|
Thanh Từ Toàn Tập 8 - Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải
Phẩm 1 - 3
I- PHẨM TỰA Thông thường ở mỗi bộ kinh, phần đầu là Tựa. Phẩm Tựa nói lên ý nghĩa tổng quát toàn bộ kinh. Các kinh mở đầu đều có lục chủng chứng tín. Đó là sáu điều chứng cứ của ngài A-nan nêu ra, để người nghe có đủ lòng tin pháp ngài tụng là do Phật nói. Lục chủng chứng tín giống như một biên bản của thư ký trong phiên họp ngày nay vậy. Chánh văn: 1. Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, nơi thành Vương Xá cùng chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai nghìn người câu hội. Các vị đó đều là bậc A-la-hán, các lậu đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong, dứt sự ràng rịt trong các cõi, tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Dà-gia Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-chiên-diên, A-nậu-lâu-đà, Kiếp-tân-na, Kiều-phạm-ba-đề, Ly-bà-đa, Tất-lăng-già-bà-ta, Bạc-câu-la, Ma-ha Câu-hy-la, Nan-đà, Tôn-đà-la Nan-đà, Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử, Tu-bồ-đề, A-nan, La-hầu-la v.v... đó là những vị đại A-la-hán hàng trí thức của chúng. Lại có bậc hữu học và vô học hai nghìn người. Bà Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với quyến thuộc sáu nghìn người câu hội. Mẹ của La-hầu-la là bà Tỳ-kheo-ni Da-thâu-đà-la cũng cùng với quyến thuộc câu hội. 2. Bậc đại Bồ-tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều chứng đặng pháp đà-la-ni nhạo thuyết biện tài, chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn chư Phật, ở nơi các đức Phật trồng các cội công đức. Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí tuệ của Phật, thông đạt đại trí đến nơi bờ kia, danh đồn khắp vô lượng thế giới, có thể độ vô số trăm nghìn chúng sanh. Tên của các vị đó là: Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Thường Tinh Tấn Bồ-tát, Bất Hưu Tức Bồ-tát, Bửu Chưởng Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dõng Thí Bồ-tát, Bửu Nguyệt Bồ-tát, Nguyệt Quang Bồ-tát, Mãn Nguyệt Bồ-tát, Đại Lực Bồ-tát, Vô Lượng Lực Bồ-tát, Việt Tam Giới Bồ-tát, Bạt-đà-bà-la Bồ-tát, Di-lặc Bồ-tát, Bửu Tích Bồ-tát, Đạo Sư Bồ-tát v.v... các vị đại Bồ-tát như thế tám muôn người câu hội. 3. Lúc bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân cùng quyến thuộc hai muôn vị thiên tử câu hội. Lại có Minh Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bửu Quang thiên tử, bốn vị đại thiên vương cùng với quyến thuộc một muôn thiên tử câu hội. Tự Tại thiên tử, Đại Tự Tại thiên tử, cùng với quyến thuộc ba vạn thiên tử câu hội. Chủ cõi Ta-bà: Phạm thiên vương, Thi-khí Đại Phạm, Quang Minh Đại Phạm v.v... cùng với quyến thuộc một muôn hai nghìn vị thiên tử câu hội. Có tám vị long vương: Nan-đà long vương, Bạt-nan-đà long vương, Ta-già-la long vương, Hòa-tu-kiết long vương, Đức-xoa-ca long vương, A-na-bà-đạt-đa long vương, Ma-na-tư long vương, Ưu-bát-la long vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị khẩn-na-la vương: Pháp khẩn-na-la vương, Diệu Pháp khẩn-na-la vương, Đại Pháp khẩn-na-la vương, Trì Pháp khẩn-na-la vương đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị càn-thát-bà vương: Nhạc càn-thát-bà vương, Nhạc Âm càn-thát-bà vương, Mỹ càn-thát-bà vương, Mỹ Âm càn-thát-bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị a-tu-la vương: Bà-trĩ a-tu-la vương, Khư-la-khiên-đà a-tu-la vương, Tỳ-ma-chất-đa-la a-tu-la vương, La-hầu a-tu-la vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Ca-lầu-la vương: Đại Oai Đức ca-lầu-la vương, Đại Thân ca-lầu-la vương, Đại Mãn ca-lầu-la vương, Như Ý ca-lầu-la vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hy, cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía. Giảng: Tôi nghe: chỉ cho tôn giả A-nan, người nghe và thuật lại kinh này - Văn thành tựu. Như thế này: chỉ pháp mà ngài A-nan nghe Phật nói, đó là kinh Pháp Hoa - Tín thành tựu. Một thuở nọ: là thời gian nói kinh. Xưa, thời gian mỗi nơi mỗi khác, không thống nhất, nên chỉ nói một thuở nọ, chứ không nói ngày mấy, tháng mấy, lúc mấy giờ - Thời thành tựu. Đức Phật: là vị chủ tọa trong buổi thuyết pháp Chủ thành tựu. Núi Kỳ-xà-quật: nơi thành Vương Xá là chỗ Phật thuyết pháp - Xứ thành tựu. Chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai nghìn người là bậc A-la-hán, như A-nhã Kiều-trần-như... hàng Tỳ-kheo hữu học và vô học có trên hai ngàn người. Các Tỳ-kheo-ni như Ma-ha Ba-xà-ba-đề, Da-thâu-đà-la và quyến thuộc. Hàng Bồ-tát có tới tám muôn như Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Quán Âm... Thích-đề-hoàn-nhân và quyến thuộc. Tứ thiên vương và quyến thuộc. Phạm thiên vương và các vị trời cùng với quyến thuộc. Long vương và quyến thuộc. Khẩn-na-la vương cùng quyến thuộc. Càn-thát-bà vương cùng quyến thuộc. A-tu-la vương cùng quyến thuộc. Ca-lầu-la vương cùng với quyến thuộc. Vua A-xà-thế cùng với quyến thuộc: là những cử tọa đến nghe pháp - Chúng thành tựu. Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin Kinh này không phải ngài A-nan tự ý nói, mà chính ngài đã cùng nghe với thính chúng và thuật lại. Chánh văn: 4. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng dường cung kính ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa tên là “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Giảng: Kinh Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm là bộ kinh có nghĩa lý sâu rộng, không thể nghĩ lường được. Kinh này dạy cho hàng Bồ-tát tu để thành Phật, và chính Kinh này là chỗ mà chư Phật hằng hộ niệm. Đoạn này không ghi Phật nói kinh như thế nào, chỉ nói tổng quát là kinh Đại thừa tên Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Chánh văn: Nói Kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động. Giảng: Từ trước, Phật tùy theo căn cơ cao thấp của chúng sanh mà phương tiện nói kinh nghĩa lý hữu lượng, chứ kinh vô lượng liễu nghĩa thì chưa từng nói. Nay thấy căn cơ đệ tử đã thuần thục, Phật mới nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập chánh định tên là Vô lượng nghĩa xứ, để chuẩn bị tư thế nói kinh Pháp Hoa là chân lý tuyệt đối. Chánh văn: Khi đó trời mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha mạn-thù-sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động. Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân, phi nhân và các vị tiểu vương cùng Chuyển luân thánh vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn Phật. Giảng: Khi Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong, ngài nhập định thì chư thiên rải hoa cúng dường, quả đất rúng động, phát ra sáu thứ âm thanh vi diệu. Bấy giờ, thính chúng trong hội thấy việc chưa từng có, nên vui mừng chắp tay một lòng hướng về đức Phật mắt không tạm rời. Chánh văn: 5. Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặng mày phát ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A-tỳ, trên suốt thấu trời Sắc Cứu Cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh ở các cõi kia. Giảng: Đoạn này dùng hình ảnh để hiển bày cái chân thật tuyệt đối, đó là tri kiến Phật. Sở dĩ không dùng ngôn ngữ để diễn tả, là vì mọi ngôn ngữ đều ở trong vòng tương đối, không thể nói lên pháp tuyệt đối. Hai chân mày là hai bên, chỉ cho pháp tương đối: có không, phải quấy, tốt xấu... Lông trắng giữa chặng mày tượng trưng cho lý trung đạo không kẹt hai bên đối đãi. Hào quang là ánh sáng, tượng trưng cho trí tuệ Phật. Qua hình ảnh tượng trưng đó, nếu chúng ta biết xoay lại mình để tu tập như lời dạy của tổ Bá Trượng, mới thấy được ý nghĩa huyền diệu của kinh Đại thừa. Người không còn kẹt hai bên là người hằng sống với lý trung đạo, thì được trí tuệ viên mãn. Trí tuệ viên mãn là trí tuệ Phật thênh thang rộng lớn, nên soi rọi thấu suốt một muôn tám nghìn cõi ở phương đông, từ địa ngục cho tới cõi trời Sắc Cứu Cánh. Nếu nương theo trí tuệ Phật thì chúng ta sẽ thấy rõ các cõi, biết rõ nhân quả của sáu loài chúng sanh luân hồi trong lục đạo, và cũng thấu suốt được nguyên nhân tu hành cùng quả báo của các vị Tỳ-kheo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Ở đây có điều khiến cho chúng ta nghi vấn, là tại sao hào quang Phật chỉ soi thấu về phương đông mà không soi về các phương khác? Phương đông là phía mặt trời mọc, ánh sáng của ngày bắt đầu từ phương đông, chiếu rọi khắp cả. Còn phương tây là phía mặt trời lặn, ánh sáng của ngày mờ dần và tắt hẳn. Phật muốn chỉ cho mọi người trí tuệ cứu cánh của Phật thấu suốt tất cả pháp, nên ngài dùng phương đông là phương mở màn cho ánh sáng ban mai để làm thí dụ. Chánh văn: Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo. Lại thấy các vị đại Bồ-tát dùng các món nhân duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ-tát. Lại thấy đức Phật nhập Niết-bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn, đem xá-lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu. Giảng: Qua đoạn này, chúng ta thấy cái nhìn của đạo Phật rất rộng rãi, chỉ một phương đông thôi mà thấy có một muôn tám nghìn cõi. Nếu trông cả mười phương hay cả vũ trụ thì sẽ thấy vô số cõi nước không thể tính đếm. Vì vậy mà trong Kinh nói hằng hà sa số cõi Phật. Điều mà đức Phật nói cách đây trên hai ngàn năm trăm năm thì hiện nay các nhà khoa học đã chứng minh một cách cụ thể, là trong vũ trụ ngoài quả đất chúng ta đang ở còn có vô số hành tinh, gần nhất là mặt trăng, nơi loài người đã từng đặt chân đến đó cách nay không lâu. Bây giờ trong hội chúng nương hào quang Phật, thấy và nghe được các đức Phật ở các cõi ấy nói pháp. Rồi cũng thấy thính chúng của các đức Phật ở các cõi ấy tu hành đắc đạo. Chẳng những thấy Phật, Bồ-tát, thính chúng ở các cõi khác, mà còn thấy Phật nhập Niết-bàn. Lại thấy sau khi Phật nhập Niết-bàn, xá-lợi Phật được dựng tháp bằng bảy báu để cúng dường. Chánh văn: 6. Khi ấy, ngài Di-lặc Bồ-tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế Tôn hiện thần biến tướng, vì nhân duyên gì mà có điềm lành này? Nay đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hy hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?” Ngài lại nghĩ: “Ông Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ, chắc đã thấy tướng hy hữu này, ta nay nên hỏi ông.” Lúc đó, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ và các trời, rồng, quỷ, thần v.v... đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?” 7. Bấy giờ, ngài Di-lặc Bồ-tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, ngài lại xét tâm niệm của bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỷ, thần v.v... mà hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng: Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật? Giảng: Theo Duy thức học thì Bồ-tát Di-lặc tượng trưng cho Thức phân biệt. Bởi Thức phân biệt nên không thể hiểu được những hình ảnh biểu trưng tri kiến Phật (lý trung đạo), vì tri kiến Phật vượt khỏi pháp nhị nguyên tương đối của thế gian. Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho căn bản trí hay bản giác có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Do gần gũi, bảo hộ, cúng dường, thâm nhập tri kiến Phật nên ngài mới hiểu được những điềm lành mà Phật hiện ra; vì vậy Bồ-tát Di-lặc mới có dự ý thưa hỏi. Đây là những vị Bồ-tát tượng trưng để nói lên ý nghĩa thâm sâu trong việc tu hành của mỗi người chúng ta, chứ không phải là hàng Bồ-tát đi hoằng truyền chánh pháp giáo hóa chúng sanh trong đời. Đa số kinh Đại thừa, phẩm đầu thường là Bồ-tát Văn-thù thưa hỏi và phẩm kết thúc là hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Như kinh Pháp Hoa, mở đầu là Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc và bốn chúng, phần cuối cùng nêu lên hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng cho trí sai biệt. Trí căn bản là trí đã có sẵn, bởi vô minh vọng tưởng che phủ nên không hiển lộ. Nhờ tu hành lần lần sạch hết vô minh phiền não, trí căn bản mới hiển hiện tròn sáng. Lúc đó có đủ diệu dụng, tùy duyên giáo hóa chúng sanh gọi là trí sai biệt. Chúng sanh căn cơ trình độ không đồng nhau, kẻ đần độn, người lanh lợi, trí sai biệt của Phật có đủ diệu lực thấu suốt trình độ sai biệt ấy, nên tùy theo căn cơ mà phương tiện nói pháp sai biệt giáo hóa họ. Chính trí sai biệt làm căn bản cho hàng Bồ-tát hành hạnh lợi tha không lười mỏi, không thối chuyển. Vì chúng ta tu chưa được viên mãn, chưa có trí sai biệt, khi hành hạnh lợi tha mà không biết trình độ căn cơ của chúng sanh, không rõ được cái gốc đau khổ của muôn loài, nói pháp chỉ khế lý mà không khế cơ, nên người nghe không tin không theo tu học; kết quả là giúp người mà người không hết khổ, chán nản nên thối Bồ-đề tâm. Lỗi đó không phải tại người cứng đầu không chịu nghe, mà tại mình chưa có trí sai biệt biết rõ căn cơ trình độ của người, để nói pháp hợp thời đúng bệnh. Nếu nói pháp hợp thời đúng bệnh thì người nghe mới kính tin vâng theo mà tu tập hết khổ đau. Sở dĩ người không nghe là vì chúng ta nói pháp không đúng bệnh, không hợp thời, khiến người nghe không tin, bất mãn, xa lánh. Đó là muốn giúp người được lợi ích mà hóa ra hại người mất tín tâm, lỗi đó là tại mình. Vì vậy nếu được trí sai biệt thì sự giáo hóa chẳng những khiến chúng sanh được lợi ích, mà người giáo hóa cũng không lười mỏi, không chán nản, nên mới gọi là Đại Hạnh Phổ Hiền. Phần Trùng tụng là phần lặp lại ý của văn Trường hàng ở trên, nhưng lặp lại có phần chi tiết. Chánh văn: Khi đó, ngài Di-lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng: 8. Ngài Văn-thù-sư-lợi! Đức Đạo sư cớ chi Lông trắng giữa chặng mày Phóng ánh sáng khắp soi, Trời mưa hoa mạn-đà Cùng hoa mạn-thù-sa Gió thơm mùi chiên-đàn Vui đẹp lòng đại chúng? Vì nhân duyên như vậy Cõi đất đều nghiêm tịnh Mà trong thế giới này Sáu điệu vang động lên, Bấy giờ bốn bộ chúng Thảy đều rất vui mừng Thân cùng ý thơ thới Đặng việc chưa từng có. Giảng: Đoạn này lặp lại chỗ nghi vấn của Bồ-tát Di-lặc và hội chúng về hình tướng biểu trưng cho cái chân thật tuyệt đối. Chánh văn: 9. Ánh sáng giữa chặng mày Soi suốt thẳng phương đông Một muôn tám nghìn cõi Đều ánh như sắc vàng Từ địa ngục A-tỳ Trên đến trời Hữu Đảnh Trong các thế giới đó Cả sáu đạo chúng sanh Sống chết của kia đến Nghiệp duyên lành cùng dữ Thọ báo có tốt xấu Tại đây đều thấy rõ. Giảng: Nương ánh sáng do Phật phóng ra, mà cả hội chúng đồng thấy tất cả nhân quả luân hồi của sáu loài chúng sanh, ở một muôn tám nghìn cõi nước về phương đông. Chánh văn: 10. Lại thấy các đức Phật Đấng thánh chúa Sư tử Diễn nói các kinh điển Nhiệm mầu bậc thứ nhất. Tiếng của ngài thanh tịnh Giọng nói ra êm dịu Dạy bảo các Bồ-tát Vô số ức muôn người Tiếng Phạm âm thâm diệu Khiến người đều ưa nghe. Các Phật ở cõi mình Mà giảng nói chánh pháp Dùng nhiều món nhân duyên Cùng vô lượng tỷ dụ Để soi rõ Phật pháp Mà khai ngộ chúng sanh. Nếu có người bị khổ Nhàm lìa già, bệnh, chết, Phật vì nói Niết-bàn Để dứt các ngằn khổ. Nếu là người có phước Đã từng cúng dường Phật Chí cầu pháp thù thắng Vì nói hạnh Duyên giác. Nếu lại có Phật tử Tu tập các công hạnh Để cầu tuệ Vô thượng Phật vì nói tịnh đạo. Giảng: Bồ-tát Di-lặc cùng bốn chúng thấy các đức Phật đang ở cõi nước của các ngài với Phạm âm vi diệu, tùy căn cơ dùng phương tiện nói pháp khai ngộ cho hàng Thanh văn, Duyên giác. Chánh văn: 11. Ngài Văn-thù-sư-lợi! Tôi ở tại nơi đây Thấy nghe dường ấy đó Và nghìn ức việc khác Thấy rất nhiều như thế Nay sẽ lược nói ra: 12. Tôi thấy ở cõi kia Có hằng sa Bồ-tát Dùng các món nhân duyên Mà cầu chứng Phật đạo. Hoặc có vị bố thí Vàng, bạc, ngọc, san hô, Trân châu, ngọc như ý, Ngọc xa cừ, mã não, Kim cương, các trân bảo, Cùng tôi tớ, xe cộ, Kiệu, cáng chưng châu báu Vui vẻ đem bố thí Hồi hướng về Phật đạo Nguyện đặng chứng thừa ấy Bậc nhất của ba cõi Các Phật hằng khen ngợi. Hoặc có vị Bồ-tát Xe tứ mã, xe báu, Bao lơn che tàng đẹp Trau tria dùng bố thí. Lại thấy có Bồ-tát Bố thí cả vợ con, Thân thịt cùng tay chân Để cầu Vô thượng đạo. Lại thấy có Bồ-tát Đầu mắt và thân thể Đều ưa vui thí cho Để cầu trí tuệ Phật. Giảng: Bồ-tát Di-lặc tường trình chỗ thấy nghe của ngài, như có vô số Bồ-tát bố thí vàng bạc, châu báu, bố thí xe cộ, bố thí thân mạng, vợ con để cầu Phật đạo. Chánh văn: 13. Ngài Văn-thù-sư-lợi! Ta thấy các quốc vương Qua đến chỗ của Phật Thưa hỏi đạo Vô thượng Bèn bỏ nước vui vẻ, Cung điện cả thần thiếp, Cạo sạch râu lẫn tóc Mà mặc y pháp phục. Giảng: Bồ-tát Di-lặc lại thấy các quốc vương thưa hỏi đạo Vô thượng, rồi bèn bỏ nước, bỏ ngôi vua, quần thần, thê thiếp, cạo bỏ râu tóc xuất gia. Chánh văn: Hoặc lại thấy Bồ-tát Mà hiện làm Tỳ-kheo Một mình ở vắng vẻ Ưa vui tụng Kinh điển. Cũng thấy có Bồ-tát Dõng mãnh và tinh tấn Vào ở nơi thâm sơn Suy xét mối Phật đạo. Và thấy bậc ly dục Thường ở chỗ không nhàn Sâu tu các thiền định Đặng năm món thần thông. Và thấy vị Bồ-tát Chắp tay trụ thiền định Dùng nghìn muôn bài kệ Khen ngợi các Pháp vương. Lại thấy có Bồ-tát Trí sâu chí bền chắc Hay hỏi các đức Phật Nghe rồi đều thọ trì. Lại thấy hàng Phật tử Định tuệ trọn đầy đủ Dùng vô lượng tỷ dụ Vì chúng mà giảng pháp Vui ưa nói các pháp Dạy bảo các Bồ-tát Phá dẹp chúng binh ma Mà đánh rền trống pháp. Cùng thấy vị Bồ-tát Vắng bặt yên lặng ngồi Trời, rồng đều cung kính Chẳng lấy đó làm mừng. Và thấy có Bồ-tát Ở rừng phóng hào quang Cứu khổ chốn địa ngục Khiến đều vào Phật đạo. Lại thấy hàng Phật tử Chưa từng có ngủ nghỉ Kinh hành ở trong rừng Siêng năng cầu Phật đạo. Cũng thấy đủ giới đức Oai nghi không thiếu sót Lòng sạch như bảo châu Để cầu chứng Phật đạo. Và thấy hàng Phật tử Trụ vào sức nhẫn nhục Bị kẻ tăng thượng mạn Mắng rủa cùng đánh đập, Thảy đều hay nhẫn được Để cầu chứng Phật đạo. Lại thấy có Bồ-tát Xa rời sự chơi cười Và quyến thuộc ngu si Ưa gần gũi người trí Chuyên tâm trừ loạn động Nhiếp niệm ở núi rừng Trải ức nghìn muôn năm Để cầu được Phật đạo. Giảng: Bồ-tát Di-lặc cùng hội chúng thấy các Bồ-tát ở nơi vắng vẻ, mỗi vị dùng mọi phương tiện tu hành khác nhau để cầu Phật đạo. Chánh văn: 14. Lại thấy vị Bồ-tát Đồ ăn uống ngọt ngon Cùng trăm món thuốc thang Đem cúng Phật và Tăng, Áo tốt đồ thượng phục Giá đáng đến nghìn muôn Hoặc là vô giá y Đem cúng Phật và Tăng, Dùng nghìn muôn ức thứ Nhà báu bằng chiên-đàn Các giường nằm tốt đẹp Để cúng Phật cùng Tăng, Rừng vườn rất thanh tịnh Bông trái đều sum suê Suối chảy cùng ao tắm Cúng dường Phật và Tăng, Cúng thí như thế đó Các đồ cúng tốt đẹp Vui vẻ không hề nhàm Để cầu đạo Vô thượng. Giảng: Bồ-tát Di-lặc thấy Bồ-tát ở cõi kia cúng dường tứ sự quý giá cho Phật và Tăng để cầu đạo Vô thượng. Chánh văn: 15. Lại có vị Bồ-tát Giảng nói pháp tịch diệt Dùng các lời dạy dỗ Dạy vô số chúng sanh. Hoặc thấy vị Bồ-tát Quán sát các pháp tánh Đều không có hai tướng Cũng như khoảng hư không. Lại thấy hàng Phật tử Tâm không chỗ mê đắm Dùng món diệu tuệ này Mà cầu đạo Vô thượng. Giảng: Bồ-tát Di-lặc thấy Bồ-tát các cõi kia, vị thì dùng pháp tịch diệt giáo hóa chúng sanh, vị thì quán pháp tánh không hai, vị thì ly dục dùng trí tuệ nhiệm mầu cầu Phật đạo. Chánh văn: 16. Ngài Văn-thù-sư-lợi! Lại có vị Bồ-tát Sau khi Phật diệt độ Cúng dường xá-lợi Phật. Lại thấy hàng Phật tử Xây dựng các tháp miếu Nhiều vô số hằng sa Nghiêm sức khắp cõi nước. Bảo tháp rất cao đẹp Đều năm nghìn do-tuần Bề ngang rộng xứng nhau Đều hai nghìn do-tuần. Trong mỗi mỗi tháp miếu Đều có nghìn tràng phan Màn châu xen thả xuống Tiếng linh báu hòa reo. Các vị trời, rồng, thần, Người cùng với phi nhân Hương, hoa cùng kỹ nhạc Thường đem đến cúng dường. Ngài Văn-thù-sư-lợi! Các hàng Phật tử kia Vì cúng dường xá-lợi Nên trang sức tháp miếu Cõi quốc giới tự nhiên Thù đặc rất tốt đẹp Như cây Thiên thọ vương Bông kia đương xòe nở. Giảng: Bồ-tát Di-lặc thấy Phật ở cõi kia tịch diệt, Bồ-tát xây vô số bảo tháp cao đẹp quý báu, trang hoàng cờ, phướn, màn, linh. Rồi trời, người, rồng, thần dâng hương hoa kỹ nhạc để cúng dường xá-lợi Phật. Chánh văn: 17. Phật phóng một luồng sáng Ta cùng cả chúng hội Thấy nơi cõi nước này Các thứ rất tốt đẹp Thần lực của chư Phật Trí tuệ đều hy hữu Phóng một luồng tịnh quang Soi khắp vô lượng cõi Chúng ta thấy việc này Đặng điều chưa từng có. 18. Xin Phật tử Văn-thù Giải quyết lòng chúng nghi Bốn chúng đều mong ngóng Nhìn ngài và nhìn ta Đức Thế Tôn cớ chi Phóng ánh quang minh này? Phật tử phải thời đáp Quyết nghi cho chúng mừng Có những lợi ích gì Đức Phật phóng quang này? Khi Phật ngồi đạo tràng Chứng đặng pháp thâm diệu Vì muốn nói pháp đó Hay là sẽ thọ ký? Hiện bày các cõi Phật Các báu sạch trang nghiêm Cùng thấy các đức Phật Đây không phải cớ nhỏ Ngài Văn-thù nên biết Bốn chúng và long, thần Nhìn xem xét ngài đó Mong sẽ nói những gì? Giảng: Vì Bồ-tát Di-lặc cùng hội chúng nương hào quang của Phật, thấy được những việc chưa từng có ở các cõi nước của chư Phật khác, nên yêu cầu Bồ-tát Văn-thù giải nghi về những điềm lành mà Phật hiện: Có phải Phật sắp nói pháp hay sắp thọ ký chăng? Xin ngài giải đáp cho, vì đại chúng đang trông cậy ngài. Chánh văn: 19. Lúc bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi nói với ngài Di-lặc Đại Bồ-tát cùng các vị đại sĩ: Các thiện nam tử! Như chỗ ta xét nghĩ thời nay đức Phật Thế Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn. Các thiện nam tử! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này. Giảng: Bồ-tát Văn-thù trả lời: Sở dĩ Phật hiện những tướng nhiệm mầu đó, là vì ngài sắp nói pháp Đại thừa. Và Bồ-tát Văn-thù xác nhận là ngài đã từng gần gũi các đức Phật đời quá khứ, nên ngài biết mỗi khi Phật hiện điềm lành là Phật sắp nói pháp Đại thừa nghĩa lý rất sâu xa, người đời không thể tin nổi. Thông thường, với con mắt người phàm chỉ tin những gì mắt thấy tai nghe được. Còn tri kiến Phật mà Phật sắp nói ở đây là diệu pháp không hình không tướng nên khó tin. Bởi pháp khó tin, nên trước khi nói Phật phải hiện những tướng lạ để cho người tin, rồi ngài mới nói pháp chân thật tuyệt đối, thì khả dĩ họ mới tin. Chánh văn: 20. Các thiện nam tử! Như vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp về trước. Bấy giờ, có đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, diễn nói chánh pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch. Giảng: Bồ-tát Văn-thù nói: Vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp về trước, có đức Phật tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Nhật là mặt trời, Nguyệt là mặt trăng, Đăng là đèn, Minh là sáng. Phật có trí tuệ sáng suốt như mặt trời, mặt trăng và đèn. Tất cả ánh sáng thế gian đều phát ra từ mặt trời, mặt trăng và đèn. Nói cách khác là trí tuệ Phật sáng suốt viên mãn không khiếm khuyết. Vì vậy, tượng trưng cho trí tuệ viên mãn của Phật là Nhật Nguyệt Đăng. Mười hiệu của Phật hàm ý nghĩa sau: - Như Lai: Như là như như bất động bất biến, chỉ cho tâm thể chân thật có sẵn ở mỗi người, tượng trưng là Bồ-tát Văn-thù. Lai là tùy duyên, tu khi viên mãn công hạnh, đầy đủ trí sai biệt, thì tùy duyên giáo hóa chúng sanh, tượng trưng là Bồ-tát Phổ Hiền. - Ứng Cúng: xứng đáng cho người, trời cúng dường. - Chánh Biến Tri: biết chân chánh khắp giáp tất cả. - Minh Hạnh Túc: đầy đủ công hạnh, tức là đủ tam minh và lục thông. - Thiện Thệ: khéo qua biển sanh tử đến Niết-bàn. - Thế Gian Giải: thấu suốt tất cả các pháp thế gian. - Vô Thượng Sĩ: kẻ sĩ cao tột không ai hơn. - Điều Ngự Trượng Phu: bậc trượng phu có khả năng điều phục được tất cả mọi người từ trí đến ngu. - Thiên Nhân Sư: bậc thầy của trời, người. - Phật Thế Tôn: bậc giác ngộ mà người đời cung kính, tôn trọng. Người giác ngộ thể nhập được trí tuệ viên mãn thì gọi là Phật. Khi đã thành Phật thì những lời Phật nói ra rất sâu xa nhiệm mầu, ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều như một không sai trái, giúp cho người tu được thanh tịnh sáng suốt nên được coi là chân lý. Chẳng hạn Phật nói: Các pháp thế gian là vô thường, chúng sanh thì đau khổ. Xưa, con người sanh ra, lớn lên rồi phải già, bệnh, chết. Ngày nay, con người sanh ra cũng không tránh khỏi lão, bệnh, tử. Và mai kia, nếu con người có mặt ở cõi đời này cũng chẳng thoát khỏi nỗi khổ của sanh, già, bệnh, chết. Như vậy, điều Phật nói cách nay trên hai ngàn năm trăm năm, trải qua ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều như một, không biến dịch, không phải chân lý là gì? Ngày nay, chúng ta vì chưa được trí tuệ Phật, thấy biết không đúng lẽ thật, nên nói ra điều gì mới nghe qua thấy hợp lý, nhưng ít tháng sau hoặc ít năm sau thì không còn đúng nữa, nên không được coi là chân lý. Chánh văn: Phật, vì người cầu đạo Thanh văn, nói pháp Tứ để thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết cứu cánh Niết-bàn. Vì hạng cầu quả Duyên giác, nói pháp Mười hai nhân duyên. Vì hàng Bồ-tát nói sáu pháp ba-la-mật làm cho chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thành bậc Nhất thiết chủng trí. Giảng: Vì Phật có đủ trí sai biệt, biết rõ hạnh nguyện của người tu, nên tùy duyên ứng hóa làm lợi ích cho tất cả. Nếu người muốn thoát khổ cầu đạo Thanh văn, Phật nói pháp Tứ đế độ cho thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, được cứu cánh Niết-bàn. Nếu người trí tuệ khá hơn, cầu quả Duyên giác, Phật sẽ nói pháp Mười hai nhân duyên. Nếu là hàng Bồ-tát, Phật sẽ nói sáu pháp ba-la-mật làm cho chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thành bậc Nhất thiết chủng trí tức là thành Phật. Tùy theo căn cơ cao thấp mà Phật nói pháp có sai biệt để hết thảy người tu đều đạt được sở nguyện của mình. Chánh văn: Kế lại, có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như thế đến hai muôn đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng một họ, họ Phả-la-đọa. Giảng: Tất cả chư Phật có đến hai muôn đều đồng một hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Tại sao Phật nhiều như thế mà chỉ cùng một hiệu? Như trước đã nói, Nhật Nguyệt Đăng Minh là chỉ cho trí tuệ sáng suốt viên mãn, tất cả chư Phật khi thành Phật đều có trí tuệ sáng suốt viên mãn như nhau, vì vậy mà đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Chánh văn: Di-lặc nên biết! Đức Phật trước, đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra, đầu, giữa, sau đều lành. Đức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất gia có tám vị vương tử: Người thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bửu Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hướng Ý, thứ tám tên Pháp Ý. Giảng: Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh lúc chưa xuất gia là chỉ cho chúng sanh khi chưa tu. Theo kinh Lăng-già thì mọi chúng sanh đều có Như Lai tàng, nhưng vì quên (mê) Như Lai tàng nên biến thành tàng thức. Khi biến thành tàng thức rồi thì có bảy thức thân theo. Tám vương tử là tượng trưng cho tám thức; còn Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là chỉ cho Như Lai tàng hay là Phật tánh. Chúng sanh có Phật tánh mà quên (mê) Phật tánh nên biến thành thức. Mà thức thì hay phân biệt nên đây để tên là Ý. Do thức hay phân biệt nên lưu chuyển trong lục đạo, sanh tử luân hồi. Chánh văn: Tám vị vương tử đó có oai đức tự tại, đều lãnh trị bốn châu thiên hạ. Nghe vua cha xuất gia chứng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bỏ ngôi vua, cũng xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc Pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn đức Phật vun trồng các cội lành. Giảng: Tám vị vương tử có oai đức tự tại cai trị bốn châu thiên hạ, là chỉ cho tám thức có công năng phân biệt khắp tất cả pháp. Mắt thì nhìn trước, ngó sau, xem phải, thấy trái phân biệt sắc pháp rất tinh tường. Tai thì nghe âm thanh của bốn phía, phân biệt trầm bổng, hay dở... một cách rành rẽ. Mũi ngửi mùi từ mọi nơi bay tới phân biệt thơm, thúi, tanh, hôi... một cách rõ ràng. Khi nghe vua cha xuất gia, tám vị vương tử liền xuất gia theo; ý nói khi tàng thức chuyển thành Như Lai tàng thì tám thức cũng chuyển thành trí, có nghĩa là chúng sanh khi chưa xuất gia (mê) thì có tám thức phân biệt, rồi tạo nghiệp nên phải luân hồi trong lục đạo. Khi ngộ thì tám thức quy về với tánh giác, không còn phân biệt lăng xăng nữa mà vẫn biết rõ ràng (liễu liễu thường tri) đó là trí. Chánh văn: 21. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Nói Kinh đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh chánh định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm chẳng động. 22. Khi ấy trời mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa cùng hoa ma-ha mạn-thù-sa để rải trên đức Phật và hàng đại chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động. Lúc đó trong hội, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân, phi nhân cùng các vị tiểu vương, các vị Chuyển luân thánh vương v.v... các đại chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật. 23. Bấy giờ, đức Như Lai từ tướng lông trắng giữa chặng mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương đông, như nay đương thấy ở cõi Phật đây. Di-lặc nên biết! Khi đó trong hội có hai mươi ức Bồ-tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ-tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh sáng này. Khi ấy có vị Bồ-tát hiệu Diệu Quang có tám trăm người đệ tử. Giảng: Đoạn này Bồ-tát Văn-thù lặp lại những hiện tướng lạ sau khi Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Tuy thời gian khác nhau, nhưng tướng hiện không khác. Song, xưa kia là Bồ-tát Diệu Quang, nay trong hội Linh Sơn là Bồ-tát Văn-thù, Văn-thù chính là tên sau của Bồ-tát Diệu Quang thuở trước (Diệu Quang có nghĩa là ánh sáng nhiệm mầu, tức là trí căn bản có sẵn nơi mỗi chúng sanh). Chánh văn: 24. Bấy giờ, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định mà dậy, vì Diệu Quang Bồ-tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi. 25. Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sanh lười mỏi. Giảng: Một tiểu kiếp bằng 16.800.000 năm, sáu chục tiểu kiếp bằng 1.008.000.000 năm. Phật nói pháp trải qua trên một tỷ năm mà Phật cùng với thính chúng thân tâm đều không lay động, không lười mỏi, thấy thời gian như chừng một bữa ăn. Thật là kỳ diệu! Chúng ta chỉ ngồi nghe pháp liên tục khoảng chừng bốn giờ là đã thấy lười mỏi. Thính chúng ở hội này nghe pháp trên một tỷ năm mà thân tâm không lay động, không lười mỏi! Điều này, nếu chúng ta hiểu theo nghĩa thông thường thì không thấy được chân lý, học kinh Đại thừa nếu kẹt trên văn tự thì không thể hiểu nổi. Ở đây, Phật vì Bồ-tát Diệu Quang nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, mà kinh Diệu Pháp Liên Hoa là chỉ cho tri kiến Phật (Phật tánh) có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Tri kiến Phật không hình, không tướng, không sanh, không diệt, vượt ngoài không gian và thời gian, Phật nói kinh Pháp Hoa để chỉ tri kiến Phật, thì thời gian và không gian đối với tri kiến Phật là vô nghĩa; nên nói tâm bất động, thân không ăn uống, ngồi lâu cũng chẳng lười mỏi. Nhập được Diệu Pháp Liên Hoa là thể nhập tri kiến Phật của chính mình. Tri kiến Phật vốn không hình tướng, không sanh diệt thì dựa vào đâu để phân biệt thời gian lâu mau, không gian rộng hẹp? Do đó nói sáu mươi tiểu kiếp thấy như trong khoảng bữa ăn, vì vậy các thiền sư thường nói nhất niệm vạn niên, một niệm bằng vạn năm hay vạn năm bằng một niệm là để nói lên ý nghĩa dung nhiếp của pháp tánh. Chánh văn: 26. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói Kinh đó rồi, liền ở trong chúng ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, và trời, người, a-tu-la, mà tuyên rằng: “Hôm nay vào nửa đêm, Như Lai sẽ nhập Vô dư Niết-bàn.” Giảng: Tại sao đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi nói kinh Pháp Hoa xong, liền tuyên bố giữa đêm sẽ vào Vô dư Niết-bàn? Đây tôi thí dụ như chúng ta có một nghề thiện xảo, muốn để lại cho đời. Nhưng người đang học chưa đủ khả năng để được truyền tuyệt kỹ. Khi thấy họ đủ khả năng thọ nhận, mới trao dạy hết nghề. Và khi đã trao dạy tận tình rồi thì coi như hết bổn phận. Bổn phận đã hết, ở lại là thừa. Cũng vậy bản hoài của chư Phật ra đời cốt là làm sao chỉ cho chúng sanh nhận được tri kiến Phật của chính mình. Mà nhận được tri kiến Phật đó là cái nhân tu; dẹp sạch vô minh vọng tưởng, tri kiến Phật thường hiện tiền, đó là quả Phật. Mục đích cứu cánh mà Phật muốn đưa chúng sanh đến, đó là thể nhập tri kiến Phật. Nhưng vì quá cao, nói ra sợ người nghe không hiểu, hoang mang nên Phật mới nói tam thừa. Vì Thanh văn nói Tứ đế, vì Duyên giác nói Thập nhị nhân duyên, vì Bồ-tát nói pháp Lục độ ba-la-mật. Mục tiêu cuối cùng mà Phật muốn đưa chúng sanh đến, đó là Phật thừa, tức ngộ nhập tri kiến Phật mà kinh Pháp Hoa chỉ dạy. Sở dĩ Phật muốn chỉ từ trước mà chưa chỉ được, vì là pháp khó hiểu khó tin; đợi khi căn cơ của chúng sanh thuần thục thì ngài nói. Khi nói xong Phật thừa, chúng sanh đã nhận biết được, bản nguyện viên mãn nên ngài nhập Niết-bàn. Chánh văn: Khi đó có vị Bồ-tát tên Đức Tạng, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền thọ ký cho, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Ông Đức Tạng Bồ-tát này kế đây sẽ thành Phật, hiệu là Tịnh Thân Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng Chánh giác.” Đức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô dư Niết-bàn. Giảng: Tại sao Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa với Bồ-tát Diệu Quang mà lại thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng? Bồ-tát Diệu Quang là trí căn bản, mà trí căn bản tức là Phật tánh tròn sáng đâu cần thọ ký. Còn Bồ-tát Đức Tạng là chỉ cho kho công đức khi đã tu hành viên mãn tức là sai biệt trí, tương tự như Bồ-tát Phổ Hiền giáo hóa làm lợi ích cho chúng sanh, khi đầy đủ công đức rồi thì thành Phật. Vì vậy Phật nói pháp là phải nói với Bồ-tát Diệu Quang và khi thọ ký thì phải thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng. Chánh văn: 27. Sau khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ-tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói. 28. Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều học với ngài Diệu Quang, ngài Diệu Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị vương tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật đều thành Phật đạo. Vị thành Phật rốt sau hết, hiệu là Nhiên Đăng. Giảng: Sau khi Phật diệt độ, Bồ-tát Diệu Quang trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa và vì người diễn nói. Trong số người được ngài giáo hóa có tám vị vương tử con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh. Tám vương tử có đủ lòng tin đối với đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và đều được thành Phật, vị rốt sau thành Phật hiệu là Nhiên Đăng. Nhiên là đốt, Đăng là đèn. Nhiên Đăng là thắp đèn phát ra ánh sáng, ánh sáng đó phát ra từ trí căn bản hướng dẫn tám thức, rũ sạch vọng tưởng phân biệt, trở nên trí tuệ tròn sáng gọi là thành Phật. Chánh văn: 29. Trong hàng tám trăm người đệ tử có một người tên Cầu Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu Danh, người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm ngàn muôn ức đức Phật mà cúng dường cung kính, tôn trọng khen ngợi. 30. Di-lặc nên biết! Lúc đó Diệu Quang Bồ-tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đấy. Còn Cầu Danh Bồ-tát là Ngài đấy. Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ, hôm nay đức Phật Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Giảng: Phần kết thúc khiến cho chúng ta có những nghi vấn: 1. Bồ-tát Diệu Quang từ trước đã giáo hóa cho bao nhiêu Bồ-tát thành Phật rồi, mà sao bây giờ ngài vẫn còn làm Bồ-tát hiệu là Văn-thù? 2. Trong hội Pháp Hoa, Phật thọ ký cho vô số Bồ-tát thành Phật, thậm chí Bồ-tát Cầu Danh tham ưa danh lợi, tu hành lôi thôi mà cũng được thọ ký cho sau này sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc. Tại sao Phật không thọ ký cho Bồ-tát Văn-thù? Kinh Lăng-già có nêu lên năm pháp là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như. Nếu còn vọng tưởng tức là còn thức phân biệt, mà Bồ-tát Di-lặc tượng trưng cho thức phân biệt, phân biệt danh, phân biệt tướng nên không thuộc kinh, được gọi là Cầu Danh. Tuy cầu danh, nhưng nhờ có duyên lành nên gặp Phật và tu hành. Khi tu biết rõ vọng tưởng không thật, đó là chánh trí, đã có chánh trí thì trở lại như như tức thành Phật. Mặc dầu Bồ-tát Cầu Danh (thức) chạy theo danh tướng bên ngoài, nhưng nếu khéo chuyển thì sẽ thành trí, do đó mà được thọ ký thành Phật. Còn Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho trí căn bản, mà trí căn bản là tánh Phật, đã là tánh Phật còn thọ ký thành Phật gì nữa? Ý nghĩa tổng quát ở đây nêu bày cho chúng ta thấy rằng tất cả mọi chúng sanh đều có sẵn tánh giác, nhờ khéo tu, chuyển thức thành trí, công hạnh độ sanh viên mãn thì thành Phật. Đó là tượng trưng cho trí căn bản và trí sai biệt. trí sai biệt chỉ khi thành Phật mới có, còn trí căn bản mọi người ai cũng có sẵn. Căn cứ vào đâu mà nói mỗi người ai cũng có trí căn bản? Thí dụ có một nắm bổi đang bốc khói, chúng ta biết ngay dưới nắm bổi đó có lửa, hoặc là tàn thuốc hay là cục than. Cũng vậy, nếu chúng ta không có trí căn bản thì động cơ nào thúc đẩy chúng ta phát tâm Bồ-đề cầu giác ngộ, xuất gia học đạo? Phát tâm Bồ-đề là phát tâm giác, mà phát tâm giác là phải có sẵn động cơ giác là trí căn bản. Cũng như nắm bổi bốc khói là do có lửa sẵn mới phát cháy. Tại sao ai cũng có trí căn bản mà người được thôi thúc phát Bồ-đề tâm đi tu, người thì không phát tâm tu hành? Thí dụ đêm rằm có trăng sáng, nhưng trời chuyển mưa, mây đen kịt, lúc đó trăng vẫn sáng, nhưng vì mây che nên chúng ta thấy bầu trời tối. Nếu chỗ nào mây thưa thì thấy được ánh trăng mờ mờ. Cũng vậy, ai cũng có trí căn bản, nhưng vì vô minh phiền não quá dày nên nó thôi thúc không nổi. Với người vô minh phiền não hơi mỏng, nó liền có công năng hiện ra. Chẳng hạn như những người tu, vô minh có phần mỏng nên trí căn bản mới thúc đẩy phát tâm cầu giác ngộ giải thoát mà đi tu. Nếu không có động cơ thúc đẩy, dễ gì kham chịu chay lạt, thức khuya, dậy sớm sống phạm hạnh để tu hành! Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, người thôi thúc khuyến khích Thiện Tài đồng tử đi tham vấn năm mươi ba vị thiện tri thức là Bồ-tát Văn-thù. Khi tham vấn đến vị cuối cùng thì gặp Bồ-tát Phổ Hiền, và ngay lúc đó Bồ-tát Văn-thù cũng xuất hiện. Như vậy để thấy kinh Pháp Hoa cũng như kinh Hoa Nghiêm có chỗ gặp nhau là trí căn bản thúc đẩy người phát tâm cầu giác ngộ, đi tu dẹp hết vô minh phiền não rồi mới thành Phật. Do đó nói Bồ-tát Diệu Quang (trí căn bản) là thầy của chư Phật, dạy các Bồ-tát tu thành Phật hết mà chính ngài chưa thành. Nếu không thông lý căn bản này thì không dễ gì phá được cái nghi trên và biết phương hướng để tu hành. Chánh văn: Bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát ở trong đại chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 31. Ta nhớ thuở quá khứ Vô lượng vô số kiếp Có Phật Nhân Trung Tôn Hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Đức Thế Tôn nói pháp Độ vô lượng chúng sanh Vô số ức Bồ-tát Khiến vào trí tuệ Phật. 32. Khi Phật chưa xuất gia Có sanh tám vương tử Thấy Đại Thánh xuất gia Cũng theo tu phạm hạnh. Giảng: Bồ-tát Văn-thù lặp lại lời giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc và hội chúng, là thời quá khứ có Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói pháp độ vô số chúng được thành Phật. Và tám vương tử thấy ngài đi tu cũng xuất gia theo ngài. Chánh văn: 33. Phật nói kinh Đại thừa Tên là Vô Lượng Nghĩa Ở trong hàng đại chúng Mà vì rộng tỏ bày. Phật nói Kinh ấy rồi Liền ở trong pháp tòa Xếp bằng nhập chánh định Tên Vô lượng nghĩa xứ Trời rưới hoa mạn-đà Trống trời tự nhiên vang Các trời, rồng, quỷ, thần Cúng dường đấng Nhân Tôn Tất cả các cõi Phật Tức thời vang động lớn. Giảng: Sau khi Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa cho đại chúng nghe xong, ngài liền nhập chánh định và được trời, rồng, quỷ, thần cúng dường hoa, nhạc. Chánh văn: 34. Phật phóng sáng giữa mày Hiện các việc hy hữu Ánh sáng chiếu phương đông Muôn tám nghìn cõi Phật Bày sanh tử nghiệp báo Của tất cả chúng sanh. Lại thấy các cõi Phật Dùng các báu trang nghiêm Màu lưu ly, pha lê Đây bởi Phật quang soi. 35. Lại thấy những trời, người Rồng, thần, chúng dạ-xoa Càn-thát, khẩn-na-la Đều cúng dường Phật mình. Giảng: Nương hào quang của Phật, Bồ-tát Văn-thù thấy nghiệp báo của các loài chúng sanh, những vật báu trang nghiêm cõi Phật, và thấy trời, người, rồng... cúng dường Phật mình ở một muôn tám nghìn cõi Phật. Chánh văn: 36. Lại thấy các Như Lai Tự nhiên thành Phật đạo Màu thân như núi vàng Đoan nghiêm rất đẹp mầu Như lưu ly trong sạch Hiện ra tượng chân kim Thế Tôn trong đại chúng Dạy nói nghĩa thâm diệu. Giảng: Bồ-tát Văn-thù thấy các Như Lai tự nhiên thành Phật có thân tướng đoan nghiêm, nói pháp thâm diệu. Chánh văn: 37. Mỗi mỗi các cõi Phật Chúng Thanh văn vô số Nhân Phật quang soi sáng Đều thấy đại chúng kia. Hoặc có các Tỳ-kheo Ở tại trong núi rừng Tinh tấn giữ tịnh giới Dường như gìn châu sáng. 38. Lại thấy các Bồ-tát Bố thí nhẫn nhục thảy Số đông như hằng sa Đây bởi sáng Phật soi. Lại thấy hàng Bồ-tát Sâu vào các thiền định Thân tâm lặng chẳng động Để cầu đạo Vô thượng. Lại thấy các Bồ-tát Rõ tướng pháp tịch diệt Đều ở tại nước mình Nói pháp cầu Phật đạo. Giảng: Bồ-tát Văn-thù thấy ở mỗi cõi Phật có hàng Thanh văn, Tỳ-kheo ở chỗ vắng tu tịnh hạnh, Bồ-tát tu bố thí, thiền định, nói pháp để cầu Phật đạo. Chánh văn: 39. Bấy giờ bốn bộ chúng Thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng Hiện sức thần thông lớn Tâm kia đều vui mừng Mỗi người tự hỏi nhau Việc này nhân duyên gì? Giảng: Tứ chúng thấy Phật hiện thần thông, vừa vui mừng vừa nghi vấn. Chánh văn: 40. Đấng của trời, người thờ Vừa từ chánh định dậy Khen Diệu Quang Bồ-tát: Ông là mắt của đời Mọi người đều tin về Hay vâng giữ tạng pháp Như pháp của ta nói Chỉ ông chứng biết được. Đức Phật đã ngợi khen Cho Diệu Quang vui mừng Liền nói kinh Pháp Hoa Trải sáu mươi tiểu kiếp Chẳng rời chỗ ngồi ấy Ngài Diệu Quang pháp sư Trọn đều hay thọ trì Pháp thượng diệu của Phật. 41. Phật nói kinh Pháp Hoa Cho chúng vui mừng rồi Liền chính trong ngày đó Bảo hàng chúng trời, người Các pháp “nghĩa thật tướng” Đã vì các ông nói Nay ta giữa đêm này Sẽ vào cõi Niết-bàn Phải một lòng tinh tấn Rời các sự buông lung Các Phật rất khó gặp Ức kiếp được một lần. Giảng: Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất định, khen Bồ-tát Diệu Quang có khả năng thọ trì diệu pháp cao thượng, nên ngài vì Bồ-tát Diệu Quang mà nói kinh Pháp Hoa. Và sau khi nói Kinh xong, Phật cho biết là sẽ nhập Niết-bàn, ngài khuyên chúng nên tinh tấn tu hành, chớ có buông lung. Chánh văn: 42. Các con của Phật thảy Nghe Phật sắp nhập diệt Thảy đều lòng buồn khổ Phật sao gấp diệt vậy? Đấng thánh chúa Pháp vương An ủi vô lượng chúng: Nếu lúc ta diệt độ Các ông chớ lo sợ! Đức Tạng Bồ-tát đây Tâm đã được thông thấu Nơi vô lậu thật tướng Kế đây sẽ thành Phật Tên hiệu là Tịnh Thân Cũng độ vô lượng chúng. Giảng: Tứ chúng nghe Phật sắp Niết-bàn, lấy làm buồn khổ. Phật an ủi là sau khi Phật diệt độ, có Bồ-tát Đức Tạng tâm thấu suốt được thật tướng, sẽ thành Phật tiếp tục giáo hóa chúng sanh. Chánh văn: 43. Đêm đó Phật diệt độ Như củi hết, lửa tắt Chia phân các xá-lợi Mà xây vô lượng tháp. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni Số đông như hằng sa Lại càng thêm tinh tấn Để cầu đạo Vô thượng. Giảng: Phật diệt độ, xá-lợi Phật được xây tháp để cúng dường, chúng càng thêm tinh tấn cầu đạo Vô thượng. Chánh văn: 44. Diệu Quang pháp sư ấy Vâng giữ Phật pháp tạng Trong tám mươi tiểu kiếp Rộng nói kinh Pháp Hoa. Tám vị vương tử đó Được Diệu Quang dạy bảo Vững bền đạo Vô thượng Sẽ thấy vô số Phật Cúng dường các Phật xong Thuận theo tu đại đạo Nối nhau được thành Phật Chuyển thứ thọ ký nhau. Đấng Phật rốt sau cả Hiệu là Phật Nhiên Đăng Đạo sư của thiên tiên Độ thoát vô lượng chúng. Giảng: Bồ-tát Diệu Quang vâng giữ pháp tạng Phật, nói kinh Pháp Hoa độ cho vô số chúng, trong đó có tám vương tử đầy đủ lòng tin với đạo Vô thượng và sẽ được thành Phật, vị rất sau hiệu Nhiên Đăng. Chánh văn: 45. Diệu Quang pháp sư đó Có một người đệ tử Tâm thường cưu biếng trễ Tham ưa nơi danh lợi Cầu danh lợi không nhàm Thường đến nhà sang giàu Rời bỏ việc tụng học Bỏ quên không thông thuộc Vì bởi nhân duyên ấy Nên gọi là Cầu Danh Cũng tu các nghiệp lành Được thấy vô số Phật Cúng dường các đức Phật Thuận theo tu đại đạo Đủ sáu ba-la-mật Nay gặp đấng Thích-ca Sau đây sẽ thành Phật Hiệu rằng: Phật Di-lặc Rộng độ hàng chúng sanh Số đông đến vô lượng. Giảng: Bồ-tát Văn-thù nhắc lại chuyện xưa, Bồ-tát Diệu Quang có người đệ tử tham ưa danh lợi tên là Cầu Danh, nhờ có duyên lành nên gặp chư Phật, tu pháp Lục độ, nay gặp Phật Thích-ca giáo hóa cũng sẽ thành Phật. Chánh văn: 46. Sau Phật kia diệt độ Lười biếng đó là Ngài Còn Diệu Quang pháp sư Nay thời chính là ta. Ta thấy Phật Đăng Minh Điềm sáng trước như thế Cho nên biết rằng nay Phật muốn nói Pháp Hoa. Tướng nay như điềm xưa Là phương tiện của Phật Nay Phật phóng ánh sáng Giúp bày nghĩa thật tướng Các người nay nên biết Chắp tay một lòng chờ Phật sẽ rưới nước pháp Đầy đủ người cầu đạo Các người cầu ba thừa Nếu có chỗ nghi hối Phật sẽ dứt trừ cho Khiến hết không còn thừa. Giảng: Bồ-tát Di-lặc trong đời này tức là Cầu Danh thuở xưa và Bồ-tát Văn-thù thời nay là Bồ-tát Diệu Quang thuở xưa. Bồ-tát Văn-thù bảo cho hội chúng biết, nay Phật hiện những điềm lành giống như thuở xưa là Phật sắp nói kinh Pháp Hoa, chúng nên chờ để nghe. Đặc biệt là hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát sẽ được dứt trừ nghi mà thành tựu Phật thừa. Chúng ta thấy ở phẩm này nêu lên các vị Bồ-tát tượng trưng. Mở đầu là Bồ-tát Di-lặc nghi vấn những hiện tướng kỳ diệu mà Phật hiện ra trước khi nói kinh Vô Lượng Nghĩa và được Bồ-tát Văn-thù giải đáp. Như vậy để thấy kinh Pháp Hoa chỉ thẳng tri kiến Phật (Phật tánh) của mỗi người, nếu dùng thức phân biệt thì không thể thấy biết mà phải nhờ trí căn bản mới nhận được. Đoạn sau Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc bằng một câu chuyện tiền kiếp: Cầu Danh ngày xưa chính là Bồ-tát Di-lặc ngày nay và Bồ-tát Diệu Quang ngày xưa dạy cho các Bồ-tát thành Phật mà ngài không được thọ ký thành Phật chính là Bồ-tát Văn-thù ngày nay. Văn-thù là trí căn bản thúc đẩy con người phát tâm Bồ-đề, còn Cầu Danh là thức, nếu khéo tu đúng theo lời Phật dạy thì thức cũng chuyển thành trí. Khi mê, vọng thức chạy theo danh tướng; khi tỉnh giác, chánh trí hiện, không chạy theo danh tướng liền trở thành như như. Cho nên ngài Cầu Danh được thọ ký sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc sau Phật Thích-ca. Đó là mục tiêu chánh yếu mà chư Phật ra đời để dạy cho chúng ta. Phẩm này Phật chỉ dùng hình ảnh biểu trưng để hiển bày lý chân thật tuyệt đối là tri kiến Phật, chứ không dùng ngôn ngữ để diễn tả. Vì vậy chúng ta chớ kẹt trên ngôn ngữ mà hiểu kinh Pháp Hoa. II- PHẨM PHƯƠNG TIỆN Phương tiện là tùy theo sở cầu trong mỗi giai đoạn của người mà tạm thời làm lợi ích. Nói cách khác, phương tiện là từng bậc thang đưa người đi từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ chỗ tạm đến chỗ chân thật rốt ráo. Trí tuệ Phật viên mãn nên có vô số phương tiện hướng dẫn chúng sanh từ mê tới giác là chỗ cứu cánh chân thật. Chúng ta thấy ở phẩm Tựa, Phật nhập định, hiện tướng lạ, không nói một lời... để thính chúng nương tướng lạ đó mà ngầm nhận ra thâm ý Phật muốn chỉ. Tới phẩm Phương Tiện, ngài mới bắt đầu dùng ngôn giáo. Tôi đi xa hơn một chút, theo tinh thần phán giáo của ngài Thiên Thai thì kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa là hai bộ kinh được nói ở đầu và cuối đời đức Phật. Ngài thí dụ: Mặt trời khi mới mọc, ánh sáng chiếu thẳng trên đỉnh núi và khi sắp lặn, ánh sáng cũng chiếu thẳng trên đỉnh núi. Khi Phật mới thành đạo nói kinh Hoa Nghiêm và sắp Niết-bàn nói kinh Pháp Hoa. Hai kinh được nói ở hai thời điểm khác nhau mà chỉ thú không hai. Kinh Hoa Nghiêm ở phẩm Nhập Pháp Giới được coi là tối quan trọng. Trong phẩm này, Thiện Tài đồng tử được Bồ-tát Văn-thù khuyến khích đi tham vấn năm mươi ba vị thiện hữu tri thức. Đầu tiên Thiện Tài đến ngọn Diệu Phong để tham vấn Tỳ-kheo Đức Vân. Nhưng lên tận đỉnh Diệu Phong, Thiện Tài không gặp Tỳ-kheo Đức Vân. Lúc trở xuống thì gặp ngài ở ngọn Biệt Phong, chừng đó mới đàm đạo tham vấn. Cũng như kinh Pháp Hoa, mở đầu phẩm Tựa, đức Phật nhập định hiện tướng lạ, không nói. Qua phẩm Phương Tiện, Phật xả định, rồi tán thán pháp Phật vi diệu nhiệm mầu, khó nói, khó hiểu, khó tin, chừng đó mới có ngôn ngữ. Như vậy, kinh Hoa Nghiêm cũng như kinh Pháp Hoa đều nói rằng chỗ cứu cánh chân thật (pháp thân hay tri kiến Phật) thì bặt ngôn ngữ, bởi nói năng không thể hiển bày được. Vì vậy phẩm này Phật xuất định, dùng ngôn ngữ nói cho hội chúng nghe để dìu dắt chúng sanh từ thấp đến cao nên gọi là Phương tiện. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo ngài Xá-lợi-phất: Trí tuệ của các đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí tuệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh văn cùng Bích-chi Phật đều không biết được. Vì sao? Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức vô số các đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dõng mãnh, tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu. Xá-lợi-phất! Từ khi ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và ba-la-mật. Xá-lợi-phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, đức vô lượng vô ngại, lực vô sở úy, thiền định, giải thoát tam-muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có. Xá-lợi-phất! Như Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ êm dịu vui đẹp lòng chúng. Xá-lợi-phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, đức Phật thảy đều trọn nên. Giảng: Phẩm Tựa, đức Phật hiện điềm lành rồi nhập chánh định Vô lượng nghĩa xứ, im lặng không nói. Nay thấy căn cơ của thính chúng đã thuần thục, Phật xuất định giảng nói. Trước hết, ngài tán thán ca ngợi với tôn giả Xá-lợi-phất là trí tuệ của chư Phật sâu xa vô lượng nên khó nói, khó hiểu, khó vào. Vì vậy mà hàng Thanh văn, Bích-chi Phật không thể hiểu được. Sở dĩ đức Phật được trí tuệ sâu rộng mà tất cả người khác không thể biết được, là vì ngài đã từng gần gũi vô số đức Phật, tu vô lượng pháp, dõng mãnh, tinh tấn, tiếng tốt đồn khắp... Nên ngài mới được pháp sâu rộng chưa từng có và tùy theo thời cơ mà đem chỉ dạy ý thú sâu xa khó hiểu đó cho chúng sanh. Chúng ta thấy rõ Phật nói lên phương tiện ngài sử dụng. Từ khi thành Phật, Như Lai có đầy đủ phương tiện, thấy biết tận nguồn ngọn tất cả pháp nên ngài đã dùng nhân duyên, thí dụ, ngôn giáo và vô số phương tiện khác nhau để dìu dắt chúng sanh, khiến cho họ xa lìa kiến chấp. Phật nói rằng tri kiến Phật rộng lớn sâu xa, không thể đo lường được nên gọi là đức vô lượng, không có cái gì làm chướng ngại được nên gọi là vô ngại, về sức thì được vô sở úy, tức là không sợ sệt, được thiền định, được giải thoát rất sâu không ngằn mé. Tức là trí tuệ Phật ở thế gian chưa từng có. Vì tất cả pháp thế gian có đều là tương đối, đã là tương đối thì có sanh diệt. Trí tuệ Phật là cái không sanh không diệt nên nói thế gian chưa từng có. Chánh văn: 2. Thôi Xá-lợi-phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy. Giảng: Tại sao đức Phật đang khen ngợi trí tuệ của chư Phật, tới đây ngài lại không muốn nói, bảo: Thôi, Xá-lợi-phất, chẳng cần nói nữa. Vì lý do gì? Vì pháp khó nói, khó hiểu, khó tin, chỉ Phật với Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp. Còn hàng Bồ-tát, Duyên giác, La-hán đều không thể thấy như Phật. Bởi trình độ chư Phật ngang nhau mới thấy biết như nhau; còn phàm phu chúng ta, mọi thấy biết đều sai lầm. Thí dụ như cái thân năm uẩn này, thấy nó là thật ngã, là của ta... Với trí Bát-nhã thấy thân người do năm ấm giả hợp mà thành, không có chủ thể cố định. Bởi không có chủ thể cố định nên nói là vô ngã, là tạm bợ, huyễn hóa. Các pháp ở thế gian, với người mê thì thấy thế này, còn người ngộ lại thấy khác. Nhưng ngộ cũng tùy theo trình độ, như Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát mỗi chỗ ngộ đều khác nhau. Nhưng đến cái ngộ của Phật mới thấy tột cùng, dung hợp tất cả không còn sai biệt. Vì thế ở đây nói chỉ có Phật với Phật mới thấy các pháp đúng như thật thể của nó, cho nên nói tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy. Thế nào là tướng, thế nào là tánh? Phàm vạn pháp trên thế gian này được nhìn qua hai mặt tướng và tánh. Thí dụ: Lửa là một pháp, khi cháy, ánh lửa hiện ra các màu hoặc đỏ, hoặc xanh, hoặc cam, ta thấy tướng trạng màu sắc của lửa có sai khác, nhưng tánh nóng của lửa không khác, vẫn là nóng. Thế nên, tướng lửa có đổi thay mà tánh lửa thì không biến dịch. Thế nào là thể, lực... quả, báo? Phàm tất cả mọi sự vật đều có cái thể chung, chẳng hạn toàn thân con người gọi là Thể, do thân này hoạt động có tác dụng có sức mạnh gọi là Lực, do hoạt động tạo tác nên có nghiệp; bởi có tạo tác nên mới thành Nhân, nhân hội đủ Duyên thì thành Quả, mà quả kết tựu đúng như nhân đã tạo gọi là Báo, rõ ràng trước sau rốt ráo như vậy không sai biệt. Đó là đứng trên mặt tướng dụng của các pháp nhìn thì thấy rõ ràng như vậy. Nếu nhìn toàn thân con người bằng trí tuệ Bát-nhã thì đầu, mình, tay, chân, mắt, tai... tất cả đều do tứ đại duyên hợp mà có giả tướng ấy, không một bộ phận nào trong thân là tướng chân thật. Nên dù nói tướng, nói tánh, nói thể, nói lực, nói tác, nói nhân, nói duyên, nói quả, nói báo, nói rốt ráo, tất cả đều là ngôn ngữ giả lập. Đã là ngôn ngữ giả lập thì tự tánh nó là không, bởi tự tánh là không nên nói tịch diệt. Nếu nhìn toàn thân con người với tâm nhất như không động, không phân biệt thì thấy con người là con người. Hoặc mắt thấy sắc, sắc vẫn là sắc; tai nghe âm thanh, âm thanh vẫn là âm thanh; hương, vị, xúc, pháp cũng như vậy, không phân tích chia chẻ. Bởi nhìn tất cả pháp ở thế gian này với tâm như như thì thấy các pháp là như, không có chút sai biệt. Thí dụ có một thỏi vàng trên bàn, mọi người đều thấy thỏi vàng là thỏi vàng, không thêm một niệm nào khác thì nó là như. Nếu thấy thỏi vàng liền cho thỏi vàng quý có giá trị bạc triệu thì lòng tham dấy khởi, nhiều niệm bất chánh theo đó mà sanh... Vậy, nếu tâm như thì mọi cảnh đều như. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, lúc Lục Tổ đến chùa Pháp Tánh với hình thức cư sĩ, có hai ông Sa-di đứng trước chùa dưới cây phướn cãi nhau: - Đố huynh cái gì động? - Gió động. - Phướn động! Người nói gió động, người nói phướn động, hai người cãi nhau không ngã lẽ. Lục Tổ nói: - Tâm nhân giả động! Sở dĩ chúng ta cãi nhau hoài là tại tâm chúng ta không nhất như, không thấy các pháp vốn là như vậy. Cảnh vật đối với tâm người đạt đạo giống như mặt gương sáng, có người thì hiện ảnh người, có vật thì hiện ảnh vật, có cái nào hiện cái nấy rõ ràng không tạp loạn. Đó là do tâm như nên mọi cảnh đều như. Nếu tâm dấy niệm phân biệt thì thấy người thấy vật sai khác, rồi tranh chấp nhau sanh vô số khổ đau phiền lụy. Người thấy tất cả pháp như vậy là người hằng sống với tri kiến Phật, đó là ý nghĩa Thập như thị. Nếu tâm nhất như thì cảnh như. Cảnh như do tâm như. Đồng nghĩa với tâm an thì cảnh cũng an, tâm bất an thì cảnh cũng bất an, đó là một lẽ thật mà ít người chấp nhận. Chánh văn: Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 3. Đấng Thế Hùng khó lường Các trời cùng người đời Tất cả loài chúng sanh Không ai hiểu được Phật. Trí lực, vô sở úy Giải thoát các tam-muội Các pháp khác của Phật Không ai so lường được. Vốn từ vô số Phật Đầy đủ tu các đạo Pháp nhiệm mầu rất sâu Khó thấy khó rõ được. Trong vô lượng ức kiếp Tu các đạo đó rồi Đạo tràng được chứng quả Ta đều đã thấy biết. Quả báo lớn như vậy Các món tánh tướng nghĩa Ta cùng mười phương Phật Mới biết được việc đó. Giảng: Phật lặp lại ý trước, chỗ đạt được của Phật, các loài chúng sanh từ trời, người... không ai có thể hiểu và so lường được. Sở dĩ ngài được pháp như vậy là do ngài tu đủ các pháp mầu sâu xa trong vô lượng kiếp, rồi chứng quả tại đạo tràng nên mới thấu suốt như vậy. Vì thế tánh, tướng, nghĩa của pháp đó chỉ có Phật với Phật ở mười phương mới biết được. Chánh văn: 4. Pháp đó không chỉ được Vắng bặt tướng nói năng Các loài chúng sanh khác Không có ai hiểu được Trừ các chúng Bồ-tát Người sức tin bền chặt Các hàng đệ tử Phật Từng cúng dường các Phật Tất cả lậu đã hết Trụ thân rốt sau này Các hạng người vậy thảy Sức họ không kham được. Giả sử đầy thế gian Đều như Xá-lợi-phất Cùng suy chung so lường Chẳng lường được Phật trí Chánh sử khắp mười phương Đều như Xá-lợi-phất Và các đệ tử khác Cũng đầy mười phương cõi Cùng suy chung so lường Cũng lại chẳng biết được. Bậc Duyên giác trí lanh Vô lậu thân rốt sau Cũng đầy mười phương cõi Số đông như rừng tre, Hạng này chung một lòng Trong vô lượng ức kiếp Muốn xét Phật thật trí Chẳng biết được chút phần. Bồ-tát mới phát tâm Cúng dường vô số Phật Rõ thấu các nghĩa thú Lại hay khéo nói pháp Đông đầy mười phương cõi Như lúa, mè, tre, lau Một lòng dùng trí mầu Trải số kiếp hằng sa Thảy đều chung suy lường Chẳng biết được trí Phật. Hàng bất thối Bồ-tát Số đông như hằng sa Một lòng chung suy cầu Cũng lại chẳng hiểu được. Giảng: Pháp mà Phật chứng thì không ngôn ngữ nào có thể diễn tả được, nên nói vắng bặt tướng nói năng. Trong thiền sử Trung Hoa có thiền sư Đả Địa, bên ngài luôn luôn có cây gậy. Nếu có thiền khách đến tham vấn, bất cứ hỏi câu gì, ngài đều cầm gậy đập xuống đất một cái rồi thôi, không nói gì hết. Một hôm có vị tăng lén lấy cây gậy đem giấu, rồi mới đến thưa: - Bạch Hòa thượng thế nào là Đạo? Ngài đưa tay lấy gậy, gậy không có, ngài há miệng, không nói câu nào! Thoáng nghe qua, chúng ta rất ngạc nhiên và thắc mắc sao ngài dốt cho tới không nói được một câu, hay miệng lưỡi ngài có tật không nói được? Chính vì tri kiến Phật là cái mà ngôn ngữ không thể diễn tả được, nếu diễn tả bằng lời được thì pháp đó là pháp đối đãi của thế gian. Cho nên, để khai thị pháp tuyệt đối (tri kiến Phật), ngài chỉ đập đất hoặc há miệng mà không nói. Qua pháp thoại này, tôi bình rằng: Muốn thấy mặt nước hồ phẳng, trước khi cá ăn móng. Cũng vậy, muốn thấy được thể thanh tịnh, bặt tướng nói năng thì trước khi dấy niệm phát ra ngôn ngữ, mới thấy được cái thể ấy. Vì vừa dấy niệm có ngôn ngữ là tâm động loạn không thể thấy được. Thế nên, hàng chúng sanh không ai hiểu nổi tri kiến Phật, trừ hàng Bồ-tát có lòng tin vững chắc mới có thể thấu hiểu. Đệ tử Phật như hàng A-la-hán đối với tri kiến Phật cũng không kham được. Giả sử tất cả người ở thế gian này, mỗi người trí tuệ siêu tuyệt bậc nhất như ngài Xá-lợi-phất, hợp lại để so lường, nghĩ về tri kiến Phật cũng không thể hiểu được. Hoặc người ở khắp mười phương thế giới, ai cũng có trí tuệ siêu tuyệt như trí tuệ của ngài Xá-lợi-phất, và hàng đệ tử khác ở khắp mười phương, chung họp tất cả trí tuệ đó để suy lường cũng không biết được tri kiến Phật. Tại sao vậy? Vì còn so lường. Trí tuệ Phật là chỗ tuyệt ngôn tuyệt lự, nếu còn đem trí để suy lường, dù trí có nhiều bao nhiêu cũng không hiểu nổi. Hàng Duyên giác trí lanh lợi, đầy mười phương họp lại nhiều như rừng tre, trải qua thời gian vô lượng kiếp muốn biết trí tuệ Phật cũng không có phần, vì suy lường nên không biết được. Cho đến hàng Bồ-tát mới phát tâm ở mười phương số nhiều như lúa mè, như tre lau dùng hết trí tuệ của mình, trải hằng sa kiếp để suy lường cũng không biết trí tuệ Phật. Kế nữa là hàng Bất thối Bồ-tát, nhiều như số cát sông Hằng một lòng chung suy nghĩ cũng không thể biết trí tuệ Phật. Chúng ta thấy, đối với trí tuệ Phật dù cho bất cứ hạng người nào từ A-la-hán đến Duyên giác, đến Bồ-tát mới phát tâm, đến Bồ-tát bất thối chuyển, nếu còn dùng trí suy cầu tìm hiểu đều không thể hiểu được. Như vậy, muốn biết trí tuệ Phật thì tâm phải nhất như, khi tâm như rồi thì cảnh cũng như mới hợp với trí tuệ Phật. Chánh văn: 5. Lại bảo Xá-lợi-phất Pháp nhiệm mầu rất sâu Vô lậu khó nghĩ bàn Nay ta đã được đủ Chỉ ta biết tướng đó Mười phương Phật cũng vậy. Xá-lợi-phất phải biết Lời Phật nói không khác Với pháp của Phật nói Nên sanh sức tin chắc Pháp của Phật lâu sau Cần phải nói chân thật. Bảo các chúng Thanh văn Cùng người cầu Duyên giác Ta khiến cho thoát khổ Đến chứng được Niết-bàn. Phật dùng sức phương tiện Dạy cho ba thừa giáo Chúng sanh nơi nơi chấp Dắt đó khiến ra khỏi. Giảng: Phật nói pháp sâu xa nhiệm mầu mà Phật đã được, chỉ có Phật biết và mười phương chư Phật cùng biết thôi. Phật khẳng định lời ngài nói và lời chư Phật nói đều giống nhau. Những lời Phật nói ra là lời chân thật, không giả dối, vì vậy nên tin chắc lời đó. Sở dĩ ngài nói ba thừa giáo là vì muốn cho những chúng sanh cầu Thanh văn, Duyên giác thoát khỏi khổ đau, được Niết-bàn. Ngài nói ba thừa để dẫn dắt họ phá mê chấp, đưa họ đến Niết-bàn an lạc, đó là phương tiện chứ không phải cứu cánh. Chánh văn: 6. Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh văn lậu tận A-la-hán, ngài A-nhã Kiều-trần-như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam cùng cận sự nữ, hạng người phát tâm Thanh văn, Duyên giác đều nghĩ rằng: “Hôm nay đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này: “Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh văn cùng Duyên giác không thể đến được.” Đức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết-bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu?” Giảng: Bấy giờ toàn chúng khởi nghi: Tại sao hôm nay đức Phật lại tán thán pháp của ngài được một cách nhiệt thành và tha thiết? Khi xưa, Phật dạy hàng Thanh văn tu pháp Tứ đế để được giải thoát, hàng Duyên giác tu Mười hai nhân duyên để được Niết-bàn; sao hôm nay Phật nói pháp của ngài cao siêu bậc nhất, không thể dùng trí tuệ của hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát suy lường mà hiểu đến được? Chánh văn: 7. Lúc ấy, ngài Xá-lợi-phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Nhân gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương tiện thứ nhất nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các đức Phật? Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin đức Thế Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà đức Thế Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu? Giảng: Ngài Xá-lợi-phất là người trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử Phật, nghe Phật nói như vậy ngài không hiểu, khởi nghi ngờ. Ngài biết đại chúng cũng nghi ngờ, nên thưa hỏi lý do gì mà Phật cứ ân cần tán thán phương tiện sâu xa nhiệm mầu khó hiểu như vậy? Xin Phật giảng nói. Chánh văn: Khi đó, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 8. Đấng Tuệ Nhật đại thánh Lâu mới nói pháp này, Tự nói pháp mình chứng Lực, vô úy, tam-muội, Thiền định, giải thoát thảy Đều chẳng nghĩ bàn được. Pháp chứng nơi đạo tràng Không ai hỏi đến được, Ý con khó lường được Cũng không ai hay hỏi. Không hỏi mà tự nói Khen ngợi đạo mình làm Các đức Phật chứng được Trí tuệ rất nhiệm mầu. Hàng vô lậu La-hán Cùng người cầu Niết-bàn Nay đều sa lưới nghi Phật cớ chỉ nói thế? Hạng người cầu Duyên giác Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni Các trời, rồng, quỷ, thần Và càn-thát-bà thảy Ngó nhau cưu lòng nghi Nhìn trông đấng Túc Tôn, Việc đó là thế nào? Xin Phật vì dạy cho! Trong các chúng Thanh văn Phật nói con hạng nhất Nay con nơi trí mình Nghi lầm không rõ được Vì là pháp rốt ráo Vì là đạo Phật làm Con từ miệng Phật sanh Chắp tay nhìn trông chờ. Xin ban tiếng nhiệm mầu Liền vì nói như thật, Các trời, rồng, thần thảy Số đông như hằng sa, Bồ-tát cầu thành Phật Số nhiều có tám muôn, Lại những muôn ức nước Vua Chuyển luân vương đến. Đều lòng kính chắp tay Muốn nghe đạo đầy đủ. Giảng: Sở dĩ ngài Xá-lợi-phất nói Con từ miệng Phật sanh, là vì Phật nói pháp, hàng đệ tử Thanh văn, Duyên giác nhân nghe tiếng pháp của Phật nói, tu được ngộ đạo phát sanh trí tuệ. Trí tuệ đó do lời dạy của Phật mà có. Thông thường người thế gian nhận thân tứ đại là mạng sống, người tu lấy trí tuệ làm mạng sống, vì vậy nên nói từ miệng Phật sanh ra mạng sống của mình. Đoạn này lặp lại ý trước, ngài Xá-lợi-phất và đại chúng nghi ngờ pháp mà Phật vừa ca ngợi tán thán, xin Phật giảng nói vì tất cả đại chúng đều muốn nghe. Chánh văn: 9. Khi đó, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi ngờ. Giảng: Đọc qua đoạn này, chúng ta thấy có cái gì mâu thuẫn. Tại sao Phật tự khen ngợi tán thán trí tuệ Phật đáo để, đến khi ngài Xá-lợi-phất thỉnh cầu Phật giảng nói, Phật lại nói: Thôi thôi, nói ra e các ông nghi ngờ kinh sợ! Nếu biết nói ra đệ tử nghi ngờ thì ngài đừng nói, tại sao trước nói rồi ngang đây bảo thôi thôi! Có lạ không? Chánh văn: 10. Ngài Xá-lợi-phất lại bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao? Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ chúng sanh đã từng gặp các đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí tuệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin. Lúc ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng: Đấng Pháp vương Vô thượng Xin nói, nguyện đừng lo Vô lượng chúng hội đây Có người hay kính tin. Giảng: Ngài Xá-lợi-phất một lần nữa tha thiết cầu xin Phật vì đại chúng nói pháp ấy, trong hội cũng có người căn trí mạnh lẹ có thể kính tin. Chánh văn: 11. Đức Phật lại ngăn Xá-lợi-phất: Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, a-tu-la đều kinh nghi. Tỳ-kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào hầm lớn. Khi đó, đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: Thôi thôi! Chẳng nên nói Pháp ta diệu khó nghĩ Những kẻ tăng thượng mạn Nghe ắt không kính tin. Giảng: Lần cầu thỉnh thứ hai của ngài Xá-lợi-phất, cũng bị Phật từ chối với lý do pháp Phật sâu xa rất khó hiểu, nếu nói ra thì kẻ tăng thượng mạn sẽ không tin rồi đọa lạc. Chánh văn: 12. Lúc ấy, ngài Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Đời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích. Khi đó, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Đấng Vô thượng Lưỡng Túc Xin nói pháp đệ nhất Con là trưởng tử Phật Xin thương phân biệt nói. Vô lượng chúng hội đây Hay kính tin pháp này Đời đời Phật đã từng Giáo hóa chúng như thế Đều một lòng chắp tay Muốn nghe lãnh lời Phật. Chúng con nghìn hai trăm Cùng hạng cầu Phật nọ Nguyện Phật vì chúng này Cúi xin phân biệt nói Chúng đây nghe pháp ấy Thời sanh lòng vui mừng. Giảng: Đức Phật được tán thán là Lưỡng Túc Tôn, có nghĩa Phật là bậc có đầy đủ hai món phước đức và trí tuệ. Lần thứ ba, ngài Xá-lợi-phất cầu xin Phật giảng nói, vì trong hội chúng có một ngàn hai trăm năm mươi vị, và tất cả đều phát tâm muốn nghe pháp Phật nói. Sau khi nghe sẽ vui mừng kính tin chứ không nghi ngờ. Chánh văn: 13. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Xá-lợi-phất: Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói, ông nay lắng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói. Giảng: Đây là thuật khéo léo của đức Phật đối với pháp nhiệm mầu khó nói khó tin. Từ lâu ngài đã không nói, nay biết đến thời phải nói, nên ngài hết lòng tán thán ca ngợi, gợi sự lưu ý cho thính chúng. Nhưng còn ngại thính chúng sanh lòng khinh mạn coi thường, đợi ngài Xá-lợi-phất thiết tha thưa thỉnh đến ba lần ngài mới hứa khả nói. Phật làm như thế để chi? Để cho lòng thiết tha mong mỏi của người nghe lên cao tột rồi, khi nói họ mới lưu ý nghe để lãnh hội. Nếu dễ, hỏi tới đâu nói tới đó, họ xem thường sanh tâm ngạo mạn khó tiến. Hiểu như vậy mới thấy Phật không mâu thuẫn, không phải bày ra rồi làm khó, mà vì muốn người nghe không khinh thường, được thể hội. Thật lòng từ vô hạn! Về sau các thiền sư áp dụng thủ thuật này triệt để. Các ngài còn bạo hơn, thiền sinh đến tham vấn, các ngài hét hoặc đánh chứ không nói. Thậm chí đánh nhiều lần dồn người hỏi vào chỗ bế tắc, để khi họ nhận ra chỗ các ngài muốn chỉ thì đời đời không quên. Điển hình nhất là sư Thần Quang đến cầu đạo với tổ Đạt-ma, ngài vẫn ngồi xoay mặt vào vách mặc cho Thần Quang đứng ngoài tuyết lạnh tới sáng. Tuyết đã ngập tới gối, mà Tổ còn cho đó là khổ hạnh cỏn con. Đến khi sư Thần Quang chặt một cánh tay dâng lên để tỏ ý chí thiết tha cầu đạo, chừng đó Tổ mới gật đầu. Điều đó cho thấy hệ thống truyền dạy từ đức Phật cho tới đồ đệ không khác, chứ không phải người sau ưng làm thế nào thì làm. Chúng ta ngày nay hiểu được chút chút, gặp người chưa kịp thưa hỏi thì đã tự nói trước, nói thôi là nói! Vì chưa phải là pháp quý, nên gặp đâu cho đó, thành ra người nghe xem thường, không nhớ, không tu tập được. Chánh văn: 14. Khi đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, cả thảy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này gốc tội sâu nặng cùng tăng thượng mạn, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà cho đã chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Đức Thế Tôn yên lặng không ngăn cản. Giảng: Đến đây, chúng ta lại có thêm một điều nghi vấn nữa. Đức Phật là một bậc đại từ đại bi sắp nói pháp nhiệm mầu cao quý, đối với những chúng sanh chưa được phước duyên nghe, đáng lý khuyên họ ở lại nghe. Nhưng tại sao trong hội chúng của Phật có năm ngàn người đứng dậy lui ra không nghe, mà Phật im lặng để cho họ đi, không khuyên không ngăn lại? Như đã nói ở trên, chính vì đức Phật muốn cho người tự thấy mình chưa đủ, mà có tâm tha thiết cần cầu nghe, nên Phật mới vì những người đó nói. Còn đối với người tự mãn, họ không muốn nghe, họ đi thì mặc họ, vì nếu có giữ họ ở lại chỉ tăng thêm lòng kiêu mạn, tự họ không được lợi ích. Ở đây, Phật xử sự tương đối nhẹ nhàng. Về sau, các thiền sư dùng nhiều thuật rất ngặt nghèo. Như trường hợp ngài Thiện Chiêu, hội chúng của ngài có năm trăm người, ngài biết trong số này có nhiều người nghe danh ngài mà đến, chứ chưa đủ lòng tin đối với ngài. Nhân ngày giỗ mẹ, ngài cho mua một ít rượu thịt về làm một bữa tiệc. Cúng mẹ xong, ngài mời tăng chúng dự tiệc cho vui. Nói xong, ngài thản nhiên ngồi vào bàn cầm đũa, toàn chúng không ai dám dự. Sau bữa tiệc đó, chúng bỏ đi hết, chỉ còn có mười sáu người ở lại. Ngài nói những người còn ở lại là những người có đủ lòng tin đối với ngài. Tại sao ngài dùng thủ thuật quá gắt gao như vậy? Nếu người đã hiểu và tin ngài thì dù ngài có những hành động bất thường như thế nào, họ cũng thừa hiểu thừa biết, không phản ứng. Còn đối với người không tin không hiểu ngài, nếu thấy ngài có chút gì hơi dở là họ bất mãn chê chán, họ có ở lại thì ngài chỉ dạy cũng không được. Vì vậy, Phật tổ đối với những người không đủ lòng tin với pháp mà các ngài giảng dạy, ai muốn đi các ngài để cho đi không cầm giữ lại. Chánh văn: 15. Bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hạt chắc. Xá-lợi-phất! Những gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói. Ngài Xá-lợi-phất bạch rằng: Vâng, thưa Thế Tôn! Con nguyện ưa muốn nghe. Giảng: Khi những kẻ tăng thượng mạn đứng dậy ra về, đức Phật nói đó là điều tốt, số chúng còn lại có đủ lòng tin thiết tha muốn nghe, đó là hạt chắc. Phật vì những người này mà nói và khuyên họ khéo lắng nghe. Chánh văn: 16. Đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Pháp mầu như thế, các đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói, như bông linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá-lợi-phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng. Giảng: Phật tán thán pháp chư Phật khó gặp khó được, giống như hoa linh thoại khi nào có điềm lành như Phật hay Chuyển luân thánh vương ra đời mới xuất hiện. Vậy đại chúng khéo nghe và tin thọ, vì lời Phật nói không bao giờ hư dối. Chánh văn: 17. Xá-lợi-phất! Các đức Phật theo thời nghi nói pháp, ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các đức Phật Thế Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời. Xá-lợi-phất! Sao nói rằng các đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời. Xá-lợi-phất! Đó là các đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời. Giảng: Tới đây, đức Phật hiển bày cái khó nói, khó hiểu, khó tin. Hàng có trí tuệ như Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát không thể suy lường mà có thể hiểu, chỉ có Phật với Phật mới biết được, bởi tâm các ngài thanh tịnh không phân biệt suy lường. Vì một nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời, đó là tông chỉ không riêng một đức Phật Thích-ca mà là của tất cả mười phương chư Phật. Các ngài ra đời để khai tri kiến Phật cho chúng sanh, chỉ (thị) tri kiến Phật cho chúng sanh, khiến cho chúng sanh ngộ tri kiến Phật, và hướng dẫn cho chúng sanh nhập tri kiến Phật. Tri kiến Phật là cái thấy biết Phật, hay chính là cái trí tuệ Phật mà chư Phật đã tự chứng. Vì cái thấy biết Phật là cái có sẵn nơi mỗi người, nhưng không ai biết, nên bản hoài của chư Phật ra đời là muốn chỉ bày cái mà Phật đã ngộ đã chứng cho chúng sanh cũng ngộ cũng chứng như Phật. Thế nào là khai thị ngộ nhập tri kiến Phật? Thí dụ: Có một viên ngọc xá-lợi đựng trong cái hộp bằng vàng, thờ trên bàn, trong ngôi chùa cửa đóng kín. Nhiều người nghe nói trong chùa có ngọc xá-lợi rất quý, họ khao khát muốn được chiêm bái. Để hướng dẫn cho họ chiêm bái, trước tiên thầy trụ trì phải đưa họ tới chùa, mở cửa chùa (khai) cho họ nhìn vô. Tuy cửa chùa đã mở, họ nhìn vào mà vẫn chưa thấy ngọc xá-lợi. Kế đó thầy đưa tay chỉ viên xá-lợi được đựng trong cái hộp bằng vàng thờ trên bàn. Khi tay thầy trụ trì chỉ, mắt họ nhìn theo liền thấy cái hộp đựng ngọc xá-lợi, đó là thị và ngộ. Đứng tại cửa chùa thấy ngọc xá-lợi đựng trong cái hộp chưa đủ, mà phải đưa họ vào chùa, đi tới bàn thờ ngọc xá-lợi, mở hộp ra, chính mắt họ nhận ra viên ngọc xá-lợi sáng lấp lánh, đó là nhập. Như vậy, Khai là bước đầu thì dễ, đến phần Thị và Ngộ cũng không khó. Đến phần Nhập là phải qua hai ba giai đoạn mới là phần quan trọng. Tri kiến Phật (trí tuệ Phật) không phải chỉ Phật mới có, mà tất cả chúng sanh mọi người ai cũng có sẵn, nhưng vì mê (vô minh) nên bây giờ Phật mới dùng phương tiện khai, rồi từ phương tiện đó Phật mới chỉ cho nhận ra tri kiến Phật và sau đó cố gắng tiến tu để nhập tri kiến Phật của mình. Khai là chỉ cho chúng sanh thấy vô minh vọng tưởng là cái không thật, chợt hiện chợt mất. Từ cái không thật đó, đức Phật mới chỉ (thị) cái chân thật (tri kiến Phật) sáng suốt thanh tịnh bất sanh bất diệt. Nhân đó, mới nhận ra (ngộ) cái chân thật có sẵn nơi mình. Tuy đã nhận ra nó, nhưng vì tập khí nhiều đời nhiều kiếp sâu dày, nên vọng tưởng vẫn còn dấy khởi, tri kiến Phật lúc ẩn lúc hiện. Nên phải có thời gian tu tập, công phu viên mãn thì vô minh vọng tưởng sạch hết, chừng đó tri kiến Phật hiển hiện tròn sáng gọi là thành Phật. Vậy tất cả chúng sanh đều có sẵn Phật tánh, nhưng vì quên (mê) nên Phật mới dùng phương tiện khai thị ngộ nhập, khiến cho chúng sanh nhận ra Phật tánh của chính mình để thành Phật như ngài. Đó là bản hoài của chư Phật nên nói là vì một đại sự nhân duyên mà các ngài ra đời. Kinh Pháp Hoa thuyết minh về Phật thừa cốt chỉ Tức tâm tức Phật. Tri kiến là Tâm, là Giác, là Phật. Nhưng tri kiến nào tức Phật, còn tri kiến nào là chúng sanh? Tri kiến theo ngài Cầu Danh là tri kiến chúng sanh. Tri kiến theo Bồ-tát Văn-thù là tri kiến Phật. Kinh Lăng-nghiêm, Phật nói rất rõ: Tri kiến lập tri tức vô minh bổn Tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn. Tri kiến lập tri tức vô minh bổn tức là trên thấy biết mà lập thấy biết là gốc vô minh. Thí dụ vừa thấy cái đồng hồ liền phân biệt đẹp, xấu, đắt, rẻ... rồi sanh tâm thích hay chê. Nếu thích thì tìm cách mua sắm, hoặc xin xỏ, hoặc đánh cắp cho được cái đồng hồ, như thế là đã tạo nghiệp đi trong luân hồi. Đó là tri kiến lập tri là gốc của vô minh. Tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn là sao? Thấy biết mà không thấy biết tức là Niết-bàn. Thí dụ: Thấy tất cả tăng ni đang ngồi nghe giảng, tôi thấy biết rõ ràng, không dấy niệm phân biệt, tâm an nhiên lặng lẽ. Đó là thấy biết mà không thấy biết (tri kiến vô kiến) giống như mặt gương sáng, người đến thì hiện bóng người, vật đến thì hiện bóng vật, người vật qua rồi thì mặt gương không bóng, vẫn trong sáng như trước. Cũng vậy, đối với ngoại cảnh, chúng ta vẫn thấy biết mà tâm không lưu lại hình bóng để phân biệt. Đó là Niết-bàn, đó là trì kinh Pháp Hoa. Không phải trì kinh Pháp Hoa là để tính bộ mà không hiểu thâm ý của Kinh. Học đạo mà không thấy đạo, kẹt trên hình tướng không giải thoát chút nào cả. Trì kinh như thế chưa phải là trì kinh Pháp Hoa. Như vậy, ai cũng có tri kiến Phật, chỉ vì người lập và không lập cái thấy biết phân biệt, nên kẻ là chúng sanh, người là Phật. Chánh văn: 18. Đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, những điều làm ra thường vì một việc: Chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi. Xá-lợi-phất! Đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác. Giảng: Mục đích duy nhất của đức Phật Thích-ca cũng như của chư Phật đời quá khứ ra đời, là làm sao cho chúng sanh tỏ ngộ được tri kiến Phật, tức là Phật thừa chứ không có thừa thứ hai hay thứ ba. Chánh văn: 19. Xá-lợi-phất! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế. Xá-lợi-phất! Thuở quá khứ, các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “Nhất thiết chủng trí”. Xá-lợi-phất! Thuở vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “Nhất thiết chủng trí”. Xá-lợi-phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế Tôn vì nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sanh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “Nhất thiết chủng trí”. Xá-lợi-phất! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ-tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào tri kiến Phật vậy. Xá-lợi-phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bản tánh kia dùng các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp. Xá-lợi-phất! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa “Nhất thiết chủng trí”. Giảng: Nhất thiết chủng trí là trí Phật, biết tột cùng khắp tất cả pháp trên thế gian này. Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai, và Phật hiện tại là đức Thích-ca đều nhắm vào chỗ cứu cánh duy nhất, là chỉ bày tri kiến Phật cho chúng sanh được tỏ ngộ và chứng nhập để được Nhất thiết chủng trí. Như vậy, chư Phật quá khứ dạy cũng như thế, chư Phật vị lai dạy cũng như thế, kể cả đức Phật Thích-ca đời hiện tại dạy cũng như thế. Không có con đường thứ hai thứ ba nào khác. Chỉ có con đường duy nhất là làm sao cho mọi người nhận ra tri kiến Phật, và hằng sống được với tri kiến Phật nơi mình. Tại sao đức Phật chỉ nhắm có điều đó? Vì Phật biết mỗi chúng sanh ai cũng có tri kiến Phật, nhưng vì mê mới tạo nghiệp đi trong luân hồi lục đạo, thành ra tri kiến chúng sanh. Bây giờ nhờ Phật chỉ bày, chúng ta khéo nhận khéo sống thì tri kiến chúng sanh trở thành tri kiến Phật, đó là tu. Chánh văn: 20. Xá-lợi-phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba! Xá-lợi-phất! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược. Như thế, Xá-lợi-phất, lúc kiếp loạn trược chúng sanh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba. Giảng: Đoạn này đức Phật xác nhận rõ ràng ý nghĩa không có ba thừa mà chỉ có một Phật thừa. Sở dĩ Phật nói ba thừa là vì chúng sanh ở trong đời ngũ trược: kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược, sanh lòng bỏn sẻn, tham lam, ganh ghét... Vì vậy mà Phật tạm dùng phương tiện nói ba thừa để dẹp bỏ những tâm cấu uế đó. - Kiếp trược: Thời mà tuổi thọ của loài người dưới hai ngàn tuổi, chỉ cho cõi Ta-bà đức Thích-ca đang giáo hóa. - Phiền não trược: Lòng mọi người chứa chất nhiều tham lam, sân hận... - Chúng sanh trược: Con người bám chấp vào sanh mạng mình cho là thật, rồi sanh cống cao ngã mạn. - Kiến trược: Kiến chấp một bên, thấy biết lệch lạc tà vạy mà cho là đúng. - Mạng trược: Chúng sanh vì sự sống mà tạo rất nhiều nghiệp ác. Chánh văn: 21. Xá-lợi-phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A-la-hán cùng Duyên giác, mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Duyên giác. Lại nữa, Xá-lợi-phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đó tự cho mình đã được A-la-hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết-bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ-kheo thật chứng quả A-la-hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ, hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những Kinh như thế, người hay thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ. Xá-lợi-phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi. Giảng: Phật xác nhận một cách quyết liệt, dù là A-la-hán, Duyên giác ngang đó mà tự mãn cho là đủ thì người đó không phải là đệ tử của Phật. Người tu chúng ta hiện tại, đa số mắc phải chứng bệnh tự mãn, tu một thời gian tự thấy rằng mình đã đủ, nên mặc nhiên an hưởng tứ sự cúng dường một cách sung mãn, mà không lo nghĩ đến sự tu tiến. Nên tôi thường nói khẳng định rằng: Nếu chưa thành Phật thì không lúc nào chúng ta ngừng nghỉ tu hành, nếu ngừng nghỉ không tu là rơi vào lỗi tự mãn, đó là tăng thượng mạn. Dù là Bồ-tát cũng vẫn cố gắng tu hành, đến khi thành Phật mới thôi. Ai được chút ít cho là đủ, người đó chỉ là hạt lép, là lá vàng úa, gió thổi qua rơi rụng hết. Nếu là hạt chắc, là thứ thật thì tu cho đến khi thành Phật mới rồi trách nhiệm của mình, chưa thành Phật thì lúc nào cũng phải cố gắng nỗ lực tu chứ không tự mãn. Nhưng mà nhìn lại thì người tu bây giờ tự mãn không phải ít. Họ nghĩ rằng đời này tu gieo giống lành, kiếp sau tu nữa, hoặc già yếu rồi nghỉ ngơi cho thảnh thơi đôi chút, chẳng lẽ suốt đời cặm cụi tu hoài!... Nghĩ như vậy là trái với tinh thần của Phật dạy, nên chưa phải là đệ tử Phật. Đức Phật đối với những chúng sanh tu mà không muốn thành Phật, chỉ muốn đời sau sanh ra làm người tốt, có đủ duyên phước thì Phật dạy giữ Năm giới, đó là Nhân thừa. Lại có người tu không muốn thành Phật, muốn được sung sướng hưởng phước báo đầy đủ, Phật dạy tu Thập thiện, đó là Thiên thừa. Người không muốn sanh lên cõi trời cũng không muốn trở lại làm người, Phật dạy tu Tứ đế để chứng Niết-bàn không còn tái sanh lại nữa, đó là Thanh văn thừa. Đến hàng Duyên giác thì Phật nói Mười hai nhân duyên, hàng Bồ-tát thì nói Sáu pháp ba-la-mật, hướng dẫn từ thấp dần dần lên. Tới đây Phật mới nói bản hoài của chư Phật ra đời là dạy người tu để thành Phật chứ không dạy điều gì khác. Cũng vậy, hiện tại tôi hướng dẫn tăng ni và Phật tử tu, là phải biết rõ nơi mình có cái chân thật mà tôi tạm gọi là Ông chủ hay Bản lai diện mục, còn ý niệm nghĩ suy là vọng tưởng không thật. Biết được như vậy rồi thì đi đứng nằm ngồi hằng sống với ông chủ, không chạy theo vọng tưởng hư giả. Đó là bản hoài mà tôi nhắm. Nhưng người tới học đạo có nhiều trình độ. Người già đến thì tôi dạy niệm Phật cho tâm bớt loạn, để khi nhắm mắt theo Phật về cõi Phật. Nếu là người trẻ mới vào đạo chưa rõ gì về Thiền tông, mà tâm quá loạn động thì tôi dạy đếm hơi thở, nhờ đếm hơi thở mà tâm bớt loạn... Đó là những phương tiện tôi đã dùng làm lợi ích cho người tùy theo trình độ căn cơ của họ. Chưa nói được mục đích mà tôi nhắm thì phải nói phương tiện, làm sao cho người đến học đạo đều được lợi ích. Chánh văn: Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng: 22. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni Cưu lòng tăng thượng mạn Cận sự nam ngã mạn Cận sự nữ chẳng tin, Hàng bốn chúng như thế Số kia có năm nghìn Chẳng tự thấy lỗi mình Nơi giới có thiếu sót Tiếc giữ tội quấy mình Trí nhỏ đó đã ra, Bọn cám tấm trong chúng Oai đức Phật phải đi, Gã đó kém phước đức Chẳng kham lãnh pháp này Chúng nay không cành lá Chỉ có những hạt chắc. Giảng: Đức Phật nói những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ trong tứ chúng, có khoảng năm ngàn người là những kẻ kém duyên phước, trí nhỏ hẹp, thuộc hàng tăng thượng mạn, họ không kham nhận pháp Phật nên bỏ đi. Sau khi họ bỏ đi, Phật mới nói: Bây giờ trong chúng không còn cám tấm, cành lá úa, chỉ còn hạt chắc thôi. Chánh văn: 23. Xá-lợi-phất khéo nghe! Pháp của các Phật được Vô lượng sức phương tiện Mà vì chúng sanh nói. Tâm của chúng sanh nghĩ Các món đạo ra làm Bao nhiêu những tánh dục Nghiệp lành dữ đời trước, Phật biết hết thế rồi Dùng các duyên thí dụ Lời lẽ sức phương tiện Khiến tất cả vui mừng. Hoặc là nói Khế kinh, Cô khởi cùng Bản sự, Bản sanh, Vị tằng hữu, Cũng nói những Nhân duyên, Thí dụ và Trùng tụng, Luận nghị cộng chín kinh. Căn độn ưa pháp nhỏ Tham chấp nơi sanh tử Nơi vô lượng đức Phật Chẳng tu đạo sâu mầu Bị các khổ não loạn Vì đó nói Niết-bàn, Ta bày phương tiện đó Khiến đều vào tuệ Phật. Chưa từng nói các ông Sẽ được thành Phật đạo Sở dĩ chưa từng nói Vì giờ nói chưa đến, Nay chính là đến giờ Quyết định nói Đại thừa. Giảng: Phật nói cho tất cả hội chúng biết rằng pháp mà Phật được, có sức phương tiện vô cùng, biết tường tận nhân duyên quả báo của sáu loài chúng sanh. Ngài nói pháp dùng những phương tiện như: - Khế kinh: Lời dạy của Phật hợp với căn cơ chúng sanh, bằng thể văn xuôi, còn gọi là Trường hàng. - Trùng tụng: Một thể văn thuyết pháp của Phật lặp lại ý của đoạn văn Trường hàng bằng kệ tụng. - Bản sự: Những việc làm, những kiến văn ở đời trước của Phật do Phật thuật lại. - Bản sanh: Phật nhắc lại tiền kiếp của ngài hay của đệ tử. - Vị tằng hữu: Việc chưa từng có, khó hiểu, khó tin. - Nhân duyên: Phật giải về căn bản của quả báo từ gốc tới ngọn. - Thí dụ: Dùng một mẩu chuyện để so sánh cho dễ hiểu. - Cô khởi: Thi văn tự mình xướng lên lúc thuyết pháp. - Luận nghị: Biện luận sâu rộng, khúc chiết, mạch lạc cho dễ hiểu. Đó là những thể tài thuyết pháp mà Phật đã dùng hoặc đủ chín phần hoặc không đủ chín phần trong mỗi bộ kinh. Phật tùy thời tùy cơ mà nói, dẫn dụ chúng sanh đi từ thấp đến cao, cuối cùng đưa đến Phật thừa là chỗ cứu cánh. Chánh văn: 24. Chín bộ pháp của ta Thuận theo chúng sanh nói Vào Đại thừa làm gốc Nên mới nói Kinh này. Có Phật tử tâm tịnh Êm dịu cùng căn lợi Nơi vô lượng các Phật Mà tu đạo sâu mầu, Vì hàng Phật tử này Nói kinh Đại thừa đây. Ta ghi cho người đó Đời sau thành Phật đạo Bởi thâm tâm niệm Phật Tu trì tịnh giới vậy. Hạng này nghe thành Phật Rất mừng đầy khắp mình, Phật biết tâm của kia Nên vì nói Đại thừa. Thanh văn hoặc Bồ-tát, Nghe ta nói pháp ra Nhẫn đến một bài kệ Đều thành Phật không nghi. Giảng: Sở dĩ Phật nói chín bộ pháp đó là vì thuận theo căn cơ của chúng sanh mà nói, chứ bản hoài của Phật là chỉ cho chúng sanh một Phật thừa mà thôi. Nếu ai nghe Phật thừa này, đem lòng tin và nói cho người khác nghe thì được Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật. Vì tâm họ nhớ nghĩ Phật rất sâu xa, không tự mãn ở những cấp bậc thấp, quyết định họ sẽ thành Phật. Chánh văn: 25. Trong cõi Phật mười phương Chỉ có một thừa pháp Không hai cũng không ba Trừ Phật phương tiện nói Chỉ dùng danh từ giả Dắt dẫn các chúng sanh Vì nói trí tuệ Phật. Các Phật ra nơi đời Chỉ một việc này thật Hai thứ chẳng phải chân. Trọn chẳng đem Tiểu thừa Mà tế độ chúng sanh Phật tự trụ Đại thừa Như pháp của mình được Định, tuệ, lực trang nghiêm Dùng đây độ chúng sanh. Tự chứng đạo Vô thượng Pháp bình đẳng Đại thừa Nếu dùng Tiểu thừa độ Nhẫn đến nơi một người Thời ta đọa xan tham Việc ấy tất không được, Nếu người tin về Phật Như Lai chẳng dối gạt Cũng không lòng tham ganh Dứt ác trong các pháp Nên Phật ở mười phương Mà riêng không chỗ sợ. Ta dùng tướng trang nghiêm Ánh sáng soi trong đời Đấng vô lượng chúng trọng Vì nói thật tướng ấn. Giảng: Đoạn này Phật lặp lại ý chính của chư Phật mười phương ra đời là chỉ nói một Phật thừa, chứ không có thừa thứ hai hay thứ ba. Tại sao? Vì quả vị cùng tột mà ngài chứng được là quả Phật, nếu để lại ít phần không chỉ dạy rốt ráo, đó là thiếu lòng từ, tâm còn xan lẫn, sợ người hơn mình. Phật là đấng Đại từ đại bi, không xan lẫn, nên cái gì ngài được, ngài muốn cho tất cả mọi người đều được như ngài. Nếu mọi người chưa được như ngài thì ngài chưa mãn nguyện, không bằng lòng. Vì vậy mà cuối cùng ngài nói: Đấng vô lượng chúng trọng, vì nói thật tướng ấn. Thông thường trong nhà Phật có nêu ra tam pháp ấn, tứ pháp ấn, hoặc nhất thật pháp ấn, để làm dấu ấn xác minh xem pháp đó có phải Phật nói không. Tam pháp ấn là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh. Tứ pháp ấn là: vô thường, khổ, không, vô ngã. Nhất thật pháp ấn cũng là Thật tướng ấn. Ấn là dấu in để ấn chứng. Muốn biết kinh nào là thật của Phật nói hay không phải của Phật nói, thì phải lấy tam pháp ấn, tứ pháp ấn hay nhất thật pháp ấn để làm chỗ ấn chứng. Nhất thật pháp ấn là chỉ cho mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, nếu tu thì sẽ thành Phật. Kinh Pháp Hoa, Phật nói tột chỗ đó nên gọi là Thật tướng ấn. Chánh văn: 26. Xá-lợi-phất! Nên biết Ta vốn lập thệ nguyện Muốn cho tất cả chúng Bằng như ta không khác, Như ta xưa đã nguyện Nay đã đầy đủ rồi Độ tất cả chúng sanh Đều khiến vào Phật đạo. Nếu ta gặp chúng sanh Dùng Phật đạo dạy cả Kẻ vô trí rối sai Mê lầm không nhận lời. Ta rõ chúng sanh đó Chưa từng tu cội lành Chấp chặt nơi ngũ dục Vì si ái sanh khổ, Bởi nhân duyên các dục Sa vào ba đường dữ Xoay lăn trong sáu nẻo Chịu đủ những khổ độc, Thân mọn thọ bào thai Đời đời tăng trưởng luôn. Người đức mỏng ít phước Các sự khổ bức ngặt Vào rừng rậm tà kiến Hoặc chấp có, chấp không Nương gá các chấp này Đầy đủ sáu mươi hai Chấp chặt pháp hư vọng Bền nhận không bỏ được Ngã mạn tự khoe cao Dua nịnh lòng không thật Trong nghìn muôn ức kiếp Chẳng nghe danh tự Phật Cũng chẳng nghe chánh pháp Người như thế khó độ. Giảng: Lời thệ nguyện của đức Phật Thích-ca cũng như chư Phật mười phương là muốn làm sao cho tất cả chúng sanh đều được bằng Phật. Nhưng vì tâm trí chúng sanh mê mờ rối loạn, tà kiến, tham ưa ngũ dục, không bao giờ tu pháp lành, nên trôi lăn trong ba đường dữ chịu mọi khổ đau, do đó không bao giờ nghe được danh hiệu Phật. Những chúng sanh này rất là khó độ. Chánh văn: 27. Cho nên Xá-lợi-phất! Ta vì bày phương tiện Nói các đạo dứt khổ Chỉ cho đó Niết-bàn, Ta dầu nói Niết-bàn Cũng chẳng phải thật diệt Các pháp từ bản lai Tướng thường tự vắng lặng Phật tử hành đạo rồi Đời sau được thành Phật. Ta có sức phương tiện Mở bày pháp ba thừa. Tất cả các Thế Tôn Đều nói đạo Nhất thừa Nay trong đại chúng này Đều nên trừ nghi lầm Lời Phật nói không khác Chỉ một, không hai thừa. Giảng: Vì hàng chúng sanh khó độ nên Phật mới bày phương tiện dứt các khổ cho họ được Niết-bàn. Niết-bàn đó là Niết-bàn của Nhị thừa. Tuy nói Niết-bàn, nhưng chẳng phải thật diệt. Vì: Các pháp từ bản lai Tướng thường tự vắng lặng. Từ trước chúng ta thường nghe Phật dạy các pháp ở thế gian này là biến động vô thường, tại sao ở Kinh này Phật lại nói các pháp từ xưa đến nay tướng thường tự vắng lặng? Chữ tướng ở đây phải hiểu là thật tướng, tức là thể tánh của các pháp. Chúng ta quán sát thấy các pháp trên thế gian này tướng nó là biến động, có đó rồi mất đó. Thí dụ như cái đồng hồ, thông thường máy chạy, kim quay, chúng ta căn cứ trên kim đồng hồ, định ngày giờ mà làm việc. Nếu máy không chạy kim không quay thì đồng hồ không xài được. Như vậy, tất cả pháp thế gian được hữu dụng là do linh động có sự sống, nếu nó bất động coi như là chết vô dụng. Đó là cái thấy thông thường của thế gian. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chúng ta mở chốt đồng hồ ra, để riêng từng bộ phận thì máy không chạy, kim không quay; nếu ráp các bộ phận ấy lại thì máy đồng hồ chạy, kim đồng hồ quay. Như vậy, các pháp biến động là do duyên hợp mà có, chứ thật thể của nó vốn không động, nên nói tự tánh các pháp vốn tịch diệt. Cũng vậy, tự tâm của mỗi người, khi mắt thấy người thấy cảnh... rồi khởi niệm nghĩ về người về cảnh đó là động niệm, mà động niệm là tướng duyên hợp sanh diệt vô thường, đủ duyên thì tạm có, thiếu duyên thì tạm không, không có thật thể cố định. Như vậy, pháp do duyên mà thành có hay thành không, thì pháp đó không thật. Còn pháp không do duyên mà thành, đó là cái chân thật. Vậy, tất cả pháp ở thế gian này, nếu đứng về mặt bản thể mà nhìn, không có một pháp nào biến động vô thường cả. Sở dĩ thấy các pháp vô thường biến động là vì chưa thấy tột cùng bản thể của nó, nên theo tình chấp mà thấy có động tịnh, có vô thường. Nếu thấy tột cùng bản thể của nó thì thấy các pháp nguyên là bất động, lặng lẽ. Ngay nơi bản thân con người, sự sống và sự chết là do cái gì? Sống là do duyên, mà chết cũng do duyên. Vậy sống chết là chuyện của duyên; đã là chuyện của duyên thì không phải là chuyện của mình. Ngay nơi sống chết biết đó là tướng của duyên thì chúng ta không còn bị sống chết chi phối nữa, sự sống chết đối với chúng ta rất thường, không quan trọng. Xưa, có thiền sư đọc tới hai câu trên ngài nghi: Tại sao các pháp từ xưa đến nay tướng thường vắng lặng? Ngài ôm ấp thắc mắc mãi trong lòng. Một sáng mùa xuân nọ, ngài ngồi trước cửa chùa, bỗng thấy chim hoàng oanh đậu trên cành liễu hót, ngài hoát nhiên ngộ đạo, liền đọc tiếp hai câu: Xuân đáo bách hoa khai, Hoàng oanh đề liễu thượng. Hợp lại thành bài thơ bốn câu: Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng. Xuân đáo bách hoa khai, Hoàng oanh đề liễu thượng. Mùa xuân đến thì trăm hoa nở, chim hoàng oanh đậu trên cành liễu cất tiếng hót. Tất cả pháp, thể vốn không động, khi duyên hợp thì động, xuân sang thì hoa nở, chim hót. Xuân sang, hoa nở, chim hót là duyên. Cái động đó là động của duyên. Ngài thấy rõ ngay trong các pháp thể tánh nó vốn lặng lẽ, mà tướng dụng của nó thì biến động, như hoa nở, chim hót khi xuân đến. Ngộ đạo là thấy cùng tột bản thể của sự vật, cũng như nhận ra thể tánh của chính mình, đồng thời cũng biết rõ tướng dụng sinh động của nó không lầm lẫn. Chúng ta vì còn mê nên lầm chấp tướng dụng của các pháp cho là thật, đó là gốc của khổ đau. Người học đạo, nếu thấy tột chỗ cứu cánh này thì sẽ thành Phật không nghi, còn nếu chấp tướng động của thân của nghiệp thì vẫn là chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử. Đoạn này cốt nói rõ mục tiêu của chư Phật, vì thương xót chúng sanh mê lầm nên mãi chịu khổ. Các ngài dùng nhiều phương tiện giải bày cho hết khổ. Chỗ cứu cánh mà Phật muốn chỉ là Phật thừa, chứ không có thừa thứ hai thứ ba. Chánh văn: 28. Vô số kiếp đã qua Vô lượng Phật diệt độ Trăm nghìn muôn ức Phật Số nhiều không lường được. Các Thế Tôn như thế Các món duyên thí dụ Vô số ức phương tiện Diễn nói các pháp tướng, Các đức Thế Tôn đó Đều nói pháp Nhất thừa Độ vô lượng chúng sanh Khiến vào nơi Phật đạo Lại các đại thánh chúa Biết tất cả thế gian Trời, người loài quần sanh Thâm tâm chỗ ưa muốn Bèn dùng phương tiện khác Giúp bày nghĩa đệ nhất. Giảng: Đoạn này lặp lại ý đoạn trước. Vô số đức Phật đời quá khứ dùng mọi phương tiện giáo hóa chúng sanh khiến cho vào Phật đạo. Chánh văn: 29. Nếu có loài chúng sanh Gặp các Phật quá khứ Hoặc nghe pháp bố thí Hoặc trì giới, nhẫn nhục, Tinh tấn, thiền, trí thảy Các món tu phước tuệ, Những người như thế đó Đều đã thành Phật đạo Sau các Phật diệt độ Nếu