thiền.
Trước hết ông tán thán ngài Pháp Loa: Vả lại, Sư (ngài Pháp Loa) là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ (Phật Quả). Đây là tán thán ngài Pháp Loa tiếp nối các vị tổ Ấn Độ, các vị tổ Trung Hoa cho đến những vị tổ sau này. Phần này là nói về sự truyền thừa.
Đến diệu dụng của ngài trong sự giáo hóa: Thường ngày bàn thiền nói pháp mà không một pháp có thể được. Khi ngài còn sống thì luôn luôn bàn thiền nói pháp với đệ tử, với mọi người. Tuy bàn, tuy nói mà không một pháp có thể được, tức là không dính mắc một pháp nào.
Nơi nơi tiếp độ chúng sanh mà không phải chúng sanh, nghĩa là ngài luôn luôn đi hoằng hóa, giảng dạy các nơi để tiếp độ chúng sanh mà không thấy có một chúng sanh thật. Nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi, tuy không thấy một chúng sanh thật mà các chúng sanh đều được ơn giáo hóa của ngài và được lợi lạc.
Đến sự sống của ngài: Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hý gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Ai có thể dò xét được bờ mé của ngài?
Đây là nói các hành động của ngài, đi đứng ngồi nằm đều ở trong thể thanh tịnh như như, nhưng đầy đủ diệu dụng. Đi thì xem trâu đá rống trăng. Trâu đá có cử động không mà biết rống? Đó là để thấy trong thể bất động như như vẫn có diệu dụng. Đứng thì nghe ngựa gỗ hý gió, con ngựa gỗ hý theo các luồng gió lộng. Như vậy đi và đứng đều ở trong thể bất động mà đầy đủ diệu dụng. Ngồi thì tựa gốc cây không bóng. Có gốc cây nào không bóng, trừ trời râm, trời mát? Khi nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Tháp Vô phùng là tháp gì? Cũng có người dịch là không chăn chiếu, có người dịch là không khoác áo ca-sa. Nhưng sự thật tháp Vô phùng là do sự tích:
Vào đời Đường, Quốc sư Huệ Trung được vua Đường Túc Tông thỉnh về giảng dạy ở kinh đô. Qua đến đời vua Đường Đại Tông, biết mình sắp tịch, ngài báo tin cho vua Đường biết. Vua hỏi:
- Hòa thượng tịch, đệ tử sẽ làm gì để kỷ niệm?
Ngài nói:
- Bệ hạ xây một ngôi tháp Vô phùng.
Vua Đường Đại Tông là một vị vua hiểu thiền, hỏi:
- Xin Thầy cho kiểu tháp.
Ngài lặng thinh giây lâu hỏi: - Hiểu chăng?
Đáp: - Không hiểu.
Ngài dạy:
- Tôi tịch rồi, có thị giả tên là Đam Nguyên sẽ giải cho.
Sau khi ngài tịch, vua Đại Tông mời thiền sư Đam Nguyên tới, nói rằng:
- Hòa thượng nói tháp Vô phùng, nay nhờ Thầy giải thích.
Đam Nguyên liền đọc bốn câu kệ:
Tương chi nam, đàm chi bắc,
Trung hữu huỳnh kim sung nhất quốc.
Vô ảnh thọ hạ hiệp đồng thuyền,
Lưu ly điện thượng vô tri thức.
Dịch:
Bên nam sông Tương, bên bắc đầm,
Khoảng giữa vàng ròng đầy một nước.
Dưới cây không bóng nên đồng thuyền,
Trên điện lưu ly không tri thức.
Đó là diễn tả tháp Vô phùng.
Nói rằng dưới cây không bóng nên đồng thuyền, nên ở đây mới dùng câu ngồi thì tựa gốc cây không bóng. Cây không bóng là diễn tả tháp Vô phùng.
Nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Trong tháp Vô phùng, chỗ nằm nghỉ được diễn tả rất hay: Lưu ly điện thượng vô tri thức, trên điện lưu ly không tri thức. Ai không tri thức thì nằm được trên điện lưu ly. Như vậy rõ ràng là diễn tả tháp Vô phùng.
Nhưng có người hiểu lầm, tưởng chữ phùng là vá, không ngờ ngài muốn chỉ thể không sanh diệt hằng trong sáng, không niệm phân biệt, đó là tháp Vô phùng của ngài. Thế nên chúng ta đọc phải hiểu cội nguồn mới không kẹt trong lời dịch.
Như vậy lời của vị này cho thấy ngài Pháp Loa là con người đã ngộ và sống được với lý đạo, nên đi đứng ngồi nằm đều ở trong thể không sanh không diệt, hằng sáng không bị một vết nhơ. Ở trong thể đó ai có thể dò xét được bờ mé của ngài, nên không ai biết được hành tung của ngài.
