Kinh này gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Vậy Diệu Pháp là gì?
- Diệu: tức là mầu nhiệm. Sao gọi là mầu nhiệm? - Bởi vì, chỗ này nói không thể hết, nghĩ không thể đến, gọi là dứt đường ngôn ngữ, bặt dấu tâm hành. Bất khả thuyết, bất khả tư nghi, tạm gọi là Diệu. Nếu nói được, nghĩ được thì đâu còn Diệu nữa.
Như Ngài Đạt Quán Dĩnh nói về sự lý với ngài Cốc Ẩn, Sư nói:
- Như Thạch Đầu nói: “Chấp sự nguyên là mê, khế lý cũng chẳng phải ngộ”.
Cốc Ẩn hỏi:
- Dùng làm lời nói thuốc hay lời nói bệnh?
Sư thưa:
- Lời nói thuốc.
Cốc Ẩn quở:
- Ông lấy bệnh làm thuốc, đâu có thể được.
Sư thưa:
- Sự như phong thư được gói kín. Lý như mũi tên thẳng nhọn. Chỗ nhiệm mầu đâu có thêm mà còn cho là bệnh, thật chưa rõ yếu chỉ?
Sự như phong thư được gói kín là sao? - Là không có lộ ra ngoài. Còn lý giống mũi tên thẳng nhọn, là cũng không có gì mà chạm đến được. Tức cái lý, cái sự nó vi diệu đến như thế rồi, mà còn cho là bệnh, thật không hiểu nổi!
Ngài Cốc Ẩn liền bảo:
- Chỗ nhiệm mầu đến như thế đó, cũng gọi là sự lý thôi, còn cái ý chỉ của Tổ Sư là "chỗ trí biết không thể đến được", huống chi là sự lý hay cùng tột đó sao!
Nghĩa là chỗ ý chỉ của Tổ Sư, là chỗ trí biết không thể đến được, huống nữa là mình dùng cái sự lý để mà bàn bạc. Bởi vậy, dù mình bàn bạc sự lý nói cho hay cách mấy đi nữa, nói cái lý mà thao thao bất tuyệt, nhưng cũng chưa rời khỏi cái môi.
Bởi vậy ngài Cốc Ẩn nói chỗ ý Tổ Sư đó, trí không thể biết đến được. Như vậy ý chỉ của Tổ Sư đó, trí biết còn không biết đến được, huống chi ý của Phật. Cho nên mình còn lý luận được hoặc là lý, hoặc là sự đó, thì quả là chưa thật mầu nhiệm, chưa thật diệu.
Có vị tăng hỏi Thiền sư Đạo Ngộ:
- Thế nào là nói huyền diệu?
Đạo Ngộ bảo:
- Chớ bảo ta hiểu Phật pháp.
Bởi vì có chỗ hiểu thì hết diệu rồi, là có thức tình phân biệt, cái đó chúng sanh cũng hiểu được, những học giả, trí thức thế gian suy nghĩ họ cũng hiểu được, thì sao gọi là diệu? Cho nên, ở đây Đạo Ngộ nói: “Chớ bảo ta hiểu Phật pháp”. Đơn giản mà rất là sâu xa. Bởi vậy mà một chữ “diệu” này có thể nói hoài không hết. Nói hết, thì hết diệu. Do đó, đọc kinh Pháp Hoa mình thấy cái diệu đó còn dài dài.
Phật trước khi nói kinh này, tại sao Ngài không vào nói liền đi mà phải nói kinh Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm? Có diệu chưa? Nói kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh đó là kinh gì? Rồi còn nhập định Vô Lượng Nghĩa Xứ, chưa chịu nói Pháp Hoa, như vậy diệu không? Rồi Ngài phóng hào quang từ chặng mày soi thấu hết tất cả thế giới khắp nơi, ở trong đó hiện ra đủ chuyện, Ngài nói rằng những việc này, những chỗ này thật là khó thể mà nói hết được. Trí Xá-lợi-phất cộng lại như lúa, mè, tre, lau cũng không hiểu được nữa. Không thể suy hiểu được thì diệu không? Rồi tiếp tục về sau, Phật thuyết pháp như vậy đó, bỗng Bồ-tát từ dưới đất vọt lên, vọt lên đầy khắp. Một tiếng tằng hắng thì vang khắp cả đại thiên thế giới. Có thể dùng cái thức tình của thế gian này hiểu hết không? Chính là diệu đó, từ cái diệu này đến cái diệu khác là vi diệu!
