B- ĐỐI TRỊ TÀ CHẤP
Phần đối trị tà chấp dưới đây là do không hiểu đúng ý kinh Phật nên có những lối chấp sai lầm. Tổ dẫn lời trong kinh và giải thích rõ ràng để chúng ta hiểu thấu, tránh khỏi các bệnh chấp.
Âm:
Đối trị tà chấp giả, nhất thiết tà chấp giai y ngã kiến, nhược ly ư ngã tắc vô tà chấp. Thị ngã kiến hữu nhị chủng. Vân hà vi nhị? Nhất giả nhân ngã kiến, nhị giả pháp ngã kiến.
Dịch:
Đối trị tà chấp là, tất cả tà chấp đều y nơi ngã kiến, nếu lìa ngã thì không có tà chấp. Ngã kiến ấy có hai thứ. Thế nào là hai? Một là nhân ngã kiến, hai là pháp ngã kiến.
Giảng:
Sở dĩ có tà chấp là do bênh vực cái thấy của mình (ngã kiến), nếu lìa cái thấy riêng mình thì tà chấp hết. Ngã kiến có hai thứ: nhân ngã kiến và pháp ngã kiến. Nhân ngã kiến là chấp ngã nơi mình. Pháp ngã kiến là chấp pháp bên ngoài.
I. Nhân ngã kiến
Âm:
Nhân ngã kiến giả, y chư phàm phu thuyết hữu ngũ chủng. Vân hà vi ngũ?
Nhất giả văn tu-đa-la thuyết: Như Lai pháp thân tất cánh tịch mịch du như hư không. Dĩ bất tri vi phá trước cố, tức vị hư không thị Như Lai tánh.
Vân hà đối trị? Minh hư không tướng thị kỳ vọng pháp, thể vô bất thật, dĩ đối sắc cố hữu, thị khả kiến tướng linh tâm sanh diệt. Dĩ nhất thiết sắc pháp bản lai thị tâm, thật vô ngoại sắc. Nhược vô sắc giả, tắc vô hư không chi tướng. Sở vị nhất thiết cảnh giới duy tâm vọng khởi cố hữu, nhược tâm ly ư vọng động tắc nhất thiết cảnh giới diệt, duy nhất chân tâm vô sở bất biến. Thử vị Như Lai quảng đại tánh trí cứu cánh chi nghĩa, phi như hư không tướng cố.
Dịch:
Nhân ngã kiến là, y theo các phàm phu nói nên có năm thứ. Thế nào là năm?
Một là nghe khế kinh nói: Pháp thân Như Lai lặng lẽ ví như hư không. Do không biết là vì phá chấp trước, liền nói rằng hư không là tánh Như Lai.
Làm sao đối trị? Nói rõ tướng hư không là pháp hư dối, không có thể thật, do đối với sắc mà có, tướng có thể thấy được này khiến cho tâm sanh diệt. Do tất cả sắc pháp xưa nay là tâm, thật không có ngoài sắc. Nếu không có sắc thì không có tướng hư không. Nên nói tất cả cảnh giới chỉ do tâm hư vọng dấy khởi mà có. Nếu tâm lìa vọng động thì tất cả cảnh giới theo đó mà diệt, chỉ một chân tâm, không chỗ nào mà chẳng khắp. Đây là nói nghĩa cứu cánh Như Lai trí tánh rộng lớn, không phải như tướng hư không.
Giảng:
Chúng sanh không hiểu thấu nghĩa pháp thân vô tướng, khởi ý chấp thân Phật là tướng chất ngại, nên kinh nói pháp “thân như hư không” để phá chấp sắc tướng. Khi nghe như vậy, không hiểu ý phá chấp bèn trở lại chấp pháp thân Phật là hư không.
Làm sao đối trị bệnh này? Cần phải chỉ rõ tướng hư không là pháp hư dối, tự nó không có thể thật, do đối với sắc mà có, tướng có thể thấy này khiến cho tâm sanh diệt. Chúng ta lầm tưởng hư không là thể chân thật, để đối trị bệnh này, phải hiểu rõ hư không không có thể thật. Do đối với sắc mà nói không, sắc không đối đãi nhau là pháp hư dối. Pháp thân không phải pháp hư vọng, thế nên nói:
Do tất cả sắc pháp xưa nay là tâm, thật không có ngoài sắc. Nếu không có sắc thì không có tướng hư không. Nên nói tất cả cảnh giới chỉ do tâm hư vọng dấy khởi mà có. Nếu tâm lìa vọng động thì tất cả cảnh giới theo đó mà diệt, chỉ một chân tâm, không chỗ nào mà chẳng khắp. Đây là nói nghĩa cứu cánh Như Lai trí tánh rộng lớn, không phải như tướng hư không.
Muốn phá tà chấp của người chấp pháp thân Phật là hư không, chúng ta cần phải chỉ rõ tướng hư không là đối với sắc mà có. Không và sắc đối đãi nhau gốc từ vọng tâm dấy động mà có, nếu vọng tâm mê lầm dứt, không và sắc cũng theo đó mà hết, lúc đó tất cả cảnh giới đều diệt và trí thể Như Lai được hiển bày.
Âm:
Nhị giả văn tu-đa-la thuyết: Thế gian chư pháp tất cánh thể không, nãi chí Niết-bàn chân như chỉ pháp diệc tất cánh không, tùng bản dĩ lai tự không ly nhất thiết tướng. Dĩ bất tri vi phá trước cố, tức vị chân như Niết-bàn chi tánh duy thị kỳ không.
Vân hà đối trị? Minh chân như pháp thân tự thể bất không, cụ túc vô lượng tánh công đức cố.
Dịch:
Hai là nghe khế kinh nói: Các pháp thế gian thể nó là không, cho đến pháp Niết-bàn chân như cũng là không, xưa nay tự không, lìa tất cả tướng. Do không biết thấu là vì phá chấp trước, liền bảo rằng tánh chân như Niết-bàn chỉ là không.
Làm sao đối trị? Nói rõ chân như pháp thân tự thể nó không thể là không (bất không), vì nó có đầy đủ vô lượng tánh công đức.
Giảng:
Chúng ta không biết các pháp thế gian và xuất thế gian là giả danh, chấp cho là thật nên kinh Bát-nhã nói nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý đều là không, cho đến mười hai nhân duyên, tứ đế, trí đắc cũng không. Kinh phủ nhận các pháp đều không là để phá chấp có, chúng sanh không biết, nghe kinh nói như vậy bèn trở lại chấp tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều không ngơ, cho đến Niết-bàn, chân như cũng không ngơ. Phương tiện đối trị là giải thích cho họ rõ chân như pháp thân tự thể nó không phải là không, vì nó có đầy đủ vô lượng tánh công đức, khiến cho họ đừng lầm. Ý này đã giải thích trong đoạn chân như bất không ở trên.
Âm:
Tam giả văn tu-đa-la thuyết: Như Lai chi tàng vô hữu tăng giảm, thể bị nhất thiết công đức chi pháp. Dĩ bất giải cố, tức vị Như Lai chi tàng hữu sắc tâm pháp tự tướng sai biệt.
Vân hà đối trị? Dĩ duy y chân như nghĩa thuyết cố, nhân sanh diệt nhiễm nghĩa thị hiện thuyết sai biệt cố.
Dịch:
Ba là nghe khế kinh nói: Như Lai tàng không có thêm bớt, tự thể đầy đủ tất cả pháp công đức. Vì không hiểu thấu liền bảo kho tàng Như Lai có pháp sắc và tâm tự tướng sai biệt.
Làm thế nào đối trị? Do vì y nơi nghĩa chân như mà nói như thế và nhân nơi nghĩa nhiễm sanh diệt bày hiện mà nói có sai biệt.
Giảng:
Chúng sanh khi nghe nói trong Như Lai tàng có đầy đủ tất cả các pháp công đức, lại lầm chấp trong Như Lai tàng có tướng sai biệt của sắc và tâm. Chúng ta phải giải thích nói như vậy là căn cứ vào nghĩa chân như. Trong nghĩa chân như không có sắc tâm sai biệt, nhưng nhân nơi nghĩa nhiễm sanh diệt ở trong Như Lai tàng thì có tướng sai biệt, không phải tự thể chân như có sai biệt. Đây là phá lầm chấp thứ ba.
Âm:
Tứ giả văn tu-đa-la thuyết: Nhất thiết thế gian sanh tử nhiễm pháp giai y Như Lai tàng nhi hữu, nhất thiết chư pháp bất ly chân như. Dĩ bất giải cố, vị Như Lai tàng tự thể cụ hữu nhất thiết thế gian sanh tử đẳng pháp.
Vân hà đối trị? Dĩ Như Lai tàng tùng bản dĩ lai duy hữu quá hằng sa đẳng chư tịnh công đức, bất ly, bất đoạn, bất dị chân như nghĩa cố. Dĩ quá hằng sa đẳng phiền não nhiễm pháp, duy thị vọng hữu, tánh tự bản vô, tùng vô thủy thế lai vị tằng dữ Như Lai tàng tương ưng cố. Nhược Như Lai tàng thể hữu vọng pháp, nhi sử chứng hội vĩnh tức vọng giả, tắc vô thị xứ cố.
Dịch:
Bốn là nghe khế kinh nói: Tất cả pháp nhiễm sanh tử thế gian đều y Như Lai tàng mà có, tất cả các pháp không lìa chân như. Bởi vì không hiểu thấu nên cho rằng Như Lai tàng tự thể có đủ tất cả pháp sanh tử thế gian.
Làm thế nào đối trị? Như Lai tàng từ xưa đến nay chỉ có các công đức thanh tịnh nhiều hơn số cát sông Hằng, không lìa, không đoạn, không khác nghĩa chân như. Còn các pháp nhiễm phiền não nhiều hơn số cát sông Hằng, chỉ là do vọng tưởng mà có, tánh nó vốn tự là không, từ vô thủy đến nay chưa từng cùng với Như Lai tàng tương ưng. Nếu thể Như Lai tàng tự có các pháp hư vọng mà khiến người chứng hội, hằng dứt vọng thì không có lẽ phải vậy.
Giảng:
Hàng phàm phu nghe trong kinh nói: Tất cả pháp nhiễm sanh tử đều y Như Lai tàng mà có, tất cả pháp không lìa chân như. Họ tưởng lầm tất cả các pháp ô nhiễm sanh tử thế gian đều là chân như. Thế nên, chúng ta phải nói rõ rằng Như Lai tàng chỉ có những công đức thanh tịnh nhiều hơn số cát sông Hằng, không lìa, không đoạn, không khác nghĩa chân như. Chân như có tất cả pháp công đức thanh tịnh, không phải là tất cả pháp nhiễm. Nếu Như Lai tàng tương ưng với pháp nhiễm, Phật không dạy chúng ta dẹp vọng để phù hợp với Như Lai tàng. Trong Như Lai tàng không có pháp nhiễm của thế gian. Câu cuối nói nếu thể Như Lai tàng tự có các pháp hư vọng mà khiến người chứng hội, hằng dứt vọng thì không có lẽ phải vậy. Nghĩa là pháp nhiễm từ vọng sanh, nếu Như Lai tàng có pháp nhiễm mà bảo dứt vọng để chứng thì chuyện đó vô lý. Vậy trong Như Lai tàng chỉ có các công đức vô lậu, không có tất cả pháp nhiễm sanh tử. Đây là phá lầm chấp thứ tư.
Âm:
Ngũ giả văn tu-đa-la thuyết: Y Như Lai tàng cố hữu sanh tử, y Như Lai tàng cố đắc Niết-bàn. Dĩ bất giải cố, vị chúng sanh hữu thủy. Dĩ kiến thủy cố, phục vị Như Lai sở đắc Niết-bàn, hữu kỳ chung tận, hoàn tác chúng sanh.
Vân hà đối trị? Dĩ Như Lai tàng vô tiền tế cố, vô minh chi tướng diệc vô hữu thủy. Nhược thuyết tam giới ngoại cánh hữu chúng sanh thủy khởi giả, tức thị ngoại đạo kinh thuyết. Hựu Như Lai tàng vô hữu hậu tế, chư Phật sở đắc Niết-bàn dữ chi tương ưng tắc vô hậu tế cố.
Dịch:
Năm là nghe khế kinh nói: Vì y Như Lai tàng nên có sanh tử, vì y Như Lai tàng mà được Niết-bàn. Do không hiểu thấu nên bảo rằng chúng sanh có mối đầu (hữu thủy). Vì thấy có mối đầu tiên nên gọi Niết-bàn mà Như Lai đã chứng được, có lúc cũng phải hết (hữu chung) và Như Lai sẽ trở lại làm chúng sanh.
Làm sao đối trị? Như Lai tàng không có mé trước, tướng vô minh cũng không có ban đầu. Nếu nói ngoài ba cõi lại có mối ban đầu để chúng sanh sanh khởi tức là kinh sách ngoại đạo nói. Lại Như Lai tàng không có mé sau, nên Niết-bàn mà chư Phật được, cùng với Như Lai tàng tương ưng, không có mé sau vậy.
Giảng:
Có người chấp rằng chúng sanh hữu thủy, Như Lai hữu chung, được Niết-bàn rồi cũng trở lại làm chúng sanh. Do vì trước kia nghe nói vì y Như Lai tàng nên có sanh tử, tất cả chư Phật đều y Như Lai tàng mà được Niết-bàn. Sanh tử y Như Lai tàng thì mối đầu của sanh tử là Như Lai tàng, là hữu thủy. Khi được Niết-bàn là trở về Như Lai tàng, lâu lâu lại dấy niệm không thường ở Niết-bàn, vì có lúc trở lại làm chúng sanh.
Đối trị lối chấp này phải giải thích Như Lai tàng không có mé trước, tướng vô minh cũng không có ban đầu. Có mé trước mé sau là nói về thời gian, trên thể Như Lai tàng không có thời gian. Được Niết-bàn là trở về tánh Như Lai tàng không có chung tận, nên nói không có mé sau. Nếu nói ngoài ba cõi lại có cái manh mối ban đầu là không phù hợp với kinh Phật. Nhà Phật gọi vô minh là vô thủy, không phải hữu thủy. Tại sao vô minh không có cái manh mối ban đầu? Đã do dấy niệm mà có vô minh là có mối đầu, tại sao nói không? Vì dấy niệm nên gọi vô minh, vô minh là không sáng, không sáng làm sao biết mối ban đầu của nó. Thí dụ chúng ta bắt đầu ngồi thiền lúc bốn giờ, ngồi một hồi ngủ gục, giật mình mở mắt ra không biết gục lúc nào! Không lý mình gục lúc bốn giờ? Bắt đầu gục lúc nào, không biết, vì khi đó mê làm sao biết, nếu biết thì đâu có gục. Thế nên nói mê mà có manh mối ban đầu là không mê. Tất cả sanh tử đều từ gốc mê lầm vô minh, vô minh không có mối đầu, nên nói vô minh vô thủy.
II. Pháp ngã kiến
Âm:
Pháp ngã kiến giả, y Nhị thừa độn căn cố, Như Lai đản vi thuyết nhân vô ngã, dĩ thuyết bất cứu cánh, kiến hữu ngũ ấm sanh diệt chi pháp, bố úy sanh tử, vọng thủ Niết-bàn.
Vân hà đối trị? Dĩ ngũ ấm pháp tự tánh bất sanh tắc vô hữu diệt, bản lai Niết-bàn cố.
Dịch:
Pháp ngã kiến ấy là, y nơi Nhị thừa độn căn, nên Như Lai chỉ vì họ nói nhân vô ngã, do nói không rốt ráo nên họ thấy có pháp ngũ ấm sanh diệt, kinh sợ sanh tử, vọng nhận Niết-bàn.
Làm sao đối trị? Do pháp năm ấm tự tánh nó là chẳng sanh nên không diệt, xưa nay là Niết-bàn.
Giảng:
Pháp ngã kiến là gì? Đức Phật vì hàng Nhị thừa căn cơ không lanh lẹ nên dạy quán sát lý nhân vô ngã để thoát sanh tử. Hàng Nhị thừa thấy sanh tử là thật có sanh diệt đau khổ nên chán sợ, thấy Niết-bàn là an vui nên vọng cầu. Hai pháp này đều nằm trong đối đãi, sanh tử đối với Niết-bàn, vì vậy gọi là pháp kiến. Pháp kiến tức còn chấp pháp, chấp có Niết-bàn để trụ và sanh tử đáng sợ, đó là còn thấy có pháp thật. Thấy có pháp thật thì chưa phải cứu cánh.
Để đối trị pháp chấp của hàng Nhị thừa, nên khiến họ hiểu rằng, ngay nơi thân năm ấm này tự tánh là không, là bất sanh. Nói có sanh chỉ là duyên hợp huyễn có, tự bản chất năm ấm là không sanh diệt, xưa nay hằng Niết-bàn, không cần tìm Niết-bàn. Đó là chuyển hướng từ mê chấp Niết-bàn bên ngoài và sợ hãi sanh tử, thẳng đến Đại thừa. Thấy ngay nơi sanh diệt là Niết-bàn, không cầu Niết-bàn ở ngoài sanh diệt. Thấy sanh tử là Niết-bàn, đó là cứu cánh không còn đối đãi. Nhưng không nên hiểu lầm như ngoại đạo, nghe nói ngay sanh tử là Niết-bàn rồi cho rằng trong sanh tử tiếp nối là Niết-bàn. Ngay sanh tử thấy tự tánh sanh tử là không, là không sanh, không sanh nên không diệt, không lúc nào rời Niết-bàn. Đây là chỗ thiết yếu.
