Thiền Tông Việt Nam
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
Niêm Tụng Kệ - Giảng 31-35

31.- Cử: Tam Thánh nói: Tôi gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người. Hưng Hóa nói: Tôi gặp người thì chẳng ra, ra thì vì người.

Niêm:        

Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què.

Tụng:         

Gặp khát tức thì uống nước ngay,
Nói ăn bụng đói trọn cả ngày.
Hai bên gươm bén thôi niêm kín,
Khi khác trẻ con miệng họa này.

Tam Thánh là Thiền sư Huệ Nhiên. Hưng Hóa là Thiền sư Tồn Tương. Hai vị là đệ tử lớn của ngài Lâm Tế. Một vị nói: Tôi gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người, một vị lại nói: Tôi gặp người thì chẳng ra, ra thì vì người. Ai nói đúng?

Niêm:

“Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què.” Trạnh là con ba ba. Nửa cặp cũng là một con. Như vậy một bên là rùa mù, một bên là trạnh què. Vì ra hoặc không ra, vì người hoặc không vì người đều là một bên, chưa phải là cứu kính, nên ngài Trần Thái Tông mới bình: Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què.”

Tụng:

Gặp khát tức thì uống nước ngay,
Nói ăn bụng đói trọn cả ngày.
Hai bên gươm bén thôi niêm kín,
Khi khác trẻ con miệng họa này.

Đói thì ăn, khát thì uống, nói làm chi ồn cả ngày mà bụng vẫn đói. Ý Ngài trách là nói “vì người không vì người, ra không ra” chi cho nhiều.

“Hai bên gươm bén thôi niêm kín”, nghĩa là hai vị dùng thuật nói mâu thuẫn nhau giống như hai cây gươm bén niêm kín.

“Khi khác trẻ con miệng họa này”, e khi khác trẻ con liếm nhằm bị đứt miệng, đứt lưỡi. Lối nói này không cho người thấy được lẽ thật, mà chỉ là nói để cho nghi.

32.- Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong đến, chỉ tịnh bình nói: Tịnh bình là cảnh, ông không được động đến cảnh.

Niêm:        

Nói có, nhằm chỗ nào để.

Tụng:         

Trong gương không nhớp luống tự chùi,
Dụng hết công phu uổng phí thôi.
Lặng lặng im im tùy chỗ thích,
Cơm xong liền đó uống chung trà.

Tịnh bình là cảnh, lại chỉ tịnh bình bảo không được động đến, vậy phải động đến cái nào? Đó là thuật kỳ đặc trong nhà Thiền. Thông thường nghe chỉ đâu chúng ta chạy theo đó là bị gạt.

Niêm:

“Nói có, nhằm chỗ nào để.” Nói không được động đến thì cái đó có hay không? Nếu có thì để ở đâu?

Tụng:

Trong gương không nhớp luống tự chùi,
Dụng hết công phu uổng phí thôi.
Lặng lặng im im tùy chỗ thích,
Cơm xong liền đó uống chung trà.

Bài thơ rất là thâm thúy. Gương không nhớp, không bụi mà lau, thật là uổng công. Như vậy để mặc nó hay sao? Nghĩa là chúng ta nói lau gương là uổng công, nếu nói lau bụi thì đáng công. Hiện nay chúng ta lau gương hay lau bụi? Gương tự sáng, sở dĩ chúng ta không thấy được ánh sáng là do bụi, nay lau sạch bụi thì gương tự sáng. Cũng vậy cái chân thật nguyên là như thế, không có tu, nhưng vì bụi trần che phủ nên phải tu tức là hằng ngày lau bụi tham sân si mạn nghi..., lau sạch rồi thì gương tự sáng. Nếu gương không sáng dù lau hết bụi cũng vẫn không sáng. Bản chất nó là sáng nên nói lau là vô ích.

“Dụng hết công phu uổng phí thôi.” Dù dùng bao nhiêu công phu để chùi gương cũng là uổng phí, nhưng nếu dụng công chùi bụi thì rất đáng công.

“Lặng lặng im im tùy chỗ thích”, nó im nó lặng, tùy duyên tùy cảnh nó hưởng ứng. Hưởng ứng bằng cách nào? “Cơm xong liền đó uống chung trà.” Ăn cơm xong rồi uống trà, việc đó rất bình thường, nhưng chính việc bình thường là cái hiện rõ ràng của tấm gương.

33.- Cử: Thạch Đầu nói: Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được.

Niêm:        

Các hạnh vô thường, tất cả đều khổ.

Tụng:         

Câu nói hay khéo đem đến ông,
Tạm làm mây trắng che cửa động.
Dù cho toàn được mười phần đúng,
Vẫn ở giữa đường muôn dặm trông.

“Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được.” Nói như vậy nghe khó hiểu làm sao! Thế ấy là khẳng định, chẳng thế ấy là phủ định, thế ấy chẳng thế ấy là khẳng và phủ định, thảy đều không được. Như vậy tất cả sự vật trên thế gian đứng về mặt khẳng định, hoặc phủ định, hoặc gồm cả hai đều không đúng. Tại sao?

Niêm:

“Các hạnh vô thường, tất cả đều khổ.” Khẳng định, phủ định hay chung cả hai đều là các hạnh, nên đều là khổ.

Tụng:

Câu nói hay khéo đem đến ông,
Tạm làm mây trắng che cửa động.

Câu nói cho ông nghe dù hay dù khéo chẳng khác nào mây trắng che cửa động. Mây che cửa động, bầy chim muốn về tổ không biết đường vào, cũng như lời nói hay khéo phủ mờ chỗ chân thật.

Dù cho toàn được mười phần đúng,
Vẫn ở giữa đường muôn dặm trông.

Ngài Thạch Đầu bảo khẳng định, phủ định hoặc gồm cả hai đều chẳng thể được. Lời này dù đúng mười phần vẫn còn ở giữa đường.

34.- Cử: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Giáp Sơn? Sơn đáp:

Vượn ẵm con về sau núi biếc,
Chim tha hoa đáp trước non xanh.

Niêm:        

Cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

Tụng:         

Giáp Sơn cảnh vắng không người đến,
Ngay đó phải nên làm những gì?
Nếu người thật được đôi mắt sáng,
Giờ ngọ mặc tình trống canh ba.

Thí dụ có người đến đây hỏi: Thế nào là cảnh Trúc Lâm?

Đó là hỏi cảnh Trúc Lâm hay hỏi cái gì? Thật ra không phải hỏi cảnh bên ngoài mà muốn hỏi cái gì nơi chúng ta, nếu diễn tả cảnh bên ngoài thì sai.

Ngài Giáp Sơn là Thiền sư Thiện Hội. Thuở trước khi còn ở Kinh Khẩu Ngài giảng cho đồ chúng ở chùa rất đông. Một hôm Ngài lên tòa, ở dưới có Thiền sư Đạo Ngô Viên Trí ngồi nghe. Có vị Tăng bước ra hỏi: Thế nào là Pháp thân? Ngài Thiện Hội đáp: Pháp thân vô tướng. Vị ấy hỏi tiếp: Thế nào là Pháp nhãn? Ngài đáp: Pháp nhãn vô tỳ (không có tỳ vết). Ở dưới ngài Đạo Ngô cười. Khi giảng xong, ngài Thiện Hội đắp y đến thưa với ngài Đạo Ngô: Bạch Hòa thượng, khi tôi đáp lời người hỏi, có chỗ nào không đúng khiến Hòa thượng cười? Ngài Đạo Ngô nói: Nếu là người giảng kinh thì Hòa thượng nói rất đúng, còn nếu là Thiền sư thì chưa có thầy. Nghe như vậy ngài Thiện Hội mới xin ngài Đạo Ngô giới thiệu cho một vị thầy. Ngài Đạo Ngô giới thiệu ngài Hoa Đình Thuyền Tử. Đang là một Giảng sư nổi tiếng mà ngài Thiện Hội từ bỏ tất cả đi tìm ngài Hoa Đình Thuyền Tử. Pháp thân vô tướng, Pháp nhãn vô tỳ đều đúng cả, nhưng tại sao ngài Đạo Ngô cười? Vì dùng tử ngữ như vậy thì biết người học chưa có thầy. Sau khi ngộ, ngài Thiện Hội trở về trụ ở Giáp Sơn, có người hỏi: Thế nào là cảnh Giáp Sơn? Ngài đáp bằng hai câu thơ:

Vượn ẵm con về sau núi biếc,
Chim tha hoa đáp trước non xanh.

Niêm:

“Cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.” Sẵn có cây gậy tùy thân gặp trường thì đùa không sợ té. Đó là lời khen ngài Giáp Sơn khéo, khi có người hỏi cảnh liền diễn tả cảnh cho người nghe.

