Thiền Tông Việt Nam
Bát Nhã Dạy Gì? - Thích Tâm Hạnh
Phần 1: Tổng Quan
Đọc tiếp →

Nhất tánh viên thông,

    thông Phật, thông tâm, thông vạn loại,

Vạn duyên trạm tịch, 

    tịch không, tịch sắc, tịch tư lương.

Một tánh viên thông, 

    thông Phật, thông tâm, thông vạn loại,

Muôn duyên vắng bặt, 

    bặt không, bặt sắc, bặt suy lường.

Đọc Bát Nhã, hiểu rõ lý Sắc - Không, bản chất cái hiểu đó cũng là sắc, và biết nó huyễn tức là không. Như vậy, hiểu sắc không, nhưng vẫn còn nằm trong ấy, cho nên mới tỏ được diệu nghĩa Bát Nhã.

Hơn cả hiểu, học nhơn tỏ rõ lý Sắc - Không của các pháp, nhẫn đến của tâm và pháp, thì rõ ràng vẫn chưa rời sắc không. Như thế, cũng chỉ mới thông diệu lý Bát Nhã.

Tỏ diệu nghĩa, thông diệu lý, nhưng chưa khéo nhận diệu chỉ, tức chưa ngộ Thể tánh hay Thực tướng Bát-nhã, cho nên thực tế là chưa có diệu lực để liền đó sạch hết tất cả khổ ách. 

Học Bát Nhã, hiểu rõ năm uẩn đều không thì chính cái hiểu đó là thức, cũng là một uẩn (thức uẩn).

Học nhơn nhớ hết văn kinh, thấm nghiệm và hiểu sâu hơn. Đây là nhờ tổng hợp nghĩa lý Phật dạy, so sánh với sự chiêm nghiệm bản thân trong thực tế và đời sống tu học, có ra sự thấy hiểu sâu hơn, vẫn chưa rời tưởng uẩn.

Tu tập, thông suốt diệu lý Bát Nhã, cảm thấy an lạc; đây lại là thọ uẩn, do còn thấy có mình cảm nhận sự an lạc.

Tất cả đều còn nằm nguyên trong năm uẩn, vì vậy Thực tướng Bát-nhã bị che khuất, và rõ ràng là chưa có diệu lực để liền đó vụt thoát, qua sạch sành sanh tất cả khổ ách như văn kinh Phật dạy.

Tu học Bát Nhã, phải khéo trực nhận Thực tướng Bát-nhã, trong ấy có đủ định tuệ và vô biên lực, cho hành giả tự tại, các khổ không đến kịp, liền qua hết thảy khổ ách.

Phần 1 - Tổng quan, sẽ đề cập đến yếu chỉ này.

I - KHÁI QUÁT CHUNG KHÉO NHẬN

1. KHÁI QUÁT CHUNG

1.1. Tựa kinh

Tựa kinh đầy đủ theo nguyên văn là: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh”. Trong đó Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa là chữ Phạn, còn Tâm Kinh là chữ Hán. Trong kinh Phật thường dùng Nhân, Pháp hoặc Dụ để đặt tựa đề. Ở đây dùng pháp Bát Nhã Tâm Kinh để đặt tựa đề kinh.

Chữ Ma-ha nghĩa là rộng lớn, to lớn. Chữ Bát-nhã là trí tuệ chân thật. Trí này bất động sáng ngời, diệu dụng bất khả tư nghì, khác với trí tuệ còn trong tương đối, tức còn động, có tướng, có giới hạn. Ba-la-mật-đa dịch là đáo bỉ ngạn, tức đến bờ bên kia, có nghĩa là cứu cánh viên mãn. Tâm Kinh là bài kinh ở ngay tâm (tại tâm) tức bài kinh vô tự. Nghĩa lý bên ngoài có chữ, còn kinh ở ngay tâm thì không có chữ gì, nhưng ứng cơ đối cảnh, nếu cần phương tiện thì trong đó tự lưu xuất vô vàn ngữ ngôn, diệu nghĩa... Đó cũng chính là cội nguồn của tất cả các nghĩa lý, là Tâm Kinh. Chữ Phạn và chữ Hán có cùng nội dung, cùng ý nghĩa như nhau và được sử dụng song song để nhấn mạnh Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh, không nhầm lẫn với trí tuệ thế gian.

Tóm lại, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh là Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn. Tựa đề nói về pháp. Đây là trí tuệ cứu cánh rộng lớn tột cùng, không còn gì rốt ráo hơn. Trí này vô tướng, lìa sanh diệt, vượt ngoài phân biệt đối đãi lớn nhỏ... Tức là không phải có một "cái lớn này", lớn hơn "cái nhỏ kia"; mà tâm ấy vô tướng, tự bàng bạc, thênh thang trùm khắp. Tâm ấy không có tướng mạo nên không nằm trong lớn và nhỏ của các tướng trạng sanh diệt. Thực tế khi ngộ ra trí tuệ này, hành giả sẽ tự hay ra nó vốn đã thênh thang và tự vượt thoát như vậy, ngôn ngữ không thể diễn tả hết. 

1.2. Trí tuệ cứu cánh rộng lớn là gì?

Trí tuệ cứu cánh rộng lớn là Trí tuệ Bát-nhã rốt ráo tột cùng (cứu cánh), thênh thang (rộng lớn). Trí tuệ này được lưu xuất từ kinh tâm vô tự (không chữ, vô tướng, không tư lự), chứ không phải kinh văn tự bên ngoài. Văn tự bên ngoài được lưu xuất từ trong ấy, để thuật lại, nhằm chỉ bày để đưa người học trở về nhận lại Kinh Tâm.

Nói lưu xuất là tạm nói. Bởi kinh tâm vô tự cũng chính là Trí tuệ Bát-nhã. Nhưng khi chúng sanh còn mê thì trí này tạm bị che khuất. Nhờ văn kinh Bát Nhã có chữ kích phát, khiến cho hành giả bất ngờ nhận ra kinh không chữ, lúc này trí tuệ chân thật hiện tiền. Khi nói là kinh vô tự tức chỉ đề cập đến “Thể Vô Sanh” một cách tổng quát chung nhất. Và khi Trí tuệ Bát-nhã hiện tiền thì lúc này thể dụng toàn bày, sự lý dung thông, viên mãn, diệu dụng bất khả tư nghì.

Hơn nữa, Kinh Luận Phật Tổ chỉ dạy, cốt chỉ bày tâm mình, không phải bất cứ gì bên ngoài. Trong khi đó, đây lại là Tâm Kinh, là bản kinh chỉ thẳng Trí tuệ Bát-nhã rộng lớn, rốt ráo tận cùng, không gì hơn. Cho nên trí tuệ cứu cánh rộng lớn ở đây cũng chính là Thực tướng Bát-nhã, là trí tuệ chân thật nơi mỗi người, chứ không phải là trí tuệ còn trong hiểu biết sanh diệt có giới hạn.

Qua đó cho thấy, Kinh Bát Nhã chỉ thẳng đến trí tuệ rốt ráo tột cùng (cứu cánh rộng lớn), nghĩa là không còn một trí tuệ nào cao hơn. Như vậy, không thể nói Bát Nhã chỉ đạt "Tâm không" mà chưa ngộ tánh. Sự khác biệt giữa hai quan điểm này nếu có là do tùy vào căn cơ thực hành; hoặc là đã ngộ tột cùng trí tuệ cứu cánh; hoặc chỉ mới dừng ngay “Tánh không”; chứ Tâm không hay Tánh không không phải là yếu chỉ tột cùng của Tâm Kinh Bát Nhã. (Đến các bài sau sẽ nói rõ hơn.) Ngoài ra, lý Sắc - Không và các phần còn lại trong văn kinh... chỉ là phương tiện khai thị, hướng dẫn cho học nhơn nhận lại trí tuệ chân thật rốt ráo (tâm tánh) ấy.

Tóm lại: Qua tựa kinh, đức Phật đã chỉ ra Trí tuệ Bát-nhã nơi mỗi chúng ta. Việc của người học là phải khéo nhận lại mới qua tất cả khổ ách.

2. KHÉO NHẬN

2.1. Tổng quát

Một cách tổng quát, có thể thấy nội dung toàn bản kinh cô đọng lại trong câu: “Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách”. Đức Phật nêu Bồ-tát Quán Tự Tại để minh định kết quả: Bồ-tát đã tu như thế mà thành tựu đạo quả. Chúng ta tin tưởng, khéo tu đúng như thế, cũng thành tựu như Ngài, không khác.

Cho thấy, nếu nhận lại và hằng sống (hành sâu) bằng trí tuệ cứu cánh rộng lớn, sẽ tự thấy ra năm uẩn đều không, lặng trong, sáng ngời. Lúc này, các khổ ách không còn chi phối, không chạm đến được Thể tánh Bát-nhã cứu cánh rộng lớn đó, tức đã vượt qua. Đây là giới thiệu chung trọng tâm nội dung Bát Nhã Tâm Kinh, cũng là khẳng định tiêu chí phải đạt đến như vậy mới đúng diệu chỉ đức Phật đã nêu.

Hành giả phải hành sâu Bát-nhã hay tỏ lý Sắc - Không như thế nào, mà phải đảm bảo đạt đến tiêu chí như đức Phật đã đưa ra, là: "Qua tất cả khổ ách" (các khổ ách đều mất giá trị chi phối). Chứ không phải chỉ qua được một phần nào như là: phần này thì bình thường; việc kia lớn hơn không chịu nổi; hoặc còn một phần nào đó chưa qua được... Không phải như thế. Và đức Bồ-tát Quán Tự Tại (Quan Thế Âm) đã thực hành và đã thành tựu như thế. Đây là minh định cho tiêu chí đó, tức là nêu minh chứng để xác minh và khẳng định phải như thế mới đúng diệu lý đức Phật muốn chỉ bày trong đoạn văn kinh mở đề trên nói riêng và Tư Tưởng Hệ Bát Nhã nói chung.