III. Cứu cánh lìa tất cả vọng chấp
Âm:
Phục thứ, cứu cánh ly vọng chấp giả, đương tri nhiễm pháp tịnh pháp giai tất tương đãi, vô hữu tự tướng khả thuyết, thị cố nhất thiết pháp tùng bản dĩ lai phi sắc phi tâm, phi trí phi thức, phi hữu phi vô, tất cánh bất khả thuyết tướng. Nhi hữu ngôn thuyết giả, đương tri Như Lai thiện xảo phương tiện, giả dĩ ngôn thuyết dẫn đạo chúng sanh, kỳ chỉ thú giả, giai vi ly niệm quy ư chân như, dĩ niệm nhất thiết pháp linh tâm sanh diệt bất nhập thật trí cố.
Dịch:
Lại nữa, cứu cánh lìa vọng chấp nên biết pháp nhiễm pháp tịnh thảy đều là đối đãi nhau, không có tự tướng có thể nói được, thế nên tất cả pháp từ xưa đến nay chẳng phải sắc chẳng phải tâm, chẳng phải trí chẳng phải thức, chẳng phải có chẳng phải không, không có tướng có thể nói. Mà có lời nói nên biết Như Lai khéo dùng phương tiện, mượn lời nói để dẫn đường cho chúng sanh, song chỉ thú kia đều là lìa niệm trở về chân như, bởi vì niệm tất cả pháp là khiến cho tâm sanh diệt không vào được thật trí.
Giảng:
Đến chỗ lìa chấp rốt ráo là phải thấy rõ các pháp không còn đối đãi nhau. Như trong lý Bát-nhã, sắc tức là không, không chẳng rời sắc, sắc chẳng rời không. Sắc không chẳng hai, không thể chấp đây là sắc kia là không. Tất cả pháp tự tánh là không, không phân biệt thật giả, uế tịnh... Vì phàm phu chấp sắc ở ngoài tâm, tâm lìa sắc, nên Phật mới nói phi sắc phi tâm. Như hiện giờ, người đời chia thân này thành hai phần vật chất và tinh thần riêng biệt, nhưng thử rời vật chất tìm tinh thần, rời tinh thần tìm vật chất được không? Thân này là sắc chất tứ đại, đất nước gió lửa không biết đau, nhưng khi đánh vào thân thì biết đau. Thân là vật chất, biết đau là tâm, là tinh thần, đánh trên thân tại sao tâm đau? Chúng ta thấy cái này là tinh thần, cái kia là vật chất, đó là thấy chưa tột, vì nó không lìa nhau.
Thí dụ cái bàn chúng ta nói là vật chất đặc kín, nhưng khi dùng kính hiển vi nhìn thì thấy có những khoảng trống, ngay trong cái đặc kín có cái không. Hư không chúng ta nói là không, nhưng lấy kính hiển vi nhìn thì thấy bụi lăng xăng, là có vật ở trong không. Như vậy không thể tách rời đây là không kia là có.
Đức Phật muốn chỉ thẳng chỗ đó nên nói Không phải sắc không phải tâm, tâm không rời sắc, sắc không rời tâm, trí không ngoài thức, thức không ngoài trí, nên phi trí phi thức, có không ngoài không, không không ngoài có, nên chẳng phải có chẳng phải không. Chỗ chân lý không có một cái riêng, chỉ dùng một chữ phi. Phi nghĩa là không chấp nhận một cái riêng thật, tánh thể và tướng dụng không rời nhau, rốt ráo đều do tâm mê vọng phát khởi, chỗ cứu cánh không thể nói, chỉ dùng một chữ phi để biểu thị.
Cứu cánh không có tướng có thể nói, nhưng Như Lai khéo dùng phương tiện mượn lời nói để dẫn đường cho chúng sanh. Chỉ thú chánh yếu đức Phật muốn chỉ cho chúng ta là lìa niệm trở về chân như, do niệm tất cả pháp khiến tâm chúng ta theo đó sanh diệt, không thể vào được thật tướng. Người còn để tâm duyên theo những sự vật ở thế gian, duyên theo pháp sanh diệt thì không có thật trí. Người học giỏi, nghiên cứu nhiều cũng chưa phải thật trí. Thật trí là trí dứt hết vọng niệm, còn dùng vọng niệm để biết pháp thế gian thì đều là trí thế gian, muốn được thật trí thì phải ly niệm. Người học đạo nắm được điều này là nắm được nguyên tắc căn bản mà tổ Mã Minh chỉ dạy. Điều chánh yếu là nhắm thẳng vào chỗ ly niệm, cứu cánh trở về chân như.
C- PHÂN BIỆT PHÁT TÂM TIẾN ĐẾN ĐẠO QUẢ
Âm:
Phân biệt phát thú đạo tướng giả, vị nhất thiết chư Phật sở chứng chi đạo, nhất thiết Bồ-tát phát tâm tu hành thú hướng nghĩa cố. Lược thuyết phát tâm hữu tam chủng. Vân hà vi tam? Nhất giả tín thành tựu phát tâm, nhị giả giải hạnh phát tâm, tam giả chứng phát tâm.
Dịch:
Phân biệt tướng phát tâm tiến đến đạo quả, là đạo của tất cả chư Phật đã chứng, là chỗ tất cả Bồ-tát phát tâm tu hành hướng đến. Lược nói phát tâm có ba thứ. Thế nào là ba? Một là tín thành tựu phát tâm, hai là giải hạnh phát tâm, ba là chứng phát tâm.
Giảng:
Phần phát tâm tiến đến đạo quả này là đoạn thứ ba, cũng là đoạn cuối của Phần Giải Thích. Tôi xin nhắc lại ý các phần trước, để chúng ta thấy rõ kết cấu chặt chẽ của bộ luận. Trước tiên là Phần Nhân Duyên nêu rõ lý do tạo luận, kế đến là Phần Lập Nghĩa nói về ý chánh của luận, lập nghĩa Đại thừa là tâm chúng sanh, tâm chúng sanh có thể đại, tướng đại và dụng đại. Sau phần lập nghĩa là Phần Giải Thích, chỉ rõ tâm chúng sanh có hai phần, phần chân như và phần sanh diệt, hay phần tịnh và phần nhiễm, vì vậy nêu lên Chân như môn và Sanh diệt môn.
Tổ giải thích cho chúng ta nhận rõ đâu là chân như, đâu là sanh diệt. Thế nào là theo sanh diệt lưu chuyển, thế nào để trở về chân như? Trở về chân như là trở về Đại thừa là nhập pháp giới Như Lai tạng. Điều kiện chính yếu đã nói xong, nhưng còn sợ chúng sanh nghi ngờ khởi cái hiểu lầm lạc, Tổ chỉ dạy thêm phần đối trị tà chấp. Khi chúng ta hiểu được tâm chúng sanh, hiểu được Đại thừa, dẹp sạch nghi lầm thì không dừng ở chỗ hiểu suông mà phải bắt đầu tiến tu. Đây là giai đoạn phát tâm tiến đến đạo quả. Người phát tâm có ba hạng: Hạng thứ nhất là do lòng tin, hạng thứ hai là do giải hạnh tức là hiểu rồi thực hành, hạng thứ ba là chứng chân như.
I. Tín thành tựu phát tâm
1. Nhóm chánh định
Âm:
Tín thành tựu phát tâm giả, y hà đẳng nhân, tu hà đẳng hạnh, đắc tín thành tựu kham năng phát tâm? Sở vị y bất định tụ chúng sanh, hữu huân tập thiện căn lực cố, tín nghiệp quả báo, năng khởi thập thiện, yểm sanh tử khổ, dục cầu Vô thượng Bồ-đề.
Đắc trị chư Phật, thân thừa cúng dường tu hành tín tâm, kinh nhất vạn kiếp tín tâm thành tựu cố. Chư Phật Bồ-tát giáo linh phát tâm, hoặc dĩ đại bi cố năng tự phát tâm, hoặc nhân chánh pháp dục diệt, dĩ hộ pháp nhân duyên năng tự phát tâm. Như thị tín tâm thành tựu đắc phát tâm giả, nhập chánh định tụ, tất cánh bất thối, danh trụ Như Lai chủng trung chánh nhân tương ưng.
Dịch:
Tín thành tựu phát tâm là y những hạng người nào, tu những hạnh gì được tín thành tựu có khả năng phát tâm? Nghĩa là y những chúng sanh nhóm bất định, vì có sức huân tập thiện căn, tin được nghiệp quả báo, khởi tu thập thiện, nhàm chán khổ sanh tử, muốn cầu Vô thượng Bồ-đề.
Những người ấy được gặp chư Phật, gần gũi thờ phụng cúng dường, tu hành tín tâm trải qua muôn kiếp nên lòng tin thành tựu. Được chư Phật Bồ-tát dạy khiến cho họ phát tâm, hoặc do lòng đại bi hay tự phát tâm, hoặc nhân nơi chánh pháp muốn diệt, do nhân duyên hộ pháp mà tự phát tâm. Tín tâm thành tựu được phát tâm như thế thì vào nhóm chánh định, rốt ráo không thối chuyển, gọi là trụ trong hạt giống Như Lai, chánh nhân được tương ưng.
Giảng:
Đây là nói về hạng thứ nhất. Tín thành tựu phát tâm là y nơi những hạng người trong nhóm bất định, được sức huân tập thiện căn, đầy đủ lòng tin đối với nghiệp quả báo và khởi tu thập thiện, nhàm chán khổ sanh tử, muốn cầu Vô thượng Bồ-đề, nên gọi là tín thành tựu. Có những trường hợp sau:
- Được gặp chư Phật, chính bản thân mình thờ phụng cúng dường, tu hành trải qua muôn kiếp được lòng tin thành tựu.
- Hoặc được chư Phật Bồ-tát chỉ dạy khiến phát tâm.
- Hoặc vì lòng đại bi thấy chúng sanh đau khổ rồi tự phát tâm.
- Hoặc là nhân gặp đời chánh pháp sắp diệt, vì nhân duyên ủng hộ gìn giữ chánh pháp mà tự phát tâm.
Khi tín tâm được thành tựu, những người này được vào nhóm chánh định, từ đó về sau không lui sụt, gọi là ở trong hạt giống Như Lai.
Như thế ban đầu từ nhóm bất định, chỉ cho những người xưa nay chưa hướng tâm đến pháp tu nào, khi có duyên gặp Phật pháp tu hành thiện căn... rồi phát tâm, đến lúc phát tâm quyết định không lui sụt, tức là từ nhóm bất định sang nhóm chánh định. Từ đây tu tập không còn lui sụt là đã trụ vững vàng nơi hạt giống Phật, đứng vào hàng Bồ-tát bất thối chuyển.
Với chúng ta, khi hỏi tin Phật pháp chưa thì nói tin, hỏi đã thành tựu tín tâm chưa thì không ai dám trả lời. Vì nghe nói phải trải qua muôn kiếp tu mới thành tựu, không biết mình đã tu được mấy đời hay mới đời này! Tổ Quy Sơn nói “Không ai lường được thiện căn của mình”. Nhiều khi chúng ta tự khinh mình, cứ nghĩ mới tu đây đâu có biết gì! Sự thật hiện đời được gặp Phật pháp, nghe được chánh pháp, phát tâm tu hành là biết xưa kia đã có tu rồi. Có nhiều người thông minh khôn ngoan chưa từng bước chân đến chùa, chưa từng đọc một quyển kinh, những người này tuy được có phước giàu sang thông minh nhưng phước về đạo lý chưa có. Người biết phát tâm tu hành, tối thiểu cũng đã trồng duyên lành được một hoặc vài ba đời về trước, bây giờ ra đời gặp Phật pháp tiếp tục tu nữa.
Trước đã có gieo chủng tử Phật pháp, có tu chút ít nên bây giờ được kết quả như thế này, nếu tiếp tục gắng nữa, nhất định về sau sẽ kết quả nhiều hơn, đó là điều chắc chắn. Nếu tu vài ba đời rồi bỏ mất thì không có Phật, không có Bồ-tát. Bởi vì tu vài ba đời rồi để mất, trở lại làm phàm phu, làm sao tiến lần lên thành Phật, thành Bồ-tát. Các ngài tu tiến từ phàm lên thánh, chúng ta cũng vậy, tại sao lại nói mình mất hạt giống lành? Trừ trường hợp chúng ta quá ỷ lại công đức của mình. Thí dụ do đời trước có căn lành, đời này sanh ra gặp được Phật pháp mà không chịu tu, buông lung tâm ý làm các việc xấu, phá hoại thiện căn của mình nên mất công đức không thành tựu lòng tin.
Những người trẻ có duyên tốt tu hành, đó là những người ưu tú có hạt giống Bồ-đề vừa no đủ lại vừa tốt, phải gắng tinh tấn nuôi dưỡng nó, đừng để những loại sâu độc rúc rỉa, làm hư hại, chắc chắn những hạt giống đó sẽ lên cây tốt và có kết quả tốt. Tuổi trẻ phát tâm tu phải mừng rằng chúng ta đã có căn lành nên gặp Phật pháp sớm. Ngày xưa khôn mới tạo căn lành này, bây giờ chẳng lẽ ngu si hủy hoại căn lành của mình! Thế nên phải nỗ lực vun bồi để nó được tăng trưởng phát triển, như thế mới xứng công chúng ta vun trồng nhiều đời. Chúng ta khéo gìn giữ căn lành, tinh tấn nỗ lực tiến tu, nhất định sẽ được gặp Phật pháp mãi mãi, không thể nói mình tu đời này rồi đời sau bị mất hạt giống lành.
Tóm lại, những người từ phát tâm tin rồi đi thẳng vào nhóm chánh định là những người đã cúng dường chư Phật, gặp Phật được muôn kiếp. Vì vậy người nào phát tâm vào chùa, tu thường suôn sẻ không có chướng ngại, tu cho đến già chết, càng ngày càng tiến là biết họ đã gặp Phật khá nhiều rồi.
2. Nhóm bất định
Âm:
Nhược hữu chúng sanh thiện căn vi thiểu, cửu viễn dĩ lai phiền não thâm hậu, tuy trị ư Phật diệc đắc cúng dường, nhiên khởi nhân thiên chủng tử, hoặc khởi Nhị thừa chủng tử. Thiết hữu cầu Đại thừa giả, căn tắc bất định, nhược tiến nhược thối.
Hoặc hữu cúng dường chư Phật vị kinh nhất vạn kiếp, ư trung ngộ duyên diệc hữu phát tâm. Sở vị kiến Phật sắc tướng nhi phát kỳ tâm, hoặc nhân cúng dường chúng tăng nhi phát kỳ tâm, hoặc nhân Nhị thừa chi nhân giáo linh phát tâm, hoặc học tha phát tâm. Như thị đẳng phát tâm tất giai bất định, ngộ ác nhân duyên, hoặc tiện thối thất đọa Nhị thừa địa.
Dịch:
Nếu có chúng sanh thiện căn kém ít, từ lâu xa đến giờ phiền não sâu dày, tuy gặp được Phật, cũng cúng dường, nhưng khởi chủng tử nhân thiên hoặc khởi chủng tử Nhị thừa. Giả sử những người ấy có cầu Đại thừa thì căn lành ắt không nhất định, hoặc tiến tới hoặc thối lui.
Hoặc có người cúng dường chư Phật chưa trải qua muôn kiếp, ở trong khoảng giữa gặp duyên cũng có phát tâm. Đó là thấy sắc tướng của Phật mà phát tâm, hoặc nhân cúng dường chúng tăng mà phát tâm, hoặc nhân hàng Nhị thừa dạy khiến cho phát tâm, hoặc nhân người khác chỉ dạy mà phát tâm. Những phát tâm như thế thảy đều không nhất định, gặp nhân duyên xấu hoặc là thối chuyển rồi rơi trong lãnh vực của Nhị thừa.
Giảng:
Đây là hạng chúng sanh thuộc nhóm bất định không đi thẳng vào nhóm chánh định. Do thiện căn kém ít, phiền não lại sâu dày, những chúng sanh này gặp Phật cúng dường, nhưng lại khởi tâm cầu quả báo cõi trời cõi người, hoặc cầu quả báo Nhị thừa. Cũng có người muốn phát tâm Đại thừa mà không nhất định, hoặc lui hoặc tiến. Sở dĩ như vậy là vì thiện căn kém mỏng mà phiền não lại sâu dày, cho nên tuy đồng gặp Phật mà không hưởng được trọn vẹn tinh thần viên mãn của Đại thừa. Đó là một trường hợp.
Trường hợp khác, hoặc có người cúng dường Phật chưa trải qua muôn kiếp, ở trong khoảng giữa gặp duyên cũng phát tâm. Hoặc thấy sắc tướng Phật, hoặc cúng dường chư tăng, hoặc nhân hàng Nhị thừa dạy khiến phát tâm, hoặc nhân người khác chỉ dạy mà phát tâm. Những phát tâm như vậy đều nằm trong nhóm bất định vì không chắc chắn đủ niềm tin Đại thừa. Vì duyên lành chưa đầy đủ, hoặc có khi tiến khi thối thất, có khi rơi vào lãnh vực của Nhị thừa.
Chúng ta tu hành, đối với chánh pháp Đại thừa có đủ niềm tin suốt đời không bao giờ lui sụt thì không lo sợ gì cả. Ở đây nói muôn kiếp cúng dường Phật, chúng ta ít ra cũng có mười kiếp rồi. Mười kiếp đã ở trong chánh pháp Đại thừa, do đó chúng ta mới không lui sụt, nhân duyên tu hành của chúng ta đã ở trong nhóm chánh định, thì từ đây về sau nhất định không thối chuyển nữa, lần lần tiến lên quả vị Phật mới thôi.
3. Phát tâm Đại thừa
Âm:
Phục thứ, tín thành tựu phát tâm giả, phát hà đẳng tâm? Lược thuyết hữu tam chủng. Vân hà vi tam? Nhất giả trực tâm, chánh niệm chân như pháp cố. Nhị giả thâm tâm, nhạo tập nhất thiết chư thiện hạnh cố. Tam giả đại bi tâm, dục bạt nhất thiết chúng sanh khổ cố.
Dịch:
Lại nữa, tín thành tựu phát tâm là phát những tâm gì? Lược nói có ba thứ. Một là trực tâm, do chánh niệm pháp chân như. Hai là thâm tâm, là vì ưa nhóm họp tất cả hạnh lành. Ba là đại bi tâm, là vì muốn cứu khổ cho chúng sanh.
Giảng:
Khi lòng tin được thành tựu mà phát tâm, phát những tâm nào? Có ba tâm:
1. Trực tâm
Trực tâm là do chánh niệm chân như. Pháp tu của chúng ta hiện nay thường bị mọi người cho là tiêu cực ích kỷ, vì thường quen quan niệm rằng, ngồi trên núi tu một mình, đó là hàng Nhị thừa tiêu nha bại chủng. Nhưng khi chúng ta tu an định, nhận ra được tâm chân như thanh tịnh nơi mình, chánh niệm chân như không buông lỏng, đó là tín thành tựu phát tâm. Hiểu rõ chỗ này, khi nghe phê bình lối tu nhập thất, tu thiền buông vọng là tiêu cực..., chúng ta có lập trường vững vàng không e sợ. Chúng ta trở về chân như, chân như đầy khắp không chỗ nào thiếu làm sao nói tiêu cực được? Khi chúng ta đã trở về rồi, lúc đó ứng dụng tự tại, độ bao nhiêu chúng sanh lại chẳng được!
Thí dụ có năm bảy người tắm biển, thình lình bị sóng cuốn ra ngoài khơi, họ la cầu cứu. Lúc đó nhiều người đứng trên bờ, có người sốt sắng nhảy ào ra cứu. Vì không biết bơi nên loay hoay bị người níu kéo, rốt cuộc không cứu được người mà mình bị chết chìm. Có người cũng sốt sắng như thế, nhưng lập thế tìm chiếc thuyền chèo ra, nắm người này kéo bỏ lên thuyền, nắm người kia kéo bỏ lên thuyền. Vậy hai người đó ai khôn hơn?
Như vậy, rõ ràng nếu chưa được tự tại mà lo cứu người sớm quá, sẽ bị người kéo chúng ta chìm luôn cả đám. Mặc dù đó là việc tốt, song cái tốt đó chỉ làm nguy hại, còn cái tốt kia mới là tốt thật sự, bảo đảm cho mình và bảo đảm cho người. Chánh niệm chân như là lối tu đúng theo lời Phật dạy, thực hành xong thì lợi lạc vô cùng. Như đức Phật phát đại bi tâm vì thương chúng sanh đau khổ, ngài đi vào rừng quyết chí tu cho đến sáng đạo mới ra hóa độ chúng sanh. Thế nên không có ai làm mê hoặc ngài được, do đó ngài độ viên mãn. Vì vậy phải hiểu rõ tinh thần Đại thừa, nếu không chúng ta sẽ lầm lẫn. Đó là trực tâm do chánh niệm pháp chân như.
2. Thâm tâm
Thâm tâm tức là chúng ta nhóm họp tất cả hạnh lành. Nghĩa là bất cứ ở đâu, trường hợp nào làm được việc lành lớn nhỏ gì cũng làm, đó gọi là thâm tâm.
3. Đại bi tâm
Đại bi tâm nghĩa là chúng ta muốn nhổ hết gốc khổ cho tất cả chúng sanh, vì khởi tâm thương xót người là đã có phát tâm, đã hướng về ý niệm lợi tha rộng lớn. Đó là phát tâm thuộc hạng thứ ba.
Như vậy, trực tâm do chánh niệm chân như là hạng thứ nhất. Bởi vì chân như mênh mông rộng lớn, nếu chánh niệm chân như là nhập được chân như. Nhập được chân như rồi thì tùy theo dụng của chân như mà độ chúng sanh. Cái dụng đó thật vô lượng vô biên. Do đó chúng ta không thể ức thuyết rằng người đang tu tập là Tiểu thừa hay Đại thừa mà cần hiểu rõ tinh thần Đại thừa là thế nào.
Âm:
Vấn viết: Thượng thuyết pháp giới nhất tướng, Phật thể vô nhị, hà cố bất duy niệm chân như, phục giả cầu học chư thiện chi hạnh?
Đáp viết: Thí như đại ma-ni bảo, thể tánh minh tịnh, nhi hữu khoáng uế chi cấu. Nhược nhân tuy niệm bảo tánh, bất dữ phương tiện chủng chủng ma trị, chung vô đắc tịnh. Như thị chúng sanh chân như chi pháp, thể tánh không tịnh, nhi hữu vô lượng phiền não nhiễm cấu. Nhược nhân tuy niệm chân như, bất dĩ phương tiện chủng chủng huân tu, diệc vô đắc tịnh. Dĩ cấu vô lượng biến nhất thiết pháp cố, tu nhất thiết thiện hạnh dĩ vi đối trị. Nhược nhân tu hành nhất thiết thiện pháp, tự nhiên quy thuận chân như pháp cố.
Dịch:
Hỏi: Ở trên nói pháp giới một tướng, Phật thể không hai, tại sao không chỉ niệm chân như, lại nhờ cầu học những hạnh lành?
Đáp: Thí như có hạt châu ma-ni lớn, thể tánh trong sáng mà có những nhơ bẩn lẫn trong đó. Nếu người tuy nhớ tánh của hạt châu này mà không dùng các thứ phương tiện lau chùi hay mài giũa thì trọn không có được trong sạch. Chúng sanh đối với pháp chân như cũng như thế, thể tánh nó là trong sáng, nhưng có vô lượng phiền não nhơ uế làm nhiễm. Nếu người chỉ niệm chân như thôi, không dùng các thứ phương tiện huân tu cũng không có được sự trong sạch. Do vô lượng cấu nhiễm cùng khắp tất cả pháp, nên cần tu tất cả hạnh lành để đối trị. Nếu người tu làm tất cả pháp lành tự nhiên trở về tùy thuận theo pháp chân như.
Giảng:
Người Tín thành tựu phát tâm chỉ cần phát một trực tâm, nghĩa là chỉ chánh niệm chân như là đầy đủ, tại sao phải phát thâm tâm và đại bi tâm?
Tổ giải thích, nếu chúng ta chỉ chánh niệm chân như thôi mà không ưa nhóm họp tất cả hạnh lành và không phát tâm đại bi cứu khổ chúng sanh, thì chánh niệm chân như đó cũng khó thành tựu.
Thí dụ như viên ngọc sáng mà lẫn chất khoáng nhơ bẩn trong đó, muốn nó trong sáng lại, nếu không có phương tiện để lau, giũa hay dùng đá để mài, thì khó được sáng sạch như xưa. Chúng ta đối với pháp chân như cũng thế, tuy biết mình có sẵn đủ, chỉ cần phát tâm tu thẳng môn chân như là xong, nhưng tập khí phiền não nhiễm nhơ sâu dày, nếu không tu tất cả hạnh lành, không phát tâm cứu độ, dùng sức huân của tâm đại bi rửa sạch cấu nhiễm, cũng khó phát sáng chân tâm.
Phát tâm tu hạnh lành không câu nệ ở việc lớn hay việc nhỏ, chỉ cần tâm phát nguyện thâm sâu vững chắc. Ngồi yên trong thất, tâm kiên cố một bề lo tu đến sáng đạo, vì thương chúng sanh khổ lâu xa nên phải tu lâu xa để cứu độ viên mãn, đó là đại nguyện rộng lớn; không phải chỉ đem tiền cúng chùa, làm việc từ thiện nhiều mới có giá trị rộng lớn. Đừng nghĩ rằng muốn làm việc lành chỉ có làm từ thiện xã hội, còn ngồi yên tu là không làm việc lành, không trở về chân như. Khi chúng ta nỗ lực tu mà tâm không quên chúng sanh đang bị mê chạy theo vọng niệm chịu khổ, xong việc sẵn sàng theo nguyện cứu giúp, đó là phương tiện lành để trở về chân như.
4. Phương tiện độ sanh của chư Bồ-tát
a. Phương tiện tu hành căn bản
Âm:
Lược thuyết phương tiện hữu tứ chủng. Vân hà vi tứ?
Nhất giả hành căn bản phương tiện. Vị quán nhất thiết pháp tự tánh vô sanh, ly ư vọng kiến, bất trụ sanh tử. Quán nhất thiết pháp nhân duyên hòa hợp, nghiệp quả bất thất, khởi ư đại bi tu chư phước đức, nhiếp hóa chúng sanh bất trụ Niết-bàn, dĩ tùy thuận pháp tánh vô trụ cố.
Dịch:
Lược nói phương tiện có bốn thứ. Thế nào là bốn?
Một là phương tiện tu hành căn bản. Nghĩa là quan sát tất cả pháp tự tánh vô sanh, lìa nơi vọng kiến, không trụ trong sanh tử. Quán tất cả pháp nhân duyên hòa hợp thì nghiệp quả không mất, khởi lòng đại bi tu các phước đức để nhiếp hóa chúng sanh, không trụ Niết-bàn, do tùy thuận pháp tánh mà không trụ vậy.
Giảng:
Nói rộng về phương tiện độ sanh của chư Bồ-tát, có những phương tiện tu hành như sau:
Phương tiện tu hành căn bản nghĩa là chúng ta thấy tất cả pháp tự tánh vô sanh. Biết các pháp tự tánh vô sanh, thể nó là Không nên không sanh diệt, thấy được điều này chúng ta lìa vọng chấp, không kẹt trong sanh tử. Kế đó lại quán tất cả pháp do nhân duyên hòa hợp, nghiệp quả không mất. Như vậy phần trước là quán tự tánh các pháp, phần sau quán về nghiệp tướng các pháp. Tuy tự tánh các pháp là vô sanh nhưng trên nghiệp tướng thì quả báo không mất, vì vậy chúng ta mới khởi lòng đại bi tu các phước đức, giáo hóa chúng sanh, không trụ Niết-bàn.
Trước hết nói về phần tu. Chúng ta luôn thấy tất cả sự vật hiện có đều do nhân duyên hòa hợp nên tự thể nó là không. Bởi tự thể không, sanh không thật sanh, hoại không thật hoại, biết vậy rồi tâm chúng ta không dính mắc, không vướng kẹt. Đó là đứng về phần lý trí nhìn thẳng vào tự tánh các pháp. Nhìn như vậy lâu ngày thành thói quen, thấy ai khổ chúng ta không thấy khổ, vì khổ tự tánh là không; thấy vui, vui tự tánh nó cũng là không. Như vậy khổ vui mặc họ độ làm gì, không cần khởi tâm thương xót! Lý trí mạnh mà không khéo vận dụng từ bi thì trở nên khô khan. Nên đến giai đoạn thứ hai phải quán nghiệp tướng của các pháp. Tuy rằng tự tánh các pháp là không, thân ngũ uẩn tự tánh không, nhưng duyên hợp vẫn không mất quả báo. Chúng sanh theo duyên nghiệp, quả báo khổ vẫn không mất. Vì thế nên khởi lòng đại bi phát tâm thương xót cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tất cả đều được giác ngộ như chúng ta, không riêng an trụ Niết-bàn. Đó gọi là tùy thuận pháp tánh vô trụ.
b. Phương tiện năng chỉ
Âm:
Nhị giả năng chỉ phương tiện. Vị tàm quý hối quá, năng chỉ nhất thiết ác pháp bất linh tăng trưởng, dĩ tùy thuận pháp tánh ly chư quá cố.
Dịch:
Hai là phương tiện ngăn dừng. Nghĩa là hỗ thẹn hối lỗi, hay dừng tất cả pháp ác không cho nó tăng trưởng, do vì tùy thuận pháp tánh lìa các lỗi lầm.
Giảng:
Phương tiện thứ nhất là thấy thẳng pháp tánh, khởi lòng từ độ chúng sanh; phương tiện thứ hai là phần tự kỷ, nghĩa là đối với chính mình, chúng ta luôn luôn biết hổ thẹn cải hối các lỗi lầm, sửa đổi những điều xấu lỡ làm. Không ai là người hoàn toàn, không thể tránh sơ suất, khi có lỗi thì sanh tâm hổ thẹn chừa bỏ. Do đó hay dứt được tất cả pháp ác, khiến nó không tăng trưởng, nhờ đó chúng ta tùy thuận pháp tánh, lìa những lỗi lầm.
Tôi thường cảm động khi thấy người có lỗi mà biết nhận, đó là điều tốt, điều đáng vui mừng. Người có lỗi mà che giấu thì thật đáng buồn, như vậy làm sao sửa được! Chúng ta muốn chỉ lỗi để họ biết sửa đổi, mới vừa nêu lên đã nổi sân liền, nên thôi đành chịu. Thế nên, tu hành biết lỗi để sửa đổi chừa bỏ là điều rất quý. Không ai có thể cho rằng mình suốt đời không phạm lỗi, vì chúng ta chưa phải là Phật, Bồ-tát. Phương tiện ngăn dừng các lỗi xấu ác là phương tiện rất cần thiết trên đường tu của chúng ta.
c. Phương tiện phát khởi tăng trưởng thiện căn
Âm:
Tam giả phát khởi thiện căn tăng trưởng phương tiện. Vị cần cúng dường lễ bái Tam bảo, tán thán tùy hỷ, khuyến thỉnh chư Phật, dĩ ái kính Tam bảo thuần hậu tâm cố, tín đắc tăng trưởng, nãi năng chí cầu Vô thượng chi đạo. Hựu nhân Phật pháp tăng lực sở hộ cố, năng tiêu nghiệp chướng, thiện căn bất thối, dĩ tùy thuận pháp tánh ly si chướng cố.
Dịch:
Ba là phương tiện phát khởi tăng trưởng thiện căn. Nghĩa là siêng năng cúng dường lễ bái Tam bảo, tán thán tùy hỷ, khuyến thỉnh chư Phật, do tâm yêu kính Tam bảo rất thuần hậu nên lòng tin được tăng trưởng, mới hay có chí cầu đạo Vô thượng. Lại, nhân được sức Phật pháp tăng gia hộ, hay tiêu trừ được nghiệp chướng nên thiện căn không bị lui sụt, do đó mà tùy thuận pháp tánh lìa những si chướng.
Giảng:
Phương tiện thứ ba là phát khởi tăng trưởng căn lành. Đối với Tam bảo chúng ta hằng lễ bái cúng dường, khen ngợi, tùy hỷ những người làm việc lành, khuyến thỉnh chư Phật giáo hóa chúng sanh. Do lòng mến kính Tam bảo thuần hậu đó mà thiện căn dễ tăng trưởng, do đó mới hay có chí cầu đạo Vô thượng.
Tuy chúng ta tu luôn luôn lúc nào cũng trở về tự tánh chân như, nhưng bên ngoài đối với Tam bảo bao giờ cũng có lòng kính mến chân thật. Chính nhờ lòng chí thành của chúng ta, lại nhận được gia hộ của Tam bảo, nên nghiệp chướng ngày càng tiêu mỏng, dễ tùy thuận với pháp tánh chân như và dễ lìa được những si mê ám chướng.
d. Phương tiện đại nguyện bình đẳng
Âm:
Tứ giả đại nguyện bình đẳng phương tiện. Sở vị phát nguyện tận ư vị lai, hóa độ nhất thiết chúng sanh sử vô hữu dư, giai linh cứu cánh vô dư Niết-bàn, dĩ tùy thuận pháp tánh vô đoạn tuyệt cố. Pháp tánh quảng đại, biến nhất thiết chúng sanh, bình đẳng vô nhị, bất niệm bỉ thử, cứu cánh tịch diệt cố.
Dịch:
Bốn là phương tiện đại nguyện bình đẳng. Đó là phát nguyện hóa độ tất cả chúng sanh tột đời vị lai, không còn thừa sót và khiến cho họ đều cứu cánh vào vô dư Niết-bàn, do tùy thuận pháp tánh không đoạn không dứt, pháp tánh rộng lớn cùng khắp tất cả chúng sanh, bình đẳng không hai, không nghĩ kia đây, cứu cánh đều lặng lẽ.
Giảng:
Phương tiện thứ tư là phát đại nguyện bình đẳng, nguyện độ tất cả chúng sanh. Tất cả người thân sơ, thương ghét đều gắng độ hết, không phân biệt kia đây. Vì trong chân như bình đẳng không hai, nên chúng ta nguyện độ tất cả người ủng hộ giúp đỡ chúng ta, và cũng độ người tìm cách gây khó khăn làm cho chúng ta phải khốn khổ. Như thế mới là đại nguyện bình đẳng. Vì xứng với pháp tánh rộng lớn nên nguyện độ không sót bất cứ một chúng sanh nào.
Chúng ta học theo hạnh của đức Phật, tuy ngài nguyện độ hết, nhưng chúng sanh gần gũi và thuần thục thì độ trước, người chưa thuần thục thì dần dần tạo duyên để độ. Như khi tôi đang giảng kinh được nhiều người hưởng ứng nghe, nhưng tôi chỉ hứa giảng ba năm rồi nghỉ. Có người trách tôi ích kỷ, không nguyện độ khắp vì chỉ có những người hiện tại được lợi ích, còn những người sau bị bỏ sót. Thật ra bây giờ tôi cố tình chỉ dạy những người tôi tin tưởng để ngày mai họ có thể thay thế cho tôi. Điều gì làm được thì chúng ta làm trực tiếp, điều gì không làm được thì tạo duyên để người khác phụ giúp với chúng ta. Đức Phật nhập Niết-bàn hơn hai ngàn năm, giáo lý của ngài bây giờ vẫn còn độ chúng sanh. Ngài không có mặt ở đây, song ngài đã làm duyên để lại, các đệ tử thay ngài độ chúng sanh đời sau. Cho nên đừng tưởng trực tiếp độ mới là độ.