Tụng:

Giáp Sơn cảnh vắng không người đến,
Ngay đó phải nên làm những gì?
Nếu người thật được đôi mắt sáng,
Giờ ngọ mặc tình trống canh ba.

Giờ ngọ mà đánh trống canh ba nghe thật trái ngược, nhưng thật người có mắt sáng thì giờ ngọ đánh trống canh ba. Tại sao? Khi Ngài diễn tả cảnh Giáp Sơn vượn bồng con về núi, chim tha hoa đáp trước non..., nếu biết thì đó là hiện tiền. Thế nên dường như tả cảnh mà đã chỉ ra cái chân thật cho người hỏi như giờ ngọ mà đánh trống canh ba tức là nói ở đây mà thấy rõ ở kia.

35.- Cử: Tăng hỏi Mục Châu: Một hơi thở tụng hết một tạng kinh không? Châu đáp: Có bao nhiêu bánh đem hết lại đây.

Niêm:        

Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước.

Tụng:         

Một hơi tự khéo tụng tạng kinh,
Chẳng nhọc vạch lá với tìm cành,
Vô biên huyền nghĩa đều hiện rõ,
Hỏi đến Sơn tăng thảy chẳng rành.

“Tăng hỏi Mục Châu: Một hơi thở tụng hết một tạng kinh không? Châu đáp: Có bao nhiêu bánh đem hết lại đây.” Tức là trên bàn có bao nhiêu bánh đem hết lại đây, đơn giản làm sao!

Niêm:

“Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước.”

Thật là khen đáo để. Buông tay là đến nhà không cần phải nhọc đi bước vào.

Ngài Mục Châu là Trần Tôn Túc, hiệu Đạo Minh, là vị Thủ tọa đã bảo ngài Lâm Tế đi hỏi Tổ Hoàng Bá ba lần, là một nhân vật nổi tiếng ở hội Hoàng Bá. Khi Ngài về Mục Châu có người đến hỏi: Một hơi thở tụng hết một tạng kinh không? Câu hỏi quá rắc rối. Tôi nhắc lại câu chuyện Tổ Bát-nhã được nhà vua mời dự trai tăng. Đến nơi chư Tăng siêng năng tụng kinh còn Ngài thong dong đi dạo. Vua thấy lạ mới hỏi: Sao Hòa thượng không đi tụng kinh? Ngài đáp: Ta thở ra không dính sáu trần, hít vào không kẹt ấm giới, mỗi ngày ta tụng không biết bao nhiêu bộ kinh. Như vậy nói theo cách của Ngài là một hơi thở tụng hết ba tạng kinh! Chúng ta hiện nay thở ra hít vào dính kẹt đủ điều, nếu thở ra không dính sáu trần, hít vào không kẹt ấm giới thì tự tại biết bao nhiêu! Như vậy dường như không tu mà thật tu, còn cố gắng tụng hết bộ kinh này sang bộ kinh khác, dường như tận lực tu hành nhưng rốt lại chỉ được phước, chớ thật chưa biết chuyển vô minh phiền não trở thànhBồ-đề; vì tham tụng cho hết bộ để được phước nhiều nên vẫn còn phiền não. Trái lại thở ra hít vào mà không dính kẹt gì cả, đó mới thật là tụng kinh.

Đáp câu hỏi của vị Tăng, ngài Mục Châu không nói hết, không nói không, chỉ bảo: Trên bàn có bao nhiêu bánh dọn ra ăn. Trả lời thấy như lạc đề nhưng chính đó là điểm hay, nếu vị Tăng biết, là thấy được bao nhiêu tạng kinh rồi. Thế nên lời niêm:

“Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước.” Ngay đó thấy gì nói nấy, không phải suy gẫm tìm kiếm.

Tụng:

Một hơi tự khéo tụng tạng kinh,
Chẳng nhọc vạch lá với tìm cành.
Vô biên huyền nghĩa đều hiện rõ,
Hỏi đến Sơn tăng thảy chẳng rành.

Nghĩa là không nhọc nhằn vạch lá tìm cành, mò từng chữ từng câu, nếu không còn dính mắc thì bao nhiêu huyền nghĩa đều hiện rõ. “Hỏi đến Sơn tăng thảy chẳng rành”, hỏi đến chữ nghĩa đều chẳng hiểu rõ nhưng tất cả đều đầy đủ.

Mục Lục