Vậy thì, trí tuệ nào có đủ diệu lực để cho chúng ta nếu sống bằng nó thì tất cả khổ ách tự không? Chính là Trí tuệ Bát-nhã (Thực tướng Bát-nhã) nơi chính mỗi người. Mỗi hành giả phải khéo tự mình nhận lại.

2.2. Trình độ thể hội - Nhận lại Trí tuệ Bát-nhã như thế nào?

• Một, trực ngộ (đại ngộ)

Đức Phật vừa thăng tòa, chưa nói gì, liền trực ngộ (đại ngộ). Ngay đó hay ra, Phật chưa xuất hiện, tánh ấy đã sẵn đầy đủ trọn vẹn lâu lắm rồi, chỉ khéo nhận lại.

Tức là vừa thấy liền ngộ, không qua phương tiện hoặc sự hiểu biết. Hành giả đại ngộ sẽ có diệu lực tự tại, bất khả tư nghì. Đến điền địa này sẽ không phải trải qua bước chuyển tiếp thể nhận Tánh không (Thuần tịnh), rồi sau đó mới ngộ tự tánh, mà là ngộ thẳng Thực tướng Bát-nhã.

• Hai, trực nhận

Trực nhận, tức thẳng đó liền sực nhận, bỗng nhận lại, hay ra; chứ không qua hiểu biết nghĩa lý. Ở đây cũng có nhiều trình độ sâu hoặc cạn khác nhau, tùy theo căn cơ và công phu của mỗi hành giả. Tuy vậy, tất cả đều bất ngờ, chóng ngộ ra, cho nên cùng gọi chung là “Đốn ngộ”. Trong trường hợp này, gọi là “Trực nhận” mà không nói đốn ngộ, bởi nói theo kinh điển. Nói là trực nhận nhằm chỉ cho hành giả nhận thẳng cốt tủy đức Phật muốn chỉ là Tánh thể Bát-nhã chính mình, chứ không phải chỉ được hiển bày chân lý, hoặc thấy ra diệu lý, hoặc thông suốt nghĩa lý của kinh điển. Điền địa này cũng là đốn ngộ, nhưng lực dụng yếu hơn đại ngộ ở trên.

Cụ thể đối với Bát Nhã Tâm Kinh, đức Phật vừa nêu tựa đề kinh (Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh) hoặc nêu nội dung tổng quát (mở đề) như là gợi ý, liền hay ra, à ra, sực nhận.

Tức là thoạt nghe nói, liền trực nhận Thực tướng Bát-nhã nơi mình. Tuy không mạnh bằng trực ngộ (đại ngộ), nhưng cũng là bất ngờ chóng nhận thẳng (đốn ngộ), rồi sau đó khéo bảo nhậm, chứ không trải qua các bước chuyển tiếp của Thuần tịnh.

Vị này cũng có diệu lực đặc biệt. Tuy nhiên, một sự thực là hễ qua văn tự thì chỉ trực nhận (đốn ngộ) và lực dụng không thể mạnh như đại ngộ. Trừ khi văn tự như một nhân duyên cuối cùng, như chiếc lá của Ngài Linh Vân Chí Cần, tiếng sỏi trúng cây trúc của Ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn... hành giả thoạt thấy nghe, bất ngờ đại ngộ, chứ không phải nhờ ý nghĩa hay diệu lý kích phát.

Ba, thầm nhận

Nghe Phật nói rộng, phân tích rõ nghĩa lý, hành giả soi lại mình, khéo thầm nhận rồi sau đó bảo nhậm.

Đây là khéo học, khéo xoay lại mình để nhận ra diệu chỉ, khéo thầm nhận Thực tướng Bát-nhã nơi mình. Tuy không mạnh bằng hai bậc trên, nhưng vẫn có những giá trị độc đáo riêng, đã biết hướng đi chứ không còn mơ hồ, lan man như học nhơn còn trôi trên tướng của chữ nghĩa. Hành giả tin chắc, bảo nhậm, trải qua thời gian sẽ đạt đến viên thông, tròn sáng, rõ ràng.

Bốn, tu tập dần

Nghe nói toàn văn kinh, học hiểu, thông suốt nghĩa lý. Sau đó thực hành, hằng chiếu kiến năm uẩn, các pháp đều không... rồi mới nhận ra.

Cụ thể ở trình độ này, hành giả học văn kinh (Văn tự Bát-nhã), hằng chiếu kiến (hoặc Quán chiếu Bát-nhã) rồi tu tập từ từ, mới có lúc ngộ ra (Thực tướng Bát-nhã). Đây là tu tập theo thứ lớp: Văn tự Bát-nhã → Quán chiếu Bát-nhã → Thực tướng Bát-nhã.

Trình độ này là “khéo nhận ra để tu tập”. Tức là đối với hành giả nghe Phật giới thiệu tựa kinh, hoặc nội dung tổng quát (mở đề) mà chưa thể nhận ra thì lắng nghe văn kinh rồi khéo tu tập, hạ thủ công phu, nhận lại, bảo nhậm cho đến viên thông.

Không kể đến các hành giả khéo thầm nhận tự tánh lúc hạ thủ công phu, còn lại do chưa thể ngộ thẳng tự tánh mà phải gạn đục khơi trong cho nên con đường này sẽ đạt đến Tánh không (Thuần tịnh). Lúc này tuy là gần giống Thực tướng Bát-nhã rồi, nhưng chưa tột đến rốt ráo, bởi còn thấy có một cái tướng tịnh trước mặt, hoặc trùm khắp và thầm thầm gìn giữ. Chính nó làm trệ ngại việc bừng ngộ tự tánh. Phải phấn phát tiến thêm thì mới đạt ngộ Thực tướng Bát-nhã. Cần có cái thấy biết đúng đắn để hướng tiến mới không lầm lạc.

Thực tế, các điền địa này (hoặc là khéo nhận tâm tánh, hoặc là phải học, tu rồi mới nhận), do khởi đầu dụng tâm như thế nào thì sẽ đưa đến tâm chứng như thế ấy. Đây là do cách dụng công nên đưa đến kết quả tương ứng, chứ không phải do ai quy định.

2.3. Tóm lại

Trọng tâm Bát Nhã, đức Phật muốn chỉ bày điều gì?

Chính là thể nhận Tánh thể Bát-nhã nơi mỗi người thì mới qua tất cả khổ ách; chứ không phải đơn thuần chỉ bày lý Sắc - Không. Bởi biết rõ lý Sắc - Không vẫn không qua khỏi tất cả khổ ách.

Thể nhận Tánh thể Bát-nhã như thế nào? 

Tâm Phật bình đẳng, lời Phật dạy chỉ một. Người học lãnh hội nhanh hay chậm, ngộ nhập cạn hay sâu, diệu lực phát huy ngang nào... là tùy thuộc vào căn cơ, cách nhìn và đã ngộ hay chưa ngộ.

Và tùy vào sở ngộ, sở kiến, cách tiếp cận... mà hình thành nên các Pháp tu khác nhau, không đồng. Cũng tùy vào chỗ ngộ, cách nhận... mà từ đó có các Tôn chỉ, Pháp tu, các Tông phái Phật giáo (Giáo môn, Thiền tông các phái...).

Bài học rút ra ở đây là: Nhắm thẳng cốt tủy Phật Tổ khai thị, tức “Trực ngộ tâm tánh”, không dừng lại trên các phương tiện tạm thời hay sở kiến còn trong giới hạn, chưa phải tâm tánh trùm khắp.

3. CÂU HỎI VẬN DỤNG - CỦNG CỐ

Câu hỏi 1: Hành giả hành sâu Bát nhã cảm nhận: “Nhờ quán sát, thấy rõ lý Sắc - Không, nên đã hết khổ”. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?

- Gợi ý:

“Nhờ quán sát, thấy rõ lý Sắc - Không”: Ở đây dùng phép quán cho nên chỉ dừng ngang ở mức "Hiển Bày Chân Lý" mà chưa ngộ tánh. Đây là thực hành theo phương cách của Thiền Đại Thừa. Cụ thể, Thiền sư Tông Mật nói: “Người giác ngộ ngã pháp đều không, hiển bày chân lý mà tu, là Thiền Đại Thừa.” Do cách dụng công cho nên đưa đến kết quả tương ứng như vậy.

“Nên đã hết khổ”: Khi trình bày “Nhờ quán sát, thấy rõ lý Sắc - Không”, tức nhằm trên Sắc - Không để quán sát, chưa rời Sắc - Không, nên chưa nhận lại Tánh thể Bát-nhã. Do đó, chưa đủ diệu lực để qua hết thảy khổ ách như Bát Nhã khẳng định. Cho nên, chỉ có thể bớt khổ một phần nào đó.

Tóm lại: Nếu chưa có công phu đặc biệt thì đây chỉ là tạm bớt những khổ thông thường. Chưa đủ diệu lực của Trí tuệ Bát-nhã để qua được khổ lớn sanh tử.

Câu hỏi 2: Có người nói rằng: “Tôi thấy cuộc đời sắc sắc không không, có đó rồi không đó, nên không còn quan trọng gì. Chỉ sống bình thường, vì vậy không khổ.” Qua diệu chỉ Bát Nhã, chúng ta thấy ra gì?

- Gợi ý:

Xác Định Cương Lĩnh - Tiêu Chí

Muốn qua hết thảy khổ ách thì phải ngộ Thực tướng Bát-nhã, chứ không phải chỉ nhận ra lý Sắc - Không. Bởi như thế, chưa đủ lực.

Vấn Đề Đặt Ra

“Tôi thấy cuộc đời sắc sắc không không có đó rồi không đó”: Tức là còn nhằm trên Sắc - Không để thấy biết, tu hành, đồng nghĩa còn phan duyên và cách tâm, chưa nhận ra Trí tuệ Bát-nhã. Và đối tượng để hành giả vô tình bị phan duyên lúc này là Sắc - Không, cho nên còn bị chi phối trong vi tế.

