Thiền Tông Việt Nam
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
Niêm Tụng Kệ - Giảng 6-10

6.- Cử: Vua nước Kế-tân cầm kiếm, bảo Tổ thứ hai mươi bốn (Tổ Sư Tử) rằng: Thầy được năm uẩn không chăng? Tổ đáp: Đã được. Vua hỏi: Lìa sanh tử chăng? Tổ đáp: Đã lìa. Vua hỏi: Có thể thí cái đầu cho tôi được không? Tổ đáp: Thân còn không phải của ta, huống nữa là đầu! Vua liền chém. Sữa trắng vọt ra, tay Vua tự rơi.

Niêm:        

Đem đầu kề gươm bén,
Dường như chém gió xuân.

Tụng:         

Đao bén chém nước, lửa thổi (ánh) sáng,
Việc này nên biết nào ngại gì.
Báo tin sáng ấy xa khói sóng,
Ai biết riêng có nghĩ suy lành.

Đây là câu chuyện Tổ Sư Tử bị vua Kế-tân giết. Ngài Trần Thái Tông niêm:

Đem đầu kề gươm bén,
Dường như chém gió xuân.

Vua Kế-tân đưa kiếm chém đầu Tổ dường như chém gió mùa xuân. Tại sao? Vì Tổ đã nói: Thân này còn không phải của ta huống nữa là đầu. Tức là thân này không phải của Ngài, nên khi bị chém đầu, Ngài xem như chém gió xuân, không có dính dáng gì với Ngài cả. Nếu người tu đến được chỗ này là thành Tổ rồi. Còn chúng ta hiện nay, nếu kiếm bén đưa đến gần liền quì lạy van xin tha mạng, là vì chúng ta còn thấy cái ngã quá to, quá nặng, nhưng với Tổ, Ngài thấy cái ngã không còn nữa. Thế nên có bài tụng:

Đao bén chém nước, lửa thổi (ánh) sáng,
Việc này nên biết nào ngại gì.

Dùng dao bén chém nước, nước không bị đứt. Dùng lửa thổi ánh sáng, ánh sáng không lay động. Đây là nói lên ý nghĩa: Khi vua Kế-tân cầm kiếm chém đầu Tổ Sư Tử, cũng như chém nước, như thổi ánh sáng, đối với Tổ không có nghĩa lý gì, nên nói “việc này nên biết nào ngại gì”. Tuy Tổ bị giết mà không có chút gì ngại ngùng hay khó khăn.

Báo tin sáng ấy xa khói sóng,
Ai biết riêng có nghĩ suy lành.

“Xa khói sóng” tức là bỏ thân nhớp nhúa vô thường. Thân này như khói, như sóng không có giá trị gì. Tuy bị chặt đầu, bỏ thân khói sóng, nhưng vẫn có hiện tượng tốt đẹp, nên nói: “riêng có nghĩ suy lành”, nghĩa là khi ấy Tổ được thảnh thơi giải thoát. Bỏ thân bại hoại vô thường, sống với Thể bất sanh bất diệt, thì đẹp biết dường nào, đâu có gì phải lo sợ hay buồn khổ. Thế nên qua lời giảng của ngài Trần Thái Tông chúng ta thấy rõ những gì cần làm, cần tu, chớ không phải chỉ nói chuyện suông, nhất là đối với người tu Thiền.

7.- Cử: Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Lạc Dương. Chín năm ngồi xây mặt vào vách.

Niêm:        

Để mắt xem, thôi ngủ gật.

Tụng:         

Chim bằng vỗ cánh đến Nam Minh (Nam Hải),
Nối gót luống công muôn dặm trình.
Đêm trước chỉ tham vui yến tiệc,
Sáng nay bất giác say men nồng.

Đây là kể lại câu chuyện Tổ Đạt-ma khi đến ở chùa Thiếu Lâm, tại kinh đô Lạc Dương.

Tổ Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm, chín năm ngồi xây mặt vào vách để làm gì?

Ngài Trần Thái Tông niêm gọn lại: “Để mắt xem, thôi ngủ gật. Tức là ngồi đó nhìn xem, chớ có ngủ gật. Chúng ta đừng tưởng lầm Tổ tiêu cực yếm thế, ngồi xây mặt vào vách, không nói đến ai. Mục đích Tổ ngồi đó là chờ người đủ điều kiện đến để truyền trao chánh pháp. Như vậy đây là một việc làm phi thường, chớ không phải có tánh cách tiêu cực, yếm thế, trốn thiên hạ. Cho nên có bài tụng:

Chim bằng vỗ cánh đến Nam Minh (Nam Hải),
Nối gót luống công muôn dặm trình.

Chim đại bàng một khi vỗ cánh liền tới biển Nam Hải. Nếu bắt chước nối gót theo sau thì luống công vô ích, vì chim vỗ cánh đã bay xa muôn dặm, chúng ta có đi theo cũng không kịp. Đó là nói việc làm của Tổ Đạt-ma giống như chim đại bàng vỗ cánh. Nếu chúng ta bắt chước ngồi xây mặt vào vách như Ngài, chỉ uổng công vô ích, chớ không bao giờ giống Ngài được.

Đêm trước chỉ tham vui yến tiệc,
Sáng nay bất giác say men nồng.

Đêm trước chúng ta mê vui trong yến tiệc đến khuya, sáng lại giựt mình thức dậy, mặt trời đã lên cao mà còn say trong men nồng. Hai câu này ý nói: Chúng ta ở trong mê, mà tưởng lầm là giác, cũng như chúng ta bắt chước Tổ ngồi xây mặt vào vách, mà không biết mục đích của Ngài. Đó là bắt chước trong mê, chớ không phải đúng, như thế mê lại thêm mê, không có lợi ích gì.

8.- Cử: Nhị Tổ xin Sơ Tổ pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho ông. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm không thể được. Sơ Tổ bảo: Ta an tâm cho ông rồi.

Niêm:        

Em bé lên ba ôm trống giấy,
Ông già tám chục mặc áo cầu.

Tụng:         

Tâm đã không tâm nói với ai,
Người câm thức mộng mắt tròn xoe.
Lão tăng dối bảo an tâm đấy,
Cười ngất bàng quan chẳng tự hay.

Nhị tổ Huệ Khả xin Sơ tổ Đạt-ma pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho. Ngài Huệ Khả tìm tâm không được, thưa: Con tìm tâm không được. Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Như vậy Tổ có an tâm thật hay không? Làm cách gì để an tâm? Không có một pháp để an tâm. Thế mà Sơ Tổ lại bảo đã an tâm cho ngươi rồi. Đó là nói thật hay không?

Ngài Trần Thái Tông niêm:

Em bé lên ba ôm trống giấy,
Ông già tám chục mặc áo cầu.

Trống giấy là của người lớn khéo đánh mới không bể, lại đưa cho con nít lên ba vỗ thì lủng ngay. Còn ông già tám mươi tuổi lại mặc áo cầu, là áo vẽ hình bông hoa để cho con nít mặc.

Ý ngài Trần Thái Tông nói Tổ Đạt-ma chỉ pháp an tâm cho Tổ Huệ Khả giống như là trao trống giấy cho đứa trẻ lên ba, hay là bắt ông già tám mươi tuổi mặc áo bông vậy. Đây là Tổ Đạt-ma đánh lừa nhưng rất khéo.

Tụng:

Tâm đã không tâm nói với ai,
Người câm thức mộng mắt tròn xoe.

Tâm đã không thật làm sao nói! Cũng như người câm nằm ngủ mộng thấy mình được đãi một bữa tiệc rất ngon, khi thức dậy muốn kể lại cho bạn bè làm sao kể? Chỉ nhìn người rồi trợn tròn đôi mắt, chớ không nói gì được. Cũng như vậy, tâm không thật lại bảo đem ra, làm sao đem. Tâm vọng tự nó dấy lên mình thấy nhưng không nói cho người nghe được, chỉ cho người thấy được, giống như người câm nằm mộng mà bảo kể lại giấc mộng thì không kể được.

Lão tăng dối bảo an tâm đấy,
Cười ngất bàng quan chẳng tự hay.

Tổ nói: ta an tâm cho ngươi rồi, đó là một cách nói dối, nhưng dối mà không dối. Người bàng quan không biết được việc này.