Chữ “diệu” này, Ngài Trí Giả Đại sư ngày xưa, giảng một tuần lễ không hết. Như vậy, hiện giờ mình làm sao nói hết đây? Làm sao nói cho hết chữ “diệu” này? Chính xác nhất là để dành lại một phần cho người bổ túc vào.
- Pháp: tức là bổn pháp, không gì khác. Bởi pháp nó có nhiều nghĩa, chỉ cho muôn sự muôn vật cũng là pháp, là những cái đối tượng, là chi duyên của tâm hiểu biết, của thức tình, như pháp trần là những cái bóng dáng còn đọng lại trong tâm, mình không sờ không mó được. Ví dụ như buổi sáng mình đi chợ rồi thấy cái gì đặc biệt đó, chiều về nhớ lại thì cái hình ảnh đó hiện ra trong đầu, đây cũng gọi là pháp, tức pháp trần. Nhưng đó là những pháp sinh diệt, pháp bị duyên. Còn pháp ở đây chỉ cho cái bổn pháp, pháp sẵn có nơi chính mình, nói rõ là chỉ tâm thể hay Tri kiến Phật. Bổn pháp này không có hình tướng, nên không có thể duyên để biết được, mà chính đó mới là DIỆU.
Cho nên, mình thường nghe nói pháp liền suy nghĩ để hiểu thì đó là lầm. Pháp ở đây không phải chỗ suy nghĩ hiểu được. Nếu suy nghĩ hiểu được thì ở sau Phật đâu nói: “Dùng trí tuệ như Ngài Xá-lợi-phất cộng lại, suy nghĩ cũng không thể biết được, rõ được chỗ này”. Chứng Đạo Ca mới vào đầu là “Quân bất kiến”: Anh thấy chăng? Tại sao mới vào đầu chưa nói gì hết, chưa có câu nào, lại hỏi “Anh thấy chăng?” Thấy gì đây? Đó là ý nghĩa rất sâu xa! Đó muốn chỉ cái sẵn có nơi mọi người, nó luôn luôn hiện hữu từ xưa đến giờ, chưa từng thiếu, chưa từng mất, cho nên muốn thấy nó là mê rồi. Thì đó là “Diệu” chưa? Chưa nói gì hết hỏi anh thấy chăng liền, còn nói thế này thế kia, nhiều khi người ta nghe theo lời nói đó mà suy nghĩ để hiểu, để thấy, thì hết diệu rồi. Bởi vậy tiếp theo mới nói là: “Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân”. Chỗ đó dứt học, không học hỏi gì được. Vô vi, là không tạo tác, không làm gì hết. Nhàn đạo nhân, là đạo nhân nhàn thôi, không có tu hành gì, nó sẵn như vậy rồi. Sau mới nói: “Bất ly đương xứ thường trạm nhiên. Mích tức tri quân bất khả kiến”. Bất ly đương xứ, là không có rời ngay chỗ này, mà luôn luôn nó trong sáng rõ ràng. Nhưng vừa tìm biết anh chưa thấy, anh không thể thấy. Vì tìm là hướng ra ngoài rồi. Bởi vậy, mới vào đầu Thiền sư Huyền Giác liền đặt câu hỏi: “Anh thấy chăng” .
Nếu nói theo Kinh Kim Cang thì phải nói là “Diệu pháp đó tức chẳng phải diệu pháp”. Đó là nhấn mạnh, nhân cái ngôn ngữ hay các lời đó, phải thấy trở lại nơi chính mình, vượt qua ngôn ngữ văn tự để trực nhận nó thẳng nơi tự tâm của mình, không qua trung gian suy nghĩ, như vậy mới thật sự thấy bổn pháp, chớ còn suy nghĩ được, đó cũng còn bóng dáng thứ hai thôi.
