Thiền Tông Việt Nam
Kinh Pháp Hoa Giảng Lục - Tập I
Phần 02 Phương Tiện (tt)

CHÁNH VĂN:

Đức Phật bảo Ngài Xá-lợi-phất: “Pháp mầu như thế, các Đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói, như bông Linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá-lợi-phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.

GIẢNG:

Phật nói rõ, pháp mầu sâu xa thì phải đúng thời mới nói, nếu nói dễ dàng, người sẽ khinh thường. Xưa, thị giả thiền sư Điểu Khòa là Hội Thông theo học với Thầy thời gian, một hôm từ giã Thầy đi nơi khác.

Sư hỏi:

- Ông đi đâu?

Hội Thông thưa:

- Hội Thông vì pháp mà xuất gia, song Hòa thượng chẳng từ bi chỉ dạy, nay con xin đi các nơi tham học Phật pháp.

Sư bảo:

- Nếu là Phật pháp, ta đây cũng có chút ít.

Hội Thông thưa:
- Thế nào là Phật pháp của Hòa thượng?

Sư bứt sợi lông vải trên thân đưa lên thổi! Ngay đó Hội Thông liền lĩnh hội huyền chỉ.

Chỉ một việc bứt sợi lông vải đưa lên thôi, sao trước kia Sư không làm, phải đợi đến lúc này mới làm? Tức phải chờ đúng lúc thời tiết nhân duyên đầy đủ, tâm người mới khế hợp mà cảm nhận được.

Trong đây, Phật ví dụ bông Linh thoại, tương truyền ngàn năm mới nở một lần. Khi nó nở là có Thánh nhân ra đời, tức chỉ việc ít có, khó gặp! Cho nên Phật ân cần nhắc người khéo tin nhận, chớ vội bỏ qua!

CHÁNH VĂN:

Xá-lợi-phất! Các Đức Phật theo thời nghi nói pháp ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các Đức Phật mới biết được. Vì sao? Các Đức Phật Thế Tôn, chỉ do một nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

Xá-lợi-phất! Sao nói rằng các Đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các Đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai Tri kiến Phật để đặng thanh tịnh mà hiện ra nơi đời, vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo Tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.

Xá-lợi-phất! Đó là các Đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

GIẢNG:

Các Đức Phật theo thời nghi mà nói pháp là sao? Ngầm ý nói, nó không có cố định, không thể chấp vào lời nói đó, vì đó chỉ là phương tiện, chưa phải thật, phải thầm nhận ý thú ngoài lời, ngoài sự suy nghĩ, nên tiếp đó Phật bảo: “Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các Đức Phật mới biết được”.  Vậy mình làm sao hiểu? Phật nói cho ai? Bởi mình cầu hiểu nên không thể hiểu. Mình càng suy thì càng trái xa. Vì pháp đó ở đâu mà mình hiểu mình suy? Hiểu nó là nó ở ngoài mình rồi!

Tiếp đến Phật thổ lộ nhân duyên ra đời, tức chư Phật chỉ vì MỘT NHÂN DUYÊN VIỆC LỚN mà hiện ra đời!

Sao gọi là việc lớn? Bởi nó vượt qua thời gian, không gian, không cái gì trên đời có thể so sánh, nó là cái giải quyết cả kiếp người, cả sự luân hồi trong sinh tử từ vô thủy. Ai cũng có việc lớn đó mà bỏ quên, và nhân duyên việc lớn đó là gì?

Tức là KHAI THỊ cho chúng sanh TỎ NGỘ VÀO TRI KIẾN PHẬT. Tri kiến Phật là gì? Tức cái THẤY BIẾT GIÁC NGỘ hiện sẵn nơi sáu căn của mỗi người đây.

Chúng sanh luôn nhận theo trần mà quên nó nên sống hàng ngày trong đó mà không hề hay biết, đành chịu lưu chuyển trong luân hồi. Chư Phật khai, tức đánh thức cho người NHỚ LẠI, chứ không có khai cái gì mới. Bởi cửa đó sẵn mở rồi, chỉ cần người NHỚ lại, tin nhận là xong.

Lục Tổ nói: “Một niệm tâm sáng, đó là khai Tri kiến Phật.” Ngay đây, một niệm sáng tỏ không mê, tức mở ánh sáng giác ngộ chứ gì? Cho nên nói Phật khai là một phần, một phần chính yếu là mỗi người phải TỰ KHAI.

CHÁNH VĂN:

Đức Phật bảo Xá-lợi-phất: “Các Đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, những điều làm ra thường vì một việc: chỉ đem Tri Kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi”.

Xá-lợi-phất! Đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.

Xá-lợi-phất! Pháp của tất cả các Đức Phật ở mười phương cũng như thế.

Xá-lợi-phất! Thuở quá khứ các Đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều đặng chứng “Nhất thiết chủng trí”.

Xá-lợi-phất! Thuở vị lại, các Đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều đặn chứng “Nhất thiết chủng trí”.

Xá-lợi-phất! Hiện tại này, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các Đức Phật Thế Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sanh. Các Đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều đặng chứng “Nhất thiết chủng trí”.

Xá-lợi-phất! Các Đức Phật đó chỉ giáo hóa bồ tát, vì muốn đem Tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem Tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào Tri kiến Phật vậy.

Xá-lợi-phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bổn tánh kia dùng các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.

Xá-lợi-phất! Như thế đều vì để chứng đặng một Phật thừa “Nhất thiết chủng trí”.

GIẢNG:

Ở đây chú ý: Chư Phật có làm ra điều gì, đều là vì một việc: ĐEM TRI KIẾN PHẬT chỉ cho chúng sanh. Vậy còn nghi gì nữa? Phật có giấu giếm cái gì đâu. Trong đây Phật đã nói rõ, bao nhiêu việc làm sai biệt là đều hướng người về một việc: TỎ NGỘ TRI KIẾN PHẬT! Tức phải đến chư Phật, chớ không phải chỉ đạp theo dấu Phật cho là đủ! Đây là chỗ ba đời chư Phật đều chỉ dạy, không chỉ riêng Phật Thích Ca thôi.

Tại sao Phật chỉ nhắm đến việc này? Bởi các Ngài đều thấy rõ, TRI KIẾN PHẬT là cái ai ai cũng có đủ, không thiếu sót, mà không chỉ ra nó, không đánh thức nhớ lại nó, thì còn chỉ cái gì? Chính kinh Hoa Nghiêm Phật từng nói: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp chước mà không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là trí thanh tịnh, trí tự nhiên, Trí vô sư tự nhiên hiện tiền”.

Tóm lại, ý Phật muốn đưa người đến một Phật thừa, giác ngộ thành Phật, ngoài ra đều là phương tiện.

CHÁNH VĂN:

Xá-lợi-phất! Các Đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược. Như thế Xá-lợi-phất, lúc kiếp loạn trược chúng sanh nhơ nặng, bủn xỉn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các Đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

Xá-lợi-phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A-la-hán cùng Duyên Giác mà không nghe, không biết việc của các Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Duyên Giác.

Lại nữa Xá-lợi-phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tự cho mình là đã đặng A-la-hán, là thân rốt sau rốt ráo niết bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ-kheo thiệt chứng quả A-la-hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ, hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa rất khó có đặng, nếu gặp Đức Phật khác ở trong pháp này bèn đặng hiểu rõ.

Xá-lợi-phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các Đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.

GIẢNG:

Đây Phật chỉ rõ, các Đức Phật ra đời nhằm thời ngũ trược, chúng sanh căn cơ kém, nên phải tùy duyên, phương tiện từ một Phật thừa nói thành ba. Nếu xét tột lý thật thì, TRI KIẾN PHẬT vốn không có đại tiểu, không có hai ba. Như Lục Tổ trả lời cho Ngũ Tổ: “Người thì có Nam Bắc, nhưng Phật tánh của con cùng Hòa thượng đồng nhau”. Vậy thì, Ngài đã Giác được, con cũng có phần Giác được.

Song, Phật sở dĩ nói nhiều pháp là vì sao? Vì chúng sanh có nhiều bệnh, Phật phải nhiều thuốc để cho thích hợp. Tức tùy chỗ ưa muốn, mê chấp của họ mà cởi mở lần lần, để cuối cùng cũng đưa về Phật thừa.

Trong đây, Phật lại nhấn mạnh: THẬT LÀ A-LA-HÁN mà KHÔNG TIN việc này, không biết việc Phật chỉ dạy Bồ-tát, là không có lý. Tức Phật muốn đánh thức: ông CHƯA PHẢI LÀ A-LA-HÁN , mà tự cho mình là A-la-hán, cần phải xét lại!

Thật sự A-LA-HÁN là sạch hết phiền não, sao còn tự mãn? Sao còn chấp vào chỗ mình được?

Phật cũng nhấn mạnh: “Những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đó, tự cho mình đã được thôi”, chứ không phải thật được!

Phật nói rõ thêm, trừ lúc Phật diệt độ, hiện tiền không có Phật, nhưng gặp Phật khác bèn ở trong pháp này mà hiểu được. Hiện tiền không có Phật, tức vắng bóng ánh sáng giác ngộ, nên khó tin. Song nếu họ thọ trì, đọc tụng, dù không hiểu, nhưng cũng gieo cái nhân xa. Đủ duyên, gặp Phật khác liền tỏ hiểu không mất. Phật khác ở đâu? Tức ĐẠO NHÂN VÔ TÂM đó! Gặp vị này liền TIN NGAY.

Trong phần này có nói đến thời ngũ trược, vậy ngũ trược là gì? Nghĩa là:

1 - Kiếp trược: thời chúng sanh tạo nhiều ác nghiệp tụ hội trong đó, tuổi thọ ngắn ngủi nhiều tai ương, tật dịch v.v… 

2 - Phiền não trược: chúng sanh nhiều phiền não tham sân si, loạn tâm thần, đắm nặng trong ngũ dục.

3 - Chúng sanh trược: tức người nhiều chủng tử tệ ác chiêu cảm đến, không biết tu thiện, theo tình tạo nghiệp, không cầu giải thoát.

4 - Kiến trược: xa thời Phật, tà phát sinh, người nhiều chấp trước sai lầm, không đúng lẽ thật.

5 - Mạng trược: do ít biết tu thiện, nghiệp lành kém mỏng, nên thọ mạng thường ngắn ngủi.

Tức trong thời này, chúng sanh can cường khó nghe, khó tin hiểu, Phật bất đắc dĩ phải vì họ chìu uốn, dẫn dắt từ từ, chưa thể nói thẳng giác ngộ thành Phật, phải nói tu hành giải thoát khổ là điều cần trước.

CHÁNH VĂN:

Khi ấy Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni 
Cưu lòng tăng thượng mạn
Cận sự nam ngã mạn
Cận sự nữ chẳng tin
Hàng bốn chúng như thế
Số kia có năm nghìn
Chẳng tự thấy lỗi mình
Nơi giới có thiếu sót
Tiếc giữ tội quấy mình
Trí nhỏ đó đã ra
Bọn cám tấm trong chúng
Oai Đức Phật phải đi
Gã đó kém phước đức
Chẳng kham lãnh pháp này
Chúng nay không cành lá
Chỉ có những hạt chắc.

GIẢNG:

Chẳng thấy lỗi mình, tức thiếu phản tỉnh, thiếu thành thật với chính mình, nên khuyết giới, là giữ tội. Tức che đậy tội lỗi, dở xấu của mình thì làm sao tin được VIỆC LỚN.

Đây muốn nhắc phải RẤT THÀNH THẬT với chính mình, chỗ nào chưa thật biết, thật rõ, còn nghi chưa quyết, phải tìm được thiện tri thức thưa hỏi cho rõ ràng. Phải buông sạch những tâm niệm cành lá, thuần là một lòng chân thật. Thì dễ tiếp nhận pháp này.

CHÁNH VĂN:

Xá-lợi-phất khéo nghe!
Pháp của các Phật đặng
Vô lượng sức phương tiện
Mà vì chúng sanh nói
Tâm của chúng sanh nghĩ
Các món đạo ra làm
Bao nhiêu những tánh dục
Nghiệp lành dữ đời trước
Phật biết hết thế rồi
Dùng các duyên thí dụ
Lời lẽ sức phương tiện
Khiến tất cả vui mừng
Hoặc là nói khế kinh
Cô khởi cùng bổn sự
Bổn sinh, vị tằng hữu
Cũng nói những nhân duyên
Thí dụ và trùng tụng
Luận nghị cộng chín kinh
Căn độn ưa pháp nhỏ
Tham chấp nơi sinh tử
Nơi vô lượng Đức Phật
Chẳng tu đạo sâu mầu
Bị các khổ não loạn
Vì đó nói Niết-bàn
Ta bày phương tiện đó
Khiến đều vào tuệ Phật
Chưa từng nói các ông
Sẽ đặng thành Phật đạo
Sỡ dĩ chưa từng nói
Vì giờ nói chưa đến
Nay chính là đến giờ
Quyết định nói Đại thừa.

GIẢNG:

Phật phương tiện tùy bệnh cho thuốc, có lập có phá. Những điều trước đây Phật lập bày ra, đều vì việc lớn này, không thể dính kẹt trong đó!

CHÁNH VĂN:

Chín bộ pháp của ta
Thuận theo chúng sanh nói
Vào Đại thừa làm gốc
Nên mới nói kinh này.

GIẢNG:

Phần trước Phật lập lại tùy theo tánh dục của chúng sanh, Ngài nói ra chín bộ kinh, đó cũng là phương tiện khiến đều vào trí tuệ Phật. Giờ đến đây đúng lúc rồi, Ngài quyết định nói Đại thừa. Phật nói tiếp, chín bộ pháp đó, Ngài thuận theo chúng sanh mà nói, rồi cũng đưa vào Đại thừa, lấy Đại thừa làm gốc nên bây giờ lại nói kinh này. Vậy Đại thừa cũng không rời Tiểu thừa, nói Tiểu thừa hay Đại thừa đó là phương tiện thôi, cũng đều đưa về một việc chính.

CHÁNH VĂN:

Có Phật tử tâm tịnh
Êm dịu và căn lợi
Nơi vô lượng các Phật
Mà tu đạo sâu mầu
Vì hàng Phật tử này
Nói kinh Đại thừa đây
Ta ghi cho người đó
Đời sau thành Phật đạo.

GIẢNG:

Ở đây, Phật nói có những người Phật tử tâm được thanh tịnh, căn bén nhạy lanh lợi là người lợi căn, Phật mới vì hạng này mà nói thẳng lý thật là thành Phật. Vì những người này nghe được thì liền tin nhận, nhưng Phật nói rõ, ở đây không phải là hạng nói lý suông mà những vị này đã ở nơi nhiều Đức Phật, có tu hành đạo lý sâu mầu, cho nên vì những người này mà nói kinh Đại thừa đây, khiến cho đời sau được thành Phật đạo. Song nói được đó không phải là cái mới có, mà là cái đã sẵn nơi mình. Ở đây quý vị nghe kiểm lại xem, sao không nói ngay đời đó thành mà nói đời sau sẽ thành Phật đạo? Đó là nói lên cần phải sống cho đầy đủ trọn vẹn trong đó, thì mới viên mãn công phu, viên mãn Phật quả, không phải nói sẵn có là xong rồi; hoặc thấy được, nhận được là xong. Nên ở đây, Phật nói rõ ràng, những người này đã có ở nơi vô lượng các Đức Phật, tu những đạo sâu mầu, nhưng Phật cũng thọ ký cho họ đời sau sẽ thành Phật đạo, tức là còn phải sống cho được đầy đủ, được trọn vẹn trong đó, chớ không phải nhận trên lý thôi.

CHÁNH VĂN:

Bởi thân tâm niệm Phật
Tu trì tịnh giới vậy
Hạng nghe nói thành Phật
Rất mừng đầy khắp mình
Phật biết tâm của kia
Nên vì nói Đại thừa
Thanh Văn hoặc Bồ-tát
Nghe ta nói pháp ra
Nhẫn đến một bài kệ
Đều thành Phật không nghi.

GIẢNG:

Thâm tâm niệm Phật là luôn luôn nhớ Phật không quên.

Như vậy tâm mình nhớ Phật, Phật nhớ mình - Là có sự tương ứng, và nhớ Phật là gợi lại Phật chính mình, đó là bước để mình sống lại chính mình. Luôn nhớ là nhớ như vậy và tu trì tịnh giới, cho nên những hạng người này nghe thành Phật thì rất vui mừng.

Đây là hạng tu trì đàng hoàng nên nói tu trì tịnh giới, chớ không phải nói trên ngôn ngữ thôi.

Hạng này nghe thành Phật
Rất mừng đầy khắp mình.

Đây là hạt giống Phật rất mạnh, rất vững, có lòng tin sâu, nên nghe việc này thì mừng, mừng đầy khắp mình, chứ không phải nghe phớt phớt bên ngoài.

Bởi họ có hạt giống Phật mạnh sẵn và Phật cũng biết tâm niệm của chính họ nữa, thầy trò khế hợp nhau, nên khi Phật nói ra họ tin nhận liền. Giống như con gà mẹ với trứng gà con, khi trứng gà gần đến thời kỳ nở thì gà con trong trứng phát ra tiếng, gà mẹ nghe liền mổ lủng vỏ, gà con ra liền.

Đây cũng vậy, hạt giống Phật của người đó nó đã sâu dầy, Phật biết vậy liền đánh thức họ đúng lúc thì họ liền tin và tỏ sáng. Nên Phật biết vậy rồi, liền nói Đại thừa, Thanh văn, Bồ-tát đó nghe Phật nói pháp ra dù chỉ một bài kệ thôi cũng đều thành Phật không nghi. Vậy để rõ, ai ai cũng đều có việc này, không phải Thanh văn mất phần thành Phật. Có khi Phật quở Thanh Văn để đánh thức họ và thúc đẩy các vị ấy tiến lên, chớ không phải nói Thanh Văn là không có phần.

CHÁNH VĂN

Trong cõi nước mười phương
Chỉ có một thừa pháp
Không hai cũng không ba
Trừ Phật phương tiện nói.

GIẢNG:

Phật xác định rõ ràng: trong cõi nước mười phương chỉ có một thừa pháp, không hai cũng không ba gì hết, vì phương tiện mà Phật nói có sai biệt vậy thôi. Mà thừa pháp đó là gì? - Là Tri kiến Phật, mình phải thấy pháp chân thật đó, không phân biệt hai ba.

CHÁNH VĂN:

Chỉ dùng danh tự giả
Dắt dẫn các chúng sanh
Vì nói trí tuệ Phật.
Các Phật ra nơi đời
Chỉ một việc này thiệt
Hai thứ chẳng phải chân
Trọn chẳng đem Tiểu thừa
Mà tế độ chúng sanh.

GIẢNG:

Đây Phật nói thêm, những điều Phật nói chỉ là dùng danh từ giả tạm để dẫn dắt, vậy vì sao chúng ta lại bám chấp vào danh từ đó, kẹt trên danh từ giả đó, là mình chết trên cái giả danh, mắc kẹt trên đó rồi phân chia đây kia, yêu ghét, cao thấp v.v…, càng đi xa cái thật. Danh từ giả đó là gì? - Thí dụ như Phật nói Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát hoặc quả này quả nọ, đó là danh từ tạm gọi mà thôi; nếu mình nói: tôi tu theo Đại thừa, còn anh tu theo Tiểu thừa nên tui cao, anh nhỏ anh thấp, thì chính tâm đó là tâm gì? - Là tâm sinh tử.

Còn Tri kiến Phật có tiểu đại gì không? Hiểu như vậy thì mới thấy được ý Phật muốn chỉ, cho nên:

Các Phật ra nơi đời
Chỉ một việc này thiệt
Hai chứ chẳng phải chân

Như vậy, thấy có một, có hai, có ba, đó là không phải thật, cho nên Phật nói:

Trọn chẳng đem Tiểu thừa
Mà tế độ chúng sanh.

Phật nói Tiểu thừa cũng là phương tiện, chứ bản ý của Phật là muốn hướng người đến chỗ Phật thừa này.

CHÁNH VĂN:

Phật tự trụ Đại thừa
Như pháp của mình đặng
Định, tuệ, lực trang nghiêm
Dùng đây độ chúng sanh.

GIẢNG:

Ở đây Phật nói: Ngài tự trụ Đại thừa, như pháp mình chứng đặng, dùng để độ chúng sanh. Đó là Phật muốn nói ra cái gì? Tức là ngài nói ra từ chỗ chứng nghiệm. Ngài được cái gì, ngài nói ra để giáo hóa chúng sanh chứ không dấu giếm gì hết.

CHÁNH VĂN:

Tự chứng đạo Vô thượng
Pháp bình đẳng Đại thừa
Nếu dùng Tiểu thừa độ
Nhẫn đến nơi một người
Thời ta đọa xan tham
Việc ấy tất không được.

GIẢNG:

Phật nói rõ, Ngài không có một chút gì giấu giếm, chẳng qua là mình chưa thể tin nhận kịp thôi. Nếu Ngài có một chút gì giấu diếm, tức là dùng Tiểu thừa độ, dù chỉ một người là thành xan tham rồi. Phật không có điều đó. Nhưng có điều, chỗ đó là chỗ khó nói, nên ngài phải dùng phương tiện nói thế này, nói thế kia, để cho người căn cơ khế hợp rồi thầm tin nhận lấy.

Ngài nói: “Tự chứng đạo Vô Thượng đó là pháp bình đẳng”. Bình đẳng là không cao thấp, hơn thua. Không phải ngài có mình không có. Chỗ bình đẳng này không phải là san bằng hết, mà là ai ai cũng đủ cái đó. Phật chứng được thì mình cũng chứng được, chớ không phải cái này dành riêng cho Đức Phật thôi.

Phật khéo, Ngài nhận được trước và sống được thì Ngài thành Phật. Còn mình chưa hoặc là mới nhận, nếu mình sống trọn vẹn đầy đủ rồi thì mình cũng thành Phật. Đó là bình đẳng không hai, không sai khác, chính đó là chỗ đặc biệt trong nhà Phật.

Vì thế, Ngài chứng được thì muốn chỉ cho mọi người chứng được như Ngài. Chính vì vậy mà có câu: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”.

CHÁNH VĂN:

Nếu người tin về Phật
Như Lai chẳng dối gạt
Cũng không lòng tham ganh
Dứt ác trong các pháp
Nên Phật ở mười phương
Mà riêng không chỗ sợ.

GIẢNG:

Ở đây Phật nói rõ hơn, Ngài nhấn mạnh: nếu người tin về Phật, là tin tưởng được Như Lai chẳng dối gạt. Bởi vì mình tin được điều đó thì mình mới thấy được Như Lai không dối gạt mình, chứ chưa tin nổi thì cũng còn nghi. Nói ai cũng thành Phật hết, mà ai cũng còn đủ nghiệp chướng sao thành Phật được? Mình có tin nhận điều này rồi thì thấy rõ quả thật Phật không dối gạt mình. Đó là lẽ thật. Tuy nghiệp chướng đó, nhưng Tri kiến Phật vẫn hằng hiện hữu nơi sáu căn không mất.

Ngài nói rõ thêm, Ngài không có lòng tham ganh ghét gì hết; chính Ngài đã dứt sạch cái ác ở trong các pháp rồi, cho nên dù Phật ở mười phương mà Ngài riêng không có sợ. Ngài nói ra điều này là quyết định xác thực, dù chưa có mười phương chư Phật ở khắp nơi đó, Ngài cũng nói ra một cách mạnh mẽ chứ không có e dè sợ sệt gì. Còn mình khi nói, thì e dè, sợ không biết có đúng không, sợ mình nói lỡ bị người ta bắt bẻ thì sao? Chứng tỏ những điều mình nói ra là những điều mình học lại thôi, chưa phải là chỗ thực sống của mình nói ra. Rồi Ngài nói rõ:

CHÁNH VĂN:

Ta dùng tướng trang nghiêm
Ánh sáng soi trong đời
Đấng vô lượng chúng trọng
Vì nói thiệt tướng ấn.