Cho rằng “Nên không còn quan trọng gì”: Thực ra, với công phu như trên thì chỉ tạm buông được những việc dễ buông. Nhưng trong tâm còn động, xao xuyến và còn cả việc buông xuống, nên chưa được diệu lạc của đại đạo.

“Chỉ sống bình thường”: Khi chưa ngộ Trí tuệ Bát-nhã thì chỉ là một trạng thái được coi là bình thường, chứ chưa phải tâm bình thường, vô tướng, thênh thang, lạc an của Thực tướng Bát-nhã.

“Vì vậy không khổ”: Theo các nghĩa lý vừa nêu trên, cho thấy cái vui này chưa phải an lạc diệu thường. Hơn nữa, khi thấy “không khổ, được vui” thì biết chưa rời đối đãi, còn nằm trong khổ vui, do đó vẫn còn bị khổ vui chi phối. Chưa phải sống bằng tâm thể tự tại, sáng ngời, vắng bóng đối đãi, khổ vui không đến kịp, ngập tràn lạc an của Trí tánh Bát-nhã.

• Kết Luận

Do chưa khéo nhận thẳng Tánh thể Bát-nhã mà vẫn còn dừng trên Sắc - Không cho nên cách nhận này cần phải tiếp tục học cho thông và quyết chí dụng công cho thật mạnh mẽ, miên mật thì mới có lúc nhận lại Thực tướng Bát nhã, mới thực sự được tự tại, dứt mọi khổ ách.

Câu hỏi 3: Kinh Lăng Già: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn.” Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?

- Gợi ý:

“Dĩ tâm vi tông” tức “Lấy tâm làm chủ, làm chính”. Là khẳng định nơi đạt đến: Chính là bản tâm chân thật chính mình. Tâm này cũng chính là “Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn” mà Bát Nhã đã nêu.

“Dĩ vô môn vi pháp môn” tức “Lấy cửa không làm cửa pháp” để vào tâm ấy. Nghĩa là: Thấy các pháp huyễn hóa để thể nhập bản tâm. Cũng chính là: Tỏ suốt diệu lý Sắc - Không trong Bát Nhã để thể nhập thực tướng.

Tóm lại: Xem các pháp đều huyễn như Kinh Bát Nhã dạy, để thể nhập Thực tướng Bát-nhã, cũng chính là diệu chỉ đức Phật đã dạy trong Kinh Lăng Già tại câu kinh trên. Cho thấy, kinh Phật dạy suốt thông nhau, không khác. Kinh Lăng Già, Bát Nhã, đều nhất quán suốt thông như vậy.

Câu hỏi 4: Một người nước ngoài, không được giải thích trước cho biết nội dung anh ta chuẩn bị nói là gì. Chỉ yêu cầu nói theo, lặp lại một cách máy móc: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh.” Người này có thể bừng ngộ Trí tánh Bát-nhã hay không?

- Gợi ý:

Điểm chính yếu ở đây là “Hiểu nghĩa”“Không hiểu nghĩa”. Hiểu mới ngộ; hay miễn là dụng công đúng pháp, đến khi chín muồi, gặp bất kỳ nhân duyên nào kích phát cũng được ngộ nhập, không cố định hay lựa chọn là duyên nào? (Câu Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh cũng là một nhân duyên như vậy).

Chờ hiểu, khéo tu, mới ngộ, đó là tu tập Bát Nhã theo quy trình, là một trình độ chậm hơn so với hành giả thẳng đó ngộ ra. Chưa đợi Phật nói đã hay ra; là ngay thấy nghe, liền đại ngộ. Việc này rất bất ngờ, không dính dáng gì đến việc hiểu và không hiểu. Nếu vị nước ngoài trong trường hợp trên có căn cơ tu tập Thiền đã chín muồi thì vẫn có thể ngộ. “Chính như trong hội Phật, có ông Sa-di nhỏ lấy trái banh da đùa chọi trên đầu vị Tỳ-kheo già khiến ngài chứng Tứ quả” (Sơn Am Tạp Lục). Như vậy, đâu có liên quan gì đến việc "phải hiểu pháp gì đó mới ngộ!". Ngài Vô Uẩn Thứ Trung (Sơn Am) khẳng định: “Mới tin việc này, chẳng phải ở trên lời nói. Đến như, gió động, bụi dấy, chim lượn, mây bay thảy đều là chỗ đẩy người vào, nhưng tự là ngay mặt lầm qua”. Cũng như Ngài Linh Vân Chí Cần thấy hoa đào nở liền ngộ, hay Ngài Huyền Sa bảo: “Yến hót là bàn sâu thật tướng” vậy.

II - CÁI THẤY BÁT-NHÃ

Bài trước (Khái quát chung - Khéo nhận) là đề cập đến trình độ từ phàm mê loạn động sanh diệt, nhận giả làm chân; nhờ đủ duyên nghe Bát Nhã, biết cái gì là giả, cái gì là thật để lìa giả trở lại chân. Sau đó khéo tu tập để nhận lại Trí tuệ Bát-nhã. Từ đó biết các pháp như thật, không động. Đây tạm gọi là chiều đi vào. Đến bài này sẽ nói rõ về công phu từ Trí tuệ Bát-nhã để sống và thấy biết tất cả. Cho nên gọi là "Cái thấy Bát-nhã"; tạm gọi là chiều đi ra, từ Trí tuệ Bát-nhã mà lưu xuất ra tất cả.

1. CÁI THẤY BÁT-NHÃ - TỪ TRÍ TUỆ BÁT-NHÃ ĐỂ THẤY BIẾT

1.1. Cái thấy Bát-nhã

• Không phải tìm thấy và nhận bên ngoài 

Tức là không phải nhằm trên lý Sắc - Không để tìm đại đạo. Không phải thấy trên thân tâm sanh diệt (năm uẩn) là giả hay thật. Không phải thấy trên các cảnh (sáu trần) là có hay không. Không nhằm trên các pháp phương tiện Phật dạy để tìm thấy biết. Cũng không thấy có sở đắc để chấp thủ, vô tình biến thành tướng của tâm. Nói chung, không nhằm vào bất cứ gì bên ngoài để thấy biết; tức không thấy biết theo tướng. Nếu tìm trên tướng, đồng nghĩa đã bỏ sót tự tánh, mê tâm, dẫn đến sai lầm và phải chịu các khổ não.

• Không phải bằng ý thức phân biệt để thấy biết

Không bằng tâm mê, không giác sáng để đọc học và tu tập Bát Nhã. Cũng không phải bằng ý thức để thấy biết phân biệt các pháp theo nghĩa lý Phật dạy. Vì như thế sẽ không học đến được chỗ cứu cánh, không hiểu đến được cốt lõi diệu chỉ uyên nguyên, không thấy ra chỗ yếu diệu mà Phật muốn chỉ bày cho chúng ta.

• Phải từ Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh rộng lớn để thấy biết tất cả

Phải khéo nhận lại trí tuệ rốt ráo này (tự tánh) để từ đó thấy biết tất cả. Lúc này, tất cả trở nên trong lặng, rạng ngời; thấy biết tất cả nhưng vẫn không động, vô tướng và linh thông, tự tại.

Tóm lại, phải từ Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh rộng lớn để thấy biết thì rõ ràng Sắc - Không, nhưng vẫn vô tướng trong tâm, đạt đến "như huyễn tam-muội"; tức rõ mọi thứ như huyễn mà vẫn ở trong tự tánh chánh định chính mình, chứ không phải có tướng phân biệt. Chính cái thấy biết này mới đầy đủ diệu lực cho hành giả tự tại, vượt thoát tất cả khổ ách (như văn kinh).

1.2. Minh định

Đệ tử Pháp Dung hỏi Tăng thống Khánh Hỷ (Việt Nam): - Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?

Ở đây ý câu hỏi là: “Khi một hành giả liễu đạt lý Sắc - Không rồi thì ngay sắc thân này, nó là Phàm hay là Thánh?” Tương tự trong Kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Không lấy ba mươi hai tướng để thấy Như Lai... Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật.” Vậy thì sắc thân ba mươi hai tướng Phật đang thị hiện đó là ai? Phải thấy Ngài như thế nào?

* Sư ứng thanh đáp bài kệ:

Âm:

Lao sanh hưu vấn sắc kiêm không 

Học đạo vô như phỏng Tổ tông. 

Thiên ngoại mịch tâm nan định thể 

Nhân gian thực quế khởi thành tùng. 

Càn khôn tận thị mao đầu thượng 

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung 

Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ 

Thùy tri phạm thánh dữ tây đông. 

Dịch nghĩa:

Uổng công thôi hỏi sắc cùng không, 

Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông. 

Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy, 

Thế gian trồng quế đâu thành rừng. 

Đầu lông trùm cả càn khôn thảy, 

Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong. 

Đại dụng hiện tiền tay nắm vững,

Ai phân phàm thánh với tây đông.

Uổng công thôi hỏi sắc cùng không:

Thiền sư Khánh Hỷ nói, nếu đi hỏi Sắc - Không, tìm hiểu thân này là Phàm hay Thánh thì chỉ uổng công. Dừng lại, đừng tìm hiểu như vậy, sẽ vô ích. Bởi nếu còn nghi và hỏi về Sắc - Không là còn nằm trong “khái niệm của sắc và không”, còn nhằm trên sắc và không để tìm hiểu. Quả thực, chưa khéo nhận Tánh thể Bát-nhã. Hiểu như thế không có diệu lực để qua được khổ ách, không có tác dụng. Vậy phải như thế nào mới đúng? Ngài nói: 

Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông:

Ngài dạy người học đạo không gì hơn là phải quay về nhận lại chỗ mà Tổ tông đang sống, là chỗ mà Tổ tông muốn chỉ, cũng chính là bản tâm, Tánh thể Bát-nhã nơi mỗi người, là diệu chỉ đức Phật khai thị. Đừng quan tâm trên sắc và không, không đặt nặng thân này là Phàm hay Thánh. Bởi như thế chỉ là kẹt tâm, chấp tưởng, mê tự tánh, không thể ngộ ra. Hãy nhận thẳng sức sống Tổ tông đang hiển hiện trước mặt, ngay đây sáng ngời, liền tự tỏ suốt Sắc - Không rõ ràng, trong lặng. Ngay đó, tự biết suốt sắc thân này là Phàm hay Thánh! Nó không nằm trong khái niệm ấy, hoặc bất kỳ quan điểm hay tướng trạng nào. Ngay tướng cũng là tánh, tánh tướng thường trụ. Tất cả chỉ là sự hiển hiện rạng ngời như thế, không ở trong niệm lự, tư duy, phân biệt là Thánh hay Phàm. Thích tìm tòi xét xem lúc này là Phàm hay Thánh, đó là cách tìm cầu, muốn hiểu biết của người còn ở trong thức phân biệt của mê. Cái thức này nó bảo chúng ta muốn tìm hiểu và chỉ hiểu biết theo phương cách như thế, không có gì khác hơn.

Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy; Thế gian trồng quế đâu thành rừng:

Đi hỏi Sắc - Không, tìm hiểu sắc thân là Phàm hay Thánh... chẳng khác nào nhằm bên ngoài trời để tìm bản tâm ấy. Như vậy sẽ không bao giờ được, càng tìm càng xa. Giống như người trồng quế mà muốn thành rừng rậm, không thể được. Vì cây quế lên thẳng, ít cành và tuổi thọ ngắn nên không thể thành rừng rậm rạp như các loài cây khác. Phải khéo quay về “Vấn Tổ Tông”, nhận lại tự tánh, sẽ có đại dụng. Ngài đã ví dụ đại dụng này qua hai câu tiếp theo.

Đầu lông trùm cả càn khôn thảy; Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong:

Càn khôn chỉ cho đất trời, thế giới. Nhật nguyệt chỉ cho mặt trời, mặt trăng, vũ trụ. Nghĩa là tột cùng đất trời, thế giới chỉ nằm trên đầu một sợi lông. Gom hết vũ trụ chỉ thâu gọn trong một hạt cải. Đây là ví dụ cho diệu dụng bất khả tư nghì của bậc ngộ tâm. Cụ thể, không kẹt các tướng thì tâm tự lưu thông cho nên "Lớn" và "Nhỏ" không ngăn ngại nhau. Tùy thời, tùy duyên hiện bày tất cả nhưng vẫn tự tại vô ngại. Người đạt ngộ tự tâm sẽ có đại cơ đại dụng như vậy và Ngài cũng khẳng định lại điều này ở hai câu cuối.

Đại dụng hiện tiền tay nắm vững; Ai phân phàm thánh với tây đông:

Đạt ngộ tự tánh, đại dụng hiện tiền. Sống bằng tánh giác sáng không tướng, tâm ta cùng tánh pháp giới vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một pháp giới tánh kia; mà khi tâm không thì cảnh tịch, tâm cảnh nhất như sẽ thấy biết vượt Năng - Sở, Có - Không, Đông - Tây, Lớn - Nhỏ. Cho nên các tướng không đến kịp, lớn và nhỏ cho đến tất cả các tướng đều hiển hiện trong tánh mình bàng bạc, rạng ngời, không hề ngăn ngại nhau. Năng sở đã bặt, còn ai trong đó mà phân biệt là Phàm với Thánh, Đông với Tây? (Ngài nói: “Ai phân phàm thánh với tây đông.”) Đến đây rồi thì nắm cả đất trời để trên đầu một sợi lông, gom hết vũ trụ nhét vào trong một hạt cải. Cho thấy, đạo là lưu thông, tự tại, không ngăn ngại.

Ngay đây, nếu vừa tần ngần hỏi tại sao thì liền đó đã rơi vào tướng, mất đại dụng, không thể hiểu. Bặt cả tướng và tâm, mình và cảnh thì tất cả đang hiện bày, không gì ngăn ngại được. Cho nên thấy ra “Tam Thân Phật” (Pháp thân, Ứng hóa thân, Báo thân) chẳng phải một, chẳng phải khác, mà “Tất cả hiện thành”.

* Vậy khi ngộ Bát-nhã thì thấy thân này thế nào?

Ở đây, Tăng hỏi Ngài Khánh Hỷ: “Lúc này, sắc thân là Phàm hay Thánh?” Tổ đức nói: “Tướng có đến đi, thể thường vắng lặng (không đi đến)”. Nếu người học không khéo nhận thì sẽ thấy "Tánh - Tướng" khác nhau (có một thể tánh thường vắng lặng và có một tướng hay đến đi). Nhưng thực tế, thân tâm có liên quan mật thiết với nhau. Kể cả đã sáng tánh này, tánh ấy không phải bốn đại năm uẩn, nhưng cũng không rời khác năm uẩn bốn đại. Trong một con người, không thể có hai cái sai khác mà phải dung thông, tương tức trong nhau. Vậy thì tương tức thế nào, dung thông ở đâu? Ngay đây, đừng thèm khởi phân biệt, trả lại bản thể chính mình thì toàn tâm là tánh. Lúc này, ngay mỗi mỗi tướng, tánh này bàng bạc hiển bày; tức tướng, tức tánh, tánh tướng thường trụ, bặt cả trong ngoài, xưa nay. Dù có hiện tướng đến đi mà tất cả vẫn lặng trong, sáng ngời, chưa từng động. Trong tâm không thấy có tướng di chuyển, đổi dời. Như áng mây ngang trời, tự tại bay. Không ngoài nhau, không ngăn ngại nhau, không can hệ hay dính dáng gì bầu trời.

1.3. Đúc kết

Ngay sắc thân này, nếu không có tâm (không có sự nhận biết) thì đồng với cây đá. Tự nó không nói (không có khái niệm) là Phàm hay Thánh gì cả. Cũng ngay sắc thân này, với người mê, tham chấp nó cho nên có ra các lậu hoặc sai lầm khác... nên gọi là Phàm, sẽ nhằm trên sắc không để thấy biết và chỉ có thể thấy là Sắc hoặc Không. Nhưng với người đã liễu đạt Sắc - Không, tâm cảnh nhất như, biết suốt (Vô sở bất tri), nhưng không còn phân biệt (Bát-nhã vô tri). Do đó nói, Bát-nhã không biết (Vô tri, không khởi phân biệt), nhưng không gì mà chẳng biết (Vô sở bất tri). Tức không chỗ nào mà tánh sáng biết này không đến kịp. Không cần phân biệt, thấy liền biết, đâu có thiếu vắng bao giờ. Lúc này, nhìn núi sông là núi sông, cây đá là cây đá, sắc thân là sắc thân... thấy biết như thị, sáng ngời. Đâu còn thấy hai, thấy khác mà bảo là Phàm hay Thánh?

Nói là Phàm hoặc Thánh đều là cái thấy của người còn mê, nhằm trên tướng để thấy biết phân biệt, không phải cái thấy của hành giả đã liễu đạt Sắc - Không. Còn cố đem tâm để hiểu như thế nào đó thì không thể hiểu đến được. Cho nên phải khéo tu, khéo thầm nhận.

Tóm lại, bằng cái thấy biết Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh để thấy biết ra tất cả như thị, tự tại thì đây là cái thấy Bát-nhã, đầy đủ, trọn vẹn và rốt ráo.

2. TU TẬP TỪ CÁI THẤY BÁT-NHÃ

2.1. Khái quát

Từ Trí tuệ Bát-nhã (cái thấy Bát-nhã) để thấy biết thì sẽ thấy rõ tất cả như huyễn, nhưng vẫn như thị, tự tại. Từ thấy biết đó để dụng công gọi là "tu tập từ cái thấy Bát-nhã".

Học và tu tập Bát Nhã tựu trung nằm trong hai phương diện (hai hướng). Từ hai phương diện đó hình thành nên trình độ tu học. Cũng từ đó mà đưa đến kết quả khác nhau. Người học hãy chọn hướng đi mang lại kết quả khả quan chứ không thể chọn một hướng mà kết quả không đến đâu cả.

Hướng thứ nhất: Từ bên ngoài thâm nhập vào tự tánh

Bên ngoài là chưa ngộ, còn mê lầm. Từ đó học hiểu nghĩa lý Bát Nhã, thấy các pháp như huyễn để rồi nhận lại tánh chân.

Hướng thứ hai: Từ Trí tuệ Bát-nhã để lưu xuất thấy biết

Trên cơ sở đã ngộ (hoặc thầm nhận Tánh thể Bát-nhã, hoặc thông suốt diệu lý Bát Nhã) để thấy biết năm uẩn, tất cả các pháp đều không thì cái thấy biết này hoặc là rỗng lặng - không tịch; hoặc là linh thông - tự tại, chủ động vẫn bất động... tùy theo trình độ đã ngộ sâu hay cạn. (Sẽ nói rõ tại phần tiếp theo.)

2.2. Tu tập từ cái thấy Bát-nhã

Căn cứ vào trình độ thể nhận Bát-nhã để khéo ứng dụng tu tập “Từ cái thấy Bát-nhã”. Tất cả phải được đặt trên nền tảng Trí tuệ Bát-nhã. Mỗi mỗi đều được lưu xuất từ Bát-nhã như vậy thì dụng công sẽ có lực, tu hành mới đắc lực. 

Trình độ 1 - Trực ngộ (đại ngộ):

Đức Phật vừa thăng tòa, chưa nói gì, liền trực ngộ: Tánh ấy đã sẵn đủ. Đây là đại ngộ, có lực dụng bất khả tư nghì.

o Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể, tâm tánh vốn sẵn nơi mỗi người. Hành giả dụng công đúng pháp, khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ, không qua phương tiện hay học hiểu.

o Chiều từ trong ra: Khi đã ngộ rồi thì tất cả được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Hành giả lúc này đầy đủ đức dụng, thấy biết như thị nhưng linh thông đến chủ động, vẫn bất động, đạt đến diệu dụng bất khả tư nghì. Lúc này, quý Ngài có diệu dụng tùy thời hoặc phá, hoặc dựng lập để đưa hành giả trở lại tự tâm. Cụ thể, cái mà chúng ta đang chấp là có, các Ngài sẽ có cách để làm cho tất cả tình chấp bỗng dưng rơi rụng. Cứ thế, quý Ngài sẽ tùy thời phá (từ có thành không), hoặc dựng lập nên (từ không thành có, gọi là sắc) không thể nghĩ lường, để tình thức không đến kịp, bất ngờ đẩy người học trở lại tâm mình. Quý Ngài hay tự tại ra vào tất cả, nhưng tâm vẫn không thấy tướng ra vào. Đây là diệu lực của bậc thượng thừa có đại cơ đại dụng.