Đây dẫn câu chuyện cho người nghe nghiệm kỹ lại: ông Cư sĩ Phạm Xung đến tham vấn với Thiền sư Mân. Khi đến đó, uống trà với Thiền sư Mân xong, ông mới thưa:
- Con nay sắp già rồi mà còn phải rơi vào con đường quan quyền, sang cả nên cách việc này hơi xa.
Ngài Viên Thông liền gọi:
- Nội Hàn! Ông Phạm Xung liền: “Dạ!”.
Ngài bảo:
- Có xa đâu!
Mình cứ nhìn ra ngoài nên thấy nó rất xa. Trong khi cái bổn pháp nó sẵn nơi mình, luôn luôn có mặt đây mà vì quên, tưởng như ở nơi nào, nhiều khi còn đi tìm nữa. Cho nên, ở đây Thiền sư Mân nhấn mạnh lại, chỉ gọi: Nội Hàn. Vừa gọi ông biết dạ rồi, như vậy có xa bao giờ đâu? Ngay khi gọi nó nếu ở xa thì khi gọi phải đợi một chút, nó từ từ ở đâu đi tới, vậy mới tạm gọi là xa được. Còn ở đây “mới gọi” thì “dạ liền”. Nó sẵn đó rồi, có xa bao giờ đâu!
Khi nghe như vậy, ông liền vui mừng (tức có chỗ cảm nhận), ông thưa:
- Xin thầy lặp lại lời chỉ dạy (tức là chỉ dạy thêm).
Thiền sư Viên Thông mới bảo:
- Từ đây đến Hồng Đô có bốn lộ trình.
Cũng giống như mình nói từ đây đến Đơn Dương có mấy chục cây số.
Ngay khi đó ông đứng suy nghĩ thì Ngài Viên Thông liền bảo:
- Thấy tức liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ngay đó ông tỉnh ngộ. Thực sự, mình luôn luôn sống hiện hữu với cái chân thật đó. Ở chỗ nào, lúc nào nó cũng luôn luôn hiện hữu đó, có xa bao giờ đâu? Nó cách là còn thấy kẹt nơi “cái ngã” này. Có “ngã” nên cách xa.
Do đó, ở đây nhấn mạnh lại, cái bổn pháp đó chính là Tri kiến Phật chớ không gì khác. Nó sẵn nơi mình, tại mình cứ tưởng đâu xa, không ngờ mình đang sống hằng ngày mà tự mê. Bởi vì sống hằng ngày nó quá gần, mình không ngờ nên tưởng xa. Khi chúng ta nghĩ xa rồi thì mình sinh tâm tưởng tượng. Nhiều khi tưởng tượng diễn tả thế này thế kia, mà càng diễn tả thì càng xa hơn nữa. Bởi vậy, xưa có một vị tăng hỏi Thiền sư Duy Giản:
- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Gia phong là chỗ đặc sắc trong Tông môn của Ngài.
Sư đáp:
- Lý thấu thì đến.
Chỗ đó không phải chỗ lý luận, thấu lý thì đến.
Ông tăng hỏi:
- Như vậy thì làm sao mà lãnh hội được?
Sư đáp:
- Vẽ trĩ chẳng thành gà.
Vẽ con chim trĩ làm sao mà thành con gà được? Càng muốn lãnh hội chừng nào thì càng cách xa chừng ấy thôi. Còn muốn lãnh hội là còn muốn diễn tả để hiểu. Nhiều khi chúng ta có cái tâm từ bi theo thế gian, nghe người ta không hiếu thì mình cũng chịu không nổi, phải diễn tả cho nó rõ ràng, nó rành rẽ thế này thế kia cho hiểu, mà càng diễn tả chừng nào thì càng xa thêm nữa. Bởi vì, mỗi lần diễn tả là mỗi lần người ta nghe càng tưởng tượng thêm ra. Trong khi cái chân thật rất đơn giản, đơn giản đến mức không ngờ. Do đó, các Thiền sư có đánh, có hét, hoặc nói chát tai là để mình bật hết suy nghĩ ra bên ngoài. Vậy ai thấy rõ Diệu Pháp chưa?