Phát tâm bình đẳng là điều thiết yếu, nhưng việc làm thì không bình đẳng một lượt. Như câu chuyện đức Phật nói về người nông phu biết làm ruộng, với những mẫu đất định phải làm trước, để mưa sâu quá không làm kịp, những đám ruộng phì nhiêu trồng tỉa trước, đám nào chai gò thủng thẳng làm sau. Người biết làm ruộng phải nắm nguyên tắc đó. Còn người bình đẳng gò với đinh làm một lượt đó là người chưa biết làm ruộng. Chủ yếu của người tu phải hiểu thời cơ, việc làm tuy giới hạn nhưng có thể là việc làm vĩnh viễn, còn không biết thời cơ, việc làm coi như bao trùm hết, rốt cuộc không được việc gì. Đây là điều quan trọng.
e. Tùy nguyện độ sanh
Âm:
Bồ-tát phát thị tâm cố, tắc đắc thiểu phần kiến ư pháp thân. Dĩ kiến pháp thân cố, tùy kỳ nguyện lực năng hiện bát chủng lợi ích chúng sanh. Sở vị tùng Đâu-suất thiên thối, nhập thai, trụ thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập ư Niết-bàn.
Dịch:
Bồ-tát phát tâm ấy thì thấy được ít phần pháp thân. Do thấy được pháp thân nên tùy theo nguyện lực, hay hiện tám việc làm lợi ích chúng sanh. Đó là: từ cung trời Đâu-suất xuống, vào thai mẹ, trụ trong thai, ra khỏi thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn.
Giảng:
Bồ-tát được tín tâm thành tựu rồi, y theo những hạnh phương tiện tu hành như trên, sẽ thấy được ít phần pháp thân tức là đã bước vào Sơ địa. Các ngài tùy theo nguyện lực tăng trưởng quả vị đến chỗ còn một đời thành Phật gọi là Nhất sanh bổ xứ, lúc ấy sẽ thị hiện tám việc lợi ích chúng sanh: từ cung trời Đâu-suất xuống cõi Diêm-phù-đề, vào thai mẹ, trụ trong thai mẹ, đản sanh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn.
Vì sao nhập Niết-bàn mà lợi ích chúng sanh? Trong kinh Pháp Hoa Phật dùng thí dụ ông thầy thuốc, vì muốn lợi ích cho con ở nhà bị điên không chịu uống thuốc, nên đi xa. Ông cho người nhắn tin về nói rằng ông đã chết, mấy đứa con điên hoảng hồn, cha mình chết rồi không ai cứu giúp, lúc ấy chúng mới tự nghĩ tìm thuốc uống, tự nhiên hết bệnh. Như vậy Phật nhập Niết-bàn cũng làm lợi ích chúng sanh. Nhờ ngài nhập Niết-bàn nên bây giờ giáo lý ngài mới bủa khắp nơi, và chúng ta mới lạy hoài không chán. Nếu ngài còn hoài mà ngài người Ấn Độ, nhiều khi chúng ta kỳ thị không biết quý. Chính ngài nhập Niết-bàn rồi hết kỳ thị, chúng ta mới kính nể giáo lý của ngài.
Âm:
Nhiên thị Bồ-tát vị danh pháp thân, dĩ kỳ quá khứ vô lượng thế lai hữu lậu chi nghiệp vị năng quyết đoạn, tùy kỳ sở sanh dữ vi khổ tương ưng; diệc phi nghiệp hệ, dĩ hữu đại nguyện tự tại lực cố.
Dịch:
Nhưng Bồ-tát ấy chưa gọi là pháp thân, vì từ quá khứ vô lượng đời đến nay, những nghiệp hữu lậu chưa có thể đoạn dứt, tùy các ngài sanh ở chỗ nào, còn cùng với cái khổ vi tế tương ưng; cũng không phải do nghiệp trói buộc, mà do có sức tự tại của đại nguyện.
Giảng:
Bồ-tát chưa sống hoàn toàn với pháp thân, vì còn những nghiệp hữu lậu của vô lượng đời quá khứ. Các ngài tuy thấy một phần pháp thân nhưng sanh nơi nào vẫn còn chịu khổ vi tế. Tuy có khổ vi tế mà chẳng phải do nghiệp trói buộc, đều do sức đại nguyện tự tại. Như Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất, xuống cung vua thọ sanh, không phải do nghiệp mà đó là nguyện lực. Khi thọ sanh cũng bị những cái khổ nhỏ về đói, lạnh... Vì có thân nên chịu các khổ của thân, song hoàn toàn không phải bị nghiệp lôi. Chúng sanh thì hoàn toàn phó thác cho nghiệp lôi, không thể cưỡng lại.
Khi xuất gia chúng ta gắng chống lại tập nghiệp của mình, hiện tại chống được thì tương lai cũng chống được, chắc chắn không bị nghiệp lôi. Người xuất gia hiện tại là cưỡng nghiệp sanh tử. Nghiệp sanh tử lớn nhất là tạo gia đình, sanh con cái nối dòng dõi thế gian. Từ sự tiếp nối này lôi kéo chúng sanh luân hồi không dừng. Ngay khi xuất gia, chúng ta đã cưỡng lại nghiệp gia đình, đó là cái tự chủ quý nhất.
Người xuất gia sống theo giới luật, hạn chế sự tiếp xúc giữa sáu căn sáu trần, những gì buông lung thích ý đều chống lại không theo. Miệng thích ăn ngon, bây giờ chúng ta bắt nó chay lạt là đã cưỡng lại nghiệp của miệng. Tai thích nghe nhạc, bây giờ cưỡng lại không nghe. Mũi thích mùi thơm cũng không cho theo. Mắt ưa nhìn sắc đẹp, chúng ta quán tất cả hư giả nên không chạy theo sắc. Thân thích xúc chạm mềm mại trơn láng, đồ mặc tốt đẹp, bây giờ cũng không ưa thích. Đồ xấu mặc cũng được, nằm giường hư cũng xong...
Chúng ta đang làm việc chống lại nghiệp mà không ngờ. Nếu đủ sức mạnh nắm trong tay quyền làm chủ, không để nghiệp sai sử lôi kéo. Một đời tu như vậy, nhiều đời sau mạnh mẽ tự tại, đến lúc làm chủ hẳn nghiệp lực thì sanh nơi đâu là do nguyện, không phải do nghiệp. Đó là con đường của Bồ-tát.
Âm:
Như tu-đa-la trung, hoặc thuyết hữu thối đọa ác thú giả, phi kỳ thật thối, đản vi sơ học Bồ-tát vị nhập chánh vị nhi giải đãi giả, khủng bố linh sử dũng mãnh cố.
Dịch:
Như trong khế kinh hoặc nói có những vị Bồ-tát thối đọa vào ác thú, chẳng phải có sự thối đọa thật sự, chỉ vì những vị Bồ-tát mới tu học chưa vào chánh vị còn hay lười biếng, dùng lối nói khủng bố để khiến dũng mãnh hơn lên.
Giảng:
Chư Bồ-tát không thật sự đọa vào đường ác. Trong kinh Phật khéo dùng phương tiện, vì các Bồ-tát sơ học chưa vào chánh vi, sợ có lúc giải đãi nên nói “Khi tu phát tâm Bồ-tát mà không khéo tu là đọa vào đường ác”, đó là khủng bố để cho các ngài dũng mãnh tinh tấn.
Bồ-tát sơ phát tâm còn không đọa đường ác, các Bồ-tát đăng địa có thể thị hiện vào khắp các loài để độ sanh. Như Bồ-tát Quan Thế Âm được ứng thân tự tại, khi cần hiện thân cư sĩ, thân sĩ phu, thân Tỳ-kheo... ngài đều có thể ứng hiện tùy loại, tùy duyên để độ chúng sanh. Cũng có khi các ngài làm người ngoại đạo, hoặc làm quan, làm vua..., tất cả là hạnh Bồ-tát để độ sanh đầy đủ.
Sở dĩ Bồ-tát độ sanh tùy nguyện vì các ngài đã được sức tự tại, tự chủ. Chúng ta tu cũng cốt là để cưỡng lại nghiệp sanh tử, khi quả quyết chắc chắn không còn bị lôi trong sanh tử, trở về tự tánh chân như, sẽ phát đại nguyện độ sanh như chư Bồ-tát. Con đường của chúng ta chắc chắn như thế, không sợ thối đọa.
Âm:
Hựu thị Bồ-tát nhất phát tâm hậu, viễn ly khiếp nhược, tất cánh bất úy đọa Nhị thừa địa. Nhược văn vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp cần khổ nan hành nãi đắc Niết-bàn, diệc bất khiếp nhược, dĩ tín tri nhất thiết pháp tùng bản dĩ lai tự Niết-bàn cố.
Dịch:
Lại Bồ-tát ấy sau khi phát tâm rồi, liền xa lìa sự khiếp nhược, cứu cánh không rơi vào lãnh vực Nhị thừa. Dù nghe nói rằng phải siêng năng khổ nhọc, khó khăn tu hành trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp mới được Niết-bàn, các ngài cũng không có khiếp nhược. Tại sao? Bởi vì các ngài tin biết tất cả pháp từ xưa đến nay tự là Niết-bàn.
Giảng:
Chúng ta nghe nói gặp chư Phật Bồ-tát, thờ phụng cúng dường một muôn năm mới được tín tâm thành tựu, muốn được Niết-bàn phải tu trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, nghe như vậy có ngán không? Nếu có ngán thì sanh ra khiếp nhược sợ sệt. Đây lại nói Bồ-tát nghe trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp siêng năng khổ nhọc mới được Niết-bàn. Nghe vậy mà các ngài không sợ. Tại sao? Vì các ngài biết tự tánh các pháp xưa nay là Niết-bàn, không chờ đợi Niết-bàn ở đâu xa. Hiện tại nếu chúng ta thấy thân huyễn hóa này tự tánh vô sanh tức vô diệt, đó là Niết-bàn ngay nơi đây, cứ an tâm tiến tu.
Hàng Nhị thừa trông được Niết-bàn, nên nghe nói trải qua ba vô số kiếp tự sanh chán mỏi. Bồ-tát thấy các pháp tự tánh là không, không sanh không diệt, ngay nơi thân tứ đại ngũ uẩn này tự tánh vô sanh tức Niết-bàn, thế nên các ngài yên ổn, bao lâu cũng được, cứ làm cứ tiến không nghĩ lâu xa.
II. Giải hạnh phát tâm
Âm:
Giải hạnh phát tâm giả, đương tri chuyển thắng.
Dịch:
Giải hạnh phát tâm thì nên biết càng thêm thù thắng hơn trước.
Giảng:
Phần trên là nói về sự phát tâm do lòng tin, đoạn này nói về sự phát tâm sau khi hiểu và thực hành. Có hiểu và có thực hành rồi phát tâm thì sự phát tâm càng thù thắng hơn.
Âm:
Dĩ thị Bồ-tát tùng sơ chánh tín dĩ lai, ư đệ nhất a-tăng-kỳ kiếp tương dục mãn cố, ư chân như pháp trung, thâm giải hiện tiền, sở tu ly tướng. Dĩ tri pháp tánh thể vô xan tham cố, tùy thuận tu hành đàn ba-la-mật. Dĩ tri pháp tánh vô nhiễm, ly ngũ dục quá cố, tùy thuận tu hành thi ba-la-mật. Dĩ tri pháp tánh vô khổ, ly sân não cố, tùy thuận tu hành sằn-đề ba-la-mật. Dĩ tri pháp tánh vô thân tâm tướng, ly giải đãi cố, tùy thuận tu hành tỳ-lê-da ba-la-mật. Dĩ tri pháp tánh thường định, thể vô loạn cố, tùy thuận tu hành thiền ba-la-mật. Dĩ tri pháp tánh thể minh, ly vô minh cố, tùy thuận tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Dịch:
Do Bồ-tát ấy từ chánh tín ban đầu trở đi ở trong a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất sắp đầy đủ, đối với pháp chân như, sự thâm hiểu được hiện tiền và chỗ tu đều là lìa tướng. Do biết pháp tánh thể không xan tham, nên tùy thuận tu hành về bố thí ba-la-mật. Do biết pháp tánh không nhiễm, lìa các lỗi ngũ dục, nên tùy thuận tu hành trì giới ba-la-mật. Do biết pháp tánh không khổ, lìa sân não, nên tùy thuận tu hành nhẫn nhục ba-la-mật. Do biết pháp tánh không có tướng thân tâm, lìa giải đãi, nên tùy thuận tu hành tinh tấn ba-la-mật. Do biết pháp tánh là thường định, thể không có loạn, nên tùy thuận tu hành thiền ba-la-mật. Do biết pháp tánh tự thể sáng suốt, vì lìa các vô minh, nên tùy thuận tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Giảng:
Các vị Bồ-tát tu về Giải hạnh phát tâm này là sắp mãn được a-tăng-kỳ thứ nhất rồi, các ngài đã thấy được pháp tánh, nên tu đầy đủ sáu pháp ba-la-mật, thể theo pháp tánh mà tu, không có bị chướng ngại.
III. Chứng phát tâm
Âm:
Chứng phát tâm giả, tùng Tịnh tâm địa nãi chí Bồ-tát Cứu cánh địa, chứng hà cảnh giới? Sở vị chân như, dĩ y chuyển thức thuyết vi cảnh giới, nhi thử chứng giả vô hữu cảnh giới, duy chân như trí danh vi Pháp thân.
Dịch:
Chứng phát tâm là các vị Bồ-tát từ Tịnh tâm địa cho đến Cứu cánh địa chứng những cảnh giới gì? Đó là chân như. Bởi do y chuyển thức mà nói là cảnh giới, chứ chỗ chứng này không có cảnh giới, chỉ là trí chân như gọi là Pháp thân.
Giảng:
Đây là nói về Chứng phát tâm. Chứng phát tâm là Bồ-tát từ Bát địa cho đến Thập địa. Sở dĩ nói chứng cảnh giới là căn cứ vào chuyển thức, chỗ chứng này là chứng trí chân như nhận được pháp thân.
Âm:
Thị Bồ-tát ư nhất niệm khoảnh năng chí thập phương vô dư thế giới, cúng dường chư Phật, thỉnh chuyển pháp luân, duy vị khai đạo lợi ích chúng sanh, bất y văn tự. Hoặc thị siêu địa tốc thành chánh giác, dĩ vị khiếp nhược chúng sanh cố. Hoặc thuyết ngã ư vô lượng a-tăng-kỳ kiếp đương thành Phật đạo, dĩ vị giải mạn chúng sanh cố.
Năng thị như thị vô số phương tiện bất khả tư nghì, nhi thật Bồ-tát chủng tánh căn đẳng, phát tâm tắc đẳng, sở chứng diệc đẳng, vô hữu siêu quá chi pháp. Dĩ nhất thiết Bồ-tát giai kinh tam a-tăng-kỳ kiếp cố, đản tùy chúng sanh thế giới bất đồng, sở kiến sở văn căn dục tánh dị, cố thị sở hành diệc hữu sai biệt.
Dịch:
Các vị Bồ-tát này ở trong khoảng một niệm có thể đến mười phương thế giới không thiếu sót, cúng dường chư Phật, thỉnh chuyển pháp luân, chỉ vì dẫn đường làm lợi ích cho chúng sanh, chứ không y nơi văn tự. Hoặc các ngài thị hiện siêu việt các địa chóng thành chánh giác, là vì những chúng sanh khiếp nhược. Hoặc nói ta ở trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp sẽ thành Phật đạo, cũng vì những chúng sanh giải đãi ngã mạn mà nói.
Các ngài hay thị hiện vô số phương tiện như thế không thể nghĩ bàn, nhưng thật ra Bồ-tát chủng tánh và thiện căn bình đẳng, phát tâm cũng bình đẳng, chỗ chứng cũng bình đẳng, không có pháp siêu quá. Do tất cả Bồ-tát đều trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, chỉ tùy chúng sanh thế giới chẳng đồng, nên chỗ thấy chỗ nghe, các căn dục tánh có khác, vì vậy các ngài thị hiện các việc làm cũng sai biệt.
Giảng:
Các vị Bồ-tát từ Bát địa đến Thập địa chứng nhập pháp thân, diệu dụng độ sanh như chư Phật, có đầy đủ phương tiện làm lợi ích. Bồ-tát có khi thị hiện thành Phật, có khi các ngài lại nói vô lượng a-tăng-kỳ mới thành Phật... Sở dĩ các ngài thị hiện thành Phật mau chóng là vì những chúng sanh khiếp nhược, lòng dạ yếu kém, thấy được mau thành Phật nên gắng tu. Khi các ngài nói trải qua vô lượng a-tăng-kỳ mới thành Phật là vì những chúng sanh lười biếng và ngã mạn. Nếu nói mau, dễ quá, họ dễ sanh ỷ lại lười nhác, nên nói khó, tu phải lâu dài, nỗ lực lắm mới thành Phật, để họ cố gắng lên. Tùy theo bệnh của chúng sanh mà Bồ-tát thị hiện không thể nghĩ bàn, bao nhiêu phương tiện không tính hết được. Thật ra chủng tánh của Bồ-tát đồng nhau, nên chỗ phát tâm cũng đồng, chỗ chứng cũng đồng không có người nào trước người nào sau. Sở dĩ thấy có sớm muộn trước sau tại vì chỗ giáo hóa chúng sanh tùy theo bệnh, các ngài thị hiện sai biệt mà thôi.