Trình độ 2 - Trực nhận: 

Đức Phật vừa gợi ý (nêu tựa kinh) hoặc nêu nội dung tổng quát (mở đề), hành giả liền sực nhận, hay ra. Đây là đốn ngộ (chóng ngộ, thẳng đó liền ngộ, vượt không gian và thời gian).

o Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể, hành giả có công phu đúng pháp, tương ưng, chín muồi cho nên vừa khơi, liền thẳng vào, trực nhận, bất ngờ hoát toang thông thống. Điền địa này cũng ngộ bản tâm, nhưng lực dụng không bằng trực ngộ (đại ngộ) ở trên.

o Chiều từ trong ra: Khi đã trực nhận thì tất cả được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Hành giả lúc này bảo nhậm, sống thẳng bằng Tánh thể Bát-nhã, thấy năm uẩn và tất cả các pháp đều rỗng lặng, rờ rỡ. Sẽ hay ra tất cả đã sẵn vậy, không động, sáng ngời.

Trình độ 3 - Thầm nhận:

Hành giả khéo thầm nhận lại, thầm thầm sống khế hợp tâm tánh. Chữ "thầm thầm" nghĩa là khéo không tướng, không dấu vết mà không mê, ngay đó tâm mình lặng sáng, tự khế hợp. Chỉ cần bình thường (để không tạo nên dấu vết), thơ thới, trở lại tâm, không tạo tác thêm gì; ngay đó không tướng mà không mê thì tâm tự sáng biết, chứ đừng lập thêm gì cả. Tuy lực dụng không mạnh như hai bậc trên, nhưng nếu khéo thầm nhận như vậy thì thầm thầm khế hợp và tâm tánh tự hiện bày một cách nhẹ nhàng, tất cả rõ ràng, rờ rỡ. Theo thời gian, công phu sẽ đắc lực, mạnh lên. Cụ thể ở trình độ này, nghe Phật nói rộng, phân tích rõ nghĩa lý, hành giả soi lại nơi mình, thầm nhận rồi bảo nhậm. 

o Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể hành giả không dừng kẹt trên chữ nghĩa, luôn hướng tánh để dụng công. Khi công phu thuần thục, chín muồi, nghe nói, liền khéo thầm nhận.

o Chiều từ trong ra: Khi đã thầm nhận thì công phu được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Lúc này, hành giả phải luôn luôn giữ gìn miên mật, không chủ quan, bất giác. Luôn sẵn một Tánh thể Bát-nhã để thấy biết. Như thế, tất cả tự vắng lặng, sáng ngời, lạc an, tu là vui nhẹ, thênh thang.

Trình độ 4 - Tu tập dần, mới nhận:

Nghe nói, học hiểu, thông suốt văn kinh rồi ứng dụng tu tập chiếu kiến năm uẩn, các pháp đều không. Cứ thế liên tục, theo thời gian công phu thuần thục, đắc lực, sẽ nhận lại Tánh thể Bát-nhã.

o Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể: Từ chấp các pháp là thật, hành giả học hiểu, thông suốt nghĩa lý để ứng dụng tu hành bằng cách hướng tánh dụng công, không dừng trụ hoặc trôi trên chữ nghĩa. Dám tin chắc, quyết chí với công phu như vậy thì trải qua thời gian công phu sẽ thuần thục, chín muồi, rồi cũng nhận ra.

o Chiều từ trong ra: Tất cả được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Hành giả tu tập khéo hướng tánh để dụng công. Đọc học, kê cứu... mỗi mỗi xoay lại tánh mình. Trong sinh hoạt, hành giả luôn sẵn một tâm giác sáng trên tất cả động dụng thi vi. Lúc này, tâm tự lặng an, định lực tăng, giúp hành giả làm chủ thân tâm, không bị các pháp chi phối. Công phu như vậy sẽ đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ (đại ngộ).

Tóm lại

o Phải từ Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết tất cả 

Tất cả động dụng thi vi phải được đặt trên nền tảng Trí tuệ Bát-nhã. Phải từ Trí tánh Bát-nhã nơi chính mình để thấy biết, sống, làm việc, sinh hoạt, nói năng, ứng xử... Tức mỗi mỗi phải từ trong ấy để lưu xuất. Dụng công như thế thì mới có lực, mới tiến bộ.

o Nếu khác đi

Chỉ là tạo tác lòng vòng bên ngoài, chưa rời loạn động sanh diệt, vẫn còn mê lầm, không sáng. Tu hành như thế sẽ vô lực, không có cơ sở sáng tâm, không thể hết khổ sanh tử.

3. KẾT LUẬN

Sống là sự đối diện, nhận diện và thấy biết tất cả. Chỉ khác là bằng vào đâu để thấy biết. Từ chân tâm, hay mê vọng? Trọng tâm đang đề cập là “Thấy biết Bát-nhã”, tức phải từ chân tâm mà thấy biết, không thể mê vọng Thấy biết như thế, ngay đó, sống là tu. Sinh hoạt và tu tập không ngoài nhau, không khác.

“Cái thấy Bát-nhã” chính là từ Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết tất cả đúng như thật, chứ không phải can thiệp trên cảnh hay tìm tướng và thấy biết theo tướng của Sắc - Không. Theo thời gian, công phu sẽ đắc lực, suốt tột, viên dung, đạt đến rốt ráo. Cụ thể, thấy biết tất cả như huyễn nhưng không động, tự tại, linh thông, bất khả tư nghì, vượt Năng - Sở, Căn - Cảnh, thoát Có - Không, không nằm trong tánh tướng.

Tùy vào trình độ thâm nhập mà có cái thấy sâu cạn không đồng. Đơn cử qua bốn nhóm trình độ căn bản vừa nêu trên.

Hành giả hạ thủ công phu tu tập, phải bằng vào Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết, để sống thì mới có hiệu lực giác ngộ giải thoát. Nếu khác đi, sẽ rơi vào loạn động sanh diệt, mê lầm, luống chịu các khổ đau không đáng có.

4. CÂU HỎI VẬN DỤNG - CỦNG CỐ 

Câu hỏi 1: Kinh Lăng Nghiêm: “Một người trở về nguồn chân, mười phương hư không thảy đều tiêu mất.” Xưa nay nhiều bậc Tổ đức đạt ngộ, nhưng núi sông quả đất vẫn hãy còn. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?

- Gợi ý:

Trở về nguồn chân 

Chính là hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa đạt đến rốt ráo. Cũng chính là đạt ngộ Trí thể Bát-nhã, trí tuệ cứu cánh rộng lớn, hay tâm tánh chính mình. Lúc này thấy biết như thị, vượt năng sở, tất cả tự lặng trong. Mọi thứ chỉ là sự hiển hiện trong tự tánh chánh định chính mình, vượt thoát Sắc - Không, Chân - Huyễn. Tất cả đều không can hệ, không đến kịp. Mười phương hư không cũng lặng trong sáng ngời như thế.

Mười phương hư không thảy đều tiêu mất 

Tất cả khổ ách và các tướng đều lặng trong, vượt thoát, không nằm trong có và không, tức đã tiêu mất. Qua hết thảy khổ ách.

Lưu ý

Không nhằm trên Sắc - Không, Có - Không để bàn luận, hiểu biết. Điển hình như, đối với người cho mọi thứ là thật thì thấy tất cả hãy còn "Có", và nó hoàn toàn "Không" với người biết huyễn, không thật. Thấy biết như thế không sai, nhưng vẫn còn trong Chân - Huyễn, Sắc - Không để bàn, chưa rời cảnh trước do đó chưa có lực tự tại. Đây là hành giả còn đang trên đường tu tập, chưa trở về nguồn chân rốt ráo.

Cuối cùng, hãy nói: “Còn núi sông quả đất mà vẫn không, hay phải dẹp hết tất cả, không còn gì, mới là tiêu mất?” Dè dặt! Đừng nhằm bên ngoài để bàn luận hiểu biết; cũng không phải hướng vào trong. Tâm mình khéo sạch tất cả, không mê thì trong ngoài suốt thông, mười phương hư không thảy đều tiêu mất. Mất đi đâu? Khéo sống về nguồn chân, sẽ tự rõ ràng tất cả.

Câu hỏi 2: Ngạn ngữ: Nước trong thì không có cá (không ai ở cùng tu với mình). Nước đục thì cá chết (ở với mình nhiều, chúng đông, nhưng sống trong mê mờ, loạn động, không tu, xem như chết). Phải sống như thế nào? 

- Gợi ý căn bản:

Có người bảo rằng “Phải sống trung đạo”

Vậy thì sống như thế nào là trung đạo? Ai cho mình biết được việc đó? Khả năng nào có đủ lực để giúp chúng ta sống đúng trung đạo? Phải trở lại cội nguồn tâm tánh chính mình mới có diệu lực để sống được, sẽ sáng ra tất cả.

Bài học hôm nay là từ Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết

Do đó tôn chỉ câu trả lời phải xuất phát điểm bằng Trí tuệ Bát-nhã, chứ không phải nhằm trên tướng để nghị luận, tìm hiểu. Vừa nghĩ "phải sống như thế nào đó?" là đã can thiệp trên hoàn cảnh "trong hay đục" bên ngoài tức mê bản tâm, sẽ không tỏ sáng, không có lực. Do vậy, ở đây chúng ta cần sáng chân tâm, uyển chuyển làm sao tu cho được sáng chân tâm là tốt, trong hay đục không cố định.

