Thiền Tông Việt Nam
Khóa Hư Lục Giảng Giải (1996)
Niêm Tụng Kệ - Giảng 26-30

26.- Cử: Tăng hỏi Động Sơn (Thủ Sơ): Thế nào là Phật? Sơn đáp: Trên vách ba cân gai.

Niêm:        

Gọi một vật lại chẳng trúng.

Tụng:         

Hỏi Phật thế nào, nói đáp anh,
Động Sơn trên vách gai mấy cân.
Tuy nhiên không có phong trần dính,
Cũng vẫn còn đem cảnh chỉ người.

Động Sơn là ngài Động Sơn Thủ Sơ. Động Sơn Tổ tông Tào Động là Thiền sư Lương Giới. Ngài Thủ Sơ hiệu là Sùng Tuệ, cũng ở tại Động Sơn, đệ tử của Thiền sư Vân Môn. Tăng hỏi Động Sơn: Thế nào là Phật? Sơn đáp: Trên vách ba cân gai. Hỏi thế nào là Phật, thấy trên vách đang treo khoanh gai ba cân nên nói trên vách ba cân gai.

Niêm:

“Gọi một vật lại chẳng trúng.” Gọi một vật chẳng trúng, huống là ba cân gai!

Tụng:

Hỏi Phật thế nào, nói đáp anh,
Động Sơn trên vách gai mấy cân.
Tuy nhiên không có phong trần dính,
Cũng vẫn còn đem cảnh chỉ người.

“Tuy nhiên không có phong trần dính”, tức là câu đáp “trên vách ba cân gai” không có dính mắc một chút ý niệm, không còn chỗ để khởi nghĩ, nhưng “cũng vẫn còn đem cảnh chỉ người”, còn chỉ ba cân gai đó cũng là chỉ cảnh.

27.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Hiện Tử: Thế nào là ý Tây sang? Hiện Tử đáp: Mâm rượu trước bàn thần.

Niêm:        

Nếu chẳng phải sư tử con, đâu khỏi chạy theo khối đất lăn.

Tụng:         

Chặt đứt cội nguồn không chỗ nương,
Ở đây nhắc lại để anh tường.
Nếu bảo trước thần là ý Tổ,
Khác nào kẻ gọi khố là quần.

Câu “thế nào là ý Tây sang”, trong nhà Thiền hỏi rất nhiều. Nói đủ câu là: thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang, tức là Tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa là ý gì, nghĩa là muốn thấy được ý chỉ Tổ Đạt-ma mang đến cho người Trung Hoa. Câu này các Thiền sư đáp mỗi vị một cách, có vị đáp có vị không đáp, như ngài Lâm Tế khi được hỏi câu này Ngài bảo: Đem tọa cụ lại cho ta. Người hỏi đem tọa cụ lại, Ngài liền đánh.

“Hiện” là con sò, con hến. Vị Thiền sư này không giữ trai giới, Ngài ở gần bờ biển, sáng đi kiếm sò hến ăn, sống qua ngày, tối vào đình ngủ, không ai biết tên, mọi người gọi Ngài là Hiện Tử. Nghe đồn về vị Hòa thượng kỳ lạ này, ngài Lâm Tế mới đến thử, bất chợt chụp vai Ngài hỏi: “Thế nào là ý Tây sang? Hiện Tử đáp: Mâm rượu trước bàn thần.” Qua câu đáp, ngài Lâm Tế buông ra, Ngài nhận rằng đây quả thật là một Thiền sư.

Niêm:

“Nếu chẳng phải sư tử con, đâu khỏi chạy theo khối đất lăn.” Khi hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, chúng ta hoặc nói thế này hoặc nói thế khác, nhưng Ngài chỉ nói “mâm rượu trước bàn thần”. Câu này là câu nói của sư tử con chớ không phải thường.

Tụng:

Chặt đứt cội nguồn không chỗ nương,
Ở đây nhắc lại để anh tường.
Nếu bảo trước thần là ý Tổ,
Khác nào kẻ gọi khố là quần.