Tóm lại đây là lời khen: một là khen sự kế thừa, hai là khen sự truyền pháp, ba là khen trong bốn oai nghi, ngài đều sống đúng với thể chân thật đầy đủ diệu dụng.
Kinh Chư Sơn Lâm nói: Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi.
Ông nói trong kinh Chư Sơn Lâm dạy rằng: Thiền tông ở nơi triều thị, tức là ở nơi triều đình thị tứ, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, tức là giáo ngoại biệt truyền, không dính, không mắc nơi thấy nghe, cũng không kẹt lý huyền trong ngôn cú, tức là không chấp những lý lẽ cao siêu trong lời, nên dừng hết những nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi, về sau ở trong nhà thiền mới được một câu thông suốt. Như vậy quyết nắm tay ngài Pháp Loa cùng đi.
Nếu không được vậy ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác. Nếu không được vậy, giống như con mọt đục sách, đọc mãi phủng sách không có lợi gì. Đó là lời tán thán và nhắc nhở.
Tiếp đến ông nói riêng về ông: Tuy tôi có duyên kim cải. Trong kinh Nam Bản Niết-bàn có câu: “Giới tử đầu châm phong, Phật xuất nan ư thị”, nghĩa là như hạt cải ném trên mũi nhọn cây kim là việc khó, Phật ra đời cũng khó như vậy. Thế nên ông dẫn:
Tuy tôi có duyên kim cải gặp được sách quý, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết thánh hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ơn. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ơn như trời cao lồng lộng.
Ông có duyên rất hiếm, mới gặp được những quyển sách của ngài Pháp Loa, nhưng ông không có tài nhả phượng phun châu nên khó nói hết được cái hay của kinh sách. Vì thế ông chỉ ghi lại để người sau noi theo dấu vết thánh hiền, lấy việc đó làm công đức để đền đáp bốn ơn. Đối với ông thì bốn ơn đó dầu cho nát xương nhiều đời cũng không thể đền đáp được, vì bốn ơn to lớn như trời cao lồng lộng. Chỉ có ai nghe một câu mà lặng thần có thể được thành Chánh giác, như thế mới đền được bốn ơn.
Ông dẫn:
Ôi!
Kiếm vì bất bình rời vỏ báu,
Thuốc do trị bệnh thoát bình vàng.
Cây kiếm vì những việc trái với đạo lý với điều lành nên ra khỏi vỏ báu để trừng trị kẻ xấu ác. Thuốc để trong bình vàng, nhưng muốn cứu người bệnh nên trút ra khỏi bình vàng. Hai câu này nói rằng đạo lý chân thật, quý báu, nếu không có chuyện cần thiết thì nó nằm im. Đến khi vì cứu đời, vì đem lợi ích cho chúng sanh, nó mới có những diệu dụng. Thể chân thật vốn bất động, nhưng vì chúng sanh nên phải động để làm lợi ích cho người.
Kết thúc là bài kệ than vãn của ông:
Ma cường pháp nhược, đạo sao côi! Ma mạnh, pháp yếu, đạo thì cô đơn quá, ít có người lưu tâm để ý.
Phật tổ khuyên răn tạo bản đồ. Phật tổ luôn luôn nhắc nhở khuyên răn, ghi thành sách vở, cũng như vẽ bản đồ cho chúng ta theo.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực. Những lời nhiệm mầu, cao cả này là để làm mẫu mực cho đời sau nương theo tu hành.
Ai hay thức giả giải hạnh vô. Ai có biết đâu, gọi là thức giả mà giải và hạnh đều không có. Nếu thật là thức giả thì hạnh giải phải tương ưng. Giải là hiểu, hạnh là hành, hiểu và hành phải tương ưng nhau. Nếu cho mình là thức giả mà không giải không hạnh, đó là thức giả hư dối.
Bốn câu kệ là lời cảnh tỉnh những người sau. Vì chúng ta sống trong thời ma cường pháp nhược, đạo đức suy kém, nên lời khuyên của Phật tổ là bản đồ chúng ta phải noi theo. Nương theo những lời nhiệm mầu của Phật tổ, chúng ta tu hành mới được giải thoát. Đừng cho rằng mình là người trí thức mà không giải không hạnh. Người tu Phật phải có đủ giải hạnh thì sự tu hành mới có kết quả.
Trên đây là lời khắc bản in của ông Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu.