Cụ thể:

Khi sáng chân tâm, từ chân tâm sẽ có diệu dụng, biết tùy thời, tùy cơ, lập bày phương tiện giáo hóa để người học được giác ngộ giải thoát. Không phải tùy thuận phàm tình để mê sâu trong sanh tử. Tóm lại, phải lấy chân tâm làm chính. Còn lại trong hay đục, chỉ là phương tiện, là việc tùy duyên, cho nên nó là huyễn, không quan trọng. Điểm chính yếu (cái bẫy ở đây là) không can thiệp nước trong, nước đục mà phải khéo nhận tâm, ở vào Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết.

- Gợi ý cụ thể: Chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề qua hai khía cạnh:

Thứ nhất, còn đang tu học

Hành giả còn đang tu học thì phải tin tưởng vào vị Thầy hướng dẫn, tuân thủ theo Thanh quy và đường hướng tổ chức tu học của đại chúng. Một bề nhắm đến tiến đạo, sáng chân tâm; không quan ngại khó khăn, không mong thuận phàm tình hay vừa ý, không quản ngại trong hay đục.

Đối với trình độ này, nói theo Bát Nhã là thấy từ bên ngoài vào. Nghĩa là nương theo lời Phật dạy, thấu suốt huyễn chơn, khéo trở lại tánh chơn. Thấy rõ đục hay trong đều là huyễn, không quan trọng. Không quan tâm trên đó mà chỉ khéo đãi cát tìm vàng; ngay tất cả huyễn tướng, thể nhận tâm tánh chính mình.

Thứ hai, với vị Thầy hướng dẫn

Là vị Thầy có trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn cho đại chúng tu tập thì phải sáng chân tâm. Trên cơ sở đó, biết tạo môi trường trung đạo cho chúng tu tiến, được sáng bản tâm. Tùy thời lập trong, bày đục bất khả tư nghì để rèn luyện học nhơn tiến đạo. Như vậy trong hay đục hoàn toàn không dính dáng, không cần bàn.

Trình độ này, nói theo Bát Nhã là từ trong trí tuệ chân thật, lưu xuất thấy biết (từ Thực tướng Bát-nhã mà lưu xuất, thấy ra). Nghĩa là hành giả đã đạt ngộ Tánh thể Bát-nhã (trực ngộ hoặc tu rồi ngộ) thì tự thân sẽ thấy rõ huyễn chân, nhưng vô tướng, không động, như thị. Vượt thoát đục trong, tự tại vào đục ra trong, nhưng không tướng ra vào. Tùy thời hiện đục bày trong để giúp hành giả trực ngộ tự tánh.

III - TRỌNG TÂM BÁT NHÃ

Trong phạm vi bài viết này, sẽ không nêu các trình độ thể nhập đã được trình bày trong hai bài trước. Bởi nội dung các bài trước là đề cập đến điền địa (trình độ) bất ngờ thể hội. Và việc này hành giả phải khéo tự nhận lại nơi chính mình, không qua học hiểu, không có chỗ cho thức hiểu không thể học hiểu đến được. Bởi học hiểu không được, phải khéo dụng công mới nhận ra, vì vậy không nêu ra ở đây. Đến đây (tức đến bài này), mới có chỗ cho học nhơn học hiểu và nắm bắt được. Do đó, đề tựa đề “Trọng tâm Bát Nhã” tức là: “Trọng tâm Kinh Bát Nhã dạy chúng ta điều gì? Như thế nào?”

1. TRỌNG TÂM BÁT NHÃ CHỈ BÀY

Mở đầu Bát Nhã Tâm Kinh, đức Phật dạy: “Khi Bồ-tát Quán Tự Tại, hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.” Tức là: Dùng Trí tuệ Bát-nhã → Chiếu kiến (Soi thấy) → Năm uẩn đều không → Liền qua hết thảy khổ ách.

Bồ-tát Quán Tự Tại đã tu hành như thế và thành tựu như thế. Đây là "Khẳng định tiêu chí” phải đạt đến kết quả này. Tức là dùng trí tuệ chân thật soi thấy năm uẩn đều không, phải “qua hết thảy khổ ách”. Cụ thể:

Dùng Trí tuệ Bát-nhã

Là trí tuệ chân thật (sẵn đủ nơi mình, định tuệ đồng thời, lặng mà sáng biết, không động, không sanh diệt, không biến hoại), không phải trí tuệ còn trong tương đối, loạn động, sanh diệt (có tướng, còn động, bị chi phối bởi vô thường sanh diệt và dù đạt được trí này vẫn chưa hết khổ ách).

Ở đây có hai trình độ: Thứ nhất, nếu đang dụng công thì phải khéo nhận lại. Khéo ngay đây lặng an mà không mê thì tự nó "Sáng biết" chứ không phải "biết về" hay "biết theo" gì. Trí này tự thấy biết năm uẩn và tất cả rõ ràng, nhẹ thênh, lặng trong và không động. Thứ hai, là bậc đã ngộ thì tâm tự mất hút dấu vết, rờ rỡ, thấy biết như thị, vượt thoát căn cảnh hai bên; thấy biết năm uẩn cũng như thế. 

Chiếu kiến: Tức soi thấy, không phải quán chiếu.

Soi thấy: Cụ thể ở đây hành giả bằng tâm lặng sáng, thông suốt, vô tướng, không động, không phân biệt (chính là Trí tuệ Bát-nhã), thì tâm ấy tự sáng biết rõ ràng năm uẩn và tất cả các pháp đều huyễn hóa nhưng thanh tịnh, rỗng rang. Tất cả được hiển hiện trong tâm lặng sáng đó một cách rạng ngời. Tâm ấy tự sáng biết chứ không khởi cái biết để biết về bất cứ gì. Trí ấy tự thấy có mình, có cảnh, nhưng không khởi, nên không đặt thành tướng để phân chia Năng - Sở, Kia - Đây. Lúc này, tự vượt thoát tất cả, sáng ngời. Khéo chiếu kiến như vậy, năm uẩn và các pháp sẽ trở nên lặng trong, các khổ ách cũng vắng lặng.

Không phải quán chiếu: Bởi quán chiếu là còn "Tướng Động", còn "Năng - Sở", chưa phải trí tuệ cứu cánh (Trí tuệ Bát-nhã) như trong văn kinh.

Điển hình:

Tứ Tổ hỏi Ngài Ngưu Đầu Pháp Dung:

- Ở trong núi làm gì?

Sư thưa: - Quán Tâm

Tổ hỏi: - Quán đó là ai? Tâm là vật gì?

Sư không đáp được.

Qua đối đáp, Sư bèn đảnh lễ xin Tổ chỉ dạy chỗ chân yếu.

Tổ chỉ dạy lý: - Tâm tức Phật.

Sư thưa: - Đã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm, làm sao đối trị?

Tổ dạy: - Cảnh duyên không có tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm. Nếu tâm chẳng gượng đặt tên, vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chơn tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tùy tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là pháp thân thường trụ, không có đổi thay.

Nghĩa là, tâm này đã sẵn sáng, lặng trong, biết khắp tự tại. Cảnh kia cũng không biết tư duy để tự nói là như thế nào cả. Chỉ do chúng ta phân biệt nên mới “sanh chuyện” và “ồn ào”. Khi tiếp duyên xúc cảnh, chỉ cần không “thèm” thêm gì trên đó thì tâm tự trả lại chính nó vốn sẵn như vậy, bàng bạc, mặc tình biết khắp. Nếu khởi quán hạnh để đối trị là đã rơi vào tướng bị loạn động, kẹt trong sanh diệt. Cái sanh diệt loạn động sẽ không có diệu lực để giúp hành giả thoát khỏi sự chi phối của các cảnh duyên. Phải dùng cái vô sanh (tâm không sanh diệt), mới tiêu dung được cái sanh diệt. Khéo nhận ra và thực hành được như vậy thì "Pháp thân" bủa khắp, không ngăn ngại. Tất cả tự vượt thoát, đâu có gì trong đó để đối trị?

Tóm lại, phải khéo bằng Trí tuệ Bát-nhã để soi thấy thì "Thấy" mà không có cái "Tướng” được gọi là "Thấy". Khéo lặng trong, tự sáng biết mà không khởi “Tướng mình đang thấy” và "Cảnh bị thấy". Khéo bặt năng sở, dấu vết như vậy thì sẽ hằng sáng soi mà không động. Ở đây, nếu hành giả mới dụng công thì khéo lặng an, không mê, liền đó trí giác hiển hiện và tự sáng soi rõ ràng. Khi đã thuần thục thì tâm tự lặng an mà sáng rỡ. Thấy rõ "Mình" và "Pháp" rành rành, nhưng tự tại vượt thoát, không ở trong ta và người, căn và cảnh.

Năm uẩn đều không

Tức thân tâm sanh diệt này đều không. Nếu chỉ nói năm uẩn đều không, vậy các pháp còn lại thì sao? Trong văn kinh Bát Nhã có liệt kê đầy đủ tại "Thân Bài". Gồm vật chất (sáu trần), các pháp tu (Tứ đế, Thập nhị nhân duyên...), tâm thức (tâm sanh diệt, vô minh...), khái niệm về “Trí tuệ” cùng các “Sở đắc”... tất cả đều không. Đó là nói theo kinh, còn theo kinh nghiệm tu hành: “Một không thì tất cả đều không, một còn thì tất cả hãy còn”. Tức là, nếu năm uẩn thực sự đã không thì tất cả thảy đều không.

“Không” như thế nào? Một cách tổng quát, sống bằng trí tánh sẵn sáng, linh thông thì năm uẩn và tất cả các pháp trở nên rỗng lặng. Tâm không cảnh tịch, diệu lực trong ấy khiến cho tất cả đều không can hệ, không chạm đến được, liền qua hết thảy khổ ách. Tuy nhiên, tùy từng căn cơ, tùy vào công phu tu tập và sự thể nhập mà có nhiều trình độ thấy biết sâu hoặc cạn khác nhau. (Đã đề cập tại hai bài trước và sẽ nói rõ sau).

