Thiền Tông Việt Nam
Nắng Mới Trong Vườn Thiền
Nhìn Lại Mình

Hôm nay tôi muốn chia sẻ với chư huynh đệ về công phu tu hành. Những điều này phần nhiều được rút ra từ kinh nghiệm bản thân, những khó khăn và khắc phục qua mỗi giai đoạn tu hành của tôi.

Chúng ta nên có một cách nhìn đúng đắn về đạo Phật, từ đó gầy dựng nền tảng cho mình qua việc áp dụng những lời Phật dạy trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, mình chỉ hiểu và nhận được những lời Phật dạy qua sự giảng giải, hướng dẫn của các vị Tôn đức ngay trong thời điểm đó, còn khi đi vào tu tập, thực hành thì đòi hỏi mình phải có sự chuẩn bị, tiếp thu và cả thực lực công phu.

Tại thiền viện chúng ta có hai thời thiền đầu đêm và cuối đêm. Trong hai thời thiền đó, biết bao vọng tưởng lăng xăng dẫn mình đi hoặc tình trạng hôn trầm diễn ra thường xuyên. Muốn giảm bớt hay chấm dứt những hiện tượng ấy, tiến tới định tâm quả thật khó khăn, không biết phải làm thế nào. Tuy nhiên, người xưa làm được tại sao mình làm không được. Chúng ta tự đặt ra câu hỏi mình còn vướng điều gì đây? Trong công phu cần biết điều hòa hơi thở, điều thân, điều tâm. Để đạt được những điều đó phải sử dụng trí tuệ của mình thật vững, thật chắc. Trí tuệ khi đã phát huy được thì có thể nói sự tu tập đạt đến tám, chín mươi phần trăm.

Thấy vậy đó nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Có nhiều bữa chuẩn bị thật tốt, bắt chân lên ngồi nghiêm chỉnh, nghĩ rằng sẽ được an ổn trong một tiếng rưỡi hay hai tiếng đồng hồ. Nhưng loay hoay mình vẫn cứ ở ngoài, chưa vào được định, chưa sống được với chân tâm vô niệm. Thậm chí vọng tưởng còn dẫn mình đi lúc nào không hay nữa. Chính bản thân tôi đôi khi cũng không thoát khỏi tình trạng này.

Khi tôi mới theo học với Hòa thượng Trúc Lâm, Ngài dạy giờ nào việc đó. Đến giờ tọa thiền thì tọa thiền, chấm dứt hết các việc khác. Thiền sinh phải có thái độ dứt khoát và mạnh mẽ. Nghe tiếng kiểng báo giờ tọa thiền, mình rửa mặt sạch sẽ, mặc áo lên thiền đường ngồi nghiêm chỉnh. Phải có thái độ dứt khoát mạnh mẽ, chứ không được xem thường. Ai có thái độ lưng chừng, lơ lửng, bất an thì bị vọng tưởng chôn vùi, dẫn vào tăm tối.

Tôi nhận ra rằng trên 30 năm áp dụng lời Phật dạy vào đời sống của mình, thấm nhuần vào máu vào tủy không phải là chuyện đơn giản. Thấy thì hiểu, nhớ, thông suốt nhưng vào sâu trong công phu thì còn rất nhiều khó khăn. Đây là chỗ nhất định chúng ta phải đả thông để thật sự vào được chỗ an ổn định tĩnh.

Trong những lời Phật dạy, không bao giờ Ngài nói lời bi quan để chúng đệ tử thối chỉ nản lòng. Phật nói khổ đế, sau đó liền đưa ra nguyên nhân và cách diệt khổ, nêu lên Niết bàn an vui thực tại. Đức Phật không để cho chúng ta chết trong lý thuyết, trong khổ đau. Pháp của Phật cao siêu nhiệm mầu, giúp chúng sanh nhận ra thực chất của cuộc đời là khổ, không thật và dạy chúng sanh phương pháp tu tập vượt lên nỗi khổ ấy. Có người cả đời chỉ mong muốn một điều gì đó, mải mê chạy theo rồi cuối cùng cũng không được gì hết thì quả thật là khổ rồi. Phật chỉ ra cho chúng ta nguyên nhân của khổ là từ mình. Phật nói khổ không thiệt, nhắm ngay cái gốc đó mà trị thì khổ sẽ hết tức thì.

