|
Thanh Từ Toàn Tập 8 - Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải
Phẩm 4 - 11
IV- PHẨM TÍN GIẢI Tín là tin, giải là hiểu rõ, tín giải là do giải ngộ mà rõ suốt pháp Phật nên có niềm tin sâu xa không thối chuyển. Nếu nương lời Phật dạy tin suông mà không giải ngộ, hoặc tin hiểu một cách cạn cợt thì chưa gọi là tín giải đối với pháp mà Phật muốn chỉ. Sau khi đức Phật chỉ rõ nơi mỗi chúng sanh có tri kiến Phật, tức là mỗi người đã có sẵn Phật nhân, nếu tu sẽ thành Phật quả, các bậc A-la-hán đệ tử Phật như ngài Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên v.v... nghe Phật nói pháp được giải ngộ, các ngài không còn kẹt ở quả vị Thanh văn nữa. Do tin hiểu thâm sâu nên các ngài trình sở ngộ lên đức Phật và sẽ được Phật thọ ký cho. Sự kiện này giống như Thiền tông trình kiến giải và được ấn chứng. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, các ngài Tuệ mạng Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên, từ nơi Phật được nghe pháp chưa từng có. Đức Thế Tôn dự ghi cho ngài Xá-lợi-phất sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, sanh lòng hy hữu hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa y phục trịch bày vai hữu, gối hữu chấm đất, một lòng chắp tay cúi mình cung kính chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch cùng Phật rằng: Chúng con ở đầu trong hàng tăng, tuổi đều già lụn, tự cho đã được Niết-bàn không kham nhiệm gì nữa, chẳng còn thẳng cầu thêm đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Thế Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi tòa thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: Không, vô tướng, vô tác, đối với các pháp du hý thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sanh của Bồ-tát, lòng chúng con không ưa thích. Vì sao? Đức Thế Tôn khiến chúng con ra khỏi ba cõi được chứng Niết-bàn, lại nay đây chúng con tuổi đã già nua, ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Phật dạy Bồ-tát không hề sanh một niệm ưa thích. Chúng con hôm nay ở trước Phật nghe thọ ký cho Thanh văn sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng được pháp chưa từng có, chẳng ngờ hôm nay bỗng nhiên được pháp hy hữu, tự rất mừng may được lợi lành lớn, vô lượng trân báu chẳng tìm cầu mà tự được. Giảng: Trong pháp hội Phật, ngài Xá-lợi-phất là bậc đại căn đại trí, nên khi Phật nói phẩm Phương Tiện ngài liền thấy rõ bản hoài của Phật và nhận ra nơi mình có tri kiến Phật. Ngang đó ngài trình sở ngộ, được Phật ấn chứng và thọ ký cho sau này sẽ thành Phật. Còn các vị A-la-hán trưởng lão như Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên v.v... thuộc hàng trung căn tuy đã nghe Phật giải nói cái nào là phương tiện, cái nào là cứu cánh vẫn chưa dám tin nhận. Đến khi Phật nêu thí dụ rõ ràng, các ngài mới thấy rằng ban đầu được Phật dạy pháp Tiểu thừa, các ngài tu chứng Niết-bàn Thanh văn. Nhưng nay Phật nói quả vị rốt ráo là quả Phật, quả Thanh văn chỉ là giả lập, không phải cứu cánh. Các ngài lãnh hội được lý này và chứng kiến ngài Xá-lợi-phất trình sở ngộ được Phật thọ ký, nên vui mừng đứng lên chiêm ngưỡng dung nhan Phật và nói lên tâm trạng của mình rằng: Đức Thế Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi tòa, thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: Không, vô tướng, vô tác, đối với các pháp du hý thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sanh của Bồ-tát, lòng chúng con không ưa thích. Vì các ngài đã già và đã chứng được Niết-bàn Thanh văn rồi, nên đối với đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác các ngài không hề nghĩ tới. Nay nghe Phật thọ ký hàng Thanh văn sẽ được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các ngài vui mừng vì bất ngờ mà được của báu, thật hy hữu. Qua đoạn này chúng ta thấy tâm nguyện của Thanh văn khác với tâm nguyện của Bồ-tát. Các vị Thanh văn tuổi già, ngồi nghe pháp lâu sanh mỏi mệt, nên không muốn nhớ nhiều chỉ nhớ có ba điều: Không, vô tướng, vô tác là ba môn giải thoát. Khi tu dừng hết mọi vọng tưởng, sạch hết kiết sử gọi đó là Không. Vì không còn vọng tưởng, không còn kiết sử, tâm vắng lặng không hình tướng nên nói là vô tướng. Bởi không có hình tướng nên không có động tác nói là vô tác. Vậy Không, vô tướng, vô tác là ba cửa giải thoát của hàng Nhị thừa. Hàng Thanh văn do nhận được lý ấy mà thoát ly sanh tử. Đó là đứng trên pháp vô vị mà nói. Nếu nhìn trên tướng hữu vi thì các pháp do duyên hợp tạm có các tướng, nhưng không có tự tánh cố định, nó chỉ là giả tướng không thật nên nói là vô tướng. Vì trên tánh không, nó không có tạo tác, vì tạo tác là tướng của duyên, nên nói là vô tác. Hàng Thanh văn lấy làm hài lòng ở ba món giải thoát này, cho đó là đã đủ, không khởi nguyện làm lợi ích chúng sanh. Nên đối với pháp du hý thần thông tam-muội, tịnh cõi Phật, giáo hóa chúng sanh... thì các ngài không ưa thích. Thế nào là du hý thần thông tam-muội? Bồ-tát khi đạt lý tất cả pháp duyên khởi tánh không, bởi tánh không nên duyên hợp tạm có, có mà có trong hư giả huyễn hóa. Bởi huyễn hóa nên Bồ-tát lấy thân như huyễn độ hữu tình như huyễn, khi làm việc độ sanh không thấy có khổ, vì không còn thấy ta là người giáo hóa, chúng sanh là người được độ, do không chấp ta không chấp người nên không khổ. Hằng ra vào trong ba cõi để độ sanh, tâm an vui không buồn không khổ nên gọi là du hý thần thông tam-muội, đó là tâm hạnh của Bồ-tát. Còn tâm hạnh phàm tăng của chúng ta ngày nay làm cái gì là kẹt cái nấy, tới đâu là dính đó, do ngã chấp chưa buông nên ngay khi độ sanh là khởi phiền não. Vì vậy mà không được thần thông du hý tam-muội. Hàng Bồ-tát được du hý tam-muội, nên các ngài hằng tịnh cõi nước Phật bằng cách ra vào trong ba cõi để giáo hóa chúng sanh chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt, nhiều đời nhiều kiếp làm mãi mãi mà không chán. Do thấy thân như huyễn, dù có bỏ thân huyễn mộng này trăm ngàn lần cũng chỉ là trò chơi, nên ra vào ba cõi cũng như đi du hý không sợ. Đến khi công hạnh viên mãn thì Bồ-tát thành Phật. Cõi nước của ngài có vô số quyến thuộc là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát đồng duyên, đồng phước quy hội về, gọi là tịnh Phật quốc độ. Hàng Thanh văn an trụ trong Niết-bàn tịch tịnh, không khởi nguyện độ sanh, vì sợ khởi nguyện là khởi nhân phiền não nên các ngài chìm lặng mãi trong Niết-bàn tịch tịnh. Nhưng nay nghe Phật thọ ký cho hàng Thanh văn sẽ thành Phật thì các ngài vui mừng, thấy rằng bỗng nhiên được của báu, điều mà các ngài không bao giờ nghĩ tới. Chánh văn: 2. Thế Tôn! Chúng con hôm nay xin nói thí dụ để chỉ rõ nghĩa đó. Thí như có người tuổi còn thơ bé, bỏ cha trốn đi qua ở lâu nơi nước khác, hoặc mười, hai mươi đến năm mươi năm; người đó tuổi đã lớn lại thêm nghèo cùng khốn khổ, rong ruổi bốn phương để cầu đồ mặc vật ăn, dạo đi lần lần tình cờ trở về bản quốc. Người cha từ trước đến nay, tìm con không được bèn ở lại tại một thành trong nước đó. Nhà ông giàu lớn của báu vô lượng, các kho đụn, vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, pha lê, châu v.v... thảy đều tràn đầy; tôi tớ, thần tá, lại dân rất đông; voi, ngựa, xe cộ, bò, dê nhiều vô số. Cho vay thâu vào lời lãi khắp đến nước khác, khách thương buôn bán cũng rất đông nhiều. Bấy giờ, gã nghèo cùng kia dạo đến các tụ lạc, trải qua xóm làng, lần hồi đến nơi thành của người cha ở. Người cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly hơn năm mươi năm mà ông vẫn chưa từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ lòng rất ăn năn. Ông tự nghĩ, già nua và có nhiều của cải, vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái, một mai mà chết mất thời của cải tản thất không người giao phó. Cho nên ân cần nhớ luôn đến con. Ông lại nghĩ: Nếu ta gặp được con, ủy phó của cải, thản nhiên khoái lạc không còn sầu lo. Giảng: Chúng sanh đi trên con đường lầm mê, giống hệt như gã cùng tử thơ bé bỏ cha mẹ đi hoang đến xứ người, trải qua thời gian dài từ mười năm tới năm mươi năm, vì nghèo cùng khốn khổ nên rong ruổi bốn phương tìm cầu sự ăn mặc, đi lần lần tình cờ trở về bản quốc. Đó là tâm trạng của chúng sanh ở giai đoạn bối giác hiệp trần. Tự mình có sẵn tánh giác, đầy đủ công đức mà quên, nên đi lang thang trong lục đạo luân hồi, không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Bây giờ bỗng nhiên gặp duyên tốt thức tỉnh cạo tóc xuất gia. Tuy xuất gia mà không nghĩ mình sẽ thành Phật, vì quả Phật quá cao siêu, đòi hỏi phải tích lũy vô lượng vô biên công đức, trải qua thời gian lâu dài, e mình không kham nổi, nên không bao giờ dám nghĩ tu để thành Phật. Tu không phải một đời là thành Phật, mà phải trải qua nhiều đời nhiều kiếp gạn lọc phiền não, tích lũy công đức. Song, tập khí phiền não đâu phải một lần buông là hết, công quả lợi sanh đâu phải làm đôi ba việc là đủ. Vì vậy, phải siêng năng cần mẫn, không ngại gian lao khó nhọc tự mình tiến tu và làm lợi ích cho mọi người, thì khả dĩ tiến được từng bước trên con đường đi đến quả Phật. Nếu nhút nhát yếu hèn sợ lao nhọc khó khổ thì đã đi ngược đường mà Phật đã đi rồi! Có lắm người tưởng vô chùa tu là thảnh thơi nhàn hạ, nhưng không ngờ vô chùa phải thức khuya dậy sớm để tu học, lại còn phải chấp tác vất vả khổ cực bao nhiêu năm trường. Chẳng những nhiều năm, mà là nhiều đời nhiều kiếp mới thành Phật. Vì lý do đó nên sanh tâm lười mỏi thối chuyển không muốn tu nữa. Như vậy là người tu chấp nhận làm đứa con đi hoang nghèo khổ lang thang nơi này chốn nọ để ăn mày ăn xin, chứ không chịu làm con trưởng giả thừa kế sự nghiệp sang giàu của cha, để cho mọi người nương nhờ. Thật là điều đáng tiếc! Con tuy bỏ cha đi hoang, nhưng cha lúc nào cũng nghĩ đến con. Nghĩa là chúng sanh mê, quên tánh giác có sẵn nơi mình nên tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử, còn tánh giác lúc nào cũng sẵn có nơi mỗi chúng sanh không hề thiếu mất. Chánh văn: 3. Thưa Thế Tôn! Bấy giờ gã cùng tử làm thuê làm mướn lần hồi tình cờ đến nhà người cha bèn đứng lại bên cửa, xa thấy cha ngồi giường sư tử, ghế báu đỡ chân, các hàng Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, cư sĩ đều cung kính bao quanh. Trên thân ông đó dùng chuỗi ngọc trân châu giá trị nghìn vạn để trang nghiêm, kẻ lại dân tôi tớ tay cầm phất trần trắng đứng hầu hai bên. Màn báu che trên, những phan đẹp thòng xuống, nước thơm rưới đất, rải các thứ danh hoa, các vật báu chưng bày, phát ra, thâu vào, lấy, cho v.v... có các sự nghiêm sức dường ấy, oai đức rất tôn trọng. Gã cùng tử thấy cha có thế lực lớn liền sanh lòng lo sợ, hối hận về việc đến nhà này, nó thầm nghĩ rằng: Ông này chắc là vua hoặc là bậc đồng vua, chẳng phải là chỗ của ta làm thuê mướn được tiền vật. Chẳng bằng ta qua đến xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức để được đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây hoặc là họ sẽ bức ngặt ép sai ta làm. Gã nghĩ như thế rồi, liền chạy mau đi thẳng. Giảng: Gã cùng tử về đến nhà, thấy ông trưởng giả giàu sang quá, hoảng hốt hãi kinh không dám nhìn cha, bèn bỏ chạy trốn kiếm chỗ nghèo hèn để mưu cầu ăn mặc. Cũng giống như chúng ta phát tâm cắt tóc xuất gia mà không dám nghĩ mình tu sẽ thành Phật, mặc dù hằng đêm miệng đọc tụng: Ngã kim phát tâm bất vị tự cầu nhân thiên phước báo, Thanh văn, Duyên giác nãi chí quyền thừa chư vị Bồ-tát. Duy y tối thượng thừa phát Bồ-đề tâm. Nguyện dữ pháp giới chúng sanh nhất thời đồng đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề... Như thế mà khi tu không dám nghĩ mình sẽ thành Phật. Vì sợ tu khó khổ, sợ độ sanh nhọc nhằn, sợ trải qua trăm ngàn kiếp quá lâu! Người tu phát nguyện lớn, ngoài việc tu tỉnh nơi mình còn phải lăn xả vào đời để giác ngộ cho chúng sanh đời đời kiếp kiếp, không biết mỏi mệt. Nếu đời này tu ít chục năm mà đã ngao ngán mệt mỏi thối lui, như vậy không phải hạnh nguyện của Bồ-tát. Tới đây chắc có nhiều vị sẽ đặt vấn đề với tôi: Thầy nói vậy, tại sao Thầy dự định năm tới sẽ nghỉ dạy. Có phải là Thầy đã thối Bồ-đề tâm và muốn quy tịch không? Như quý vị đã biết, đối với người thực hành Bồ-tát đạo phải tu từ Thập tín... đến Thập địa, đến Đẳng giác, Diệu giác và thành Phật. Muốn thành Phật thì phần tự giác và giác tha phải viên mãn. Nhưng riêng tôi thì những gì tôi tu tôi nhận biết đã nói hết cho quý vị nghe rồi, nếu nói nữa chỉ là việc lặp lại mà thôi, chứ không có gì mới mẻ. Tôi cần phải nghỉ để nỗ lực tu thêm, nếu có phát minh được điều gì mới lạ thì sẽ nói cho quý vị nghe, còn nếu chết thì tôi cũng đi trước quý vị được năm mười bước. Việc thầy tới đâu, trò tới đó thì có gì để học? Vì muốn cho mọi người đều được tiến không dừng thì bổn phận người hướng dẫn phải đi trước. Việc tôi nghỉ dạy không phải là thối tịch ẩn trốn, mà tôi tự thấy rằng chỗ giác ngộ của tôi chưa viên mãn, nên phải nghỉ dạy để có thì giờ nỗ lực tiến tu. Nếu đời này hướng dẫn quý vị không kịp thì đời sau tiếp tục làm nữa, cho đến viên mãn mới thôi. Tôi không chấp nhận: Thầy trò chỉ tiến một đoạn, rồi ngang đó dừng nghỉ không chịu tiến nữa! Chánh văn: 4. Khi đó, ông trưởng giả ngồi nơi tòa sư tử thấy con bèn nhớ biết, lòng rất vui mừng mà tự nghĩ rằng: “Của cải kho tàng của ta nay đã có người giao phó rồi, ta thường nghĩ nhớ đứa con này làm sao gặp được, nay bỗng nó tự đến rất vừa chỗ muốn của ta, ta dầu tuổi già vẫn còn tham tiếc”. Ông liền sai người hầu cận đuổi gấp theo bắt lại. Lúc ấy, kẻ sứ giả chạy mau qua bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu oan: “Tôi không hề xúc phạm, nhân sao lại bị bắt?” Kẻ sứ giả bắt đó càng gấp cưỡng dắt đem về. Khi đó gã cùng tử tự nghĩ không tội chi mà bị bắt bớ đây chắc định phải chết, lại càng sợ sệt mê ngất ngã xuống đất. Người cha xa thấy vậy bèn nói với kẻ sứ giả rằng: “Không cần người đó, chớ cưỡng đem đến, lấy nước lạnh rưới trên mặt cho nó tỉnh lại, đừng nói chi với nó.” Vì sao? Cha biết con mình ý chí hạ liệt, tự biết mình giàu sang làm khiếp sợ cho con. Biết chắc là con rồi mà dùng phương tiện chẳng nói với người khác biết là con mình. Kẻ sứ giả nói với cùng tử: “Nay ta thả ngươi đi đâu tùy ý.” Gã cùng tử vui mừng được điều chưa từng có, từ dưới đất đứng dậy, qua đến xóm nghèo để tìm cầu sự ăn mặc. Giảng: Đã từ lâu, ông trưởng giả tiếc sự nghiệp, mong có người thừa kế, nay biết con mình đã về nên yên lòng có người giao phó sự nghiệp. Nhưng gã cùng tử về tới cửa thấy cha quá giàu sang uy quyền, nên khiếp sợ bỏ chạy tới chỗ nghèo hèn mà nương náu. Khi bị sứ giả rượt bắt gấp thì kinh sợ ngất xỉu, ông bảo thả ra lấy nước rảy cho tỉnh lại. Ở đây nói ông trưởng giả tham tiếc, là tham tiếc kho báu trí tuệ Phật chưa có người truyền trao, chứ không phải tham tiếc tiền của vật chất thế gian. Tâm trạng gã cùng tử giống như tâm trạng người tu chúng ta ở giai đoạn mới vào đạo, học chút ít kinh điển, nghe nói muốn thành Phật thì phải trải qua vô số kiếp hành Bồ-tát đạo, tu lục độ ba-la-mật nào là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn... Bố thí ba-la-mật thì không thấy có người thí, không thấy có kẻ thọ thí và không thấy có vật đem ra bố thí. Bố thí mà không có mình, không có người, không có vật thì làm sao làm? Khó quá! Bèn thối Bồ-đề tâm, hoàn tục sống làm lành lánh dữ để có chút phước đời sau hưởng. Chính vì tâm hạ liệt ấy nên Phật phải dùng phương tiện an ủi, dắt dẫn từ từ. Chánh văn: 5. Bấy giờ, ông trưởng giả toan muốn dụ dẫn người con mà bày chước phương tiện, mật sai hai người hình sắc tiều tụy không có oai đức: “Hai người nên qua xóm kia từ từ nói với gã cùng tử, nơi đây có chỗ làm trả giá gấp bội. Gã cùng tử nếu chịu thời dắt về đây khiến làm. Nếu nó có hỏi muốn sai làm gì? Thời nên nói với nó rằng: Thuê người hốt phân, chúng ta hai người cũng cùng ngươi chung nhau làm.” Khi đó hai người sứ liền tìm gã cùng tử, rồi thuật đủ việc như trên. 6. Bấy giờ, gã cùng tử trước hỏi lấy giá cả liền đến hốt phân. Người cha thấy con, thương xót mà trách đó. Lại một ngày khác ông ở trong cửa sổ xa thấy con ốm o tiều tụy, phân đất bụi bặm dơ dáy không sạch. Ông liền cởi chuỗi ngọc, áo tốt mịn màng cùng đồ trang sức, lại mặc áo thô rách trỉn dơ, bụi đất lấm thân, tay mặt cầm đồ hốt phân, bộ dạng đáng nể sợ, bảo những người làm rằng: “Các ngươi phải siêng làm việc chớ nên lười nghỉ!” Dùng phương tiện đó đặng đến gần người con. Lúc sau lại bảo con rằng: Gã nam tử này! Ngươi thường làm ở đây đừng lại đi nơi khác, ta sẽ trả thêm giá cho ngươi. Những đồ cần dùng như loại bồn, chậu, gạo, bột, muối, dấm, ngươi chớ tự nghi ngại. Cũng có kẻ tớ già hèn hạ, nếu cần ta cấp cho, nên phải an lòng, ta như cha của ngươi chớ có sầu lo. Vì sao? Vì ta tuổi tác già lớn mà ngươi thì trẻ mạnh, ngươi thường trong lúc làm việc, không lòng dối khi, trễ nải, giận hờn nói lời thán oán, đều không thấy ngươi có các điều xấu đó như các người làm công khác. Từ ngày nay nhẫn sau như con đẻ của ta. Tức thời Trưởng giả lại đặt tên cho cùng tử gọi đó là “con”. Khi đó gã cùng tử, dầu mừng việc tình cờ đó, song vẫn còn tự cho mình là khách, là người làm công hèn, vì cớ đó mà trong hai mươi năm thường sai hốt phân, sau đó lòng gã mới lần thể tin ra vào không ngại sợ, nhưng chỗ gã ở cũng vẫn nguyên chỗ cũ. Giảng: Gã cùng tử khi gặp cha mà không dám nhận, hoảng kinh bỏ chạy. Ông trưởng giả ngầm sai hai người làm công có thân hình tiều tụy quê xấu, đến dụ dẫn cùng tử về nhà ông để hốt phân dọn dẹp cho nhà cửa sạch sẽ. Cùng tử nghe nói việc hợp với khả năng mình nên nhận làm. Nhân khi đó, ông mới hóa trang ăn mặc dơ xấu để gần gũi an ủi dụ dẫn cho con biết việc nhà và coi ông như cha. Nghề hốt phân ngầm dụ cho công phu tu hành tẩy trừ vô minh, ba độc cấu uế. Vô minh cấu uế sạch rồi mới chứng A-la-hán. Các vị tu Thanh văn thường hành hạnh đầu-đà, mặc y bằng vải vụn kết lại nên thô xấu, ăn thì ai cho gì dùng nấy, ở dưới cội cây, sống kham khổ nên thân hình gầy ốm. Ngược lại chúng ta nhìn tượng của các Bồ-tát thì vị nào cũng to mập, ăn mặc sang trọng vui tươi. Qua hai hình ảnh đó chúng ta thấy hạnh Thanh văn tu thì phải cần khổ, nỗ lực tư duy thiền quán để diệt trừ phiền não ngay trong kiếp này, không muốn tái sanh lại nữa. Còn Bồ-tát được trí tuệ Bát-nhã thấy các pháp như huyễn, nên tùy duyên ứng hóa, không sợ sanh tử, không cầu Niết-bàn. Thể theo hạnh nguyện, các ngài hiện thân hợp với sở thích của chúng sanh, để gần gũi thân cận mà giáo hóa làm lợi ích cho họ. Vì tâm hạ liệt của chúng sanh không kham nhận được pháp lớn, nên sau khi Phật thành đạo ở dưới cội bồ-đề, ngài suy gẫm nếu đem chỗ chứng ngộ của ngài ra giảng nói, e chúng sanh không tin nổi, nên ngài mới phương tiện nói Tứ đế là thời pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Trước hết chỉ cho chúng sanh thấy sanh già bệnh chết là khổ, kế đó chỉ cho tập nhân gây ra khổ đau là tham sân si... vô minh phiền não, tiếp theo là nêu bày cảnh giới an vui sau khi đã diệt hết vô minh phiền não, sau cùng là dạy cho phương pháp đoạn diệt vô minh phiền não. Đây là hình ảnh của ông trưởng giả cởi hết châu ngọc trang sức, mặc y phục thô xấu, cầm đồ hốt phân đến gần cùng tử để an ủi vỗ về và bảo coi ông như cha, những vật dụng có sẵn trong nhà cứ tự nhiên lấy dùng. Gã cùng tử được ông trưởng giả coi như con, nhưng chưa dám nhận mình là con trưởng giả. Cũng vậy, tuy hàng Thanh văn tu học theo pháp Phật dạy, nhưng chưa dám tin mình tu sẽ được thành Phật. Chánh văn: 7. Thế Tôn! Bấy giờ Trưởng giả có bệnh, tự biết mình không bao lâu sẽ chết mới bảo cùng tử rằng: Ta nay rất nhiều vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, trong đó nhiều ít chỗ đáng xài dùng, ngươi phải biết hết đó. Lòng ta như thế, ngươi nên thể theo ý ta. Vì sao? Nay ta cùng ngươi bèn là không khác, nên gắng dụng tâm chớ để sót mất. Khi ấy cùng tử liền nhận lời bảo, lãnh biết các của vật, vàng, bạc, trân báu và các kho tàng, mà trọn không có ý mong lấy của đáng chừng bữa ăn, chỗ của gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm chí hạ liệt cũng chưa bỏ được. Giảng: Gã cùng tử theo lời yêu cầu của ông trưởng giả, nhận quản lý kho báu trong nhà nhưng vẫn còn ở ngoài hành lang và chưa dám nghĩ mình có phần trong đó. Cũng vậy, hiện tại nhiều người tu nghe Kinh nói mỗi chúng sanh ai cũng có Phật tánh, Bồ-tát tu lục độ vạn hạnh viên mãn thì sẽ thành Phật. Nghe như vậy rồi khi ra giảng nói cũng giảng nói như vậy. Nhưng trong thâm tâm chỉ mong đời này mình tu chứng quả Tu-đà-hoàn hay Tư-đà-hàm là được rồi, chứ không dám nghĩ mình có thể thực hiện được hạnh Bồ-tát. Chánh văn: 8. Lại trải qua ít lâu sau, cha biết ý chí con lần đã thông thái trọn nên chí lớn, tự chê tâm ngày trước. Đến giờ sắp chết, ông gọi người con đến và hội cả thân tộc, quốc vương, quan đại thần, dòng Sát-lợi, hàng cư sĩ, khi đã nhóm xong, ông liền tự tuyên rằng: Các ngài nên rõ, người này là con ta, của ta sanh ra, ngày trước trong thành nọ, bỏ ta trốn đi, nổi trôi khổ sở, hơn năm mươi năm, nó vốn tên ấy, còn ta tên ấy. Xưa ta ở tại thành này lòng lo lắng tìm kiếm, bỗng ở nơi đây gặp được nó. Nó thật là con ta, ta thật là cha nó. Nay ta có tất cả bao nhiêu của cải, đều là của con ta có, trước đây của cải cho ra thâu vào, con ta đây coi biết. Thế Tôn! Khi đó gã cùng tử nghe cha nói như thế, liền rất vui mừng được điều chưa từng có, mà nghĩ rằng: “Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng báu này tự nhiên mà đến.” Giảng: Khi thấy con mình có trí khôn đủ khả năng quản lý gia sản, ông trưởng giả bèn họp tất cả thân tộc lại tuyên bố gã cùng tử chính là con ruột của ông, sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp của con ông. Gã cùng tử không có lòng mong cầu mà nay bất ngờ được kho báu, nên rất vui mừng được điều chưa từng có. Thí dụ này nói lên tâm trạng vui mừng bất ngờ của hàng đệ tử Thanh văn khi nhận ra tri kiến Phật. Chánh văn: 9. Thế Tôn! Ông phú trưởng giả đó là đức Như Lai, còn chúng con đều giống như con của Phật. Đức Như Lai thường nói chúng con là con. Thưa Thế Tôn! Chúng con vì ba món khổ nên ở trong sanh tử chịu các sự đau đớn mê lầm không hiểu biết, ưa thích các pháp Tiểu thừa. Ngày nay đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ dọn trừ những phân dơ các pháp hý luận. Chúng con ở trong đó siêng gắng tinh tấn được đến Niết-bàn, cái giá một ngày đã được đây rồi lòng rất vui mừng tự cho là đủ, mà tự nói rằng: “Ở trong pháp của Phật, do siêng năng tinh tấn nên chỗ được rộng nhiều.” Nhưng đức Thế Tôn trước biết chúng con lòng ưa muốn sự hèn tệ, ham nơi pháp Tiểu thừa, chúng con bèn bị Phật buông bỏ, chẳng vì phân biệt rằng: Các ông sẽ có phần bảo tàng tri kiến của Như Lai. Đức Thế Tôn dùng sức phương tiện nói bày trí tuệ của Như Lai. Chúng con theo Phật được giá Niết-bàn một ngày cho là được nhiều rồi, đối với pháp Đại thừa này không có chí cầu. Chúng con lại nhân trí tuệ của Phật, vì các vị Bồ-tát mà chỉ bày diễn nói, nhưng chính tự mình lại không có chí muốn nơi pháp đó. Vì sao? Đức Phật biết chúng con ưa nơi pháp Tiểu thừa, nên dùng sức phương tiện thuận theo chúng con mà nói pháp, chúng con không tự biết thật là Phật tử. Ngày nay chúng con mới biết đức Thế Tôn ở nơi trí tuệ của Phật không có lẫn tiếc. Vì sao? Chúng con từ xưa đến nay thật là Phật tử mà chỉ ưa nơi pháp Tiểu thừa, nếu chúng con có tâm ham Đại thừa thời Phật vì chúng con mà nói pháp Đại thừa. Ở trong Kinh này chỉ nói pháp Nhất thừa. Lúc xưa đức Phật ở trước Bồ-tát chê trách Thanh văn ham pháp Tiểu thừa. Nhưng đức Phật thật dùng Đại thừa để giáo hóa, vì thế nên chúng con nói vốn không có lòng mong cầu mà nay báu lớn của đấng Pháp vương tự nhiên đến, như chỗ nên được của Phật tử đều đã được đó. Giảng: Ngài Ma-ha Ca-diếp hợp pháp thí dụ này: Ông phú trưởng giả đó là đức Như Lai, cùng tử là hàng Thanh văn, là con của Phật. Ngài nêu lên ba món khổ làm chướng đạo Bồ-đề là khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Khổ khổ là ngay nơi thân tâm con người bị lửa vô thường, lửa tham sân si thiêu đốt làm cho đau khổ, lại còn bị ngoại cảnh như thiên tai, binh biến, nghèo đói... chồng chất thêm một lớp khổ nữa gọi là khổ khổ. Hoại khổ là thân con người từng sát-na mọi tế bào sanh rồi diệt... vừa thấy tóc xanh, thoáng chốc đã bạc đầu, da nhăn, răng rụng, mắt mờ, tai điếc... đó là hoại khổ. Hành khổ là sự biến dịch đổi thay nơi con người đưa đến sự già chết. Hành khổ còn chỉ cho hành nghiệp dẫn dắt thần thức đi thọ thân năm ấm, chịu luật vô thường chi phối nên khổ đau. Các bậc Thanh văn do nhận ra ba cái khổ này nên quyết tâm cầu thoát ly sanh tử, bằng cách thích tu pháp Tứ đế để chứng Niết-bàn. Vì vậy khi nghe lời Phật dạy, các ngài lo dọn trừ những phân dơ hý luận, tức là tránh xa các lối hý luận suông để vui cười, không giúp cho người nghe thấy được đạo. Bởi dẹp hết hý luận, nên sạch hết nhiễm trước, do sạch hết nhiễm trước được chứng Niết-bàn. Niết-bàn này chỉ có giá trị bằng một ngày! Niết-bàn là vô sanh, đã là vô sanh thì không lệ thuộc thời gian tại sao nói giá trị bằng một ngày? Do tu nên vọng tưởng dừng lặng, khi vọng tưởng dừng lặng cho đó là vô sanh, là Niết-bàn. Niết-bàn đó là trạng thái dừng lặng của vọng tưởng, chưa phải là Niết-bàn chân thật. Nếu tu mà nhận được tri kiến Phật nơi chính mình chưa từng sanh chưa từng diệt, mới là Niết-bàn chân thật cứu cánh; còn Niết-bàn do dừng vọng tưởng, tâm vắng lặng mà không nhận ra thật thể của chính mình, nên ở đây Kinh nói giá trị một ngày. Thí dụ tọa thiền trụ tâm vào một cảnh, chẳng hạn như quán thân bất tịnh, dồn hết tâm lực quán sát, thân này là ô uế bất tịnh, lúc nào cũng thấy hình hài này là bất tịnh, không có một niệm khác dấy khởi thì tâm được định. Tuy nhiên, tâm chỉ định trong thời gian quán chiếu, khi hết quán thì tâm hết định. Còn định của Đại thừa là nhận ra tri kiến Phật có sẵn nơi mình, mà tri kiến Phật thì hằng hữu, bất động, nên đi đứng nằm ngồi, bửa củi, nấu cơm, không lúc nào thiếu vắng. Hằng sống với tri kiến Phật thì không có loạn tưởng, không loạn tưởng là định. Định này không xuất không nhập, nên nói là đại định, là Niết-bàn viên mãn. Ngài Ma-ha Ca-diếp thật thà lặp lại rằng Phật có nêu tri kiến Phật nhưng các ngài đã được Niết-bàn Thanh văn nên lấy làm hài lòng, không cầu pháp Đại thừa. Tới đây có điều chúng ta lấy làm lạ là các ngài Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề... khi nói pháp cho hội chúng nghe thì các ngài cũng nói pháp Đại thừa; tại sao các ngài không thích và không cầu pháp Đại thừa, mà lại giảng nói pháp Đại thừa? Nhân vì các ngài quen nghe Phật khen ngợi pháp Đại thừa, nên có người cần cầu pháp Đại thừa thì các ngài cũng nói để cho người nghe, chứ các ngài không mong cầu. Nếu có người hỏi về hạnh của Bồ-tát phải tu Lục độ ba-la-mật như thế nào, thì các ngài biết liền chỉ dạy cho người tu, nhưng chính các ngài thì không ham thích pháp tu của Bồ-tát. Hiện nay chúng ta tu có vấp phải lỗi này không? Thí dụ trong giới xuất gia, có người tới học đạo, hỏi: Làm thế nào để diệt tham sân si? Các vị trả lời rất rành rẽ, muốn hết tham phải tu hạnh bố thí, muốn đoạn trừ sân phải tu hạnh từ bi nhẫn nhục, muốn dứt sạch si mê phải quán mười hai nhân duyên, hay giới phân biệt quán. Giải thích bố thí phải bố thí như thế nào, quán từ bi phải quán ra sao, quán mười hai nhân duyên hay giới phân biệt quán thì phải quán như thế nào. Giải thích một cách rõ ràng tường tận. Nhưng chính bản thân mình khi đối duyên xúc cảnh thì vẫn tham, vẫn sân, vẫn