Liền qua hết thảy khổ ách

Tức thoạt đó liền qua, không phải từ từ. Và qua là qua tất cả khổ ách, chứ không phải chỉ một phần. Bởi muốn qua tất cả khổ ách thì phải nhờ diệu lực của Trí tuệ Bát-nhã. Khi sống bằng “cái thật” này thì tất cả khổ ách tự mất giá trị chi phối, liền đó qua tất tần tật, không phải qua dần dần, từng phần. Cho nên thực sự là khi đã qua được tất cả khổ ách thì thẳng đó liền qua, không phải qua từ từ. Và qua là qua tất cả, chứ không phải chỉ một phần nào đó.

Năng lực nào giúp hành giả đạt được như vậy?

Chính là Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh, chân thật, không động nơi mỗi người. Bởi do không động, trí tự sáng, có diệu lực bất khả tư nghì, khiến cho tất cả tự không chạm đến được.

Tóm lại

Phải dùng Trí tuệ Bát-nhã để tu tập thì mới có diệu lực. Nếu hành giả còn trong quá trình tu tập thì khéo dùng trí giác sáng, lặng trong (Trí tuệ Bát-nhã) để thấy biết các pháp. Một khi đã thuần thục, tâm tự lặng sáng, thấy rõ mình và pháp, nhưng như thị, không tướng phân biệt. Nhờ diệu lực của trí tánh mà các khổ tự lặng trong, chứ không phải đối trị. Và một khi đã thể ngộ, thâm nhập được Trí tuệ Bát-nhã thì tất cả tự không đến được. Trí này sáng tròn, tự vượt thoát tất cả nên nói “Qua hết thảy khổ ách”. Còn lại, các trình độ tu tập Bát Nhã đã được nêu cụ thể tại hai bài trước, ở đây không nhắc lại.

2. NHẬN THẲNG, CHIẾU KIẾN HAY QUÁN CHIẾU

Người tu Phật, ai cũng dùng Trí tuệ Bát-nhã để thấy rõ bản chất các pháp là huyễn hóa, không thật. Tuy nhiên, tùy vào trình độ căn cơ và sự nhìn nhận của mỗi hành giả mà có cách hành trì tu tập khác nhau. Trên cơ sở đó, hành giả ứng dụng Bát Nhã theo cách nào sẽ đưa đến kết quả tương ứng và hình thành nên sở trường công phu riêng của từng pháp ấy. Việc thể nhận Bát-nhã tuy có nhiều phương cách khác nhau, nhưng tựu trung nằm trong hai nhóm căn bản: 

Nhận thẳng: tức là hành giả công phu đắc lực, bất ngờ thể ngộ, rồi bảo nhậm. 

Tu tập: Hành giả chưa thể ngộ thẳng, phải trải qua quá trình tu tập.

Việc tu tập, cơ bản có hai phương cách dụng công: Đó là “Chiếu kiến” hoặc “Quán chiếu”. Trong chiếu kiến, cũng có hai trình độ: “Khéo nhận thẳng” hoặc “Có dụng công tu tập”. Ở đây chỉ nêu khái quát tương đối. Vào nội dung bài viết sẽ nêu đầy đủ. Nếu nói một cách tóm tắt thì nội dung của mục này là: “Nhận thẳng, chiếu kiến hay quán chiếu”.

2.1. Nhận thẳng

Thẳng đó liền trực nhận Tánh thể Bát-nhã, không qua phương tiện thứ lớp hoặc học hiểu. Cụ thể qua Bát Nhã Tâm Kinh có hai khả năng: 

• Đức Phật vừa thăng tòa, chưa nói gì thì liền nhận ra (tức đại ngộ), ngộ ra việc độc đáo, bất tư nghì: “Khi Phật chưa xuất hiện, Tánh thể Bát-nhã nơi mỗi người đã sẵn. Hiện nay Phật đã vào Niết-bàn, tánh này cũng không thiếu vắng bao giờ”.

• Hoặc là ngay lời tựa hay đoạn mở đề bài kinh, hành giả chợt nhận ra trí tuệ cứu cánh rộng lớn nơi chính mình. Tức là lúc này tâm đang lặng sáng, chín muồi, nhưng chưa ngộ. Vừa nghe nói: “Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn”, hoặc nghe đoạn mở đầu nội dung tóm tắt trọng yếu, bất chợt bừng ngộ, à ra nơi mình đã sẵn vậy lâu rồi. 

2.2. Chiếu kiến

Hành giả khéo dùng Trí tuệ Bát-nhã để chiếu kiến. Tức là lúc này, dùng Trí tuệ Bát-nhã thông qua lời Phật dạy mà nhận biết, sau đó công phu chín muồi thì ngộ ra trí tuệ chân thật trọn vẹn nơi chính mình. Tùy vào cách dụng công mà có ra tối thiểu hai trình độ chiếu kiến khác nhau:

Khéo nhận thẳng tự tánh giác sáng: 

Khéo tu trong vô tu (vô tướng). Có học, có tu, nhưng hướng tự tánh, vô tác, khéo nhận thẳng Tánh thể Bát-nhã, chứ không dụng công theo kiểu dẹp trừ tạo tác thành tướng của công phu, cũng không dừng lại ngang chỗ tìm hiểu trên chữ nghĩa. Cụ thể:

- Nghe hiểu nội dung Bát Nhã Tâm Kinh, khéo dùng trí tuệ rỗng lặng để soi thấu, suốt tột, thầm nhận thẳng tự tánh. Theo thời gian, công phu thuần thục, đắc lực thì bừng ngộ Tánh thể Bát-nhã.

- Vì nhận thẳng Tự tánh Bát-nhã chính mình như thế nên công phu này sẽ không trải qua Tánh không (Thuần tịnh) như hành giả dụng công mà có tướng dụng công hàng phục dần vọng tâm phiền não, chưa khéo nhận thẳng tự tánh (như trình độ thứ hai - “Có dụng công” bên dưới).

Có dụng công: Có tướng dụng công hoặc an trú trong tâm thanh tịnh.

Hành giả học hiểu hết bài kinh, sau đó khéo dùng trí tuệ chiếu kiến tu tập. Qua thời gian thì nhận tâm thanh tịnh, đạt được thể tánh không, tiếp tục công phu rồi sau mới nhận ra trí tuệ cứu cánh. Sở dĩ phải trải qua như vậy là do dụng công, nhưng không khéo nhận thẳng tự tánh mà rơi vào tướng của tu tập như thế nào đó. Hoặc là thấy có tướng tu hành, hành giả thấy có tác dụng của dụng công, có làm gì đó được coi là có dụng công. Hoặc là an trú vào tâm thanh tịnh, nghĩa là thầm thầm an trú vào chỗ thanh tịnh đang có trong công phu. Cả hai cách dụng công này sẽ đưa hành giả đến tâm Thuần tịnh. Lúc này chưa ngộ tánh. Phải tiếp tục dụng công, tu tiến thêm mới ngộ.

Tóm lại

Cùng là chiếu kiến, nhưng nếu hành giả khéo nhận thẳng tự tánh thì không trải qua bước chuyển tiếp của Thuần tịnh, tương ứng với trình độ một - “Khéo nhận thẳng tự tánh giác sáng”.

Nếu chiếu kiến rơi vào tướng của dụng công, chưa khéo nhận thẳng tự tánh thì phải trải qua Thuần tịnh, rồi mới ngộ, nên gọi là “Tu tập Bát Nhã”, chứ không phải "Nhận Thẳng”, tức là rơi vào trình độ hai - “Có dụng công”.

Củng cố: “Bát-nhã là trí tuệ cứu cánh, không còn trí nào rốt ráo hơn. Nhưng ngộ Bát-nhã, có khi quý Ngài cho rằng chưa thấy tánh là do đâu?”

Là do không khéo dụng tâm nhận thẳng tự tánh mà tu tập có tướng dụng công và rơi vào chỗ Thuần tịnh. Cụ thể:

- Nếu tu tập có tướng dụng công và rơi vào chỗ Thuần tịnh thì quý Ngài cho rằng: “Chỉ mới đạt đến Thể tánh không mà chưa thấy tánh”.

- Nếu khéo dụng tâm “nhận thẳng tự tánh”, khi công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng ngộ thì đâu còn tánh nào khác mà bảo là chưa ngộ?

2.3. Quán chiếu

Quán chiếu là thấy có mình tu, có pháp để tu, có dụng công, có tướng dụng công... tất cả phương cách tu tập có tướng tạo tác. Cụ thể, hành giả đi theo con đường tiệm tu qua ba bước: 

Văn tự Bát-nhã → Quán chiếu Bát-nhã → Thực tướng Bát-nhã

Nếu Quán chiếu Bát-nhã:

Hành giả thấy có mình quán, pháp quán (Bát-nhã), đối tượng quán (năm uẩn, các pháp), thì đó là tu theo phương cách của Thiền Đại Thừa. Kết quả sẽ đạt đến “Tâm thanh tịnh, hiển bày chân lý” của Thiền Đại Thừa. (Thiền sư Tông Mật nói: “Hành giả tu hành, thấy rõ Ngã và Pháp đều không, không chấp vào Ngã và Pháp. Hằng ngày dùng trí Bát-nhã quán chiếu, để tâm được an tịnh, chân lý hiển bày. Đó là tu Thiền Đại Thừa.”)

Hiển bày chân lý:

Tức là nhờ công phu tu hành mà thâm nhập diệu lý Bát Nhã. Từ đó, thấy rõ diệu lý Phật dạy được hiển bày rõ ràng. Chứ không phải ngộ tự tánh, rồi từ tự tánh ấy suốt thông tất cả diệu chỉ Phật Tổ như Thiền tông.