Câu đáp của ngài Hiện Tử là câu nói chặt hết cội nguồn, không còn manh mối để suy nghĩ, không còn lý do để bám, xét. Chặt đứt cội nguồn để nhắc cho mọi người thấy được ý Tổ sư từ Ấn Độ sang là chỗ chưa có niệm suy nghĩ phân biệt dấy lên. Mới nghe câu đáp, chúng ta thấy như không có chỉ nhưng thật là chỉ rất tường tận. Nếu khi đó lại suy gẫm về mâm rượu trước bàn thần là ý Tổ sư thì khác nào kẻ nói khố là quần, nói như thế là sai vì khố và quần khác nhau.

28.- Cử: Quốc sư Vô Nghiệp nói: Nếu niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông chưa hết, chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Hòa thượng Bạch Vân Đoan nói: Giả sử niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa.

Niêm:        

Đốt non cần cọp chạy, đập cỏ cốt rắn kinh.

Tụng:         

Lời này xét lại chí khí khinh,
Đập cỏ cốt là bọn rắn kinh.
Nếu người rành lối Trường An ấy,
Buông thõng tay đi khỏi hỏi trình.

“Quốc sư Vô Nghiệp nói: Nếu niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông chưa hết, chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Hòa thượng Bạch Vân Đoan nói: Giả sử niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa.”

Hai vị đều là Thiền sư mà lại nói trái nhau. Đó là tinh thần của cách đối đáp trong nhà Thiền. Nhà Thiền gọi hoạt cú tức là câu sống. Như khi hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang thì đáp “mâm rượu trước bàn thần”, hoặc hỏi thế nào là Phật thì đáp “ba cân gai”. Tại sao? Thẳng đó nhận ra, thấy được nơi mình. Câu sống làm cho người tỉnh liền, nếu không nhận ra cũng được an vì không biết gì thêm.

Nếu hỏi thế nào là Phật, lại đáp Phật là giác ngộ, câu đó gọi là câu chết (tử cú) vì làm cho người nghe suy nghĩ về giác ngộ tức là đi sâu vào cửa tử của vọng tưởng. Vọng tưởng là cửa chết.

Lại còn một lối trả lời làm cho người nghi, lối nói đó cũng khéo. Do nghi nên ôm ấp mãi một ngày nào sẽ ngộ, đó cũng là một lối đặc biệt. Tóm lại có ba câu nói:

1. Câu nói chết người làm cho niệm dứt bặt, đó là một lối đặc biệt.

2. Câu nói để người nghi ôm ấp mãi, không giải quyết được, đó cũng là hay.

3. Câu nói thẳng để người nghe hiểu, gọi là dở. Nhưng thời này người ta chấp nhận dở nên phải nói dở, dù sao có còn hơn không.

Thiền sư Vô Nghiệp là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất. Ai đến hỏi câu gì cũng mặc, Ngài chỉ đáp một câu: Chớ vọng tưởng. Như vậy câu chớ vọng tưởng đã nói hết ý nghĩa của sự tu, nhưng nói trắng quá. Nay Ngài lại nói: Nếu người nào còn một niệm phân biệt đây là phàm kia là thánh, dù nhỏ bằng đầu sợi lông, người đó cũng chưa ra khỏi bụng ngựa thai lừa. Nói thế cũng hơi quá đáng. Đó là chưa rời khỏi sanh tử vì còn niệm thì còn sanh tử.

Nhưng Hòa thượng Bạch Vân Thủ Đoan lại nói: Giả sử một niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Ai đúng? Ngài Bạch Vân Thủ Đoan nói câu này để làm gì?

Niêm:

“Đốt non cần cọp chạy, đập cỏ cốt rắn kinh.”

Câu niêm quá rõ. Vì sợ cọp nên những người đi rừng đốt lửa, cọp sợ không dám lại gần. Như vậy đốt lửa không phải vì lửa cháy, mà vì cho cọp sợ. Cũng như ban đêm, trên những con đường rậm rạp cỏ phủ, muốn cho rắn rít chạy trước khi mình bước chân tới, chúng ta cầm gậy quơ trên ngọn cỏ, đập cỏ không phải vì cỏ mà là để cho rắn chạy. Như vậy việc làm ở đây mà mục đích ở kia.

Tụng:

Lời này xét lại chí khí khinh,
Đập cỏ cốt là bọn rắn kinh.
Nếu người rành lối Trường An ấy,
Buông thõng tay đi khỏi hỏi trình.

Bài tụng này nhắm vào câu nói của ngài Bạch Vân Thủ Đoan: Giả sử không còn một niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông cũng chưa ra khỏi bụng ngựa thai lừa. Câu này mục đích để phá chấp của người nghe câu nói của Quốc sư Vô Nghiệp, cho không có một niệm là cứu kính, nhưng còn thấy không tức là còn thấy có, nên còn kẹt trong có không, chưa phải là cứu kính. Thế nên câu này không phải là giá trị thật, là “chí khí khinh”. Chẳng qua là đập cỏ để rắn sợ chớ không phải chỉ lẽ thật. Nếu người thật rành đường về Trường An tức là người đã ngộ đạo rồi thì buông thõng tay mà đi không nghi ngờ, không cần thưa hỏi. Nếu nghe mà khởi nghi tức chưa phải người có khả năng rành đường về Trường An.

Đến đây tôi dẫn câu chuyện ngài Đại Mai Pháp Thường cho quí vị thấy. Ngài đến học với Mã Tổ một thời gian rồi về ở núi Đại Mai. Mã Tổ nghi không biết Ngài ngộ đạo chưa, mới sai một đệ tử khá tới thử xem. Người đó gặp ngài Đại Mai mới hỏi: Ông ở chỗ Mã Tổ được cái gì mà về ở núi? Ngài đáp: Tôi nghe Mã Tổ nói “tức tâm tức Phật”, tôi liền nhận được rồi về ở núi. Người kia liền nói: Nay Mã Tổ không nói “tức tâm tức Phật”, mà nói “phi tâm phi Phật”. Nếu là người chưa biết đường về Trường An, nghe câu nói sau liền nghi là khi trước mình hiểu chưa đúng vì sau này thầy nói khác. Nhưng ngài Đại Mai nói: Mặc ông già nói gì thì nói, tôi chỉ biết “tức tâm tức Phật”. Người kia về thưa lại Mã Tổ, Mã Tổ ở giữa đại chúng nói: trái mai đã chín, tức là ngài Pháp Thường thật ngộ. Như vậy người ngộ đạo dù ai nói đông nói tây gì cũng không lay chuyển được. Trái lại mới nghe nói thì tin, khi nghe ai nói khác lại khởi nghi, là chưa thật ngộ. Thế nên ngài Trần Thái Tông mới nói: “nếu người rành lối Trường An ấy, buông thõng tay đi khỏi hỏi trình”, vì đâu còn nghi ngờ mà phải hỏi.

29.- Cử: Huyền Sa dạy chúng nói: Các bậc Lão túc khắp nơi đều bảo: “Tiếp vật lợi sanh.” Chợt gặp ba hạng người bệnh lại, làm sao tiếp? Người bệnh mù, giơ chùy dựng phất họ chẳng thấy. Người bệnh điếc, nói năng tam-muội họ không nghe. Người bệnh câm, dạy họ nói, nói không được.

Niêm:        

Khát uống đói ăn, lạnh mặc nóng quạt.

Tụng:         

Buồn thì ủ rũ, vui tươi cười,
Mũi dọc mày ngang chẳng khác người.
Đói khát lạnh nồng tùy chỗ được,
Đâu nên bất chợt lại sanh nghi.

“Huyền Sa dạy chúng nói: Các bậc Lão túc khắp nơi đều bảo: Tiếp vật lợi sanh. Chợt gặp ba hạng người bệnh lại, làm sao tiếp? Người bệnh mù, giơ chùy dựng phất họ chẳng thấy. Người bệnh điếc, nói năng tam-muội họ không nghe. Người bệnh câm, dạy họ nói, nói không được.” Như vậy làm sao độ ba hạng đó?

Niêm:

Khát uống, đói ăn, lạnh mặc, nóng quạt.

Lời niêm có dính với những bệnh mù điếc câm ở trên không?

Tụng:

Buồn thì ủ rũ, vui tươi cười,
Mũi dọc mày ngang chẳng khác người.
Đói khát lạnh nồng tùy chỗ được,
Đâu nên bất chợt lại sanh nghi.

Dù cho không hiện ở mắt, tai và miệng nhưng đâu phải là thiếu vắng, đâu phải có mắt, tai, miệng mới có cái đó. Tuy ba cơ quan không hiển lộ được cái sáng nhưng nơi mình có thiếu nó bao giờ, nên mới dùng các chữ khát uống, đói ăn, lạnh mặc, nóng quạt.

30.- Cử: Thụy Nham thường gọi: Ông chủ nhân, tỉnh tỉnh đi, về sau chớ bị người lừa gạt.

Niêm:        

Khóc đến máu tuôn không chỗ dụng,
Chi bằng ngậm miệng qua xuân tàn.

Tụng:         

Thụy Nham thường gọi chủ nhân ông,
Lược giỏi cơ sâu cũng chẳng hùng.
Nếu quả thế gian tướng vô địch,
Đợi gì gươm giáo mới là hưng.

Thụy Nham là Thiền sư Sư Ngạn ở núi Thụy Nham, ngồi một mình thỉnh thoảng tự gọi “Ông chủ nhân” rồi tự dạ, tự nhắc: Tỉnh tỉnh đi, về sau chớ để người lừa gạt. Thấy như người điên nhưng thật sự chúng ta có bệnh quên, ngồi một lúc là bị ma ngủ hay vọng tưởng gạt, nên nhắc tỉnh tỉnh chớ bị người lừa. Đó là phương tiện để Ngài tự cảnh giác. Hiện nay ngồi lâu bị người lừa dẫn đi chơi thì có các vị giám thiền cầm gậy đánh cho chạy về. Đánh là để không bị người lừa dẫn đi bằng vọng tưởng hay giấc mộng. Có người ngồi một lúc mộng thấy việc này việc kia, đó là đi khá xa nên nhờ gậy đánh liền giựt mình tỉnh lại. Hiểu như thế mới mang ơn người vác gậy đi tuần, nếu không sẽ bực tức khi bị đánh giựt mình.

Niêm:

Khóc đến máu tuôn không chỗ dụng,
Chi bằng ngậm miệng qua xuân tàn.

Khóc đến máu tuôn nhưng cũng không dùng được, chi bằng làm thinh để qua mùa xuân. Hành động của ngài Thụy Nham là hành động thiết tha đối với sự tu hành, nhưng còn gọi, nói chủ khách v.v... thì chưa phải là tuyệt vời, nên ngài Trần Thái Tông hơi chê.

Tụng:

Thụy Nham thường gọi chủ nhân ông,
Lược giỏi cơ sâu cũng chẳng hùng.

Tuy có mưu lược, có cơ sâu nhưng cũng chưa phải hùng.

Nếu quả thế gian tướng vô địch,
Đợi gì gươm giáo mới là hưng.

Nếu là tướng vô địch thì không cần gươm giáo, không cần phải kêu gọi chi cho ồn. Tuy bị chê như vậy, nhưng ngài Thụy Nham sau này cũng là một vị Tổ. Vì mỗi người tự biết bệnh mình, nếu ngồi lâu dễ gục hoặc dễ chạy theo vọng tưởng thì phải tự gọi cho tỉnh. Như vậy đối với ngài Thụy Nham là có lợi, nhưng so sánh với những Thiền sư khác thì thấy hơi ồn, còn nghiêng về hình thức.

Mục Lục