Hiện giờ chúng ta có biết Tổ Đạt-ma an tâm bằng cách nào không? Đây là thuật của Tổ, bảo an tâm mà tâm đó hư dối không thật, làm sao an? Tỉ dụ như hiện giờ cái tách cái dĩa có hình tướng để bên cạnh ghế nó sẽ ngã đổ, nếu để giữa bàn bảo đảm là an ổn. Vậy có hình thức mới có chỗ nơi. Còn tâm suy nghĩ vọng tưởng của chúng ta hiện giờ ra sao, đang ở đâu? Nó không hình không tướng, muốn an làm sao an? Thế nên Sơ Tổ bảo: Tìm tâm đem ra ta an cho. Nghĩa là ông muốn an cái không hình không tướng, nếu tìm được đem ra đây, thì ta an được. Nhưng ngài Huệ Khả tìm đáo để không được. Khi tìm không được, tức là tâm an mất rồi. Như vậy ngài Huệ Khả tự an tâm mà nói Sơ Tổ an tâm, không phải nói dối là gì? Thế mà chúng ta nghĩ có pháp an tâm thật, đó là người bàng quan không biết gì.

Trọng tâm việc tu là biết xoay lại tìm. Vì tâm vọng không thật, nên một phen tìm lại nó mất tiêu, thế là tự nó đã an rồi. Nói an tâm nhưng thật ra không có tâm nào, không có cách nào để an, chỉ là biết xoay lại soi sáng chính mình, tâm vọng mất đi, đó là an tâm. Đây là điểm đặc biệt trong nhà Thiền, nếu chúng ta không nắm vững, khó mà biết được chỗ này.

9.- Cử: Ngài Văn-thù thấy cô gái nhập định gần Phật. Ngài đến xuất định không được. Phật sai Bồ-tát Võng Minh đến xuất định được.

Niêm:        

Đứa con oan gia, mất gia phong ta.

Tụng:         

Đều cùng xuất định có sơ thân,
Định ấy nên là chửa chánh chân.
Nếu thật Hóa công không hậu bạc,
Xoay vần xuân đến khắp mọi phần.

Đây là câu chuyện dẫn trong kinh: Một hôm đức Phật đang thuyết pháp cho Tăng chúng, có một cô gái đến ngồi gần tòa đức Phật nhập định. Ngài Văn-thù thấy vậy là vô phép, mới dùng thần thông để xuất định cho cô, nhưng không được. Sau đó đức Phật bảo Bồ-tát Võng Minh đến xuất định thì cô mới xuất. Ngài Võng Minh là Bồ-tát mới tu, còn ngài Văn-thù là Bồ-tát Đại Trí, rất là đặc sắc, thế mà Ngài không làm được việc mà một vị sơ cơ làm được. Như vậy định của cô gái có phải là đại định không?

Lời Niêm: Đứa con oan gia, mất gia phong ta. Nếu là định cứu kính chân thật thì người đại trí đã cho xuất được, còn định đó chưa phải là chân thật nên người tu sơ cơ cũng xuất được. Thí dụ như có những Phật tử nghiên cứu Phật pháp khá, đến đây hỏi đạo lý với tôi, khi tôi giảng nói họ nghe họ hiểu. Còn nếu người chưa hiểu Phật pháp chút nào hay hiểu lệch lạc, đến đây hỏi, tôi có nói họ cũng không hiểu. Nhưng khi đến nhà khách, thầy Tri khách nói họ lại hiểu. Vậy những gì cao sâu thì người tu cao nói được, còn những điều thông thường thì người thường nói chuyện vui vui đây kia họ nghe họ hiểu.

Thế nên có lời bình như sau:

Đều cùng xuất định có sơ thân,
Định ấy nên là chửa chánh chân.

Nếu cùng xuất định mà có kẻ sơ người thân thì định ấy chưa chân chánh.

Nếu thật Hóa công không hậu bạc,
Xoay vần xuân đến khắp mọi phần.

Nếu thật trời đất không có đối với người sâu, cạn khác nhau thì nơi đâu cũng được mùa xuân. Nhưng vì có hậu bạc, nên mùa xuân không cùng khắp. Đó là để nói định có chân và không chân, không phải định nào cũng đều chân chánh như nhau.

10.- Cử: Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối.

Niêm:        

Dù cho chẳng phạm mảy may,
Vẫn là cầm bánh dính tay.

Tụng:         

Trước kia làm bạn khách rượu trà,
Quán rượu thường nằm bên cạnh nhà.
Giả thử khoe khoang người lanh lợi,
Giữa đường mất áo chịu thôi mà.