Đọc sách xưa, thấy được tâm mến đạo của người xưa, chúng ta rất là kính nể. Như vị khắc bản in những quyển sách của ngài Pháp Loa, ngài Huyền Quang, khi được các bản đó ông mừng rỡ, quý trọng, đem khắc lại cho người sau tu học, đó là tâm trạng của những người kính trọng chánh pháp và muốn duy trì chánh pháp. Còn chúng ta ngày nay khi được những quyển sách đó, chúng ta đọc, chúng ta hiểu rồi cần phải tu. Có tu mới gọi là giải hạnh tương ưng. Tổ Đạt-ma có nói: Giải hạnh tương ưng, danh vi viết Tổ. Nghĩa là học rồi hiểu, hiểu rồi thực hành, hai điều đó kịp với nhau là Tổ. Vì học mà không hiểu, thì cái học cũng chưa có lợi, học rồi hiểu, hiểu rồi hành, hành tức là hạnh. Như đoạn trước đã nói văn, tư rồi tu, đủ cả ba là gần được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nên học đạo đừng bao giờ nghĩ là chúng ta học hiểu để nói cho người khác nghe, mà phải nghĩ học hiểu để tu. Nếu học hiểu tu được rồi, thì lợi ích của chúng sanh sẽ đến. Nếu muốn học nhiều nhớ nhiều để nói cho thiên hạ nghe mà chính mình không tu thì việc lợi ích cho người rất là giới hạn. Tại sao? Thí dụ gặp Phật tử nào tôi cũng khuyên ráng tập tâm từ bi hỷ xả để tu theo hạnh Phật hạnh Bồ-tát, như vậy cuộc sống sẽ an vui. Tôi khuyên người như vậy nhưng có ai chọc tôi giận, tôi nhớ đời đời, gặp mặt tôi không thèm ngó, như vậy người ta đánh giá tôi như thế nào? Từ bi hỷ xả đến mức nào? Tức nhiên lời Phật tổ nói, mình thuộc và đem dạy người mà chính mình chưa tu được thì khi gặp việc, hạnh của mình vẫn là phàm phu, tuy lời nói là lời thánh giả. Lời nói thánh trong con người phàm thì người nghe sẽ nghĩ: Ông ấy học lóm của Phật rồi nói, chứ thật ông có được gì đâu!
Như vậy điều gì mình học được, hiểu được, ứng dụng được thì mới xứng đáng. Còn học được hiểu được mà không ứng dụng thì chưa xứng đáng. Cho nên chúng ta nhớ, chư Phật chư tổ luôn luôn khuyên răn chúng ta ráng học, hiểu và cũng phải ráng tu, ba việc phải theo nhau thì việc tu mới có giá trị.
Vì lẽ đó tôi chủ trương rằng tất cả tăng ni cũng như Phật tử chúng ta học vừa phải, nhưng những gì chúng ta học được chúng ta phải thực hành, phải tu. Trong nhà Phật thường hay thí dụ, những đứa bé chưa biết lợi hại nên gặp những bữa cơm ngon, thức ăn ngon nó dồn vào đầy bụng, nhưng tiêu không nổi thành sanh bệnh. Trái lại nếu nó biết chừng mực, dầu ngon cũng ăn vừa phải để cho bao tử tiêu hóa, chế biến ra các chất bồi dưỡng cơ thể thì mới hữu ích. Cũng như thế, chúng ta nghe cho nhiều, học cho lắm mà không chịu tu, đó là bệnh, vì nói gì chúng ta cũng hiểu thì có ai nhắc mình được đâu! Vừa mở miệng nhắc, dẫn kinh nào chúng ta thuộc kinh nấy, thành ra đâu có nói được. Nhắc chúng ta không được, mà chúng ta không tu, đó là bệnh nặng. Thế nên học là việc đầu tiên, rồi suy gẫm cho thấm nhuần, và phải ứng dụng tu. Như vậy tất cả lời Phật tổ dạy hữu ích vô cùng và đem lại cho đời tu chúng ta những điều mà người thế gian không thể lường nổi. Vì thế các ngài nói, nếu được như vậy thì chúng ta cùng tổ Phật nắm tay đồng đi, kề vai cùng đi chứ không kém.
Tóm lại tôi muốn nhắc tăng ni cũng như Phật tử, học kinh học đạo phải khéo ứng dụng cho được, dầu không hoàn toàn, nhưng học mười cũng ứng dụng được năm, đó mới là hữu ích. Còn nếu học cho có kiến thức để khoe với thiên hạ, thì chưa lợi ích bao nhiêu. Vậy mong tất cả học phải hành. Hành thì sẽ có lợi ích. Đó là lời tôi muốn nhắc nhở chung cho tất cả.