Biết rõ điều đó nhưng mình cứ lan man, không thực hành theo lý thuyết đã học, không có thái độ dứt khoát. Do vậy, nên tu hoài vẫn chưa hết khổ. Trong hàng đệ tử của Phật, người xuất gia như chúng tôi, hàng Phật tử tại gia như quý vị thiện nam tín nữ có thể nói cho tới bây giờ đâu có vị nào không nhớ, không thuộc những lý thuyết thông thường này. Nhưng trong đời sống thường nhật, chúng ta có áp dụng nổi chưa? Thực sự mà nói cũng có khi mình buồn, mình khổ rồi mình hụt hẫng bởi những điều không như ý. Đây là chỗ hạng phàm phu chúng ta thường mắc phải.

Phật nói rõ khổ đế rồi sau đó nói đến tập đế. Thế Tôn chỉ rõ nguyên nhân của khổ là từ ba nghiệp, tức là từ bản thân chúng ta chứ không do ai hết. Từ mình thì cái gì là nguyên nhân chính tạo khổ. Thấy được nó rồi mình tu tập từ từ sẽ hết khổ. Đó là khát ái, tức điều mình nắm giữ, ôm giữ, cố chấp của mình. Ta không dám buông, vẫn còn bám víu nó, nghĩa là chưa vận dụng trí tuệ thật quyết liệt, thật mạnh mẽ. Vì thế nên còn nhiều vướng mắc.

Tôi kể một kỉ niệm trong thời gian ngồi thiền từ bốn mươi, năm mươi phút sang một tiếng rưỡi, hai tiếng đồng hồ. Đây là giai đoạn băng qua một khu rừng lầy lội, khó chịu, đủ những thứ không như ý. Tâm trạng này dường như là tâm trạng chung của tất cả hành giả tập ngồi thiền. Năm xưa khi ở Chân Không, vào khoảng thời gian chừng sáu bảy tháng học ngồi thiền, anh em chúng tôi hầu hết đã vượt qua được cái đau và ngồi vững một tiếng đồng hồ. Cũng có người phải ráng hết sức để vượt qua cơn đau. Ngồi được một thời gian, Hòa thượng lại nâng lên thêm hai mươi lăm, ba mươi phút nữa. Chư huynh đệ, lúc đó chúng tôi phải cố gắng, cố gắng rất nhiều. Sự cố gắng này là do công ơn chỉ dẫn từng phút giây của Hòa thượng.

Ngày xưa Thầy trò sống trên núi không có bao nhiêu người, Thầy và tám, chín đệ tử thôi. Cho nên giờ tụng kinh, giờ thiền có Thầy, giờ nào cũng có Thầy. Chúng tôi ráng lắm để vượt qua sự đau nhức, vượt qua khí hậu nóng bức khó chịu bên ngoài, thậm chí thân thể còn bị đau nhức quằn quại. Sự quằn quại đó mới đúng là "khổ đế", mình nói khổ đế mà vươn lên không nổi. Nhiều hôm thấy chúng tôi đau quá, ai nấy đều nhăn nhó, nhún tới nhún lui, Thầy đánh kiểng cho xả thiền. Tuy nhiên, sau đó Thầy vẫn giữ nguyên thời gian tăng lên như thế, chứ không giảm bớt.

Thầy đã hướng dẫn anh em chúng tôi bước lên từng chút, từng chút, mỗi lần như vậy là một phút hai phút. Đại chúng biết không, mình ngồi chơi một phút, hai phút ăn thua gì đâu mà ráng ngồi thiền thêm một phút, hai phút thì cứ như là chân mình bị cháy bỏng, đau hết sức. Thật ra, đó chỉ là những ảo giác, khi nghiệm lại lời Phật dạy, mình thấy nó không thiệt, quả thật là không thiệt. Bởi vì nó đau dữ lắm nhưng kéo chân để xuống là hết đau liền, giống như mình bị nó gạt. Ráng chút nữa mà ráng không nổi. Kỳ lạ.

Tôi nhớ lại sử các vị thiền sư Trung Hoa hoặc Việt Nam sống trong rừng trong núi, ăn cỏ cây mà cương quyết nhất định, một khi đã ngồi thiền thì chết bỏ không xả trước. Không có vị nào xìu xìu, ểnh ểnh như mình nên các ngài mới đạt được đạo quả. Một nỗi khổ nhỏ từ sự đau nhức của tế bào, của thân tứ đại khi nó bị kìm kẹp, bị bế tắc mình không vượt qua được thì khi đối diện với nỗi khổ sanh tử, làm sao chúng ta có thể thắng nổi nó. Hòa thượng nói: "Người xưa có thể ngồi thiền ngày này qua ngày khác nên mới có thể vào định một cách dễ dàng". Tại sao người xưa làm được như vậy trong khi các ngài cũng là con người, cũng mang thân tứ đại như chúng ta, cũng hít thở, cũng sống ở những môi trường thế này mà tự khắc phục bản thân nổi, còn chúng ta lại không?

Nêu lên vấn đề như thế để chúng ta suy nghĩ. Suy nghĩ nhằm tìm ra phương pháp tu tập bù đắp lại cái dở của mình. Rõ ràng Phật không đưa ra nỗi khổ của cuộc đời để chúng ta bị rơi vô hầm bẫy đó, mà Như Lai nói để chỉ ra nguyên nhân của khổ, rồi khuyến khích chúng ta tu tập chấm dứt nguyên nhân ấy. Nên biết một khi bước vào con đường thực tập tích cực là chúng ta đang muốn thăng hoa, muốn đạt được thành quả tốt đẹp là dứt khổ được vui.

Trong thời gian tọa thiền, huynh đệ chúng tôi đã tìm cách để áp dụng điều này. Thấy chúng tôi ngồi đau khổ, Thầy hỏi: - Đau không? Thưa: - Dạ đau, đau lắm. Đụng tới cái chân là nó giựt, đau dữ lắm. Thầy hỏi cái đau đó thiệt hay giả, không ai dám nói giả. Tại vì mình đang đau thiệt chứ không có đau giả đâu. Thầy bảo: - Mấy chú kéo xuống thử coi, kéo xuống là hết đau liền. Nếu thiệt thì nó đau hoài, làm sao hết đau được. Nên biết nó là giả, mấy chú cương quyết tìm xem cái nguyên nhân của nó là gì đây?

Huynh đệ chúng tôi xem tới, xem lui cuối cùng thì như những điều Hòa thượng đã chỉ dạy, từ những kinh mạch, những tế bào, những chỗ hơi bị bế tắc một chút thôi, nó sẽ đả thông. Người xưa đã ngồi như vậy quanh năm suốt tháng, các ngài ngồi được mà tại sao bây giờ chỉ một tiếng hay hơn một tiếng đồng hồ mình ngồi không được. Vì vậy, phải lập trí ráng lên một chút, cộng thêm những lời dạy của chư vị tôn đức ở trong tùng lâm từ xưa nay, chúng ta sẽ có thêm sức mạnh để yên ổn tọa thiền.

Hòa thượng nói: “Mấy huynh đệ tập cho nghiêm chỉnh, sáu tháng thôi là ngồi được hết”. Tôi thấy ngồi thiền thật ra không khó khăn gì mấy, ráng tập là được. Chúng ta có điều dở là nói buông mà buông không được, chứng tỏ mình chưa sử dụng hết trí tuệ trong công phu. Khi tu tôi thấy rất rõ, có những bữa vào thiền khoảng chừng ba mươi phút, trong người lâng lâng, thân nhẹ, cảm giác đau đớn không còn. Những bữa như vậy thích thú lắm, ngồi hoài cũng được. Nhưng khi xả thiền, được Hòa thượng chỉ dạy đó là giả không phải thiệt, không nên cho đó là sở đắc rồi chắp chặt. Hành giả không khéo đến lúc thân khinh an nhẹ tênh, tiến dần tới thiền duyệt, trong tâm an lạc có khi lại bị vướng mắc nên không tiến xa được.

Hòa thượng cho biết, đôi khi sau những cảm giác thọ lạc về thân đó hành giả lại thấy sợ hãi vô cùng. Người tu thiền rất kỵ các thứ cảm giác sợ hãi, vui, buồn, khổ. Vui quá cười lên là hỏng, buồn quá khóc mướt cũng không được, sợ quá run rẩy, la hét… đều là những cơ hội cho ma xâm chiếm. Do được răn nhắc như thế nên chúng tôi ít dám tiến đến nữa, chỉ cảm giác thân nhẹ tênh một quãng thôi rồi trở về với chính mình. Không có kinh nghiệm trong công phu tọa thiền, hành giả dễ rơi vào chấp thủ, những điều không thể dứt khoát một cách triệt để, đó là vì trí tuệ chưa tới. Nếu thiếu kinh nghiệm, tu đến chỗ yên ổn mà chưa giám sát, chưa biết rõ ràng sẽ sanh ra vướng mắc, không chủ động được, cứ thụt tới thụt lui hoài, không tiến được. Như vậy trải qua trong một thời gian hết sức dài.

Chúng ta nguyện tu cho hết phiền não, cho sạch ba nghiệp tham sân si, cho thành Phật nhưng cuối cùng phiền não vẫn còn, ba nghiệp vẫn nguyên, cứ loanh quanh luẩn quẩn với chúng sanh si mê. Đó là một điểm yếu. Nguyên nhân từ chỗ mình không vận dụng trọn vẹn trí tuệ để thấy rõ từng vấn đề. Làm sao để có thể vận dụng, phát huy và bảo vệ trí tuệ của mình? Phải để tâm yên định, dẹp bỏ phiền não vọng tưởng lăng xăng hết đi. Có trí tuệ nhưng đạt đến mức độ nào, chúng ta chưa biết và quả thật mình chưa đủ trí tuệ đảm bảo phá dẹp hết tất cả vọng động và ba nghiệp mê lầm.

Phật bảo mỗi chúng sanh đều có trí tuệ Bát Nhã. Người xuất gia như Tăng ni chúng ta cảm thông, ghi nhận và xác thực lời dạy đó, dứt khoát không nghi ngờ gì hết. Chỉ có trí tuệ này mới trị được tất cả, dẹp sạch hết mê lầm, tiến lên vô thượng Bồ-đề, còn không thì mãi loay hoay, luẩn quẩn trong trầm luân sanh tử. Cho nên phải làm sao tác động cho trí tuệ của mình hiện tiền và phát triển. Giả sử buổi sáng mới thức dậy, đang sửa soạn chuẩn bị đi ngồi thiền, nghe Tri sự thông báo chuyện gì đó, mà chuyện này hoàn toàn vô lý khiến mình không giữ được bình tĩnh, nổi sùng lên. Sau đó nhận ra rằng mình đã nổi điên, nổi khùng mà không hay, trí tuệ mất tiêu đâu hết rồi. Tới chừng tìm ra thì thấy sai lầm nhiều quá, đã để lại dấu ấn không tốt cho đại chúng. Vì thế, chúng ta phải luôn tỉnh giác, áp dụng trí tuệ thường xuyên trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Dùng trí soi rọi đến tận nguồn sâu của mọi vấn đề, khi đó mình mới vững tâm tu hành.

Khi đã phát tâm thì phải thật dũng mãnh, nhất định sẽ đào sâu được trí tuệ vốn có của mình. Bây giờ chúng ta còn nói công phu thế này, nhìn sự việc thế kia, chưa có cách vượt qua, là vì chưa có trí tuệ chân thật. Tôi nêu lên điều này để chúng ta cùng có định hướng bước tiếp, bước sâu hơn nữa và thực hành tốt hơn công phu của mình. Khi đã thực sự bước vào công phu tu hành mỗi người tự có niềm vui trong nội tâm. Nếu chưa có sự hỷ lạc thì biết công phu chưa tiến, còn bị cản trở bởi rất nhiều tác động bên ngoài và trong nội tâm.