người lòng lành dịu Các chúng sanh như thế Đều đã thành Phật đạo. Giảng: Nếu có những chúng sanh gặp chư Phật đời quá khứ, được các ngài dạy tu lục độ, những chúng sanh đó hay tu được lục độ thì họ đã thành Phật. Và sau khi Phật diệt độ, những chúng sanh có lòng lành dịu, thì cũng đều đã thành Phật đạo. Chánh văn: 30. Các Phật diệt độ rồi Người cúng dường xá-lợi Dựng muôn ức thứ tháp Vàng, bạc và pha lê Xa cừ cùng mã não Ngọc mai khôi, lưu ly Thanh tịnh rộng nghiêm sức Trau giồi nơi các tháp, Hoặc có dựng miếu đá Chiên-đàn và trầm thủy Gỗ mật cùng gỗ khác Gạch ngói bùn đất thảy, Hoặc ở trong đồng trống Chứa đất thành miếu Phật Nhẫn đến đồng tử giỡn Nhóm cát thành tháp Phật, Những hạng người như thế Đều đã thành Phật đạo. Giảng: Phật quá khứ đã diệt độ, nếu có ai xây tháp bằng vàng, bạc, pha lê... hoặc xây bằng gỗ, gạch, ngói, bùn, đất, cho đến trẻ con chơi làm tháp Phật để cúng dường, tất cả những người đó đều đã thành Phật đạo. Chánh văn: 31. Nếu như người vì Phật Xây dựng các hình tượng Chạm trổ thành các tướng Đều đã thành Phật đạo. Hoặc dùng bảy báu làm Thau, đồng bạch, đồng đỏ Chất nhôm cùng chì kẽm Sắt, gỗ cùng với bùn Hoặc dùng keo, sơn, vải Nghiêm sức làm tượng Phật Những người như thế đó Đều đã thành Phật đạo. Vẽ vời làm tượng Phật Trăm tướng phước trang nghiêm Tự làm hoặc bảo người Đều đã thành Phật đạo. Nhẫn đến đồng tử giỡn Hoặc cỏ cây và bút Hoặc lấy móng tay mình Mà vẽ làm tượng Phật Những hạng người như thế Lần lần chứa công đức Đầy đủ tâm đại bi Đều đã thành Phật đạo. Chỉ dạy các Bồ-tát Độ thoát vô lượng chúng. Giảng: Nếu các chúng sanh vì Phật mà tạo hình tượng ngài bằng bảy báu, hoặc dùng các thứ kim loại, hoặc dùng gỗ, bùn, keo, sơn, vải tạc thành tượng Phật, cho đến trẻ con dùng ngón tay hay dùng cây cỏ vẽ thành tượng Phật, nhờ tích chứa công đức, đầy đủ tâm đại bi, nên họ đều đã thành Phật đạo. Chánh văn: 32. Nếu người nơi tháp miếu Tượng báu và tượng vẽ Dùng hoa, hương, phan, lọng Lòng kính mà cúng dường môi Hoặc khiến người trỗi nhạc Đánh trống, thổi sừng ốc Tiêu, địch, cầm, không hầu Tỳ bà, chụp chả đồng Các tiếng hay như thế Đem dùng cúng dường hết Hoặc người lòng vui mừng Ca ngâm khen đức Phật Nhẫn đến một tiếng nhỏ Đều đã thành Phật đạo. Giảng: Nếu người ở trước tượng Phật hay tháp miếu Phật mà cúng dường hoa hương, phan lọng, hoặc dùng các loại nhạc cụ trỗi nhạc để cúng dường, hay ca ngâm khen ngợi Phật đều đã thành Phật đạo. Chánh văn: 33. Nếu người lòng tán loạn Nhẫn đến dùng một bông Cúng dường nơi tượng vẽ Lần thấy các đức Phật Hoặc có người lễ lạy Hoặc lại chỉ chắp tay Nhẫn đến giơ một tay Hoặc lại hơi cúi đầu Dùng đây cúng dường tượng Lần thấy vô lượng Phật Tự thành đạo Vô thượng Rộng độ chúng vô số Vào Vô dư Niết-bàn Như củi hết lửa tắt. Nếu người lòng tán loạn Vào nơi trong tháp miếu Một xưng Nam-mô Phật Đều đã thành Phật đạo, Nơi các Phật quá khứ Tại thế, hoặc diệt độ Có người nghe pháp này Đều đã thành Phật đạo. Giảng: Nếu người lòng tán loạn thấy tượng Phật, họ lễ lạy hoặc chỉ chắp tay, giơ tay, hoặc hơi cúi đầu để cúng dường Phật, thì lần lần thấy vô lượng Phật, tự thành đạo Vô thượng, độ tất cả chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn. Hoặc những người lòng tán loạn vào tháp miếu thờ Phật, niệm Nam-mô Phật đều đã thành Phật đạo. Đối với chư Phật thời quá khứ, những chúng sanh nào tạo được những phước duyên như vừa nêu thì đều đã thành Phật đạo. Câu đều đã thành Phật đạo cốt nhấn mạnh ý nghĩa: Tất cả chúng sanh ai cũng có sẵn tri kiến Phật, nhưng vì mê lầm quên đi nên trầm luân trong lục đạo luân hồi. Bây giờ đủ duyên thức tỉnh, biết quay về thì sớm muộn gì cũng sẽ thành Phật. Vì đã có sẵn hạt giống, biết đem ra ươm trồng, thế nào rồi cũng thành quả. Đó là nói đối với người ở thời Phật quá khứ, dù chưa có lòng tin nhưng khi phát lòng tin hướng về Phật thì họ đều đã thành Phật đạo. Chánh văn: 34. Các Thế Tôn vị lai Số nhiều không thể lường Các đức Như Lai đó Cũng phương tiện nói pháp. Tất cả các Như Lai Dùng vô lượng phương tiện Độ thoát các chúng sanh Vào trí vô lậu Phật. Nếu có người nghe pháp Không ai chẳng thành Phật. Các Phật vốn thệ nguyện Ta tu hành Phật đạo Khắp muốn cho chúng sanh Cũng đồng được đạo này. Các Phật đời vị lai Dầu nói trăm nghìn ức Vô số các pháp môn Kỳ thật vì Nhất thừa. Các Phật Lưỡng Túc Tôn Biết pháp thường không tánh Giống Phật theo duyên sanh Cho nên nói Nhất thừa. Pháp đó trụ ngôi pháp Tướng thế gian thường còn Nơi đạo tràng biết rồi Đức Phật phương tiện nói. Hiện tại mười phương Phật Của trời người cúng dường Số nhiều như hằng sa Hiện ra nơi thế gian Vì an ổn chúng sanh Cũng nói pháp như thế. Biết vắng bặt thứ nhất Bởi dùng sức phương tiện Dầu bày các món đạo Kỳ thật vì Phật thừa. Biết các hạnh chúng sanh Thâm tâm nó nghĩ nhớ Nghiệp quen từ quá khứ Tánh dục, sức tinh tấn Và các căn lợi độn Dùng các món nhân duyên Thí dụ cùng lời lẽ Tùy cơ phương tiện nói. Giảng: Chư Phật đời vị lai nhiều vô số, dùng vô số phương tiện độ chúng sanh, cũng không ngoài mục đích chỉ cho chúng sanh nhận ra tri kiến Phật, nên nói rằng: Biết pháp thường không tánh, Giống Phật theo duyên sanh, Cho nên nói Nhất thừa. Tại sao nói các pháp thế gian thường không tánh? Tất cả pháp thế gian do duyên hợp mà có giả tướng, đã là giả tướng do duyên hợp mới có thì không có tự tánh cố định. Thí dụ cái nhà gồm cột, kèo, đòn tay, gạch ngói v.v... hợp lại tạm gọi là cái nhà. Nếu chỉ có cột mà không có đòn tay, ngói... thì không thành cái nhà, hoặc có ngói gạch mà không có kèo cột... cũng không thành cái nhà. Như vậy, cái nhà là tướng do duyên hợp, nó không có tự thể cố định, nên nói các pháp thường không tánh. Tại sao nói Giống Phật theo duyên sanh? Duyên sanh ở đây không có nghĩa do duyên hợp sanh ra giống Phật, mà nơi mỗi chúng sanh đều có sẵn Phật tánh, nếu được thầy giáo hóa khai ngộ và tự mình tu tỉnh thì Phật tánh sẽ hiển hiện. Vì vậy nên nói Giống Phật theo duyên sanh. Phật vì biết chúng sanh có sẵn giống Phật, nên ngài chỉ nói pháp Nhất thừa để cho chúng sanh tu thành Phật, chứ không nói thừa nào khác. Pháp đó trụ ngôi pháp, Tướng thế gian thường còn Nghĩa là pháp đó ở đúng bản vị của nó, tướng thế gian thường trụ. Nếu chúng ta nhìn sự vật theo tướng nhân duyên hòa hợp thì thấy nó hư giả, chợt có chợt không, nên vô thường, không có tự thể cố định. Chính tự thể không cố định là cái tướng thường còn không biến dịch không thay đổi. Thí dụ như nước ở nhiệt độ trung bình thì lỏng, ở nhiệt độ cao bốc thành hơi, ở 0° thì đông thành khối. Tùy theo duyên mà hình tướng nước có đổi thay từ lỏng sang cứng hay hơi, nhưng trên thể tánh của nước vẫn là ướt, không đổi thay, là thường còn. Đa số kinh A-hàm đều đứng trên mặt tướng dụng mà diễn nói, còn các kinh Đại thừa thì đứng trên bản thể của các pháp mà thuyết minh. Như vậy, nếu nhìn trên hình tướng thì thấy các pháp đổi thay vô thường. Nếu nhìn sâu đến thể tánh thì thấy thật tướng của các pháp là thường còn. Tuy Phật biết thể tánh của các pháp là như vậy, nhưng vì chúng sanh chưa đủ sức thấy như Phật, nên ngài phương tiện nói tướng dụng của các pháp là vô thường để dẫn dắt lần lần họ đi sâu vào bản thể. Hiểu như vậy mới không thấy mâu thuẫn và thấy rõ điểm đặc biệt của kinh Pháp Hoa: Quy tam thừa về Nhất thừa. Chánh văn: 35. Ta nay cũng như vậy Vì an ổn chúng sanh Dùng các món pháp môn Rao bày nơi Phật đạo Ta dùng sức trí tuệ Rõ tánh dục chúng sanh Phương tiện nói các pháp Đều khiến được vui mừng. Xá-lợi-phất nên biết! Ta dùng mắt Phật xem Thấy sáu đường chúng sanh Nghèo cùng không phước tuệ Vào đường hiểm sanh tử Khổ nối luôn không dứt Sâu tham nơi ngũ dục Như trâu mao mến đuôi Do tham ái tự che Đui mù không thấy biết Chẳng cầu Phật thế lớn Cùng pháp dứt sự khổ Sâu vào các tà kiến Lấy khổ muốn bỏ khổ Phật vì chúng sanh này Mà sanh lòng đại bi. Giảng: Sau khi Phật thành đạo, biết rõ tâm bệnh của chúng sanh, vì muốn cho họ an ổn nên ngài nói pháp đúng như chỗ họ muốn, vì vậy tất cả đều được vui mừng. Phật dùng trí tuệ nhìn thấy chúng sanh lăn lộn trong sáu đường, nghèo phước đức, nghèo trí tuệ, nên mê mải đi trên con đường sanh tử hiểm trở không có ngày dừng. Ngay cả chư thiên ở cõi trời tuy sang quý nhưng đức Phật cũng vẫn thấy đó là hàng chúng sanh còn chìm trong dục lạc, vẫn còn bị sanh tử vô thường chi phối, nên Phật nói chưa đủ phước tuệ; nếu đủ phước tuệ thì thoát ly sanh tử, dứt luân hồi. Nếu còn đi trong vòng luân hồi sanh tử thì khổ này nối tiếp khổ kia, không bao giờ dứt. Như thai nhi ở trong bụng mẹ êm ấm, khi ra đời bất thần bị nóng lạnh cọ xát, đó là khổ. Lúc còn nhỏ được cha mẹ nuôi dưỡng chu đáo, nhưng thỉnh thoảng cũng bị ốm đau bức ngặt, đó là khổ. Đến tuổi già răng rụng, mắt mờ, tai điếc, bệnh hoạn thúc bách, đó là khổ. Rồi chết đến, hơi thở dồn dập bức ngặt là khổ. Đó là một dòng khổ đuổi nhau từ lúc mở mắt chào đời cho tới ngày nhắm mắt, chung cuộc của kiếp người, chẳng những chỉ một đời này khổ mà còn tiếp diễn tới nhiều đời sau, triền miên không dứt. Thế mà mọi người đối với ngũ dục thế gian lại tưởng là vui, cứ đeo đuổi nắm bắt. Thế nên, ở đây Phật mới nói: Lòng tham ngũ dục của con người, giống như con trâu mao mến cái đuôi. Trâu mao có đuôi dài và đẹp, đi đâu cũng gác cái đuôi trên lưng, không để cái đuôi lết dưới đất hay dùng đuôi để đuổi ruồi muỗi, vì sợ dơ và rụng lông. Để thấy, đó là cái mê mờ của chúng sanh, đã đi trong đường khổ mà không ý thức được cái khổ, cứ ham thích bám giữ, để rồi chìm sâu trong khổ đau. Tất cả mọi khổ đau đều từ tham muốn mà có, bao giờ hết tham muốn là hết khổ, mà người đời cứ nuôi lòng tham muốn nên khổ mãi. Vì vậy đức Phật nói: Tham ái là cái che lấp, làm cho chúng sanh mờ tối không thấy được lẽ thật. Thí dụ hai bà mẹ có hai đứa con chơi chung, chúng bất hòa cãi lộn, mỗi bà vì quá thương con nên không còn biết phải quấy, đứng ra bênh vực con mình, cũng cãi lộn nhau. Người mình thương thì quấy cũng thành phải, người mình ghét thì phải cũng thành quấy, không mù là gì? Tất cả mọi thấy biết của chúng sanh đều theo lòng tham ái của chính mình, nói và làm theo cái tham ái đó, nên không thấy được lẽ thật. Vì vậy mà Phật nói chúng sanh đui mù. Bởi đui mù nên càng ngày càng chìm sâu trong tà kiến, bám lấy khổ mà muốn bỏ khổ. Kinh A-hàm, Phật dạy chúng sanh bị sanh mà cầu sanh, bị vô thường mà cầu cái vô thường. Tức là thân này bị sanh ra đã khổ, khi sắp già chết lại muốn đời sau tái sanh mang thân khác. Chính thân này đã vô thường, lại ham muốn những cái vô thường khác. Chẳng hạn mong có chiếc xe thật tốt để khỏi đi bộ cho đỡ khổ nhưng khi được rồi, thời gian sau nó hư phải nhọc công sửa chữa lại càng thêm khổ. Đó là tự thân đã khổ, mà muốn lấy khổ để bỏ khổ. Thế nên, Phật khởi tâm đại bi thương xót chúng sanh tham ái mù tối, mà vì họ nói pháp độ cho hết khổ. Chánh văn: 36. Xưa, ta ngồi đạo tràng Xem cây cùng kinh hành Trong hai mươi mốt ngày Suy nghĩ việc như vầy: Trí tuệ của ta được Vi diệu rất thứ nhất Chúng sanh các căn chậm Tham vui si làm mù Các hạng người như thế Làm sao mà độ được? Bấy giờ các Phạm vương Cùng các trời Đế-thích Bốn Thiên vương hộ đời Và trời Đại Tự Tại Cùng các thiên chúng khác Trăm nghìn ức quyến thuộc Chắp tay cung kính lễ Thỉnh ta chuyển pháp luân. Ta liền tự suy nghĩ Nếu chỉ khen Phật thừa Chúng sanh chìm nơi khổ Không thể tin pháp đó Do phá pháp không tin Rớt trong ba đường dữ Ta thà không nói pháp Mau vào cõi Niết-bàn. Liền nhớ Phật quá khứ Thực hành sức phương tiện Ta nay chứng được đạo Cũng nên nói ba thừa. Giảng: Xưa, đức Phật mới thành đạo, hoặc ngài ngồi ngay đạo tràng, hoặc đi dạo trong vườn cây, hoặc đi kinh hành trên đường thẳng, suốt hai mươi mốt ngày, Phật nghĩ rằng trí tuệ mà ngài chứng được thì quá vi diệu, tối thượng, còn chúng sanh thì căn cơ quá ám độn, lại bị lòng tham ưa ngũ dục che mờ, làm sao mà độ được? Ngài nghĩ như vậy thì chư thiên đến thỉnh ngài nên thuyết pháp. Ngài mới nghĩ tiếp, nếu nói thẳng Phật thừa mà ta đã chứng thì e chúng sanh không thể tin nhận, sanh lòng hủy báng chánh pháp, sẽ mắc tội phá pháp rơi vào ba đường dữ, tốt hơn ta nên vào Niết-bàn. Nhưng ngài nhớ lại chư Phật quá khứ từng dùng sức phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nay ta cũng dùng phương tiện nói ba thừa để dẫn dắt họ từ từ. Chánh văn: 37. Lúc ta nghĩ thế đó Mười phương Phật đều hiện Tiếng Phạm an ủi ta Hay thay! Đức Thích-ca Bậc Đạo sư thứ nhất Được pháp Vô thượng ấy Tùy theo tất cả Phật Mà dùng sức phương tiện Chúng ta cũng đều được Pháp tối diệu thứ nhất Vì các loại chúng sanh Phân biệt nói ba thừa. Trí kém ưa pháp nhỏ Chẳng tự tin thành Phật Cho nên dùng phương tiện Phân biệt nói các quả Dầu lại nói ba thừa Chỉ vì dạy Bồ-tát. Giảng: Khi đức Phật Thích-ca nghĩ nên mở bày phương tiện để giáo hóa chúng sanh, thì mười phương chư Phật hoan hỷ tán thán ngài là bậc thầy thứ nhất, khéo léo biết dùng ba thừa để giáo hóa, nhưng rốt sau chỉ dùng Phật thừa để dạy Bồ-tát. Chánh văn: 38. Xá-lợi-phất nên biết! Ta nghe các đức Phật Tiếng nhiệm mầu rất sạch Xưng: “Nam-mô chư Phật!” Ta lại nghĩ thế này: Ta ra đời trược ác Như các Phật đã nói Ta cũng thuận làm theo. Suy nghĩ việc đó rồi Liền đến thành Ba-nại. Các pháp tướng tịch diệt Không thể dùng lời bày Bèn dùng sức phương tiện Vì năm Tỳ-kheo nói. Đó gọi chuyển pháp luân Bèn có tiếng Niết-bàn Cùng với A-la-hán Tên Pháp, Tăng sai khác. Từ kiếp xa vẫn lại Khen bày pháp Niết-bàn Dứt hẳn khổ sống chết Ta thường nói như thế. Giảng: Nghe chư Phật quá khứ khen, ngài liền hướng về chư Phật xưng: Nam-mô Phật. Sau đó, ngài bắt đầu khởi phương tiện tìm đến Uất-đầu Lam-phất (Udraka Rāmaputra) là vị thầy cũ dạy ngài tu chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ định và A-la-lam (Ārāda Kālāma) vị thầy dạy ngài tu từ Sơ thiền cho đến Vô sở hữu xứ định. Nhưng hai vị này vừa viên tịch, ngài mới tới thành Ba-la-nại nơi vườn Lộc Uyển, nói pháp Tứ đế độ năm anh em Kiều-trần-như là những người đồng tu học với ngài thuở trước. Từ đó mới có Tam bảo Phật Pháp Tăng, mới có danh từ Chuyển pháp luân, Niết-bàn, A-la-hán. Lần chuyển pháp luân này là phương tiện đầu tiên ngài dùng để giáo hóa chúng sanh. Chánh văn: 39. Xá-lợi-phất phải biết! Ta thấy các Phật tử Chí quyết cầu Phật đạo Vô lượng nghìn muôn ức Đều dùng lòng cung kính Đồng đi đến chỗ Phật Từng đã theo các Phật Nghe nói pháp phương tiện. Ta liền nghĩ thế này: Sở dĩ Phật ra đời Để vì nói Phật tuệ Nay chính đã đúng giờ. Giảng: Sau khi Phật phương tiện nói pháp Tứ đế v.v... để giáo hóa, ngài xét lại thấy thời cơ đã đến, chúng sanh nghe pháp đầy đủ lòng tin, ngài thấy cần phải nói thẳng về Phật thừa, nên bắt đầu nói kinh Pháp Hoa. Chánh văn: 40. Xá-lợi-phất phải biết! Người căn chậm trí nhỏ Kẻ chấp tướng kiêu mạn Chẳng thể tin pháp này. Nay ta vui vô úy Ở trong hàng Bồ-tát Chính bỏ ngay phương tiện Chỉ nói đạo Vô thượng. Bồ-tát nghe pháp đó Đều đã trừ lưới nghi Nghìn hai trăm La-hán Cũng đều sẽ thành Phật. Như nghi thức nói pháp Của các Phật ba đời Ta nay cũng như vậy Nói pháp không phân biệt. Các đức Phật ra đời Lâu xa khó gặp gỡ Chính sử hiện ra đời Nói pháp này khó hơn, Vô lượng vô số kiếp Nghe pháp này cũng khó, Hay nghe được pháp này Người đó cũng lại khó, Thí như hoa linh thoại Tất cả đều ưa mến Ít có trong trời, người Lâu lâu một lần trổ. Giảng: Phật nói với ngài Xá-lợi-phất rằng: Những người căn trí nhỏ, chậm lụt, chấp tướng, kiêu mạn, không thể tin pháp Phật nói. Họ chỉ có cái ưa muốn tầm thường, như cư sĩ tu thì mong đời sau giàu sang sung sướng, con cái hiếu thảo v.v... Còn người xuất gia tu thì mong đời sau chuyển nữ thành nam, hoặc được thông minh trí tuệ... Hoặc người kẹt trên hình tướng thì pháp có hình tướng mới tin, còn tri kiến Phật không tướng mạo thì không đủ sức tin nhận. Với người kiêu mạn, họ đã tự thấy đủ, không cần cầu nghe học thì không thể đến được tri kiến Phật. Đó là những tâm bệnh của chúng sanh nên không thể tin nhận chỗ Phật dạy ở kinh Pháp Hoa này. Nhưng Phật thấy thời tiết đến, lòng chấp của chúng sanh mòn mỏng, ngài không ngại, không sợ, sẽ vì hàng Bồ-tát nói thẳng chỗ cứu cánh là Phật thừa, khiến cho hết lòng nghi sẽ chứng quả Phật. Bởi lâu lắm mới có Phật ra đời; tuy Phật ra đời là khó, nhưng chưa khó bằng nói thẳng tri kiến Phật, đó là cái khó thứ nhất; người nghe được pháp này cũng khó, là cái khó thứ hai; nếu nghe rồi mà khéo lãnh hội lại càng khó hơn, là cái khó thứ ba. Như vậy, pháp khó nói mà Phật đã nói, pháp khó nghe mà chúng ta được nghe và nghe rồi khéo lãnh hội là tùy ở mỗi người chúng ta. Những cái khó đó nếu chúng ta vượt qua được, giống như hoa ưu-đàm cả ngàn năm mới nở một lần. Vậy nên phải khéo nghe và thấy rằng nghe được pháp này là việc hy hữu, không phải là chuyện thông thường. Đó là lời khuyến khích của Phật để cho tất cả thính chúng quý trọng pháp và lắng nghe pháp. Chánh văn: 41. Người nghe pháp mừng khen Nhẫn đến nói một lời Thời là đã cúng dường Tất cả Phật ba đời Người đó rất ít có Hơn cả hoa ưu đàm. Các ông chớ có nghi Ta là vua các pháp Khắp bảo các đại chúng Chỉ dùng đạo Nhất thừa Dạy bảo các Bồ-tát Không Thanh văn đệ tử. Giảng: Phật nói rằng người nghe pháp này mà vui mừng, khen ngợi, cho đến nói một lời tán thán thôi, là người đó đã cúng dường tất cả Phật trong ba đời, và người đó có mặt trên nhân gian này quý hơn là hoa ưu đàm. Bởi vậy mà Phật khuyên mọi người đừng có nghi, vì Phật là ông Vua pháp, tức là vị đã biết tột được tâm bệnh của chúng sanh, nói pháp đúng thời đúng bệnh, hướng dẫn chúng sanh từ thấp lên cao, đến chỗ rốt ráo. Chúng sanh chớ có nghi ngờ, nghe rồi phải tin hiểu. Ngài kết thúc, việc ngài nói pháp độ cho Thanh văn đó chỉ là phương tiện tùy cơ, chứ chỗ nhắm của Phật là dạy cho hàng Bồ-tát tu để thành Phật. Chánh văn: 42. Xá-lợi-phất các ông! Thanh văn và Bồ-tát Phải biết pháp mầu này Bí yếu của các Phật. Bởi đời ác năm trược Chỉ tham ưa các dục Những chúng sanh như thế Trọn không cầu Phật đạo. Người ác đời sẽ tới Nghe Phật nói Nhất thừa Mê lầm không tin nhận Phá pháp đọa đường dữ. Người tàm quý trong sạch Quyết chí cầu Phật đạo Nên vì bọn người ấy Rộng khen đạo Nhất thừa. Xá-lợi-phất nên biết! Pháp các Phật như thế Dùng muôn ức phương tiện Tùy thời nghi nói pháp Người chẳng học tập tu Không hiểu được pháp này. Các ông đã biết rõ Phật là thầy trong đời Việc phương tiện tùy nghi Không còn lại nghi lầm Lòng sanh rất vui mừng Tự biết sẽ thành Phật. Giảng: Phật nói rằng hàng Thanh văn, Duyên giác hay Bồ-tát nên biết diệu pháp mà Phật dạy là bí yếu của chư Phật, tất cả chư Phật ra đời cốt để truyền dạy cái bí yếu đó. Trong đời ác ngũ trược sau này, chúng sanh tham ưa đắm mê dục lạc, không hề cầu Phật đạo, nghe Phật nói Nhất thừa, họ mê chấp không thể tin nhận, rồi sẽ phá chánh pháp đọa vào đường dữ. Còn nếu ai biết hổ thẹn, gìn giữ giới luật trong sạch, có chí cầu Phật đạo thì nên vì những người đó nói đạo Nhất thừa tức là nói kinh Pháp Hoa. Pháp của Phật là như thế. Ngài dùng muôn ức phương tiện tùy cơ mà nói, nếu người không chịu học thì không thể hiểu, Phật là bậc thầy khéo dùng mọi phương tiện hướng dẫn, chúng ta chớ có nghi ngờ. Nếu nghe rồi hoan hỷ tin nhận tu hành thì chắc chắn sẽ được thành Phật. III- PHẨM THÍ DỤ Trong kinh Pháp Hoa có tất cả bảy dụ, tại sao chỉ riêng phẩm này lấy tên là Thí Dụ, còn những phẩm khác cũng dụ mà không để tên Thí Dụ? Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói lên bản hoài của chư Phật ra đời, cốt làm sao cho tất cả chúng sanh đều được khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật của chính mình, hay nói cách khác là nhận ra và hằng sống với tánh giác của chính mình. Nhưng khi chư Phật ra đời không nói thẳng bản hoài đó, vì căn cơ chúng sanh chưa kham thọ nhận, nên Phật phương tiện nói ngũ thừa, tam thừa, sau cùng mới nói Phật thừa. Trong phẩm này, đức Phật đã dùng những thí dụ để làm sáng tỏ thêm chỗ cứu cánh, để hiển bày những phương tiện mà ngài đã dẫn dắt chỉ là tạm thời. Nhờ vậy đã giúp cho hàng trung căn dễ dàng nhận ra đâu là mục tiêu chính mà Phật muốn chỉ. Cho nên phẩm này lấy tên là Thí Dụ. Chánh văn: 1. Lúc bấy giờ, ngài Xá-lợi-phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng: Nay con theo đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng hớn hở được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ-tát được thọ ký thành Phật, mà chúng con chẳng được dự việc đó, tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến Như Lai. Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vầy: “Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu thừa mà tế độ cho? Đó là lỗi của chúng con chứ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời chắc do pháp Đại thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp, vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy. Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật. Giảng: Ngài Xá-lợi-phất sau khi nghe Phật nói về trí tuệ Phật, ngài liền tin mình có khả năng thành Phật, hay nói một cách khác là ngài ngộ được tri kiến Phật của chính mình, nên vui mừng hớn hở đứng dậy chắp tay trình sở ngộ với Phật. Xưa, ngài Xá-lợi-phất nghe Phật dạy Tứ đế hay Mười hai nhân duyên, chứ không nghe Phật nói tri kiến Phật, chỉ riêng hàng Bồ-tát mới được nghe và được thọ ký sẽ thành Phật, còn ngài thì không được dự phần. Tự thấy cảm thương mình nên những lúc ở dưới cội cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc kinh hành, ngài hằng nghĩ tất cả mọi người ai cũng như ai, tại sao người được nghe pháp tối thượng, người chỉ được nghe pháp Tiểu thừa? Tại sao có chỗ sai biệt như thế? Thí dụ nhiều người tới học đạo, có người tôi khuyên nên ăn ở hiền lành, sống làm sao cho gia đình được hòa thuận tin yêu lẫn nhau. Có người tôi dạy quán các pháp như huyễn để phá ngã chấp và pháp chấp, để tự mình được giải thoát và giải thoát cho chúng sanh. Dạy như vậy tôi có bất công không? Không. Dạy tu khế lý mà phải khế cơ, nếu trình độ người thấp mà dạy pháp cao thì họ không thể lãnh hội và ứng dụng tu được, nếu ứng dụng không được thì không có lợi ích mà còn thiệt hại là khác. Vì vậy buộc lòng phải nói pháp ngang với trình độ người nghe, cho họ được lợi ích thực tiễn. Còn đối với người đã thuần thục thì nói thẳng pháp cao họ ứng dụng được, chẳng những tự họ có lợi ích mà còn có lợi cho người sau. Sở dĩ Phật nói pháp sai biệt giữa các môn đồ là bởi căn cơ sai khác, với người trình độ thấp thì ngài dùng phương tiện nâng lên từ từ, đến khi họ kham lãnh được pháp lớn thì ngài bình đẳng nói pháp Nhất thừa. Vậy, nếu mình học pháp thấp mà người khác được học pháp cao, chớ trách người dạy bất công mà phải tự biết mình chưa đủ sức kham lãnh pháp cao, nên người hướng dẫn phải tùy thuận theo khả năng của mình mà dạy pháp thấp. Đó là cái khéo của người giáo hóa. Ở đây, ngài Xá-lợi-phất tự nhận lỗi mình là đã mất vô lượng tri kiến Như Lai. Nghĩa là ngài có sẵn tri kiến Như Lai, nhưng vì căn cơ thấp kém nên Phật không nói thẳng Phật thừa cho ngài mà chỉ nói pháp Nhị thừa. Ngài tự cảm thương mình chứ không trách Phật. Nếu ngài chờ Phật nói cái nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi ngay đó mà tu hành thì sẽ được thành Phật. Nhưng vì không hiểu Phật phương tiện tùy cơ nói pháp Nhị thừa, liền tin và tu theo pháp Nhị thừa. Đó là lỗi ở ngài chứ không phải lỗi ở Phật. Kế đó, ngài Xá-lợi-phất tán thán pháp mà Phật nói chưa từng có chưa từng nghe, dứt lòng nghi hối được an ổn. Ngài tự xác nhận mình là con Phật, từ miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật. Sở dĩ ngài Xá-lợi-phất tự nhận như vậy là vì người tu lấy trí tuệ làm mạng sống, vì nhân lời Phật dạy mà được trí tuệ, đó là từ miệng Phật sanh. Nhờ pháp Phật khiến cho trí tuệ ngày càng tăng trưởng, đó là từ pháp hóa sanh. Được từng phần giác ngộ, nên nói được pháp phần của Phật. Ngày nay, đa số người đi chùa tự nhận mình là Phật tử, tức là con của đấng Giác ngộ. Nếu không giác ngộ toàn phần thì ít ra cũng giác ngộ từng phần mới dám xưng là Phật tử, chứ không phải vô phần giác ngộ mà tự xưng là Phật tử được. Trong kinh Phật dạy, người học Phật phải có đủ ba môn trí tuệ là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ tức là nghe lời Phật dạy mà khai thông trí tuệ, đó là từ miệng Phật sanh. Tư tuệ là do tư duy pháp Phật dạy mà trí tuệ phát sanh, đó là từ pháp hóa sanh. Tu tuệ là do tu thiền định mà phát sanh trí tuệ, đó là được pháp phần của Phật. Người học Phật phải có được một trong ba phần trí tuệ vừa nêu thì mới gọi là Phật tử, nếu không hiểu gì về đạo lý giải thoát thì chưa xứng đáng là Phật tử. Đây tôi nêu đôi phần giác ngộ để quý vị tự xét xem mình có phải là Phật tử không? Phật nói tất cả pháp có hình tướng ở thế gian đều là vô thường. Nếu tin mà chưa thấy rõ các pháp là vô thường thì chưa gọi là giác. Từ lâu chúng ta mê muội thấy đời là đẹp là thường, nhờ nghe Phật nói tất cả pháp có hình tướng đều là vô thường mà tâm sáng lên, biết mình đã mê lầm (Văn tuệ). Sau khi nghe rồi suy gẫm, nghiệm xét từ con người đến cảnh vật đều trải qua những giai đoạn thành trụ hoại không, biến dịch không ngừng, biết rõ ràng tất cả pháp có hình tướng đều bị luật vô thường chi phối (Tư tuệ). Sau khi xác nhận lời Phật dạy là chân lý, thì ứng dụng vào đời sống hằng ngày, chẳng hạn tâm vừa dấy khởi chạy theo sắc, theo danh, theo lợi... liền nhớ tới thân vô thường, cảnh vật vô thường, có đó rồi mất đó, đuổi theo danh lợi rồi danh lợi cũng sẽ mất, ngay đó dẹp được lòng tham danh lợi (Tu tuệ). Người tu sống được như vậy mới không hổ thẹn với danh xưng Phật tử. Chánh văn: Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 2. Con nghe tiếng pháp này Được điều chưa từng có Lòng rất đỗi vui mừng Lưới nghi đều đã trừ, Xưa nay nhờ Phật dạy Chẳng mất nơi Đại thừa. Tiếng Phật rất ít có Hay trừ khổ chúng sanh Con đã được lậu tận Nghe cũng trừ lo khổ. Con ở nơi hang núi Hoặc dưới cụm cây rừng Hoặc ngồi hoặc kinh hành Thường suy nghĩ việc này. Than ôi! Rất tự trách Sao lại tự khi mình Chúng ta cũng Phật tử Đồng vào pháp vô lậu Chẳng được ở vị lai Nói pháp Vô thượng đạo, Sắc vàng, ba hai tướng Mười lực, các giải thoát. Đồng chung trong một pháp Mà chẳng được việc đây Tám mươi tướng tốt đẹp Mười tám pháp bất cộng Các công đức như thế Mà ta đều đã mất. Giảng: Ngài Xá-lợi-phất nghe Phật nói mọi người ai cũng có tri kiến Phật, và chủ yếu Phật ra đời là để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Ngài tin chắc rằng ngài sẽ được pháp Đại thừa và được thành Phật. Ngài Xá-lợi-phất nói Phật thuyết pháp cốt là giải khổ cho chúng sanh. Rồi ngài tự trách mình là đệ tử của Phật, cũng được pháp vô lậu mà không được thọ ký thành Phật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thập lực, tám món giải thoát. Chánh văn: 3. Lúc con kinh hành riêng Thấy Phật ở trong chúng Danh đồn khắp mười phương Rộng lợi ích chúng sanh. Tự nghĩ mất lợi này Chính con tự khi dối Con thường trong ngày đêm Hằng suy nghĩ việc đó Muốn đem hỏi Thế Tôn Là mất hay không mất? Con thường thấy Thế Tôn Khen ngợi các Bồ-tát Vì thế nên ngày đêm Suy lường việc như vậy. Giảng: Ngài Xá-lợi-phất khi ở chỗ vắng vẻ suy gẫm có phải mình đã tự mất giống Phật không, muốn đem hỏi Thế Tôn mà ngài chưa dám hỏi. Chánh văn: 4. Nay nghe tiếng Phật nói Theo cơ nghi dạy pháp Vô lậu khó nghĩ bàn Khiến chúng đến đạo tràng. Con xưa chấp tà kiến Làm thầy các Phạm chí Thế Tôn rõ tâm con Trừ tà nói Niết-bàn. Con trừ hết tà kiến Được chứng nơi pháp không, Bấy giờ lòng tự bảo Được đến nơi diệt độ. Mà nay mới tự biết Chẳng phải thật diệt độ. Nếu lúc được thành Phật Đủ ba mươi hai tướng Trời, người, chúng dạ-xoa Rồng, thần đều cung kính Bây giờ mới được nói Dứt hẳn hết không thừa. Phật ở trong đại chúng Nói con sẽ thành Phật Nghe tiếng pháp như vậy Lòng nghi hối đã trừ. Giảng: Ngài Xá-lợi-phất nói thuở xưa ngài là thầy của ngoại đạo Phạm chí, Phật biết tâm của ngài nên giáo hóa ngài trừ hết các tà kiến, chứng được pháp không, tức Niết-bàn của Nhị thừa. Nghĩa là ngài quán sát thấy thân này do năm uẩn giả hợp mà thành, tự tánh nó là không nên nói là vô ngã. Người đạt được lý đó thì chứng quả A-la-hán. Ngài tưởng chứng quả A-la-hán là Niết-bàn thật. Bây giờ nghe Phật nói pháp Đại thừa mới biết đó là Niết-bàn tạm, chứ không phải Niết-bàn thật. Tu bao giờ công đức viên mãn thành Phật mới là Niết-bàn thật, ngài không nghi ngờ nữa. Chánh văn: 5. Khi mới nghe Phật nói Trong lòng rất sợ nghi Phải chăng ma giả Phật Não loạn lòng ta ư? Phật dùng các món duyên Thí dụ khéo nói phô, Lòng kia an như biển Con nghe, lưới nghi dứt. Phật nói thuở quá khứ Vô lượng Phật diệt độ An trụ trong phương tiện Cũng đều nói pháp đó. Phật hiện tại, vị lai Số nhiều cũng vô lượng Cũng dùng các phương tiện Diễn nói pháp như thế. Như Thế Tôn ngày nay Từ sanh đến xuất gia Được đạo chuyển pháp luân Cũng dùng phương tiện nói. Thế Tôn nói đạo thật Ba-tuần không nói được. Vì thế con định biết Không phải ma giả Phật, Con sa vào lưới nghi Cho là ma làm ra. Nghe tiếng Phật êm dịu Sâu xa rất nhiệm mầu Nói suốt pháp thanh tịnh Tâm con rất vui mừng. Nghi hối đã hết hẳn An trụ trong thật trí Con quyết sẽ thành Phật Được trời, người cung kính Chuyển pháp luân Vô thượng Giáo hóa các Bồ-tát. Giảng: Khi mới nghe Phật nói những vị A-la-hán, Duyên giác tuy chứng Niết-bàn nhưng không phải thật, ngài Xá-lợi-phất tưởng chừng như ma hóa ra Phật nói. Vì ngày xưa Phật dạy pháp Tứ đế là lý chân thật, ngày nay lại nói Diệt đế chưa phải là cứu cánh, chưa phải là Niết-bàn nên ngài nghi. Nhưng ngài nghe Thế Tôn giảng chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai khi ra đời giáo hóa đều dùng phương tiện như nhau, trước nói ba thừa rồi sau nói Phật thừa, nhờ vậy mà ngài tin chắc đó là lời Phật nói không phải là ma. Nên ngài nói rằng nay nghe tiếng Phật rất êm dịu, sâu xa nhiệm mầu thanh tịnh, ngài vui mừng hết nghi, tin chắc sẽ thành Phật, nói pháp Đại thừa giáo hóa Bồ-tát. Tới đây ngài Xá-lợi-phất có lòng tin bất thối chuyển không còn lui sụt nữa, quyết định sẽ tiến tới quả Phật, vì vậy mà sau này được thọ ký thành Phật. Chúng ta nghe Phật nói, có đủ lòng tin mình có sẵn tri kiến Phật, khởi tâm tu thì sẽ thành Phật không? Tri kiến Phật là cái nhân, là hạt giống Phật, nếu đã tiến tu không thối chuyển thì nhất định sẽ thành Phật không nghi. Và được thọ ký vô lượng kiếp về sau sẽ thành Phật, không cố định thời gian dài ngắn, quyết định sẽ thành Phật. Đó là then chốt mà người tụng hay trì kinh Pháp Hoa phải nắm vững. Nếu trì kinh Pháp Hoa mà còn mong cầu cho có phước, giàu sang, vui tươi, mát mẻ... thì chưa đúng tinh thần trì kinh Pháp Hoa. Chánh văn: 6. Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo Vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta. Xá-lợi-phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Giảng: Đức Phật Thích-ca mới thành Phật trong đời này, tại sao ở đây lại nói đức Phật đã từng ở hai muôn ức Phật, vì đạo Vô thượng thường giáo hóa ngài Xá-lợi-phất, ngài Xá-lợi-phất cũng đã từ lâu theo Phật thọ học, và được Phật phương tiện dẫn dắt cho vào pháp Phật? Phật lâu xa đó là chỉ cho Phật pháp thân, còn Phật thành đạo ở Ấn Độ là Phật hóa thân. Đứng về mặt pháp thân thì ai cũng có pháp thân Phật, nên nói Phật từng giáo hóa từ xa xưa, và đã từng dạy cho ngài Xá-lợi-phất tu với chí nguyện thành Phật, nhưng vì ngài Xá-lợi-phất quên đi. Khi nghe pháp Nhị thừa, ngài tu được diệt độ bèn cho là đã đủ. Vì vậy mà đức Phật đã nhắc lại hạnh nguyện xưa của ngài Xá-lợi-phất, rồi mới vì hàng Thanh văn nói kinh Pháp Hoa, để thấy tất cả mọi người ai cũng có bản nguyện thành Phật. Bản nguyện đó chính là Phật tánh sẵn có nơi mỗi người, nhưng vì quên, nên khi nghe pháp nhỏ liền chấp nhận và tu rồi tự hài lòng nơi đó. Bây giờ Phật nhắc ai cũng sẵn có tri kiến Phật và ai tu cũng sẽ thành Phật, chừng đó mới chợt nhận ra tu là phải thành Phật, chứ tầng bậc quả vị chỉ là tạm thời thôi. Chánh văn: 7. Xá-lợi-phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Nước tên Ly Cấu, cõi đó bằng phẳng, thanh tịnh đẹp đẽ, an ổn giàu vui, trời, người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có bông trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh. Xá-lợi-phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là “Đại Bửu Trang Nghiêm”. Vì sao gọi là “Đại Bửu Trang Nghiêm”? Vì trong cõi đó dùng Bồ-tát làm “Đại Bửu” vậy. Các Bồ-tát đó số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể hay thí dụ đều không kịp đến được, chẳng phải sức trí tuệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa báu đỡ chân. Các vị Bồ-tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội đức từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh, hằng được các Phật ngợi khen. Thường tu trí tuệ của Phật, đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững, bậc Bồ-tát như thế, khắp đầy nước đó. Xá-lợi-phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ lúc còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ-tát mà bảo các Tỳ-kheo: Ông Kiên Mãn Bồ-tát này kế đây sẽ thành Phật, hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây. Xá-lợi-phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ trong đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp. Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 8. Xá-lợi-phất đời sau Thành đấng Phật trí khắp Hiệu rằng: Phật Hoa Quang Sẽ độ vô lượng chúng. Cúng dường vô số Phật Đầy đủ hạnh Bồ-tát Các công đức thập lực Chứng được đạo Vô thượng Quá vô lượng kiếp rồi Kiếp tên Đại Bửu Nghiêm Cõi nước tên Ly Cấu Trong sạch không vết nhơ Dùng lưu ly làm đất Dây vàng giăng đường sá Cây bảy báu sắc đẹp Thường có hoa cùng trái Bồ-tát trong cõi đó Chí niệm thường bền vững Thần thông, ba-la-mật Đều đã trọn đầy đủ Nơi vô số đức Phật Khéo học đạo Bồ-tát Những đại sĩ như thế Phật Hoa Quang hóa độ. Lúc Phật làm vương tử Rời nước bỏ vinh hoa Nơi thân cuối rốt sau Xuất gia thành Phật đạo. Phật Hoa Quang trụ thế Thọ mười hai tiểu kiếp, Chúng nhân dân nước đó Sống lâu tám tiểu kiếp, Sau khi Phật diệt độ Chánh pháp trụ ở đời Ba mươi hai tiểu kiếp Rộng độ các chúng sanh. Chánh pháp diệt hết rồi Tượng pháp cũng ba hai Xá-lợi rộng truyền khắp Trời, người khắp cúng dường Phật Hoa Quang chỗ làm Việc đó đều như thế. Đấng Lưỡng Túc Tôn kia Rất hơn không ai bằng Phật tức là thân ông Nên phải tự vui mừng. Giảng: Phật thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất trong đời vị lai, vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, cúng dường nghìn ức Phật, hộ trì chánh pháp đầy đủ đạo hạnh của Bồ-tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai. Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp sẽ thành Phật. Thời gian thành Phật quá xa mà ngài Xá-lợi-phất vui mừng cho rằng Được việc chưa từng có. Nếu chúng ta thời nay được Phật thọ ký với thời gian lâu xa như vậy sẽ thành Phật, chắc là không mừng, vì tu lâu quá nên ngán! Thọ ký khoảng năm mười năm thành Phật thì khả dĩ vui mừng và lo tu hành cho mau được kết quả. Có phải chúng ta sốt sắng mong mau thành Phật hơn ngài Xá-lợi-phất không? Như trước đã nói, tri kiến Phật là cái không hạn cuộc ở không gian và thời gian. Vì nó là cái chưa từng sanh cũng như chưa từng diệt, nên nói bao nhiêu kiếp cũng là vô nghĩa. Chỉ biết mình có Phật tánh và tin mình tu sẽ thành Phật là đủ rồi. Chúng ta vì còn kẹt trên thời gian, chưa nhận ra tri kiến Phật, chỉ nhận cái thân tứ đại là mình, sống khoảng năm sáu chục năm là chết. Nên nghe nói vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, thấy quá xa không tin mình có thể thực hiện được. Đâu ngờ chính tri kiến Phật mới thật là mình. Ngài Xá-lợi-phất đã nhận ra tri kiến Phật chính là mình, biết có Phật nhân chắc chắn Phật quả không mất phần, nên dầu có bỏ bao nhiêu cái thân tứ đại duyên hợp tạm bợ này cũng không đáng kể. Chỉ cần Phật ấn chứng là an lòng, là mãn nguyện rồi. Ngày nay chúng ta nghe nói tu khoảng một tỷ kiếp mới thành Phật thì buồn, thấy lâu xa quá không đủ kiên nhẫn để tu, nên xao lãng thối chí. Đó là do tâm sanh diệt nhỏ hẹp lệ thuộc thời gian, nên nghe Phật nói đến thời gian lâu xa không thể nghĩ lường thì hoảng sợ không đủ lòng tin. Có nhiều người tu hạn định trong khoảng thời gian ba năm hoặc năm năm phải đạt đạo. Thoạt nghe thì dường như người ấy có ý chí dõng mãnh đáng khen. Nhưng nếu tu ba năm, năm năm không đạt đạo thì sao? Thối Bồ-đề tâm. Đó là cái bệnh. Người tu mà nôn nóng mong mau thành đạo là người ý chí dõng mãnh hay người tham lam lười nhác? Thí dụ người chân yếu nghe nói cảnh đẹp nhưng đường dài, thì ngao ngán không muốn đi. Với người chân khoẻ, đường dài thì mặc đường dài, cứ nhắm đích mà thẳng tiến, không do dự không ngại ngùng, đó là người dõng mãnh gan dạ, bền chí. Cũng vậy, chư Bồ-tát Thanh văn trong pháp hội lòng tin và ý chí đã vững, tuy Phật thọ ký trong khoảng thời gian lâu xa như vậy mà các ngài hoan hỷ vui mừng, tâm không chao động thối lui. Chúng ta ngày nay lòng tin không vững, thiếu nghị lực, tu muốn cho mau đạt đạo nên dễ bị gạt, rơi vào đường tà, rẽ ngã này tẽ ngã kia, rốt cuộc rồi không đến đích. Đó là bệnh chung của đa số người tu Phật hiện nay. Với người tu chân chánh, một phen nghe Phật dạy, biết rõ tu là để giác ngộ thành Phật, lúc nào cũng thấy rõ lẽ thật hư của các pháp, không lầm, không mong dễ, không mong mau, không ham hào nhoáng hấp dẫn, cứ như thế mà sống cho đến khi hoàn toàn triệt ngộ là đến đích thành Phật. Những cái hào nhoáng hấp dẫn thu hút là cái quảng cáo dối gạt người tu. Lý đạo chân thật thì thậm thâm vi diệu, lặng lẽ, không nổi bật, không phô trương màu mè để thu hút người. Nếu người tu Phật càng chạy theo những cái phô trương hấp dẫn là càng xa với đạo. Phật thọ ký ngài Xá-lợi-phất thành Phật, nước tên Ly Cấu, kiếp tên Đại Bửu. Cõi nước Ta-bà ngũ trược của đức Phật Thích-ca, chúng sanh nhiều nghiệp ác nên Phật mới phương tiện dùng ngũ thừa hoặc tam thừa để giáo hóa. Tại sao cõi nước Ly Cấu là cõi nước thanh tịnh, Phật cũng dùng ba thừa để giáo hóa? Đây là bản nguyện của tất cả chư Phật mười phương đều dùng phương tiện nói ba thừa. Sở dĩ gọi kiếp tên Đại Bửu Trang Nghiêm là vì kiếp đó có vô số Bồ-tát tu hành thanh tịnh, là những bậc cao minh trang nghiêm cõi Phật, chứ không phải cõi đó trang nghiêm bằng châu báu vàng bạc. Qua dữ kiện này, chúng ta thấy chùa nào tăng ni tu hành chân chánh thanh tịnh thì chùa đó được người đời quý trọng. Nếu chùa nào tăng ni phạm trai phá giới, tu hành lôi thôi thì người đời xem thường. Như vậy người đời quý kính là quý kính tâm người cao đẹp thanh tịnh, nếu tâm người ô uế bất tịnh thì không quý. Vậy chư tăng ni đừng quan niệm rằng cất chùa cho thật to, thỉnh Phật cho thật lớn, trang hoàng cho thật lộng lẫy là người đời quý trọng chùa mình. Người đời quý kính là quý kính người tu chân chánh cầu đạo giải thoát, chứ không phải trọng cảnh đẹp. Cho nên người tu ngộ đạo dù cho vị đó mặc áo vá, ăn cơm hẩm, ở hang đá hay am tranh, người ta vẫn tìm đến lễ bái cúng dường. Đạo lý là ở nơi con người, người thanh tịnh mới đáng tôn kính quý trọng. Như vậy người tu đừng có tâm mơ mộng tạo chùa cảnh cho đẹp để mai kia mình trụ trì, mà phải cố gắng nỗ lực tu, chính mình tu chân chánh mới dạy được người tu đàng hoàng, đó là trang nghiêm chùa cảnh. Muốn cõi Phật mình được trang nghiêm thì phải thực hiện đủ hai môn phước và tuệ. Về phần tuệ tự mình phải nỗ lực tu tỉnh để được giác ngộ viên mãn, về phần phước thì phải giáo hóa chúng sanh. Khi đã giáo hóa chúng sanh viên mãn thì thành Phật. Giả sử đời này chúng ta ngộ đạo là đã có trí tuệ, nhưng chưa giáo hóa chúng sanh làm sao có phước? Sở dĩ Bồ-tát khi thành Phật có vô số đồ đệ Thanh văn Bồ-tát, là những bậc tu phạm hạnh, tu trí tuệ Phật, có sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, tâm ngay thật, chí bền vững, là do thời gian hành Bồ-tát đạo giáo hóa chúng sanh lâu dài, nên mới có quyến thuộc đông như vậy, và có phước tròn đầy nên mới được tôn xưng là Lưỡng Túc Tôn. Ngày nay, chúng ta tu muốn năm năm, bảy năm thành Phật, trong khi chưa độ sanh làm sao được phước tuệ viên mãn? Vậy nếu được Phật thọ ký khoảng thời gian lâu dài sẽ thành Phật, chúng ta có buồn ngán không? Thời gian tu tập lâu dài thì việc lợi sanh cũng nhiều, phước đức thêm lớn. Khi việc tự giác giác tha đã viên mãn thì mới đủ phước và tuệ để thành Phật, quyến thuộc mới đông nhiều để trang nghiêm cõi Phật đúng như hạnh nguyện. Tu chỉ muốn năm năm, bảy năm thành Phật, làm sao có đủ phước tuệ để thành Phật? Dù muốn thành cũng không thể thành. Đoạn này có hai điểm đáng lưu ý. Kiếp chót của đức Thích-ca thành Phật sanh làm vương tử, ở đây Phật thọ ký cho ngài Xá-lợi-phất kiếp chót thành Phật cũng làm vương tử và các đức Phật cũng đều như vậy. Tại sao đời chót của chư Phật đều sanh làm vương tử mà không sanh trong gia đình bần cùng? Vì khi Bồ-tát tu tới quả vị Nhất sanh bổ xứ thì phước đức vô lượng vô biên, nên sanh làm vương tử mà không sanh vào chỗ xấu ác. Hơn nữa, vương tử bỏ ngôi đi tu, để cho mọi người thấy rằng ngài đang ở trong ngũ dục lạc sung mãn, mà gan dạ từ bỏ ngũ dục lạc, khiến cho mọi người ngưỡng mộ kính phục để giáo hóa họ. Và một vương tử có đủ quyền thế mà còn từ bỏ, trong khi mọi người là những kẻ không có chút quyền hành, sao không gan dạ xả bỏ để tu? Phần Trùng tụng lặp lại ý trên nên tôi không giảng, tuy nhiên bốn câu chót: Đấng Lưỡng Túc Tôn kia, Rất hơn không ai bằng, Phật tức là thân ông, Nên phải tự vui mừng. Tại sao nói Phật tức là thân ông? Vì ngài Xá-lợi-phất nhận ra tri kiến Phật của chính mình, nên ngài tin chắc sẽ thành Phật, và ngài cũng được Phật thọ ký thành Phật. Bởi ngay nơi thân năm uẩn phàm phu này có sẵn Phật nhân nên nói Phật tức là thân này. Trong Chứng Đạo Ca của thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, đoạn mở đầu có câu Huyễn hóa không thân tức pháp thân nghĩa là ngay nơi thân năm uẩn duyên hợp huyễn hóa này tức là pháp thân, pháp thân không rời thân năm uẩn này mà có. Ngay thân năm uẩn của mỗi người ai cũng có sẵn pháp thân, nhưng vì không dám nhận nên tự thấy mình là kẻ phàm phu vô phần, nếu đủ lòng tin dám nhận thì thấy mình có phần, sẽ thành Phật. Vậy không cần tìm kiếm Phật ở đâu xa, chỉ khéo nhận pháp thân chân thật ngay nơi thân năm uẩn huyễn hóa này, và hằng sống với pháp thân chân thật thì được an vui tự tại. Nên nói Phật tức là thân ông, nên phải tự vui mừng. Chánh văn: 9. Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ và cả đại chúng: trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già v.v... thấy Xá-lợi-phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật. Thích-đề-hoàn-nhân cùng Phạm Thiên vương v.v... và vô số thiên tử cũng đem y đẹp của trời, hoa trời mạn-đà-la, ma-ha mạn-đà-la v.v... cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trỗi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng: Đức Phật xưa ở thành Ba-la-nại, ban đầu chuyển pháp luân, đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn Vô thượng. Lúc đó các thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 10. Xưa ở thành Ba-nại Chuyển pháp luân bốn đế Phân biệt nói các pháp Sinh diệt của năm nhóm Nay lại chuyển pháp luân Rất lớn diệu Vô thượng, Pháp đó rất sâu mầu Ít có người tin được. Chúng ta từ xưa lại Thường nghe Thế Tôn nói Chưa từng nghe thượng pháp Thâm diệu như thế này. Thế Tôn nói pháp đó Chúng ta đều tùy hỷ, Đại trí Xá-lợi-phất Nay được lãnh Phật ký, Chúng ta cũng như vậy Quyết sẽ được thành Phật, Trong tất cả thế gian Rất tôn không còn trên, Phật đạo chẳng thể bàn Phương tiện tùy nghi nói, Ta bao nhiêu nghiệp phước Đời nay hoặc quá khứ Và công đức thấy Phật Trọn hồi hướng Phật đạo. Giảng: Lần đầu đức Phật nói pháp Tứ đế ở vườn Lộc Uyển, để phá ngã chấp cho năm anh em ông Kiều-trần-như khiến chứng Niết-bàn Thanh văn. Nay đức Phật nói pháp vô thượng vi diệu khó tin khó hiểu, mà ngài Xá-lợi-phất có khả năng tin nhận và được Phật thọ ký, cho nên tất cả thính chúng trong pháp hội đều vui mừng tùy hỷ. Theo các kinh A-hàm thì ngài Xá-lợi-phất là đệ tử lớn của Phật, là người được thời trí, tức là trí tuệ ứng đối kịp thời, hỏi là đáp không cần suy nghĩ, khiến cho người nghe tiếp nhận dễ dàng, nên được khen ngợi là người trí tuệ bậc nhất, là hàng thượng căn. Khi nghe Phật nói pháp tối thượng vi diệu thì ngài ngộ trước. Cả hội chúng đều hớn hở vui mừng cúng dường y, cúng dường hoa lên đức Phật. Đó là tâm tùy hỷ của người xưa vì đạo. Còn phần đông chúng ta ngày nay thấy có người hơn mình thì không vui, khởi lên những niệm tỵ hiềm, nên tu không tiến là ở chỗ đó. Phần trùng tụng lặp lại ý trên không có gì khác nên khỏi giảng. Chánh văn: 11. Bấy giờ, Xá-lợi-phất bạch rằng: Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: “Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết-bàn.” Các vị hữu học, vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v... nói là được Niết-bàn, mà nay ở trước đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối. Giảng: Ngài Xá-lợi-phất thấy chỉ có ngài được thọ ký, số người còn lại chưa được thọ ký. Với tâm lượng của đàn anh, ngài được lợi ích thế nào thì cũng muốn cho huynh đệ được lợi ích như thế ấy, nên ngài bạch với Phật rằng nay con không còn nghi hối, được Phật thọ ký. Còn một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo thuộc hàng hữu học và vô học ở trong chúng, thường theo Phật nghe pháp Tứ đế, tu chứng Niết-bàn, nghe Thế Tôn nói về tri kiến Phật, các Tỳ-kheo ấy nghi ngờ không biết mình có kham làm Phật không? Ngài Xá-lợi-phất muốn đức Phật vì một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo ấy mà giải thích rõ hơn, nên ngài vừa tán thán công đức những vị ấy vừa cầu xin đức Phật thương xót mà nói pháp cho họ hết nghi lầm, đều được thọ ký như ngài. Đó là tâm hạnh của Bồ-tát. Còn tâm lượng phàm phu thì khác, chỉ muốn mình hơn người chứ không muốn người bằng mình, vì có người bằng mình thì mình mất giá trị. Đó là tâm bệnh của chúng ta hiện nay. Chánh văn: 12. Khi ấy, Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Ta trước đâu không nói rằng: “Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” ư? Các điều nói đó đều vì dạy hàng Bồ-tát vậy. Nhưng Xá-lợi-phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà đặng hiểu. Giảng: Tới đây, đức Phật bắt đầu chỉ cho mọi người biết rằng đoạn trước chư Phật dùng phương tiện này phương tiện nọ để giáo hóa chúng sanh, nhưng cuối cùng chỉ đưa họ đến quả vị Phật. Bây giờ muốn rõ thì nghe Phật thí dụ: Chánh văn: 13. Xá-lợi-phất! Như trong quốc, ấp, tụ lạc có vị đại trưởng giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông: hoặc một trăm, hai trăm, cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chân cột hư nát, trính xuyên xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa. Các người con của trưởng giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó. 14. Trưởng giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn, không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi. Xá-lợi-phất! Ông trưởng giả đó lại nghĩ: Thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế v.v... từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ. Nhà này đã bị cháy phải liền mau ra, chớ để bị lửa đốt hại. Nghĩ như thế rồi theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa! Gì là nhà! Thế nào là hại! Chỉ cứ đông tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi. Giảng: Đây là cái cớ đầu tiên của bậc đại trí, đức Phật đưa thí dụ ông trưởng giả tuổi già, giàu có, nhiều ruộng vườn tôi tớ, nhà rộng lớn chỉ có một cửa để ra vào, cột kèo trính xuyên hư mục, vách phên xiêu vẹo, con trong nhà có hàng mấy chục người đang nô đùa chơi giỡn, bỗng lửa bốc cháy bốn phía nhà. Thấy lửa bốc cháy, ông trưởng giả lo ngại và nghĩ rằng ông tuy ở trong nhà lửa, nếu muốn ra thì ra một cách dễ dàng, còn đám con của ông cứ mải miết chơi giỡn, không hề hay biết, không hề sợ lửa đốt cháy thân mình, cũng không có ý muốn ra khỏi nhà lửa. Ông trưởng giả bảo các con mau ra khỏi nhà lửa, thế mà các người con không nghe, nhìn ông rồi cứ chạy giỡn. Nhà lửa là chỉ cho cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc đang bị lửa vô thường, lửa tham, sân, si thiêu đốt, mà chúng sanh ở trong ba cõi này không hay biết, không có ý muốn ra. Chúng ta sống trong cõi đời này, một ngày trôi qua là một ngày bị lửa vô thường thiêu đốt mòn một phần thân thể, một tháng trôi qua là một tháng bị lửa vô thường thiêu đốt thân mình, một năm trôi qua là một năm bị lửa vô thường thiêu hoại hình hài. Rồi sáu mươi năm, bảy mươi năm, tám mươi năm... toàn thân con người bị thiêu rụi, hoàn toàn sụp đổ. Lửa vô thường thiêu đốt, làm hư hoại người vật từng giây phút, từng ngày giờ, từng năm tháng mà chúng ta không hay không biết! Thầy trụ trì Thiện Phát xưa ở Phước Hòa có vóc dáng tráng kiện tươi trẻ, khi tới Huệ Nghiêm cũng còn khỏe mạnh, rồi tới Chơn Không sức cũng còn kha khá, bây giờ ở Thường Chiếu thì đã già nua yếu đuối. Đó là một bằng chứng cụ thể, lửa vô thường âm thầm thiêu đốt tất cả người vật không ngừng nghỉ. Chúng ta xét kỹ rồi thương mình thương người, dù cho người có nhiều tiền của, nhà lầu, xe hơi, quyền thế danh vọng cũng không thoát được cái nạn lửa vô thường thiêu đốt. Vậy mà con người cứ mãi đuổi theo danh lợi quyền thế và mong cho ngày tháng qua mau, trông chờ xuân đến để thực hiện những mộng mơ ước muốn của mình cho tốt. Đâu ngờ rằng mong ngày tháng qua mau là mong lửa vô thường sớm thiêu rụi hình hài này! Tâm người quá mâu thuẫn, luôn luôn sợ chết, không muốn chết sớm, mà mong ngày tháng qua mau, thật là mê lầm điên đảo đáng thương. Nên Phật thuyết giáo cho biết thân là vô thường, các pháp là hư dối; tuy có nghe nhưng vẫn còn mê say ngũ dục, chưa có ý muốn ra khỏi. Cũng giống như những đứa con ông trưởng giả, tuy nghe cha nói nhà cháy sắp sụp đổ, nguy hiểm tới rồi, mà vẫn cứ mải mê chơi giỡn, không chịu chạy ra, không nghe lời cha khuyên bảo. Đó là những đứa con ngu si bất hiếu. Vậy mà đêm nào chúng ta cũng lạy Phật cầu nguyện: Con kính tin Tam bảo, học tu theo giáo pháp Phật để được giải thoát sanh tử. Và những buổi sám hối quỳ thưa có vẻ thống thiết lắm, nhưng rồi thì chứng nào tật nấy không chịu sửa đổi. Đời sống của người tu là đời sống cao thượng, ý thức được lý vô thường, biết rõ lửa vô thường đang âm ỉ đốt cháy thân mình, mong muốn thoát ra khỏi nhà lửa nên mới đi tu. Thế mà khi đi tu rồi lại quên, cũng tìm cách này cách nọ để giải trí cho vui, giết chết thời giờ vô ích. Để thời giờ và công sức vào việc tu học thì thấy như làm một việc khó nhọc cực khổ. Thí dụ tối và khuya tôi tăng giờ tụng kinh và ngồi thiền thì quý vị ngán, than không kham nổi. Còn nếu để cho quý vị vui chơi văn nghệ tới khuya thì không ai than thở, lại còn lấy làm thích thú. Vậy văn nghệ có cứu quý vị thoát khỏi lửa vô thường thiêu đốt không? Hay chỉ là những trò chơi giải trí cho vui, qua rồi thì mất? Việc tu là việc cấp thiết để giải khổ thì lại lơ là! Vì biết chư tăng ni có chí nguyện xuất gia cầu giải thoát sanh tử, tức là cầu ra khỏi nhà lửa, cho nên tôi khuyến khích thúc đẩy cho quý vị nỗ lực tu hành. Khuyến khích thúc đẩy là cái duyên tốt đưa quý vị ra khỏi sanh tử luân hồi, mà quý vị không biết đón nhận, lại có ý tránh né. Có người nói ở đây vừa làm việc, vừa học, vừa tu cực quá, để đi chỗ khác tu cho khỏe! Tu là tu cho quý vị chứ đâu phải tu cho tôi, quý vị tu một ngày là quý vị được lợi ích một ngày, tôi có được lợi ích gì đâu? Chúng ta mê muội tập khí sâu dày, tuy có tỉnh giác phát nguyện xuất gia, tuy xuất gia nhưng lâu rồi quên, trở lại thói cũ là ngu si của thuở xưa, cũng ham chơi, chạy theo những thú vui của thế tục, chứ không chịu lo tu hành để giải thoát sanh tử. Nếu là người trí khi đã xuất gia rồi thì trong lòng đau đáu, nghĩ phải làm sao thoát khỏi nhà lửa này, chứ không ngồi yên chờ cho lửa cháy tới thiêu rụi cả nhà, cả thân. Khi nào ra khỏi nhà lửa rồi mới an ổn vui chơi. Ngày nào còn trong nhà lửa là ngày đó phải tỉnh giác, biết sợ cái hiểm nguy của lửa vô thường thiêu đốt mà cố gắng thoát ra. Chánh văn: 15. Bấy giờ Trưởng giả liền nghĩ: Nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không liền ra chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này. Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có chắc chúng nó ưa lắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có, khó được mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy, sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa, nên mau ra đây, tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con.” Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình, nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau, cùng đua nhau ruổi chạy, tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng giả thấy các con đặng an ổn ra khỏi nhà lửa, đều ở trong ngã tư đường ngồi nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở. Bấy giờ các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu, xin liền ban cho.” Giảng: Nghiệm lại mới thấy cái si mê của chúng ta quá lắm, đang bị nguy hiểm bủa vây, đáng sợ mà không sợ, lại cứ mải miết tham mê, Phật kêu ra mà không ra. Thật đáng thương! Cho nên ngài mới tìm cách dẫn dụ. Trưởng giả biết các con ham chơi, ưa thích đồ quý đẹp, nên bảo: Các con mau ra khỏi nhà lửa, cha sẽ cho đồ chơi quý tốt như xe dê, xe hươu, xe trâu, ở ngoài cửa sẽ tùy ý dạo chơi, hãy ra mau! Các người con nghe có đồ chơi tốt quý sanh lòng ham thích, đua nhau chạy ra. Tất cả chúng ta đều mê lầm nên Phật nói thẳng lẽ thật, chúng ta không kham tin nhận nên ngài phải dùng phương tiện dụ dỗ mới chịu nghe. Cái mà đem ra dụ dỗ thì không thật, nhưng đức Phật lại nói. Tuy là cái dụ dỗ không thật mà vẫn hơn. Khi chúng sanh tu để ra khỏi nhà lửa tam giới, chỉ nghĩ sẽ được quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Nhưng khi ra khỏi nhà lửa rồi thì được Phật chỉ cho Phật thừa bình đẳng, quá sức tưởng tượng, quá điều mong ước của chúng sanh. Tới đây chúng ta mới thấy lòng từ bi của đức Phật vô lượng vô biên, ngài dùng đủ mọi phương tiện dẫn dụ, thế mà chúng ta có người nghe có người không nghe, cứ quanh quẩn trong cảnh nguy hiểm khổ đau không chịu ra. Thậm chí ngài phải khai thác tâm lý để dẫn dụ: Ráng niệm Phật chừng mười câu, nếu được nhất tâm bất loạn thì được Phật A-di-đà và Thánh chúng đón về Cực lạc, ở đó không có khổ, cực kỳ vui sướng, muốn gì được nấy. Ngài biết chúng sanh đang ham mê ngũ dục lạc ở thế gian, ham tiền của, vàng bạc châu báu nên Phật nói ở cõi Cực lạc đất cát thì bằng vàng, có lan can, lưới, cây, ao bằng bảy báu, lầu các làm bằng pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Chúng sanh tham ưa mùi thơm, sắc đẹp, tiếng hay thì Phật nói cõi Cực lạc có hoa sen lớn, có ánh sáng đủ màu, mùi thơm vi diệu, có nhạc trời, chim báu ngày đêm ca hát với âm thanh tuyệt diệu. Thích ăn ngon, Phật nói ở Cực lạc muốn ăn liền có ăn… toàn là những cái đúng với sở thích của chúng sanh. Như vậy cho thấy đức Phật từ bi đáo để và rất khéo dùng phương tiện trị bệnh đam mê dục lạc của chúng sanh ở cõi này. Phật nói thẳng chúng sanh không nghe, không tin, nên phải dẫn dụ, dụ bằng cách này không được thì dụ bằng cách khác. Thấy tâm lượng của Phật, chúng ta vừa tôn kính Phật mà cũng vừa tức cười cho mình là đứa bé bị dụ dỗ! Chánh văn: 16. Xá-lợi-phất! Khi đó Trưởng giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau giồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rũ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh, bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó. Vì cớ sao? Vì ông trưởng giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cực, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác. Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho cả người một nước hãy còn không thiếu, huống gì các con.” Lúc ấy, các người con đều ngồi xe lớn được điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông. Giảng: Ông trưởng giả dụ những người con ra khỏi nhà lửa sẽ cho ba xe, nhờ vậy mà chúng đua nhau chạy ra khỏi nhà lửa. Khi chúng ra rồi ông trưởng giả không cho ba xe, mà chỉ cho xe trâu trắng lớn bậc nhất, trang trí bằng những vật quý giá. Sở dĩ ông cho như vậy là vì tâm ông bình đẳng không muốn có sự sai biệt giữa các con. Vả lại ông là người giàu có của cải vô lượng, giả sử cho xe tốt đó khắp người trong thiên hạ cũng không thiếu. Vậy, xe trâu trắng đó là dụ cho tri kiến Phật có sẵn nơi mỗi người; nếu biết quay lại với chính mình, không đuổi theo trần cảnh thì tri kiến Phật hiện tiền, lúc bấy giờ an vui, tự do, tự tại, vô ngại. Qua thí dụ này, chúng ta thấy cái đặc biệt của đạo Phật là nêu lên những cảnh vô thường, khổ não, bất như ý thường xuyên chi phối con người. Sau khi chỉ cho thấy những khổ đau rồi dạy phải tu để thoát khỏi cảnh khổ đó, thì sẽ được an vui tự tại vô ngại. Mới thoạt nhìn thấy đạo Phật như bi quan, nhưng nếu biết nhìn và biết sống đúng lẽ thật thì đạo Phật rất lạc quan và tích cực. Chánh văn: 17. Xá-lợi-phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông trưởng giả đó đồng đem xe trân báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng? Xá-lợi-phất thưa: Thưa Thế Tôn! Không, ông trưởng giả đó chỉ làm cho các người con đặng khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa. Thế Tôn! Dầu ông trưởng giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông trưởng giả đó trước có ý nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông trưởng giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích cho các con mà đồng cho xe lớn! Giảng: Đức Phật hỏi ngài Xá-lợi-phất: Ông trưởng giả hứa cho ba xe, bấy giờ các con ra khỏi nhà lửa, ông chỉ cho có một xe trâu trắng, như vậy ông có lỗi dối gạt không? Ngài Xá-lợi-phất trả lời: Không. Vì ông trưởng giả muốn cho các con khỏi bị lửa thiêu đốt thân mạng, nên dùng phương tiện dẫn dụ cho ra khỏi nhà lửa để thoát khỏi nạn khổ. Chẳng những không cho xe nhỏ mà lại cho xe lớn là điều quá tốt, quá sức tưởng tượng của các con, khiến chúng được điều chưa từng có, lợi ích vui sướng khôn lường. Cũng vậy, Phật thuyết pháp lập ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát rõ ràng. Tới đây Phật nói ba thừa đó không thật, chỉ có Phật thừa mới là cứu cánh. Như vậy là sao? Điều này chúng ta phải hiểu cho thật kỹ. Đức Phật với tâm bình đẳng thương chúng sanh như nhau, không muốn có sự sai biệt giữa người này với người khác. Sở dĩ trước Phật lập ba thừa là vì căn cơ chúng sanh còn thấp, nên Phật tùy theo đó mà phương tiện hướng dẫn từ từ. Nay chúng đã đủ khả năng tin nhận nên Phật chỉ thẳng Phật thừa rốt ráo, để tất cả đều được lợi ích như nhau. Chánh văn: 18. Phật bảo ngài Xá-lợi-phất: Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói, Xá-lợi-phất! Như Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri kiến, trí lực, vô sở úy; có sức đại thần thông cùng sức trí tuệ đầy đủ các món phương tiện, trí tuệ ba-la-mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loài mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa: sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sanh được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 19. Ta thấy các chúng sanh bị những sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm, không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này, đông tây rảo chạy dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo. Giảng: Đức Phật là bậc trí tuệ viên mãn, có đủ trí lực, vô sở úy, thần thông, ba-la-mật, vì thương tất cả chúng sanh còn đang mê đắm ngũ dục trong nhà lửa tam giới, nên ngài mới nguyện sanh vào trong nhà lửa này để độ tất cả ra khỏi nhà lửa. Lửa đó là lửa: sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, lo, buồn. Lửa sanh, già, bệnh, chết âm ỉ thiêu đốt con người từ lúc tóc xanh cho tới bạc đầu không lúc nào dừng nghỉ. Còn lửa tham tài, tham sắc, tham danh... người muốn có nhiều tiền của hay danh vọng thì phải lao thần, hao khí, tổn giảm sức lực nhiều mới có tiền tài, danh vọng, và đã có rồi thì phải phí công gìn giữ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật có thí dụ: Một cây hương khi được đốt lên, mùi hương lan tỏa dần ra, người xung quanh ngửi được mùi thơm thì cây hương cháy đã gần tàn. Cũng vậy, khi chúng ta tạo cho đủ điều kiện để thành danh, có quyền lợi thì sức lực đã hao mòn, thân già tóc bạc... Nếu tham mà không được thỏa mãn thì sân hận nổi lên, hoặc lo buồn dấy khởi, tinh thần rối loạn, nói xằng làm bậy, thân tâm bất an, sức khỏe suy yếu. Đó là lửa tham, lửa sân, lửa si thiêu đốt con người, khiến cho người khổ đau bất tận. Sở dĩ chúng ta bị sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, lo, buồn, khổ não đốt cháy, là vì chúng ta thích ưa năm món dục lạc ở thế gian là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mắt mê sắc đẹp, tai ưa tiếng hay, mũi thích mùi thơm, lưỡi ưa vị ngon, thân thích xúc chạm cái trơn, láng, mềm, ấm... Nếu chạy theo năm món đó thì con người đau khổ. Suốt ngày đi làm nhọc mệt cho có tiền, để ăn cho thật ngon, mặc cho thật đẹp, rồi tối đi xem hát, nghe nhạc... Cả ngày làm vất vả nhọc nhằn chỉ để thỏa mãn năm món dục lạc. Càng đuổi theo dục lạc càng bị lửa tham dục, lửa sân hận, lửa si mê đốt cháy khốn khổ vô cùng. Chẳng những khổ trong đời hiện tại, lại chính vì đuổi theo danh lợi, tài sắc mà con người gây nhiều tội lỗi tày trời. Khi đã tạo những cái nhân tày trời rồi thì quả khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở đời sau không tránh khỏi. Thọ báo xong, nếu trở lại làm người thì cũng làm người cùng khổ, lại bị cái khổ người yêu thương xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ; bao nhiêu thứ khổ dồn dập không có ngày dừng, không có ngày ra. Chánh văn: 20. Xá-lợi-phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí tuệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi. Xá-lợi-phất! Đức Như Lai lại nghĩ: Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí tuệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sanh khen ngợi các món tri kiến, trí lực, vô sở úy của Như Lai, ắt chúng sanh chẳng có thể do đó mà được độ thoát. Vì sao? Vì các chúng sanh đó chưa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, đau khổ, đang bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí tuệ của Phật. Giảng: Con người mê lầm ngay trong đời hiện tại, khi còn khỏe mạnh thì chạy theo tài sắc, danh lợi... đến khi già chết thì lại lo di chúc cho con cháu chọn đất tốt để chôn, xây mộ cho kiên cố... Chết là thân tứ đại trả về cho tứ đại, thân này vô thường không giữ được, thế mà muốn tạo cái mộ để đời, tất cả đều là tướng vô thường làm sao giữ được? Lớp mê lầm này chồng chất lên lớp mê lầm kia, khổ này chồng lên khổ khác, bao giờ mới ra khỏi? Đức Phật nói ngài có đủ sức thần thông và trí lực vì chúng sanh nói thẳng kinh Pháp Hoa, nhưng ngài không áp dụng. Vì sức chúng sanh chưa kham tin nhận, nên phải bày những phương tiện như tam thừa, hay cõi Cực lạc... Nhờ những phương tiện này chúng sanh ứng dụng tu hành, tự thấy rõ ở trong tam giới là khổ, ham thích quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát là chỗ an vui, để tự cố gắng thoát ra khỏi nhà lửa tam giới. Phật ra vào trong tam giới tự do không ngại, tại sao ngài không dùng thần thông hay trí lực đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử mà phải dùng phương tiện dẫn dụ? Vì muốn ra khỏi luân hồi sanh tử vĩnh viễn, thì mỗi người phải tự ý thức luân hồi sanh tử là khổ đau và tìm lối thoát ra. Đó là mỗi người tự tạo nhân rồi thọ quả, chứ Phật không thế được. Thí dụ một học giả thông minh tài giỏi đỗ tiến sĩ, có những đứa con lười biếng học. Ông biết học dốt thì thua sút bạn bè, ra đời khó sống; ông thương, muốn chúng nó học giỏi như ông, mà chúng cứ lười biếng ỷ lại cha mình là người thông minh tài giỏi nên không chịu học hành. Ông tuy thương con, nhưng không thể đem cái thông minh học giỏi của mình cho con được, nên mới dụ các con hãy ráng học ông sẽ cho đồ chơi, để cho các con ham mà lo học thành người tài giỏi. Cũng giống như Phật dẫn dụ chúng sanh thực hành theo lời ngài dạy để được hết khổ... Hiện tại chúng ta tu cứ cầu Phật cho mình thế này cho mình thế khác. Rõ ràng nếu cho được, cứu được thì Phật đã dùng thần thông trí lực khiến cho chúng sanh không già, không bệnh, không chết, cũng như hết tham, hết sân, hết si. Thế mà, chính thân tứ đại của ngài cũng già cũng chết; tham, sân, si cũng do ngài tu mới hết và mới thành Phật. Đây là một lẽ thật mà tất cả mọi người tu Phật phải biết và cố gắng thực hành lời Phật dạy để thoát khỏi khổ đau, chứ không phải do lễ lạy van vái mà Phật ban vui cứu khổ cho chúng ta được. Chánh văn: 21. Xá-lợi-phất! Như ông trưởng giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, vậy sau đều cho xe trân báu lớn. Đức Như Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí tuệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sanh, vì chúng sanh nói ba thừa Thanh văn, Duyên giác cùng Phật thừa, mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham, mê ắt sanh ái nhiễm thời sẽ bị nó đốt; các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ được chứng ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa. Nay ta vì các ngươi mà bảo nhiệm việc đó quyết không dối vậy. Các ngươi chỉ nên siêng năng tinh tấn tu hành”. Đức Như Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sanh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc, không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác chi, thánh đạo, thiền định vô lậu, cùng giải thoát tam-muội v.v... để tự vui sướng, được vô lượng sự an ổn khoái lạc.” Giảng: Thích ưa sắc, thanh, hương, vị, xúc là cái vui tạm bợ thô hèn. Nếu còn kẹt trong ngũ dục là còn có ái nhiễm, có ái nhiễm là bị lửa tham dục thiêu đốt. Muốn ra khỏi ba cõi thì đừng đuổi theo ngũ dục lạc. Nếu dứt được ngũ dục lạc thì sẽ được ba thừa, và khi được ba thừa thì sẽ được an lạc, tức là đã ra khỏi nhà lửa tam giới. Chánh văn: 22. Xá-lợi-phất! Nếu có chúng sanh nào bề trong có trí tánh, theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết-bàn, gọi đó là Thanh văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhân duyên của các pháp, gọi đó là Duyên giác thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, các món tri kiến lực, vô úy của Như Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Đại thừa, Bồ-tát vì cầu được thừa này thời gọi là Ma-ha-tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa. Giảng: Trở lại thí dụ nhà lửa với ba xe. Nếu người nghe Phật nói pháp Tứ đế, tinh tấn tu hành chứng Niết-bàn gọi là Thanh văn thừa, dụ như những người con cầu xe dê. Người nghe Phật nói Mười hai nhân duyên, ở chỗ vắng vẻ quán sát lý duyên sanh của các pháp gọi là Duyên giác thừa, dụ như những người con cầu xe hươu. Người nghe pháp tin nhận, tinh tấn tu hành cầu Nhất thiết trí, Phật trí, có lòng từ bi vô lượng làm lợi ích cho chúng sanh gọi là Đại thừa, dụ như những người con cầu xe trâu. Chánh văn: 23. Xá-lợi-phất! Như ông trưởng giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Đức Như Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sanh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sanh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi được sự vui Niết-bàn. Bấy giờ đức Như Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí tuệ, lực, vô úy v.v... tạng pháp của các đức Phật, các chúng sanh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như Lai mà cho chúng sanh nó diệt độ. Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui thiền định, giải thoát v.v... của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng thánh khen ngợi, hay sanh ra sự vui sạch mầu bậc nhất.” 24. Xá-lợi-phất! Như ông trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn, vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng Đại thừa mà độ giải thoát đó. Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí tuệ, lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết. Xá-lợi-phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Giảng: Phật hỏi lại ngài Xá-lợi-phất một lần nữa. Khi các con ra khỏi nhà lửa được an ổn, ông trưởng giả bình đẳng cho các con một thứ xe là xe trâu trắng. Cũng như đức Phật tuy có phương tiện nói ba thừa, nhưng khi chúng sanh đủ khả năng kham nhận, Phật nói ba thừa là không thật, chỉ thẳng tri kiến Phật là chỗ cứu cánh mà chư Phật hằng khen ngợi hằng hộ niệm, như vậy ngài có mắc lỗi nói dối hay không? ngài Xá-lợi-phất trả lời rằng: Phật không có lỗi nói dối, vì Phật từ bi, phương tiện và bình đẳng độ cho chúng sanh thoát khỏi khổ đau. Đức Phật kết thúc chỗ cứu cánh chỉ có một Phật thừa, nhưng vì phương tiện nên nói thành ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Chánh văn: Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 25. Thí như ông trưởng giả Có một nhà rất lớn Nhà đó đã lâu cũ Mà lại rất xấu xa, Phòng nhà vừa cao nguy Gốc cột lại gãy mục, Trính xuyên đều xiêu vẹo Nền móng đã nát rã, Vách phên đều sụp đổ Đất bủn rơi rớt xuống, Tranh lợp sa tán loạn Kèo đòn sai rời khớp, Bốn bề đều cong vạy Khắp đầy những tạp nhơ, Có đến năm trăm người Ở đỗ nơi trong đó. Chim xi, hiêu, điêu, thứu, Quạ, chim thước, cưu, cáp, Loài nguyên xà, phúc yết, Giống ngô công, do diên, Loài thủ cung, bá túc, Dứu, ly cùng hề thử, Các giống độc trùng dữ Ngang dọc xen ruổi chạy, Chỗ phân giải hôi thúi Đồ bất tịnh chảy tràn Các loài trùng khương lương Bu nhóm ở trên đó, Cáo, sói cùng dã can Liếm nhai và giày đạp Cắn xé những thây chết Xương thịt bừa bãi ra, Do đây mà bầy chó Đua nhau đến ngoạm lấy, Ốm đói và sợ sệt Nơi nơi tìm món ăn Giành giật cấu xé nhau Gầm gừ gào sủa rân, Nhà đó sự đáng sợ Những biến trạng dường ấy, Khắp chỗ đều có những Quỷ, ly, mỵ, vọng, lượng, Quỷ dạ-xoa, quỷ dữ Nuốt ăn cả thịt người Các loại trùng độc dữ Những cầm thú hung ác Ấp, cho bú, sản sanh Đều tự giấu gìn giữ, Quỷ dạ-xoa đua đến Giành bắt mà ăn đó, Ăn đó no nê rồi Lòng hung dữ thêm hăng Tiếng chúng đánh cãi nhau Thật rất đáng lo sợ. Những quỷ cưu-bàn-trà Ngồi xổm trên đống đất Hoặc có lúc hổng đất Một thước hay hai thước Qua rồi lại, dạo đi Buông lung chơi cùng giỡn Nắm hai chân của chó Đánh cho la thất thanh Lấy chân đạp trên cổ Khủng bố chó để vui. Lại có các giống quỷ Thân nó rất cao lớn Trần truồng thân đen xấu Thường ở luôn trong đó Rền tiếng hung ác lớn Kêu la tìm món ăn. Lại có các giống quỷ Cổ nó nhỏ bằng kim, Lại có các giống quỷ Đầu nó như đầu trâu, Hoặc là ăn thịt người Hoặc lại ăn thịt chó, Đầu tóc rối tung lên Rất ác lại hung hiểm, Bị đói khát bức ngặt Kêu la vừa rong chạy. Dạ-xoa cùng quỷ đói Các chim muông ác độc Đói gấp rảo bốn bề Rình xem nơi cửa sổ, Các nạn dường thế đấy Vô lượng việc ghê sợ. Giảng: Nhà đã hư mục xiêu vẹo, bị lửa lớn đốt cháy, trong nhà có những cảnh khổ đang diễn ra như: các loài thú dữ, các loài ma quỷ độc ác v.v... luôn luôn tìm cách đe dọa và chực cắn nuốt lẫn nhau. Những chúng sanh trong tam giới cũng thế. Ở cõi Dục, ngoài cái khổ sanh, già, bệnh, chết bức ngặt bản thân, ngoài cái khổ do tham, sân, si, mạn, nghi, đố kỵ... ở nội tâm dày vò, giằng co, còn bị những cái khổ bên ngoài như nghèo thiếu, đấu tranh, chúng sanh với chúng sanh gây họa hại cho nhau, chém giết lẫn nhau... không sao kể xiết. Ở đây đức Phật diễn tả bằng những hình ảnh cọp sói giành giật mồi cắn xé lẫn nhau, yêu quỷ, hung thần rình rập ăn nuốt thịt người, ăn nuốt thịt thú... Những chúng sanh ở cõi Sắc và Vô sắc tuy có sung sướng thỏa mãn khoái lạc, không còn bị khổ xác thân nhưng vẫn còn bị sự biến dịch của tâm hồn, vẫn còn bị luật vô thường chi phối, hết phước cũng bị đọa lạc nên vẫn còn khổ. Chánh văn: 26. Nhà cũ mục trên đó Thuộc ở nơi một người Người ấy vừa mới ra Thời gian chưa bao lâu Rồi sau nhà cửa đó Bỗng nhiên lửa cháy đỏ Đồng một lúc bốn bề Ngọn lửa đều hừng hực, Rường cột và trính xuyên Tiếng tách nổ vang động Nát gãy rơi rớt xuống Vách phên đều lở ngã, Các loại quỷ thần thảy Đồng cất tiếng kêu to, Các giống chim điêu, thứu Quỷ cưu-bàn-trà thảy Kinh sợ chạy sảng sốt Vẫn không tự ra được, Thú dữ, loài trùng độc Chui núp trong lỗ hang. Các quỷ tỳ-xá-xà Cũng ở trong hang đó Vì phước đức kém vậy Bị lửa đến đốt bức Lại tàn hại lẫn nhau Uống máu ăn thịt nhau. Những loại thú dã can Thời đều đã chết trước Các giống thú dữ lớn Giành đua đến ăn nuốt. Khói tanh bay phùn phụt Phủ khắp bít bốn bề, Loài ngô công, do diên Cùng với rắn hung độc Bị lửa lòn đốt cháy Tranh nhau chạy khỏi hang, Quỷ bàn trà rình chờ Liền bắt lấy mà ăn. Lại có các ngạ quỷ Trên đầu lửa phực cháy Đói khát rất nóng khổ Sảng sốt chạy quàng lên, Nhà lửa đó dường ấy Rất đáng nên ghê sợ Độc hại cùng tai lửa Các nạn chẳng phải một. Giảng: Đoạn này đức Phật diễn tả lại cảnh khổ của các người con trong nhà lửa, nào là các loài quỷ dữ, các giống thú dữ, các loài trùng độc đang làm hại lẫn nhau... Ông trưởng giả là người đã ra khỏi nhà lửa, là vị chủ nhân của căn nhà này. Thấy lửa đang cháy, các con đang bị lửa thiêu đốt vô cùng khốn khổ, ông thương và lo cho những người còn ở trong nhà này. Chánh văn: 27. Lúc bấy giờ chủ nhà Đứng ở nơi ngoài cửa Nghe có người mách rằng: Các người con của ông Trước đây vì dạo chơi Mà đến vào nhà này Thơ bé không hiểu biết Chỉ vui ham ưa đắm. Trưởng giả vừa nghe xong Kinh sợ vào nhà lửa Tìm phương nghi cứu tế Cho con khỏi thiêu hại Mà dụ bảo các con Nói rõ các hoạn nạn: Nào ác quỷ độc trùng Hỏa tai lan tràn cháy Các sự khổ thứ lớp Nối luôn không hề dứt Loài độc xà, nguyên, phúc Và các quỷ dạ-xoa Cùng quỷ cưu-bàn-trà Những dã can, chồn, chó Chim điêu, thứu, si, kiêu Lại giống bá túc thảy Đều đói khát khổ gấp Rất đáng phải ghê sợ Chỗ khổ nạn như thế Huống lại là lửa lớn. Các con nhỏ không hiểu Dầu có nghe cha dạy Cứ vẫn còn ham ưa Vui chơi mãi không thôi. Giảng: Ông trưởng giả ra khỏi nhà lửa, biết đàn con mình đang bị lửa thiêu đốt mà không hay, cứ say mê chơi giỡn, thích ưa đồ chơi không có giá trị, không biết lối ra, mắc phải nạn lửa thiêu đốt. Chánh văn: 28. Bấy giờ trưởng giả kia Mới bèn nghĩ thế này: Các con như thế đó Làm ta thêm sầu não. Nay trong nhà lửa này Không một việc đáng vui Mà các con ngây dại Vẫn ham mê vui chơi Chẳng chịu nghe lời ta Toan sẽ bị lửa hại. Ông bèn lại suy nghĩ Nên bày các phương tiện Bảo với các con rằng: Cha có rất nhiều thứ Các đồ chơi trân kỳ Những xe báu tốt đẹp Nào xe dê, xe hươu Cùng với xe trâu lớn Hiện để ở ngoài cửa Các con mau ra đây Cha chính vì các con Mà sắm những xe này Tùy ý các con thích Có thể để dạo chơi. Các con nghe cha nói Các thứ xe như vậy Tức thời cùng giành đua Rảo chạy ra khỏi nhà Đến nơi khoảng đất trống Rời những sự khổ nạn. Trưởng giả thấy các con Được ra khỏi nhà lửa Ở nơi ngã tư đường Đều ngồi tòa sư tử. Ông bèn tự mừng rằng Ta nay rất mừng vui Những đứa con ta đây Đẻ nuôi rất khó lắm Chúng nhỏ dại không hiểu Mới lầm vào nhà hiểm Có nhiều loài trùng độc Quỷ ly mỵ đáng sợ Lửa lớn cháy hừng hực Bốn phía đều phực lên Mà các trẻ con này Lại ham ưa vui chơi Nay ta đã cứu chúng Khiến đều được thoát nạn. Vì thế, các người ơi! Ta nay rất vui mừng. Khi ấy, các người con Biết cha đã ngồi an Đều đến bên chỗ cha Mà thưa cùng cha rằng: Xin cha cho chúng con Ba thứ xe báu lạ Như vừa rồi cha hứa Các con mau ra đây Sẽ cho ba thứ xe Tùy ý các con muốn Bây giờ chính phải lúc Xin cha thương cấp cho. Giảng: Ông trưởng giả khi biết đàn con đang say mê chơi giỡn trong nhà lửa, ông lấy làm lo ngại, muốn cho chúng ra khỏi nhà lửa, phải dùng phương tiện dụ dỗ cho các thứ đồ chơi quý báu như xe dê, xe hươu, xe trâu tùy theo ý thích, nếu chạy ra thì sẽ được cho. Những người con nghe nói thế, đua nhau chạy ra khỏi nhà. Khi các con ra khỏi nhà lửa thì ông trưởng giả rất vui mừng và đàn con bu quanh xin ông cho đồ chơi báu đẹp. Những người con trong nhà lửa này khi ra khỏi nhà lửa là đã thoát nạn mà không nghĩ mình đã thoát nạn, vẫn còn mang lòng tham, mong cầu đồ chơi quý đẹp. Cũng vậy, chúng ta tu cứ nghĩ tới chứng đắc quả vị này quả vị khác, chứ không biết rằng chủ yếu của sự tu hành là xả ly mọi cố chấp mọi loạn tưởng; hết chấp hết loạn tưởng thì tự nhiên được an vui giải thoát. Hiểu như vậy mới thấy được lý đạo. Phần nhiều chúng ta tu bị kẹt trên phương tiện, hết kẹt phương tiện này đến phương tiện khác, đó là do bệnh si mê, nói lẽ thật không chịu tin nhận, cứ tham lam ham chứng đắc nên mãi chìm trong luân hồi sanh tử. Chánh văn: 29. Trưởng giả giàu có lớn Kho đụn rất nhiều đầy Vàng, bạc cùng lưu ly, Xa cừ, ngọc mã não, Dùng những món vật báu Tạo thành các xe lớn Chưng dọn trang nghiêm đẹp Khắp vòng có bao lơn Bốn mặt đều treo linh Dây vàng xen thắt tụi Lưới mành kết trân châu Giăng bày phủ phía trên Hoa vàng các chuỗi ngọc Lòng thòng rũ khắp chỗ Các màu trang sức đẹp Khắp vòng xây quanh xe Dùng nhiễu hàng mềm mại Để làm nệm lót ngồi Vải quý mịn rất tốt Giá trị đến nghìn muôn Bóng láng trắng sạch sẽ Dùng trải trùm trên nệm Có trâu trắng to lớn Mập khỏe nhiều sức mạnh Thân hình rất tươi tốt Để kéo xe báu đó Đông những tôi và tớ Mà chực hầu giữ gìn Đem xe đẹp như thế Đồng ban cho các con. Các con lúc bấy giờ Rất vui mừng hớn hở Ngồi trên xe báu đó Dạo đi khắp bốn phương Vui chơi nhiều khoái lạc Tự tại không ngăn ngại. Giảng: Khi các con ra khỏi nhà lửa, đến vây quanh ông trưởng giả xin đồ chơi. Với tâm bình đẳng, ông cho các con toàn xe trâu trắng trang hoàng bằng những vật báu ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự mong ước của các con. Chánh văn: 30. Bảo Xá-lợi-phất này! Đức Phật cũng như vậy Tôn cả trong hàng thánh Cha lành của trong đời Tất cả các chúng sanh Đều là con của ta Say mê theo thế lạc Không có chút tuệ tâm. Ba cõi hiểm không an Dường như nhà lửa cháy Các nạn khổ dẫy đầy Rất đáng nên ghê sợ Thường có những sanh, già, Bệnh, chết và rầu lo Các thứ lửa như thế Cháy hừng chẳng tắt dứt. Đức Như Lai đã lìa Nhà lửa ba cõi đó Vắng lặng ở thong thả An ổn trong rừng nội Hiện nay ba cõi này Đều là của ta cả Những chúng sanh trong đó Cũng là con của ta. Mà nay trong ba cõi Có nhiều thứ hoạn nạn Chỉ riêng một mình ta Có thể cứu hộ chúng, Dầu lại đã dạy bảo Mà vẫn không tin nhận Vì nơi các dục nhiễm Rất sanh lòng tham mê Bởi thế nên phương tiện Vì chúng nói ba thừa Khiến cho các chúng sanh Rõ ba cõi là khổ Mở bày cùng diễn nói Những đạo pháp xuất thế. Các người con đó thảy Nếu nơi tâm quyết định Đầy đủ ba món minh Và sáu món thần thông Có người được Duyên giác Hoặc bất thối Bồ-tát. Xá-lợi-phất phải biết! Ta vì các chúng sanh Dùng món thí dụ này Để nói một Phật thừa Các ông nếu có thể Tin nhận lời nói đây Tất cả người đều sẽ Chứng thành quả Phật đạo. Giảng: Tòa nhà xiêu vẹo hư mục đang bốc cháy, dụ như ở trong ba cõi, chính bản thân của chúng sanh đang bị lửa vô thường thiêu đốt, không thân nào, cảnh nào là không bị lửa tàn phá. Ở trong nhà lửa có đủ thứ hình tướng ghê tởm, đủ thứ hung hiểm ác độc đe dọa sát hại lẫn nhau, đó là dụ cho tham sân si biến ra thiên hình vạn trạng làm khổ con người mà không ai biết. Vì vậy Phật phương tiện dẫn dụ Niết-bàn Thanh văn, Niết-bàn Duyên giác, Niết-bàn Bồ-tát để cho chúng sanh thích, tu hành thoát khỏi phiền não khổ đau. Sau cùng Phật chỉ thẳng tri kiến Phật là chỗ cứu cánh viên mãn. Nếu người đến được chỗ rốt ráo này thì an vui tự tại vô ngại. Chánh văn: 31. Phật thừa đây vi diệu Rất thanh tịnh thứ nhất Ở trong các thế gian Không còn pháp nào trên Của các Phật vui ưa, Tất cả hàng chúng sanh Đều phải nên khen ngợi Và cúng dường lễ bái Đủ vô lượng nghìn ức Các trí lực, giải thoát Thiền định và trí tuệ Cùng pháp khác của Phật, Chứng đặng thừa như thế Khắp cho các con thảy Ngày đêm cùng kiếp số Thường đặng ngồi dạo chơi, Cho các hàng Bồ-tát Cùng với chúng Thanh văn Nương nơi thừa báu này Mà thẳng đến đạo tràng. Vì bởi nhân duyên đó Tìm kỹ khắp mười phương Lại không thừa nào khác Trừ Phật dùng phương tiện. Bảo với Xá-lợi-phất! Bọn ông các người thảy Đều là con của ta Ta thời là cha lành. Các ông trải nhiều kiếp Bị các sự khổ đốt Ta đều đã cứu vớt Cho ra khỏi ba cõi. Ta dầu ngày trước nói Các ông được diệt độ Nhưng chỉ hết sanh tử Mà thật thời chẳng diệt, Nay việc nên phải làm Chỉ có trí tuệ Phật. Nếu có Bồ-tát nào Ở trong hàng chúng này Có thể một lòng nghe Pháp thật của các Phật, Các đức Phật Thế Tôn Dầu dùng chước phương tiện Mà chúng sanh được độ Đều là Bồ-tát cả. Giảng: Phật thừa là pháp vi diệu thanh tịnh bậc nhất, trong thế gian này không có pháp nào hơn được, nên phải khen ngợi. Nếu người nào ưa vui tin nhận được pháp này thì chắc chắn những người đó sẽ thành Phật. Chánh văn: 32. Nếu có người trí nhỏ Quá mê nơi ái dục Phật bèn vì bọn này Mà nói lý khổ đế, Chúng sanh nghe lòng mừng Được điều chưa từng có Đức Phật nói khổ đế Chân thật không sai khác. Nếu lại có chúng sanh Không rõ biết gốc khổ Quá say nơi khổ nhân Chẳng tạm rời bỏ được, Phật vì hạng người này Dùng phương tiện nói dạy Nguyên nhân có các khổ Tham dục là cội gốc, Nếu dứt được tham dục Khổ không chỗ nương đỗ Dứt hết hẳn các khổ Gọi là đế thứ ba. Vì chứng diệt đế vậy Mà tu hành đạo đế Lìa hết các khổ phược Gọi đó là giải thoát, Người đó nơi pháp gì Mà nói được giải thoát? Chỉ xa rời hư vọng Gọi đó là giải thoát Kỳ thật chưa phải được Giải thoát hẳn tất cả. Đức Phật nói người đó Chưa phải thật diệt độ, Vì người đó chưa được Đạo quả Vô thượng vậy. Ý của ta không muốn, Cho đó đến diệt độ, Ta là đấng Pháp vương Tự tại nơi các pháp Vì an ổn chúng sanh Nên hiện ra nơi đời. Xá-lợi-phất phải biết! Pháp ấn của ta đây Vì muốn làm lợi ích Cho thế gian nên nói, Tại chỗ ông đi qua Chớ có vọng tuyên truyền. Nếu có người nghe đến Tùy hỷ kính nhận lấy Phải biết rằng người ấy Là bậc bất thối chuyển. Nếu có người tin nhận Kinh pháp Vô thượng này Thời người đó đã từng Thấy các Phật quá khứ Cung kính và cúng dường Cũng được nghe pháp này. Nếu người nào có thể Tin chịu lời ông nói Thời chính là thấy ta Cũng là thấy nơi ông Cùng các chúng Tỳ-kheo Và các hàng Bồ-tát. Giảng: Đối với những người tâm ý nhỏ hẹp không nhận được pháp lớn, nên Phật phương tiện nói khổ đế, rồi từ khổ đế ngài chỉ nguyên nhân gây ra khổ là tập đế. Khi đã biết khổ đế, tập đế, ngài mới nói diệt đế tức là Niết-bàn, muốn đến Niết-bàn là phải biết đường lối tu hành tức là đạo đế. Nếu người y cứ pháp Tứ đế tu hành thì sẽ chứng được quả A-la-hán. Nhưng quả A-la-hán chưa thật là diệt độ, chưa thật là Niết-bàn. Tại sao? Vì các vị tu pháp Tứ đế thấy thân tâm này bị vô thường chi phối nên mới khổ đau. Gốc của khổ đau là tham, sân, si mà tham, sân, si lại là hư vọng. Những thứ hư vọng đó sạch hết tức là dứt được cái nhân luân hồi sanh tử gọi là diệt đế. Thanh văn chỉ dẹp được phiền não hư vọng chưa nhận được tri kiến Phật nơi mình, nên đây Phật nói: Chỉ xa rời hư vọng, gọi đó là giải thoát. Còn hàng Bồ-tát hay Phật thừa thì nhận ra nơi mình có tri kiến Phật. Nhận ra nơi mình có tri kiến Phật rồi thì buông hết những cái hư vọng không thật. Thí dụ cái áo bị dính những vết nhơ, khi tẩy hết những vết nhơ thì nói cái áo đã sạch, kỳ thật chỉ hết những vết nhơ chứ chưa thật sạch. Muốn sạch, sau khi tẩy các vết nhơ rồi phải đem cả cái áo ra giặt giũ, chừng đó mới thật sạch. Những vết nhơ tẩy sạch là cái sạch tương đối, cái áo sạch toàn diện mới là cái sạch tuyệt đối. Cũng vậy, khi dứt được tham, sân, si, phiền não hư vọng thì tâm lặng lẽ gọi là Niết-bàn giải thoát. Niết-bàn này chỉ là Niết-bàn tiêu cực, chưa có diệu dụng tích cực, nên có nhiều vị A-la-hán chứng Niết-bàn an trụ trong vắng lặng, rồi diệt độ luôn không làm lợi ích chúng sanh. Còn hàng Bồ-tát nhận ra tri kiến Phật, đoạn dứt nhân luân hồi sanh tử, có đủ diệu dụng như: thập lực, tứ vô sở úy... ra giáo hóa làm lợi ích chúng sanh. Đó là tinh thần tiêu cực và tích cực của Thanh văn và Bồ-tát. Chánh văn: 33. Phật vì người trí sâu Nói kinh Pháp Hoa này Kẻ thức cạn nghe đến Mê lầm không hiểu được. Tất cả hàng Thanh văn Cùng với Bích-chi Phật Ở trong Kinh pháp này Sức kia không hiểu được. Chính ông Xá-lợi-phất Hãy còn nơi Kinh này Dùng lòng tin được vào Huống là Thanh văn khác. Bao nhiêu Thanh văn khác Do tin theo lời Phật Mà tùy thuận Kinh này Chẳng phải trí của mình. Giảng: Phật vì người trí sâu nói kinh Pháp Hoa, bởi hạng người này mới có đủ khả năng tin nhận. Còn hạng trí cạn hẹp như Thanh văn, Duyên giác thì không thể hiểu. Chính ngài Xá-lợi-phất đối với kinh Pháp Hoa phải do lòng tin mà vào, huống là những hàng Thanh văn khác. Chánh văn: 34. Lại này, Xá-lợi-phất! Kẻ kiêu mạn biếng lười Vọng so chấp lấy ngã Chớ vì nói Kinh này, Hạng phàm phu biết cạn Quá mê năm món dục Nghe pháp không hiểu được Cũng chẳng nên vì nói, Nếu có người không tin Khinh hủy chê Kinh này Thời là dứt tất cả Giống Phật ở thế gian. Nếu có người xịu mặt Mà cưu lòng nghi hoặc Ông nên lắng nghe nói Tội báo của người đó. Hoặc Phật còn tại thế Hoặc sau khi diệt độ Nếu có người chê bai Kinh điển như thế này Thấy có người đọc tụng Biên chép, thọ trì Kinh Rồi khinh tiện ghét ganh Mà cưu lòng kết hờn Tội báo của người đó Ông nay lại lắng nghe. Người đó khi mạng chung Sa vào ngục A-tỳ Đầy đủ một kiếp chẵn Kiếp mãn hết lại sanh Cứ xoay vần như thế Nhẫn đến vô số kiếp. Từ trong địa ngục ra Sẽ đọa vào súc sanh, Hoặc làm chó, dã can Thân thể nó ốm gầy Đen điu thêm ghẻ lác Bị người thường chọc ghẹo Lại còn phải bị người Gớm nhờm và ghét rẻ Thường ngày đói khát khổ Xương thịt đều khô khan, Lúc sống chịu khổ sở Chết bị ném ngói, đá Vì đoạn mất giống Phật Nên thọ tội báo đó. Hoặc sanh làm lạc đà Hoặc sanh vào loài lừa Thân thường mang kéo nặng Lại thêm bị đánh đập Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ Ngoài ra không biết gì Vì khinh chê Kinh này Mà mắc tội như vậy. Có khi làm dã can Đi vào trong xóm làng Thân thể đầy ghẻ lác Lại chột hết một mắt Bị bọn trẻ nhỏ vây Theo đánh đập liệng ném Chịu nhiều các đau khổ Hoặc có lúc phải chết. Ở đây vừa chết rồi Liền lại thọ thân rắn Thân thể nó dài lớn Đến năm trăm do-tuần Điếc ngây và không chân Lăn lóc đi bằng bụng Bị các loài trùng nhỏ Cắn rút ăn thịt, máu Bị khổ cả ngày đêm Không tạm có ngừng nghỉ Vì khinh chê Kinh này Mà mắc tội như vậy. Nếu được sanh làm người Các căn đều ám độn Lùn xấu lại liệt què Đui điếc thêm lưng gù Có nói ra lời gì Mọi người không tin nhận, Hơi miệng thường hôi thúi Bị quỷ mỵ dựa nhập Nghèo cùng rất hèn hạ Bị người sai khiến luôn, Nhiều bệnh, thân ốm gầy Không có chỗ cậy nhờ Dầu nương gần với người Mà người chẳng để ý Nếu có được điều chi Thời liền lại quên mất, Nếu học qua nghề thuốc, Theo đúng phép trị bệnh Mà bệnh người nặng thêm Hoặc có khi đến chết, Nếu tự mình có bệnh Không người chữa lành đặng Dầu có uống thuốc hay Mà bệnh càng thêm nặng, Hoặc người khác phản nghịch Cướp giật trộm lấy của Các tội dường thế đó Lại tự mang vạ lây. Những người tội như đây Trọn không thấy được Phật. Là vua trong hàng thánh Thường nói pháp giáo hóa, Những người tội như đây Thường sanh chỗ hoạn nạn Tâm cuồng loạn, tai điếc Trọn không nghe pháp được. Trải qua vô số kiếp Như số cát sông Hằng Sanh ra liền điếc câm Các căn chẳng đầy đủ Thường ở trong địa ngục Như dạo chơi vườn nhà, Ở tại ác đạo khác Như ở nhà cửa mình Lạc đà, lừa, heo, chó Là chỗ kia thường đi Vì khinh chê Kinh này Mắc tội dường thế đó. Nếu được sanh làm người Điếc, đui lại câm, ngọng Nghèo cùng các tướng suy Dùng đó tự trang nghiêm, Sưng bủn bệnh khô khát Ghẻ, lác, cùng ung thư Các bệnh như trên đó Dùng làm y phục mặc, Thân thể thường hôi hám Nhơ nhớp không hề sạch Lòng chấp ngã sâu chặt Thêm nhiều tánh giận hờn Tánh dâm dục hẩy hừng Đến chẳng chừa cầm thú. Vì khinh chê Kinh này Mắc tội dường thế đó. Giảng: Người chấp ngã đắm mê dục lạc thế gian, nghe kinh Pháp Hoa họ không tin lại còn khinh chê làm khuất mờ hạt giống Phật nơi mình, lại còn nói cho người khác không tin làm mờ khuất hạt giống Phật nơi người. Đó là làm đoạn mất hạt giống Phật ở thế gian nên mù mịt mê mờ, mặc tình tạo tội rồi mắc quả báo ở địa ngục. Khi hết quả báo địa ngục còn dư báo làm súc sanh, làm người thì thân thể tàn tật, đau bệnh, nghèo đói... Tất cả mọi khổ đau đều do không tin và khinh chê kinh Pháp Hoa, nên mất ánh sáng trí tuệ mà tạo nghiệp ác thọ quả khổ. Chánh văn: 35. Bảo cho Xá-lợi-phất! Người khinh chê Kinh này Nếu kể nói tội kia Cùng kiếp cũng chẳng hết Vì bởi nhân duyên đó Ta vẫn bảo các ông Trong nhóm người vô trí Chớ nên nói Kinh này. Nếu có người lợi căn Sức trí tuệ sáng láng Học rộng và nhớ dai Lòng mong cầu Phật đạo Những hạng người như thế Mới nên vì đó nói. Nếu có người đã từng Thấy trăm nghìn ức Phật Trồng các cội đức lành Thâm tâm rất bền vững Hạng người được như thế Mới nên vì đó nói. Nếu có người tinh tấn Thường tu tập lòng từ Chẳng hề tiếc thân mạng Mới nên vì đó nói. Nếu có người cung kính Không có sanh lòng khác Lìa xa các phàm ngu Ở riêng trong núi chằm Những hạng người như thế Mới nên vì đó nói. Lại Xá-lợi-phất này! Nếu thấy có người nào Rời bỏ ác tri thức Gần gũi bạn hiền lành Người được như thế ấy Mới nên vì đó nói. Nếu thấy hàng Phật tử Giữ giới hạnh trong sạch Như minh châu sáng sạch Ham cầu kinh Đại thừa Những người được như thế Mới nên vì đó nói. Nếu người không lòng giận Chắc thật ý dịu hòa Thường thương xót mọi loài Cung kính các đức Phật Hạng người tốt như thế Mới nên vì đó nói. Lại có hàng Phật tử Ở tại trong đại chúng Thuần dùng lòng thanh tịnh Các món nhân cùng duyên Thí dụ và lời lẽ Nói pháp không chướng ngại Những người như thế ấy Mới nên vì đó nói. Nếu có vị Tỳ-kheo Vì cầu Nhất thiết trí Khắp bốn phương cầu pháp Chắp tay cung kính thọ Chỉ ưa muốn thọ trì Kinh điển về Đại thừa Nhẫn đến không hề thọ Một bài kệ kinh khác Hạng người được như thế Mới nên vì đó nói. Như có người chí tâm Cầu xá-lợi của Phật Cầu Kinh cũng như thế Được rồi đảnh lễ thọ Người đó chẳng còn lại Có lòng cầu kinh khác Cũng chưa từng nghĩ tưởng Đến sách vở ngoại đạo Người được như thế ấy Mới nên vì đó nói. Bảo cùng Xá-lợi-phất! Ta nói các sự tướng Của người cầu Phật đạo Cùng kiếp cũng chẳng hết Những người như thế đó Thời có thể tin hiểu Ông nên vì họ nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Giảng: Ở trước, Phật dạy những người khinh mạn, lười biếng, trí kém... thì không nên vì họ mà nói kinh Pháp Hoa, e họ không đủ sức tin, khinh chê rồi tạo tội mắc quả khổ. Tới đây, Phật dạy đối với những người lợi căn trí sáng, người đã từng gặp Phật có căn lành với Phật, người tinh tấn thường tu tập lòng từ, người cung kính nghe lời Phật dạy không chán nhàm luôn ở chỗ vắng vẻ tu hành, người xa bạn ác gần gũi bạn lành, người giữ giới thanh tịnh cầu pháp Đại thừa, người ít giận tâm dịu hòa, kính Phật, thương chúng sanh, người có tâm thuần tịnh hay dùng phương tiện giảng nói Kinh pháp, người thọ trì kinh điển Đại thừa, Tỳ-kheo cầu Nhất thiết trí, người nghe kinh điển thành tâm kính lễ tu tập, không ưa thích sách vở ngoại đạo; nên vì những người đó mà nói kinh Pháp Hoa, vì những hạng người này có khả năng tin thọ. Chủ yếu của phẩm Thí Dụ là Phật chỉ cho tất cả hàng đệ tử tu theo Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa biết rõ ba thừa đó, Phật tùy căn cơ của chúng sanh mà phương tiện tạm lập, nên không có thật. Chỗ chân thật cứu cánh mà Phật muốn chỉ là Phật thừa. Ngoài điểm chủ yếu đã nói, trong phẩm Thí Dụ đức Phật còn nêu lên những cảnh tượng khổ đau đang bức bách con người trong nhà lửa, để cho người tu Phật thấy rõ lẽ thật là người vật đang bị lửa vô thường, lửa tam độc thiêu đốt thân tâm. Thấy được lẽ thật là tỉnh giác, do tỉnh giác mà tiến tu để thoát khỏi lửa thiêu đốt. Đó là người trí mạnh do tỉnh giác mà được giải thoát. Còn người trí yếu, nhờ nghe lời Phật dạy, tuy chưa đủ sức tỉnh giác, nhưng tin lời Phật nói là đúng, y theo đó mà tiến tu, nhờ tiến tu nên cũng được giải thoát. Dụ như trường hợp các con của ông trưởng giả tin cha cho ba xe, nên cố gắng chạy ra khỏi nhà lửa. Không bị lửa vô thường, lửa tam độc chi phối là giải thoát, còn bị lửa vô thường, lửa tam độc bức bách thì còn trầm luân trong luân hồi sanh tử. Thông thường giáo lý Phật nói tu đến chỗ viên mãn thì không còn chấp ngã chấp pháp, nghĩa là không còn thấy thân tâm này là ngã, không còn thấy có pháp để tu để chứng. Lúc không còn thấy ngã pháp là lúc an trụ Niết-bàn tịch diệt. Không còn ngã là không còn mình, vậy ai an trụ Niết-bàn? Không còn pháp là không có Niết-bàn, vậy tu đến chỗ tịch diệt, chỗ tịch diệt đó có phải là hư không chăng, vì không người không vật? Nếu tu để trở thành hư không vô tri thì không nên tu, tu vô ích! Đó là một vấn đề mà người tu ít ai để ý, cứ tin Niết-bàn là tịch diệt vắng lặng, không còn gì hết, hiểu như vậy là họa cho người học Phật. Hình ảnh ông trưởng giả kêu các con và khi các con ra khỏi nhà lửa, được ông cho xe trâu trắng mập, đẹp, trang hoàng bằng bảy báu ngoài sức tưởng tượng, ngoài sự ước mơ của các con. Cũng vậy, tu đến chỗ không còn bị lửa vô thường, lửa tham sân si thiêu đốt, đâu phải ngang đó là hết, mà còn cái chân thật không hình tướng, không sanh diệt, thanh tịnh sáng suốt mầu nhiệm, vượt khỏi tầm hiểu biết suy lường của con người, nên đức Phật không nói. Vì Phật không nói nên chúng sanh không biết không tin. Khi xả được kiến chấp về giả ngã và buông được kiến chấp về giả pháp, mà Phật đã tùy căn cơ của chúng sanh giả lập, thì cái chân thật hiện bày đầy đủ diệu dụng bất khả tư nghì. Nhiều người học Phật nghĩ Niết-bàn vắng lặng chắc buồn lắm vì trống vắng. Còn ngã còn pháp thì mình có cái này được cái kia, khi tới Niết-bàn thì vô ngã, không có một pháp thì hưởng cái gì, vui cái gì? Họ đâu ngờ chính khi hết vô minh phiền não, thoát khỏi luân hồi sanh tử trong tam giới thì được tự tại vô ngại, đầy đủ diệu dụng lợi ích chúng sanh. Thí dụ nhà lửa làm sáng tỏ ý nghĩa này. Phẩm Thí Dụ còn nói lên rằng: Người đến với đạo Phật mà không tin mình có tri kiến Phật, đó là tự hủy hoại tự đoạn dứt căn lành của người, làm mất hạt giống Phật ở thế gian. Nên biết rõ tri kiến Phật không rời thân năm uẩn sanh diệt giả tạm này mà riêng có. Vì vậy, việc tin nhận tri kiến Phật ở chính mình là việc rất thực tế, không phải là chuyện mơ hồ viển vông. Tin nhận tri kiến Phật ngay nơi mình thì mới thấy rõ thân năm uẩn giả hợp này là huyễn hóa không thật, nếu ai mê chấp nó là thật thì trầm luân đau khổ. Thế nên nói tin Kinh này thì được vô lượng trí tuệ công đức; nếu không tin thì mê muội tạo vô số tội ác, chịu quả khổ cùng cực. Tin là tin mình có giống Phật, nếu tu sẽ được thành Phật, chứ không phải tin trên ngôn thuyết chữ nghĩa suông. Lý này đến phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát sẽ thấy rõ hơn. Qua phẩm Thí Dụ, chúng ta thấy lòng từ của Phật đối với chúng sanh vô lượng vô biên không ngằn mé. Ngài dùng mọi phương tiện để dẫn dụ giáo hóa cho chúng sanh mau thoát khỏi nhà lửa tam giới, được đầy đủ diệu dụng, tiến đến quả Phật như ngài mới thôi. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 8 - Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải
Giảng Văn Kinh
|
Giảng Văn Kinh
Phẩm 1 - 3