si. Như vậy là sao? Vì người mong cầu muốn dứt trừ tham sân si, được chúng ta hướng dẫn thì họ nỗ lực tu hành. Còn chúng ta nhờ nghe học nên hiểu biết, nhưng lòng chưa thiết tha loại bỏ nên không tu, tham sân si vẫn còn nguyên vẹn. Nhiều khi tôi thấy hơi buồn và hổ thẹn. Phật tử tại gia, gặp những hoàn cảnh bất như ý phiền não, vào chùa nhờ các thầy các cô giảng dạy, giúp cho họ bớt buồn khổ. Lúc đó các thầy các cô dạy lý thuyết nghe cũng hay lắm. Nhưng rồi mai kia các thầy các cô phiền não thì Phật tử an ủi lại! Như vậy là sao? Ai dạy ai? Nếu chúng ta là người có trách nhiệm đi trước, điều gì chúng ta dạy cho người thì điều đó chúng ta phải làm được, nếu chúng ta làm chưa được viên mãn thì chúng ta cũng làm được đôi phần. Đã làm được đôi phần thì khả dĩ không hổ thẹn. Điều mình làm không được mà đem ra dạy người, đó chỉ là lý thuyết suông không đem lợi ích cho ai cả! Đức Phật thuận theo tâm nguyện của các đệ tử, dùng sức phương tiện hướng dẫn cho các đệ tử biết rằng mình là con của Phật. Khi thấy công hạnh đệ tử gần viên mãn thì Phật liền trao truyền sự nghiệp cho, điều mà hàng Thanh văn đệ tử Phật chưa bao giờ nghĩ tới, không có tâm mong cầu, ngoài sức tưởng tượng của các ngài. Đây là lòng chân thành sau khi thấy đạo, các ngài nói lên chỗ hy hữu của mình để đức Phật chứng minh. Chánh văn: Bấy giờ ngài Ma-ha Ca-diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 10. Chúng con ngày hôm nay Nghe âm giáo của Phật Lòng hớn hở mừng rỡ Được pháp chưa từng có. Phật nói hàng Thanh văn Sẽ được thành quả Phật Đống châu báu vô thượng Chẳng cầu tự nhiên được. Ví như gã đồng tử Thơ bé không hiểu biết Bỏ cha trốn chạy đi Đến cõi nước xa khác Nổi trôi khắp nước ngoài Hơn năm mươi năm dài. Cha gã lòng buồn nhớ Kiếm tìm khắp bốn phương Kiếm tìm đó đã mỏi Liền ở lại một thành Xây dựng nên nhà cửa Năm món dục tự vui. Nhà ông giàu có lớn Nhiều những kho vàng, bạc, Xa cừ, ngọc mã não, Trân châu, ngọc lưu ly, Voi ngựa cùng trâu dê, Kiệu, cáng, đủ xe cộ, Ruộng đất và tôi tớ, Nhân dân rất đông nhiều. Xuất nhập thâu lời lãi Bèn khắp đến nước khác Khách thương người buôn bán Không xứ nào không có, Nghìn muôn ức chúng hội Vây quanh cung kính ông, Thường được bậc vua chúa Mến yêu nhớ tưởng đến, Các quan, hạng hào tộc Đều cũng đồng tôn trọng. Vì có các sự duyên Người đến lui rất đông, Giàu mạnh như thế đó Có thế lực rất lớn, Mà tuổi đã già nua Lại càng buồn nhớ con, Ngày đêm luống suy nghĩ Giờ chết toan sắp đến Con thơ dại bỏ ta Hơn năm mươi năm tròn. Các của vật kho tàng Sẽ phải làm thế nào? Giảng: Ngài Ma-ha Ca-diếp lặp lại ý trên, là nghe Phật nói hàng Thanh văn sẽ được thành Phật, các ngài vui mừng bất ngờ được của báu chưa từng có. Ví như gã cùng tử khờ dại bỏ cha đi lang thang trong thời gian năm mươi năm. Ông trưởng giả là người giàu có lớn, có rất nhiều ngọc ngà châu báu, xe, ngựa, ông là người có nhiều uy tín được vua quan cho đến thứ dân đều tôn trọng cung kính. Ngày càng lớn tuổi, ông nhớ trông con về để ủy thác tài sản sự nghiệp. Chánh văn: 11. Bấy giờ gã cùng tử Đi tìm cầu ăn mặc Ấp này đến ấp khác Nước này sang nước nọ, Hoặc có khi được của Hoặc có lúc không được, Đói thiếu hình gầy gò Thân thể sanh ghẻ lác. Lần lựa đi trải qua Đến thành cha gã ở Xoay vần làm thuê mướn Bèn đến trước nhà cha. Lúc ấy, ông trưởng giả Đang ở trong nhà ông Giăng màn châu báu lớn Ngồi tòa sư tử cao Hàng quyến thuộc vây quanh Đông người đứng hầu hạ, Hoặc có người tính toán Vàng, bạc, cùng vật báu Của cải ra hoặc vào Biên chép ghi giấy tờ. Gã cùng tử thấy cha Quá mạnh giàu tôn nghiêm Cho là vị quốc vương Hoặc là đồng bậc vua, Kinh sợ tự trách thầm Tại sao lại đến đây? Lại thầm tự nghĩ rằng: Nếu ta đứng đây lâu Hoặc sẽ bị bức ngặt Ép buộc sai khiến làm. Suy nghĩ thế đó rồi Rảo chạy mà đi thẳng Hỏi thăm xóm nghèo nàn Muốn qua làm thuê mướn. Giảng: Gã cùng tử nghèo đói thân hình tiều tụy lang thang khắp nơi để mưu cầu sự ăn mặc rất gian nan khốn khổ. Một hôm tình cờ trở về cố hương, gặp lại cha già đang ngồi trên tòa báu, có quyến thuộc đông đảo, kẻ hầu hạ, người xuất nhập của cải, kẻ biên chép giấy tờ... có vẻ tôn nghiêm giàu mạnh. Gã cùng tử tự thấy mình lạc loài, tự trách mình sao đến chỗ này, e ngại sẽ bị bắt làm không công, hoặc bị giết; nên hối hận rồi bỏ chạy đi nơi khác. Tâm trạng gã cùng tử giống như chúng ta, nhiều đời đi lang thang trong sáu nẻo luân hồi quá ư khốn khổ, chợt thức tỉnh cầu đạo giải thoát; nhưng khi tìm đến với đạo, học hiểu chút ít thấy việc thành đạo khó quá sanh nản lòng thối lui không muốn tiến nữa. Chánh văn: 12. Lúc bấy giờ, trưởng giả Ngồi trên tòa sư tử Xa trông thấy con mình Thầm lặng mà ghi nhớ, Ông liền bảo kẻ sứ Đuổi theo bắt đem về. Gã cùng tử sợ kêu Mê ngất ngã trên đất, Người này theo bắt tôi Chắc sẽ bị giết chết, Cần gì đồ ăn mặc Khiến tôi đến thế này! Trưởng giả biết con mình Ngu dại lòng hẹp hèn Chẳng chịu tin lời ta Chẳng tin ta là cha. Ông liền dùng phương tiện Lại sai hai người khác Mắt chột, thân lùn xấu Hạng không có oai đức! Các người nên bảo nó Rằng ta sẽ thuê nó Hốt dọn các phân nhơ Trả giá bội cho nó. Gã cùng tử nghe rồi Vui mừng theo sứ về Vì dọn các phân nhơ Sạch sẽ các phòng nhà. Trưởng giả trong cửa sổ Thường ngó thấy con mình Nghĩ con mình ngu dại Ưa thích làm việc hèn. Lúc đó ông trưởng giả Mặc y phục cũ rách Tay cầm đồ hốt phân Qua đến chỗ con làm Phương tiện lần gần gũi Bảo rằng: Ráng siêng làm! Đã thêm giá cho ngươi Và cho dầu xoa chân Đồ ăn uống đầy đủ Thêm đệm chiếu dầy ấm. Cặn kẽ nói thế này: Ngươi nên siêng làm việc! Rồi lại dịu dàng bảo Như con thật của ta. Giảng: Ông trưởng giả thấy con bỏ chạy, nên sai người đuổi theo bắt lại. Nhưng gã cùng tử thấy người đuổi theo, sợ bắt hành hạ hay giết nên hoảng hốt ngất xỉu. Ông trưởng giả thấy con mình quá khờ dại nên bảo sứ giả thả ra, mặc tình nó đi đâu thì đi. Tuy nhiên, ông ngầm sai hai người mắt chột, thân lùn xấu, nghèo hèn khuyên gã cùng tử đến hốt phân nhà ông trưởng giả. Gã cùng tử nhận lời làm thuê cho ông trưởng giả. Bấy giờ ông trưởng giả thương xót con khờ dại nên hóa trang, mặc đồ dơ xấu đến gần để an ủi con, cho nó những vật dụng cần dùng, ông khuyên bảo nên siêng làm việc, và nói ông coi gã như là con. Giống như chúng ta khi trở về với đạo, đáng lý phải thừa nhận sự nghiệp lớn lao của Phật là tu để thành Phật và độ sanh. Nhưng vì tâm lượng hẹp hòi, chỉ mong cầu chút ít phước báo ở cõi người cõi trời. Chánh văn: 13. Ông trưởng giả có trí Lần lần cho ra vào Trải qua hai mươi năm Coi sóc việc trong nhà, Chỉ cho biết vàng, bạc, Ngọc trân châu, pha lê Các vật ra hoặc vào Đều khiến gã biết rõ. Gã vẫn ở ngoài cửa Nương náu nơi am tranh Tự nghĩ phận nghèo nàn Ta không có vật đó. Cha biết lòng con mình Lần lần đã rộng lớn Muốn giao tài vật cho Liền nhóm cả thân tộc Quốc vương, các đại thần Hàng Sát-lợi, cư sĩ Rồi ở trong chúng này Tuyên nói: chính con ta Bỏ ta đi nước khác Trải hơn năm mươi năm, Từ gặp con đến nay Đã hai mươi năm rồi, Ngày trước ở thành kia Mà mất đứa con này, Ta đi tìm khắp nơi Bèn đến ngụ nơi đây, Phàm của cải ta có Nhà cửa cùng nhân dân Thảy đều phó cho nó Mặc tình nó tiêu dùng. Người con nhớ xưa nghèo Ý chí rất kém hèn Nay ở nơi cha mình Được quá nhiều châu báu Và cùng với nhà cửa Gồm tất cả tài vật, Lòng rất đỗi vui mừng Được điều chưa từng có. Giảng: Ông trưởng giả là người có trí, biết ý chí con hạ liệt, nên phương tiện hướng dẫn cùng tử coi sóc việc nhà cho quen, sau đó chỉ kho tàng của báu, giao cho cùng tử quản lý tất cả sự nghiệp. Rồi ông họp thân tộc, quốc vương, đại thần... công bố cùng tử là con đẻ của ông, sự nghiệp của ông là sự nghiệp của con ông. Gã cùng tử được điều chưa từng có nên rất vui mừng. Chánh văn: 14. Đức Phật cũng như thế Biết con ưa Tiểu thừa Nên chưa từng nói rằng Các ngươi sẽ thành Phật, Mà chỉ nói chúng con Đặng có đức vô lậu Trọn nên quả Tiểu thừa Hàng Thanh văn đệ tử, Đức Phật bảo chúng con Nói đạo pháp tối thượng Người tu tập pháp này Sẽ được thành Phật quả. Chúng con vâng lời Phật Vì các Bồ-tát lớn Dùng các món nhân duyên Cùng các môn thí dụ Bao nhiêu lời lẽ hay Để nói đạo Vô thượng. Các hàng Phật tử thảy Từ nơi con nghe pháp Ngày đêm thường suy gẫm Tinh tấn siêng tu tập, Bấy giờ, các đức Phật Liền thọ ký cho kia: Các ông ở đời sau Sẽ được thành Phật đạo. Pháp mầu rất bí tàng Của tất cả các Phật Chỉ để vì Bồ-tát Mà dạy việc thật đó, Nhưng chẳng vì chúng con Nói pháp chân yếu này. Như gã cùng tử kia Được gần bên người cha Dầu lãnh biết các vật Nhưng lòng chẳng mong cầu. Chúng con dầu diễn nói Tạng pháp báu của Phật Tự mình không chí nguyện Cũng lại như thế đó. Giảng: Ngài Ma-ha Ca-diếp hợp pháp thí dụ. Ngài nói rằng ông trưởng giả dụ cho đức Phật, Phật biết hàng Thanh văn ưa pháp Tiểu thừa nên chưa từng nói các ngươi sẽ thành Phật, chỉ nói tu hạnh Thanh văn sẽ chứng Niết-bàn, còn hàng Bồ-tát thì Phật dạy tu pháp tối thượng sẽ thành Phật. Do nghe Phật dạy nên các ngài cũng nói người nào tu pháp tối thượng sẽ thành Phật. Các ngài nói người nào nghe Phật dạy cố gắng tu và được Phật thọ ký, còn các ngài thì vô phần. Để thấy rằng người học đạo hài lòng với pháp nhỏ mà mình đã được thì khó tiến bộ. Phật vì lòng từ bi, thấy đệ tử không có chí nguyện lớn, nên phương tiện thúc đẩy cho tiến lên, cuối cùng ngài thọ ký cho thành Phật. Chánh văn: 15. Chúng con diệt bề trong Tự cho là đã đủ Chỉ xong được việc này Lại không biết việc khác. Chúng con dầu có nghe Pháp tịnh cõi nước Phật Cùng giáo hóa chúng sanh Đều không lòng ưa vui. Như thế là vì sao? Vì tất cả các pháp Thảy đều là không lặng Không sanh cũng không diệt Không lớn cũng không nhỏ Vô lậu và vô vi Suy nghĩ thế đó rồi Chẳng sanh lòng ưa muốn. Chúng con đã từ lâu Đối với trí tuệ Phật Không tham, không ưa thích Không lại có chí nguyện, Mà đối với pháp mình Cho đó là rốt ráo. Chúng con từ lâu nay Chuyên tu tập pháp không Đặng thoát khỏi hoạn nạn Khổ não của ba cõi Trụ trong thân rốt sau Hữu dư y Niết-bàn Đức Phật dạy bảo ra Chứng được đạo chẳng luống Thời là đã có thể Báo được ơn của Phật. Chúng con dầu lại vì Các hàng Phật tử thảy Tuyên nói pháp Bồ-tát Để cầu chứng Phật đạo, Mà mình đối pháp đó Trọn không lòng mong muốn. Đấng Đạo sư buông bỏ Vì xem biết lòng con Ban đầu không khuyên gắng Nói những lợi có thật, Như ông trưởng giả giàu Biết con chí kém hèn Bèn dùng sức phương tiện Để hòa phục tâm con Vậy sau mới giao phó Tất cả tài vật báu, Đức Phật cũng thế đó Hiện ra việc ít có Biết con ưa Tiểu thừa Bèn dùng sức phương tiện Điều phục tâm của con Rồi mới dạy trí lớn. Chúng con ngày hôm nay Được pháp chưa từng có Chẳng phải chỗ trước mong Mà nay tự nhiên được Như gã cùng tử kia Được vô lượng của báu. Giảng: Ngài Ma-ha Ca-diếp thuật lại việc tu hành của hàng Thanh văn là diệt bề trong cho là đã đủ, lại không biết việc khác. Nghĩa là các ngài một bề dẹp những kiết sử trói buộc ở nội tâm, kiết sử hết thì không còn luân hồi, chứng Niết-bàn, các ngài thấy đó là đủ, không tự biết mình có sẵn tri kiến Phật, không thực hành pháp tịnh cõi nước Phật, giáo hóa chúng sanh. Sỡ dĩ hàng Thanh văn không ưa giáo hóa chúng sanh, làm thanh tịnh cõi nước Phật là vì các ngài quán chiếu thấy tất cả pháp đều không lặng, không sanh không diệt, không lớn không nhỏ, vô lậu vô vị, chỉ thích an tịnh trong cái tịch tịnh đó. Còn việc độ sanh, tịnh cõi nước Phật... là việc bên ngoài nên không bao giờ nghĩ và thích. Vì vậy, Phật mới vì các ngài khuyến khích muốn cho các ngài được pháp Vô thượng cũng như gã cùng tử được của báu. Chánh văn: 16. Thế Tôn! Chúng con nay Được đạo và chứng quả Ở nơi pháp vô lậu Được tuệ nhãn thanh tịnh. Chúng con từ lâu nay Gìn tịnh giới Phật chế Mới ở ngày hôm nay Được hưởng quả báo đó, Trong pháp của Pháp vương Lâu tu hành phạm hạnh Ngày nay được vô lậu Quả báo lớn Vô thượng. Chúng con ngày hôm nay Mới thật là Thanh văn Đem tiếng đạo của Phật Cho tất cả đều nghe. Chúng con ngày hôm nay Thật là A-la-hán Ở nơi các thế gian Trời, người và ma, Phạm, Khắp ở trong chúng đó Đáng lãnh của cúng dường. Ơn lớn của Thế Tôn Đem việc ít có này Thương xót dạy bảo cho Làm lợi ích chúng con Trải vô lượng ức kiếp Ai có thể đền được. Tay lẫn chân cung cấp Đầu đảnh lễ cung kính, Tất cả đem cúng dường Đều không thể đền được, Hoặc dùng đầu đội Phật Hai vai cùng cõng vác Trong kiếp số hằng sa Tận tâm mà cung kính, Lại đem dâng đồ ngon Y phục báu vô lượng Và các thứ đồ nằm Cùng các món thuốc thang, Gỗ ngưu đầu, chiên-đàn Và các vật trân báu Để dựng xây tháp miếu, Y báu lót trên đất, Như các việc trên đây Đem dùng cúng dường Phật Trải số kiếp hằng sa Cũng không đền đáp được. Các Phật thật ít có Đấng vô lượng vô biên Đến bất khả tư nghì Đủ sức thần thông lớn, Bậc vô lậu vô vi Là vua của các pháp Hay vì kẻ hạ liệt Nhẫn việc cao thượng đó, Hiện lấy tướng phàm phu Tùy cơ nghi dạy nói. Các Phật ở nơi pháp Được sức rất tự tại Biết các hàng chúng sanh Có những điều ưa muốn Và chí lực của nó Theo sức nó kham nhiệm Dùng vô lượng thí dụ Mà vì chúng nói pháp, Tùy theo các chúng sanh Trồng căn lành đời trước Lại biết đã thành thục Hay là chưa thành thục Suy lường những điều đó Phân biệt biết rõ rồi Ở nơi đạo Nhất thừa Tùy cơ nghi nói ba. Giảng: Ngài Ma-ha Ca-diếp nói hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế chứng quả A-la-hán. A-la-hán là bậc sạch hết lậu hoặc, xứng đáng cho trời, người cúng dường nên gọi là Ứng cúng. Tuy xưa gọi A-la-hán là bậc Ứng cúng, nhưng nay xét kỹ lại thì quả Thanh văn hãy còn hạn hẹp chưa xứng cho trời, người cúng dường. Bây giờ các ngài Thanh văn nhận ra tri kiến Phật mới thật xứng đáng cho trời, người cúng dường. Đó là ngài Ma-ha Ca-diếp kể lại công ơn giáo hóa vô cùng lớn lao của Phật. Nhờ công giáo hóa của Phật nên các ngài mới đến được chỗ cứu cánh chân thật. Công ơn giáo hóa sâu dầy của Phật cũng như của thầy tổ, đối với người học đạo lôi thôi thì họ không thấy không biết, vì họ không nhận được sự lợi ích, vẫn còn mê mờ khổ đau. Còn người học Phật chân chính, càng tu càng thấy công ơn của Phật đối với chúng ta lớn lao vô kể, và công ơn của thầy tổ trực tiếp hướng dẫn chúng ta tu học cũng không phải nhỏ. Tại sao vậy? Vì ở thế gian chúng ta học về ngôn ngữ, luận lý, công nghệ... giúp cho chúng ta khôn ngoan lanh lợi, ăn nói lưu loát, có nghề nghiệp để sinh sống... thì chúng ta có danh vị quyền lợi, được giàu sang no ấm, cao lắm là một đời người bốn năm mươi năm, mà chúng ta còn mang ơn thầy dạy suốt đời. Đối với đức Phật, từ vô lượng kiếp chúng ta vô minh tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử chịu khổ triền miên, nay được Phật chỉ dạy cho phương pháp tu hành, nhận ra tri kiến Phật thoát ly sanh tử, đời đời kiếp kiếp không còn khổ đau, như vậy công ơn của Phật đối với chúng ta chừng bao nhiêu? Không thể tính kể, khó mà đền đáp! Cho dù tâm cung kính đảnh lễ, đầu đội Phật, vai cõng Phật, hoặc dâng cúng thức ăn, y phục, thuốc thang, sàng tòa toàn bằng vật quý báu, hoặc xây tháp miếu thờ tượng Phật trải qua vô lượng kiếp... cũng không đền đáp được công ơn của Phật. Tại sao vậy? Vì tất cả việc làm đó đều là hình thức, là tướng sanh diệt nên có giới hạn. Còn Phật chỉ bày tri kiến Phật là cái không hình tướng, không giới hạn, chúng ta nhận ra và hằng sống với nó thì dứt khổ đau vĩnh viễn. Lấy cái giới hạn mà đáp cái vô hạn làm sao đáp được? Khi đã biết ơn Phật đối với chúng ta lớn lao vô kể, thì cái ơn gần nhất là thầy tổ, đã có công nối tiếp nhắc nhở lời Phật dạy cho chúng ta nghe để tu, thì công ơn ấy cũng không thể kể xiết. Vì vậy ngài Ma-ha Ca-diếp tán thán công ơn của Phật không thể tính kể, không thể đền đáp. Vì thương và làm lợi ích cho đệ tử mà đức Phật đã phương tiện, tùy nghi phân biệt giảng dạy từ thấp lên cao, cuối cùng đưa các ngài từ quả vị Thanh văn đến đạo Nhất thừa rốt ráo. V- PHẨM DƯỢC THẢO DỤ Dược Thảo Dụ là thí dụ cây cỏ thuốc. Ngang đây đáng lý Phật thọ ký cho các vị Tỳ-kheo và A-la-hán. Nhưng vì Phật muốn nói rộng cho hàng Thanh văn thấy rõ công đức chân thật của Như Lai, rồi sau mới thọ ký, nên Phật nói phẩm Dược Thảo Dụ này. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Ma-ha Ca-diếp và các vị đại đệ tử: Hay thay! Hay thay! Ca-diếp! Khéo nói được công đức chân thật của đức Như Lai. Đúng như lời các ông vừa nói; đức Như Lai lại còn có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ công đức, các ông dầu trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được. Ca-diếp nên biết! Đức Như Lai là vua của các pháp nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp, dùng trí tuệ phương tiện mà diễn nói đó, pháp của Phật nói thảy đều đến bậc Nhất thiết trí. Đức Như Lai xem biết chỗ quy thú của tất cả pháp, cũng rõ biết chỗ tâm sở hành của tất cả chúng sanh thông thấu không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả trí tuệ cho các chúng sanh. Giảng: Đức Phật xác nhận tôn giả Ma-ha Ca-diếp khéo tán thán công đức của Như Lai. Đúng như lời của tôn giả Ma-ha Ca-diếp nói, Như Lai còn có vô lượng vô biên công đức, dù trải qua vô số kiếp nói cũng không hết được. Sở dĩ Như Lai có được công đức như thế do ngài tu nhân lành vô lượng vô biên, là hành lục độ ba-la-mật, độ vô số chúng sanh được giải thoát. Ngài tu mãi cho đến khi công hạnh viên mãn thành Phật mới thôi. Còn hàng phàm phu chúng ta chỉ tu được nhân phước báo của nhân thiên, nó hữu lượng hữu biên, nên thành tựu quả cũng hữu lượng hữu biên, vì vậy còn quanh quẩn trong cõi trời cõi người. Ở đây nói trì kinh Pháp Hoa có công đức nhiều là vì Kinh này dạy Bồ-tát tu đến Phật quả mới viên mãn công hạnh, chứ không dừng ở bất cứ quả vị nào. Quả Phật là chỗ cứu cánh của người tu Phật, nên nói kinh Pháp Hoa là vua các kinh là nghĩa đó. Phật lại nói Như Lai là vua tất cả pháp, nói lời không hư dối, dùng sức trí tuệ phương tiện nói pháp đều đưa chúng sanh đến bậc Nhất thiết trí. Như Lai biết chỗ quy thú của tất cả pháp, cũng biết rõ tâm sở hành của chúng sanh. Chỗ quy thú của tất cả pháp là nguồn cội của các pháp, Phật giác ngộ thấy rõ nhân nào đưa chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử, nhân nào đưa chúng sanh tới chỗ giải thoát Niết-bàn. Ngài thấy tận nguồn cội của pháp hữu vi sanh diệt ở thế gian và pháp vô vi bất sanh bất diệt xuất thế gian. Bởi thấy tận nguồn cội của các pháp, nên thấy được tâm sở hành của chúng sanh, tức là tâm ưa thích đến chỗ này đến chỗ kia của chúng sanh. Do biết pháp và biết tâm người nên Phật giáo hóa thông suốt không chướng không ngại. Chúng ta hiện thời, pháp thì biết chút ít, tâm người cũng biết sơ sơ, nên giáo hóa thường bị chướng ngại. Nếu biết pháp mà không biết tâm người, thì nói pháp chỉ khế lý mà không khế cơ nên người nghe không thỏa mãn, không thực hành theo, không được lợi ích, do đó có chướng ngại. Nếu biết tâm người mà không biết pháp thì cũng không giáo hóa được, vì chính bản thân mình chưa tu chưa tiến, làm sao biết rõ đường hướng để chỉ dạy cho người tu theo? Thế nên giáo hóa mà bị chướng ngại là lỗi tại chúng ta chưa được trí tuệ viên mãn, không biết pháp không rõ tâm người. Chánh văn: 2. Ca-diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dây bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ gốc bậc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn. Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác. Giảng: Phật dụ mặt đất sanh ra cây cỏ thuốc, cây nhỏ, cây vừa, cây lớn, màu sắc tên gọi khác nhau. Một trận mưa xuống, tùy theo khả năng của mỗi loại mà thấm nhuần sanh trưởng khác nhau. Ở đây nêu lên hai cái bình đẳng. Bình đẳng thứ nhất là cây lớn, cây vừa, cây nhỏ, tất cả đều từ đất mọc lên. Bình đẳng thứ hai là dù cây nhỏ, cây vừa hoặc cây lớn cũng được nước của trận mưa rưới đều. Cùng từ đất mọc lên, cùng nhận nước từ một trận mưa, mà sức hấp thụ phân nước của mỗi loại sai khác, nên thấm nhuần và sanh trưởng cũng sai khác. Đất là dụ cho tri kiến Phật nơi mỗi chúng sanh ai cũng có sẵn. Mưa là dụ cho pháp Phật dạy chung cho tất cả, nhưng tùy theo sự mê muội của mỗi chúng sanh dày hay mỏng mà nhận hiểu sâu hay cạn. Đó là do căn cơ của mỗi loại mà lợi ích có sai khác, không phải pháp Phật dành cho người cao hay dành cho người thấp. Vì căn cơ sai biệt nên pháp trở thành sai biệt. Cũng như trong pháp hội này, thính chúng đều là người xuất gia, ai cũng vì muốn nghe pháp mà đến đây. Tôi giảng cũng bình đẳng không đặc biệt dành riêng cho một người nào. Nhưng trong đây, có người hiểu sâu, có người hiểu cạn, có người nghe vui vẻ hân hoan, có người nghe không hiểu buồn ngủ... Có phải tại tôi nói pháp chú ý người này nên họ vui vẻ hân hoan, bỏ rơi người nọ nên họ buồn ngủ không? Tôi nói pháp bình đẳng, đối với người có khả năng tiếp thu được, họ hiểu nên họ vui. Người thiếu khả năng, nghe không hiểu nên buồn ngủ. Đó là do trình độ người nghe sai biệt nên hiểu biết cũng sai biệt. Qua thí dụ trên, chúng ta thấy rằng sở dĩ Phật nói ba thừa là tại căn cơ của chúng sanh sai biệt, nên ngài tùy thuận nói, nhưng chỗ thú hướng bình đẳng là ngài quy tam thừa trở về nhất thừa. Đó là ý nghĩa cùng một thửa đất cùng một đám mưa, nhưng tùy loại giống mà hấp thụ phân nước khác nhau nên có cây lớn, cây trung, cây nhỏ khác nhau. Chánh văn: 3. Ca-diếp nên biết! Đức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vầng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, a-tu-la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam thiên đại thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời này: “Ta là đấng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn thời làm cho chứng Niết-bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc Nhất thiết trí, bậc Nhất thiết kiến, là bậc Tri đạo, bậc Khai đạo, bậc Thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, a-tu-la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy.” Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Phật mà nghe pháp. Lúc đó đức Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sanh này nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại, ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo. Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng, và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng. Đức Như Lai nói pháp một tướng, một vị, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc “Nhất thiết chủng trí”. Có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì, đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết chủng tướng thể tánh của chúng sanh đó: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì được pháp gì? Chúng sanh ở nơi các bậc, chỉ có đức Như Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối lùm rừng, các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó. Đức Như Lai biết pháp một tướng một vị ấy, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết-bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sanh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói “Nhất thiết chủng trí”. Ca-diếp! Các ông rất là hy hữu, có thể rõ biết đức Như Lai tùy cơ nghi nói pháp hay tin hay nhận, vì sao? Vì các đức Phật Thế Tôn tùy cơ nghi nói pháp khó hiểu khó biết. Giảng: Tới đây, chúng ta thấy như đức Phật tự khen mình. Nhưng kỳ thật Phật xác định công đức Như Lai rộng lớn như vậy, là do làm lợi ích cho chúng sanh trong vô số kiếp mới được thành tựu quả Phật. Ngài tuyên bố dõng dạc rằng: Khả năng và sở nguyện của ngài là làm lợi ích chúng sanh đến chỗ viên mãn. Đối với người chưa được độ ngài làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ ngài làm cho tỏ ngộ, người chưa an ngài làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn ngài làm cho chứng Niết-bàn, ở đời này và đời sau ngài đều biết đúng như thật. Ngài là bậc Nhất thiết trí, bậc Nhất thiết kiến, bậc Tri đạo, bậc Khai đạo, bậc Thuyết đạo. Hàng trời, người, a-tu-la nên đến để nghe pháp. Xét lại, chúng ta và chúng sanh đời sau chưa được độ, chưa được tỏ ngộ, chưa được an, chưa được Niết-bàn mà Phật đã diệt độ rồi, sao ở đây ngài lại nói như thế? Đức Phật là đấng Vô thượng sư, một ông thầy không có ai hơn được. Khi đức Phật còn tại thế, ngài thường khuyên dạy các Tỳ-kheo phải y theo pháp mà nỗ lực tu hành. Muốn đền ơn Phật là phải giáo hóa chúng sanh, giáo hóa chúng sanh là đền ơn Phật. Chúng ta ở đời này cũng như chúng sanh ở đời sau không có duyên gặp Phật. Thuở Phật ra đời, không biết chúng ta là loài chúng sanh nào, có thể là kiến hay muỗi cắn Phật một chút, do cái duyên đó nên ngày nay cách Phật mấy ngàn năm mới được gặp Phật pháp tu hành. Tuy gặp Phật pháp mà chỉ gặp gián tiếp, chứ không được gặp trực tiếp. Chính vì lời dạy trên của Phật, mà sau khi Phật Niết-bàn, hàng đệ tử lớn của ngài ghi chép lời dạy của ngài thành tam tạng giáo điển lưu truyền cho đời sau. Người đi trước đã tu học, dạy cho người sau được tu học, cứ thế mà truyền mãi cho tới ngày nay, nên tất cả chúng ta cũng được gặp Phật pháp. Tuy chúng ta không tỏ ngộ như người xưa, nhưng cũng được phần tỉnh sáng, tuy không được Niết-bàn an vui vĩnh viễn như người xưa, nhưng cũng được những giờ phút an ổn. Ngày nay chúng ta được phước duyên ngồi đây nghe pháp, là chúng ta đã được Phật gián tiếp độ rồi. Chúng ta được tỉnh sáng phần nào là nhờ Phật mà được tỏ ngộ. Tâm chúng ta bớt phiền não là nhờ Phật mà được an. Như vậy lời nói của Phật không dối. Sở dĩ đạo Phật tồn tại hơn hai ngàn năm trăm năm nay là do giáo pháp Phật còn, và còn người tu đúng theo pháp Phật. Ngoài ra chùa chiền, di tích, nghi thức tôn giáo chưa phải là yếu tố chính để duy trì Phật pháp. Trọng tâm của sự truyền bá đạo Phật, là phải làm sao chính mình thông hiểu và thực hành đúng pháp Phật, để được lợi ích thực tiễn, rồi dạy người hiểu và tu đúng theo pháp Phật, được lợi ích như mình. Cho nên chúng tôi tự thấy trách nhiệm là phải làm sao cho tăng ni và Phật tử hiểu, thực hành được những gì mà chúng tôi đã hiểu, đã thực hành, thì khả dĩ Phật pháp mới được trường tồn. Nếu hiểu Phật pháp mà không tu hoặc tu sai, hay tu mà không hiểu Phật pháp là tự mình hủy diệt mình, tự làm cho đạo Phật không còn giá trị chân chánh nữa. Phật nói ngài là bậc Nhất thiết trí, tức là trí Phật biết được tất cả. Bậc Nhất thiết kiến, tức là Phật thấy được tất cả. Bậc Tri đạo, tức là Phật biết đường để dẫn cho mọi người đi. Bậc Khai đạo, tức Phật là người mở đường cho chúng sanh đi. Bậc Thuyết đạo, tức Phật là người nói con đường cho chúng sanh biết để đi. Vì vậy nên tất cả hãy đến để nghe. Phật biết rõ trình độ của chúng sanh nào là lợi căn, độn căn, tinh tấn, giải đãi... ngài tùy theo căn cơ của họ mà giảng nói để họ cũng được lợi ích. Ngài không bỏ sót một người nào, khôn lanh Phật cũng độ, dại khờ Phật cũng độ, siêng năng Phật cũng độ, lười biếng Phật cũng độ. Nên ngài nói ai ai cũng đều được lợi lành, được an ổn, đời sau sanh vào cõi lành, hưởng vui sướng. Nhờ nghe pháp Phật mà bớt chướng ngại, lần lần sẽ được vào đạo, chứng Phật quả. Pháp Phật ví như một đám mưa lớn rưới khắp tất cả cỏ cây, tùy theo giống của mỗi loại đều được hấp thụ, đượm nhuần và sanh trưởng. Pháp Phật nói chỉ có một tướng, một vị, đó là tướng giải thoát, vị giải thoát. Phật giáo hóa suốt bốn mươi chín năm, ngài nói pháp rất nhiều, tại sao chỉ có một tướng giải thoát, một vị giải thoát? Như chúng ta biết, Phật nói pháp thấp nhất là năm giới, người giữ năm giới là giải thoát được năm phần chướng nạn. Thí dụ người có tật tham lam trộm cắp, khi phát nguyện giữ năm giới thì không trộm cắp nữa, không trộm cắp là đã giải thoát được cái nạn bị bắt bớ đánh đập tù tội. Người ghiền rượu khi phát nguyện giữ năm giới thì giải thoát được cái nạn nghiện ngập say sưa. Vậy giữ một giới là giải thoát được một nạn chướng, giữ hai giới là giải thoát được hai nạn chướng... Trong luật gọi là từng phần giải thoát. Như vậy không phải pháp Phật có một vị là vị giải thoát sao? Tướng xa lìa là xa lìa tham sân si, phiền não chấp trước. Đối trước danh lợi, tài sắc... biết là giả dối không thật, không khởi tham sân si, chấp trước, đó là xa lìa, chứ không phải chạy trốn danh lợi, tài sắc mới gọi là xa lìa. Tướng diệt là sạch hết mọi vọng niệm, tâm thanh tịnh, hướng đến bậc Nhất thiết chủng trí. Sở dĩ Phật dạy cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát, là vì ngài được Nhất thiết chủng trí, tức là trí biết được mọi chúng sanh. Nên ai nghe Kinh này rồi thọ trì, đọc tụng và đúng như lời Phật dạy mà tu hành thì người đó được công đức tự mình không hay biết, không thể suy lường. Chúng ta ngày nay chỉ đọc tụng mà không đúng như lời Phật dạy để tu hành, cho rằng đọc tụng nhiều là tu nhiều. Tu và đọc có giống nhau không? Nếu bảo đọc tụng kinh là tu, tôi cho rằng chưa đúng. Vì sao? Thí dụ một bệnh nhân đến bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ cho toa bảo về nhà mua đủ những thứ thuốc ghi trong toa mà uống sẽ lành bệnh. Bệnh nhân đem toa về cứ đọc tới đọc lui hiệu thuốc ghi trong toa, mà không mua thuốc để uống. Như thế bệnh có lành không? Cũng vậy, ở đây Phật dạy đọc tụng rồi đúng như lời dạy của Phật mà tu hành mới được công đức. Phải hiểu chỗ này cho thật kỹ. Đọc rồi nhớ ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống đó là tu, chứ không phải đọc tụng suông như đọc toa thuốc mà gọi là tu được. Hiện tại có rất nhiều người tụng kinh Pháp Hoa, tu theo kinh Pháp Hoa, nhưng chúng ta tụng và tu theo kinh Pháp Hoa với tâm niệm gì? Cầu trí tuệ Phật hay cầu phước báo, cầu lợi lộc? Nếu cầu phước cầu lợi là phản bội kinh Pháp Hoa rồi! Tôi xin nhắc lại, kinh Pháp Hoa dạy tu để được Nhất thiết chủng trí, tức là tu để được trí tuệ Phật. Phật dạy một đàng chúng ta làm một nẻo, mà cho là trì Kinh, cho là mình tu cao, chỉ tăng trưởng lòng tham, tăng trưởng ngã mạn. Đó là một cái bệnh mà ít ai biết. Nói lời thật thì khó nghe và làm mích lòng người. Nhưng biết, thấy người tu sai mà không nói thì vấp phải cái lỗi bỏn sẻn, nên buộc lòng chúng tôi phải nói. Giảng kinh Pháp Hoa là phải làm sáng tỏ lý kinh, chứ để cho người tu theo kinh Pháp Hoa mà tu lầm, tu sai thì không được. Tại sao trì tụng Kinh và đúng như lời dạy của Phật tu hành mà không tự biết công đức? Vì mình không tự biết mình căn cơ ở bậc thượng, bậc trung hay bậc hạ. Chỉ có Phật mới biết, nên ngài mới nói ra nhiều pháp môn. Chúng sanh thích hợp với pháp môn nào thì ứng dụng pháp môn đó mà tu hành, chứ tự mình không biết. Phật do được Nhất thiết chủng trí mới biết được chủng tướng, thể tánh của chúng sanh: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Và được pháp gì? Nên ngài đúng theo từng tâm niệm của chúng sanh mà giáo hóa được kết quả thiết thực. Chúng ta tu chưa được Nhất thiết chủng trí, nói pháp không đúng tâm niệm của chúng sanh nên không có kết quả tốt. Xưa, ngài A-nan hướng dẫn cho hai vị đệ tử Sa-di tu, một vị ngài dạy quán sổ tức, một vị ngài dạy quán bất tịnh. Cả hai tu một thời gian không kết quả, khi gặp lại ngài, hai vị trình là tu không tiến bộ. Ngài A-nan thắc mắc tại sao mình dạy tu đúng với pháp Phật mà đệ tử tu không có kết quả. Ngài bèn trình việc này lên Phật, Phật hỏi hai vị đó trước làm nghề gì. Ngài A-nan thưa, một người làm thợ rèn, một người giữ nghĩa địa. Phật nói ngài A-nan dạy tu không hợp căn cơ của người. Với người thợ rèn thì nên dạy tu sổ tức, vì thợ rèn hay thụt ống bễ, dạy quán sổ tức họ dễ nhớ dễ thực hành. Người giữ nghĩa địa thường thấy thây chết nên dạy quán bất tịnh. Theo lời Phật, ngài A-nan dạy hai vị Sa-di tu một thời gian được kết quả tốt. Để thấy chúng ta chưa được Nhất thiết chủng trí, không biết tâm hành của chúng sanh, nên giáo hóa không có kết quả. Vì vậy, chúng ta tu nửa chừng như hiện nay, dù có thông minh đến đâu đi nữa, cũng chưa đủ phương tiện giáo hóa người, nên đừng tự mãn, mà phải tu cho đến chỗ rốt ráo thành Phật mới thôi. Phật lặp lại một lần nữa là pháp Phật có một tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết-bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không. Là chỉ cho Niết-bàn tịch diệt không có tướng mạo, không sanh diệt, không vô thường. Phàm cái gì có hình tướng thì sanh diệt, vô thường, là duyên hợp huyễn hóa không thật. Do đó Phật mới dùng phương tiện để đưa mọi người tu từ thấp lần lần lên cao, rồi đến trí tuệ Phật là cái chân thật. Nên nói Như Lai tùy cơ nghi nói pháp mà tâm phàm phu chúng ta khó có thể hiểu biết được. Tới đây Phật khen tôn giả Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề rất là hy hữu ít có. Tại sao Phật khen các ngài rất ít có? Vì các ngài biết rõ Phật tùy cơ nghi nói pháp nên tin nhận được, chỗ khó hiểu khó biết bây giờ các ngài đã hiểu đã biết. Như vậy là các ngài xứng đáng gánh vác trách nhiệm mà Phật giao phó, nên Phật khen để rồi sau này Phật thọ ký. Chánh văn: Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 4. Pháp vương phá các cõi Hiện ra trong thế gian Theo tánh của chúng sanh Dùng các cách nói pháp. Đức Như Lai tôn trọng Trí tuệ rất sâu xa Lâu giữ pháp yếu này Chẳng vội liền nói ra Người trí nếu được nghe Thời có thể tin hiểu, Kẻ không trí nghi hối Thời bèn là mất hẳn. Ca-diếp! Vì cớ đó Theo sức chúng nói pháp Dùng các món nhân duyên Cho chúng được chánh kiến. Ca-diếp ông nên biết! Thí như vầng mây lớn Nổi lên trong thế gian Che trùm khắp tất cả Mây trí tuệ chứa nhuần Chớp nhoáng sáng chói lòa Tiếng sấm xa vang động Khiến mọi loài vui đẹp Nhật quang bị che khuất Trên mặt đất mát mẻ Mây mù sa bủa gần Dường có thể nắm tới. Trận mưa đó khắp cùng Bốn phương đều xối xuống Dòng nước tuôn vô lượng Cõi đất đều rút đầy Nơi núi sông hang hiểm Chỗ rậm rợp sanh ra Những cây cối cỏ thuốc Các thứ cây lớn nhỏ Trăm giống lúa mộng mạ Các thứ mía cùng nho Nhờ nước mưa đượm nhuần Thảy đều tươi tốt cả. Đất khô khắp được rưới Thuốc cây đều sum suê Vầng mây kia mưa xuống Nước mưa thuần một vị Mà cỏ cây lùm rừng Theo mỗi thứ đượm nhuần Tất cả các giống cây Hạng thượng trung cùng hạ Xứng theo tánh lớn nhỏ Đều được sanh trưởng cả. Gốc thân nhánh và lá Trổ bông trái sắc vàng Một trận mưa rưới đến Cây cỏ đều thấm mướt Theo thể tướng của nó Tánh loại chia lớn nhỏ Nước đượm nhuần vẫn một Mà đều được sum suê. Giảng: Phần Trùng tụng lặp lại ý chính ở trên, là Phật ra đời cốt chỉ cho mọi người nhận ra tri kiến Phật, nhưng vì căn cơ chúng sanh không đồng, nên phải tùy theo trình độ mà giáo hóa có sai biệt, để cho người cao cũng như người thấp đều nhận được lợi ích, và cuối cùng ngài đưa đến chỗ cứu cánh bình đẳng là quả Phật. Phật dụ pháp Phật bình đẳng như nước mưa có một vị ngọt rưới khắp cỏ cây lớn nhỏ, tùy mỗi loại cây mà hấp thụ nước sai biệt, nhưng loại nào cũng bình đẳng nhận được lợi ích. Chánh văn: 5. Đức Phật cũng như thế Hiện ra nơi trong đời Ví như vầng mây lớn Che trùm khắp tất cả. Đã hiện ra trong đời Bèn vì các chúng sanh Phân biệt diễn nói bày Nghĩa thật của các pháp Đấng đại thánh Thế Tôn Ở trong hàng trời người Nơi tất cả chúng hội Mà tuyên nói lời này: Ta là bậc Như Lai Là đấng Lưỡng Túc Tôn Hiện ra nơi trong đời Dường như vầng mây lớn Thấm nhuần khắp tất cả Những chúng sanh khô khao Đều làm cho lìa khổ Được an ổn vui sướng Hưởng sự vui thế gian Cùng sự vui Niết-bàn. Các chúng trời người này Một lòng khéo lắng nghe Đều nên đến cả đây Ra mắt đấng Vô thượng. Ta là đấng Thế Tôn Không có ai bằng được Muốn an ổn chúng sanh Nên hiện ra trong đời Vì các đại chúng nói Pháp cam lồ trong sạch Pháp đó thuần một vị Giải thoát Niết-bàn thôi. Dùng một giọng tiếng mầu Diễn xướng nghĩa nhiệm này Đều thường vì Đại thừa Mà kết làm nhân duyên. Ta xem tất cả chúng Khắp đều bình đẳng cả Không có lòng bỉ thử Cùng với tâm yêu ghét Ta không chút tham đắm Cũng không có hạn ngại Hằng vì tất cả chúng Mà bình đẳng nói pháp Như khi vì một người Lúc chúng đông cũng vậy. Thường diễn nói pháp luôn Từng không việc gì khác Ngồi, đứng hoặc đến, đi Trọn không hề nhàm mỏi Đầy đủ cho thế gian Như mưa khắp thấm nhuần Sang hèn cùng thượng hạ Giữ giới hay phá giới Oai nghi được đầy đủ Và chẳng được đầy đủ Người chánh kiến, tà kiến Kẻ độn căn lợi căn Khắp rưới cho mưa pháp Mà không chút nhàm mỏi. Tất cả hàng chúng sanh Được nghe pháp của ta Tùy sức mình lãnh lấy Trụ ở nơi các bậc Hoặc là ở trời, người Làm Chuyển luân thánh vương Trời Thích, Phạm, các vua Đó là cỏ thuốc nhỏ. Hoặc rõ pháp vô lậu Hay chứng được Niết-bàn Khởi sáu pháp thần thông Và được ba món minh, Ở riêng trong núi rừng Thường hành môn thiền định Chứng được bậc Duyên giác Là cỏ thuốc bậc trung. Hoặc cầu bậc Thế Tôn Ta sẽ được thành Phật Tu hành tinh tấn, định Là cỏ thuốc bậc thượng. Lại có hàng Phật tử Chuyên tâm nơi Phật đạo Thường thực hành từ bi Tự biết mình làm Phật Quyết định không còn nghi Gọi đó là cây nhỏ. Hoặc an trụ thần thông Chuyển bất thối pháp luân Độ vô lượng muôn ức Trăm nghìn loài chúng sanh Bồ-tát hạng như thế Gọi đó là cây lớn. Phật chỉ bình đẳng nói Như nước mưa một vị Theo căn tánh chúng sanh Mà hưởng thọ không đồng Như những cỏ cây kia Được đượm nhuần đều khác. 6 Phật dùng món dụ này Để phương tiện chỉ bày Các thứ lời lẽ hay Đều diễn nói một pháp Ở nơi trí tuệ Phật Như một giọt trong biển. Ta rưới trận mưa pháp Đầy đủ khắp thế gian Pháp mầu thuần một vị Tùy sức riêng tu hành, Như thể lùm rừng kia Và cỏ thuốc những cây Tùy giống lớn hay nhỏ Lần lần thêm sum suê. Pháp của các đức Phật Thường dùng thuần một vị Khiến cho các thế gian Đều khắp được đầy đủ Lần lựa siêng tu hành Rồi đều được đạo quả. Hàng Thanh văn, Duyên giác Ở nơi chốn núi rừng Trụ thân hình rốt sau Nghe Phật pháp được quả Đó gọi là cỏ thuốc Đều được thêm lớn tốt. Nếu các vị Bồ-tát Trí tuệ rất vững bền Rõ suốt cả ba cõi Cầu được thừa tối thượng Đó gọi là cây nhỏ Mà được thêm lớn tốt. Lại có vị trụ thiền Được sức thần thông lớn Nghe nói các pháp không Lòng rất sanh vui mừng Phóng vô số hào quang Độ các loài chúng sanh Đó gọi là cây lớn Mà được thêm lớn tốt Như thế, Ca-diếp này! Đức Phật nói pháp ra Thí như vầng mây lớn Dùng nước mưa một vị Đượm nhuần nơi hoa người Đều được kết trái cả. Ca-diếp ông phải biết! Ta dùng các nhân duyên Các món thí dụ thảy Để chỉ bày Phật đạo Đó là ta phương tiện Các đức Phật cũng thế Nay ta vì các ông Nói việc rất chân thật Các chúng thuộc Thanh văn Đều chẳng phải diệt độ Chỗ các ông tu hành Là đạo của Bồ-tát Lần lần tu học xong Thảy đều sẽ thành Phật. Giảng: Pháp Phật nói thì bình đẳng, không đặc biệt chú trọng kẻ thân người sơ, kẻ thấp người cao... Hạng người nào đến với Phật, Phật đều bình đẳng giáo hóa cho, không có tâm bỉ thử cùng với tâm yêu ghét. Nên việc giáo hóa của ngài không chướng ngại, không hạn cuộc, khiến cho người nghe ai ai cũng đều được lợi ích. Tuy nhiên, tùy theo hạnh nguyện của mỗi người mà sự lợi ích có sai biệt. Đối với người nghe pháp Phật, phát tâm quy y giữ năm giới mong đời sau làm người lương thiện hưởng phước lành; hoặc người phát tâm tu Thập thiện mong đời sau sanh lên cõi trời hưởng phước báo an vui, hoặc làm Chuyển luân thánh vương, những người tu với hạnh nguyện như thế, Phật dụ như cỏ thuốc nhỏ. Đối với người tu theo pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, mong chứng quả Thanh văn, Duyên giác, Phật dụ như loại cỏ thuốc bậc trung. Đối với người tu chỉ mong cầu thành Phật không mong cầu quả vị nào khác và tinh tấn tu hành, tin mình sẽ thành Phật, Phật dụ như loại cỏ thuốc bậc thượng. Đối với hàng Bồ-tát mới phát tâm, thực hành hạnh từ bi, làm lợi ích chúng sanh, tinh tấn tu hành, tin mình sẽ thành Phật không còn nghi ngờ nữa... hàng Bồ-tát này, Phật dụ như loại cây nhỏ... Đối với hàng Bồ-tát an trụ thần thông, chuyển pháp luân bất thoái, độ vô lượng vô số chúng sanh, đây chỉ cho hàng Bồ-tát từ Sơ địa cho tới Thập địa, hàng Bồ-tát này được Phật dụ như loài cây lớn. Năm hạng người phát tâm tu với hạnh nguyện sai khác, được Phật dụ cho ba loại cỏ và hai loại cây. Chúng ta tự kiểm lại xem chúng ta thuộc hạng nào trong năm hạng này? Ở đây đức Phật cụ thể hóa thí dụ, là trình độ chúng sanh tuy sai biệt nên pháp tu có thấp cao, nhưng pháp Phật thì bình đẳng chỉ có một vị giải thoát. Bởi pháp Phật bình đẳng chỉ có một vị giải thoát, tuy lúc đầu phát tâm nhỏ, tu giữ năm giới, tu Thập thiện, nhưng dần dần sẽ tiến đến chỗ viên mãn là thành Phật, chứ không có dừng nghỉ ở một quả vị nửa chừng. Phẩm Dược Thảo Dụ nói lên tâm bình đẳng của Phật khi giáo hóa chúng sanh, giống như nước mưa rưới khắp tất cả loài cây cỏ. Và chúng sanh ai ai cũng có tri kiến Phật, bình đẳng như nhau cùng nghe pháp Phật, tùy theo căn cơ sai biệt mà lợi ích có sai khác. Nhưng cuối cùng rồi cũng được thành Phật, giống như các loài cây cỏ đều từ mặt đất mọc lên tùy loại giống mà hấp thụ nước mưa sai khác, nhưng tất cả cây lớn hay cỏ nhỏ loại nào cũng đều được sanh trưởng. VI- PHẨM THỌ KÝ Thọ ký có nghĩa là trao nhận. Tức là đức Phật biết người đệ tử công hạnh tu hành sắp viên mãn, ngài liền thọ ký cho vị đó sẽ thành Phật. Tùy theo công hạnh và thời gian tu hành dài hoặc ngắn mà Phật thọ ký có sai biệt. Việc thọ ký của Phật giống như thiền sư truyền tâm ấn cho đệ tử. Khi trò ngộ đạo, chỗ thấy biết của trò ngang bằng chỗ thấy biết của thầy, thầy thấy như thế nào trò thấy như thế ấy, ngang đây thầy ấn chứng cho trò. Tôi thí dụ để quý vị tạm hiểu, ông cha có một đứa con đi học, đứa bé thông minh học giỏi thường đứng đầu lớp, mỗi năm học mỗi lên lớp, hết cấp tiểu học lên trung học rồi lên đại học. Nếu nó chuyên ngành khoa học và vẫn học giỏi dẫn đầu lớp, có người hỏi: Con ông chừng nào ra trường? Ông trả lời bốn năm nó sẽ tốt nghiệp Cử nhân khoa học. Nếu nó chuyên ngành Y khoa và cũng đứng đầu lớp thì ông cũng trả lời bảy năm nó sẽ tốt nghiệp Tiến sĩ y khoa. Sở dĩ ông cha dám nói như vậy là vì ông biết khả năng của con mình. Ngược lại nếu đứa con học bình thường, hay ngồi lại lớp thì ông cha không dám nói khẳng định như thế. Cũng vậy, ở đây hàng đệ tử Phật đã trình bày chỗ thấu suốt lý Phật dạy, phiền não đã sạch và đã chứng A-la-hán. Bấy giờ các ngài hướng về Phật, nhận ra tri kiến Phật để tu, không còn nghi ngờ nên ngang đây đức Phật thọ ký cho sẽ thành Phật. Phẩm Tựa nói tổng quát toàn bộ kinh. Phẩm Phương Tiện, Phật nêu lên bản hoài của Phật ra đời là Khai Thị chúng sanh Ngộ Nhập tri kiến Phật. Bấy giờ hội chúng chỉ có hàng thượng căn bậc thượng như ngài Xá-lợi-phất nhận ra tri kiến Phật, còn hạng thượng căn bậc trung thì chưa nhận được. Vì vậy mà phẩm Thí Dụ, Phật dẫn dụ một cách rõ ràng chủ đích của Phật ra đời, thì hàng thượng căn bậc trung như ngài Ca-diếp, Tu-bồ-đề... mới ngộ được Phật tri kiến. Nên đến phẩm Tín Giải thì các ngài ra trình sở ngộ lên đức Phật. Đáng lý tới đây là Phật thọ ký, nhưng vì Phật thấy số người còn lại chưa thâm nhập nổi, nên ngài nói thêm phẩm Dược Thảo Dụ, để thấy rõ thâm ý của Phật là bình đẳng giáo hóa, đưa mỗi người tiến tới chỗ cứu cánh là thành Phật, chứ không để bất cứ một ai dừng ở một quả vị thấp nào. Rồi sau đó Phật mới thọ ký cho những đệ tử trình sở ngộ như ngài Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... sẽ thành Phật. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng, xướng lời thế này: Ông Ma-ha Ca-diếp, đệ tử của ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đức Phật Thế Tôn, cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm. Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng phẳng, không có cao thấp hầm hố gò nổng, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ. Bồ-tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật pháp. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 2. Bảo các Tỳ-kheo rằng: Ta dùng mắt của Phật Thấy ông Ca-diếp này Ở nơi đời vị lai Quá vô số kiếp sau Sẽ được thành quả Phật, Mà ở đời vị lai Cúng dường và kính thờ Đủ ba trăm muôn ức Các đức Phật Thế Tôn. Vì cầu trí tuệ Phật Mà tịnh tu phạm hạnh Cúng dường đấng Tối thượng Nhị Túc Tôn xong rồi Tu tập trọn tất cả Trí tuệ bậc Vô thượng Ở nơi thân rốt sau Được chứng thành làm Phật. Cõi đó rất thanh tịnh Chất lưu ly làm đất Nhiều thứ cây bằng báu Thẳng hàng ở bên đường Dây vàng giăng ngăn đường Người ngó thấy vui mừng Thường thoảng ra hương thơm Rải các thứ hoa đẹp Các món báu kỳ diệu Dùng để làm trang nghiêm Cõi đó đất bằng phẳng Không có những gò hầm. Các hàng chúng Bồ-tát Đông không thể xưng kể Tâm các vị hòa dịu Đều được thần thông lớn Phụng trì các kinh điển Đại thừa của các Phật. Các hàng chúng Thanh văn Vô lậu thân rốt sau Là con của Pháp vương Cũng chẳng thể kể hết Nhẫn đến dùng thiên nhãn Cũng chẳng thể đếm biết. Phật đó sẽ sống lâu Tuổi mười hai tiểu kiếp Chánh pháp trụ ở đời Đủ hai mươi tiểu kiếp Tượng pháp trụ ở đời Cũng hai mươi tiểu kiếp Đức Quang Minh Thế Tôn Việc của ngài như thế. Giảng: Sau khi các tôn giả Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... trình sở ngộ, đức Phật liền thọ ký cho các ngài thành Phật. Trước thọ ký cho tôn giả Ma-ha Ca-diếp đời vị lai sẽ được thành Phật đầy đủ mười hiệu và đủ ba mươi hai tướng tốt. Ngài phụng thờ ba trăm muôn ức đức Phật mới thành Phật. Chúng ta thấy thời gian tu hành của ngài Ca-diếp quá lâu, mà ngài được thọ ký là vui mừng thấy mình được điều chưa từng có. Điều này nói lên tâm hạnh của Bồ-tát có khác với tâm hạnh của phàm phu. Sau khi thành Phật, tuổi thọ của ngài đến mười hai tiểu kiếp, một tiểu kiếp là 16.800.000 năm. Tính ra đến 201.600.000 năm. Sống quá lâu! Còn cõi nước thì đất bằng phẳng trang nghiêm đẹp đẽ toàn bằng đồ báu không có dơ bẩn, không có cực khổ. Đồ đệ toàn là hàng Bồ-tát, La-hán nhiều vô lượng vô biên. Sở dĩ tôn giả Ca-diếp khi thành Phật mà được chánh báo y báo tốt đẹp lớn lao như vậy, là nhờ công phu tu hành giáo hóa chúng sanh lâu dài và nhiều vô kể. Nhân thế nào thì quả thế ấy, nhân lớn thì quả phải to. Phật thọ ký cho tôn giả Ma-ha Ca-diếp sau khi thành Phật, số Bồ-tát ngài độ được có tới nghìn muôn ức, Thanh văn cũng vô số. Một vị Bồ-tát khi thành Phật, không có đơn độc ở một mình, như đức Thích-ca khi thành Phật bên cạnh ngài có rất nhiều Bồ-tát, La-hán, Thanh văn. Những đồ đệ đó đều là những người đã có túc duyên nhiều đời nhiều kiếp với ngài, chứ không phải chỉ có duyên một đời này. Như vậy những đệ tử Bồ-tát, Thanh văn, La-hán trước kia là những người phàm, khi Phật còn làm Bồ-tát giáo hóa họ tu; thầy tiến lên thành Phật, trò cũng tiến lên thành Bồ-tát, La-hán. Chúng ta thấy tất cả Bồ-tát được Phật thọ ký, vị nào cũng có đồ đệ đông như vậy. Vì rằng một vị tu hành từ khi mới phát tâm tu, cho tới ngày thành Phật, là đời đời giáo hóa chúng sanh và cũng tiếp tục gặp lại nhau ở nơi này hay ở nơi khác, những người này là hàng Bồ-tát, hàng Thanh văn câu hội về quốc độ của Phật. Như vậy, không có nghĩa tu một đời tâm hạnh bị mất, nếu phát tâm chân chánh, tu hành đứng đắn thì đời này mới tu duyên phước còn mỏng thì độ ít, đời sau tiếp tục tu nữa và giáo hóa nhiều hơn, đời sau nữa tiếp tục công hạnh cũ, như thế mà tiếp tục cho đến khi thành Phật, thì quyến thuộc là Bồ-tát, Thanh văn cũng đông vầy. Thế nên chúng ta không thể lo tu một mình để cầu mau thành Phật, thiếu phần giác tha thì công hạnh chưa viên mãn làm sao thành Phật được. Để thấy tinh thần kinh Pháp Hoa là Bồ-tát đời đời thực hiện bản nguyện nối tiếp thắp sáng ngọn đuốc Phật pháp cho chúng sanh, đến khi công hạnh viên mãn mới thành Phật, và chúng sanh được giáo hóa cũng thành Bồ-tát và La-hán câu hội về quốc độ của các ngài. Phần Trùng tụng lặp lại ý trên. Chánh văn: 3. Lúc bấy giờ, ngài Đại Mục-kiền-liên, ngài Tu-bồ-đề, ngài Đại Ca-chiên-diên v.v... thảy đều run sợ một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền đồng tiếng nhau nói kệ rằng: Thế Tôn rất hùng mãnh Pháp vương trong dòng Thích Vì thương xót chúng con Mà ban giọng tiếng Phật. Nếu rõ thâm tâm con Được Phật thọ ký cho Như dùng cam lồ rưới Từ nóng được mát mẻ. Như từ nước đói đến Bỗng gặp cỗ tiệc vua Còn ôm lòng nghi sợ Chưa dám tự ăn liền Nếu lại được vua bảo Vậy sau mới dám ăn. Chúng con cũng như vậy Hằng nghĩ lỗi Tiểu thừa Chẳng biết làm thế nào Được tuệ Vô thượng Phật, Dầu nghe giọng tiếng Phật Nói chúng con thành Phật Còn ôm lòng lo sợ Như chưa dám tự ăn Nếu được Phật thọ ký Mới là khoái an vui Thế Tôn rất hùng mãnh Thường muốn an thế gian Xin thọ ký chúng con Như đói cần bảo ăn. Giảng: Còn ba vị chưa được Phật thọ ký là ngài Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên, nên các ngài run sợ, chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật. Vì bốn vị cùng là bạn, trình độ học tu ngang nhau, một trong bốn vị được thọ ký thành Phật, lúc đó ba người còn lại cả mừng trở thành hoảng hốt, bởi hoảng hốt nên run sợ. Thế nên các ngài mới trình bày tâm trạng của các ngài: Nếu rõ thâm tâm con Được Phật thọ ký cho Như dùng cam lồ rưới Từ nóng được mát mẻ. Tâm các ngài đang nóng nảy, hồi hộp, lo sợ không biết có được Phật thọ ký không. Nếu bấy giờ được Phật thọ ký thì như được rưới nước cam lồ khiến cho tâm các ngài được mát mẻ êm ả, không còn hồi hộp lo sợ nữa. Kế đến các ngài lại nói thêm: Như từ nước đói đến Bỗng gặp cỗ tiệc vua Còn ôm lòng nghi sợ Chưa dám tự ăn liền Nếu lại được vua bảo Vậy sau mới dám ăn. Các ngài dụ các ngài như ở nước đói đến gặp tiệc vua ban đủ thức ăn sang trọng bày la liệt trên bàn, lòng còn lo sợ chưa dám ăn liền, vì chưa được mời ăn. Nếu được vua bảo thì các ngài mới dám ăn. Thí dụ này nói lên ý nghĩa các ngài đã được cái thấy biết mà huynh đệ các ngài như tôn giả Xá-lợi-phất, Ma-ha Ca-diếp đã được, nhưng chưa dám tin rằng mình sẽ được thọ ký thành Phật. Nay nếu được Phật thọ ký thì tâm các ngài mới an, mới tin chắc. Các thiền sư cũng có tâm trạng như các tôn giả ở đây. Như ngài Vĩnh Gia Huyền Giác do xem kinh Duy-ma-cật mà ngộ đạo, ngài biết rõ mình đã thông suốt được lý Thiền, nhưng chưa được bậc tôn túc nào ấn chứng, nên thể theo lời đề nghị của thiền sư Huyền Sách đến Lục Tổ cầu xin ấn chứng. Sau khi được Lục Tổ ấn chứng, ngài mới dám nói lên chỗ chứng đạo của mình qua bài Chứng Đạo Ca. Nếu chưa được ấn chứng vẫn còn hồ nghi. Đó là tâm niệm của người xưa và người gần đây không khác nhau. Những đồ đệ của đức Phật khi xưa khao khát được Phật thọ ký như thế nào, thì các thiền sư sau này khao khát được thầy ấn chứng cũng như vậy. Vì vậy sau khi các thiền sư ngộ đạo rồi, đi tìm thiện hữu tri thức trình sở ngộ và cầu xin ấn chứng để an ổn mà tiến tu. Chánh văn: 4. Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn, bảo các thầy Tỳ-kheo rằng: Ông Tu-bồ-đề đến đời vị lai phụng thờ ba trăm muôn ức na-do-tha đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ-tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp đó tên Hữu Bửu, nước đó tên là Bửu Sanh. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai, chông cùng tiện lợi dơ dáy, hoa báu trải khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quý đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vô biên, tính kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ-tát đông vô số nghìn muôn ức na-do-tha. Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, đức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-tát cùng chúng Thanh văn. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 5. Các chúng Tỳ-kheo này! Nay ta bảo các ông Đều nên phải một lòng Lắng nghe lời ta nói. Đệ tử lớn của ta Là ông Tu-bồ-đề Rồi sẽ được làm Phật Hiệu gọi là Danh Tướng Sẽ phải cúng vô số Muôn ức các đức Phật Theo hạnh của Phật làm Lần lần đủ đạo lớn. Thân rốt sau sẽ được Ba mươi hai tướng tốt Xinh lịch đẹp đẽ lắm Dường như núi báu lớn. Cõi nước của Phật đó Trang nghiêm sạch thứ nhất Chúng sanh nào được thấy Không ai chẳng ưa mến. Phật ở trong cõi đó Độ thoát vô lượng chúng. Trong pháp hội của Phật Các Bồ-tát đông nhiều Thảy đều bậc lợi căn Chuyển pháp luân bất thối. Cõi nước đó thường dùng Bồ-tát để trang nghiêm Các chúng Thanh văn lớn Chẳng có thể đếm kể Đều được ba món minh Đủ sáu thứ thần thông Trụ tám pháp giải thoát Có oai đức rất lớn. Đức Phật đó nói pháp Hiện ra vô lượng món Pháp thần thông biến hóa Chẳng thể nghĩ bàn được. Các hàng trời, nhân dân Số đông như hằng sa Đều cùng nhau chắp tay Lắng nghe lãnh lời Phật. Đức Phật đó sẽ thọ Tuổi mười hai tiểu kiếp Chánh pháp trụ lại đời Đủ hai mươi tiểu kiếp Tượng pháp trụ ở đời Cũng hai mươi tiểu kiếp. Giảng: Đức Phật thọ ký cho ngài Tu-bồ-đề sau này sẽ thành Phật hiệu là Danh Tướng, kiếp tên Hữu Bửu, cõi nước tên Bửu Sanh, cõi đó bằng phẳng, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, hàng đồ đệ toàn là Thanh văn, Bồ-tát đông vô số không thể tính kể. Sự kiện này cho chúng ta thấy, làm việc lợi sanh được phần công đức là tích tụ thành một hạt lưu ly, làm vô số công đức thanh tịnh trải qua nhiều đời nhiều kiếp, thì tụ thành cả quốc độ toàn là lưu ly thanh tịnh theo như công hạnh tu hành của mình. Đó là do tinh thần độ sanh không giới hạn, nếu công hạnh viên mãn thì thành Phật. Nếu công hạnh chưa viên mãn mà muốn thành Phật sớm thì cõi nước không thanh tịnh, tuổi thọ không lâu dài, đồ đệ chưa phải là hàng thánh. Ở đây đức Phật nói Phật Danh Tướng thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-tát cùng chúng Thanh văn. Tại sao Phật Danh Tướng lại nói pháp ở trên hư không? Như chúng ta biết, ngài Tu-bồ-đề tu hạnh quán lý không, nên được Phật khen là Giải không bậc nhất trong hội chúng. Do ngộ được lý không nên khi nói pháp ngài nói về lý Bát-nhã chân không. Vì vậy mà nói ngài ở trên hư không vì chúng sanh nói pháp. Chánh văn: 6. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ-kheo: Ta nay nói với các ông, ông Đại Ca-chiên-diên này ở đời sẽ tới, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do-tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do-tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành, cúng dường tháp miếu bằng các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan v.v... Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ-tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm-phù-na-đề Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ-tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp. Lúc đó Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 7. Các chúng Tỳ-kheo này! Đều nên một lòng nghe Như lời của ta nói Chân thật không khác lạ. Ông Ca-chiên-diên này Sau sẽ dùng các món Đồ cúng dường tốt đẹp Mà cúng dường các Phật. Các đức Phật diệt rồi Dựng tháp bằng bảy báu Cũng dùng hoa và hương Để cúng dường xá-lợi. Thân rốt sau của ông Được trí tuệ của Phật Thành bậc Đẳng chánh giác Cõi nước rất thanh tịnh Độ thoát được vô lượng Muôn ức hàng chúng sanh Đều được mười phương khác Thường đến kính cúng dường, Ánh sáng của Phật đó Không ai có thể hơn Đức Phật đó hiệu là: Diêm-phù Kim Quang Phật Bồ-tát và Thanh văn Dứt tất cả hữu lậu Đông vô lượng vô số Trang nghiêm cõi nước đó. Giảng: Ngài Ma-ha Ca-chiên-diên cũng được Phật thọ ký. Do tu hạnh Bồ-tát cung kính cúng thờ tới tám nghìn ức Phật, sau Phật diệt độ lại xây tháp miếu cúng dường. Sau lại cúng dường hai muôn ức Phật cũng như trước, công hạnh viên mãn sẽ thành Phật hiệu Diêm-phù-na-đề Kim Quang, quốc độ bằng phẳng, đất bằng pha lê, trang nghiêm bằng cây báu... Sở dĩ Bồ-tát ra đời gặp Phật là vì các ngài tu hạnh Bồ-tát, mà Bồ-tát là nhân và Phật là quả, nên ra đời đều gặp Phật. Nơi nào có Phật là có các ngài gần gũi tôn trọng cúng dường và tu học. Trải qua thời gian lâu dài công hạnh viên mãn thì thành Phật cõi nước đẹp đẽ trang nghiêm. Chánh văn: 8. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo trong đại chúng: Ta nay nói với các ông, ông Đại Mục-kiền-liên đây sẽ dùng các món đồ cúng, cúng dường tám nghìn các đức Phật, cung kính tôn trọng. Sau khi đức Phật diệt độ đều dựng tháp miếu cao một nghìn do-tuần, ngang rộng thẳng bằng năm trăm do-tuần, dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành. Đem các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu và tràng phan để cúng dường tháp. Sau lúc ấy lại sẽ cúng dường hai trăm muôn ức các đức Phật cũng như trước, rồi sẽ được thành Phật hiệu Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Kiếp đó tên là Hỷ Mãn, nước tên là Ý Lạc, cõi đó bằng phẳng, chất pha lê làm đất, cây báu trang nghiêm, rải hoa trân châu khắp nơi sạch sẽ, người được thấy đều vui mừng. Các hàng trời người rất đông, Bồ-tát và Thanh văn số nhiều vô lượng, đức Phật đó thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp trụ lại đời bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ bốn mươi tiểu kiếp. Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 9. Đệ tử của ta đây Là Đại Mục-kiền-liên Bỏ thân người này rồi Sẽ được gặp tám nghìn Hai trăm muôn ức vị Các đức Phật Thế Tôn. Ông vì cầu Phật đạo Nên cúng dường cung kính Ở nơi các đức Phật Thường tu trì phạm hạnh Ở trong vô lượng kiếp Phụng trì pháp của Phật. Các đức Phật diệt rồi Xây tháp bằng bảy báu Tháp vàng rất cao rộng, Dùng hoa hương kỹ nhạc Để dùng dâng cúng dường Tháp miếu các đức Phật. Lần lần được đầy đủ Đạo hạnh Bồ-tát rồi Ở nơi nước Ý Lạc Mà được thành quả Phật Hiệu là Đa-ma-la Bạt Chiên-đàn Hương Phật. Đức Phật đó thọ mạng Hai mươi bốn tiểu kiếp Thường vì hàng trời người Mà diễn nói đạo Phật Chúng Thanh văn vô lượng Như số cát sông Hằng Đủ ba minh, sáu thông Đều có oai đức lớn. Bồ-tát đông vô số Chí bền lòng tinh tấn Ở nơi trí tuệ Phật Đều không hề thối chuyển. Sau khi Phật diệt độ Chánh pháp sẽ trụ đời Đủ bốn mươi tiểu kiếp Tượng pháp cũng như thế. 10. Các đệ tử của ta Bậc oai đức đầy đủ Số đó năm trăm người Ta đều sẽ thọ ký Ở nơi đời vị lai Đều được chứng thành Phật. Ta cùng với các ông Đời trước kết nhân duyên Ta nay sẽ thuật nói Các ông khéo lắng nghe. Giảng: Ngài Ma-ha Mục-kiền-liên được Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật hiệu là Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, kiếp tên Hỷ Mãn, nước tên Ý Lạc... cũng do tu hạnh Bồ-tát, phụng thờ vô số đức Phật công hạnh viên mãn mới được thành Phật. Sau khi thọ ký cho bốn vị đại đệ tử xong, Phật hứa rằng năm trăm vị đại đệ tử của Phật tuần tự sẽ được thọ ký. Không riêng gì đối với đệ tử lớn mà những vị nhỏ, có khả năng tin thọ lời Phật dạy là được Phật bình đẳng thọ ký cho. Đây là một lối ấn chứng cho đệ tử đủ lòng tin mà an tâm tiến tu không lui sụt. Qua phẩm Thọ Ký chúng ta thấy, cõi nước của các vị Phật tương lai, cõi nào cũng bằng phẳng, đất thì bằng vàng, bằng lưu ly, trang nghiêm bằng bảy báu, đồ đệ là hàng Bồ-tát, Thanh văn vô số. Tuổi thọ của Phật thì rất lâu, chánh pháp, tượng pháp cũng lâu... Rồi chúng ta nghiệm lại đức Bổn sư Thích-ca-mâu-ni cũng là một vị Phật, tại sao cõi Ta-bà của ngài toàn là gò nổng, đất bùn sình nhơ nhớp, chúng sanh ở cõi này thì nhiều khổ đau phiền não, đồ đệ thuộc hàng Bồ-tát, Thanh văn chỉ có một ngàn hai trăm năm mươi vị? Còn tuổi thọ của ngài chỉ có tám mươi tuổi, chánh pháp của ngài trụ thế có năm trăm năm, tượng pháp một ngàn năm? Đức Phật Thích-ca sanh ở cung vua Tịnh Phạn xứ Ấn Độ giáo hóa cõi Ta-bà này là Phật ứng thân; chúng sanh ở cõi Ta-bà này vô minh nghiệp chướng sâu dày, phước mỏng, thì chánh báo và y báo của họ dĩ nhiên là thô xấu bất tịnh. Phật vì từ bi tùy duyên ứng thân ở cõi này để cứu độ họ. Thí dụ như người ở thủ đô giàu có, ăn cao lương mỹ vị, ở nhà lầu đi xe hơi, sống rất sung túc sang trọng. Người đó thấy dân miền sơn cước quê dốt, thiếu ăn thiếu mặc, tình nguyện đến đó để hướng dẫn dân miền này biết chữ, biết nghề nghiệp làm cho đủ cơm ăn áo mặc. Khi người thủ đô đến miền sơn cước ở thì đời sống của họ cũng đạm bạc không tiện nghi, vì chỗ ở này là chỗ ở tạm. Cũng vậy, đức Thích-ca ra đời ở cõi Ta-bà này là một chặng hóa thân của ngài để hóa độ. Cõi này là cõi tạm, ngài ở một thời gian ngắn ngài đi, nên tuổi thọ không dài. Còn cõi nước không thanh tịnh trang nghiêm, vì chúng sanh cõi này đa phần phước mỏng nghiệp dày nên cũng có các y báo chung như thế. VII- PHẨM HÓA THÀNH DỤ Hóa Thành Dụ là thí dụ hóa ra cái thành tạm, cho kẻ đi đường dài mỏi mệt nghỉ chân để rồi tiếp tục đi nữa. Dụ này ngầm nói lên quả vị Thanh văn, Duyên giác chỉ là Niết-bàn tạm, không phải cứu cánh. Cứu cánh là phải đạt quả vị Phật. Chánh văn: 1. Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo: Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nước đó tên Hảo Thành, kiếp tên Đại Tướng. Các Tỳ-kheo! Từ khi đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lựa chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán hoặc đệ tử của thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng? - Thưa Thế Tôn! Không thể biết! - Các Tỳ-kheo! Những cõi nước của người đó đi qua hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực, đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hạt bụi là một kiếp, từ đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay. Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 2. Ta nhớ đời quá khứ Vô lượng vô biên kiếp Có Phật Lưỡng Túc Tôn Hiệu Đại Thông Trí Thắng. Như người dùng sức mài Cõi tam thiên đại thiên Hết tất cả địa chủng Thảy đều làm thành mực Quá hơn nghìn cõi nước Bèn chấm mỗi điểm trần Như thế lần lựa chấm Hết các mực trần này. Bao nhiêu cõi nước đó Điểm cùng chẳng điểm thảy Lại đều nghiền làm bụi Một bụi làm một kiếp Kiếp số lâu xa kia Lại nhiều hơn số bụi Phật đó diệt đến nay Vô lượng kiếp như thế Trí vô ngại của Phật Biết Phật đó diệt độ Và Thanh văn, Bồ-tát Như hiện nay thấy diệt. Các Tỳ-kheo nên biết! Trí Phật tịnh vi diệu Vô lậu và vô ngại Suốt thấu vô lượng kiếp. Giảng: Đức Phật kể lại chuyện của một đức Phật từ kiếp xa xưa tên là Đại Thông Trí Thắng. Từ khi đức Phật ấy diệt độ nhẫn đến nay thời gian rất lâu xa. Thí như lấy đất tam thiên đại thiên thế giới, mài nát ra thành mực, rồi cứ đi về phương đông cách khoảng một ngàn cõi nước chấm một điểm nhỏ, và cứ thế mà chấm cho đến khi hết mực được mài, thì chừng bao nhiêu thế giới? Không thể tính đếm được, quá nhiều! Bây giờ đem những thế giới chấm mực và không chấm mực nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi tính là một kiếp. Như vậy vô số bụi là vô số kiếp. Từ khi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhập diệt tới nay lâu hơn vô số kiếp đó, thế mà đức Thế Tôn dùng tri kiến Phật xem thuở lâu xa đó thấy như hiện nay. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi, không thể tính toán ra thời gian đó là bao nhiêu, làm sao mà tin được? Đứng về mặt sự mà nói thì kinh Phạm Động trong bộ Trường A-hàm có ghi lại sáu mươi hai kiến chấp của ngoại đạo. Sở dĩ ngoại đạo có những kiến chấp là do họ tu thiền định, nếu sức định vừa thì họ nhớ từ năm mười kiếp về trước, thấy rõ về túc mạng, gia tộc, quốc độ, sinh hoạt của họ và mỗi loài chúng sanh. Nếu sức định sâu thì thấy cả trăm cả ngàn đời về trước. Họ thấy tới đâu là họ chấp tới đó. Còn những gì xa hơn chỗ thấy biết do sức định thì họ không biết. Ở đây nói lên sức định của Phật thâm sâu không thể diễn tả nổi. Cho nên cái biết của ngài về quá khứ cũng không thể nghĩ lường. Thời gian từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng tịch diệt, đến lúc đức Thích-ca ra đời trải qua thời gian lâu xa vô kể, mà bây giờ ngài ưng nhớ lại thì thấy rõ như chuyện hiện nay. Đó là do sức thiền định sâu, nhớ được quá khứ rất lâu xa. Đứng về mặt lý thì tri kiến Như Lai là trí tuệ Phật, mà trí tuệ Phật thì không lệ thuộc thời gian… Thời gian như ngày, tháng, năm chẳng qua là khái niệm do người đặt ra, không có thật. Quả đất cứ xoay quanh mặt trời, vùng đất nhận ánh sáng mặt trời, người cho là ngày, vùng đất không nhận ánh sáng mặt trời, người cho là đêm, chứ nó không tự nói là ngày hay là đêm. Thời gian chỉ là ý niệm người đặt ra tạm dùng không có lẽ thật. Dù thời gian muôn nghìn triệu ức, nhưng đối với đức Đại Thông Trí Thắng tức tri kiến Phật là cái không hình, không tướng, không sanh, không diệt thì không bị giới hạn bởi thời gian. Vì vậy mà nói dù cho vô lượng kiếp xa xưa không thể tính đếm được, cần nhớ thì nhớ thấy như hiện tại. Chánh văn: 3. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Đức Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước. Thuở đó, các vị trời Đao-lợi ở dưới cội cây bồ-đề đã trước vì đức Phật đó mà trải tòa sư tử cao một do-tuần. Phật ngồi nơi tòa này sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm thiên vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do-tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa này. Các trời Tứ thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế. Các Tỳ-kheo! Đức Đại Thông Trí Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều bỏ đồ báu của mình, đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa. Ông nội là vua Chuyển luân thánh vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Khi đã đến nơi, tất cả đem đầu mặt mình lạy chân Phật, đi vòng quanh đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật. Giảng: Tại sao đức Phật Đại Thông Trí Thắng ngồi đạo tràng phá quân ma rồi sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thân tâm chẳng động mà Phật pháp không hiện tiền? Đứng về mặt sự thì chúng ta thấy đức Thích-ca-mâu-ni tuổi thọ khoảng tám mươi tuổi. Ngài tọa thiền bốn mươi chín ngày đêm, đêm sau cùng đầu hôm ma quân đến quấy nhiễu, ngài chiến đấu với ma quân, đến canh năm lúc sao mai mọc thì ngài thành đạo. Còn đức Phật Đại Thông Trí Thắng tuổi thọ đến năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, nên thời gian ngài nhập định chiến đấu với ma quân cũng lâu dài và mãi đến mười tiểu kiếp sau trời Đao-lợi trải tòa sư tử dưới cội bồ-đề, ngài ngồi trên tòa này mới thành đạo. Sự kiện này nói lên đức Thích-ca-mâu-ni là Phật hóa thân tuổi thọ ngắn nên thời gian tu cũng ngắn, còn đức Đại Thông Trí Thắng là Phật báo thân, tuổi thọ dài nên thời gian tu cũng dài. Đứng về mặt lý thì nếu nhập định thân tâm không động, mãi an trú trong định thì chưa giác, mà nếu chưa giác thì chưa thành Phật, nên nói Phật pháp chưa hiện ra. Thiền tông có một câu chuyện nói lên ý nghĩa này: Xưa, có một bà già thấy một thiền sư tu hành tinh tấn, bà phát tâm cất một cái am và cung cấp lương thực cho ngài ở tu. Thiền sư ở yên tu một thời gian, một hôm bà sai đứa cháu gái đem cơm đến cho ngài và dặn đứa cháu khi đưa cơm xong thì vòng tay ôm ngài và hỏi: - Ngay bây giờ thì thế nào? Đứa cháu gái làm đúng như lời bà dạy. Thiền sư trả lời: Khô mộc ỷ hàn nham Tam xuân vô noãn khí. Dịch: Cây khô tựa đá lạnh Ba xuân không hơi ấm. Tuy cô gái ôm ngài, nhưng ngài không động tâm: trơ trơ như cây khô như đá lạnh, đã trải qua ba năm rồi lòng ngài như băng giá không có chút tình cảm hơi ấm với người. Hành động của cô gái đối với ngài, ngài không hề khởi niệm dục vọng. Cô gái về thuật lại sự việc ấy cho bà nghe, bà nói: - Uổng mấy năm nuôi ông thầy không có trí tuệ! Bà bèn đốt am đuổi đi. Một người tu chân chính bị nữ sắc cám dỗ tâm không dao động, đối với chúng ta ngài là người có đạo lực cao, đáng tán thán khen ngợi. Nhưng dưới mắt bà già cũng như dưới mắt Thiền tông thì thiền sư ấy đang “chìm trong nước chết”, tức là đang ở trong trạng thái tịch lặng, trí tuệ chưa sáng, chưa đến chỗ rốt ráo. Để cảnh giác ngài, bà đốt am để ngài vươn lên. Một việc làm phi thường của bà già thấu được lý đạo. Đây nói ngồi thân tâm không động, Phật pháp chẳng hiện tiền, là chỉ trạng thái tịch lặng, trí tuệ chưa sáng. Trải qua mười tiểu kiếp lúc đó Phật pháp mới hiện tiền, tức là vượt qua chỗ nước chết, trí tuệ sáng ra. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng lúc chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên là Trí Tích. Trí Tích là trí chứa nhóm lâu đời, phần sau sẽ giải thích rộng hơn. Khi Phật thành đạo thì mười sáu người con phát tâm tu và cả quyến thuộc đều lần lượt kéo đến chiêm ngưỡng cung kính, cúng dường, khen ngợi. Chánh văn: 4. Thế Tôn oai đức lớn Vì muốn độ chúng sanh Trong vô lượng ức năm Bèn mới được thành Phật Các nguyện đã đầy đủ Hay thay! Lành vô thượng Thế Tôn rất ít có Một phen ngồi mười kiếp Thân thể và tay chân Yên tịnh không hề động Tâm Phật thường lặng lẽ Chưa từng có tán loạn Trọn rốt ráo vắng bặt An trụ pháp vô lậu. Ngày nay thấy Thế Tôn An ổn thành Phật đạo Chúng con được lợi lành Mừng rỡ rất vui đẹp. Chúng sanh thường đau khổ Đui mù không Đạo sư Chẳng biết đạo dứt khổ Chẳng biết cầu giải thoát Lâu ngày thêm nẻo ác Giảm tổn các chúng trời Từ tối vào nơi tối Trọn chẳng nghe danh Phật. Nay Phật được Vô thượng Đạo an ổn vô lậu Chúng con và trời người Vì được lợi lớn tột Cho nên đều cúi đầu Quy mạng đấng Vô thượng. Giảng: Mười sáu vị vương tử và trong thân quyến tán thán Phật. Trong lời tán thán Phật, đoạn trên lặp lại ý đức Phật tu hành, đoạn dưới nói lên sự đau khổ của chúng sanh là do đui mù không người hướng dẫn. Chúng ta thấy mọi loài chúng sanh ai ai cũng có mắt, thấy đường đi, ai ai cũng phân biệt được cảnh vật tốt xấu, tại sao trong Kinh nói mù? Chữ đui mù ở đây ý nói rằng tất cả chúng sanh ở trong thế gian này, nếu không có Phật ra đời thì không làm sao nhận ra pháp thân thanh tịnh bất sanh bất diệt của mình. Cứ sống theo vọng tưởng hình tướng sanh diệt nên chúng sanh đời đời kiếp kiếp mê mờ, chẳng khác nào người mù không thấy lối đi. Chính vì mê mờ chẳng biết đạo dứt khổ, chẳng biết cầu giải thoát. Khi sanh ra không biết mình từ đâu đến, rồi khi nhắm mắt chẳng biết mình đi về đâu! Sống cứ loanh quanh lẩn quẩn trong việc ăn, mặc, ở, bệnh, già, chết... không biết đầu mối trước, cũng không biết cuối mối sau, cứ mù mù mịt mịt, không có ánh sáng nên mãi đau khổ. Sở dĩ như thế là vì không có minh sư hướng dẫn để thoát khỏi vòng lẩn quẩn đó, nên càng ngày càng tạo thêm nghiệp ác, dẫn tới những đường ác như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Không có người tu Thập thiện nên cõi trời ít chúng sanh sanh lên đó. Như vậy thì đường ác càng ngày càng tăng, cõi thiện càng ngày càng giảm, nên nói từ tối vào nơi tối. Kinh A-hàm, Phật có dùng thí dụ để giải thích sự kiện này. Phật nói có 4 hạng người: 1. Từ tối vào tối: là những người quá khứ không tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh nghèo khổ bệnh tật, chẳng những không phát tâm hướng thiện lại còn hung dữ tàn bạo tạo nhiều nghiệp ác. Trước đã mờ mịt nay lại tạo nghiệp đen tối nữa nên nói từ tối vào tối. 2. Từ sáng đến sáng: là những người quá khứ đã tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh giàu sang, thông minh, hiền hậu, lại biết làm lành tạo nghiệp thiện. Trước đã sáng suốt nay tiếp tục tạo nghiệp duyên tốt nên nói từ sáng đến sáng. 3. Từ tối đến sáng: là những người quá khứ mê mờ không tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh cơ cực bần cùng, nay biết hướng thiện tạo nghiệp duyên lành, lần lần nghiệp ác giảm, nghiệp thiện và trí tuệ tăng trưởng, nên nói từ tối đến sáng. 4. Từ sáng vào tối: là những người trước đã có phước duyên lành sanh ra trong cảnh giàu có, mà không biết nương đạo lý tạo nhân lành lại tạo nghiệp ác. Vì vậy mà đời này thì sung sướng nhưng mai kia sẽ khổ sở, nên nói từ sáng vào tối. Tới đây chúng ta thấy trách nhiệm của tăng ni là làm thầy dẫn đường cho người đời. Vì vậy mình phải tự tu cho sáng được lý đạo, để rồi hướng dẫn người biết đường thoát ra khỏi cảnh mê mờ u tối, bằng cách mồi đuốc trí tuệ với chánh pháp của Phật. Chính tăng ni phải là ngọn đuốc soi đường cho người đời đi đúng hướng, chứ không thể chấp nhận một kẻ dẫn đường là người mù dẫn theo một số người đui, chắc chắn không tránh khỏi cảnh lạc đường hay sa hầm sụp hố, khổ đau không có ngày cùng. Chánh văn: 5. Bấy giờ, mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng: Đức Thế Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhân dân. Lại nói kệ rằng: Đức Phật không ai bằng Trăm phước tự trang nghiêm Được trí tuệ vô thượng Nguyện vì đời nói pháp Độ thoát cho chúng con Và các loài chúng sanh Xin phân biệt chỉ bày Cho được trí tuệ Phật Nếu chúng con thành Phật Chúng sanh cũng được thế Thế Tôn biết chúng sanh Thâm tâm nghĩ tưởng gì Cũng biết đạo chúng làm Lại biết sức trí tuệ Muốn ưa và tu phước Nghiệp gây tạo đời trước Thế Tôn biết cả rồi Nên chuyển pháp Vô thượng. Giảng: Trên là cảnh khổ của chúng sanh không gặp Phật ra đời. Nay được Phật ra đời là điều mãn nguyện bậc nhất của các vương tử nên các ngài tán thán và khẩn cầu Phật vì lợi ích chúng sanh mà chuyển pháp luân. Chánh văn: 6. Phật bảo các Tỳ-kheo: Lúc đức Đại Thông Trí Thắng Phật được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: “Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh?” Lại trong các cõi đó cung điện của chư thiên cho đến Phạm cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời. Giảng: Khi đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật thì năm trăm muôn ức cõi Phật ở mỗi phương trỗi lên sáu điệu vang động. Trong cõi nước chỗ nào tối tăm, ánh sáng mặt trời mặt trăng không đến được, nay nhân Phật thành đạo, hào quang của Phật bủa khắp cả mười phương, chỗ tối tăm người ta không thấy nhau bây giờ được thấy. Do đó, các chúng sanh mới lần theo ánh sáng tìm đến chỗ Phật ngự. Khi đến nơi, ra mắt Phật, tán thán Phật, cúng dường Phật và cuối cùng thỉnh Phật chuyển pháp luân. Phần này, đứng về mặt sự thì trí tuệ Phật là cái hằng sáng soi khắp tất cả chỗ, được dụ như mặt trời không chỗ nào là soi chẳng đến. Tại sao? Vì do công phu thiền định sâu nên khi giác ngộ thì giác ngộ viên mãn. Do giác ngộ viên mãn nên trí tuệ trùm khắp cả mười phương. Đứng về lý thì trí tuệ Phật không sanh không diệt không bị hạn cuộc ở thời gian như đã trình bày ở đoạn trước, và ở đây thì nói trí tuệ Phật không hình không tướng nên không bị hạn cuộc bởi không gian. Trong Kinh thường ví trí tuệ Phật rộng lớn như hư không, phàm cái gì có hình tướng là có giới hạn, còn hư không không hình tướng nên không ngằn mé, không giới hạn, bởi không giới hạn nên trùm khắp cả mười phương, vì vậy mà đâu đâu cũng thấy được ánh sáng Phật. Khi chúng sanh còn mê thì trí tuệ Phật bị hạn cuộc trong thân năm uẩn, bị giới hạn bởi ý niệm thời gian. Khi đã giác ngộ rồi, hết vô minh phiền não thì trí tuệ Phật bủa khắp tất cả chỗ. Sự kiện này người giác ngộ thì tự biết. Bây giờ chúng ta chỉ lý luận để tạm hiểu chứ chưa phải là thấy thật. Do đó phải nỗ lực tu hành để nhận ra lẽ thật ấy. Chánh văn: 7. Bấy giờ, phương đông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm thiên ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm thiên vương đều tự nghĩ rằng: “Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, vì nhân duyên gì mà hiện điềm tốt này?” Lúc đó các vị Phạm thiên vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm thiên vương lớn tên Cứu Nhất Thiết vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng: Các cung điện chúng ta Sáng suốt chưa từng có Đây là nhân duyên gì Phải nên chung nhau tìm Là trời đại đức sanh Hay là Phật ra đời? Mà ánh sáng lớn này Khắp soi cả mười phương. Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước, các vị Phạm thiên vương cùng chung với cung điện mỗi vị đều lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương tây suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử ở nơi đạo tràng dưới cội bồ-đề, hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân v.v... cung kính vây quanh đức Phật, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật, cây bồ-đề đó cao mười do-tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: Xin đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nạp ở. Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: Thế Tôn rất ít có Khó thể gặp gỡ được Đủ vô lượng công đức Hay cứu hộ tất cả Thầy lớn của trời người Thương xót ở trong đời Mười phương các chúng sanh Khắp đều nhờ lợi ích. Chúng con cùng theo đến Năm trăm muôn ức nước Bỏ vui thiền định sâu Vì để cúng dường Phật Chúng con phước đời trước Cung điện rất tốt đẹp Nay đem dâng Thế Tôn Cúi xin thương nạp thọ. Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi đều thưa rằng: Cúi xin Thế Tôn chuyển pháp luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết-bàn. Khi ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng: Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn Cúi xin diễn nói pháp Dùng sức từ bi lớn Độ chúng sanh khổ não. Lúc đó, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai lắng yên nhận lời đó. 8. Lại nữa, các Tỳ-kheo! Phương đông nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm thiên vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm thiên vương tên là Đại Bi, vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng: Việc đó nhân duyên gì Mà hiện tướng như thế? Các cung điện chúng ta Sáng suốt xưa chưa có Là trời đại đức sanh Hay là Phật ra đời? Chưa từng thấy tướng này Nên chung một lòng cầu Quá nghìn muôn ức cõi Theo luồng sáng tìm đó Phần nhiều Phật ra đời Độ thoát khổ chúng sanh. Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương tây bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội bồ-đề, các hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân cùng phi nhân v.v... cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Khi ấy, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở. Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: Thánh Chúa vua trong trời Tiếng ca-lăng-tần-già Thương xót hàng chúng sanh Chúng con nay kính lễ. Thế Tôn rất ít có Lâu xa một lần hiện Một trăm tám mươi kiếp Luống qua không có Phật Ba đường dữ dẫy đầy Các chúng trời giảm ít. Nay Phật hiện ra đời Làm mắt cho chúng sanh Chỗ quy thú của đời Cứu hộ cho tất cả Là cha của chúng sanh Thương xót làm lợi ích Nhờ phước lành đời trước Nay được gặp Thế Tôn. Khi đó, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: Cúi xin đức Thế Tôn thương xót tất cả, chuyển pháp luân cho, để độ thoát chúng sanh. Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng: Đại Thánh chuyển pháp luân Chỉ bày các pháp tướng Độ chúng sanh đau khổ Khiến được rất vui mừng Chúng sanh nghe pháp này Được đạo hoặc sanh thiên Các đường dữ giảm ít Bậc nhẫn thiện thêm nhiều. Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời. 9. Lại nữa, các Tỳ-kheo! Năm trăm muôn ức cõi nước ở phương nam, các vị Đại Phạm vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này? Trong chúng đó có một vị Phạm thiên vương lớn tên là Diệu Pháp, vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng: Các cung điện chúng ta Quang minh rất oai diệu Đây không phải không nhân Tướng này phải tìm đó Quá hơn trăm nghìn kiếp Chưa từng thấy tướng này Là trời đại đức sanh Hay đức Phật ra đời? Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội cây bồ-đề, hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu- la-già, nhân và phi nhân v.v... cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Khi đó, các vị Phạm thiên vương, đầu mặt lễ Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: Xin đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nhận ở. Bấy giờ, các vị Đại Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: Thế Tôn rất khó thấy Bậc phá các phiền não Hơn trăm ba mươi kiếp Nay mới thấy một lần Hàng chúng sanh đói khát Nhờ mưa pháp đầy đủ Xưa chỗ chưa từng thấy Đấng vô lượng trí tuệ Như hoa ưu-đàm-bát Ngày nay mới gặp gỡ Cung điện của chúng con Nhờ hào quang được đẹp Thế Tôn đại từ mẫn Cúi xin thương nhận ở. Khi đó, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch rằng: Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân làm cho tất cả thế gian các hàng trời, ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn đều được an ổn mà được độ thoát. Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng: Cúi mong Thiên Nhân Tôn Chuyển pháp luân Vô thượng Đánh vang pháp cổ lớn Mà thổi pháp loa lớn Khắp rưới pháp vũ lớn Độ vô lượng chúng sanh Chúng con đều quy thỉnh Nên nói tiếng sâu xa. Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời đó. 10. Phương tây nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế. Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở thượng phương, các vị Đại Phạm thiên vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở, ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng này? Lúc đó, trong chúng có một vị Đại Phạm thiên vương tên là Thi-khí vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng: Nay vì nhân duyên gì Cung điện của chúng ta Ánh sáng oai đức chói Đẹp đẽ chưa từng có Tướng tốt như thế đó Xưa chưa từng nghe thấy Là trời đại đức sanh Hay là Phật ra đời? Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng, dưới cội bồ-đề, hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân v.v... cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh đức Phật chuyển pháp luân. Lúc đó, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà bạch rằng: Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nhận ở. Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: Hay thay! Thấy các Phật Đấng Thánh Tôn cứu thế Hay ở ngục tam giới Cứu khỏi các chúng sanh Thiên Nhân Tôn trí khắp Thương xót loài quần manh Hay khai môn cam lồ Rộng độ cho tất cả. Lúc xưa vô lượng kiếp Luống qua không có Phật Khi Phật chưa ra đời Mười phương thường mờ tối Ba đường dữ thêm đông A-tu-la cũng thạnh Các chúng trời càng bớt Chết nhiều đọa ác đạo Chẳng theo Phật nghe pháp Thường làm việc chẳng lành Sắc, lực, cùng trí tuệ Các việc đều giảm ít Vì tội nghiệp nhân duyên Mất vui cùng tưởng vui Trụ trong pháp tà kiến Chẳng biết nghi tắc lành Chẳng nhờ Phật hóa độ Thường đọa trong ác đạo. Phật là mắt của đời Lâu xa mới hiện ra Vì thương các chúng sanh Nên hiện ở trong đời Siêu việt thành Chánh giác Chúng con rất mừng vui Và tất cả chúng khác Mừng khen chưa từng có. Cung điện của chúng con Nhờ hào quang nên đẹp Nay đem dâng Thế Tôn Cúi mong thương nhận ở. Nguyện đem công đức này Khắp đến cho tất cả Chúng con cùng chúng sanh Đều đồng thành Phật đạo. Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân, nhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát. Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương đồng nói kệ rằng: Thế Tôn chuyển pháp luân Đánh trống pháp cam lồ Độ chúng sanh khổ não Mở bày đường Niết-bàn Cúi mong nhận lời con Dùng tiếng vi diệu lớn Thương xót mà nói bày Pháp tu vô lượng kiếp. Giảng: Phật vì muốn đưa mình và chúng sanh ra khỏi khổ luân hồi sanh lão bệnh tử, mới xuất gia tu hành. Khi thành Phật rồi sao ngài không đi giáo hóa cứu độ chúng sanh hết khổ, mà đợi khuyến thỉnh mới ra nói pháp? Thái độ này không riêng gì đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai mà ngay cả đức Thích-ca cũng vậy, Phật có thiếu từ bi chăng? Theo tâm lý thông thường thì những gì mà người đời không ưa thích, chưa biết giá trị, dù vật có quý giá đem cho, họ vẫn không trọng. Hơn thế nữa, Phật pháp cao siêu vượt ngoài sự hiểu biết thông thường của con người, nên khó nói, khó hiểu, khó nhận. Cái cao quý, khó nói khó hiểu khó nhận, nếu đem cho một cách dễ dàng thì sẽ bị khinh thường, khi đã khinh thường thì người không cố gắng tu học để được lợi ích. Phật sẵn sàng cho nhưng người nhận phải thiết tha mong cầu. Đã thiết tha mong cầu thì khi nhận mới chịu áp dụng tu hành, có tu mới lợi ích. Vì vậy khi Phật thành đạo, đợi mấy phen thưa thỉnh ngài mới chuyển pháp luân. Trí tuệ Phật trùm khắp tất cả chỗ, chúng sanh trong mười phương được soi sáng, nên tìm đến để cúng dường hương hoa cùng cung điện, xin Phật nạp thọ và cung thỉnh Phật chuyển pháp luân. Trong phần này có đề cập đến những chúng sanh không theo Phật nghe pháp, thường làm việc ác nên sắc, lực cùng trí tuệ đều suy giảm. Tại sao? Vì người tạo nghiệp ác là do thiếu trí tuệ nên tâm không sáng, vì tâm không sáng nên hiện ra tướng bên ngoài u tối, và sức lực yếu kém, do quả báo sát sanh hại vật chiêu cảm mà nên. Đồng là người sanh ra trong cõi đời mà người thì sắc diện trí tuệ sáng suốt, sức lực khỏe mạnh, kẻ thì sắc diện tối, sức lực yếu kém, đó là kết quả do tạo nghiệp ác hay nghiệp lành mà nên. Vì tội nghiệp nhân duyên, Mất vui cùng tưởng vui. Tội nghiệp đây không có nghĩa là thương xót theo tình cảm thông thường của chúng ta, mà là thân khẩu ý tạo nghiệp gây tội, do nghiệp và tội đó là nhân là duyên cho nên Mất vui cùng tưởng vui. Mất vui cùng tưởng vui là sao? Vì nhân duyên gây tạo nghiệp xấu ác nên có tội, vì có tội nên không được hưởng thú vui ở thế gian, không được vui mà lòng vẫn ham muốn, do lòng ham muốn nên cứ mơ tưởng đến lạc thú. Đó là do tội nghiệp mà ra vậy. Trụ trong pháp tà kiến, Chẳng biết nghi tắc lành, Chẳng nhờ Phật hóa độ, Thường đọa trong ác đạo. Có những chúng sanh thấy biết lệch lạc sai lầm, không biết điều thiện việc lành, cái không đáng nghĩ cứ nghĩ, việc không nên làm cứ làm, không có duyên với Phật nên không được Phật hóa độ. Vì vậy mà đọa trong đường ác. Phật là bậc trí tuệ dẫn dắt đưa chúng sanh ra khỏi mê lầm tối tăm nên nói Phật là mắt của đời. Tóm lại, mười sáu vị vương tử cho đến mười phương tất cả Phạm thiên đều đến cúng dường tán thán Phật, và cầu thỉnh Phật thương xót chuyển pháp luân độ cho chúng sanh được thành Phật. Chánh văn: 11. Lúc bấy giờ, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhận lời thỉnh của các Phạm thiên vương và mười sáu vị vương tử tức thời ba phen chuyển pháp luân mười hai hành hoặc là Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc là trời, ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Và rộng nói pháp Mười hai nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não. Vô minh diệt thời hành diệt, hành diệt thời thức diệt, thức diệt thời danh sắc diệt, danh sắc diệt thời lục nhập diệt, lục nhập diệt thời xúc diệt, xúc diệt thời thọ diệt, thọ diệt thời ái diệt, ái diệt thời thủ diệt, thủ diệt thời hữu diệt, hữu diệt thời sanh diệt, sanh diệt thời lão, tử, ưu bi, khổ não diệt. Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na-do-tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng hà sa na-do-tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được. Giảng: Đức Phật Đại Thông Trí Thắng ở thời xa xưa khi bắt đầu giáo hóa cũng dùng phương tiện nói pháp Tứ đế gọi là tam chuyển pháp luân, thập nhị hành. Tam chuyển pháp luân là Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển. Thị chuyển là Phật chỉ rõ bốn lẽ thật có tính cách khách quan: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Khuyến chuyển là Phật khuyên năm vị Tỳ-kheo xưa chưa từng nghe, nay cần phải biết hãy chánh tư duy để phát sanh trí tuệ: đây là khổ các ông phải biết, đây là tập các ông phải đoạn, đây là diệt các ông phải chứng, đây là đạo các ông phải tu. Chứng chuyển, Phật nói đối với pháp Tứ đế ngài đã biết, đã tu, đã đoạn và đã chứng. Đây là khổ ta đã biết, đây là khổ tập ta đã đoạn, đây là khổ diệt ta đã chứng, đây là khổ đạo ta đã tu. Phật nói về Tứ đế ba lần là thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển mỗi lần đều lặp lại bốn đế, ba lần lặp lại thành mười hai nên nói Thập nhị hành. Lần thứ nhất chưa hiểu nói cho hiểu, lần thứ hai hiểu rồi phải tu, lần thứ ba tu rồi để chứng. Đức Phật thuyết pháp rất cụ thể, mỗi khi ngài nói điều gì thì điều đó ngài đã biết rõ, đã thực hành và được lợi ích, khuyên người nên làm để được lợi ích như ngài, nên lời Phật dạy được coi là chân lý. Chúng ta ngày nay nói pháp, chỉ lý thuyết suông, thiếu cụ thể, có khi lại mâu thuẫn nữa. Vì vậy tốn công rất nhiều mà kết quả rất ít. Điều mình dạy người mà chính bản thân mình chưa thực hành được thì làm sao có đủ kinh nghiệm, đủ lòng tin, để hướng dẫn người? Trên đây là Phật chuyển pháp luân, chúng ta chớ lầm lối chuyển luân xa của ngoại đạo là dẫn điện chạy từ rún qua xương cùng, rồi theo xương sống chạy lên đầu xuống rún trở lại, dẫn điện chạy vòng vòng trong người gọi là chuyển luân xa. Hiện tại có nhiều người mang hình thức tu sĩ Phật giáo đầu tròn áo vuông vẫn tin và tu theo, thật là một việc đáng tiếc! Danh từ Phật giáo bị ngoại đạo lợi dụng, thế mà người tu Phật không biết lại thực hành theo! Kế đến là Phật nói pháp mười hai nhân duyên là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập... cho tới sanh duyên lão tử, ưu bi khổ não, đó là chiều lưu chuyển. Còn chiều hoàn diệt là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt... cho tới sanh diệt thì lão tử diệt, ưu bi khổ não không còn. Căn cứ vào mười hai pháp nhân duyên thì đầu mối của luân hồi sanh tử là vô minh. Từ vô minh dẫn tới hành rồi thúc đẩy thức đi thọ sanh, khi có bào thai thì có danh sắc, có danh sắc thì có lục nhập… Cứ như vậy tạo nghiệp rồi trở lại sanh, liên miên không cùng tận. Muốn dứt vòng luân hồi đó là phải diệt vô minh, làm cho trí tuệ bừng sáng thì hết tạo nghiệp tức là hành diệt, nếu hết tạo nghiệp thì thức không còn đi thọ sanh, nên thức diệt... Nhưng mà vô minh gốc, thuộc về quá khứ không thể diệt, phải đoạn vô minh hiện tại là ái, thủ, hữu, nếu ái, thủ, hữu dứt thì vô minh gốc cũng không còn. Vậy làm thế nào phá vô minh? Mọi người ai cũng thấy thân này là thật, thấy vọng tưởng là thật, thấy cảnh vật là thật. Dùng trí Bát-nhã quán chiếu thấy thân này do duyên hợp tạm có, vọng tưởng cũng là tướng duyên hợp chợt hiện chợt mất, cảnh vật cũng là tướng duyên hợp không thật. Khi thấy thân này không thật, vọng tưởng không thật, cảnh vật không thật thì ái, thủ, hữu theo đó mà dứt. Như vậy vô minh diệt thì hành diệt ngay trong đời này. Đó là dùng trí tuệ phá dẹp vô minh để thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhưng từ đâu mà thắp sáng trí tuệ? Kinh A-hàm Phật có dạy chư Tỳ-kheo: Các ông hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp. Chánh pháp Phật dạy được kết tập lại thành tam tạng giáo điển, chúng ta học hiểu và thực hành theo lời Phật dạy bằng cách giữ giới luật, tu thiền quán, để trí tuệ bừng sáng, không còn thấy biết mê mờ, không tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, đó là tự thắp đuốc lên với chánh pháp để phá vô minh. Đạo Phật chủ trương phát huy trí tuệ để dẹp vô minh, vì vậy trong tất cả thời khóa tụng niệm ở trong chùa đều có tụng Bát-nhã Tâm Kinh. Bát-nhã Tâm Kinh là kinh dạy cho chúng ta dùng trí thấy đúng như thật về thân, về tâm, về pháp. Bất cứ pháp tu nào cũng phải có trí tuệ để phá vô minh mới dứt luân hồi sanh tử. Trước tự mình tu, sau là giáo hóa cho người tu, hết vô minh thoát ly sanh tử luân hồi. Đó là mồi đuốc chánh pháp, hay nói theo tinh thần Thiền tông là truyền đăng tục diệm. Sau đây Phật lại dạy: Do không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Không thọ tất cả các pháp là sao? Kinh Phạm Động trong Trường A-hàm có ghi lại giai đoạn Phật đi du hóa gặp hai người Phạm chí, thầy thì dùng đủ cách để chê Phật, trò cũng dùng đủ cách để khen Phật. Khi về tinh xá Phật dạy các Tỳ-kheo: Nếu gặp người hủy báng Phật, Pháp, Tăng, các ngươi chớ sanh oán giận, hoặc có ác ý với người ta, vì như vậy sẽ bị hãm nịch. Và khi gặp người khen ngợi tán thán Phật, Pháp, Tăng, các ngươi lấy đó làm vui mừng kiêu hãnh cũng bị hãm nịch. Vì khi vui mừng kiêu hãnh hay oán giận có ác ý thì không thấy đúng lẽ thật, mờ tối không có trí tuệ nên bi ưu khổ não bủa vây. Phật lại nói tiếp, người chỉ căn cứ vào hình thức giới tướng như: ăn một ngày một bữa, mặc chỉ ba y, đêm thức nhiều ngủ ít, hành hạnh khất thực... Phật nói người khen ngài như vậy là chưa hiểu ngài. Chỗ đáng khen của ngài chỉ có các bậc A-la-hán mới biết để khen là: Phật biết tất cả pháp mà không thọ. Thế nào là không thọ? Sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý tiếp xúc với sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp không thọ nhận. Mắt thấy cảnh thấy người biết là cảnh là người, chứ không thấy cảnh đẹp người đẹp thì ưa thích, thấy cảnh xấu người xấu thì ghét bỏ, đó là không thọ. Hoặc tai nghe tiếng khen biết là khen, nghe tiếng chê biết là chê, không nhận tiếng khen khởi tâm vui mừng, không nhận tiếng chê sanh tâm buồn giận, đó là không thọ. Nếu thấy cảnh đẹp người đẹp hay nghe tiếng khen mà sanh lòng ưa thích đó là thọ lạc. Hoặc thấy cảnh xấu người xấu hay tiếng chê mà sanh buồn giận đó là thọ khổ. Tắng ái sở dĩ có là do thọ khổ thọ lạc mà ra. Nếu không có tắng ái, làm gì có thủ và hữu đời sau? Nên nói không thọ tất cả là nhân giải thoát. Nhưng làm sao không thọ? Mắt thấy vật thấy người, biết đẹp biết xấu, tai nghe tiếng khen tiếng chê, biết là khen là chê. Nhưng đẹp xấu khen chê, dùng trí tuệ biết rõ nó là tướng duyên hợp không thật. Đẹp trên tướng giả, xấu trên tướng giả, khen trên tướng giả, chê trên tướng giả. Thấy đúng lẽ thật của các pháp không lầm, không lầm thì không thọ, không thọ thì không nhiễm trước do đó mà được vô lậu giải thoát. Chúng ta vì si mê nên lầm chấp các pháp, chấp các pháp là thọ nên tự trói buộc, sanh vô số phiền não khổ đau, đi mãi trong luân hồi sanh tử. Chánh văn: 12. Bấy giờ, mười sáu vị vương tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa-di, các căn thông lanh, trí tuệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bạch cùng Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Các vị Đại đức Thanh văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học. Thế Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai, chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, đức Phật tự chứng biết cho.” Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển luân thánh vương dắt đến thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho. Bấy giờ, đức Phật nhận lời thỉnh của Sa-di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại thừa tên là: “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Đức Phật nói Kinh đó xong, mười sáu vị Sa-di vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều đồng thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói Kinh đó, mười sáu vị Sa-di Bồ-tát thảy đều tin thọ, trong chúng Thanh văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sanh đều sanh lòng nghi lầm. Phật nói Kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói Kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp. Giảng: Mười sáu vị vương tử xuất gia làm Sa-di, các căn trí lanh sáng, thiết tha cầu Phật Đại Thông Trí Thắng nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để các ngài được nghe và được tu chứng thành Phật. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thể theo lời yêu cầu của mười sáu vị Sa-di, ngài nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nói xong liền trụ trong thiền định suốt tám mươi bốn ngàn kiếp. Chánh văn: 13. Bấy giờ, mười sáu vị Bồ-tát Sa-di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp, vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Giảng: Sau khi biết Phật Đại Thông Trí Thắng trụ trong thiền định, mười sáu vị Bồ-tát Sa-di đều lên pháp tòa vì tứ chúng mà nói kinh Pháp Hoa, mỗi vị đều độ vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị Sa-di chỉ là Bồ-tát thôi, chưa chứng quả Phật mà vẫn ra nói pháp cho tứ chúng nghe. Vì các vị Bồ-tát Sa-di đã tin thọ lời Phật dạy rồi, nên có quyền ra hành Bồ-tát đạo độ chúng sanh cho công hạnh tự giác giác tha được viên mãn để thành Phật. Chúng ta thấy rõ tinh thần của đạo Phật, ngoài công việc tự giác ở chính mình, còn phải làm lợi ích cho chúng sanh, chứ không phải đợi tu thành Phật rồi mới ra giáo hóa. Như chúng ta đã thấy Phật Thích-ca thường nhắc lại ở kinh Bản Sanh, trải qua nhiều đời nhiều kiếp ngài hành Bồ-tát đạo, kiếp sau cùng mới thành Phật dưới cội bồ-đề. Nên nói tự giác giác tha viên mãn thì thành Phật. Chánh văn: 14. Đức Đại Thông Trí Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau, từ tam-muội dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: Mười sáu vị Bồ-tát Sa-di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí tuệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số đức Phật, ở chỗ các đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy. Vì sao? Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác cùng các Bồ-tát có thể tin Kinh pháp của mười sáu vị Bồ-tát Sa-di đó nói mà thọ trì không mất, thời người đó sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trí tuệ của Như Lai. Giảng: Pháp mà mười sáu vị Sa-di Bồ-tát nói là kinh Pháp Hoa, tức là tri kiến Phật. Các ngài đã tin nhận được tri kiến Phật rồi thọ trì tu hành, sau này chắc chắn sẽ thành Phật không nghi. Đó là trách nhiệm giáo hóa của đức Phật Đại Thông Trí Thắng đã xong. Chánh văn: 15. Phật bảo các Tỳ-kheo: Mười sáu vị Bồ-tát đó thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này. Sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh của mỗi vị Bồ-tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ-tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ-tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các đức Phật Thế Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt. Các Tỳ-kheo! Ta nói với các ông, mười sáu vị Sa-di đệ tử của đức Phật kia nay đều chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiện đang nói pháp trong cõi nước ở mười phương, có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ-tát Thanh văn để làm quyến thuộc. Hai vị Sa-di làm Phật ở phương đông: vị thứ nhất tên là A-súc ở nước Hoan Hỷ, vị thứ hai tên là Tu-di Đảnh. Hai vị làm Phật ở phương đông nam: vị thứ nhất tên là Sư Tử Âm, vị thứ hai tên là Sư Tử Tướng. Hai vị làm Phật ở phương nam: vị thứ nhất tên là Hư Không Trụ, vị thứ hai tên là Thường Diệt. Hai vị làm Phật ở phương tây nam: vị thứ nhất tên là Đế Tướng, vị thứ hai tên là Phạm Tướng. Hai vị làm Phật ở phương tây: vị thứ nhất tên là A-di-đà, vị thứ hai tên là Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não. Hai vị làm Phật ở phương tây bắc: vị thứ nhất tên là Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu-di Tướng. Hai vị làm Phật ở phương bắc: vị thứ nhất tên là Vân Tự Tại, vị thứ hai tên là Vân Tự Tại Vương. Một vị làm Phật ở phương đông bắc hiệu Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy. Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích-ca-mâu-ni Phật ở cõi nước Ta-bà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các Tỳ-kheo! Lúc chúng ta làm Sa-di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn hằng hà sa chúng sanh vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bậc Thanh văn, ta thường giáo hóa pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo. Vì sao? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng hà sa chúng sanh được hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ-kheo, và sau khi ta diệt độ các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe Kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ-tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết-bàn. Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết-bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí tuệ Phật được nghe Kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các đức Như Lai phương tiện nói pháp. Các Tỳ-kheo! Nếu đức Như Lai tự biết giờ Niết-bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ-tát và chúng Thanh văn mà vì nói Kinh này. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi. Các Tỳ-kheo nên rõ! Đức Như Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham năm món dục, vì hạng người này mà nói Niết-bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận. Giảng: Những vị Sa-di Bồ-tát do nghe kinh Pháp Hoa và nói kinh Pháp Hoa để giáo hóa chúng sanh, sau này ra đời đều gặp chư vị Bồ-tát và chư Phật, tiếp tục tu hành tiến mãi trên đường tu cho đến khi thành Phật. Và sau khi thành Phật thì cứ hai vị giáo hóa một phương, như phương đông có Phật A-súc, Phật Tu-di Đảnh, phương đông nam có Phật Sư Tử Âm, Sư Tử Tướng... cho tới mười phương, phương nào cũng có các Phật do đức Đại Thông Trí Thắng giáo hóa thành Phật. Và chính đức Thích-ca-mâu-ni cũng do đức Đại Thông Trí Thắng là cha nói kinh Pháp Hoa giáo hóa mà được thành Phật. Như vậy là thế nào? Kinh Kim Cang có đoạn nói: Kinh này là mẹ của chư Phật ba đời. Kinh điển từ miệng Phật nói ra, tại sao lại nói Kinh là mẹ của Phật? Kinh này là chỉ cho Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Chư Phật nếu được thành Phật là phải đầy đủ trí tuệ, nếu không có trí tuệ thì không thể thành Phật, mà Phật là giác và giác là trí tuệ; nên nói Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật. Cũng vậy, ở đây thay vì nói Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật thì dùng hình ảnh đức Phật Đại Thông Trí Thắng nói kinh Pháp Hoa, con của ngài nhân nghe kinh Pháp Hoa mà tu hành thành Phật ở khắp mười phương. Như vậy, chư Phật ở mười phương được thành Phật là do đức Đại Thông Trí Thắng là cha nói kinh Pháp Hoa, các ngài nghe tu hành mà được thành Phật. Đức Đại Thông Trí Thắng là chỉ cho pháp thân, nếu muốn sống được với pháp thân thì không gì hơn là từ tri kiến Phật mà vào, vì tri kiến Phật là dụng của pháp thân. Thí dụ một ngọn đèn đốt ở giữa nhà, nhà có sáu cửa mở rộng, người ở ngoài nhà do thấy ánh sáng từ sáu cửa mà biết có đèn trong nhà, và phải do cửa mà vào nhà mới thấy được ngọn đèn. Ngọn đèn dụ cho pháp thân Phật, ánh sáng tỏa ra sáu cửa dụ cho tri kiến Phật. Tri kiến Phật từ pháp thân tỏa ra gọi là dụng của pháp thân, muốn sống được với pháp thân thì phải từ tri kiến Phật mà vào, chứ không có con đường nào khác. Vì vậy nên đây mới nói đức Đại Thông Trí Thắng giảng kinh Pháp Hoa cho các Sa-di Bồ-tát tu và được thành Phật. Tóm lại, mười phương chư Phật đều từ cửa tri kiến Phật mà ngộ nhập được pháp thân Phật, chứ không có cửa nào đường nào khác. Vì vậy nên các ngài tu trong vô lượng kiếp khi thành Phật rồi mỗi vị phân ra ở mỗi phương, để nói lên ý nghĩa pháp thân không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Tới đây, Phật nói trí tuệ Phật khó tin khó hiểu. Song, có vô số chúng sanh đã được Phật giáo hóa, tu theo Phật chứng quả Thanh văn rồi đến Bồ-tát. Lại cũng có người sau này nghe pháp Phật có lòng tin tưởng Phật nhập Niết-bàn là hết không trở lại, không ngờ Phật thị hiện Niết-bàn ở đây rồi giáng sanh ở kia để giáo hóa chúng sanh, chứ không phải ngang đó mà hết. Diệt độ tức là Niết-bàn. Đạo Phật chỉ có một Niết-bàn duy nhất là Niết-bàn Phật. Sở dĩ Phật nói Niết-bàn Thanh văn, Duyên giác chẳng qua là phương tiện dẫn dụ, vì ngài biết tâm chúng sanh thích ngũ dục ưa pháp nhỏ, để cho thấy dễ họ ham mà hướng dẫn họ tu lần lần. Nếu nói tu lâu và phải chứng được Phật quả thì họ ngán, sanh lười mỏi không chịu tu. Chánh văn: 16. Thí như đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do-tuần, chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường này đến chỗ trân bảo, có một vị Đạo sư thông minh sáng suốt, khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi, bạch Đạo sư rằng: “Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về.” Vị Đạo sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: “Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bảo lớn mà muốn lui về.” Nghĩ thế rồi, dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do-tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: “Các ngươi chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn này có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành này sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được.” Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen việc chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sanh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn. Lúc ấy Đạo sư biết chúng nhân đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhân rằng: “Các ngươi nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi.” Các Tỳ-kheo! Đức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị đại Đạo sư, biết các đường dữ sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên bỏ nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế này: “Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành.” Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt, dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết-bàn. Nếu chúng sanh trụ nơi hai bậc, đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói: “Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với tuệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết-bàn đã được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa làm thành lớn, đã biết nghỉ xong mà bảo đó rằng: Chỗ châu báu ở gần, thành này không phải thật, của ta biến hóa làm ra đó thôi.” Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 17. Đại Thông Trí Thắng Phật Mười kiếp ngồi đạo tràng Phật pháp chẳng hiện tiền Chẳng được thành Phật đạo Các trời, thần, long vương, Chúng a-tu-la thảy Thường rưới các hoa trời Để cúng dường Phật đó, Chư thiên đánh trống trời Và trỗi các kỹ nhạc Gió thơm thổi hoa héo Lại mưa bông tốt mới. Quá mười tiểu kiếp rồi Mới được thành Phật đạo, Các trời cùng người đời Lòng đều sanh hớn hở. Mười sáu người con Phật Đều cùng quyến thuộc mình Nghìn muôn ức vây quanh Chung đi đến chỗ Phật Đầu mặt lạy chân Phật Thỉnh Phật chuyển pháp luân: “Đấng Thánh sư mưa pháp Lợi con và tất cả Thế Tôn rất khó gặp Lâu xa một lần hiện Vì giác ngộ quần sanh Mà chấn động tất cả.” Các thế giới phương đông Năm trăm muôn ức cõi Phạm cung điện sáng chói, Từ xưa chưa từng có Phạm vương thấy tướng này Liền đến chỗ Phật ở Rải hoa để cúng dường Và dâng cung điện lên Thỉnh Phật chuyển pháp luân Nói kệ ngợi khen Phật. Phật biết chưa đến giờ Nhận thỉnh yên lặng ngồi Ba phương cùng bốn phía Trên, dưới cũng như thế Rưới hoa, dâng cung điện Thỉnh Phật chuyển pháp luân: “Thế Tôn rất khó gặp Nguyện vì bổn từ bi Rộng mở cửa cam lồ Chuyển pháp luân Vô thượng.” 18. Thế Tôn tuệ vô thượng Nhân chúng nhân kia thỉnh Vì nói các món pháp Bốn đế, mười hai duyên Vô minh đến lão tử Đều từ sanh duyên hữu Những quá hoạn như thế Các ông phải nên biết. Tuyên nói pháp đó rồi Sáu trăm muôn ức cai Được hết các ngằn khổ Đều thành A-la-hán. Thời nói pháp thứ hai Nghìn muôn hằng sa chúng Ở các pháp chẳng thọ Cũng được A-la-hán. Từ sau đây được đạo Số đông đến vô lượng Muôn ức kiếp tính kể Không thể được ngằn mé. 19. Bấy giờ, mười sáu vị Xuất gia làm Sa-di Đều đồng thỉnh Phật kia Diễn nói pháp Đại thừa: “Chúng con cùng quyến thuộc Đều sẽ thành Phật đạo Nguyện được như Thế Tôn Tuệ nhãn sạch thứ nhất.” Phật biết lòng đồng tử Chỗ làm của đời trước Dùng vô lượng nhân duyên Cùng các món thí dụ Nói sáu ba-la-mật Và các việc thần thông, Phân biệt pháp chân thật Đạo của Bồ-tát làm Nói kinh Pháp Hoa này Kệ nhiều như hằng sa. Phật kia nói Kinh rồi Vào tịnh thất nhập định Tám muôn bốn nghìn kiếp Một lòng ngồi một chỗ. Các vị Sa-di đó Biết Phật chưa xuất thiền Vì vô lượng chúng nói Tuệ Vô thượng của Phật Mỗi vị ngồi pháp tòa Nói kinh Đại thừa này Sau khi Phật yên lặng Tuyên bày giúp giáo hóa. Mỗi vị Sa-di thảy Số chúng sanh mình độ Có sáu trăm muôn ức Hằng hà sa các chúng. Sau khi Phật diệt độ Các người nghe pháp đó Ở các nơi cõi Phật Thường cùng thầy sanh chung. Mười sáu Sa-di đó Đầy đủ tu Phật đạo Nay hiện ở mười phương Đều được thành Chánh giác. Người nghe pháp thuở đó Đều ở chỗ các Phật Có người trụ Thanh văn Lần dạy cho Phật đạo. Ta ở số mười sáu Từng vì các ngươi nói Cho nên dùng phương tiện Dẫn ngươi đến tuệ Phật. Do bổn nhân duyên đó Nay nói kinh Pháp Hoa Khiến ngươi vào Phật đạo Dè dặt chớ kinh sợ. 20. Thí như đường hiểm dữ Xa vắng nhiều thú độc Và lại không cỏ nước Chốn mọi người ghê sợ Vô số nghìn muôn chúng Muốn qua đường hiểm này Đường đó rất xa vời Trải năm trăm do-tuần. Bấy giờ, một Đạo sư Nhớ dai có trí tuệ Sáng suốt lòng quyết định Đường hiểm cứu các nạn Mọi người đều mệt mỏi Mà bạch Đạo sư rằng: “Chúng con nay mỏi mệt Nơi đây muốn trở về.” Đạo sư nghĩ thế này Bọn này rất đáng thương Làm sao muốn lui về Cam mất trân bảo lớn! Liền lại nghĩ phương tiện Nên bày sức thần thông Hóa làm thành quách lớn Các nhà cửa trang nghiêm Bốn bề có vườn rừng Sông ngòi và ao tắm Cửa lớn lầu gác cao Trai, gái đều đông vầy. Hóa ra thành đó rồi An ủi chúng: “Chớ sợ! Các ngươi vào thành này Đều được vừa chỗ muốn.” Mọi người đã vào thành Lòng đều rất vui mừng Đều sanh tưởng an ổn Tự nói đã được độ. Đạo sư biết nghỉ xong Nhóm chúng mà bảo rằng: “Các ngươi nên đi nữa Đây là hóa thành thôi Thấy các ngươi mỏi mệt Giữa đường muốn lui về Nên dùng sức phương tiện Huyễn hóa làm thành này Ngươi nay gắng tinh tấn Nên đồng đến chỗ báu.” 21. Ta cũng lại như vậy Đạo sư của tất cả Thấy những người cầu đạo Giữa đường mà lười bỏ Không thể vượt đường dữ Sanh tử đầy phiền não. Nên dùng sức phương tiện Vì nghỉ, nói Niết-bàn. Rằng các ngươi khổ diệt Chỗ làm đều đã xong Đã biết đến Niết-bàn Đều chứng A-la-hán Giờ mới nhóm đại chúng Vì nói pháp chân thật Sức phương tiện các Phật Phân biệt nói ba thừa Chỉ có một Phật thừa Vì nghỉ, nên nói hai Vì các ngươi nói thật Các ngươi chưa phải diệt, Vì Nhất thiết trí Phật Nên phát tinh tấn mạnh Ngươi chứng Nhất thiết trí Mười lực các Phật pháp Đủ ba hai tướng tốt Mới là chân thật diệt, Các Phật là Đạo sư Vì nghỉ, nói Niết-bàn Đã biết ngơi nghỉ rồi Dẫn vào nơi tuệ Phật. Giảng: Để cho rõ nghĩa hơn, Phật nói thí dụ: Có một đoàn người đi lấy trân bảo phải đi qua con đường rất dài, hoang vắng không người, nhiều tai nạn nguy hiểm. Đoàn người này đi qua được một đoạn đường dài khá mệt nhọc mà chưa tới chỗ trân bảo, nên sanh tâm chán nản muốn thối lui. Khi đó vị hướng đạo là người thông minh tài trí rõ biết đường đi, không muốn cho đoàn người mất lợi ích bèn dụ dẫn đoàn người rằng, ở phía trước có một cái thành rất an ổn, hãy ráng đi chút nữa rồi sẽ vào thành nghỉ ngơi cho khỏe. Nghe vị hướng đạo nói, mọi người rất vui mừng, nỗ lực tiếp tục đi đến thành, vào trong ấy được mọi nhu cầu tiện nghi rất an ổn, nên muốn nghỉ luôn ở đó. Vị hướng đạo thông minh tài trí biết đoàn người nghỉ đã hết mệt, bèn nói với họ rằng thành này do ta hóa ra để cho các người nghỉ, chứ không phải là chỗ chứa trân bảo. Hãy ra khỏi thành này và đi thêm một đoạn đường nữa sẽ đến chỗ chúng ta muốn đến. Đoàn người hết mệt nhọc nên tiếp tục đi đến đích. Đây là tâm bệnh chung của tu sĩ chúng ta, khi mới xuất gia tuổi còn trẻ phấn chấn tu hành, nhưng khi tu được năm, mười năm, chưa chứng đạo quả bèn sanh tâm lười mỏi muốn thối lui, vì thấy quả Phật khó thành. Trên đường tu hay gặp những chướng nạn ma vương như tài, sắc, danh, lợi cám dỗ. Người tu không khéo tỉnh giác thì mắc bẫy, sa hầm sụp hố. Nên tuổi trẻ đi tu thì nhiều nhưng giữ được phạm hạnh thanh tịnh cho tới tuổi già thì rất ít. Số còn lại, người thì tay bồng tay dắt, kẻ thì lạc ngõ tẽ này, kẻ thì lạc lối quanh nọ... Rốt cuộc rồi tu chẳng tới đâu. Nên người hướng dẫn biết tâm bệnh đó phải khuyến khích, chẳng hạn như tôi nói tu một giờ là tiến một giờ, tu một ngày là tiến một ngày, tu một tháng là tiến một tháng. Vọng tưởng khởi, biết, không theo là giác, vọng tưởng khởi một trăm lần, giác một trăm lần là tiến rồi. Tôi lấy cái nhỏ để khuyến khích họ, chứ bảo tọa thiền nhập định năm, bảy ngày thì họ không thực hiện nổi; phải tùy theo trình độ mà hướng dẫn, điều phục họ tiến cho xuôi đường thẳng lối, làm thầy khó là khó ở chỗ đó. Đây là phần hợp pháp thí dụ: Vị Đạo sư dẫn đường là dụ cho đức Phật. Đoàn người đi tìm trân bảo dụ cho các bậc Thanh văn, Duyên giác đang tu theo sự hướng dẫn của Phật. Hóa thành là Niết-bàn Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Và chỗ chứa trân bảo tức quả Phật. Phật biết hàng Tỳ-kheo tu theo hạnh Thanh văn với tâm nguyện nhỏ hẹp, nên trước ngài nói tu đoạn sạch phiền não liền chứng Niết-bàn tịch diệt. Niết-bàn đó chỉ là phương tiện, là Niết-bàn tạm thôi, vì chỉ làm lợi ích cho mình, thiếu phần công đức lợi tha cho người nên chưa được viên mãn. Vì vậy muốn được Niết-bàn cứu cánh chân thật, ngoài phần tự tu cho mình giác ngộ thành Phật, còn phải giáo hóa cho người cũng được giác ngộ thành Phật như mình, tới đó mới là viên mãn. Như vậy quý vị mới thấy tinh thần Tiểu thừa và Đại thừa dị biệt ở chỗ nào. Thật ra tu mà giữ phạm hạnh, hết phiền não tâm thanh tịnh, sánh với chúng ta thì quá quý! Tuy nhiên được phần mình rồi, nhìn lại người còn đang mờ tối quờ quạng khổ đau, mà làm ngơ không hóa độ thì lòng từ chưa khai mở. Nên ở trước, Phật mới ví Niết-bàn Thanh văn giá đáng chừng một bữa ăn là vậy. Phật dùng thí dụ này cho hàng Thanh văn thấy rõ thêm các ngài đã có chủng tử tri kiến Phật và Niết-bàn các ngài được chỉ là tạm, chưa phải cứu cánh, không nên an trú trong đó. Phải khởi tâm đại bi, ra giáo hóa chúng sanh cho công hạnh tự giác giác tha viên mãn thành Phật. Vì thương chúng sanh, vì thương đệ tử đi chưa tới chỗ cứu cánh viên mãn, nên Phật dùng mọi phương tiện để giáo hóa, thúc đẩy đi cho tới chỗ rốt ráo như ngài, ngài mới toại nguyện. Nên khi Phật nói kinh Pháp Hoa rồi ngài nhập Niết-bàn rất là hợp lý, vì đã có người tin nhận chỗ ngài muốn chỉ. Vì vậy, Phật Niết-bàn rồi mà Phật pháp vẫn còn tồn tại ở thế gian không mất. Đây tôi nhắc lại một lần nữa, bản hoài của đức Phật là muốn cho mọi người đều được giác ngộ thành Phật, chứ không bằng lòng cho bất cứ một ai dừng ở bất cứ chặng đường nào. Nếu chúng ta hài lòng ở chặng đường nào đều bị Phật quở. Phẩm này có thể phân làm bốn đoạn: 1. Trí tuệ Phật không bị hạn cuộc ở thời gian, vì định lực Phật rất thâm sâu nên có thể nhớ vô số kiếp về quá khứ, thấy biết một cách tường tận không sai lầm. Và vì trí tuệ Phật là thể sáng suốt thanh tịnh, vượt ngoài ý niệm về ngày tháng năm theo thông lệ của thế gian. 2. Trí tuệ Phật không bị giới hạn bởi không gian, vì Phật đã trải qua vô lượng kiếp tu tập trí tuệ, nên trí tuệ Phật viên mãn không giới hạn. Và trí tuệ Phật là thể sáng suốt không hình tướng trùm khắp, nên không giới hạn bởi không gian. 3. Mười sáu vị vương tử từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng mà được thành Phật, rồi chia ra mà giáo hóa ở tám phương. Điều này cho chúng ta thấy sức hiểu biết của Phật không thể nghĩ bàn, không riêng ở cõi Ta-bà mới có Phật như từ lâu chúng ta nghĩ tưởng, mà ở những thế giới khác cũng có Phật giáo hóa. Trí tuệ Phật là thể sáng suốt viên mãn trùm khắp tất cả không đâu không có. Và không ai tu mà không từ trí tuệ Phật khởi tu để được thành Phật. 4. Dụ hóa thành cho thấy rằng trí tuệ Phật rộng lớn không ngằn mé. Công hạnh Phật không thể tính kể, với ý chí tầm thường của phàm phu không thể theo nổi, nên Phật tùy căn cơ chúng sanh phương tiện nói ngũ thừa Phật giáo hướng dẫn từ thấp lần lên cao, cuối cùng đưa chúng sanh đến mục đích cứu cánh mà Phật muốn chỉ là Phật thừa. Còn kết quả được ở ngũ thừa chỉ là quả an vui tạm bợ không nên an trụ nơi ấy. Muốn đạt được quả Phật thì phải trải qua nhiều kiếp tu lâu dài cho công hạnh Bồ-tát đầy đủ, trí tuệ Phật viên mãn mới thành Phật. VIII- PHẨM NGŨ BÁ ĐỆ TỬ THỌ KÝ Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký là năm trăm vị đệ tử được Phật thọ ký sau sẽ thành Phật. Ở phẩm Thí Dụ, Phật đã thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất, ở phẩm Thọ Ký, Phật thọ ký cho ngài Tuệ Mạng Tu-bồ-đề, Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên và tới đây Phật lại thọ ký cho năm trăm vị đệ tử như Phú-lâu-na, Kiều-trần-như... sau sẽ thành Phật, vì lòng tin các ngài đã thuần thục. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, ngài Mãn Từ Tử từ nơi đức Phật nghe trí tuệ phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe thọ ký cho các vị đệ tử lớn sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe các đức Phật có sức tự tại thần thông lớn, được điều chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt không tạm rời, mà nghĩ thế này: Thế Tôn rất riêng lạ, việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời, dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, cứu vớt chúng sanh ra khỏi các chỗ tham trước, chúng con ở nơi công đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên bày được, chỉ có đức Phật Thế Tôn hay biết bản nguyện trong thâm tâm của chúng con. Giảng: Tôn giả Mãn Từ Tử nghe Phật thọ ký cho các bậc huynh trưởng, lòng Tôn giả đã thanh tịnh, vui mừng đến đảnh lễ Phật và nghĩ rằng việc làm của Phật rất ít có, Phật biết chủng tánh của chúng sanh, mà vì họ phương tiện nói pháp theo chỗ họ mong muốn. Hôm nay trong hội này, nếu Phật theo bản nguyện của Tôn giả mà thọ ký cho thì thật là sung sướng, là điều mà Tôn giả trông mong chờ đợi đã lâu. Đó là tâm khao khát được thọ ký của tôn giả Mãn Từ Tử. Chánh văn: 2. Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo: Các ông thấy Mãn Từ Tử đây chăng? Ta thường khen ông là bậc nhất trong hàng người nói pháp, cũng thường khen các món công đức của ông, ròng rặt siêng năng hộ trì giúp tuyên bày pháp của ta, có thể chỉ dạy lợi mừng cho hàng bốn chúng giải thích trọn vẹn chánh pháp của Phật, mà làm nhiều lợi ích cho những người cùng đồng hạnh thanh tịnh. Ngoài đức Như Lai, không ai có thể cùng tận chỗ biện bác ngôn luận của ông. Các ông chớ tưởng Mãn Từ Tử chỉ hay hộ trì trợ tuyên pháp của ta thôi, ông cũng đã ở nơi chín mươi ức đức Phật thuở quá khứ mà hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Phật, ở trong nhóm người nói pháp thuở đó cũng là bậc nhất. Ông lại ở pháp không của chư Phật nói, thông suốt rành rẽ, được bốn món trí vô ngại, thường hay suy gẫm chắc chắn nói pháp thanh tịnh không có nghi lầm, đầy đủ sức thần thông của Bồ-tát tùy số thọ mạng mà thường tu hạnh thanh tịnh. Người đời thuở đức Phật kia đều gọi ông thật là Thanh văn. Nhưng ông Mãn Từ Tử dùng phương tiện đó làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn chúng sanh, lại giáo hóa vô lượng vô số người khiến đứng nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông vì muốn tịnh cõi Phật mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sanh. Các Tỳ-kheo! Ông Mãn Từ Tử cũng được bậc nhất ở trong hàng người nói pháp thuở bảy đức Phật, nay ở nơi chỗ ta trong hàng người nói pháp cũng là bậc nhất. Trong hàng người nói pháp thuở các đức Phật trong Hiền kiếp về đương lai cũng lại là bậc nhất, mà đều hộ trì giúp tuyên bày pháp của Phật. Ông cũng sẽ ở trong đời vị lai hộ trì trợ tuyên chánh pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh, khiến an lập nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sanh, lần lần đầy đủ đạo Bồ-tát. Qua vô lượng vô số kiếp sau, ông sẽ ở nơi cõi này thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là Pháp Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật. Đất bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay, không có núi gò, khe suối, rạch ngòi. Nhà, đài bằng bảy thứ báu đầy dẫy trong đó, cung điện của các trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp nhau, hai bên đều thấy được nhau, không có đường dữ cũng không có người nữ. Tất cả chúng sanh đều do biến hóa sanh, không có dâm dục, được pháp thần thông lớn, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại, chí niệm bền chắc, có đức tinh tấn trí tuệ, tất cả đều thân sắc vàng đủ ba mươi hai tướng tốt để tự trang nghiêm. Nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn: một là Pháp hỷ thực, hai là Thiền duyệt thực. Có vô lượng vô số nghìn muôn ức na-do-tha các chúng Bồ-tát được sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại, khéo hay giáo hóa loài chúng sanh. Chúng Thanh văn trong nước đó tính kể số đếm đều không thể biết được, đều được đầy đủ ba món minh, sáu pháp thần thông và tám món giải thoát. Cõi nước của đức Phật đó có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên Bửu Minh, nước tên Thiện Tịnh. Phật đó sống lâu vô lượng vô số kiếp, pháp trụ đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, dựng tháp bằng bảy thứ báu khắp cả nước đó. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 3. Các Tỳ-kheo lắng nghe Đạo của Phật tử làm Vì khéo học phương tiện Chẳng thể nghĩ bàn được Biết chúng ưa pháp nhỏ Mà sợ nơi trí lớn Cho nên các Bồ-tát Làm Thanh văn, Duyên giác Dùng vô số phương tiện Độ các loài chúng sanh, Tự nói là Thanh văn Cách Phật đạo rất xa Độ thoát vô lượng chúng Thảy đều được thành tựu Dầu ưa nhỏ, biếng lười Sẽ khiến lần thành Phật. Trong ẩn hạnh Bồ-tát Ngoài hiện là Thanh văn Ít muốn, nhàm sanh tử Thật tự tịnh cõi Phật Bày ba độc cho người Lại hiện tướng tà kiến, Đệ tử ta như vậy Phương tiện độ chúng sanh Nếu ta nói đủ cả Các món việc hiện hóa Chúng sanh nghe đó rồi Thời lòng sanh nghi lầm. 4. Nay Phú-lâu-na đây Ở xưa nghìn ức Phật Siêng tu đạo mình làm Tuyên hộ các Phật pháp Vì cầu tuệ Vô thượng Mà ở chỗ chư Phật Hiện ở trên đệ tử Học rộng có trí tuệ Nói pháp không sợ sệt Hay khiến chúng vui mừng Chưa từng có mỏi mệt Để giúp nên việc Phật. Đã được thần thông lớn Đủ bốn trí vô ngại Biết các căn lợi độn Thường nói pháp thanh tịnh Diễn xướng nghĩa như thế Để dạy nghìn ức chúng Khiến trụ pháp Đại thừa Mà tự tịnh cõi Phật. Đời sau cũng cúng dường Vô lượng vô số Phật Hộ trợ tuyên chánh pháp Cũng tự tịnh cõi Phật Thường dùng các phương tiện Nói pháp không e sợ Độ chúng không kể được Đều thành Nhất thiết trí Cúng dường các Như Lai Hộ trì tạng Pháp bảo. Sau đó được thành Phật Hiệu gọi là Pháp Minh Nước đó tên Thiện Tịnh Bảy thứ báu hiệp thành Kiếp tên là Bửu Minh Chúng Bồ-tát rất đông Số nhiều vô lượng ức Đều được thần thông lớn Sức oai đức đầy đủ Khắp đầy cả nước đó Thanh văn cũng vô số Ba minh, tám giải thoát, Được bốn trí vô ngại Dùng hạng này làm tăng. Chúng sanh trong cõi đó Dâm dục đều đã dứt Thuần một biến hóa sanh Thân trang nghiêm đủ tướng Pháp hỷ, Thiền duyệt thực Không tưởng món ăn khác. Không có hàng nữ nhân Cũng không các đường dữ. Phú-lâu-na Tỳ-kheo Khi công đức trọn đầy Sẽ được tịnh độ này Chúng hiền thánh rất đông Vô lượng việc như thế Nay ta chỉ nói lược. Giảng: Phật tán dương công đức thuyết pháp của tôn giả Mãn Từ Tử trong hội chúng của Phật, ngoài Phật ra thì tôn giả Mãn Từ Tử là người thuyết pháp bậc nhất trong hàng đệ tử Phật. Phật nói chẳng những trong đời này tôn giả Mãn Từ Tử rộng nói pháp Phật mà thuở quá khứ, ở nơi chín mươi ức đức Phật, Tôn giả cũng đã từng nói pháp bậc nhất, và trong những kiếp tương lai Tôn giả cũng sẽ nói pháp bậc nhất giáo hóa chúng sanh làm thanh tịnh cõi Phật. Đó là do duyên phước nhiều đời, Tôn giả mới làm được việc đó. Cũng vậy, trong đời hiện tại chúng ta có năng khiếu gì tốt, là do nhiều đời chúng ta đã gieo trồng giống đó, chứ không phải chỉ trong một đời mà được. Phật nói thuở đó tôn giả Mãn Từ Tử căn cứ vào “pháp Không” của chư Phật mà nói, nên thông suốt, được bốn trí vô ngại, nói pháp thanh tịnh không nghi lầm, đủ sức thần thông của Bồ-tát, thường tu hạnh thanh tịnh. Pháp không ở đây là chỉ cho pháp Bát-nhã. Do đạt được trí tuệ Bát-nhã nên Tôn giả thuyết pháp không chướng ngại, chỉ dạy cho mọi người đều được pháp thanh tịnh. Người thuở đó gọi tôn giả Mãn Từ Tử là Thanh văn, nhưng với Phật thì tôn giả Mãn Từ Tử là Bồ-tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh khiến trụ nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì vậy, nên sau khi nhắc đến tri kiến Phật, Tôn giả liền lãnh hội và được Phật thọ ký cho sau này sẽ thành Phật. Bởi Tôn giả chuyên tu hạnh tuyên dương chánh pháp khai thông trí tuệ cho người, nhờ nhiều đời nhiều kiếp tích lũy phước đức đó nên khi thành Phật hiệu là Pháp Minh. Cõi nước thì lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà trang nghiêm, cõi này gần cung điện của chư thiên, nên hai bên giao tiếp nhau rất dễ. Nhân dân ở cõi này do tu đầy đủ hạnh thanh tịnh, nhờ nguyện lực mà được hóa sanh, nên không có tướng nam tướng nữ. Nhân dân cõi này dùng hai món ăn là pháp hỷ và thiền duyệt chứ không dùng thức ăn bằng phạn thực như chúng sanh ở cõi Ta-bà, nên có đủ ba món minh, sáu pháp thần thông, tám món giải thoát. Khi đói thì nghe pháp, tâm hoan hỷ liền được no, hoặc đói thì tọa thiền, tâm hoan hỷ liền được no. Vì nhân dân cõi này chỉ cần chánh pháp và thiền định chứ không cần cơm gạo thô phù như ở cõi Ta-bà. Chúng đệ tử toàn là hàng Thanh văn, Bồ-tát nhiều vô số không thể tính đếm, tuổi thọ thì dài vô kể. Chánh văn: 5. Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A-la-hán, bậc tâm tự tại, nghĩ như vầy: “Chúng ta vui mừng được điều chưa từng có, nếu đức Thế Tôn đều thọ ký cho như các đệ tử lớn khác thời sung sướng lắm.” Đức Phật biết tâm niệm của các vị đó nên nói với ngài Đại Ca-diếp: Một nghìn hai trăm vị A-la-hán đó, nay ta sẽ hiện tiền thứ tự mà thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong chúng đó, đệ tử lớn của ta là Kiều-trần-như Tỳ-kheo, sẽ cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, vậy sau được thành Phật, hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Năm trăm vị A-la-hán: ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, ông Già-da Ca-diếp, ông Na-đề Ca-diếp, ông Ca-lưu-đà-di, ông Ưu-đà-di, ông A-nậu-lâu-đà, ông Ly-bà-đa, ông Kiếp-tân-na, ông Bạc-câu-la, ông Châu-đà-tá, ông Dà-đà v.v... đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đồng một hiệu là Phổ Minh. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 6. Kiều-trần-như Tỳ-kheo Sẽ gặp vô lượng Phật Qua vô số kiếp sau Mới được thành Chánh giác Thường phóng quang minh lớn Đầy đủ các thần thông Danh đồn khắp mười phương Tất cả đều tôn kính Thường nói pháp Vô thượng Nên hiệu là Phổ Minh Cõi nước đó thanh tịnh Bồ-tát đều dõng mãnh Đều lên lầu gác đẹp Dạo các nước mười phương Đem đồ cúng vô thượng Hiến dâng các đức Phật, Làm việc cúng đó xong Sanh lòng rất vui mừng Giây lát về bản quốc Có sức thần như thế. Phật thọ sáu muôn kiếp Chánh pháp trụ bội thọ Tượng pháp lại hơn chánh Pháp diệt trời người lo. 7. Năm trăm Tỳ-kheo kia Thứ tự sẽ là Phật Đồng hiệu là Phổ Minh Theo thứ thọ ký nhau. Sau khi ta diệt độ Ông đó sẽ làm Phật Thế gian của ông độ Cũng như ta ngày nay Cõi nước đó nghiêm sạch Và các sức thần thông Chúng Thanh văn, Bồ-tát Chánh pháp cùng tượng pháp Thọ mạng kiếp nhiều ít Đều như trên đã nói. Ca-diếp! Ông đã biết Năm trăm vị tự tại Các chúng Thanh văn khác Cũng sẽ làm như thế Vị nào vắng mặt đây Ông nên vì tuyên nói. Giảng: Bấy giờ, chư vị A-la-hán là huynh đệ đồng đẳng với tôn giả Mãn Từ Tử, khi thấy Tôn giả được thọ ký rồi, các ngài mong rằng các ngài sẽ được Phật thọ ký cho mình. Phật biết tâm niệm ấy của các ngài liền thứ tự thọ ký cho các ngài được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong đó đệ tử lớn của Phật là ngài A-nhã Kiều-trần-như do công đức cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, sau sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh. Kế đến năm trăm vị A-la-hán như Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Nan-đề Ca-diếp, Ca-lưu-đà-di, Ưu-đà-di, A-nậu-lâu-đà... đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đồng hiệu là Phổ Minh. Tại sao chư vị A-la-hán thấy tôn giả Mãn Từ Tử được thọ ký, các ngài đều vui mừng và mong được Phật thọ ký cho mình thành bậc Chánh đẳng Chánh giác, còn chúng ta nghe các ngài được thọ ký chúng ta tự thấy mình là kẻ vô phần nên không vui mừng? Tôi thí dụ, các anh em cùng học chung một lớp, đến giờ trả bài, anh A trả bài thuộc được tám điểm thầy khen giỏi, anh B trả bài thuộc được tám điểm cũng được thầy khen giỏi. Mình lúc đó cũng thuộc bài chưa được gọi lên trả bài trong lòng cũng mong được thầy gọi lên trả bài. Nếu hôm đó mình không thuộc bài thì không dám mong được trả bài. Qua thí dụ này chúng ta thấy sở dĩ các ngài mong được Phật thọ ký, là vì các ngài cũng có sở ngộ như những người bạn đồng đẳng mà chưa được Phật xác chứng, nên mong chờ; nếu các ngài chưa ngộ chắc không dám mong. Do thấy được tâm mong chờ đó Phật liền thọ ký cho. Đó là ý nghĩa vui mừng chờ thọ ký là như vậy. Chánh văn: 8. Bấy giờ, năm trăm vị A-la-hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, ăn năn lỗi của mình mà tự trách: Thế Tôn! chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí tuệ Như Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ. Thế Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho đó rồi đi. Gã đó say nằm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ. Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng: “Lạ thay! Anh này, sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này? Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thọ năm món dục, ở ngày tháng năm đó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh, nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thật là khờ lắm; nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thời thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn.” Đức Phật cũng lại như vậy, lúc làm Bồ-tát giáo hóa chúng con khiến phát lòng cầu Nhất thiết trí, mà chúng con liền bỏ quên không hay không biết. Đã được đạo A-la-hán tự nói là diệt độ, khổ nhọc nuôi sống được chút ít cho là đủ, tất cả trí nguyện vẫn còn chẳng mất. Ngày nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con mà nói rằng: “Các Tỳ-kheo! Đạo của các ông không phải rốt ráo diệt. Ta từ lâu đã khiến các ông gieo căn lành của Phật, dùng sức phương tiện chỉ tướng Niết-bàn mà các ông cho là thật được diệt độ.” Thế Tôn! Chúng con nay mới biết mình thật là Bồ-tát được thọ ký sẽ thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Bấy giờ, ông A-nhã Kiều-trần-như muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 9. Chúng con nghe Vô thượng Tiếng thọ ký an ổn Vui mừng chưa từng có Lạy Phật trí vô lượng. Nay ở trước Thế Tôn Tự hối các lỗi quấy Trong Phật báu vô lượng Được chút phần Niết-bàn Như người ngu vô trí Bèn tự cho là đủ. Thí như người nghèo cùng Qua đến nhà thân hữu Nhà đó rất giàu lớn Bày đủ các tiệc ngon Đem châu báu vô giá Cột dính trong vạt áo Thầm cho rồi bỏ đi Gã say nằm không hay. Sau khi gã đã dậy Dạo đi đến nước khác Cầu ăn mặc tự sống Nuôi sống rất khốn khổ Được ít cho là đủ Chẳng lại muốn đồ tốt Chẳng biết trong vạt áo Có châu báu vô giá. Người thân hữu cho châu Sau gặp gã nghèo này Khổ thiết trách gã rồi Chỉ cho châu trong áo. Gã nghèo thấy châu đó Lòng gã rất vui mừng Giàu có các của cải Tha hồ hưởng ngũ dục. Chúng con cũng như vậy Thế Tôn từ lâu xưa Thường thường giáo hóa cho Khiến gieo nguyện Vô thượng. Chúng con vì vô trí Chẳng hay cũng chẳng biết Được chút phần Niết-bàn Cho đủ chẳng cầu nữa. Nay Phật giác ngộ con Nói chẳng phải thật diệt Được Phật tuệ Vô thượng Đó mới là thật diệt. Con nay từ Phật nghe Thọ ký việc trang nghiêm Cùng tuần tự thọ ký Thân tâm khắp mừng vui. Giảng: Năm trăm vị A-la-hán được thọ ký vui mừng hớn hở, ăn năn lỗi mình và tự trách: Mình cũng có khả năng thành Phật và cũng được Phật thọ ký, vậy mà từ lâu chứng quả A-la-hán tự cho là đủ, nay mới biết mình là kẻ vô trí, chỉ biết lấy trí nhỏ cho là đủ. Nên các ngài mới dùng thí dụ hạt châu cột trong chéo áo của chàng say rượu. Tại sao các ngài dùng thí dụ này? Vì ở phẩm Hóa Thành Dụ, Phật có nói thuở ngài còn tu hạnh Sa-di Bồ-tát đã từng nói kinh Pháp Hoa giáo hóa đồ đệ, nay ngài thành Phật những đồ đệ này cũng có duyên theo ngài là hàng hữu học vô học chứng A-la-hán ở trong hội này. Những vị này nghe Phật nhắc lại, liền nhớ mình đã được gieo trồng hạt giống tri kiến Phật hồi xa xưa, nay lại quên, cứ theo phương tiện Phật dạy hiện thời tu theo hạnh Thanh văn. Nay Phật nhắc lại liền tin nhận, được an vui tự tại và được Phật thọ ký. Các ngài dùng hình ảnh anh chàng nghèo say rượu tới thăm người bạn thân, được bạn đãi cơm thịnh soạn và tặng cho một hạt châu cột trong chéo áo. Do uống rượu say nên quên không nhớ mình có hạt châu quý giá, cứ đi lang thang cầu thực một cách khổ sở. Sau bạn cũ bất thần gặp lại, thì ra anh bạn nghèo say nay vẫn còn nghèo, mới trách: “Xưa tôi có cho anh một hạt châu cột trong chéo áo sao không lấy ra dùng?” Từ đó anh bạn nghèo mới lấy hạt châu ra xài và trở thành người giàu có sang trọng. Người cho châu là dụ cho đức Phật, từ thuở xa xưa ngài đã từng nói kinh Pháp Hoa giáo hóa cho đồ đệ rồi. Kẻ nghèo say rượu chỉ cho hàng đệ tử đã được Phật nói kinh Pháp Hoa rồi mà quên đi. Bấy giờ được Phật nhắc lại mới nhớ, nhận ra tri kiến Phật nơi mình và được Phật thọ ký sẽ thành Phật. Qua thí dụ này, chúng ta thấy tâm hạnh của hàng Thanh văn còn hạn cuộc chưa viên mãn, được chút ít cho là đủ. Chỗ mà hàng Thanh văn lấy làm sở chứng sở đắc đó không phải là bản hoài của Phật; Phật muốn ai tu rồi cũng thành Phật như ngài, chứ không bằng lòng cho chúng ta an trú ở quả vị Thanh văn, Duyên giác. Vậy kinh Pháp Hoa dạy chúng ta phát tâm tu phải rộng lớn, là tự mình tu được giác ngộ thành Phật và giáo hóa cho người tu cũng được giác ngộ thành Phật như mình. Muốn được thế thì phải trải qua thời gian công phu tu tập lâu dài, công hạnh mới viên mãn. IX- PHẨM THỌ HỌC VÔ HỌC NHÂN KÝ Thọ Học Vô Học Nhân Ký nghĩa là thọ ký cho hàng đệ tử hữu học và vô học. Hàng hữu học là người tu chứng từ quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm. Tôn giả A-nan và La-hầu-la bấy giờ còn ở trong vòng hữu học. Hàng vô học là những người tu dứt sạch lậu hoặc, chứng A-la-hán. Chánh văn: 1. Bấy giờ ngài A-nan và ngài La-hầu-la nghĩ như vầy: “Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm”. Liền từ nơi chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng: Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có đức Như Lai là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời, người, a-tu-la trong đời. A-nan thường làm vị thị giả hộ trì tạng Pháp, La-hầu-la là con của Phật, nếu Phật thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho, thời lòng nguyện cầu của chúng con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ. Lúc đó, hàng đệ tử Thanh văn, bậc hữu học cùng vô học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu đến trước Phật chắp tay, một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn như chỗ nguyện cầu của A-nan và La-hầu-la, rồi đứng qua một phía. Giảng: Tôn giả A-nan và La-hầu-la là hai vị gần gũi với Phật nhất, lòng tha thiết muốn được thọ ký nên cùng đứng lên một lượt trình bày sở nguyện của mình. Tôn giả A-nan đặc biệt là hộ trì tạng Pháp, tôn giả La-hầu-la là con của Phật, tất cả hội chúng ai cũng đều biết là chưa được thọ ký, nay mong được Phật thọ ký để mọi người được mãn nguyện. Thấy hai vị đứng dậy thưa thỉnh thì hàng đệ tử hữu học vô học đồng hưởng ứng cũng mong được Phật thọ ký. Chánh văn: 2. Bấy giờ, đức Phật bảo A-nan: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn; ông sẽ cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng Pháp, vậy sau chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa các chúng Bồ-tát v.v... làm cho thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nước tên là Thường Lập Thắng Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất lưu ly. Kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn. Đức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, nếu có người ở trong nghìn muôn ức vô lượng a-tăng-kỳ kiếp tính đếm số kể chẳng có thể biết được. Chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội chánh pháp. A-nan! Đức Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng hà sa các đức Phật Như Lai ở mười phương đồng ngợi khen công đức của ngài. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 3. Nay ta nói trong tăng: A-nan người trì pháp Sẽ cúng dường các Phật Vậy sau thành Chánh giác Hiệu rằng: Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Phật Cõi nước kia thanh tịnh Tên Thường Lập Thắng Phan Giáo hóa các Bồ-tát Số đông như hằng sa Phật có oai đức lớn Tiếng đồn khắp mười phương Vì bởi thương chúng sanh Nên sống lâu vô lượng Chánh pháp bội thọ mạng Tượng pháp lại bội chánh. Vô số hàng chúng sanh Đông như cát sông Hằng Ở trong pháp Phật đó Gieo nhân duyên Phật đạo. Giảng: Trước hết là Phật thọ ký cho tôn giả A-nan cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng Pháp sau sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa chúng Bồ-tát cũng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tên nước là Thường Lập Thắng Phan, tức là thường dựng cây cờ thù thắng, kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn tức là kiếp đó có tiếng nhiệm mầu khắp cả. Thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Sở dĩ ngài được thọ ký như thế là vì do công hạnh tu tập của ngài chứa nhóm mà được vậy. Chánh văn: 4. Bấy giờ, trong hội hàng Bồ-tát mới phát tâm, tám nghìn người đều nghĩ thế này: “Chúng ta còn chưa nghe các vị Bồ-tát lớn được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh văn được thọ ký như thế?” Lúc ấy, đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Bồ-tát mà bảo rằng: Các thiện nam tử! Ta cùng bọn ông A-nan ở chỗ đức Phật Không Vương đồng thời phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A-nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà A-nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các đức Phật tương lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ-tát. Bản nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy. Ngài A-nan tạn mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng Pháp của vô lượng nghìn muôn ức các đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bản nguyện. Khi đó, ngài A-nan nói kệ rằng: Thế Tôn rất ít có Khiến con nhớ quá khứ Vô lượng các Phật pháp Như chỗ nghe ngày nay Con nay không còn nghi An trụ trong Phật đạo Phương tiện làm thị giả Hộ trì các Phật pháp. Giảng: Tôn giả A-nan được thọ ký rồi thì hàng Bồ-tát sơ phát tâm trong đại chúng khởi nghĩ: Tại sao mình tu hạnh Bồ-tát chưa được thọ ký mà Phật thọ ký cho hàng Thanh văn, như vậy là lý do gì? Nhân đó Phật mới giải thích lý do: Hồi thời đức Phật Không Vương, tôn giả A-nan cùng với Phật Thích-ca đồng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Song tôn giả A-nan thì ưa học rộng, Phật Thích-ca thì tinh tấn tu hành nên nay ngài đã thành Phật, tôn giả A-nan thì còn hộ trì pháp Phật. Đó là nguyên nhân mà Phật thọ ký cho tôn giả A-nan. Tôn giả A-nan phát tâm đồng thời với đức Phật, nhưng vì ngài nghiêng về học vấn nên thông thì có thông mà ngộ thì chưa, nên phải hộ trì tạng Pháp của sáu mươi hai ức đức Phật mới chứng thành Phật đạo. Thế nên, người tinh tấn tu hành và người ham học rộng biết nhiều, kết quả sai biệt như vậy. Tuy nhiên, không phải đặt nặng phần tu mà thiếu phần học, nếu tu mà không học thì tu mù tu sai, kết quả cũng không tới đâu, tự mình không lợi ích cũng không giáo hóa được người. Nếu lấy sự học hiểu làm trên, thì thời gian học hiểu chiếm hết không có thì giờ tu và giáo hóa, thì công hạnh tự giác giác tha làm sao viên mãn thành Phật? Học tuy khó mà nhiều người ham, tu thấy dễ mà ít người kham nổi, cần phải nỗ lực cả hai mặt. Chánh văn: 5. Bấy giờ, Phật bảo ông La-hầu-la: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu Đạo Thất Bửu Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong mười thế giới. Thường vì các đức Phật mà làm trưởng tử, cũng như hiện nay. Đức Phật Đạo Thất Bửu Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, chánh pháp và tượng pháp cũng đồng như đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây rồi sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Lúc ta làm thái tử La-hầu làm trưởng tử, Ta nay thành Phật đạo Thọ pháp làm Pháp tử, Ở trong đời vị lai Gặp vô lượng ức Phật Làm trưởng tử cho kia Một lòng cầu Phật đạo. Hạnh kín của La-hầu Chỉ ta biết được thôi Hiện làm con của ta Để chỉ các chúng sanh Vô lượng ức nghìn muôn Công đức không thể đếm An trụ trong Phật pháp Để cầu đạo Vô thượng. Giảng: Kế đến, Phật thọ ký cho tôn giả La-hầu-la cúng dường chư Phật nhiều như số vi trần trong mười thế giới và cũng thường làm trưởng tử chư Phật, với tâm cầu Phật đạo tu mật hạnh sẽ thành Phật hiệu là Đạo Thất Bửu Hoa, cõi nước, thọ mạng, giáo hóa cũng như đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai. Chánh văn: 6. Bấy giờ, đức Thế Tôn thấy bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật. Phật bảo A-nan: Ông thấy bậc hữu học vô học hai nghìn người đây chăng? Vâng! Con đã thấy. A-nan! Các người này sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới, cung kính tôn trọng hộ trì tạng Pháp. Rốt sau đồng thời ở cõi nước trong mười phương đều được thành Phật, đều đồng một hiệu là Bửu Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn sống lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm, Thanh văn, Bồ-tát, chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Hai nghìn Thanh văn đây Nay đứng ở trước ta Thảy đều thọ ký cho Đời sau sẽ thành Phật Cúng dường các đức Phật Như số trần nói trên. Hộ trì tạng pháp Phật Sau sẽ thành Chánh giác Đều ở nơi mười phương Thảy đồng một danh hiệu Đồng thời ngồi đạo tràng Để chứng tuệ Vô thượng Đều hiệu là Bửu Tướng Cõi nước cùng đệ tử Chánh pháp và tượng pháp Thảy đều không có khác. Đều dùng các thần thông Độ mười phương chúng sanh Tiếng đồn vang khắp cùng Lần nhập vào Niết-bàn. Lúc đó, bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng: Thế Tôn đèn tuệ sáng Con nghe tiếng thọ ký Lòng vui mừng đầy đủ Như được rưới cam lồ. Giảng: Sau cùng, Phật thọ ký cho hàng hữu học và vô học cả thảy hai ngàn người, về sau cúng dường chư Phật nhiều như số vi trần trong năm mươi thế giới cũng hộ trì pháp tạng. Rốt sau thành Phật đồng hiệu là Bửu Tướng, tuổi thọ, sự giáo hóa đồng giống nhau. Những vị này đều nhân Phật chỉ dạy nên bấy giờ gặp lại và được Phật thọ ký. Khi được thọ ký các ngài đồng phát tâm vui mừng thấy như được rưới cam lồ. Tới đây tôi lặp lại lần nữa, hàng thượng thượng căn như ngài Xá-lợi-phất chỉ nghe qua một lần (phẩm Phương Tiện) là ngộ. Hàng thượng căn như ngài Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... Phật nói thêm một thí dụ nữa (phẩm Thí Dụ) các ngài mới ngộ. Còn hàng trung căn thì Phật phải giảng dạy thêm (Hóa Thành Dụ) rồi mới ngộ. Đến hàng hạ căn thì chưa ngộ nên Phật phải mấy phen nói đi nói lại để cho ngộ. X- PHẨM PHÁP SƯ Pháp Sư là thầy nói pháp, mà pháp được nói là kinh Diệu Pháp Liên Hoa tức là tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người. Nếu quên, không nhớ nơi mình có tri kiến Phật thì đời đời kiếp kiếp không bao giờ thành Phật. Nếu nhớ nơi mình có tri kiến Phật lấy đó làm nhân tu hành không nghi ngờ thì thời gian sau sẽ thành Phật. Vì tri kiến Phật quan trọng như vậy, nếu người chỉ tri kiến Phật cho chúng ta nhớ và tin để tu hành thì công đức người đó vô lượng vô biên không tính kể. Vì vậy phẩm này trước tán thán Kinh, kế đó tán thán người truyền bá Kinh. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhân nói với Dược Vương Bồ-tát để bảo tám muôn Đại sĩ rằng: Dược Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư thiên, long vương, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân cùng phi nhân, và Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hạng cầu Thanh văn, hạng cầu Bích-chi Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bài kệ, một câu, nhẫn đến một niệm tùy hỷ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phật bảo Dược Vương: Lại sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, một câu, một niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho. Nếu lại có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối Kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường: hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chắp tay cung kính. Dược Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sanh mà sanh vào nhân gian. Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật. Vì sao? Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào ở nơi kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển, hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, chắp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như Lai mà cúng dường đó. Phải biết người đó là Bồ-tát lớn thành xong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thương xót chúng sanh mà nguyện sanh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống lại là người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường. Dược Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh, sau khi ta diệt độ vì thương chúng sanh mà sanh nơi đời ác, rộng nói Kinh này. Nếu người thiện nam, người thiện nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người là sứ của Như Lai, đức Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói. Dược Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng. Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, đồ ngon, trỗi các thứ kỹ nhạc, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dâng cho đó. Vì sao? Người đó hoan hỷ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 2. Nếu muốn trụ Phật đạo Thành tựu trí tự nhiên Thường phải siêng cúng dường Người thọ trì Pháp Hoa. Có ai muốn mau được Nhất thiết chủng trí tuệ Nên thọ trì Kinh này Và cúng dường người trì. Nếu người hay thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Nên biết là sứ Phật Thương nhớ các chúng sanh. Những người hay thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Xa bỏ cõi thanh tịnh Thương chúng nên sanh đây. Phải biết người như thế Chỗ muốn sanh tự tại Ở nơi đời ác này Rộng nói pháp Vô thượng, Nên đem hoa, hương trời Và y phục, báu trời Đống báu tốt trên trời Cúng dường người nói pháp. Đời ác, sau ta diệt Người hay trì Kinh này Phải chắp tay lễ kính Như cúng dường Thế Tôn, Đồ ngon ngọt bậc thượng Và các món y phục Cúng dường Phật tử đó Mong được giây lát nghe. Nếu người ở đời sau Hay thọ trì Kinh này Ta khiến ở trong người Làm việc của Như Lai. Nếu ở trong một kiếp Thường ôm lòng chẳng lành Đỏ mặt mà mắng Phật Mắc vô lượng tội nặng. Có người đọc tụng trì Kinh Diệu Pháp Hoa này Giây lát dùng lời mắng Tội đây lại hơn kia. Có người cầu Phật đạo Mà ở trong một kiếp Chắp tay ở trước ta Dùng vô số kệ khen Do vì khen Phật vậy Được vô lượng công đức, Khen ngợi người trì Kinh Phước đây lại hơn kia. Trong tám mươi ức kiếp Dùng sắc thanh tối diệu Và cùng hương, vị, xúc Cúng dường người trì Kinh Cúng dường như thế rồi Mà được chốc lát nghe Thời nên tự mừng vui Nay ta được lợi lớn. Dược Vương! Nay bảo ông Các kinh của ta nói Mà ở trong kinh đó Pháp Hoa tột thứ nhất. Giảng: Phẩm Pháp Sư cho chúng ta thấy đức Phật vì hàng hạ căn như Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, thiên, long... hạng cầu Thanh văn, cầu Bích-chi Phật, cầu Phật, ở trước Phật nghe chừng một câu Kinh, một bài kệ nhẫn đến phát tâm tùy hỷ, đều được Phật thọ ký thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì đã có giống Phật chắc chắn sẽ thành Phật. Như vậy là đại chúng ở đây ai cũng thấy mình có phần hết. Còn chúng ta hiện nay tuy có nghe kinh Pháp Hoa, nhưng không sanh đồng thời với Phật nên không được thọ ký, thấy như vô phần. Nhưng chúng ta đừng mặc cảm vì Phật có nói: Lại sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, một câu, một niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho. Đức Phật tuần tự thọ ký cho người có mặt và ngầm thọ ký cho người sau. Như vậy là pháp Phật nói ra trùm khắp các căn cơ của chúng sanh, hàng hạ căn cũng có phần trong đó. Phật nói ai mà nghe kinh Pháp Hoa hoặc thọ trì, đọc tụng, biên chép, vì người giải nói cung kính cúng dường, người đó từ trước đã cúng dường mười muôn ức đức Phật và cũng đã thành tựu công đức Phật, hoặc vì chí nguyện lớn thương xót chúng sanh mà vào cõi này chứ không phải mới tu, các vị đó đang hành Bồ-tát hạnh. Như vậy là Phật vì căn cơ bậc thấp mà nâng lên, để cho chúng ta khỏi mặc cảm chỉ có các bậc chứng A-la-hán, hàng hữu học vô học được thọ ký, còn chúng ta thì vô phần. Nếu đã có phần với kinh Pháp Hoa thì sau này thành Phật không nghi. Đến đây Phật lặp lại cho rõ ý ngài đã nêu ở trên, là có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Ngài nói chỉ những người thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa. Những người tu hạnh Bồ-tát vì lợi ích chúng sanh mà trở lại cõi này, những người cúng dường Phật hãy đến cúng dường những người đó. Phật nâng chúng ta lên tột đỉnh, ngang với đức Phật để cho chúng ta đừng tự ti mặc cảm mình là chúng sanh hèn hạ không có phần. Đó là lòng từ bi vô bờ bến của Phật. Ngài dạy cho hàng thượng căn khác, dạy cho hàng hạ căn khác, để cho hàng chúng sanh nào cũng có lòng tin rằng mình có tri kiến Phật. Dù là một niệm hướng về trí tuệ Phật mà tiến tu thì sớm muộn gì cũng thành Phật. Vì đã tin mình có Phật nhân nên tu hạnh Bồ-tát, tu hạnh Bồ-tát là vì chúng sanh mà giáo hóa cho viên mãn công hạnh thì thành Phật, người đó là sứ giả của Như Lai. Giả sử bây giờ có người hỏi những chúng sanh nào sẽ thành Phật? Tôi chỉ quý vị đang ngồi nghe kinh Pháp Hoa có được không? Được. Chỉ do công phu tu hành tinh tấn hay giải đãi mà thành Phật trước hay sau thôi. Thoạt nghe thấy như dễ nhưng kỳ thật không dễ; vì ở sau, Phật đưa ra những điều kiện mà vị Pháp sư phải có. Phật nói rằng: Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng. Tại sao thường chửi mắng Phật trong một kiếp mà tội nhẹ hơn là dùng một lời dữ chê mắng người phàm phu đọc tụng kinh Pháp Hoa? Có phải Phật thấp hơn kẻ phàm phu trì kinh Pháp Hoa chăng? Xưa, khi Phật thành đạo đi giáo hóa, nhiều tín đồ Bà-la-môn giáo theo ngài. Các vị truyền đạo Bà-la-môn giận tức nên vây chửi Phật, ngài thản nhiên không đáp, khiến họ càng tức thêm nên chặn Phật lại hỏi lý do. Ngài trả lời là ngài không thọ nhận lời chửi mắng đó, nên ngài thản nhiên bất động. Vì ngài thản nhiên bất động nên không có sân hận dấy khởi, làm gì có chướng ngại Phật? Đối với người phàm phu mới phát tâm tu, đạo lực còn yếu kém, nếu bị người ác mắng chửi, sân hận liền dấy khởi, thối tâm Bồ-đề. Phật nêu lên thí dụ này để nhấn mạnh kẻ làm cho người tu trở ngại, thối Bồ-đề tâm là tội nặng. Còn làm, mà người tu không chướng ngại không thối chuyển, ngay cả mắng chửi Phật, tội cũng nhẹ. Đối với đức Phật, đồng một việc ác, nếu việc ác đó gây tổn hại sự tu hành nhiều thì tội nặng, nếu không gây tổn hại cho sự tu hành thì tội nhẹ. Vì chửi mắng Phật mà Phật không thối tâm Bồ-đề, Phật không bị tổn thương nên ngài nói tội nhẹ. Còn hàng phàm phu sơ cơ, nếu làm khó hoặc chửi mắng làm cho họ thối tâm Bồ-đề thì tội nặng. Tội nặng ở chỗ làm cho người tu không tiến, chứ không phải nặng ở chỗ người có công đức nhiều hay người có công đức ít. Để thấy lòng từ của Phật vô lượng vô biên, chỉ vì lợi ích cho chúng sanh, muốn cho mọi người tiến đến chỗ giác ngộ như ngài mà không ngần ngại tự hạ mình thấp đưa người lên, để tạo duyên tốt cho người tu tiến. Tới đây Phật nói quá dễ, chỉ cần tùy hỷ hay đọc tụng năm, bảy câu cũng được Phật thọ ký. Đó là vì hạng người hạ căn, tâm hạ liệt nên Phật phải nói dễ để nâng đỡ cho họ tu, chứ không phải là pháp dễ. Thứ đến Phật còn hạ thấp ngài xuống một bậc nữa, ngài nói: Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật, tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Phật là bậc thầy của trời người, là bậc Toàn giác tại sao lại cõng vác kẻ phàm phu mới phát tâm tu? Thí dụ người đời sanh ra một đứa con dáng dấp tính hạnh cũng như cách nói năng rất vừa ý họ. Đứa bé đó rất được họ thương cưng, chính vì thương cưng nên họ thường ẵm bồng, cõng trên lưng trên vai. Cũng vậy, bản hoài của Phật ra đời là dạy cho người tu thành Phật, nên người trì tụng kinh Pháp Hoa tức là tin mình có sẵn tri kiến Phật và tu hành để được thành Phật, nên Phật hài lòng nâng đỡ cho tiến; ở đây diễn tả bằng cách cõng vác trên vai. Lại nữa, tri kiến Phật của Phật hay tri kiến Phật của người không hai không khác. Vì không hai không khác nên ngài hằng mang vác không rời. Chánh văn: 3. Lúc bấy giờ, Phật lại bảo ngài Dược Vương đại Bồ-tát: Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp Hoa rất là khó tin, khó hiểu. Dược Vương! Kinh này là tạng bí yếu của các đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính Kinh này khi Như Lai đang hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ. Dược Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm đó, lại được các đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho. Người đó có sức tin lớn và sức chí nguyện, các sức căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được đức Như Lai lấy tay xoa đầu. Giảng: Trong các kinh Phật nói, như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên... thì kinh Pháp Hoa là bậc nhất, khó tin khó hiểu. Vì kinh Pháp Hoa chỉ thẳng tri kiến Phật, là chỗ giác ngộ viên mãn mà Phật đã đạt được và biết mọi người ai cũng có sẵn, nên Phật chỉ cho để tu thành Phật như ngài. Nhưng khi Phật chỉ thì người ta không tin không nhận được, vì mọi người quen nhìn ra ngoài không biết tự tri. Hơn thế nữa, tri kiến Phật là cái không hình không tướng, không thể dùng mắt thịt hay suy tư mà biết được nên khi chỉ thì khó nhận khó tin. Đến đây Phật lại an ủi người sau, khi Phật còn tại thế nói kinh Pháp Hoa người nghe còn khó tin khó nhận, sanh lòng oán ghét, huống là sau khi Phật diệt độ. Vì kinh Pháp Hoa là tạng bí yếu của các đức Phật, chỉ có người khéo nghe khéo nhận mới tin được. Còn nghe mà không hiểu thì không tin, nếu không hiểu không tin thì xem thường, rồi sanh lòng phỉ báng. Phật lại nói, sau khi Phật diệt độ có người trì tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa thì sẽ được Phật lấy y trùm, và người đó cùng Như Lai ở chung, được Như Lai lấy tay xoa đầu. Hiện tại có rất nhiều người trì tụng và giảng kinh Pháp Hoa, mà chúng ta chưa thấy Phật lấy y trùm và lấy tay xoa đầu, như vậy là Phật nói rỗng sao? Điều này chúng ta cần hiểu cho thấu đáo. Nếu chúng ta thọ trì kinh Pháp Hoa, tức là chúng ta tin nhận nơi mình có tri kiến Phật, mà tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người không rời thân năm uẩn này, lúc nào cũng hiện hữu nơi mỗi chúng ta. Như vậy, không phải Phật đang trùm chúng ta, xoa đầu chúng ta, và ở chung với chúng ta sao? Quý vị nên nhớ, Như Lai đây không phải là Phật Thích-ca mà là tri kiến Phật hay pháp thân. Nếu hiểu Như Lai là Phật Thích-ca thì chúng ta sẽ ước vọng ra ngoài, tìm kiếm tướng lạ này tướng lạ nọ, trở thành mê tín. Lý kinh rất cao siêu rất thực tế, nếu hiểu lầm thì kinh điển trở thành huyễn hoặc, gây tác hại cho người tu học. Chánh văn: 4. Dược Vương! Nơi nơi chỗ chỗ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển Kinh này, đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để xá-lợi. Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, lọng lụa, tràng phan, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Nếu có người thấy được tháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia cùng xuất gia hành đạo Bồ-tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép, thọ trì, cúng dường được kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ-tát. Nếu có người được nghe Kinh điển này, mới là hay khéo tu đạo Bồ-tát. Có chúng sanh nào cầu Phật đạo hoặc thấy hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Dược Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia soi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi lần thấy đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần. Bồ-tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn xa. Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập Kinh này, thời chắc biết được gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Bồ-tát đều thuộc Kinh này, Kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thật. Tạng kinh Pháp Hoa này xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ-tát mà chỉ bày cho. Dược Vương! Nếu có Bồ-tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ-tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe Kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hạng tăng thượng mạn. Giảng: Phật dạy, nơi chỗ đọc tụng biên chép kinh Pháp Hoa hoặc có kinh Pháp Hoa, nên xây tháp bảy báu cúng dường mà không cần để xá-lợi. Nghĩa là người mà tin hiểu tri kiến Phật tức là tin Phật tánh sẵn có nơi chính mình, như vậy chỗ đó nên xây tháp mà thờ vì có sẵn Phật pháp thân không cần xá-lợi. Phật nói thêm, người hành đạo Bồ-tát mà chưa thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa thì người đó chưa khéo tu đạo Bồ-tát, vì chưa tin nhận nơi mình có sẵn tri kiến Phật. Còn người mà biết thọ trì, biên chép, cúng dường, giảng nói kinh Pháp Hoa thì sẽ gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tại sao được gần? Kinh Pháp Hoa là chỉ cho Phật tánh sẵn có nơi mỗi người, người mà biết trở về với Phật tánh của chính mình là người đó gần với Phật rồi, nên nói gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phật dùng thí dụ người đào giếng, đào từng lớp đất khô rồi dần dần tới lớp đất âm ẩm, lần tới lớp đất ướt. Khi tới lớp đất ướt là biết sắp tới nước. Cũng vậy, người nào đối với kinh Pháp Hoa đủ niềm tin, biết trở về với chính mình thì chắc chắn người đó sẽ thành Phật. Vì biết mình có sẵn tri kiến Phật và biết trở về với tri kiến Phật, thì cũng như người đi lạc đường mà tìm ra đường về, và bắt đầu đi về thì chắc chắn người đó sẽ tới nhà. Tới đây Phật nói ngược lại, nếu người nghe kinh Pháp Hoa không tin lại nghi sợ, nên biết đó là Bồ-tát mới phát tâm. Còn hàng Thanh văn nghe Kinh này mà nghi sợ thì biết đó là tăng thượng mạn. Tại sao vậy? Vì Phật chỉ thẳng tri kiến Phật, nếu tin nhận được tức là khởi tu Phật nhân, nhất định sẽ thành Phật quả. Bồ-tát tu cốt là để thành Phật, bây giờ nghe kinh Pháp Hoa mà sợ thì biết người đó mới bắt đầu, nên chưa hiểu, chưa tin, lại sợ. Còn hàng Thanh văn tự cho mình chứng quả Tu-đà-hoàn... hay A-la-hán là đủ rồi, bây giờ nghe kinh Pháp Hoa thì không tin nên gọi là tăng thượng mạn, được ít cho là đủ. Chánh văn: 5. Dược Vương! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, sau khi đức Như Lai diệt độ, muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện nam, người thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói Kinh này. Nhà Như Lai chính là tâm từ bi lớn đối với tất cả chúng sanh; y Như Lai chính là lòng nhu hòa, nhẫn nhục; tòa Như Lai chính là Nhất thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ-tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp Hoa này. Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác sai hàng hóa nhân làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, ta cũng sai hóa Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chỗ vắng vẻ, ta liền sai nhiều trời, rồng, quỷ, thần, càn-thát-bà, a-tu-la v.v... nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác, nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân ta. Nếu ở trong Kinh này quên mất câu lối, ta lại vì nói cho đó được đầy đủ. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 6. Muốn bỏ tánh biếng lười Nên phải nghe Kinh này Kinh này khó được nghe Người tin nhận cũng khó. Như người khát cần nước Xoi đào nơi gò cao Vẫn thấy đất khô ráo Biết cách nước còn xa Lần thấy đất ướt bùn Quyết chắc biết gần nước. Dược Vương! Ông nên biết Các người như thế đó Chẳng nghe kinh Pháp Hoa Cách trí Phật rất xa, Nếu nghe Kinh sâu này Quyết rõ pháp Thanh văn. Đây là vua các kinh Nghe xong suy gẫm kỹ Phải biết rằng người đó Gần nơi trí tuệ Phật. Nếu người nói Kinh này Nên vào nhà Như Lai Mặc y của Như Lai Mà ngồi tòa Như Lai Ở trong chúng không sợ Rộng vì người giải nói, Từ bi lớn làm nhà Y nhu hòa nhẫn nhục Các pháp không làm tòa Ở đó vì người nói. Nếu lúc nói Kinh này Có người lời ác mắng Dao gậy, ngói, đá đánh Nhớ Phật nên phải nhịn. Ta trong muôn ức cõi Hiện thân sạch bền chắc Trải vô lượng ức kiếp Vì chúng sanh nói pháp. Sau khi ta diệt độ Nếu hay nói Kinh này Ta sai hóa tứ chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni Và nam, nữ thanh tịnh Cúng dường nơi Pháp sư Dẫn dắt các chúng sanh Nhóm đó khiến nghe pháp. Nếu người muốn làm hại Dao gậy cùng ngói đá Thời khiến người biến hóa Giữ gìn cho người đó. Nếu người nói Pháp Hoa Ở riêng nơi vắng vẻ Lặng lẽ không tiếng người Đọc tụng Kinh điển này Bấy giờ, ta vì hiện Thân thanh tịnh sáng suốt Nếu quên mất chương cú Vì nói khiến thông thuộc. Nếu người đủ đức này Hoặc vì bốn chúng nói Chỗ vắng đọc tụng Kinh Đều được thấy thân ta Nếu người ở chỗ vắng Ta sai trời, long vương, Dạ-xoa, quỷ, thần thảy Vì làm chúng nghe pháp. Người đó ưa nói pháp Phân giải không trở ngại Nhờ các Phật hộ niệm Hay khiến đại chúng mừng Nếu ai gần Pháp sư Mau được đạo Bồ-tát Thuận theo thầy đó học Được thấy hằng sa Phật. Giảng: Đây Phật đưa ra điều kiện người nói kinh Pháp Hoa phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai mới đủ tư cách của người nói kinh Pháp Hoa. Vì vào nhà Như Lai mới có tâm từ bi rộng lớn đối với tất cả chúng sanh, mặc y Như Lai mới có đủ nhu hòa nhẫn nhục đối với tất cả mọi khó khổ chướng ngại, ngồi tòa Như Lai mới có đủ trí tuệ rộng lớn thấy rõ tất cả pháp không có tự thể cố định. Từ lâu chúng ta quen học hiểu trên sự tướng, hiểu thọ trì, đọc tụng bằng lời, diễn nói bằng ngôn ngữ, biên chép bằng tay, sẽ được Phật xoa đầu thọ ký thành Phật. Nhưng ở đây Phật dạy, người nói kinh Pháp Hoa phải có đủ ba điều kiện vừa nêu. Nếu muốn giảng nói kinh Pháp Hoa thì trước phải biên chép, thọ trì, đọc tụng cho thể nhập, rồi sau mới vì người mà giảng dạy. Như vậy thì người thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa cũng phải vào nhà Như Lai, ngồi tòa Như Lai, mặc y Như Lai mới gần với tri kiến Phật. Tại sao? Vì tri kiến Phật là tánh giác có sẵn nơi mỗi người mà bị vô minh vọng tưởng che khuất; muốn cho tánh giác hiển lộ thì phải có trí tuệ thấy rõ thật tướng tất cả pháp không có tự thể cố định tùy duyên tạm có, huyễn hóa không thật; thấy rõ ràng không lầm lẫn, thì đối với mọi hoàn cảnh khó khổ, đói thiếu, vinh nhục... không cố chấp, không chao động, và thấy chúng sanh đang mê mờ chạy theo giả tướng, tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử không có ngày dừng, nên khởi lòng từ bi tế độ. Thiền sư Duy Tín nói rằng: Ba mươi năm trước, tôi thấy núi sông là núi sông. Sau khi gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là núi sông. Bây giờ tôi thấy núi sông là núi sông. Khi chưa học đạo còn phàm phu, trí tuệ chưa sáng thấy lầm các pháp là thật, nên thấy núi thật là núi, thấy sông thật là sông. Khi được thiện tri thức chỉ dạy biết tu, dùng trí tuệ quán chiếu thấy rõ các pháp không có tự thể cố định, do duyên hợp tạm có không thật, thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông, nên không cố chấp không phiền não. Vì không cố chấp nên tâm không vọng động, tâm thể nhất như, thấy các pháp đúng như bản vị của nó, thấy núi là núi, thấy sông là sông. Như vậy, muốn vì người nói kinh Pháp Hoa là phải đủ ba điều kiện nêu trên, mới không hướng dẫn người tu sai lạc. Phật kết thúc rằng người có đủ ba điều kiện nêu trên, vì chúng sanh nói kinh Pháp Hoa thì Phật sẽ sai hóa nhân đến để nghe pháp, luôn luôn được Phật hộ niệm và người nói pháp đó là người thấy Phật. Tại sao được thấy Phật? Vì người nói được kinh Pháp Hoa là người có đủ từ bi, nhẫn nhục, trí tuệ; mà người đã có trí tuệ là người hằng sống với trí tuệ Phật thì thấy Phật chứ gì. Qua phẩm này, chúng ta thấy Phật tán thán kinh Pháp Hoa là ít có, quý nhất trên đời, quý nhất trong các kinh, vì vậy mà Phật tán thán người thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Pháp Hoa. Kế đó, Phật tán thán người đem Kinh này ra giảng nói cho mọi người nghe, nhắc cho mọi người nhớ và tin nơi mình có sẵn tri kiến Phật là quý. Sau rốt, Phật nêu lên ba điều kiện mà một Pháp sư nói kinh Pháp Hoa phải có: tâm từ bi lớn, nhu hòa nhẫn nhục và sống bằng trí tuệ Bát-nhã. Như vậy, Phật tùy theo người hạ căn mà nói. Người nào có một niệm hướng về kinh Pháp Hoa đều có thể thành Phật. Ngài nói thật thấp rồi ngài nâng lên cao. Người nói kinh Pháp Hoa phải có ba điều kiện nêu trên, chứ không phải dễ. Phật vừa an ủi kẻ hạ căn không mặc cảm để nỗ lực tu, vừa răn dè kẻ nghe nói dễ rồi lơ là khinh thường, hoặc hiểu theo sự rồi chấp tướng, cứ lo trì tụng lễ bái suông cho là đã đủ công đức sẽ thành Phật. Thành Phật thì ai cũng có khả năng thành, nhưng thành hay không còn tùy thuộc ở người có thực hiện ba điều kiện vừa nêu hay không. XI- PHẨM HIỆN BẢO THÁP Như tôi đã nói, mục đích Phật nói kinh Pháp Hoa là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Phẩm Tựa nói tổng quát trọn bộ Kinh. Từ phẩm Phương Tiện đến phẩm Pháp Sư là phần khai Phật tri kiến. Những phẩm này Phật dùng những phương tiện thực tế, cũng như các đệ tử Phật dùng những thí dụ cụ thể nói lên chỗ nhận hiểu của các ngài, để minh chứng rằng các ngài đã tin nhận nơi mình có sẵn tri kiến Phật. Trước tiên là ngài Xá-lợi-phất, kế đến là bốn vị Đại Ca-diếp, Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, sau nữa gồm năm trăm vị A-la-hán, và cuối cùng thì có những vị hữu học, vô học như ngài A-nan, La-hầu-la... Phật tùy theo cơ duyên mà thọ ký cho, phần này là phần khai, tức là mở ra cái hướng để nhìn và đi vào. Phẩm Hiện Bảo Tháp là phần thị Phật tri kiến. Thị là chỉ cho người thấy (ngộ), thị và ngộ không rời nhau. Tri kiến Phật tướng trạng như thế nào mà có thể chỉ được? Tri kiến Phật là tánh giác có sẵn nơi mỗi người, hằng sáng soi mà không hình không tướng, nên khó chỉ khó nhận. Giống như không khí rất cần thiết cho lẽ sống của sinh vật, nhưng không hình không tướng nên khó chỉ; khó chỉ không phải là không có. Vì vậy mà phải mượn những hình ảnh biểu trưng để chỉ cho chúng ta ngầm nhận ra tri kiến Phật, nên phẩm Hiện Bảo Tháp, phẩm Đề-bà-đạt-đa... nêu lên những hình ảnh biểu trưng cho tri kiến Phật có sẵn muôn thuở không mất ở nơi mỗi người, khi người tin nhận thì nó hiện tiền. Ở đây mang tính cách giải bày nêu ra phần khai, thị, ngộ, nhập, kỳ thật toàn bộ Kinh đều chỉ cho mọi người nhận ra nơi thân năm uẩn này có sẵn tri kiến Phật chứ không ở nơi nào khác. Chánh văn: 1 Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do-tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do-tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau giồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rũ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly cấu chiên-đàn khắp cùng cả cõi nước. Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ thiên vương. Trời Đao-lợi rưới hoa mạn-đà-la cúng dường tháp báu. Các trời khác và rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân, phi nhân v.v... nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan, lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen. Bấy giờ, trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng: Hay thay! Hay thay! Đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn! Có thể dùng tuệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm Diệu Pháp Liên Hoa. Đúng thế! Đúng thế! Đức Thích-ca-mâu-ni Thế Tôn! Như lời Phật nói đó, đều là chân thật. Giảng: Tới đây Phật nêu lên hình ảnh một tháp bằng bảy báu, từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không, rồi từ trong tháp đó vang ra tiếng khen Phật Thích-ca nói kinh Pháp Hoa là đúng là chân thật. Tháp bảy báu là tượng trưng cho cái thân hình thành bằng thất đại: đất, nước, gió, lửa, không, thức, kiến. Khi ngộ, nhận ra tri kiến Phật thì nó thanh tịnh trở thành thất bảo, nếu còn mê tri kiến Phật, tâm uế trược thì nó là thất đại. Tại sao tháp bảy báu này nổi lên trụ ở giữa hư không mà không trụ ở mặt đất? Ở phẩm Pháp Sư, Phật có nói: người giảng kinh Pháp Hoa phải có đủ ba điều kiện là từ bi, nhẫn nhục và trí tuệ rõ biết tất cả pháp không. Trụ trong hư không là ngồi tòa Như Lai, với trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả các pháp tự tánh là không. Thấy được như thế mới chuyển thất đại thành thất bảo. Ngay trong thất đại có sẵn tri kiến Phật, đoạn sau biểu trưng bằng Phật Đa Bảo, nếu gặp duyên khai mở thì nó hiện ra rõ ràng, nên nói ở trong tháp bảy báu vang ra tiếng khen Phật Thích-ca nói kinh Pháp Hoa đúng và chân thật. Kinh Pháp Hoa chính là tri kiến Phật, chư Phật đời quá khứ cũng ngộ tri kiến Phật, chư Phật đời hiện tại, đời vị lai cũng ngộ tri kiến Phật không khác. Chánh văn: 2 Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra, đều được pháp hỷ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay rồi đứng một bên. Lúc đó, có vị đại Bồ-tát tên Đại Nhạo Thuyết biết lòng nghi của tất cả trời, người, a-tu-la v.v... trong thế gian mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế? Lúc đó, Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát: Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước, cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương đông, có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa Bảo, đức Phật đó tu hành đạo Bồ-tát phát lời thệ nguyện lớn rằng: Nếu ta được thành Phật, sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe Kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: “Hay thay!” Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng, trời, người, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thời nên dựng một tháp lớn.” Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: “Hay thay! Hay thay!" Đại Nhạo Thuyết! Nay tháp của Đa Bảo Như Lai vì nghe nói kinh Pháp Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: “Hay thay! Hay thay!” Giảng: Từ trước những người đứng ra thưa hỏi là những vị Thanh văn, La-hán có trong lịch sử. Tới đây là phần thị Phật tri kiến dùng hình ảnh biểu trưng để chỉ, nên người đứng ra thưa hỏi cũng là vị Bồ-tát biểu trưng tên là Đại Nhạo Thuyết. Ngài đứng ra thưa hỏi nguyên do nào tháp nổi lên trụ giữa hư không và vang ra tiếng như vậy? Ngài được đức Phật giải thích rằng, trong tháp báu ấy có toàn thân Như Lai. Thời quá khứ xa xưa, về phương đông có cõi nước tên là Bảo Tịnh, Phật hiệu Đa Bảo tu hạnh Bồ-tát, có lời thệ nguyện là sau khi ngài diệt độ, nơi nào nói kinh Pháp Hoa thì tháp ngài sẽ nổi lên ở trước để nghe Kinh và chứng minh. Đây lại nêu lên hình ảnh tượng trưng nữa. Phật đã thành Phật mà còn nghe pháp là chuyện thừa, vì đã là bậc vô học rồi đâu còn cần nương pháp để học để tu! Tại sao Phật Đa Bảo đã Niết-bàn rồi mà còn nguyện nghe pháp và chứng minh pháp hội đó? Rõ ràng là ý nghĩa biểu trưng. Đa Bảo là nhiều báu, Bảo Tịnh là của báu trong sạch, nước Phật và hiệu Phật đều là quý báu, những món quý báu đều chỉ cho tri kiến Phật. Tri kiến Phật thanh tịnh sáng suốt, không bị thời gian không gian chi phối, rất tôn quý nên nói là báu. Ở đây Phật Đa Bảo là chỉ cho tri kiến Phật hay Phật pháp thân, mà Phật pháp thân thì thanh tịnh ở ngay nơi thân thất đại của mỗi người, nên tượng trưng bằng cõi nước Bảo Tịnh. Thí dụ con người chúng ta tâm đang bị phiền não chi phối, thường tạo những ác nghiệp nên thường lộ ra dáng vẻ tối tăm nặng nề, nếu tâm thường an vui sáng suốt, thường tạo nghiệp lành thì lộ ra dáng vẻ tươi sáng thanh tịnh. Vì vậy ở đây nói tâm thanh tịnh thì hiện ra thân cũng thanh tịnh, nên nói là báu. Chánh văn: 3 Bấy giờ, ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát do sức thần của đức Như Lai mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của đức Phật đó. Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát Ma-ha-tát: Phật Đa Bảo đó có nguyện sâu nặng: “Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các đức Phật, có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của ta mới hiện ra.” Đại Nhạo Thuyết! Các vị Phật của ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại. Ngài Đại Nhạo Thuyết bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường. Giảng: Đến đây, chúng ta càng thêm sáng tỏ, là đức Phật Đa Bảo có nguyện rằng khi tháp ngài hiện ra trong hội nghe kinh Pháp Hoa, đức Phật giảng kinh Pháp Hoa trong thời đó, muốn cho tứ chúng thấy được thân của ngài thì các hóa thân của Phật đó đang phân đi giáo hóa ở khắp nơi phải tụ hội về một chỗ, ngồi yên lại, mở tháp ra mới thấy được thân của ngài. Nếu mà phân thân Phật đi làm Phật sự chưa tụ hội về thì không thể mở tháp được, và cũng không thấy toàn thân của Phật Đa Bảo được. Lời nguyện này có ý nghĩa gì? Phật pháp thân tức là Phật Đa Bảo, Phật báo thân là chỉ cho thân Phật Thích-ca giáng sanh ở Ấn Độ, Phật hóa thân hay ứng thân là những thân Phật phân ra đi nói pháp ở các cõi trong mười phương. Muốn thấy được Phật Đa Bảo thì các hóa thân phải cùng quy hội về nhập pháp thân là thấy rõ toàn thân ngài. Đoạn sau sẽ nói rõ ý này. Chánh văn: 4 Bấy giờ, Phật phóng một lần sáng nơi lông trắng giữa chặng mày, liền thấy năm trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa cõi nước ở phương đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ-tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ-tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sanh mà nói pháp. Phương nam, tây, bắc, bốn phía, trên dưới, chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế. Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ-tát rằng: Thiện nam tử! Ta nay phải qua thế giới Ta-bà, chỗ của đức Thích-ca-mâu-ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai. 5 Lúc bấy giờ, cõi Ta-bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng. Đốt hương báu lớn, hoa mạn-đà-la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác. Lúc đó, các đức Phật đều đem theo một vị Bồ-tát lớn để làm thị giả qua cõi Ta-bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do-tuần, nhánh lá bông trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa sư tử cao năm do-tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau giồi đó. Khi ấy, các đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lựa đến khắp đầy cả cõi tam thiên đại thiên mà ở nơi thân của đức Thích-ca-mâu-ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết. Bấy giờ, đức Thích-ca-mâu-ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na-do-tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng a-tu-la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do-tuần, nhánh lá bông trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư tử cao năm do-tuần, dùng các thứ báu để trau giồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục-chân-lân-đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu-di v.v... thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng phẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất. Đức Thích-ca-mâu-ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na-do-tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do-tuần, nhánh, lá, bông, trái thứ tự tốt đẹp, dưới cây đều có tòa sư tử bằng báu cao năm do-tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau giồi đó. Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục-chân-lân-đà, núi Đại Mục-chân-lân-đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu-di v.v... thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng phẳng, các báu đan xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất. Bấy giờ, ở phương đông, các đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na-do-tha hằng hà sa cõi nước của đức Thích-ca-mâu-ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến nhóm ngồi ở tám phương. Bấy giờ, mỗi mỗi phương các đức Như Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na-do-tha cõi nước. Giảng: Đức Phật Thích-ca được đại chúng yêu cầu họp các hóa thân Phật của ngài về, để chúng chiêm ngưỡng và được thấy đức Phật Đa Bảo ở trong tháp. Bấy giờ Phật Thích-ca từ giữa chặng mày phóng ra một luồng hào quang sáng qua vô số cõi nước ở phương đông, nam, tây, bắc... Các hóa thân Phật thấy hào quang liền biết Phật muốn mình quy hội về, tuần tự các ngài cùng nhau về. Khi vô số hóa thân Phật đều quy hôi về thì cõi Ta-bà này được dẹp hết các loài trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, chỉ còn một cõi thanh tịnh, hiện ra các tòa báu để hóa thân Phật an trụ. Khi hóa thân Phật an trụ xong thì Phật mới mở cửa tháp cho đại chúng thấy Phật Đa Bảo. Chúng ta phải hiểu như thế nào về ba đức Phật này? Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ có nói về ba thân Phật. Pháp thân là tự tánh pháp thân, khởi niệm là hóa thân. Khi khởi niệm mà không dính không kẹt hai bên có không, tà chánh v.v... là báo thân thanh tịnh. Thân tuy nói là ba nhưng cùng một thể. Pháp thân là chỉ cho tự tánh thanh tịnh của chính mình, báo thân là chỉ cho tâm thanh tịnh lìa chấp hai bên, còn niệm tưởng dấy từ tâm gọi là hóa thân. Như chúng ta mỗi ngày khởi vô số nghĩ tưởng hết chuyện xưa đến chuyện nay, hết chuyện thiện tới chuyện ác, hết chuyện bên đông tới chuyện bên tây... Đó là hóa thân của chúng ta, vì chúng ta là phàm phu nên hóa thân không đi giáo hóa chúng sanh, mà là đi phá phách chọc ghẹo chúng sanh, chứ không làm được điều gì hay. Thí dụ như đang tu, bỗng dưng khởi lên những niệm rất trần tục đó là phá phách chứ gì? Chư Phật đã giác ngộ thấy nơi nào chúng sanh có duyên liền khởi nguyện đến giáo hóa. Phật khởi niệm, khởi trong giác ngộ chứ không khởi trong mê mờ như chúng sanh. Do đó chúng sanh có vô số phiền não, Phật cũng có vô số hóa thân để giáo hóa. Bây giờ muốn thấy được pháp thân Phật thì hóa thân phải quy về với báo thân và phải ngồi yên, nghĩa là những hóa thân tức là những vọng tưởng chạy đông chạy tây khắp cả mười phương phải dừng, phải định thì pháp thân Phật mới hiển hiện, nếu còn vọng tưởng rối loạn thì pháp thân Phật không hiển hiện. Chúng ta tu hành lúc nào cũng vậy, nếu muốn được giác ngộ thì phải định, tức là sạch hết mọi loạn tưởng rồi mới phát tuệ, tức là nhận ra tri kiến Phật sẵn có nơi mình. Đây là những hình ảnh biểu trưng, chúng ta chớ kẹt trên danh tướng mà không thấu được lý kinh, rồi không ứng dụng tu hành được. Đến đây chúng ta thấy có cái gì mâu thuẫn: Tại sao cõi Ta-bà của Phật Thích-ca không thanh tịnh, nào là núi sông, gò nổng, sỏi cát... lộn xộn đủ thứ, còn các cõi phân thân Phật đến giáo hóa thì thanh tịnh trang nghiêm toàn là bảy báu? Như vậy phân thân do Phật hóa ra có giá trị hơn chính báo thân Phật Thích-ca sao? Như trên đã nói, hóa thân là những vọng tưởng chạy khắp mười phương nghĩ về người, về trời, về thú, về địa ngục... đó là đang đi trong lục đạo. Tất cả những vọng tưởng đó đều bất tịnh. Khi dừng hết mọi vọng tưởng bất tịnh chạy đông chạy tây đó, thì tâm thanh tịnh an định, nên cõi nước cũng thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh thì Phật hiện tiền. Nhưng muốn dừng hết mọi vọng tưởng không chạy đông chạy tây, hay nói theo trong Kinh là gom hết hóa thân Phật về một nơi thì trước tiên phải có trí tuệ không kẹt hai bên. Người đối với cảnh khởi niệm phân biệt hai bên, tốt xấu, hay dở, phải trái... rồi sanh ưa ghét, niệm khởi rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt diệt, vô số vọng niệm chạy khắp sáu đường không dừng nghỉ, nên phiền não trần lao cũng vô số. Đó là người thấy một bên không có trí tuệ. Nếu người có trí tuệ đối với các pháp thấy đúng như thật, do duyên hợp tạm có, không có tự thể cố định nên không chấp thế này là tốt thế kia là xấu, không khởi niệm ưa chán tìm cầu hay ghét bỏ, nên không bị phiền não chi phối, tâm được an định. Như vậy là người có trí không kẹt hai bên. Trí không kẹt hai bên ở đây tượng trưng bằng hình ảnh hào quang phát ra ở giữa chặng mày. Chánh văn: 6 Lúc đó, các đức Phật đều ngồi tòa sư tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả qua thăm viếng đức Thích-ca-mâu-ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị giả rằng: Thiện nam tử! Ngươi qua đến núi Kỳ-xà-quật, chỗ của đức Thích-ca-mâu-ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này: “Như Lai có được ít bệnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ-tát cùng Thanh văn đều an ổn chăng?” Rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: “Đức Phật kia cũng muốn mở tháp báu này.” Các đức Phật sai người đến cũng như vậy. Bấy giờ, đức Thích-ca-mâu-ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đều ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chắp tay một lòng nhìn Phật. Khi ấy, đức Thích-ca-mâu-ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn. Tức thời, tất cả chúng trong hội đều thấy đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền định, lại nghe Phật đó nói: Hay thay! Hay thay! Thích-ca-mâu-ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó, ta vì nghe Kinh đó mà đến cõi này. Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên đức Phật Đa Bảo và Phật Thích-ca- mâu-ni. Lúc đó, đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích-ca-mâu-ni Phật mà nói rằng: Thích-ca-mâu-ni Phật có thể đến ngồi trên tòa này. Tức thời đức Thích-ca-mâu-ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó. Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai đức Như Lai ngồi xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thời đều nghĩ rằng: “Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không.” Tức thời, đức Thích-ca-mâu-ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng: Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho các người. Giảng: Khi hóa thân Phật cùng quy hội về, đều ngồi trên tòa sư tử sai thị giả đem hoa báu đến núi Kỳ-xà-quật vấn an Phật Thích-ca, cùng với đại chúng và cúng dường cung thỉnh Phật Thích-ca mở tháp bảy báu để chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo. Sau khi hóa thân Phật quy hội về ngồi yên rồi, Phật Thích-ca mới mở được cửa tháp cho đại chúng thấy toàn thân Phật Đa Bảo trong tháp, và Phật Đa Bảo mời Phật Thích-ca cùng ngồi nửa tòa với ngài. Như vậy để thấy rằng pháp thân là có sẵn muôn đời, nếu dừng hết vọng tưởng điên đảo thì ngay nơi báo thân này pháp thân hiện tiền. Nếu còn vọng tưởng duyên theo ngoại cảnh thì pháp thân ẩn khuất không hiển hiện. Khi đại chúng thấy hai đức Phật cùng ngồi tòa sư tử trong tháp bảy báu trên hư không, đều nghĩ rằng Phật ngồi trên hư không cao xa, mong đức Như Lai dùng sức thần thông khiến cho các ngài đều được ở trên hư không. Phật Thích-ca liền dùng thần thông tiếp đại chúng trên hư không. Tại sao có những hiện tượng như vậy? Như phẩm Pháp Sư đã nói, người nào muốn thấy được tri kiến Phật là phải từ bi, nhẫn nhục và thấy tất cả pháp là không. Vì vậy, đức Phật phương tiện giáo hóa để cho người dùng trí Bát-nhã tu, thấy tất cả pháp là không, đó là thần thông, chứ không phải dùng thần lực đưa tất cả đại chúng từ mặt đất lên hư không để thấy Phật. Nếu ngài biến hóa đại chúng được như vậy thì ngài cũng biến hóa cho tất cả chúng sanh thành Phật, để họ khỏi tu, vì tu khó và lâu lắm mới được thành Phật. Đó là ngài vận dụng phương tiện giáo hóa cho chúng sanh tỉnh giác, không còn lầm lẫn chấp các pháp là thật có. Thấy rõ các pháp duyên hợp giả có, tự tánh là không, tâm không còn chấp, không còn chạy theo các pháp, tâm an định, pháp thân hiển hiện. Vì vậy ở đây nói nâng đại chúng lên hư không để thấy Phật và được nghe Phật nói pháp. Và sau khi nâng đại chúng lên hư không rồi, nói rằng: Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho các người. Khi nâng đại chúng lên hư không thì ngang chừng đó là phải lúc, là xứng đáng nhận lãnh lời phó chúc, nên ngài kết luận là ngài sắp vào Niết-bàn, ai có thể nói kinh Pháp Hoa thì ngài giao phó. Khi đại chúng còn ở dưới đất tức là còn chấp có, chấp không, thấy hai bên, ngài không tuyên bố lời này. Khi nâng đại chúng lên hư không, tức là đại chúng đã có trí tuệ thấy rõ tất cả pháp đúng như thật, không còn kẹt hai bên, Phật mới tuyên bố như vậy. Qua những hình ảnh trên, nếu chúng ta căn cứ trên chữ nghĩa thì thấy khó hiểu khó tin, thấy như huyễn hoặc mê tín, rồi đâm ra phỉ báng Kinh. Lý Kinh thật cao siêu tuyệt diệu, nếu chúng ta không hiểu, vô tình biến thành cái tầm thường rồi phỉ báng, điều này không nên để xảy ra. Chánh văn: Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 7. Đấng Thánh chúa Thế Tôn Dầu diệt độ đã lâu Ở trong tháp báu này Còn vì pháp mà đến Các ông lại thế nào Há chẳng siêng vì pháp? Phật Đa Bảo diệt độ Đã vô lượng số kiếp Nơi nơi đến nghe pháp Vì khó gặp được vậy. Phật kia bản nguyện rằng: Sau khi ta diệt độ Nơi nơi tháp ta qua Thường vì nghe Pháp Hoa. Lại vô lượng các Phật Số nhiều như hằng sa Của ta phân thân ra Vì muốn đến nghe pháp Và cùng để ra mắt Phật diệt độ Đa Bảo Nên đều bỏ cõi đẹp Cùng với chúng đệ tử Trời, người, rồng, thần thảy Và các việc cúng dường Muốn pháp lâu ở đời Cho nên đến cõi này. Ta vì các Phật ngồi Dùng sức thần thông lớn Dời vô lượng trời, người Làm cho nước thanh tịnh. Các đức Phật mỗi mỗi Đều đến dưới cây báu Như hoa sen trang nghiêm Nơi ao báu trong sạch. Dưới mỗi cây báu đó Có tòa báu sư tử Phật xếp bằng ngồi trên Sáng suốt rất đẹp đẽ Như giữa đêm tối tăm Đốt đuốc lớn lửa sáng. Thân Phật thoảng hương thơm Bay khắp mười phương nước Chúng sanh được hương xông Vui mừng không kể xiết Thí như luồng gió lớn Thổi lay nhánh cây nhỏ Dùng các phương tiện đó Làm cho pháp ở lâu. Giảng: Phật khuyến khích đại chúng rằng Phật Đa Bảo đã Niết-bàn lâu rồi, nay vì kinh Pháp Hoa mà hiện bảo tháp để nghe, bởi kinh Pháp Hoa khó gặp khó được, đại chúng nên phát tâm thọ trì kinh Pháp Hoa. Chánh văn: 8. Nói cùng hàng đại chúng Sau khi ta diệt độ Ai có thể hộ trì Đọc nói Kinh pháp này Thời nay ở trước Phật Nên tự phát lời thệ. Coi Phật Đa Bảo kia Dầu đã diệt từ lâu Do bản thệ nguyện rộng Mà còn rền tiếng lớn. Đức Đa Bảo Như Lai Và cùng với thân ta Nhóm họp các hóa Phật Phải nên biết ý này. Các hàng Phật tử thảy Ai có thể hộ pháp Nay nên phát nguyện lớn Khiến pháp ở đời lâu. Có ai hay hộ được Kinh Diệu Pháp Hoa này Thời là đã cúng dường Thích-ca cùng Đa Bảo. Đức Đa Bảo Phật đây Ở trong tháp báu lớn Thường dạo qua mười phương Vì để nghe Kinh này. Cũng là để cúng dường Các hóa Phật đến nhóm Trang nghiêm rất sáng đẹp Các thế giới vô lượng. Nếu người nói Kinh này Thời là đã thấy ta Cùng Đa Bảo Như Lai Và các vị hóa Phật. Giảng: Phật dạy tất cả những người đã phát tâm thọ trì kinh Pháp Hoa, sau đó là phải thệ nguyện. Tại sao phải thệ nguyện? Vì Phật Đa Bảo từ muôn kiếp tới giờ vẫn còn ở trong tháp không hư không hoại, đó là nói lên ý nghĩa pháp thân không hoại diệt vì nó vô tướng, bởi vô tướng nên thọ trì rất là khó. Phàm cái gì có hình tướng mắt thấy tay sờ mó được thì nắm bắt gìn giữ tương đối dễ. Tri kiến Phật tuy không tướng mà hằng hiện hữu, muốn chỉ và muốn nhận rất khó, nên đòi hỏi người tu phải bền chí nhẫn nại tâm không lui sụt, mới có thể tiến tới đích được. Tuy biết mình có sẵn tri kiến Phật, song thời gian tu để nhận ra nó không hạn định. Trong Kinh thường diễn tả rất lâu xa, nếu thệ nguyện không vững, khi khỏe vui thì tu, mệt buồn thì nghỉ, như vậy không tiến. Do đó Phật dạy người phát tâm thọ trì kinh Pháp Hoa phải có chí nguyện bền vững. Chánh văn: 9. Các thiện nam tử này! Đều nên suy nghĩ kỹ Đây là việc rất khó Phải phát nguyện rộng lớn Bao nhiêu kinh điển khác Số nhiều như hằng sa Dầu nói hết kinh đó Cũng chưa đủ làm khó, Hoặc đem núi Diệu Cao Ném để ở phương khác Cách vô số cõi Phật Cũng chưa lấy làm khó, Nếu người dùng ngón chân Động cõi nước đại thiên Ném xa qua cõi khác Cũng chưa lấy làm khó, Hoặc đứng trên Hữu Đảnh Nói vô lượng kinh khác Vì để dạy bảo người Cũng chưa lấy làm khó. Nếu sau lúc Phật diệt Người ở trong đời ác Có thể nói Kinh này Đây thời rất là khó. Giả sử lại có người Dùng tay nắm hư không Để mà khắp dạo đi Cũng chưa lấy làm khó, Sau khi ta diệt độ Nếu người tự thọ trì Hoặc bảo người thọ trì Đây thời là rất khó. Hoặc đem cả cõi đất Để trên móng ngón chân Bay lên đến Phạm thiên Cũng chưa lấy làm khó, Sau khi Phật diệt độ Người ở trong đời ác Tạm đọc Kinh pháp này Đây thời mới là khó. Giả sử gặp kiếp thiêu Gánh mang những cỏ khô Vào lửa không bị cháy Cũng chưa lấy làm khó, Sau khi ta diệt độ Nếu người trì Kinh này Vì một người mà nói Đây thời mới là khó. Hoặc người trì tám muôn Bốn nghìn các tạng pháp Đủ mười hai bộ kinh Vì người mà diễn nói Khiến các người nghe pháp Đều được sáu thần thông Dầu được như thế đó Cũng chưa lấy làm khó, Sau khi ta diệt độ Nghe lãnh Kinh điển này Hỏi nghĩa thú trong Kinh Đây thời mới là khó. Hoặc có người nói pháp Làm cho nghìn muôn ức Đến vô lượng vô số Hằng hà sa chúng sanh Chứng được quả A-la-hán Đủ sáu phép thần thông Dầu có lợi ích đó Cũng chưa phải là khó, Sau khi ta diệt độ Nếu người hay phụng trì Những Kinh điển như đây Đây thời là rất khó. Giảng: Phật nói kinh Pháp Hoa rất khó thọ trì, khó đem ra giảng dạy. Ngài dùng những thí dụ để so sánh cái khó của kinh Pháp Hoa. Thứ nhất là dầu cho nói hết kinh điển của Phật nhiều như số cát sông Hằng cũng chưa đủ làm khó. Thứ hai là đem núi Diệu Cao ném ở phương khác, cách vô số cõi Phật cũng chưa phải là khó. Thứ ba là dùng ngón chân động ba ngàn thế giới ném xa qua cõi khác cũng chưa phải là khó. Thứ tư là đứng trên cõi trời Sắc Cứu Cánh nói vô lượng kinh để dạy bảo người cũng chưa phải là khó. Thứ năm là dùng bàn tay nắm hư không để dạo đi khắp cõi nước cũng chưa phải là khó. Thứ sáu là đem tất cả cõi đất để trên móng ngón chân bay lên đến Phạm thiên cũng chưa phải là khó. Thứ bảy là gặp kiếp thiêu mang những cỏ khô vào lửa không bị cháy cũng chưa phải là khó. Thứ tám là trì tám muôn bốn nghìn tạng pháp đủ mười hai bộ kinh, giảng nói cho người nghe chứng lục thông cũng chưa phải là khó. Thứ chín là nói pháp độ cho vô số chúng sanh chứng lục thông La-hán cũng chưa phải là khó. Cái khó nhất là sau khi Phật diệt độ ở trong đời ác nói được Kinh này mới thật là khó. Chín việc khó vừa nêu trên, đối với khả năng chúng ta đã không làm được, thế mà sánh với việc thọ trì giảng nói kinh Pháp Hoa trong đời ác trược càng khó hơn nữa. Như vậy là sao? Đời ác trược là thời mà tâm người đang điên đảo móng vọng tìm cầu, tranh giành, dua nịnh, người mạnh lấn hiếp người yếu, khen mình chê người, lừa dối lẫn nhau. Với tâm người mê mờ cuồng loạn như thế, mà giảng nói tri kiến Phật thì họ có tin có nhận được không? Thật khó mà tin nhận được! Vì muốn nhận ra tri kiến Phật là phải dừng tất cả mọi vọng niệm. Nếu vọng niệm còn chạy ngược chạy xuôi, dù cho thuyết giảng thế nào chăng nữa, người ta cũng không hiểu không tin nên nói là khó. Nên nhớ, Kinh này là chỉ cho tri kiến Phật, chứ không phải bộ kinh văn tự được ghi chép bằng giấy mực và đóng lại thành tập thành bộ. Thế nên muốn giảng giải, chỉ cho người nhận ra tri kiến Phật là phải có đủ từ bi, nhẫn nhục và trí tuệ mới hội đủ điều kiện để thuyết giảng, nên nói là khó. Ngày nay chúng ta thấy giảng kinh Pháp Hoa tuy dễ, nhưng nếu làm đúng thì chúng ta ít ai làm được. Như hôm nay tôi giảng kinh Pháp Hoa cũng chỉ là gượng gạo nói, chưa trọn vẹn ý nghĩa trên và có lẽ người nghe cũng còn dính kẹt đủ thứ trần lao, nên nghe thì nghe chứ chưa nhận ra tri kiến Phật. Chánh văn: 10. Ta vì hộ Phật đạo Ở trong vô lượng cõi Từ thuở trước đến nay Rộng nói nhiều các kinh Mà ở trong kinh đó Kinh này là bậc nhất Nếu có người trì được Thời là trì thân Phật. Các thiện nam tử này! Sau khi ta diệt độ Ai có thể thọ trì Và đọc tụng Kinh này Thời nay ở trước Phật Nên tự nói lời thệ. Kinh pháp đây khó trì Nếu người tạm trì đó Thời ta rất vui mừng Các đức Phật cũng thế Người nào được như vậy Các đức Phật thường khen Đó là rất dõng mãnh Đó là rất tinh tấn Gọi là người trì giới Bậc tu hạnh đầu-đà Thời chắc sẽ mau được Quả Vô thượng Phật đạo. Có thể ở đời sau Đọc trì Kinh pháp này Là chân thật Phật tử Trụ ở bậc thuần thiện. Sau khi Phật diệt độ Có thể hiểu nghĩa này Thời là mắt sáng suốt Của trời người trong đời. Ở trong đời kinh sợ Hay nói trong chốc lát Tất cả hàng trời người Đều nên cúng dường đó. Giảng: Vì muốn hộ trì Phật đạo thường còn mà Phật hằng nói kinh, và trong các kinh, Phật thường nói kinh Pháp Hoa là bậc nhất. Nên người nào thọ trì Kinh này là hộ trì pháp Phật, thọ trì thân Phật được Phật hoan hỷ tán thán khen ngợi là người trì giới, tinh tấn, dõng mãnh, tu hạnh đầu-đà, chắc chắn sẽ mau được Vô thượng Phật đạo, sẽ là con mắt sáng cho thế gian, xứng đáng cho trời người cúng dường. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 8 - Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải
Giảng Văn Kinh
|
Giảng Văn Kinh
Phẩm 4 - 11