Tóm lại:

- Quán chiếu chỉ là một giai đoạn tu Bát Nhã trong ba giai đoạn (Văn tự → Quán chiếu → Thật tướng); và cũng chỉ là một phương pháp tu tập trong vô vàn phương pháp khác để đối trị tạm thời, chứ không phải là một chân lý rốt ráo. Bởi:

- Quán chiếu là còn thấy: Mình quán, Pháp quán (Bát-nhã) và Đối tượng cần để quán (các pháp). Còn đúng pháp Bát Nhã thì dùng trí tuệ để “Chiếu kiến”, tức là soi thấu, suốt tột và vắng bặt, mất hút các tướng thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.

- Điển hình như trước đã dẫn chứng: Tứ Tổ hỏi Ngài Ngưu Đầu Pháp Dung: “Quán đó là ai? Tâm là vật gì?” Sư không đáp được. Cho thấy còn quán chiếu, tức chưa ngộ tâm. Kết quả chỉ “Hiển Bày Chân Lý” nên Ngài Pháp Dung không đáp được.

- Thực tế: Đợi đến quán chiếu mới tu tiến thì tự cứu mình chưa xong. Và chưa thấy ai tu hành thành tựu rốt ráo Bát-nhã bằng con đường này (vì còn động, nên không có cơ sở thành tựu). Nếu đi bằng hướng này thì phải có lúc chuyển đến “Vô Tác” để khế “Tánh Thể Vô Sanh” mới nhận ra Tánh thể Bát-nhã và thành tựu viên mãn.

Đúc kết: Nếu là quán chiếu sẽ rơi vào một trong hai khả năng:

- Đó chỉ là pháp đối trị tạm thời, trị từng phần trên ngọn, không dứt sạch được bản ngã.

o Ví dụ: Thấy có dấu hiệu bản ngã xuất hiện thì quán vô thường hoặc nhân duyên, bản ngã liền lặng. Đó là hết một phần nào đó của bóng dáng bên ngoài. Lặng rồi khởi, khởi thì quán, quán thì tạm lặng, rồi lại khởi... Quán mãi cũng không sạch gốc.

o Cứ thế như thỏ vờn trăng, quán mãi đến cuối đời vẫn còn chuyện để quán, chỉ bớt trên ngọn ngành, không dứt được ngã. Có khi, sẽ vi tế biến hình qua một dạng khác được cho là hợp đạo, để nó tồn tại một cách hợp pháp.

- Nếu chuyên tâm mạnh hơn thì đây là đi bằng con đường triệt tiêu bản ngã, phiền não, vọng niệm... Trường hợp này sẽ đưa đến hai tình huống:

o Hoặc sẽ phải đạt đến chỗ Thuần tịnh (giai đoạn chuyển tiếp), sau mới ngộ tánh. Tuy nhiên, vào chỗ "Thuần thanh tuyệt điểm này sẽ gặp nhiều khó khăn trong công phu, dễ bị lầm đường lạc lối nếu không có Thiện tri thức hướng dẫn, điểm phá. 

o Hoặc sẽ đi vào con đường nhập Vô vi Niết-bàn của Thanh Văn, mất cơ hội ngộ tánh. Vì ban đầu không có tâm hướng tánh để ngộ mà tu hành theo hướng khác thì không thể ngộ được tự tánh.

- Đối với hành giả buổi đầu công phu, tuy có áp dụng quán chiếu Bát-nhã, nhưng đã có cái nhìn hướng tánh tu tập, không chấp vào pháp đối trị tạm thời này thì vẫn có khả năng thể nhận Thực tướng Bát-nhã khi công phu đắc lực, chín muồi.

Đây là do “Cái Nhìn Ban Đầu” và “Cách Dụng Công” như thế nào thì trong tâm tự đưa đến kết quả tương ứng quyết định như vậy. Không phải nằm trong quan niệm hay bất kỳ một sự quy ước nào cả.

3. ĐÚC KẾT Ý NGHĨA BÁT NHÃ CHỈ BÀY

3.1. Phương pháp cụ thể ứng dụng tu tập Bát Nhã là gì?

Dùng trí tuệ chân thật, soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. Ở đây chỉ đề cập tới năm uẩn mà không đề cập các pháp khác bởi ba lý do căn bản:

• Các pháp bên ngoài đều từ con người. Nếu không có sự nhận thức của con người thì các pháp tự sinh tự diệt, không có giá trị gì. Vì vậy khi thấy con người (tức năm uẩn) đã không thì tất cả đều không. Do đó, chỉ nêu năm uẩn cũng đủ.

• Một còn thì tất cả có, đã không thì tất thảy không. Nếu năm uẩn thực sự không thì tất cả đều không. Nếu còn một pháp có thì năm uẩn chưa thực sự không. Cho nên chỉ nêu năm uẩn cũng đủ.

• Do đây là phần mở đề, giới thiệu chung nên chỉ nêu tóm lược phần trọng tâm. Vào thân bài, đức Phật có dạy đầy đủ tất cả các pháp còn lại.

3.2. Vì sao phải thấy năm uẩn và tất cả đều không?

Vì đó là sự thật. Bản chất nó là huyễn hóa, không thật nên nói là "Không". Nhưng lại có người cho là thật, từ đó mê lầm và phải chịu các khổ não không đáng có, nên nói cho biết chúng đều là không, để dứt lầm mê. Tóm lại, muốn hết khổ, phải thấy đúng sự thật là bản chất của các pháp vốn không thật.

3.3. Dùng cái gì để thấy không?

Chính là Trí tuệ Bát-nhã (trí tuệ chân thật, rốt ráo). Phải bằng vào Trí tuệ Bát-nhã để dụng công, để thấy tất cả không thì mới có hiệu lực. (Đã nói rõ tại các mục trên.)

3.4. Dùng Trí tuệ Bát-nhã để thấy không như thế nào?

Dùng Trí tuệ Bát-nhã để chiếu kiến (soi thấy) chứ không phải quán chiếu. (Đã giải thích ở trên và sẽ nói rõ sau.)

3.5. Cụ thể: Thấy cái gì không?

Từ vật chất (thân tứ đại, vạn sự, vạn vật), đến tâm (suy nghĩ, cảm nhận, vô minh), cùng các phương pháp (Tứ đế, Thập nhị nhân duyên...) và tu chứng (sở đắc, dấu vết của tâm...) đều không. Tóm lại, tất cả đều không. Bởi hễ những gì có tướng đều huyễn hóa, không thật. 

3.6. Các pháp là không, cụ thế như thế nào? 

• Nhìn theo thời gian: Các pháp vô thường sanh diệt, biến hoại.

• Nhìn theo không gian: Các pháp do duyên hợp, không chủ tể.

• Hư không: Nhờ có hư không, các pháp mới tồn tại, nên chúng dao động, không bền chắc.

Tóm lại, các pháp đều không, không thật. Lưu ý: Ở đây chỉ nêu ra cho biết. Khi công phu, miễn thấy rõ các pháp đều không để nhận lại Tánh thể Bát-nhã là đủ. Không nhất thiết phải ứng dụng qua tất cả các bước này. Tức là thấy các pháp đều không, huyễn hóa, không thật để không theo chúng và nhận lại Tánh thể Bát nhã chính mình; chứ không phải bàn hiểu quá nhiều về nghĩa lý không của các pháp, khiến sai lầm, đi xa trọng tâm, cốt tủy mà đức Phật muốn chỉ bày.

3.7. Thấy không để làm gì, đạt đến đâu?

Để qua tất cả khổ ách. Cụ thể, nếu đang còn tu thì tùy vào trí và lực ngang nào mà khổ ách bớt chi phối ngang ấy. Khi đã đạt đến rốt ráo tức trí lực đầy đủ thì qua tất cả khổ ách. 

3.8. Diệu lực nào cho chúng ta vượt qua tất cả khổ ách?

Chính là Trí tuệ Bát-nhã (trí tuệ chân thật, rốt ráo). Trí này tự sáng (tức Tuệ), ngay tánh sáng biết muốn động cũng không được (tức Định). Như thế, Định Tuệ đồng thời, diệu lực bất khả tư nghì, tự vượt thoát tất cả, các khổ ách không đến được.

3.9. Nếu chưa trực ngộ sẽ thấy các pháp không và tiến bộ qua các bước căn bản như thế nào? 

• Đầu tiên, thấy các pháp là "Không" (huyễn), từ đó không chấp "Có" nhưng đồng thời cũng không kẹt vào "Không ngơ" (tức không phải không có gì, mà là tất cả vẫn đang hiện hữu, nhưng huyễn hoá, không thật).

• Tiếp theo, vượt thoát có và không. Cũng không thấy có cái được gọi là thoát; mà bặt dấu vết, sáng ngời thì trí tuệ cứu cánh (Bát-nhã) hiện tiền.

Dụng công đúng như vậy là đang sống bằng Trí tuệ Bát-nhã để soi thấy năm uẩn đều không. Cũng chính là đang dụng thẳng "Trí Tuệ Vô Sư” sẵn đủ nơi mỗi người. Nếu dùng "Trí Tuệ Hữu Sư" (hiểu biết phân biệt) để soi thấy thì trí này còn loạn động sanh diệt cho nên "Vô lực", và không thể “Qua tất cả khổ ách” như văn kinh đề cập, đồng nghĩa tu chưa đúng lời Phật dạy.

3.10. Các giá trị lợi ích

• Tuyệt đối: Trở lại Tánh thể Bát-nhã thì liền qua tất cả khổ ách. (Trực nhận, đốn ngộ.) 

• Tương đối: Nhờ thấy các pháp không thật nên bớt dính chấp, bớt sai lầm, nên bớt khổ. Đồng thời tâm được an tĩnh, trí tuệ sáng suốt, sống tốt và an vui. Và khi nhân duyên chín muối thì cũng đạt đến giá trị tuyệt đối (qua tất cả khổ ách).

• Rốt ráo: Đây là cửa vào Thiền để tiến sâu hơn Thiền tủy. Cuối cùng đạt đến cứu cánh, sẽ thành Phật như văn kinh nói: “Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

3.11. Cách thể nhận Trí tuệ Bát-nhã: Có hai

 

 

??

Đọc tiếp →
Mục Lục
Danh sách chương: