Thiền Tông Việt Nam
Nắng Mới Trong Vườn Thiền
Dạy Ni Chúng Nhân Ngày Mãn Hạ

Kính thưa toàn thể chư Ni, vừa qua ban lãnh đạo Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức Ni trình bạch kết quả tu tập của Ni chúng qua ba tháng an cư. Tôi rất hoan hỷ. Đây là mùa an cư thứ hai của viện, nhưng lại là mùa an cư thứ nhất của ni chúng được tác pháp đúng như pháp như luật.

Hôm nay là ngày tiền tự tứ, chư Ni trình bạch lên quá trình tu học và công tác của Ni chúng trong ba tháng an cư, ngày mai chúng ta sẽ làm lễ tự tứ. Chữ tự là tự mình phát lồ, chữ tứ là tha hồ thỉnh. Giống như lễ thỉnh nguyện của thiền viện, Hòa thượng Trúc Lâm đưa ra Thanh quy trong đó lời văn thỉnh nguyện có hai phần: Phần một là lời tác bạch tự kiểm trong một tháng qua của mỗi thiền sinh. Chúng ta đã có những lỗi lầm sơ suất gì, còn yếu kém chỗ nào, này trước đại chúng xin sám hối. Phần tiếp theo là thỉnh cầu đại chúng vì mình chỉ lỗi. Phần này nằm vào chữ tứ trong hai chữ tự tứ. Đại chúng có quyền góp ý, xây dựng, chỉ lỗi của bất cứ vị nào có mặt trong buổi lễ thỉnh nguyện. Vị được chỉ lỗi phải hết sức hoan hỷ, vui vẻ nhận những sai lầm để sửa đổi. Do bất giác nên mình không tự thấy lỗi, nay được đại chúng chỉ, chúng ta thành tâm sám hối thì hết tội.

Sám hối có nghĩa là sám trừ tội trước hối cải lỗi sau. Sám trừ tội trước là những tội lỗi chúng ta tự biết hoặc huynh đệ chỉ cho biết, khi đó mình thành khẩn tha thiết quyết tâm sám hối. Tự khắc tự hứa với tinh thần biết lỗi, đã sám hối thì nhất định không cho tái phạm. Đó là ý nghĩa cao đẹp nhất của sám hối và cũng là tinh thần tự tứ của chư Tăng Ni trong đạo Phật. Phần trước tự mình sám hối tức là tự nguyện chừa bỏ, dứt khoát không có biện luận gì về những sai lầm đã qua. Có sám hối, có chừa bỏ, cố gắng thu học thì Tăng Ni mới thanh tịnh. Từ tâm thanh tịnh trí tuệ phát sanh thì việc tu mới có kết quả lợi lạc.

Chúng ta tu học mà trong lòng còn những tăm tối, ưu tư thì việc hành trì chưa vững. Chỉ khi lòng rỗng rang mới được lợi lạc, an vui. Sở dĩ chúng ta khổ là vì trí chưa sáng. Thiếu cơm ăn áo mặc chưa phải là khổ, thiếu trí tuệ mới thật là khổ. Do vì thiếu trí tuệ nên ta đã để vọng tưởng khuấy động thành phiền não, chưa đủ trí tuệ nên chưa tin được tâm mình, chưa kiên quyết tu học tới nơi tới chốn. Chính những dây mơ rễ má này dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Một khi mắc Tuệ mở sáng sẽ từ được tất cả khổ não, vững niềm tin tiến mãi không dừng.

Nếu chúng ta luôn vững niềm tin thì việc tu học sẽ tăng tiến, càng tăng tiến càng có niềm vui, mạnh mẽ dứt khoát và vững vàng hơn. Khi ấy trí tuệ bắt đầu sống dậy. Nói sống vậy là một cách nói chứ nó có sẵn nhưng chúng ta để phiền não bu bám nhiều quá nên nó dậy không nổi. Bây giờ chúng ta đánh thức, tháo gỡ những bu bám chung quanh thì trí tuệ hiển lộ. Được như vậy đại chúng sẽ vững niềm tin đối với chánh pháp, nhất định ngay trong đời này hưởng nhiều lợi lạc.