GIẢNG:

Đây là Ngài nói thật tướng ấn, tức nói đến chỗ chân thật chứ không còn giấu diếm nữa. Ngài đem ánh sáng giác ngộ này soi sáng cho thế gian. Ngài ra đời chỉ vì một việc này thôi.

CHÁNH VĂN:

Xá-lợi-phất! Nên biết
Ta vốn lập thệ nguyện
Muốn cho tất cả chúng
Bằng như ta không khác
Như ta xưa đã nguyện
Nay đã đầy đủ rồi
Độ tất cả chúng sanh
Đều khiến vào Phật đạo.

GIẢNG:

Phật nói rõ hơn nữa, Ngài ra đời muốn cho mọi người bằng như Ngài, chứ không thua kém Ngài. Rõ ràng đó là tinh thần vô ngã chân thật, không giấu nghề.

Bởi lẽ thật này là lẽ thật nơi tất cả, cho dù có nói hết đi nữa cũng không nói hết chỗ đó, vì chỗ đó không thể dùng ngôn ngữ nói đến được. Trước kia Ngài đã nguyện, bây giờ đây đã đầy đủ rồi, độ hết cả chúng sanh đều khiến vào Phật đạo. Quý vị nghe như vậy có nghi không? Tại sao mình còn ngồi đây mà nói độ hết? - Trước Ngài đã gieo nhân lành, tạo duyên, gây niềm tin cho mọi người khiến cho ai cũng tin nhận mình có Phật tánh, có phần thành Phật đạo. Những vị trực tiếp nghe Ngài dạy thì đều được Ngài thọ ký. Nhưng đối với người chưa trực tiếp, Ngài cũng gián tiếp gieo nhân duyên đó, như mình đây, Ngài gián tiếp gieo cho mình tin nhận được cái chân thật đó, nghĩa là Ngài gieo nhân duyên đầy đủ hết chứ không bỏ sót ai.

CHÁNH VĂN:

Nếu ta gặp chúng sanh
Dùng Phật đạo dạy cả
Kẻ vô trí rối sai
Mê lầm không nhận lời. 

GIẢNG:

Ngài nói rõ, nếu gặp ai Ngài cũng nói thành Phật hết thì với kẻ vô trí tâm loạn sẽ không tin nhận, nhiều khi còn phỉ báng trở lại, cho nên Ngài chưa vội nói, Ngài chỉ gieo duyên lành cho họ hướng đến.

CHÁNH VĂN:

Ta rõ chúng sanh đó
Chưa từng tu cội lành
Chấp chặt nơi ngũ dục
Vì si ái sinh khổ
Bởi nhân duyên các dục
Sa vào ba đường dữ
Xoay lăn trong sáu nẻo
Chịu đủ những khổ độc
Thân mọn thọ bào thai
Đời đời tăng trưởng luôn
Người đức mỏng ít phước
Các sự khổ bức ngặt
Vào rừng rậm tà kiến
Hoặc chấp có chấp không
Nương gá các chấp này
Đầy đủ sáu mươi hai.

GIẢNG:

Như vậy cho thấy rõ những người thiếu căn lành đó, do chấp chặt nơi ngũ dục bị si ái làm khổ, cho nên từ đó mà đi vào ba đường dữ, luân hồi trong sáu nẻo, chịu khổ độc. Vì phước đức mỏng nên bị cái khổ nó bức ngặt, rồi ở trong rừng rậm tà kiến, chấp có chấp không, cứ thế mà lẩn quẩn mãi không ra khỏi. Ở đây hãy chú ý, sở dĩ khổ đó là từ đâu? - Vì si ái. Chính si ái đó mà khổ. Si là si mê không thấy đúng lẽ thật, rồi mới chấp vào cái ngã này, yêu tiếc lấy nó rồi từ đó tạo nghiệp chịu khổ thôi chứ gì? Cho nên nói nó là si ái. Chẳng hạn tham là tham cho cái gì? Tham cho cái ta này nó hưởng chứ gì? Rồi sân thì cũng do cái gì mà sân? Cũng do cái ngã này, vì dụng đến nó mà sân. Còn kiêu căng tự đắc là gì? Cũng vì cái ngã thôi, vì muốn đưa nó lên cao. Mà cái gì là ngã này? - Kiểm lại, cái này là giả dối thôi. Do si mê tưởng là thật cho nên chấp là có ngã thật ở trong ấy, bám chặt vào đó rồi từ đó mà tạo tội chịu khổ. Bởi vậy nếu xét cho kỹ, mình bớt chấp ngã được chừng nào thì mình được nhẹ nhàng chừng nấy. Ở đâu, hay ở chỗ nào mà vắng bóng si ái này, vắng bóng cái ta này, cộng thêm cái của ta nữa thì chính ngay đó là Niết-bàn chứ gì? Có bóng dáng của cái ta này là lối đi vào sinh tử, vắng bóng nó thì ngay đó là Niết-bàn chứ không có gì khác. Cho nên Niết-bàn không phải là chỗ nào khác mà ngay nơi hiện tại đây thôi. Nhưng ở đây mình vì cái si mê đó mà chấp chặt vào cái ngã này, do chấp chặt cái ngã đó mà sinh ra các tà kiến. Đây nói tà kiến đó như rừng rậm, vào trong đó rồi không biết lối ra. Nghĩa là quanh quẩn trong những cái chấp đó, mà bao nhiêu những tà kiến đó cuối cùng đem gom lại không ngoài hai thứ “có - không”.

Nếu mình sạch những cái chấp có, chấp không thi ngay đó là lặng lẽ giải thoát. Nhưng mình đâu có chịu như vậy. Không chấp có thì cũng rơi vào chấp không, còn không chấp không thì cũng rơi vào chấp có.

Thí dụ mình nói tu hành phải đạt đạo. Đạo gì để đạt? Tưởng có đạo để đạt là chấp có, còn nếu bỏ không thèm tu gì hết là chấp không, thành ra lẩn quẩn, không ở bên này cũng rơi vào bên kia. Ở đây nếu quên được niệm Phật biệt có - không thì ngay đó tâm lặng lẽ. Mà tâm lặng lẽ tức là Niết-bàn, vậy thôi.

Vậy nếu không bám chấp vào đó thì sẽ mở sáng được con đường giác ngộ. Còn bám chặt vào đó thì lý thật bị che mờ. Cho nên Phật nói:

CHÁNH VĂN:

Chấp chặt pháp hư vọng
Bền nhận không bỏ đặng
Ngã mạn tự khoe cao
Dua nịnh lòng không thiệt
Trong ngàn muôn ức kiếp
Chẳng nghe danh tự Phật
Cũng chẳng nghe chánh pháp
Người như thế khó độ.

GIẢNG:

Vì chấp chặt pháp hư vọng mà bền nhận không bỏ được, nên cứ lẩn quẩn mãi trong đó. Có khi cả muôn kiếp mà không nghe được danh từ Phật. Trong khi đó, mình có duyên lành học Phật, tức là mình có hạt giống đó đã được gieo sâu rồi.

CHÁNH VĂN:

Cho nên Xá-lợi-phất!
Ta vì bày phương tiện
Nói các đạo dứt khổ
Chỉ cho đó Niết-bàn
Ta dẫu nói Niết-bàn
Cũng chẳng phải thiệt diệt.

GIẢNG:

Niết-bàn là tịch diệt vắng lặng. Nhưng Ngài nói Niết-bàn đó không phải thiệt diệt, bởi vì nhiều người nghe nói Phật đến khi chết là nhập Niết-bàn, cho nên mình mắc kẹt trên từ “Niết-bàn”. Ở đây, Phật nói Niết-bàn là chỉ tâm lặng lẽ, dứt sạch những niệm phân biệt sinh diệt, thì ngay đó là Niết-bàn, chứ không phải đến Niết-bàn là diệt tất cả, không còn gì hết, Phật nói rõ:

“Ta dầu nói Niết-bàn
Cũng chẳng phải thiệt diệt”

Do đó, trong kinh Kim Cang, Phật nói: "Độ chúng sanh nào vào Niết-bàn mà không có chúng sanh nào diệt độ", để chỉ rõ cái sinh tử này nó không thật, những vọng tưởng này cũng không phải thật. Cho nên giác ngộ nó thì nó hết thôi, mà thể của nó vẫn sáng ngời, chớ không có vọng tưởng để diệt, cũng như không có cái sinh tử để diệt, mà ở đây nói Niết-bàn là để đối với sinh tử. Vậy cũng là hai pháp đối đãi mà thôi, phương tiện mà dựng lập. Cốt yếu là mình nhận rõ lại bản tâm của mình, bản tâm vốn là sáng ngời lặng lẽ từ xưa, khi nhận rõ nó thì thấy sinh tử, Niết-bàn chỉ là hai danh từ, nên không mắc kẹt trên đó. Chứ nghe nói nhập Niết-bàn, rồi như vậy không biết đi đâu, không biết mình sống ra sao. Ở đây, nhập Niết-bàn là sống với tâm chân thật của mình, không sinh không diệt đó, chứ không phải là đi đâu.

CHÁNH VĂN:

Các pháp từ bổn lai
Tướng thường tự vắng lặng
Phật tử hành đạo rồi
Đời sau đặng thành Phật
Ta có sức phương tiện
Mở bày khắp ba thừa
Tất cả các Thế Tôn
Đều nói đạo nhất thừa.

GIẢNG:

Ở đây Phật nói rõ:
Các pháp từ xưa nay
Tướng thường tự vắng lặng

Như vậy là để nói lên cái gì? Quý vị nghe có nghi không? Trong khi đó mình thấy nó lăng xăng đủ thứ hết, ra ngoài đường là thấy xe chạy, sao vắng lặng được? Ở đây muốn chỉ cho thật tướng chứ không phải chỉ cho tướng hư dối này. Chính những tướng này là tướng thật tướng thôi, nhưng làm sao thấy được thật tướng này? Mình thấy tất cả tướng hiện tại đó, nhưng không khởi tâm động niệm phân biệt trên đó, thì nó có động tịnh gì? Có sinh có diệt gì? Nói rõ hơn là, thấy tất cả mà không chen cái ngã này vào, dù cho có sinh diệt thì những sinh diệt này cũng như như thôi. Còn mình chen cái tôi vào mới sinh chuyện, chen cái tôi này mới có này có kia, có tôi có anh, có yêu có ghét, thì đó là sinh diệt. Còn thấy biết tất cả không chen cái tôi này vào, thấy nó là nó thôi, nó vắng lặng là như vậy, là không có niệm sanh diệt, nó là nó như vậy thôi, đó là thấy không sinh diệt. Vậy muốn nói lên ngay sinh diệt đó là vô sinh chứ không có gì khác, không phải chạy tìm cái vô sinh ở đâu, Do đó mà:

Phật tử hành đạo rồi
Đời sau đặng thành Phật.

Thành Phật là thành cái sẵn tự vắng lặng đó, chứ không phải có cái khác. Và tuy mở bày nói ba thừa đó là đạo nhất thừa thôi, cốt yếu là không ngoài đưa người trở về Tri kiến Phật, cho nên nói gì thì nói, Ngài cũng nhấn mạnh chỗ đó.

CHÁNH VĂN:

Nay trong đại chúng này
Đều nên trừ nghi lầm
Lời Phật nói không khác
Chỉ một, không hai thừa.

GIẢNG:

Phật nhấn mạnh lại khiến cho mọi người tin chắc chắn, Ngài nói phương tiện chỉ để đưa về nhất thừa.

CHÁNH VĂN:

Vô số kiếp đã qua
Vô lượng Phật diệt độ
Trăm nghìn muôn ức Phật
Số nhiều không lường được
Các Thế Tôn như thế
Các món duyên thí dụ
Vô số ức phương tiện
Diễn nói các pháp tướng
Các Đức Thế Tôn đó
Đều nói pháp nhất thừa
Độ vô số chúng sanh
Khiến vào nơi Phật đạo.

GIẢNG:

Bao nhiêu Phật quá khứ ra đời, cũng không ngoài nói về Tri kiến Phật, mở sáng Tri kiến Phật, mới là căn bản, chứ đừng kẹt trên hình thức sai biệt.

CHÁNH VĂN:

Lại các Đại Thánh Chúa
Biết tất cả thế gian
Trời người loài quần sinh
Thâm tâm chỗ ưa muốn
Bèn dùng phương tiện khác
Giúp bày nghĩa đệ nhất.

GIẢNG:

Đây nói các bậc Đại Thánh Chúa là chỉ cho các Đức Phật. Ngài biết được thâm tâm của mọi người ưa muốn cái gì đó, tùy chỗ ham muốn đó, Ngài dùng phương tiện để giúp bày cho nghĩa đệ nhất này. Những phương tiện Ngài đưa ra, là để thầm nhận cái này. Ngay đó, có ai cảm nhận được chỗ phóng quang chưa? Phật phóng quang đó cũng là cái gì? Đó cũng là phương tiện khác, để giúp bày cho nghĩa đệ nhất này, bởi vì nghĩa đệ nhất này không thể diễn tả được, cho nên phóng quang đó là nhắc cho mọi người nhớ ánh sáng đó. Hiểu được ý này, quý vị đọc sách Thiền thấy các Thiền sư cũng dùng cách này đánh thức mình. Chẳng hạn, các Ngài đưa ngón tay hay cúi đầu hoặc là tằng hắng, le lưỡi cũng là cái gì? Cũng là phương tiện khác để giúp bày cho nghĩa đệ nhất này. Đưa ngón tay lên để làm gì? Để đánh thức nghĩa đệ nhất ngay trước mắt đó. Các Ngài tằng hắng, le lưỡi để đánh thức chỗ không thể nói được đó. Mình phải khéo vượt qua phương tiện đó để sống lại chính mình, soi lại mình đó là gốc. Do đó, Ngài Bá Trượng nhắc là: “Đọc kinh xem giáo lý phải luôn luôn soi lại mình”. 

Mục Lục