Đây là câu chuyện trong sử, Mã Tổ ra đi giáo hóa, trụ ở Giang Tây. Thầy Ngài là Tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng cho người tới hỏi: Từ khi rời Tổ Nam Nhạc đến nay, Thầy ở đây truyền bá thế nào? Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối. Loạn Hồ tức là thời loạn lạc ở Trung Hoa. Sau đó ba mươi năm thì tương muối lúc nào cũng sẵn, không có thiếu. Ý muốn nói từ khi thấy đạo đến nay, lúc nào cũng hiện tiền, không có thiếu thốn.

Niêm:

cho chẳng phạm mảy may,
Vẫn là cầm bánh dính tay.

Nói chưa từng thiếu tương muối, nghĩa là khoe ta là người không có thiếu. Như thế tuy không phạm lỗi, nhưng cũng là cầm bánh dính tay, hơi dơ một chút.

Ngài Trần Thái Tông có lời bình:

Trước kia làm bạn khách rượu trà,
Quán rượu thường nằm bên cạnh nhà.
Giả thử khoe khoang người lanh lợi,
Giữa đường mất áo chịu thôi mà.

Trước kia” tức là lúc loạn Hồ.

Khoe khoang người lanh lợi” là nói Mã Tổ bảo chưa từng thiếu tương muối. Nhưng “giữa đường mất áo chịu thôi mà”, nghĩa là tuy lanh lợi thật nhưng cũng bị mất áo tìm không được, vậy mới đúng với ý nghĩa cầm bánh dính tay. Nếu tự cho mình không từng vắng thiếu, vẫn là có chút khoe khoang!

Phụ chú:

1. Những bài Niêm tụng này, mới nghe thấy rất khó. Người nghe chỉ có hứng thú trong cái dứt bặt nghĩ tưởng, còn suy gẫm thì không thấy thú chút nào. Nghe rồi mỗi ngày thấm một ít, lâu ngày thành quen, mới biết Thiền rất là quan trọng. Nhiều khi chúng ta nghĩ Thiền nói chuyện đâu đâu không hiểu nổi, dù có hay cũng trở thành không hay. Nếu không hay thì sách vở để lại làm gì cho vô ích? Chúng ta cần phải nhận hiểu đôi chút để nếm được hương vị Thiền mới thấy cái hay của người xưa. Người xưa hiểu và ứng dụng tới đâu, chúng ta ngày nay cũng noi theo gương đó để thực hành. Tuy những bài Niêm tụng có khô khan nhưng chúng ta cố gắng nghe, rồi sẽ thấm được vị Thiền.

2. Chữ Biết trong đạo Phật

Hôm nay chúng tôi nói thêm về chữ Biết trong đạo Phật để quí vị nghe và nhận định kỹ trước khi bước vào đường tu tập.

Chữ Biết danh từ chuyên môn trong đạo gọi là Tâm. Đức Phật nhìn thấy nơi con người chúng ta có hai loại biết:

a- Loại biết do duyên với bóng dáng của sáu trần rồi khởi suy nghĩ phân biệt, đó là cái biết sanh diệt, trong nhà Phật gọi là Vọng tâm.

b- Còn cái biết sẵn nơi sáu căn, không do duyên với bóng dáng sáu trần, cũng không do suy nghĩ phân biệt, mà luôn luôn hằng có, đó là cái biết không sanh diệt, trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật gọi là Chân tâm.

Như vậy Chân tâm là cái biết thường hằng không sanh diệt, còn Vọng tâm là cái biết duyên theo bóng dáng sáu trần, cái biết này hư dối, chợt sanh chợt diệt, chợt có chợt không, không phải là thật. Nhưng hầu hết chúng ta đang sống trong cái biết sanh diệt đó. Lúc nào có nghĩ có tính thì gọi là biết, khi không nghĩ không tính tưởng chừng như không biết. Vì thế chúng ta nhận cái biết sanh diệt làm tâm của mình, còn cái biết hằng hữu không sanh không diệt, mình lại bỏ quên, không nhận ra nó. Thế nên đức Phật nói chúng ta cứ mãi đi trong luân hồi sanh tử.