IV. Sự hoàn tất của chứng phát tâm
Âm:
Hựu thị Bồ-tát phát tâm tướng giả, hữu tam chủng tâm vi tế chi tướng. Vân hà vi tam? Nhất giả chân tâm, vô phân biệt cố. Nhị giả phương tiện tâm, tự nhiên biến hành, lợi ích chúng sanh cố. Tam giả nghiệp thức tâm, vi tế khởi diệt cố.
Hựu thị Bồ-tát công đức thành mãn, ư Sắc cứu cánh xứ thị nhất thiết thế gian tối cao đại thân. Vị dĩ nhất niệm tương ưng tuệ, vô minh đốn tận, danh Nhất thiết chủng trí, tự nhiên nhi hữu bất tư nghì nghiệp, năng hiện thập phương lợi ích chúng sanh.
Dịch:
Lại tướng phát tâm của Bồ-tát này có ba thứ tâm tướng vi tế. Thế nào là ba? Một là chân tâm, vì không có phân biệt. Hai là phương tiện tâm, vì tự nhiên làm lợi ích cho chúng sanh. Ba là nghiệp thức tâm, vì còn những khởi diệt vi tế.
Lại Bồ-tát ấy công đức được thành tựu viên mãn, ở cõi trời Sắc cứu cánh thị hiện thân cao lớn nhất thế gian. Nghĩa là do nhất niệm tương ứng với tuệ, vô minh liền hết, gọi là Nhất thiết chủng trí, tự nhiên mà có bất tư nghì nghiệp, có thể hiện khắp mười phương làm lợi ích chúng sanh.
Giảng:
Bồ-tát phát tâm vẫn còn có ba tướng nhỏ nhiệm. Tướng chân tâm là tâm không có phân biệt, tướng phương tiện tâm là tâm làm lợi ích chúng sanh và tướng nghiệp thức tâm là tâm còn những khởi diệt vi tế.
Lại, các vị Bồ-tát sắp viên mãn công đức thì các ngài hay thị hiện ở trên cõi trời Sắc cứu cánh. Các ngài hiện thân cao lớn vô cùng, trong khoảng chốc lát tương ưng với tuệ, tức là tương ưng Nhất thiết chủng trí, đầy đủ tất cả bất tư nghì nghiệp dụng, hiện khắp mười phương lợi ích chúng sanh.
Âm:
Vấn viết: Hư không vô biên cố thế giới vô biên, thế giới vô biên cố chúng sanh vô biên, chúng sanh vô biên cố tâm hạnh sai biệt diệc phục vô biên. Như thị cảnh giới bất khả phần tề, nan tri nan giải. Nhược vô minh đoạn vô hữu tâm tưởng, vân hà năng liễu, danh Nhất thiết chủng trí?
Đáp viết: Nhất thiết cảnh giới, bản lai nhất tâm ly ư tưởng niệm, dĩ chúng sanh vọng kiến cảnh giới cố tâm hữu phần tề, dĩ vọng khởi tưởng niệm bất xứng pháp tánh cố bất năng quyết liễu.
Chư Phật Như Lai ly ư kiến tướng vô sở bất biến, tâm chân thật cố, tức thị chư pháp chi tánh. Tự thể hiển chiếu nhất thiết vọng pháp, hữu đại trí dụng vô lượng phương tiện, tùy chư chúng sanh sở ưng đắc giải, giai năng khai thị chủng chủng pháp nghĩa, thị cố đắc danh Nhất thiết chủng trí.
Dịch:
Hỏi: Vì hư không vô biên nên thế giới vô biên, vì thế giới vô biên nên chúng sanh vô biên, vì chúng sanh vô biên nên tâm hành sai biệt cũng lại vô biên. Những cảnh giới như thế không có chừng ngằn, khó biết khó hiểu. Nếu vô minh dứt không có tâm tưởng, làm sao mà hay hiểu rõ gọi là Nhất thiết chủng trí?
Đáp: Tất cả cảnh giới xưa nay là nhất tâm, lìa các tưởng niệm, do chúng sanh vọng thấy cảnh giới nên tâm có chừng ngằn, do vọng khởi tưởng niệm chẳng xứng hợp với pháp tánh nên không thể hiểu rõ.
Chư Phật Như Lai xa lìa nơi kiến tướng, không chỗ nào chẳng khắp, vì tâm chân thật chính là tánh của các pháp. Tự thể hiển bày chiếu soi tất cả vọng pháp, có vô lượng phương tiện của cái dụng đại trí, tùy theo các chúng sanh chỗ cần đáng được hiểu thì đều hay mở bày chỉ dạy các thứ pháp nghĩa, thế nên được gọi là Nhất thiết chủng trí.
Giảng:
Chúng ta nghe nói Nhất thiết chủng trí là trí biết tất cả chủng loại liền khởi nghi: Hư không vô biên nên thế giới vô biên, thế giới vô biên nên chúng sanh vô biên, chúng sanh vô biên nên tâm hành sai biệt cũng vô biên; hư không, thế giới, tâm hành chúng sanh sai biệt vô biên, làm sao có thể biết hết hạn lượng của thế giới, của chúng sanh? Đây lại nói nếu vô minh dứt, lúc đó không có tâm tưởng, đã không có tâm tưởng làm sao hay hiểu được tất cả chủng loại? Phàm phu chúng ta cứ quan niệm có nghĩ có tưởng mới biết, bây giờ dứt hết vô minh không còn suy nghĩ, không còn tâm tưởng làm sao biết tất cả? Không biết được tất cả thì sao gọi là Nhất thiết chủng trí?
Tổ giải thích nói là cảnh giới vô biên, tâm hành chúng sanh vô biên, nhưng tất cả cảnh giới đó xưa nay là nhất tâm, lìa tất cả tưởng niệm. Do chúng sanh vọng thấy cảnh giới nên mới có tâm phân biệt chừng ngằn. Nếu dứt hết vọng tưởng dấy khởi, lúc đó xứng với pháp tánh mới hay rõ biết được tất cả. Vọng niệm là cái suy nghĩ phân biệt có giới hạn, thay đổi theo đối tượng, không xứng hợp pháp tánh rộng lớn nên không thể hiểu biết tận cùng. Khi hết vọng niệm là trở về nhất tâm, tâm ấy đầy khắp, hằng bao trùm vạn tượng chúng sanh, xứng với pháp tánh nên gọi là hiểu biết vô lượng vô biên.
Chư Phật Như Lai lìa hết những kiến tướng, tức là lìa các thứ tâm duyên theo cảnh, chân tâm trùm khắp tất cả, tự thể của tâm chiếu sáng dứt tất cả vọng, có trí dụng vô lượng vô biên, tùy chúng sanh cần thì các ngài đều theo đó mà chỉ dạy các thứ pháp nghĩa. Thế nên gọi là Nhất thiết chủng trí.
Âm:
Hựu vấn viết: Nhược chư Phật hữu tự nhiên nghiệp, năng hiện nhất thiết xứ lợi ích chúng sanh giả, nhất thiết chúng sanh nhược kiến kỳ thân, nhược đổ thần biến, nhược văn kỳ thuyết, vô bất đắc lợi. Vân hà thế gian đa bất năng kiến?
Đáp viết: Chư Phật Như Lai pháp thân bình đẳng biến nhất thiết xứ, vô hữu tác ý cố nhi thuyết tự nhiên, đản y chúng sanh tâm hiện. Chúng sanh tâm giả du ư như kính, kính nhược hữu cấu sắc tượng bất hiện. Như thị chúng sanh tâm nhược hữu cấu, pháp thân bất hiện cố.
Dịch:
Lại hỏi rằng: Nếu chư Phật có nghiệp tự nhiên, có thể hiện tất cả chỗ làm lợi ích chúng sanh, tất cả chúng sanh hoặc thấy thân Phật, hoặc xem thấy thần thông biến hóa của Phật, hoặc được nghe lời Phật dạy, ai cũng đều được lợi ích cả. Tại sao thế gian này có nhiều người không thấy được?
Đáp: Chư Phật Như Lai pháp thân bình đẳng cùng khắp tất cả chỗ, không có tác ý nên nói là tự nhiên, chỉ y theo tâm chúng sanh mà hiện. Tâm chúng sanh ví như cái gương, nếu gương có bụi phủ lấp thì những sắc tượng không hiện được. Tâm chúng sanh cũng như thế, nếu có bụi nhơ thì pháp thân không hiện.
Giảng:
Đây là nghi chư Phật dường như thiên vị. Phật đã có nghiệp trí tự nhiên, nghĩa là tất cả chỗ đều làm lợi ích chúng sanh. Tất cả chúng sanh hoặc thấy thân ngài, hoặc thấy thần thông biến hóa của ngài, hoặc nghe ngài nói pháp đều được lợi ích. Vì sao thế gian này có người không thể thấy ngài, không được lợi ích gì cả? Như thế ngài không có lợi ích cùng khắp.
Thân Phật lúc nào cũng trùm khắp, chúng sanh nào tâm thanh tịnh liền thấy, ngay đó được lợi ích. Còn nếu tâm không thanh tịnh, muốn thấy cũng thấy không nổi. Ví như trước tất cả hình tượng có mười, hai mươi, hoặc một trăm cái gương, có gương sáng trong, có gương bị bụi lấp, hoặc có gương bị sơn mực đen... Gương nào hiện được hình tượng đầy đủ? Chỉ có gương sáng. Hình tượng không lựa gương mà phản ảnh, do lỗi gương không sáng, không phải lỗi tại hình tượng bất công. Phật thì vô tác ý mà tùy tâm chúng sanh, tâm chúng sanh nào thanh tịnh, hướng về Phật thì thấy có Phật, tâm chúng sanh nào mờ tối quá thì không thấy Phật. Tâm Phật không thiên vị lựa chọn chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không nỗ lực đồng đều trở về chân như bình đẳng, nên không cảm ứng được sự hóa độ đồng đẳng của chư Phật.
TU HÀNH TÍN TÂM
Âm:
Dĩ thuyết giải thích phần, thứ thuyết tu hành tín tâm phần. Thị trung y vị nhập chánh định chúng sanh cố, thuyết tu hành tín tâm.
Hà đẳng tín tâm? Vân hà tu hành? Lược thuyết tín tâm hữu tứ chủng. Vân hà vi tứ?
Nhất giả tín căn bản, sở vị nhạo niệm chân như pháp cố.
Nhị giả tín Phật hữu vô lượng công đức, thường niệm thân cận cúng dường cung kính, phát khởi thiện căn, nguyện cầu Nhất thiết trí cố.
Tam giả tín Pháp hữu đại lợi ích, thường niệm tu hành chư ba-la-mật cố.
Tứ giả tín Tăng năng chánh tu hành tự lợi lợi tha, thường nhạo thân cận chư Bồ-tát chúng, cầu học như thật hạnh cố.
Dịch:
Đã nói xong phần giải thích, kế nói phần tu hành tín tâm. Trong đó y nơi những chúng sanh chưa vào nhóm chánh định, nên nói tu hành tín tâm.
Những gì là tín tâm? Thế nào là tu hành? Lược nói tín tâm có bốn thứ. Thế nào là bốn?
Một là tin căn bản, nghĩa là ưa niệm pháp chân như.
Hai là tin Phật có vô lượng công đức, thường nhớ nghĩ, gần gũi, cúng dường, cung kính, để phát khởi căn lành, mong cầu Nhất thiết trí.
Ba là tin Pháp có lợi ích lớn, thường nhớ nghĩ tu hành các pháp ba-la-mật.
Bốn là tin Tăng hay chân chánh tu hành tự lợi lợi tha, thường ưa gần gũi các chúng Bồ-tát, cầu học những hạnh như thật.
Giảng:
Đề mục lớn của bộ luận có năm phần, từ trước đến đây đã giảng giải xong ba phần Nhân duyên, Lập nghĩa và Giải thích. Tiếp theo là giảng về phần thứ tư Tu hành tín tâm, cho những chúng sanh chưa vào nhóm chánh định.
Lược nói tín tâm có bốn thứ.
1. Tin căn bản
Tin căn bản là ưa niệm pháp chân như. Nếu nghe nói niệm pháp chân như, chúng ta đi đứng nằm ngồi đều niệm “Nam-mô chân như”, như thế không đúng. Niệm pháp chân như là không theo vọng. Không theo vọng là trở về chân như, gọi là niệm pháp chân như.
2. Tin Phật
Phật có vô lượng công đức nên chúng ta thường nhớ nghĩ mong được thân cận, cúng dường, cung kính, để phát khởi thiện căn và mong cầu được Nhất thiết trí như Phật.
3. Tin Pháp
Thường nhớ các pháp lục độ, cố gắng tu hành.
4. Tin Tăng
Tin chư tăng tu hành chân chánh để tự lợi và lợi tha, nên chúng ta ưa gần gũi. Chữ Tăng là chỉ Bồ-tát tăng. Các vị phát tâm vì tin vào thể tánh chân thật của mình, đồng thời nguyện làm các hạnh lợi ích chúng sanh. Hạnh nguyện của chư Bồ-tát khiến chúng sanh ưa muốn gần gũi, cầu học các hạnh lành như thật.
A- NĂM CỬA ĐỂ THÀNH TỰU TÍN TÂM
Âm:
Tu hành hữu ngũ môn, năng thành thử tín. Vân hà vi ngũ? Nhất giả thí môn, nhị giả giới môn, tam giả nhẫn môn, tứ giả tấn môn, ngũ giả chỉ quán môn.
Dịch:
Tu hành có năm cửa hay thành tựu được tín tâm này. Thế nào là năm? Một là bố thí, hai là trì giới, ba là nhẫn nhục, bốn là tinh tấn, năm là chỉ quán.
I. Cửa bố thí
Âm:
Vân hà tu hành thí môn? Nhược kiến nhất thiết lai cầu sách giả, sở hữu tài vật tùy lực thí dữ, dĩ tự xả xan tham linh bỉ hoan hỷ. Nhược kiến ách nạn khủng bố nguy bức, tùy kỷ kham nhậm thí dữ vô úy. Nhược hữu chúng sanh lai cầu pháp giả, tùy kỷ năng giải phương tiện vi thuyết. Bất ưng tham cầu danh lợi cung kính, duy niệm tự lợi lợi tha hồi hướng Bồ-đề cố.
Dịch:
Thế nào là tu hành cửa bố thí? Nếu thấy tất cả người đến cầu xin, thì tùy theo sức mình mà cho những tài vật, để tự xả lòng xan tham và khiến người kia được hoan hỷ. Nếu thấy người bị ách nạn, khủng bố, áp bức thì tùy theo khả năng của mình, thí giúp họ sự không sợ sệt. Nếu có chúng sanh đến cầu pháp, tùy theo chỗ hiểu của mình, phương tiện vì họ nói. Không nên tham cầu danh lợi cung kính, chỉ nghĩ tự lợi lợi tha rồi hồi hướng Bồ-đề.
Giảng:
Phần thành tựu tín tâm này rất quan trọng, vì khi đã hiểu Đại thừa là chính tâm thể của mình mà không phát khởi được lòng tin thì chưa xong việc. Phương tiện thành tựu lòng tin đã có chánh nhân là thể chân như, tu tập nhận thẳng tự thể chính mình, ngoài ra cần các duyên bên ngoài yểm trợ. Các phương tiện bên ngoài là tu tập các hạnh Bồ-tát như bố thí, trì giới... Vì tâm thể rộng lớn tương ưng với hạnh nguyện rộng lớn nên cần tu tập lợi tha. Phương tiện tu đầu tiên là cửa bố thí, chia làm ba: tài thí, vô úy thí và pháp thí. Tổ dạy:
- Tài thí: Nếu chúng ta thấy có người đến cầu xin, thì tùy sức mình mà cho. Chúng ta bố thí như vậy trước hết là xả bỏ lòng xan tham của mình, kế đó là làm cho người kia được sanh hoan hỷ.
- Vô úy thí và pháp thí: Tùy theo khả năng của chúng ta có được, đem ra ứng dụng bố thí để tự lợi lợi tha rồi hồi hướng Bồ-đề, không nên cầu danh lợi cung kính ở thế gian.
II. Cửa trì giới
Âm:
Vân hà tu hành giới môn? Sở vị bất sát, bất đạo, bất dâm, bất lưỡng thiệt, bất ác khẩu, bất vọng ngôn, bất ỷ ngữ, viễn ly tham tật, khi trá, siểm khúc, sân khuể, tà kiến. Nhược xuất gia giả vị chiết phục phiền não cố, diệc ưng viễn ly hội náo, thường xử tịch tĩnh, tu tập thiểu dục tri túc đầu-đà đẳng hạnh. Nãi chí tiểu tội tâm sanh bố úy, tàm quý cải hối. Bất đắc khinh ư Như Lai sở chế cấm giới, đương hộ cơ hiếm, bất linh chúng sanh vọng khởi quá tội cố.
Dịch:
Thế nào là cửa tu hành trì giới? Đó là chẳng giết hại, chẳng trộm cướp, chẳng tà dâm, chẳng nói hai lưỡi, chẳng nói lời ác, chẳng nói lời dối trá, lường gạt, xa lìa xan tham tật đố, giả dối, dua nịnh quanh co, sân nhuế, tà kiến. Nếu người xuất gia vì dẹp trừ phiền não cũng nên xa lìa chỗ ồn náo, thường ở chỗ vắng lặng, tu tập ít muốn biết đủ, thực hành theo hạnh đầu-đà... Cho đến những tội nhỏ, tâm cũng sanh kinh sợ, hổ thẹn cải đổi. Không được khinh thường đối với giới cấm của Phật đã chế, phải hộ trì gìn giữ đừng để có sự chê bai, không khiến chúng sanh vọng khởi các tội lỗi.
Giảng:
Trì giới là điều kiện căn bản để thành tựu hạnh thanh tịnh. Người tại gia giữ năm giới hoặc tu thập thiện. Người xuất gia phải tuân giữ cẩn thận nhiều giới luật thuộc về thân khẩu ý. Vì dẹp trừ phiền não cho mình, nên tránh những chỗ ồn náo, ở nơi vắng lặng, luôn luôn ít muốn biết đủ để tập theo hạnh đầu-đà. Nếu lỡ có tội nhỏ cũng phải sanh hổ thẹn, kinh sợ để sửa đổi. Không dám coi thường giới luật của Phật, phải hộ trì gìn giữ, đừng để người trông thấy chúng ta lôi thôi, khiến họ nghĩ lầm mà mang tội.
III. Cửa nhẫn nhục
Âm:
Vân hà tu hành nhẫn môn? Sở vị ưng nhẫn tha nhân chi não, tâm bất hoài báo, diệc đương nhẫn ư lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc đẳng pháp cố.
Dịch:
Thế nào là cửa tu hành nhẫn nhục? Đó là nên nhẫn những người não loạn mình, tâm không ôm lòng trả thù lại, và cũng phải nhẫn những điều như là: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc...
Giảng:
Nhẫn nhục là cửa phương tiện thứ ba, tạo cho chúng ta có tâm độ lượng. Chẳng những chúng ta nhẫn với người hành phạt mình hay nói lời mắng nhiếc chửi bới, chúng ta không có tâm trả thù lại; cũng phải nhẫn khi gặp việc lợi không mừng, việc suy không buồn, bị hủy nhục chẳng khổ, được đề cao đừng thích, được khen ngợi đừng vui, bị chê gièm không bực bội, gặp khổ không rơi nước mắt, gặp vui không đắc chí. Ngoại cảnh và nội tâm an định, việc tu không bị chướng não.
IV. Cửa tinh tấn
Âm:
Vân hà tu hành tấn môn? Sở vị ư chư thiện sự tâm bất giải thối, lập chí kiên cường viễn ly khiếp nhược. Đương niệm quá khứ cửu viễn dĩ lai, hư thọ nhất thiết thân tâm đại khổ vô hữu lợi ích! Thị cố ưng cần tu chư công đức, tự lợi lợi tha viễn ly chúng khổ.
Phục thứ, nhược nhân tuy tu hành tín tâm, dĩ tùng tiên thế lai đa hữu trọng tội ác nghiệp chướng cố, vi ma tà chư quỷ chi sở não loạn, hoặc vi thế gian sự vụ chủng chủng khiên triền, hoặc vi bệnh khổ sở não. Hữu như thị đẳng chúng đa chướng ngại, thị cố ưng đương dũng mãnh tinh cần, trú dạ lục thời lễ bái chư Phật, thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ hồi hướng Bồ-đề, thường bất hưu phế, đắc miễn chư chướng thiện căn tăng trưởng cố.
Dịch:
Thế nào là cửa tu hành tinh tấn? Đó là đối với các việc thiện, tâm không lười mỏi mà thối lui, lập chí vững chắc xa lìa khiếp nhược. Phải nghĩ từ quá khứ lâu xa đến giờ, luống chịu tất cả khổ lớn nơi thân tâm, không có lợi ích gì! Nên cần phải siêng năng tu các công đức tự lợi lợi tha, chóng lìa các khổ.
Lại nữa, nếu có người tuy tu hành tín tâm, nhưng do từ các đời trước đến giờ có nhiều nghiệp chướng, tội ác nặng nề, hoặc bị tà ma và các loài quỷ mị làm não loạn, hoặc bị những sự việc thế gian lôi kéo trói buộc, hoặc bị bệnh khổ làm bức não. Có những chướng ngại nhiều như thế thì nên cần phải dũng mãnh siêng năng tinh tấn, ngày đêm sáu thời lễ bái chư Phật, thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng Bồ-đề, thường không biếng trễ để được khỏi các chướng và tăng trưởng thiện căn.
Giảng:
Tất cả phương tiện tu đều cần thiết và bổ sung cho nhau. Nếu thiếu phần tinh tấn thì không thể mau chóng thành tựu.
Trong cửa tinh tấn có hai phần:
1. Chúng ta tinh tấn làm tất cả những việc lành, không bê bối trễ nải, lập chí cho thật vững chắc, dù trải qua thời gian lâu xa cũng không khiếp nhược. Phải nghĩ rằng chúng ta đã sanh trong vô lượng kiếp rồi, không làm lợi ích gì cho ai, luống chịu đau khổ, sanh ra đời này nếu cũng lôi thôi lại tiếp tục đau khổ. Nếu ngày xưa chúng ta tinh tấn thì bây giờ không chịu khổ, nhớ điều này nên chúng ta nỗ lực cố gắng tu hành tinh tấn.
2. Đối với những người bị nghiệp chướng ngăn trở, hoặc nhiều tội trọng, hoặc nghiệp chướng ác nên khi tu tập bị tà ma làm nhiễu loạn, hoặc bị việc thế gian ràng buộc gỡ không ra, hoặc bị bệnh hoạn tu không yên. Gặp những chướng ngại như vậy nên biết rằng mình là kẻ tội trọng, ác chướng nhiều, nên nỗ lực ngày đêm sám hối, tinh tấn tu hành lần lần nghiệp chướng hết, thiện căn được tăng trưởng.
Cả hai trường hợp đều phải nhờ sức tinh tấn dũng mãnh để vươn lên.
V. Cửa chỉ quán
Âm:
Vân hà tu hành chỉ quán môn? Sở ngôn chỉ giả vị chỉ nhất thiết cảnh giới tướng, tùy thuận xa-ma-tha quán nghĩa cố. Sở ngôn quán giả, vị phân biệt nhân duyên sanh diệt tướng, tùy thuận tỳ-bát-xá-na quán nghĩa cố.
Vân hà tùy thuận? Dĩ thử nhị nghĩa, tiệm tiệm tu tập bất tương xả ly, song hiện tiền cố.
Dịch:
Thế nào là cửa tu hành chỉ quán? Chỉ nghĩa là không theo tất cả tướng cảnh giới, tùy thuận nghĩa quán xa-ma-tha. Quán nghĩa là phân biệt các tướng nhân duyên sanh diệt, tùy thuận theo nghĩa quán tỳ-bát-xá-na.
Thế nào là tùy thuận? Do hai nghĩa đó lần lần tu tập không lìa nhau, để cả hai đều song song hiện tiền.
Giảng:
Phương tiện thứ năm là tu chỉ quán, tức là thiền định. Tu thiền định trước hết dùng Chỉ. Chỉ tức là dừng lại, không theo tất cả tướng cảnh giới bên ngoài. Phương pháp Chỉ giúp tâm dễ an định, không bị cảnh trần lôi dẫn. Quán nghĩa là xét rõ tất cả tướng bên ngoài đều là tướng nhân duyên sanh diệt như huyễn không thật.
Nếu sức Chỉ mong manh, không giúp chúng ta dừng vọng niệm thì áp dụng sức Quán nhìn sâu sự vật, khởi trí tỉnh giác, thấy rõ các pháp đều do duyên hợp, rốt cuộc không bền chắc. Quán như thế dần dần tâm không theo cảnh, sức quán mạnh hơn, vọng niệm dừng dứt. Vọng tâm càng dừng thì trí càng sáng. Đó là tu tập chỉ quán không lìa nhau, cả hai đều song song hiện tiền.
1. Nói rộng về tu Chỉ
Âm:
Nhược tu chỉ giả, trụ ư tịnh xứ đoan tọa chánh ý, bất y khí tức, bất y hình sắc, bất y ư không, bất y địa thủy hỏa phong, nãi chí bất y kiến văn giác tri; nhất thiết chư tưởng tùy niệm giai trừ, diệc khiển trừ tưởng. Dĩ nhất thiết pháp bản lai vô tướng, niệm niệm bất sanh, niệm niệm bất diệt. Diệc bất đắc tùy tâm ngoại niệm cảnh giới, hậu dĩ tâm trừ tâm. Tâm nhược trì tán, tức đương nhiếp lai trụ ư chánh niệm. Thị chánh niệm giả, đương tri duy tâm, vô ngoại cảnh giới. Ký phục thử tâm diệc vô tự tướng, niệm niệm bất khả đắc.
Dịch:
Nếu người tu chỉ thì trụ ở chỗ vắng lặng, ngồi ngay thẳng chánh ý, chẳng y nơi hơi thở, chẳng y nơi hình sắc, cũng chẳng y nơi không, chẳng y nơi đất, nước, gió, lửa, cho đến chẳng y nơi thấy nghe hiểu biết; tất cả các tưởng tùy niệm đều trừ, cũng dẹp trừ cái tưởng đoạn trừ. Do tất cả pháp xưa nay là không tướng, mỗi niệm chẳng sanh mỗi niệm chẳng diệt. Cũng không được tùy tâm mà niệm cảnh giới bên ngoài, sau dùng tâm mà trừ tâm. Nếu tâm có chạy rong ruổi phải nhiếp nó lại, trụ nơi chánh niệm. Nói chánh niệm đó nên biết chỉ có tâm, không có cảnh giới bên ngoài. Lại chính tâm này cũng không có tự tướng, niệm niệm không thể được.
Giảng:
Pháp tu chỉ, trước hết chọn cảnh vắng vẻ để ngồi yên, tâm ý chân chánh. Lúc đó không áp dụng pháp quán hơi thở, không theo hình sắc, không quán tứ đại, không theo tất cả những thấy nghe hiểu biết. Tất cả vọng tưởng đều trừ tức là biết vọng không theo, cũng dẹp luôn tâm khởi tưởng đoạn trừ. Do tất cả pháp xưa nay là không tướng, mỗi niệm chẳng sanh, mỗi niệm chẳng diệt. Vì biết tất cả vọng tưởng đều không tướng, không chỗ sanh khởi không chỗ diệt mất. Không sanh không diệt tức là chân như, đó là chỗ tu chánh yếu.
Tổ nói như vậy, nhưng còn sợ chúng ta dính cảnh bên ngoài nên nói tiếp: Cũng không được tùy tâm mà duyên cảnh bên ngoài, sau dùng tâm mà trừ tâm. Nếu tâm có chạy rong ruổi phải nhiếp nó lại, trụ nơi chánh niệm. Nghĩa là khi tâm khởi thì biết, biết thì dừng nó lại, đó là chánh niệm, là chỉ biết có tâm. Tâm là cái không dấy niệm, chứ không phải là cái dấy niệm. Ngoài tâm không có cảnh giới gì cả. Lại chính tâm này cũng không có tự tướng, niệm niệm không thể được.
Âm:
Nhược tùng tòa khởi khứ lai tiến chỉ hữu sở thi tác, ư nhất thiết thời thường niệm phương tiện tùy thuận quán sát. Cửu tập thuần thục kỳ tâm đắc trụ, dĩ tâm trụ cố tiệm tiệm mãnh lợi, tùy thuận đắc nhập chân như tam-muội, thâm phục phiền não tín tâm tăng trưởng, tốc thành bất thối. Duy trừ nghi hoặc, bất tín, phỉ báng, trọng tội, nghiệp chướng, ngã mạn, giải đãi, như thị đẳng nhân sở bất năng nhập.
Dịch:
Nếu từ chỗ ngồi đứng dậy, đi lại lui tới, có làm những việc gì thì trong tất cả thời, thường nhớ dùng phương tiện tùy thuận mà quán sát. Tập lâu thuần thục thì tâm kia được trụ; vì tâm trụ nên dần dần được mạnh mẽ bén nhạy, mới tùy thuận vào chân như tam-muội, dẹp sâu các phiền não, tín tâm được tăng trưởng, chóng thành bất thối. Chỉ trừ người nghi hoặc, không tin, phỉ báng, tất cả tội nặng, nghiệp chướng, ngã mạn, giải đãi, những người như thế không vào được.
Giảng:
Sau khi ngồi thiền, lúc đối duyên xúc cảnh, đi đây đi kia làm việc, làm thế nào giữ tâm? Có hai trường hợp:
1. Nếu làm việc nhẹ thấy tâm khởi, chúng ta biết đó là vọng không theo, niệm khởi tự dừng.
2. Nếu làm việc nặng thì cứ làm và biết như huyễn không thật, đừng để tâm chạy theo sáu trần. Trong hai trường hợp cứ tu tập như thế, lâu ngày thuần thục trở về chân như.
Song, trừ ra những người nhiều lòng nghi, người không tin, người chê bai, người có nghiệp chướng nặng, người ngã mạn, người giải đãi... không thể nhập chân như. Người tinh tấn tu hành chân chính, huân tập như thế lâu ngày sẽ nhập chân như.
Âm:
Phục thứ, y như thị tam-muội cố, tắc tri pháp giới nhất tướng. Vị nhất thiết chư Phật pháp thân dữ chúng sanh thân bình đẳng vô nhị, tức danh Nhất hạnh tam-muội. Đương tri chân như thị tam-muội căn bản, nhược nhân tu hành, tiệm tiệm năng sanh vô lượng tam-muội.
Dịch:
Lại nữa, y tam-muội này nên biết pháp giới một tướng. Nghĩa là pháp thân chư Phật cùng với thân chúng sanh bình đẳng không hai, tức gọi là Nhất hạnh tam-muội. Nên biết chân như là cội gốc của tam-muội, nếu người tu hành dần dần hay sanh vô lượng tam-muội.
Giảng:
Chân như tam-muội là cội gốc của tất cả tam-muội, cũng gọi là Nhất hạnh tam-muội. Nếu chúng ta y đó tu hành dần dần đầy đủ tất cả chánh định. Như vậy chỉ cần trở về chân như tam-muội là đầy đủ tất cả.
Hiện tại chúng tôi hướng dẫn quý vị tu đều nhắm vào chân như tam-muội, mà không dùng phương tiện trụ tâm nơi đất, nước, gió, lửa, hay trụ tâm nơi hơi thở... Chỉ cần biết những niệm khởi không theo, tức là dẹp trừ bao nhiêu niệm, khi niệm hết là tùy thuận chân như tam-muội.
Lúc ngồi thiền chúng ta tu như thế, khi làm việc cũng luôn luôn quán chiếu, hoặc chăn trâu là làm chủ không chạy theo vọng, hoặc đối cảnh biết như huyễn không chấp trước. Cứ như thế lâu ngày thuần thục tự nhiên vào chân như tam-muội. Đường lối của tổ Mã Minh và chư tổ dạy không khác, chỉ hướng về nhất tâm.
a. Nói về ma sự của tu Chỉ
Âm:
Hoặc hữu chúng sanh vô thiện căn lực, tắc vi chư ma, ngoại đạo, quỷ thần chi sở hoặc loạn. Nhược ư tọa trung hiện hình khủng bố, hoặc hiện đoan chánh nam nữ đẳng tướng, đương niệm duy tâm, cảnh giới tắc diệt, chung bất vi não.
Dịch:
Hoặc có chúng sanh không có sức thiện căn, ắt bị tà ma, ngoại đạo, quỷ thần làm não loạn. Hoặc trong lúc ngồi thiền chúng hiện hình tướng khủng bố, hoặc hiện tướng nam nữ xinh đẹp, phải nhớ chỉ là tâm thì cảnh giới ắt diệt, trọn không bị não hại.
Giảng:
Khi ngồi thiền gặp ma sự dấy lên, chúng ta làm sao đối trị? Do thiện căn đời trước kém mỏng, nên khi ngồi thiền, thỉnh thoảng thấy quỷ thần hoặc ma bên ngoài đến nhiễu loạn. Dù thấy hình tướng thật hung dữ chúng ta cũng đừng sợ, thấy thân hình tốt đẹp của người nam người nữ cũng đừng mừng đừng thích. Chỉ nhớ nghĩ rằng tất cả hình ảnh đó đều không thật, do tâm mình tạo, do tâm bị đè ép mà hiện ra chứ không thật. Nhớ như vậy thì các cảnh giới đó dần dần diệt mất, không làm não loạn chúng ta được. Nếu cho các hình tướng bên ngoài là thật có, chúng ta sanh sợ hãi hay yêu thích, đó là bệnh chướng.
Người tu thiền cần ghi nhớ lời chỉ dạy này để đối trị ma chướng. Nếu sức thiện căn sẵn đủ thì không gặp các hình tướng não loạn, nếu lòng tin vững chắc thì ma bên ngoài không phá được.
Âm:
Hoặc hiện thiên tượng, Bồ-tát tượng, diệc tác Như Lai tượng tướng hảo cụ túc, nhược thuyết đà-la-ni, nhược thuyết bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, hoặc thuyết bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, vô oán vô thân, vô nhân vô quả, tất cánh không tịch thị chân Niết-bàn. Hoặc linh nhân tri túc mệnh quá khứ chi sự, diệc tri vị lai chi sự, đắc tha tâm trí biện tài vô ngại, năng linh chúng sanh tham trước thế gian danh lợi chi sự.
Dịch:
Hoặc hiện hình tướng chư thiên, hình tướng Bồ-tát, cũng hiện hình tướng Phật tướng tốt đầy đủ, hoặc nói thần chú, hoặc nói bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, hoặc nói bình đẳng, không, không tướng, không nguyện, không oán không thân, không nhân không quả, cứu cánh vắng lặng là chân Niết-bàn. Hoặc khiến cho người biết việc quá khứ, cũng biết các việc vị lai, được tha tâm trí, được biện tài vô ngại, hay khiến chúng sanh đắm trước danh lợi thế gian.
Giảng:
Ma sự có nhiều cách. Khi đang ngồi thiền, giai đoạn đầu ma hiện thân hung dữ khủng bố hay hiện thân nam nữ tốt đẹp, chúng ta có thể biết chắc đó là ma nên không trở ngại. Giai đoạn sau chúng ta phải đề phòng, như được thấy chư thiên chư Bồ-tát, như Bồ-tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng sáu ngà đến ủng hộ, chúng ta liền nghĩ do tu hành có công phu nên được Bồ-tát đến xoa đầu... Hoặc thấy thân Phật đầy đủ tướng tốt, đó là niềm khao khát của người tu, nên sanh tâm mừng rỡ. Lại được nghe Phật nói thần chú, nói các ba-la-mật rất đúng chánh pháp. Ngồi thiền lâu lại phát sanh thần thông, thấy biết việc quá khứ vị lai, biết tâm trí người khác nghĩ gì... Tất cả hiện tượng đó dễ làm chúng ta sanh tâm đắm trước, cho là mình thật được diệu dụng mà không biết là lạc vào đường tà.
Trong khi tu thấy bất cứ hiện tượng gì chúng ta đều không chấp nhận. Nhà thiền có câu “Gặp ma giết ma, gặp Phật giết Phật”. Nếu chúng ta chấp nhận Phật, ma có thể hiện tướng Phật gạt người lầm lạc. Nhiều người không biết đạo lý sâu, như ham dựa vào cơ bút, cơ bút về cũng nói đạo lý, cũng dạy làm lành bỏ dữ... cho đó là chánh chứ không phải tà. Giai đoạn đầu ma nói Phật pháp, lâu dần khi chúng ta tin rồi, nó liền đưa ra danh lợi, phong cho chức vị ở cõi vô hình. Chúng ta không mắc kẹt danh lợi thế gian, lại mắc kẹt danh lợi trong cõi vô hình. Kinh Lăng-nghiêm Phật nói về năm mươi thứ bệnh do ma hiện, ở đây Tổ cũng nhắc lại cho chúng ta biết những loại ma hiện, có đủ thần thông, có đủ khả năng phi thường. Nên cẩn thận dè dặt, đừng cho rằng mình tu đến chỗ cao siêu mầu nhiệm rồi ỷ lại, cũng đừng quên rằng ma có thể nói lời Phật. Những gì trái với giới luật Phật đều là ma, dù nói pháp hay đến đâu cũng là ma. Nhớ thật kỹ chỗ này.
Âm:
Hựu linh sử nhân số sân số hỷ, tánh vô thường chuẩn. Hoặc đa từ ái đa thùy đa bệnh, kỳ tâm giải đãi. Hoặc thốt khởi tinh tấn, hậu tiện hưu phế, sanh ư bất tín đa nghi đa lự. Hoặc xả bản thắng hạnh cánh tu tạp nghiệp, nhược trước thế sự chủng chủng khiên triền.
Dịch:
Lại hay khiến cho người lúc giận lúc mừng, tánh tình không nhất định. Hoặc nhiều từ ái, ngủ nhiều, bệnh nhiều, tâm sanh giải đãi. Hoặc là chợt khởi tinh tấn rồi sau lại bỏ phế, sanh lòng chẳng tin, đa nghi đa lự. Hoặc xả bỏ những hạnh thù thắng trước, lại tu những tạp nghiệp, làm cho mắc vào nhiều thứ ràng buộc của thế gian.
Giảng:
Nếu khi tu mà tâm sanh nóng nảy hoặc mừng giận bất thường, đó cũng là ma bệnh, phải chấn chỉnh lại. Những gì bất thường đều không đúng chánh pháp, hoặc tinh tấn ngồi thiền rồi sau đó lười nhác bỏ phế cũng không tốt. Hoặc đang tu tập thiền định lại khởi tâm đi làm việc này việc kia, tức là mắc vào tạp nghiệp thế gian.
Âm:
Diệc năng sử nhân đắc chư tam-muội thiểu phần tương tự, giai thị ngoại đạo sở đắc, phi chân tam-muội.
Dịch:
Cũng hay khiến cho người được một ít phần tương tự những tam-muội, nhưng đều là sở đắc ngoại đạo, không phải tam-muội chân thật.
Giảng:
Đôi khi trong định chúng ta được chút phần tam-muội, tưởng như được tam-muội chân chánh nhưng đó cũng là sự sai khiến của ma. Vì vậy tu hành phải tỉnh táo sáng suốt, điềm đạm, không nên có những tướng trạng bất thường. Khi có những tướng trạng bất thường phải nỗ lực đuổi nó, không nuôi dưỡng tiếp tục.
Âm:
Hoặc phục linh nhân nhược nhất nhật nhược nhị nhật nhược tam nhật, nãi chí thất nhật trụ ư định trung, đắc tự nhiên hương mỹ ẩm thực, thân tâm thích duyệt bất cơ bất khát, sử nhân ái trước. Hoặc diệc linh nhân thực vô phần tề, sạ đa sạ thiểu nhan sắc biến dị.
Dĩ thị nghĩa cố, hành giả thường ưng trí tuệ quán sát, vật linh thử tâm đọa ư tà võng. Đương cần chánh niệm bất thủ bất trước, tắc năng viễn ly thị chư nghiệp chướng.
Dịch:
Hoặc lại khiến cho người hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày cho đến bảy ngày, ở trong định tự nhiên được thức ăn thơm ngon, thân tâm vui thích, không đói không khát, khiến cho người mến đắm. Hoặc khiến cho người ăn không có chừng mực, thoạt nhiều thoạt ít, nhan sắc biến đổi.
Bởi do những nghĩa ấy, hành giả thường nên dùng trí tuệ quan sát, chớ để cho tâm mình rơi vào lưới tà. Phải siêng năng chánh niệm, không chấp nhận không đắm trước, mới hay xa lìa được các nghiệp chướng ấy.
Giảng:
Người ngồi thiền được an trụ từ một ngày đến bảy ngày, ở trong định tự nhiên thấy cơm thơm ngon dâng đến, thật là thích thú. Chỗ này tôi nhắc lại chuyện của thiền giả Đạo Ưng.
Đệ tử của thiền sư Động Sơn là Đạo Ưng có thất tu ở đỉnh Tam Phong. Ngài nhập thất trải qua tuần nhật không thấy xuống lấy cơm, nên ngài Động Sơn lên, hỏi:
- Sao nhiều ngày không thấy ngươi xuống thọ trai?
Ngài Đạo Ưng thưa:
- Bạch Hòa thượng, con được chư thiên mỗi trưa đem đồ cúng dường.
Ngài Động Sơn nói:
- Như vậy là ngươi vẫn còn kiến giải, chiều xuống dưới ta bảo.
Đến chiều ngài Đạo Ưng xuống, ngài Động Sơn nghiêm chỉnh nói:
- Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Ưng?
Ngài Đạo Ưng lui về thất ngồi yên lặng lẽ, chư thiên tìm mãi không thấy, trải qua ba ngày như thế mới thôi cúng dường.
Đây là chỗ quan trọng mà tất cả người tu thiền đều phải biết. Dù được thật sự cúng dường cũng còn bị Tổ quở, huống là ma cúng dường. Nếu hài lòng ở chỗ này rất nguy hiểm.
b. Sự khác nhau giữa chánh định và tà định
Âm:
Ưng tri ngoại đạo sở hữu tam-muội, giai bất ly kiến ái ngã mạn chi tâm, tham trước thế gian danh lợi cung kính cố.
Chân như tam-muội giả, bất trụ kiến tướng, bất trụ đắc tướng, nãi chí xuất định diệc vô giải mạn, sở hữu phiền não tiệm tiệm vi bạc. Nhược chư phàm phu bất tập thử tam-muội pháp, đắc nhập Như Lai chủng tánh, vô hữu thị xứ.
Dĩ tu thế gian chư thiền tam-muội đa khởi vị trước, y ư ngã kiến hệ thuộc tam giới, dữ ngoại đạo cộng. Nhược ly thiện tri thức sở hộ, tắc khởi ngoại đạo kiến cố.
Dịch:
Nên biết các thứ tam-muội ngoại đạo có, đều không lìa tâm kiến ái và ngã mạn, do còn tham trước danh lợi cung kính ở thế gian.
Chân như tam-muội thì không trụ tướng thấy, không trụ tướng sở đắc, cho đến khi xuất định cũng không lười biếng, ngã mạn, những phiền não đã có từ trước dần dần mỏng ít. Nếu hàng phàm phu không tu tập pháp tam-muội này mà được vào chủng tánh Như Lai, thì trọn không có lẽ phải vậy.
Do tu các thiền định tam-muội của thế gian, phần nhiều khởi đắm trước, lại y nơi ngã kiến, rồi hệ thuộc ở trong tam giới, cùng chung với ngoại đạo. Nếu lìa những hộ trì của thiện hữu tri thức, thì khởi các kiến chấp ngoại đạo vậy.
Giảng:
Các tam-muội của ngoại đạo không lìa tâm kiến ái và ngã mạn, vì tham trước danh lợi cung kính ở thế gian. Như có người ngồi thiền xuất hồn đi ngao du cõi này cõi kia được mọi người bái phục. Họ thấy chúng ta tu bình thường liền khởi nghĩ cho là mình tu cao, được pháp hơn người. Do thấy có ta và có pháp tu thù thắng nên sanh tâm khinh người, say mê trong định và sanh tâm ngã mạn... Kết cuộc đắm chìm trong danh lợi cung kính ở thế gian.
Chân như tam-muội thì không trụ tướng thấy, không trụ tướng sở đắc, đối với tất cả tướng chúng ta đều không dính mắc, không chấp có tướng sở đắc, đó là tam-muội chân chánh, hợp với thể chân như. Nếu hàng phàm phu không tu tập pháp chân như này, mà được vào chủng tánh Như Lai, điều đó trọn không đúng. Chúng sanh nào rời pháp tu chân như tam-muội, nghĩa là còn thấy có pháp tu khác hơn người, có tướng tốt đẹp hơn người... những người đó không được gọi là vào chủng tánh Phật.
Do tu các thiền định tam-muội của thế gian, phần nhiều khởi ra đắm trước, lại y nơi ngã kiến, rồi hệ thuộc ở trong tam giới, cùng chung với ngoại đạo. Nếu lìa những hộ trì của thiện hữu tri thức, thì khởi các kiến chấp ngoại đạo vậy. Tu tập theo các định của ngoại đạo... tức là cái nhân ở trong tam giới không ra khỏi. Nếu người tu không được sức hộ trì của thiện tri thức sẽ dễ rơi vào các kiến chấp của ngoại đạo. Học kinh luận của chư Phật chư tổ, được sự chỉ dạy đúng đắn của thầy bạn, đó là được sức hộ trì của thiện tri thức.
c. Lợi ích của chánh định chân như
Âm:
Phục thứ, tinh cần chuyên tâm tu học thử tam-muội giả, hiện thế đương đắc thập chủng lợi ích. Vân hà vi thập?
Nhất giả thường vi thập phương chư Phật Bồ-tát chi sở hộ niệm. Nhị giả bất vi chư ma ác quỷ sở năng khủng bố. Tam giả bất vi cửu thập ngũ chủng ngoại đạo quỷ thần chi sở hoặc loạn. Tứ giả viễn ly phỉ báng thậm thâm chi pháp, trọng tội nghiệp chướng tiệm tiệm vi bạc. Ngũ giả diệt nhất thiết nghi chư ác giác quán. Lục giả ư chư Như Lai cảnh giới tín đắc tăng trưởng. Thất giả viễn ly ưu hối, ư sanh tử trung dũng mãnh bất khiếp. Bát giả kỳ tâm nhu hòa, xả ư kiêu mạn, bất vi tha nhân sở não. Cửu giả tuy vị đắc định, ư nhất thiết thời nhất thiết cảnh giới xứ, tắc năng giảm tổn phiền não, bất nhạo thế gian. Thập giả nhược đắc tam-muội, bất vi ngoại duyên nhất thiết âm thanh chi sở kinh động.
Dịch:
Lại nữa, người siêng năng tinh tấn chuyên tâm tu học tam-muội này, hiện đời sẽ được mười điều lợi ích. Thế nào là mười?
Một là thường được chư Phật Bồ-tát mười phương hộ niệm. Hai là không bị các tà ma ác quỷ khủng bố. Ba là không bị chín mươi lăm thứ ngoại đạo và quỷ thần làm nhiễu loạn. Bốn là xa lìa sự chê bai các pháp thâm sâu, và những tội nặng nghiệp chướng lần lần được mòn mỏng. Năm là diệt tất cả các điều nghi và các giác quán ác. Sáu là đối với cảnh giới chư Phật, lòng tin được tăng trưởng. Bảy là xa lìa các buồn bã hối hận, ở trong sanh tử dũng mãnh không khiếp nhược. Tám là tâm kia được nhu hòa, xả bỏ tánh kiêu mạn, không bị người khác làm nhiễu loạn. Chín là tuy chưa được định, mà trong tất cả thời, tất cả cảnh giới vẫn hay giảm tổn các phiền não, không ưa thích thế gian. Mười là nếu được chánh định rồi thì không bị các duyên bên ngoài, tất cả âm thanh làm cho kinh động.
Giảng:
Tất cả những điều lợi ích này để bảo đảm cho người chuyên tâm tu chánh định luôn luôn tiến tới. Trong đó, điều thứ chín cho thấy hiệu quả rõ ràng. Tuy chưa được định mà ở trong tất cả thời, tất cả cảnh giới vẫn hay giảm tổn phiền não, tức là phiền não đã bớt, không đắm nhiễm ưa thích theo thế gian. Cách tu của chúng ta, tuy chưa được định nhưng có lợi ích lớn thực tế như vậy, nên khi tu chân chánh chắc chắn không sợ lầm lạc.
2. Nói rộng về tu Quán
Âm:
Phục thứ, nhược nhân duy tu ư chỉ, tắc tâm trầm một hoặc khởi giải đãi, bất nhạo chúng thiện, viễn ly đại bi, thị cố tu quán.
Dịch:
Lại nữa, nếu người chỉ tu về pháp chỉ, thì tâm chìm lặng, hoặc khởi lười biếng, hoặc không thích các việc thiện và xa lìa tâm đại bi, thế nên phải tu quán.
a. Quán khổ
Âm:
Tu tập quán giả, đương quán nhất thiết thế gian hữu vi chi pháp, vô đắc cửu đình tu du biến hoại, nhất thiết tâm hành niệm niệm sanh diệt, dĩ thị cố khổ.
Dịch:
Người tu pháp quán là phải quán tất cả pháp hữu vi ở thế gian không được lâu bền, trong chốc lát đã biến hoại, tất cả tâm hành đều niệm niệm sanh diệt, do đó nên khổ.
Giảng:
Nếu chúng ta chỉ chuyên tu một pháp Chỉ, tâm trở nên chìm lặng, không khởi tâm đại bi làm các việc lành, cứu giúp mọi người, trái ngược hạnh Bồ-tát. Vì thế cần tu tập pháp Quán. Thứ nhất, quán về khổ, quán tất cả pháp hữu vi ở thế gian đều vô thường, tất cả tâm hành đều niệm niệm sanh diệt, thế nên khổ.
b. Quán vô thường
Âm:
Ưng quán quá khứ sở niệm chư pháp hoảng hốt như mộng, ưng quán hiện tại sở niệm chư pháp du như điện quang, ưng quán vị lai sở niệm chư pháp, du như ư vân hốt nhĩ nhi khởi.
Dịch:
Nên quán các pháp quá khứ có thể nghĩ nhớ được, thấp thoáng như mộng. Nên quán các pháp hiện tại có thể nghĩ nhớ, ví như ánh chớp. Nên quán các pháp vị lai có thể nghĩ nhớ, ví như mây nổi bỗng nhiên dấy lên.
Giảng:
Thứ hai là quán các pháp vô thường mau chóng, không có thật thể. Đối với tất cả các pháp hữu vi thuở trước chúng ta đã gây tạo, bây giờ nhớ lại cũng như mộng. Đối với các pháp hiện tại chúng ta thấy như ánh chớp chợt lóe lên rồi tắt. Đối với các pháp vị lai thì thấy như mây nổi, chợt có chợt không, không tích tụ lâu bền.
c. Quán bất tịnh
Âm:
Ưng quán thế gian nhất thiết hữu thân tất giai bất tịnh, chủng chủng uế ô vô nhất khả nhạo.
Dịch:
Nên quán tất cả thân có ra ở thế gian đều là bất tịnh, nhiều thứ ô uế, không một chút gì đáng ưa thích.
Giảng:
Thứ ba là quán bất tịnh, xét quán ở thế gian này tất cả thân tứ đại đều nhơ bẩn ô uế, không có gì đáng ưa thích.
d. Quán đại bi
Âm:
Như thị đương niệm: Nhất thiết chúng sanh tùng vô thủy thế lai, giai nhân vô minh sở huân tập cố linh tâm sanh diệt, dĩ thọ nhất thiết thân tâm đại khổ. Hiện tại tức hữu vô lượng bức bách. Vị lai sở khổ diệc vô phần tề, nan xả nan ly nhi bất giác tri. Chúng sanh như thị, thậm vi khả mẫn.
Dịch:
Như thế, phải nhớ tất cả chúng sanh từ đời vô thủy đến nay đều nhân nơi vô minh huân tập, khiến cho tâm sanh diệt, đã chịu tất cả khổ lớn nơi thân tâm. Hiện tại cũng có vô lượng cái khổ bức bách. Vị lai những sự khổ cũng không có ngằn mé, khó bỏ khó lìa mà không hay biết. Chúng sanh như thế rất đáng thương xót.
Giảng:
Sau khi quán tất cả pháp khổ, vô thường, thân bất tịnh, chúng ta khởi tâm thương xót tất cả chúng sanh do vô minh nên chịu khổ lớn hiện tại cũng như vị lai.
e. Quán đại nguyện
Âm:
Tác thử tư duy, tức ưng dũng mãnh lập đại thệ nguyện. Nguyện linh ngã tâm ly phân biệt cố, biến ư thập phương tu hành nhất thiết chư thiện công đức, tận kỳ vị lai, dĩ vô lượng phương tiện cứu bạt nhất thiết khổ não chúng sanh, linh đắc Niết-bàn đệ nhất nghĩa lạc.
Dịch:
Khởi suy nghĩ như thế liền nên dũng mãnh lập đại thệ nguyện: Nguyện cho tâm ta lìa hết những phân biệt, ở khắp cả mười phương tu hành tất cả công đức lành, tột đời vị lai, dùng vô lượng phương tiện để cứu bạt tất cả khổ não của chúng sanh, khiến cho được Niết-bàn là cái vui đệ nhất.
Giảng:
Sau khi khởi tâm đại bi, chúng ta liền phát khởi nguyện lớn, mong cứu độ tất cả chúng sanh. Song nguyện độ mọi người trước phải nguyện cho mình được tâm lìa phân biệt, và ở khắp cả mười phương làm tất cả công đức lành. Tột đời vị lai, tùy phương tiện độ tất cả chúng sanh ra khỏi khổ não, để họ được Niết-bàn an lạc bậc nhất. Đó là chỗ chúng ta cần phải quán.
f. Quán tinh tấn
Âm:
Dĩ khởi như thị nguyện cố, ư nhất thiết thời nhất thiết xứ, sở hữu chúng thiện, tùy dĩ kham năng bất xả tu học, tâm vô giải đãi, duy trừ tọa thời chuyên niệm ư chỉ. Nhược dư nhất thiết, tất đương quán sát ưng tác bất ưng tác.
Dịch:
Do khởi đại nguyện như thế, trong tất cả thời tất cả chỗ, hễ có các việc lành tùy theo khả năng không bỏ sự tu học, tâm không lười biếng. Chỉ trừ khi ngồi chuyên niệm pháp chỉ, ngoài ra tất cả thời khác, thảy đều nên quán sát việc nên làm hay không nên làm.
Giảng:
Khi ngồi thiền, chúng ta luôn tu tập lối tu Chỉ là trở về chân như tam-muội. Ngoài ra nơi tất cả chỗ, trong mọi thời gian, chúng ta luôn quán sát việc nào nên làm, việc nào không nên làm. Việc nên làm là các việc lành, tùy theo sức của mình làm tất cả các điều lợi ích không từ bỏ. Đó là hạnh tinh tấn.
3. Chỉ quán đồng thời
Âm:
Nhược hành nhược trụ, nhược ngọa nhược khởi, giai ưng chỉ quán câu hành. Sở vị tuy niệm chư pháp tự tánh bất sanh, nhi phục tức niệm nhân duyên hòa hợp thiện ác chi nghiệp, khổ lạc đẳng báo bất thất bất hoại. Tuy niệm nhân duyên thiện ác nghiệp báo, nhi diệc tức niệm tánh bất khả đắc.
Dịch:
Hoặc đi hoặc đứng, hoặc ngồi hoặc dậy, đều nên đồng thời tu tập chỉ quán. Đó là tuy suy nghĩ các pháp tự tánh không sanh, nhưng lại nhớ nghĩ do nhân duyên hòa hợp nên nghiệp thiện ác, những quả báo khổ vui... không mất không hoại. Tuy nhớ nghĩ nhân duyên quả báo thiện ác mà cũng lại nhớ nghĩ tánh nó không có thể được.
Giảng:
Tu chỉ quán đồng một lúc sẽ tránh được hai lỗi. Nếu một bề tu chỉ, tâm dễ bị chìm lặng trong cảnh tịnh, nếu một bề tu quán, tâm thường khởi nghĩ nên dễ xao động. Trong mọi hoạt động bình thường chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu các pháp thế gian vô thường huyễn hóa. Tuy có khởi niệm quán sát nhưng biết các pháp tự tánh là không, tâm chẳng duyên theo cảnh. Như thế tâm luôn quán sát mà không bị vướng kẹt, thường dừng lặng mà không quên nghiệp quả khổ vui nên khởi đại nguyện độ chúng sanh. Nguyện độ mà vẫn nhớ mình và người như huyễn.
Thượng tọa Tiểu Tĩnh có bài kệ:
Huyễn nhân hưng huyễn, huyễn luân vi,
Huyễn nghiệp năng chiêu, huyễn sở trì,
Bất liễu huyễn sanh chư huyễn khổ,
Giác tri như huyễn, huyễn vô vi.
Dịch:
Người huyễn dấy huyễn, huyễn xoay vần,
Nghiệp huyễn hay vời quả lụy thân,
Mê lý huyễn sanh nhiều huyễn khổ,
Ngộ ra như huyễn, huyễn thành chân.
4. Lợi ích tu chỉ quán
Âm:
Nhược tu chỉ giả, đối trị phàm phu trụ trước thế gian, năng xả Nhị thừa khiếp nhược chi kiến. Nhược tu quán giả, đối trị Nhị thừa bất khởi đại bi hiệp liệt tâm quá, viễn ly phàm phu bất tu thiện căn. Dĩ thử nghĩa cố, thị chỉ quán nhị môn cộng tương trợ thành, bất tương xả ly. Nhược chỉ quán bất cụ, tắc vô năng nhập Bồ-đề chi đạo.
Dịch:
Nếu người tu pháp chỉ thì đối trị bệnh phàm phu đắm trước thế gian, hay xả được kiến chấp khiếp nhược của Nhị thừa. Nếu người tu pháp quán thì hay đối trị lỗi Nhị thừa có tâm hẹp hòi không khởi lòng đại bi, cũng lại xa lìa phàm phu không tu thiện căn. Bởi do nghĩa ấy, nên môn chỉ quán đồng giúp nhau thành tựu không rời bỏ nhau. Nếu chỉ quán không đầy đủ thì không thể vào được đạo Bồ-đề.
Giảng:
Tổng kết lợi ích của pháp tu chỉ quán. Khi chúng ta tu chỉ tức là trở về chân như nên không mê luyến tất cả pháp thế gian vì biết chúng hư giả. Biết tự tánh chân như là Niết-bàn, không còn khiếp nhược sợ tu ba a-tăng-kỳ là lâu xa. Đó là lìa được sự khiếp nhược của Nhị thừa. Khi tu quán, biết các pháp thế gian là vô thường, khổ, bất tịnh mà chúng sanh mê muội chìm đắm trong đó, nên khởi lòng đại bi. Như thế siêu vượt Niết-bàn không tịch của Nhị thừa và xa lìa tất cả bệnh bất thiện của phàm phu. Do nghĩa đó nên chúng ta phải đồng tu chỉ quán, sẽ thành tựu đạo Bồ-đề.
B- PHƯƠNG TIỆN CỨU VỚT
Âm:
Phục thứ, chúng sanh sơ học thị pháp dục cầu chánh tín, kỳ tâm khiếp nhược. Dĩ trụ ư thử Ta-bà thế giới, tự úy bất năng thường trị chư Phật thân thừa cúng dường. Cụ vị tín tâm nan khả thành tựu, ý dục thối giả, đương tri Như Lai hữu thắng phương tiện nhiếp hộ tín tâm. Vị dĩ chuyên ý niệm Phật nhân duyên, tùy nguyện đắc sanh tha phương Phật độ, thường kiến ư Phật vĩnh ly ác đạo. Như tu-đa-la thuyết: Nhược nhân chuyên niệm Tây phương Cực lạc thế giới A-di-đà Phật, sở tu thiện căn, hồi hướng nguyện cầu sanh bỉ thế giới, tức đắc vãng sanh, thường kiến Phật cố, chung vô hữu thối. Nhược quán bỉ Phật chân như pháp thân, thường cần tu tập tất cánh đắc sanh, trụ chánh định cố.
Dịch:
Lại nữa, chúng sanh mới học pháp này, muốn cầu chánh tín mà tâm họ khiếp nhược. Do ở nơi thế giới Ta-bà này, tự sợ không thể thường gặp chư Phật để gần gũi thờ phụng cúng dường. Sợ rằng lòng tin khó thành tựu, ý muốn thối lui, phải biết Như Lai có phương tiện thù thắng nhiếp hộ lòng tin người ấy. Nghĩa là dùng nhân duyên chuyên tâm niệm Phật, tùy nguyện được sanh vào cõi Phật ở phương khác, thường thấy đức Phật, hằng lìa ác đạo. Như trong kinh nói: Nếu người chuyên niệm đức Phật A-di-đà ở thế giới Tây phương Cực lạc, tu các căn lành để hồi hướng nguyện cầu sanh về cõi nước kia, liền được vãng sanh và nhờ thường thấy Phật, trọn không thối lui. Nếu quán chân như pháp thân của đức Phật kia, thường siêng tu tập, cứu cánh được sanh, an trụ nơi chánh định.
Giảng:
Đây là phương tiện hỗ trợ cho những người căn cơ yếu kém. Vì các chúng sanh cũng muốn được tín tâm nơi Đại thừa, nhưng tâm chí chưa thuần thục, e sợ đường luân hồi lâu xa không gặp được Phật, Tổ bèn chỉ dạy pháp môn niệm Phật. Nói rằng niệm Phật sẽ được sanh về cõi Phật, nhưng điều kiện chính yếu là phải chuyên niệm không lơi lỏng, và phải tu các căn lành để hồi hướng cho nghiệp mình thành tựu. Nghĩa là dạy các phương tiện tu tập tín tâm rốt ráo rồi mà làm không được, mới dạy sang phương pháp sau cùng này. Đây cũng không phải việc dễ làm, nếu không kiên cố siêng tu, thường tưởng nhớ Phật, thì không dễ thành tựu.
KHUYẾN TU LỢI ÍCH
Âm:
Dĩ thuyết tu hành tín tâm phần. Thứ thuyết khuyến tu lợi ích phần.
Như thị Ma-ha-diễn chư Phật bí tàng, ngã dĩ tổng thuyết. Nhược hữu chúng sanh dục ư Như Lai thậm thâm cảnh giới đắc sanh chánh tín, viễn ly phỉ báng nhập Đại thừa đạo, đương trì thử luận tư lương tu tập, cứu cánh năng chí vô thượng chỉ đạo.
Nhược nhân văn thị pháp dĩ bất sanh khiếp nhược, đương tri thử nhân định thiệu Phật chủng, tất vị chư Phật chi sở thọ ký.
Giả sử hữu nhân năng hóa tam thiên đại thiên thế giới mãn trung chúng sanh linh hành thập thiện, bất như hữu nhân ư nhất thực khoảnh chánh tư thử pháp, quá tiền công đức bất khả vi dụ.
Dịch:
Đã nói phần tu hành tín tâm. Kế nói phần khuyến tu lợi ích.
Pháp Đại thừa như thế là kho tàng bí mật của chư Phật, tôi đã nói tổng quát xong. Nếu có chúng sanh muốn đối với cảnh giới thậm thâm của Như Lai sanh lòng chánh tín, xa lìa chê bai được vào đạo Đại thừa, nên gìn giữ luận này suy nghĩ tu tập, cứu cánh sẽ đến được đạo vô thượng.
Nếu người nghe pháp này rồi không sanh khiếp nhược, nên biết người này quyết định nối dòng giống Phật, ắt được chư Phật thọ ký.
Giả sử có người hay giáo hóa chúng sanh đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới, khiến cho tu hành thập thiện, cũng không bằng có người ở trong khoảng bữa ăn, chân chánh suy nghĩ về pháp này. Công đức của người sau hơn công đức của người trước không thể nào thí dụ được.
Giảng:
Đây là phần thứ năm cũng là phần cuối của bộ luận, nói về lợi ích của sự khuyên tu thực hành theo những lời dạy trong đây. Khi tạo luận này, Tổ đã gồm nhiếp tất cả giáo pháp vi diệu sâu xa rộng lớn của chư Phật. Cảnh giới thậm thâm của Như Lai là cảnh giới Đại thừa, là chính tâm chúng sanh. Nếu chúng ta nghe xong khởi lòng tin chắc chắn, không sợ rằng mình không có phần, cứ quyết định tiến tu, Tổ bảo đảm người này quyết định nối dòng giống Phật, được Phật thọ ký.
Giả sử có người chỉ dạy tất cả người trong tam thiên đại thiên thế giới tu thập thiện, công đức lành cũng nhiều. Nhưng có người chỉ trong khoảng bữa ăn chánh niệm pháp chân như này, công đức nhiều hơn người trước không thể so sánh thí dụ. Pháp chân như là cội gốc của tất cả điều lành, là chính tâm thể chúng sanh, khi trở về đó rồi không còn pháp nào hơn nữa.
Âm:
Phục thứ, nhược nhân thọ trì thử luận quán sát tu hành, nhược nhất nhật nhất dạ, sở hữu công đức vô lượng vô biên bất khả đắc thuyết. Giả linh thập phương nhất thiết chư Phật, các ư vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp tán kỳ công đức, diệc bất năng tận. Hà dĩ cố? Vị pháp tánh công đức vô hữu tận cố, thử nhân công đức diệc phục như thị, vô hữu biên tế.
Dịch:
Lại nữa, nếu có người thọ trì luận này, quán sát tu hành một ngày một đêm, công đức có được vô lượng vô biên không thể nói được. Giả sử tất cả chư Phật ở mười phương, mỗi vị ở vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp tán thán công đức ấy cũng không thể nào hết được. Vì cớ sao? Vì công đức pháp tánh không có cùng tận, nên công đức người này cũng lại như thế, không có bờ mé.
Giảng:
Người đối với luận này học hỏi ghi nhớ, quán sát và tu tập trong một ngày một đêm thì công đức vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Dù chư Phật mười phương mỗi vị đều ca tụng công đức của người này đến vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp cũng không thể nào hết được. Vì công đức của chân như pháp tánh không cùng tận nên công đức của người này cũng không cùng tận.
Âm:
Kỳ hữu chúng sanh, ư thử luận trung hủy báng bất tín, sở hoạch tội báo kinh vô lượng kiếp thọ đại khổ não. Thị cố chúng sanh đản ưng ngưỡng tín, bất ưng phỉ báng, dĩ thâm tự hại diệc hại tha nhân, đoạn tuyệt nhất thiết Tam bảo chi chủng. Dĩ nhất thiết Như Lai giai y thử pháp đắc Niết-bàn cố, nhất thiết Bồ-tát nhân chi tu hành nhập Phật trí cố.
Dịch:
Nếu có chúng sanh đối với luận này, hủy báng không tin sẽ mắc tội báo trải qua vô lượng kiếp thọ khổ não lớn. Thế nên chúng sanh chỉ nên tín ngưỡng, không nên phỉ báng, để không tự hại mình cũng chẳng hại người khác một cách sâu sắc, hủy diệt tất cả hạt giống Tam bảo. Do tất cả Như Lai đều y pháp này mà được Niết-bàn, tất cả chư Bồ-tát đều nhân tu pháp này mà được vào trí tuệ Phật.
Giảng:
Trước nói về công đức của người tin kính và tu tập theo luận này, vô lượng vô biên lợi lành như thế. Ngược lại nếu chê bai không tin cũng sẽ chịu vô lượng vô biên khổ não. Chư Phật chư Bồ-tát đều y nơi pháp này tức y chân tâm tu tập và đắc Niết-bàn, người phỉ báng không tin tức tự làm hoại diệt căn lành, đoạn mất chủng tử vô thượng Bồ-đề, như thế là tự hại mình và hại người.
Âm:
Đương tri quá khứ Bồ-tát dĩ y thử pháp đắc thành tịnh tín. Hiện tại Bồ-tát kim y thử pháp đắc thành tịnh tín. Vị lai Bồ-tát đương y thử pháp đắc thành tịnh tín. Thị cố chúng sanh ưng cần tu học.
Chư Phật thậm thâm quảng đại nghĩa,
Ngã kim tùy phần tổng trì thuyết,
Hồi thử công đức như pháp tánh,
Phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới.
Dịch:
Nên biết trong thời quá khứ chư Bồ-tát đã y pháp này mà được thành tựu lòng tin thanh tịnh. Hiện tại chư Bồ-tát đang y pháp này mà thành tựu lòng tin thanh tịnh. Vị lai chư Bồ-tát cũng sẽ y pháp này mà thành tựu được lòng tin thanh tịnh. Thế nên chúng sanh cần siêng năng tu học.
Nghĩa sâu rộng lớn của chư Phật,
Nay tôi tùy thuận nói tổng quát,
Hồi hướng công đức như pháp tánh,
Lợi ích tất cả chúng sanh giới.
Giảng:
Nghĩa thậm thâm rộng lớn của chư Phật tức là nghĩa rộng lớn của thể, tướng, dụng Đại thừa, cũng là tướng chung của pháp giới. Y theo nghĩa này, Tổ đã nói gồm hết trong bộ luận, có khoảng hơn mười ngàn lời, đó gọi là văn ít mà nghĩa nhiều, vì các chúng sanh thích đọc gọn và đầy đủ ý. Cuối cùng ngài hồi hướng công đức như pháp tánh, pháp tánh rộng lớn nên công đức rộng lớn, phổ cập lợi ích tất cả chúng sanh giới rộng lớn. Đây là thành tựu viên mãn như ý nghĩa Đại thừa.