Đó là ý nghĩa Diệu Pháp.
- Liên Hoa: tức là hoa sen, là dụ, còn Diệu Pháp là chỉ cho Pháp. Bởi vì Pháp đó quá mầu nhiệm, không nghĩ bàn được, bây giờ làm sao cho người hiểu đây, nên tạm thí dụ hoa sen. Người khéo nhân đây thấy kia, nhân dụ này thấy lý kia, chớ không nên mắc kẹt mà phải thấy được ngoài cái dụ này. Đó cũng nhắc mình thấy được ý ngoài lời.
Bởi vì hoa sen có nhiều ý nghĩa, nhưng đây nhấn mạnh hai điểm:
* Thứ nhất: Hoa sen từ bùn nhơ mà nhô lên, rồi nó tỏa hương mà không dính bùn, không bị bùn nhơ làm ô nhiễm. Cũng vậy, cái Tri Kiến Phật đó, ở trong phiền não chúng sanh đều có. Rõ Tri Kiến Phật này thì nó vốn xưa nay chưa từng nhiễm ô. Tuy ở trong phiền não mà vốn tự thanh tịnh. Nói như vậy có ai dám tin không? Nếu nghiệm kỹ thì thấy rõ, tất cả chúng ta luân hồi trong sanh tử này chừng bao lâu rồi? Mình vào trong vòng luân hồi này, Phật nói từ vô thủy, vô lượng kiếp không biết thời gian là bao lâu nữa. Trong suốt thời gian luân hồi đó cũng làm đủ thứ. Làm trời cũng có, làm quỷ cũng có, có khi xuống địa ngục, súc sanh..., tại sao bây giờ còn ngồi đây?
Cho thấy rõ, trong vòng luân hồi, trong vô thường sanh diệt đó, nó có cái không mất. Cho nên hôm nay vẫn còn ngồi đây! Để tin rằng: trong đó có cái chân thật, gọi là Tri Kiến Phật, nó ở trong phiền não, sanh tử mà không bị ô nhiễm. Do đó, ai được đủ duyên tỏ ngộ thì liền nhận rõ, quả thực lâu nay mình bỏ rơi một cái thật là tự đáng thương vô cùng! Ngay khi đức Phật mới thành đạo, trong Kinh Hoa Nghiêm kể, Ngài liền la lên:
- Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí tuệ của Như Lai. Vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng thì trí thanh tịnh, trí tự nhiên, trí vô sư tự hiện tiền.
Còn như Ngài Lục Tổ khi đại ngộ thì Ngài la lên:
Đâu ngờ tự tánh xưa nay vốn thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh xưa nay vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh xưa nay vốn tự đầy đủ.
Rõ ràng xưa nay nó không thiếu, nó cũng chưa từng sanh diệt, vốn tự thanh tịnh, nó ở trong phiền não của chúng sanh đây mà không bị nhiễm ô. Đó là ý nghĩa hoa sen từ bùn nhơ nhô lên tỏa hương thơm ngát, tức một ý nghĩa nhấn mạnh về Tri Kiến Phật, vốn tự thanh tịnh lìa nhiễm ô.
* Thứ hai: Hoa sen nhân quả đồng thời. Có hoa sen là có gương, có gương là có sẵn quả trong đó. Hoa là nhân, gương là quả thì nhân quả đồng thời. Cũng như mình, có tâm tức có Phật, nhưng mê Tri Kiến Phật ẩn, ngộ thì hiện ra sáng tỏ tự bao giờ, chớ không phải mình ngộ nó mới có. Cho nên trong nhà Thiền có câu "Kiến tánh thành Phật". Kiến tánh là mình ngộ tự tánh mình hay đây là ngộ Tri Kiến Phật, thì liền rõ nó là sẵn đó rồi, vốn sẵn thành Phật rồi. Nhưng nó cũng còn có những vô minh, những tập khí điên đảo chưa sạch hết, mình phải gạn lọc cho hết đi thì tròn sáng thành Phật, là thành cái sẵn có này thôi, không có gì khác. Gọi là nhân quả đồng thời, chớ không phải là do mình tạo ra mới có, từ nhân mà sanh ra quả không phải như vậy. Xưa, vua Tống Hiếu Tông hỏi Ngài Phật Chiếu nhân ngày Phật thành Đạo. Ông hỏi:
- Đức Thích Ca, sáu năm ở trong núi Tuyết tu hành khổ hạnh, rốt cuộc đó là thành cái gì?
Thiền sư Phật Chiếu đáp:
- Sẽ bảo bệ hạ đã quên.
Thành cái bệ hạ đã quên chứ không có gì khác. Tưởng đâu Phật khổ hạnh vậy đó, là thành được cái gì phi phàm ngoài sức tưởng tượng, nhưng không ngờ thành là thành cái “sẵn có tự bao giờ mình bỏ quên”. Cái đó là cái gì? - Tức là Tri Kiến Phật.
Cũng như Tuyết Phong đến chỗ Hoà thượng Đức Sơn thưa:
- Việc ở trong tông thừa từ trước con có phần chăng?
Hòa thượng Đức Sơn đánh cho một gậy, bảo:
- Nói cái gì?
Ngay đó Tuyết Phong bảo rằng Sư giống như cái thùng sơn lủng đáy, rỗng rang.
Hỏi cái việc trong Tông thừa từ trước đến giờ con có phần chăng? Tức là nghi mình không có phần, nhưng mà cái đó có sẵn nơi mọi người, cho nên Ngài Đức Sơn chỉ đập cho một gậy và bảo: "Nói cái gì?". Ngay đó Tuyết Phong liền rỗng rang hết, không còn có cái gì để bám, để tìm cầu nữa, như thùng sơn lủng đáy.
Sau khi Sư ra giáo hoá, có vị Tăng hỏi:
- Hòa thượng ở chỗ Đức Sơn được cái gì mà trở về?
Ngài nói:
- Ta đi tay không, về tay không.
Cũng ngầm ý nhận rõ cái Tri Kiến Phật này hay cái Diệu Pháp đó sẵn có đầy đủ nơi tự tâm của mỗi người, của chính mình. Bởi vì có tâm tức là có giác, do chúng sinh mê lầm không hay biết, cho nên Đức Phật mới ra đời thương xót, dùng đủ mọi phương tiện để đánh thức mình. Cũng như các Tổ ra đời, có khi dùng tiếng hét để đánh thức mình nhớ lại, tỉnh lại. Tóm lại, hoa sen là dụ cho cái Tri Kiến Phật sẵn có nơi chúng ta, dù ở nơi phiền não nhưng cũng không bị nhiễm ô. Ngay nơi đây tỏ sáng trở lại, là nó sẵn có đã thanh tịnh tự bao giờ, không phải do ai làm ra, cũng không phải do mình mới tu mà được.
Như vậy, ý nghĩa Diệu Pháp Liên Hoa đã giải rõ. Nhắc lại, đề kinh này dùng pháp và dụ lập đề. Diệu Pháp là pháp, còn Liên Hoa là dụ. Chính ngay đề đó đã ngầm ý nghĩa sâu xa, nhắc chúng ta phải nhân cái này mà thấy được cái kia, không nên chấp bám vào cái phương tiện đó.
Vậy đề Kinh có thể dịch cho rõ ra là: Kinh Hoa Sen Diệu Pháp hay Kinh Hoa Sen Bổn Pháp Nhiệm Mầu. Ngay đề Kinh này thôi, nếu người lanh lợi một chút thì cũng mở cửa vào được rồi, khỏi phải đợi nói nhiều. Đây nhấn mạnh lại: “Cái Hoa Sen Diệu Pháp này, hiện giờ nó ở đâu? Làm sao thấy?” Tiếp vào phần chánh văn.