Cái biết duyên theo bóng dáng sáu trần, mà sáu trần là tướng vô thường sanh diệt, nên cái biết cũng là niệm sanh diệt. Bên ngoài chạy theo cảnh sanh diệt, bên trong nhận tâm sanh diệt làm mình, chạy theo hai tướng sanh diệt thì nhất định chúng ta phải đi trong sanh tử luân hồi. Ai cũng như ai đều chấp nhận, đều sống như vậy, cho nên đức Phật bảo: Chúng sanh bị trầm luân trong sanh tử luân hồi.

Hiện nay muốn dứt dòng sanh tử, đức Phật dạy chúng ta phải trở lại cái biết chân thật chưa bao giờ sanh diệt, cái biết đó mới là thật mình, mới là hằng hữu. Vì nó không duyên theo bóng dáng của sáu trần, nên không phải tướng sanh diệt, không sanh diệt thì làm gì có sanh tử luân hồi? Thế nên chúng ta sống trở về với cái biết chân thật là chúng ta biết tu, trở về cái không sanh diệt là chúng ta giải thoát. Thế thì sanh tử hay giải thoát gốc ở nơi mình. Nếu lầm nhận cái biết sanh diệt là mình thì lăn trong sanh tử, nhận cái biết không sanh diệt là mình thì giải thoát sanh tử.

Lâu nay sở dĩ chúng ta quanh quẩn không tìm ra lối đi, vì bị sanh diệt chi phối. Nghiệm cho thật kỹ, mỗi khi chúng ta suy nghĩ, thì cái suy nghĩ là cái biết sanh diệt. Cái suy nghĩ đó luôn luôn kèm theo những hình bóng của trần cảnh, hay ngôn ngữ, mà trần cảnh và ngôn ngữ đều là tướng sanh diệt, nên cái suy nghĩ về hai tướng đó cũng sanh diệt. Thế mà chúng ta cứ mãi sống theo cái sanh diệt, chớ không bao giờ sống với cái thật của mình. Nay muốn giải thoát sanh tử, chúng ta phải dừng cái sanh diệt để nhận ngay nơi mình có cái biết không sanh diệt, đó là chúng ta hướng về con đường giải thoát, trong nhà Thiền gọi là trở về cố hương. Còn đi theo sáu trần để chịu sanh tử, đó gọi là lang thang làm khách phong trần.

Hiễu rõ chỗ này rồi, chúng ta mới biết nhà Thiền nhắm thẳng vào cái gì. Nếu không hiểu, chúng ta thấy các Thiền sư nói những chuyện đâu đâu, rất là vô nghĩa vô lý. Thông thường chúng ta quen câu nói nào cũng phải có nghĩa có lý, tức là có suy gẫm, càng suy gẫm thì càng lăn trong sanh diệt. Thế nên câu nói hay nhất của nhà Thiền là câu nói không suy nghĩ được. Câu nói không suy nghĩ được mà mình nhận ra, thì đó là những câu rất hay, trong nhà Thiền gọi là lời nói sống hay hoạt ngữ. Còn câu nói mà suy nghĩ được nhà Thiền gọi là tử ngữ hay câu nói chết. Hiểu như vậy, khi đi sâu trong tinh thần Thiền tông, chúng ta mới thấm được cái hay. Nếu không, chúng ta nghe nói sao lạ lùng quá, không có một chút ý vị gì, nhưng không ý vị lại được các ngài khen, còn nói có suy gẫm thấy hay lại bị các ngài chê. Đó là chỗ thiết yếu trong sự tu. Nếu tu Thiền mà không nắm vững được lý này, thì không hiểu được đạo Phật. Đạo Phật cốt dạy chúng ta giác ngộ và giải thoát. Giác ngộ giải thoát là tự nơi mình. Tâm tư lóng lặng, trí tuệ sáng suốt, thấy được lẽ thật thì giác ngộ. Thấy được lẽ thật và sống được với lẽ thật đó, thì chúng ta không bị sanh tử nữa, đó là giải thoát. Gốc của sự tu là ở ngay chỗ này.

Chúng tôi phác họa đại khái để khi nghe các Thiền sư nói chuyện, quí vị không có ngỡ ngàng, không thấy khó khăn. Nếu không thì khi nghe những câu nói vừa vô nghĩa, vừa thô kệch, quí vị nghĩ rằng các Thiền sư nói năng không có gì hay cả, nhưng chính lời thô kệch vô nghĩa lại được khen, còn những lời văn hoa bóng bẩy lại bị chê. Hiểu được như vậy mới thấy chỗ đặc biệt của nhà Thiền.

Mục Lục