Tu hành làm sao để có được niềm vui? Đây là điều bất cứ người tu Phật nào cũng phải đặt ra. Quý vị nên nhớ người tu hành chân chánh, trong mọi hoàn cảnh đều được sự hộ trì của Tam bảo, cho nên cứ vững tâm mà tiến. Tuy nhiên, chúng ta cũng không hoàn toàn trông cậy, ỷ lại vào tha lực bên ngoài. Chúng tăng là một trong ba ngôi báu. Đức Phật là ngôi báu thứ nhất nên chúng ta tin lời Phật dạy. Niềm tin chân chánh đồng nghĩa với phát tâm Bồ-đề. Phát tâm Bồ-đề tức là phát tâm giác cầu thành Phật chứ không cầu gì khác. Chúng ta hướng về Phật, Phật hộ trì cho mình tu hành theo lời Phật dạy để được giác ngộ giải thoát như Ngài. Khi phát huy được trí tuệ chân thật chúng ta sẽ có một năng lực tự thân, chứ không phải cầu Phật ban cho ân sủng. Trong đạo Phật không có chuyện ban phước giáng họa, giáo pháp của Phật như ngón tay chỉ mặt trăng. Mặt trăng này là mặt trăng thật của mỗi người. Do đó, huynh đệ phải phát tâm dũng mãnh, cương quyết tiến chứ không lui, đồng thời nhờ sự hộ trì của Tam bảo, chắc chắn sẽ thành tựu được chí nguyện của mình.

Ngay từ thập niên 70, Hoà thượng đã chính thức công bố khai mở đạo tràng hướng dẫn Tăng Ni tứ chúng tu học theo thiền tông. Tăng Ni Phật tử đã hướng tâm về tu ngày một đông đảo. Nhờ sự hộ trì của Tam bảo, từ lúc không có gì hết, Hòa thượng đã thành lập ra nhiều thiền viện, đạo tràng Phật tử quy hướng tu thiền càng đông, từ đó Ngài phát tâm khôi phục Thiền tông Phật giáo Việt Nam, hướng dẫn chỉ dạy cho Tăng Ni tu thiền Việt Nam. Tăng Ni đã có mặt và ngài đã làm tròn sứ mệnh của chính mình. Các đạo tràng phát triển, mở mang suốt một dọc dài từ thập niên 70 cho đến tận ngày nay. Năm 2000 Hòa thượng Trúc Lâm tuyên bố nghỉ ngơi, nhưng nhờ Tam bảo hộ trì mà Thiền tông vẫn vững bước và phát triển đến hôm nay. Tuy nhiên, Tăng Ni chúng ta phải phát huy uy lực Bát nhã, dũng mãnh tu học mới có thể thành tựu như nguyện.

Suốt mấy mươi năm khôi phục thiền tông, cũng có những giai đoạn thăng trầm, nhưng với niềm tin kiên cố vào dòng Thiền Phật giáo đời Trần, đã giúp cho Hòa thượng vững tâm tiến bước. Khi ở trên núi Hòa thượng nêu cao tông phong Phật tổ, xuống đồng bằng ngày cũng tuyên bố tông phong Phật tổ ngay nơi này chẳng tìm đâu xa. Thế là Tăng Ni Phật tử từng bước quy tụ về học tập, nhận và hành trì để từ đó tăng trưởng niềm tin vững chắc vào pháp môn Thiền. Các thiền viện ngày càng khởi sắc, Tăng Ni tu học ngày càng đông. Đây là thành quả về sự phát tâm hướng đến con đường xuất thế.