Kiểm lại trong đời thường đây, chúng ta phải tự ý thức rồi chủ động sắp xếp làm sao cho công phu của mình thực sự đĩnh đạc, thực sự vào được chỗ an lạc. Muốn thế cần phải xoáy sâu, cần áp dụng lời dạy của chư Phật, chư Tổ qua việc học tập kinh điển. Tự bản thân mỗi vị cố gắng, nỗ lực, tự mình vươn lên. Giả sử, sáng hôm nay mình dự định làm chuyện gì đó rồi một hồi có vấn đề khác xen vô, mình theo vấn đề mới, không nhớ việc đã dự định trước. Bữa nay quên, ngày mai quên, cái quên đó dần thành dấu ấn, thành thói quen xấu. Đến đây mình phải dùng trí tuệ soi rọi cho thật kỹ, để làm gì? Để biết việc nào nên làm, việc nào không nên làm, từ đó có hướng giải quyết chín chắn, không để vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn.

Quay trở lại vấn đề tu hành. Thật sự mà nói mình còn dở, còn bị cuốn lôi, bị chấp thủ, nhưng nếu gặp một nhân duyên tốt có thể dẫn mình bước được những bước lớn, vượt qua trở ngại, giúp cho việc tu học thành công tốt đẹp. Tuy bị chấp thủ nhưng mình có kiến văn, có hiểu biết và có thể tu được không khác gì người xưa, chỉ là hiện tại thực hành công phu chưa được đến nơi đến chốn. 

Trong công phu tu hành, chúng ta phải cương quyết, tuy còn đang trong tâm trạng dễ vui, dễ buồn, chưa quyết liệt nhưng đến lúc không còn thấy đau, không còn thấy thân, chỉ có tâm thanh tịnh trong sáng thì bấy giờ mình có tin tức tốt. Người xưa đến chỗ này rồi thì quyết liệt chứ không như chúng ta đâu. Bởi quyết liệt nên các Ngài dễ thành công. Đức Phật ngày xưa khi vượt thành xuất gia, Ngài đã hết sức dũng mãnh, quyết liệt. Một phen đi là không bao giờ trở lại nếu chưa thành đạo. Nhờ thế ngày nay chúng ta mới có Tam bảo để nương tựa, biết tu tập để bớt khổ được vui.

Phật dạy người tu luôn luôn dùng trí tuệ soi rọi bản thân và phải có sự cương quyết. Nếu không cương quyết, không sử dụng trí tuệ thì sự soi rọi ấy không đến nơi đến chốn. Nó chỉ lẩn quẩn trong vòng chấp thủ của ngã kiến, ngã ái, không thoát ra khỏi màng lưới vô minh. Đạo Phật hướng dẫn mọi người bằng con đường tri thức, con đường trí tuệ, chứ không dụ dẫn người ta bằng con đường tình cảm, mê tín. Phát huy được trí tuệ chân thật, thấy rõ mọi hiện tượng giữa đây để không bị nó câu thúc, không vướng mắc, không khổ đau trong triền phược.

Qua công phu thiền định, phát huy đầy đủ trí tuệ chân thật rồi, đức Phật khẳng định mỗi chúng sanh đều có trí tuệ, đều có khả năng thành Phật. Chỉ phát huy thành tựu nó mới mong giải trừ tất cả tham, sân, phiền não, khổ đau. Nếu không như thế, chúng ta đành phải chấp nhận kéo lê, kéo lết con đường sanh tử từ đời này sang đời khác, không biết đến bao giờ mới thôi dứt. Nếu người nhận định được như vậy thì công phu sẽ chắc thực. Tôi hy vọng trong pháp hội của mình, chư huynh đệ Tăng ni và tất cả các Phật tử, ai nấy đều hướng tới con đường thật tu, thật học. Đó là con đường đảm bảo giải quyết được sanh, già, bệnh, chết an ổn nhất.

Mục Lục