Thiền viện Chân Không là thiền viện đầu tiên, là gốc phát sinh dòng Thiền của Hòa thượng Ân sư. Đến năm 1975 mạch nguồn Thiền tông lại lên lỗi về mảnh đất Long Thành - Đồng Nai, Thiền viện Thường Chiếu ra đời. Nơi này giờ đây đã trở thành Tổ đình quy tụ Tăng Ni tứ chúng, môn học của Hòa thượng tập trung về tu thiền rất đông. Đến nay Hòa thượng tuyên bố ngừng nghỉ, an dưỡng thân tâm. Suốt dọc dài Thiền viện Thường Chiếu đã phát huy được tông phong, có thể nói chính nơi này Hòa thượng đã khôi phục trọn vẹn dòng thiền Việt Nam, nên Thường Chiếu được xem là Tổ đình trong tông môn.

Những ngày đầu về Thường Chiếu tu học, Hòa thượng đã sửa đổi Thanh quy, phần chính là tu học và lao động. Do đó, Ngài sắp đặt những vị chịu trách nhiệm kế thừa hướng dẫn Tăng Ni tu học và lao động thật tốt. Thường Chiếu thuở ban đầu đất trời bao la, cỏ gai mịt mù, nắng cháy da người, chư tăng mở đất cuốc rẫy trồng khoai. Anh em thường nói Thanh quy của Hòa thượng giống như của tổ Bá Trượng, một ngày không làm là một ngày không ăn. Thầy đặt ra như vậy và dạy chúng tôi là những người đầu tiên, có nhân duyên với thiền viện với Thầy nên phải tích cực thực hiện cho kỳ được Thanh quy ấy. Hồi xưa chúng tôi không biết gì hết, thầy dạy sao làm vậy, bảo lao động thì lao động, bảo học thì học, bảo tu thì tu... Nhìn lại những bước tập tành ban đầu, bây giờ chúng tôi cảm động vô cùng.

Về Thường Chiếu cũng có vị không khắc phục nổi, không kham với những khó khăn ở đây nên anh em rút lui. Chỉ còn lại một số ít, Hòa thượng vẫn vui vẻ hướng dẫn tu học theo đường lối Thiền tông. Lúc đó sau giờ ăn sáng, hay sau giờ tụng kinh buổi tối, bất cứ giờ nào Hòa thượng cũng có thể ngồi lại chỉ dạy Tăng Ni. Những năm này tình cảm thầy trò rất thân thương, gần gũi. Mỗi lúc lao tác công cộng, ăn cơm không có áo hậu, Thầy bắt một chiếc ghế ngồi bên, Tăng Ni đếm tới đếm lui 10 vị là cùng, vậy mà với tâm huyết khôi phục Thiền tông, Hòa thượng đã nuôi dưỡng bảo vệ hình thành chư Tăng Ni ngày một đông đảo. Ban đầu từ con số 20 người, rồi rụng dần còn không đầy 10 vị. Thế nhưng sau đó tăng dần lên đến cả trăm. Từ đó Hòa thượng chỉ dạy và hướng dẫn quy cũ hơn, thầy trò mặc đi mặc áo đàng hoàng, giờ giấc quy định rõ ràng. Tham vấn, tiểu tham được đưa lên thành thời khóa.

Giờ tiểu tham rất vui và đạt nhiều kết quả. Sau khi tụng kinh, huynh đệ tập trung về phương trượng của Thầy. Phương trượng là một căn nhà lá bốn cây cột gỗ, một cửa đi ra phía trước và hai cửa sổ bằng tôn hai bên, phía sau không có cửa thoát. Phương trượng của Thầy cũng như tất cả các thất ngày xưa trên Chân Không không có cửa sau. Nhiều người lấy làm lạ thưa: - Hòa thượng cất nhà sao không có cửa thoát? Hòa thượng nói: Tuyệt đối không có lối thoát, nhất định phải tiến thôi. Điều này thể hiện sự cương quyết về con đường Ngài đã chọn, đi cho đến nơi đến chốn, chứ không dừng không quay lại bao giờ.

Tôi là người được nhân viên giữ phương trượng của Thầy. Sau này khi Ngài về Thường Chiếu, tôi được Hòa thượng cho phép cất một cái thất kế bên, trên đường đi vào thất Thầy. Thất này ban đầu cất bằng tôn cũ, hai cửa sổ một cửa trước, không có cửa sau. Một là chết hai là tiến, ý nghĩa của nó là như vậy. Ngày trước chúng ta không có phương tiện ghi hình, nên những hình ảnh này hiếm lắm, nhưng nó đã in trong trí tôi. Mỗi lần nhớ lại thật sự rất cảm động. Những buổi sáng Thầy chống gậy ra rẫy chỉ chúng cuốc đất trồng rau, buổi chiều Thầy cùng chúng gặt đậu phộng, tụng kinh xuống Thầy trò cùng tập trung ngồi lặt đậu phộng. Những ngày làm lúa, Thầy lội xuống ruộng coi và chỉ dạy Tăng Ni phải làm như thế nào. Những ngày khai ruộng mở đất khu vực giáp ranh với Thường Chiếu - Linh Chiếu, Thầy luôn có mặt và sắp đặt chỗ nào san bằng chỗ nào trồng cây... Hòa thượng là một bậc thầy tận tụy, bi trí tròn đầy, đã vì đàn con luôn kề cận một bên chỉ dạy.

Ở khoảng tuổi của tôi, Thầy rất tích cực, năng nổ. Những năm về Thường Chiếu, Thầy trên 60 nhưng rất khỏe. Tôi bây giờ cẳng chân sưng vù, đi lại không khác Tôn Tẩn, không bì được với bậc Thầy của mình. Tôi nhắc lại chuyện ngày xưa như vậy để động viên tinh thần tu học cho Tăng Ni. Chúng ta đang ở vào giai đoạn ban đầu, còn nhiều khó khăn bề bộn, nhưng sướng hơn thời trước rất nhiều. Điều kiện hôm nay không đến nỗi thiếu thốn như ngày xưa, khó khăn cho các huynh đệ mới vào viện chỉ là vì chưa quen nếp sống thiền môn mà thôi.

Tôi nghĩ nếu như buổi đầu Hòa thượng Ân sư gặp được hoàn cảnh thuận lợi như chúng ta bây giờ thì tất cả mọi Phật sự trong tông môn chắc chắn được mở mang và dòng thiền Phật giáo Việt Nam sẽ được truyền bá rộng khắp các nơi nhiều hơn nữa. Có những lần Hòa thượng muốn mở mang truyền bá Thiền tông về miền Tây hay ra miền Trung nhưng lại quay về, nhân duyên rất khiêm tốn. Nhưng bây giờ thì khác, Tăng Ni Phật tử khắp cả ba miền hâm mộ tu thiền vì đã có nơi để nương tựa tu hành theo đường lối của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Phúc duyên và tâm hạnh của Hòa thượng quả thật quá lớn nên chiêu cảm đến con cháu đời sau cũng được mở mang và phát triển ngày càng tốt đẹp hơn.

Đó là tôi nói cơ duyên được Tam bảo gia hộ và cho tới bây giờ chúng ta cũng đủ duyên lành được Tam bảo hộ trì. Tại Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức - Viện Ni, Ni chúng đã cùng nhau tu học qua mùa an cư thứ hai, huynh đệ thanh tịnh hòa hợp, đây là điều đáng mừng. Ngoài ra, có các Phật tử học pháp, cảm nhận được Phật pháp nhiệm mầu nên phát tâm xuất gia tu học. Điều đáng tuyên dương là nhóm chư ni do sư cô Huệ Hiền dẫn đầu đã vì Phật sự chung, phát tâm về đây từ những ngày đầu, chịu trách nhiệm bên bộ phận Tri Khố, lo việc ăn uống cho Tăng Ni và công thợ trong suốt thời gian thi công. Tôi xin được trân trọng tán thán công đức này của chư Ni.

Hiện tại tôi thấy số Ni chúng ở đây cũng không dưới năm mươi vị, đây là nhân duyên lành được Tam bảo hộ trì, được thiện hữu tri thức, đàn na thí chủ hỗ trợ, để chúng ta hình thành một tổ chức sinh hoạt tu học tốt đẹp. Hôm nay, với niềm vui của một hành giả sau quá trình ba tháng thúc liễm thân tâm, ni chúng có được những thăng tiến về định tuệ, xứng đáng nhận một tuổi Phật, nhận lễ tự tứ. Từ đó quý vị lại càng phấn chấn hơn, phát huy việc tu học cho được thành tựu viên mãn.

Trong công phu tu hành, nếu như huynh đệ nhận ra được cái chân thực của bản tâm thì nội tại tu học rất vững vàng, nhất định không có trở lực nào có thể lay chuyển mình nổi. Như tất cả quý vị đều biết, bài kinh Bát-nhã chúng ta tụng mỗi ngày, Phật dạy "chiếu kiến ngũ uẩn giai không", nghĩa là dạy chúng ta soi rọi lại thân tâm này, biết rõ nó là không thật liền vượt qua tất cả khổ ách. Giản dị như vậy nhưng vì chúng ta ít chịu soi rọi lại, nên còn nhiều vấn đề vướng mắc. Bây giờ đề nghị chưa huynh đệ kỹ càng soi rọi lại chỗ này, tức là chiếu kiến.

Trong ngũ uẩn chia làm hai: Thân và tâm. Thân là sắc uẩn. Sắc uẩn gồm bốn thứ: chất cứng, chất nóng, chất khí, chất lỏng. Như phần xương cứng thuộc về địa đại, hơi ấm trong người thuộc hỏa đại, hơi thở là phong đại, chất dịch là thủy đại. Bốn thứ này vốn không thật, chúng sanh diệt biến đổi liên tục, nên biết thân tứ đại cũng theo đó thay đổi bại hoại. phần tâm cũng gồm có bốn thứ: cảm thọ, tưởng tượng, suy nghĩ, biện biệt. Hiện chúng ta đang sống bằng những thứ đó. Thân vật chất đi đứng nói năng là do sự điều động của tâm thức bên trong. Chúng ta phân biệt thấy biết cái này là cây cột, là nhà, đường đi, người nam, người nữ, người già, người trẻ, người xấu, người đẹp... biết rõ hết nhưng mà là cái biết do thức tâm vọng tưởng phân biệt mà ra.

Trong kinh Phật nói thân ngũ uẩn giống như những con rắn độc được nhốt chung trong một cái lồng. Chúng luôn xâu xé nhau, vậy mà người chủ nuôi rắn rất sợ mất chúng. Lồng này vừa mất lại tìm lồng khác để nuôi tiếp. Phật, Tổ đã bảo đó là vọng tưởng vậy mà chúng ta vẫn ôm cứng nó đến phải khổ não dài dài. Bốn con rắn độc cắn nhau cho tới chết mới thôi. Lạnh quá chết, nóng quá chết, thở không được chết... không có gì tồn tại, vì nó không có chủ thể. Càng vọng tưởng thì càng điên đảo hơn, song vì chúng ta chưa đủ trí tuệ để nhận ra được chân tướng của nó, cứ tưởng nó là mình, là thiệt, là sự sống của mình.

Bây giờ, chúng ta chiếu kiến làm sao để thấy tứ đại không thiệt, nguy hiểm như bốn con rắn độc nhốt chung một lồng, nhất định chúng sẽ cắn nhau cho tới chết. Như bị nước nhiều hay gió nhiều người ta nói chết ngợp, chết ngạc, chất cứng nhiều thì chết cứng... Ngày nào thân này mất đi mình đâu biết được, vậy mà cứ lo bảo vệ, giữ gìn, ai đụng tới không được, trang sức cái này, cái kia cho đẹp, muốn cho nó sống hoài trăm năm. Chúng ta thấy người đời luôn chúc nhau sống trăm năm, vừa rồi có Phật tử chúc tôi sống trăm tuổi, nghe khiếp quá. Mới năm mươi, sáu mươi tuổi mà đi chống gậy rồi, trăm tuổi chắc phải khiêng quá.

Chúng ta cứ ôm giữ những ước mơ, vọng động điên đảo, không thiệt cho là thiệt. Nó ngắn ngủi, giòn bở, dễ hư hoại mà con người cho là tồn tại chắc thực nên khổ. Bây giờ chiếu kiến tức là soi rọi, thấy nó không thiệt, là đồ giả hợp, là rắn độc thì sẽ bỏ được thôi. Huynh đệ chúng ta ai nhận ra thân tâm này là hư huyễn, chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì sẽ nhận ra tánh không. Tánh không ấy tức là cái không cố định, không dính mắc vào bất cứ thứ gì hết. Hòa thượng dạy chúng ta phải buông vọng tưởng, biết nó không thiệt nên không chấp nhận, không theo thì nó không dẫn chúng ta đi đâu được. Người đó là người tỉnh, có định tuệ. Có tỉnh, có định tuệ, tức người đó làm chủ được mình, mở ra một chân trời thênh thang để thấy rõ pháp thân bất sanh bất diệt hay đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên, cuối cùng bài tâm kinh Phật nói rằng người nào chiếu kiến ngũ uẩn giai không người đó sẽ được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Hòa thượng trúc lâm dạy: Vừa có một dấy niệm gì mà chúng ta buông được, không tin nhận, không chạy theo, không để nó kéo lôi, chúng ta hoàn toàn chủ động thì có trí tuệ. Có trí tuệ, tức là mở được chân trời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, thành tựu hoàn toàn trí tuệ Bát-nhã. Giản dị như vậy, không có gì khó khăn dài dòng. Tôi nói hơi dài dòng, chỉ khi nào chư huynh đệ nghiệm ra rồi sẽ thấy vào được nơi đó là rỗng rang sáng suốt, là chân trời tịnh thanh. Nếu bước lùi trở lại thì chúng ta rơi vào trong hố thẳm vọng tưởng điên đảo, nếu bước thẳng tới trước thì chúng ta đặt chân vào khung trời tịnh thanh, rỗng rang, sáng suốt, đời đời được an vui, giải thoát và giác ngộ. Hành giả nào nhận ra sống được chỗ đó, tức là người có lực, có thể làm chủ được việc sanh tử, là người biết chọn đường đi tự tại giải thoát trong mọi thời, mọi hoàn cảnh.

Hôm nay trong nhân duyên lành, tôi thay mặt chư Tăng về đây trước là lễ Phật và ghi nhận lời phát lồ trình bạch của Ni chúng Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức - Viện Ni. Vừa qua tôi cũng đã nói lên một vài kinh nghiệm trong đời tu hành và có kể rõ giai đoạn hành pháp với tâm huyết khôi phục Thiền tông của Hòa thượng Ân sư. Mong mỏi toàn thể chư huynh đệ ai cũng phát tâm dũng mãnh hướng tới trước. Đối trước Tam bảo, các bậc Thầy Tổ, chúng ta phát nguyện tu học chừng nào sạch hết ba nghiệp tham, sân, si mới vừa lòng. Cố gắng soi rọi để thấy rõ thân ngũ uẩn này không thiệt, chúng ta không dính mắc, không vì nhu cầu của nó mà tác nghiệp. Huynh đệ yên lòng, vững tiến trên bước đường tu học cho tới chừng nào đạt được pháp thân thanh tịnh, tức đạo vô thượng chánh đẳng, chánh giác.

Hướng về Tam bảo, tôi luôn chúc nguyện cho đại chúng lúc nào cũng được an vui, khỏe mạnh, tâm Bồ-đề kiên cố, kiên quyết trên bước đường tu học. Nhất định là chúng ta phải làm chủ được thân tâm này, giải quyết được vấn đề sinh tử của chính mình và thực sự bước vào chỗ thanh tịnh chân thật, giác ngộ giải thoát.

Mục Lục