Thiền Tông Việt Nam
Phụng Hoàng Sách Tấn Tập 1 (2005)
Thỉnh Nguyện Tăng (II)

Lời Hòa thượng nhắc nhở đại chúng nhân ngày vía Phật thành đạo 8-12 Đinh Sửu (5-1-1998)

Vừa rồi có một cô người Mỹ đến tập tu bên Nội viện Ni, hỏi tôi: “Thưa Thầy, quí Thầy tu hiện giờ, cái gì là khó nhất?” Giờ mấy chú trả lời coi!

- Dạ, tập khí.

- Câu này rất khó trả lời, nếu nói sân hoặc ái dục là khó thì mình phàm tục quá. Vậy cái gì khó nhất? Tôi trả lời: “Người tu chúng tôi bây giờ, nghe Phật dạy lẽ thật, mình thấy mình biết rồi, nhưng sống được với lẽ thật đó là khó nhất.” Tôi thí dụ, Phật dạy phải quán thân này là nhơ nhớp, vô thường sanh diệt, mạng sống trong hơi thở, đó là lẽ thật. Thế nhưng giả sử có ai chê mình là nhớp thì phản ứng ngay, lập tức bảo vệ nó, không hề công nhận thân mình là nhớp, là vô thường. Ðó là một cái rất khó.

Kế nữa mình biết thân này là vô thường, mà nghe ai nói mình sắp chết thì tự nhiên có một cái gì đó không an ổn. Nói lo sợ thì quá đáng, nhưng thật có cái gì đó rất bất an. Như vậy là không thấy đúng như Phật dạy. Ðó là nói về thân. Còn về tâm, Phật dạy suy nghĩ là vọng tưởng không thật, nên bỏ, rồi sẽ thấy cái chân thật hiện tiền. Bây giờ mình biết vọng tưởng nên bỏ, mà bỏ hoài không rồi, bỏ không hết, đó là cái rất khó.

Như vậy một người Mỹ cũng có cái nhìn sâu sắc về đạo chớ chẳng phải thường. Bây giờ mình giảng cho người ta nghe và giải đáp những thắc mắc của họ là cả một vấn đề. Nhất là kỳ này tôi nói chuyện với một nhóm giáo sư trong Học viện Chính trị ở thành phố Hồ Chí Minh. Nói chuyện với họ một giờ, rồi cho họ hỏi nửa giờ. Họ hỏi đủ thứ, dài lắm. Nên tôi thấy lời của Mã Tổ nói về người muốn làm Phật sự thật là chí lý.

Mã Tổ bảo ngài Tây Ðường Trí Tạng:

- Sao con chẳng xem kinh?

Ngài Trí Tạng nói:

- Trong đó có gì khác mà phải xem.

- Tuy như vậy nhưng về sau muốn vì người con cần phải xem.

Vì lợi ích cho người nên phải xem Tạng kinh. Ðừng nghĩ mình hiểu như vậy là đủ tu rồi. Thật ra, khi ra ngoài người ta ít hỏi thẳng chỗ chân thật mà thường hỏi lời Phật Tổ dạy trong kinh, luận, mình không biết thì nguy lắm. Khi có người hỏi một điều gì, mình nói không biết ở kinh nào là nghe không ổn rồi.

Cho nên muốn tu đến nơi đến chốn chúng ta phải nỗ lực, còn muốn làm lợi ích cho người thì phải cần cù nghiên cứu cho kỹ. Nhất là quí vị sắp đi làm Phật sự, khi rảnh nên đọc lại mấy bộ A-hàm, bởi vì mấy cái đó dễ nói chuyện nhất. Giả sử có ai thỉnh thuyết pháp thì trích các bài kinh trong A-hàm nói về vô thường, hay dẫn mấy câu chuyện ngắn ngắn, gọi là những bài thuyết pháp bỏ túi.

Vậy, một là phải thuộc A-hàm, hai là Pháp Cú. Cố gắng thuộc lòng một số bài, ai hỏi liền đọc lên, giảng rộng ra, đó là tiện lợi. Còn nếu mình không nhớ gì hết thì làm sao linh động nói chuyện cho họ nghe? Ra ngoài Bắc, phần nhiều người lớn tuổi chưa biết nhiều về Phật pháp, nói cao họ đâu hiểu, nói Chân tâm, Phật tánh họ làm sao hiểu. Do đó, chỉ giảng những ý thông thường. Trong A-hàm, Phật dạy rất thiết thực, kinh Pháp Cú cũng vậy, nắm cho vững rồi nói. Còn các bộ kinh Ðại thừa: Kim Cang, Lăng Nghiêm..., họ nghe không tới nổi.

Bởi vậy tôi dạy mấy chú cũng theo thứ tự. Các bộ A-hàm phải cho mấy chú học quen. Nắm vững A-hàm rồi đến Pháp Cú, xong mới lên mấy kinh cao. Ðâu phải mấy chú núp ở đây hoài, cũng có ngày xách gói đi làm Phật sự. Khi ra ngoài dốt quá cũng kẹt, nghe thưa hỏi lúng túng lắm, nên lúc rảnh phải tra cứu. Ở đây có thư viện, kinh sách cũng tạm đủ. Ông K.N có mua thêm kinh sách cho mấy chú nghiên cứu. Mình biết cái gốc rồi, phần ngọn cũng cần nắm cho vững.

Sở dĩ khi ra giảng tôi không sợ là vì tôi đã coi kỹ Ðại tạng. Nói đúng ra, trừ phần Luật và Mật tông, tôi ít đọc, còn các phần khác tôi đều đọc hết, nhất là Tạng kinh. Ðọc để biết qua, người ta hỏi là mình biết ở đâu liền. Dù không nhớ hết nhưng ý chính mình cũng nắm được để giải thích cho người ta hiểu.

Thật ra, khi đi giảng dạy, thiên hạ hỏi đủ thứ, thấp có, cao có. Bao năm nay tôi giải đáp cho mọi người được, do nhờ trước đã từng coi qua Ðại tạng kinh. Cho nên làm Phật sự nhu cầu rộng, không cho mình khu biệt. Như Hòa thượng T.H nói, nếu theo chỗ thấy biết của nhà Thiền mà dạy người thì giảng đường cỏ mọc ba thước! Chỉ có cách làm quán tạp hóa như ngài Ngưỡng Sơn thì được: Từ phân chuột đến vàng ròng đều có đủ. Nếu chỉ vàng ròng không e chẳng xong. Nghèo quá không có tiền mà nói vàng ròng làm sao mua? Hiểu cho tới nơi, sau này mấy chú mới có lợi.

Lúc đầu tôi biết mấy chú nghĩ rằng tôi mâu thuẫn, vừa bắt tu lại vừa khuyến khích học. Nếu học thì sự tu bị trì trệ. Nhưng hoàn cảnh thực tế không cho phép mình chỉ đi một chiều. Theo một chiều sau này chúng ta sẽ lúng túng, sẽ bị chê “cô lậu quả văn”, nghĩa là kiến thức hẹp hòi, quê mùa ít hiểu biết. Thật ra việc tu đòi hỏi mình phải tu cho sáng, nhận chân được lẽ thật, nhưng làm Phật sự thì phải thông suốt giáo lý.

Lâu nay tôi rất dè dặt, ít cho mấy chú xuất đầu lộ diện là vì sao? - Vì tập khí. Thơ kệ của ai trình thì tôi đọc, mà không nói tên người đó, vì nghe đọc thì thánh quá, những gì trong lúc tỉnh sáng viết, hoặc nói đều rất hay, nhưng rồi thời gian sau tập khí chen vào liền hết hay.

Bởi vậy mình chưa tới đất thật, không sống luôn luôn với cái thật, nên có khi rất sáng, rất tỉnh táo, cũng có những lúc hơi hôn ám một chút liền lộ nguyên hình cũ, trái với những gì mình nói hay lúc trước, nên người ta sẽ hiểu lầm: “À, tu ngộ đạo rồi vẫn còn xấu, vẫn còn nóng giận...” Do đó, tôi thường giấu tên người trình, e rằng người khác không biết rồi cho mấy chú lầm lộn chưa sáng đạo tưởng đã sáng. Thật ra, tập khí thầm kín không biết đâu mà lường.

Khi nói về Thập lực của Phật, tôi thấy có “tri vĩnh đoạn tập khí trí lực”. Tới thành Phật mới vĩnh đoạn tập khí, còn mình đây là tạm đoạn chớ chưa vĩnh đoạn. Cái thô thì vượt qua được, còn cái tế vẫn thầm thầm ẩn khuất trong đó, gặp duyên hiện ra lúc nào không hay.

Vậy nên tôi nhắc hoài, mấy ông Giảng sư nói thao thao bất tuyệt, nhưng gặp duyên cũng nổi sóng đùng đùng. Phật dạy nhớ được, hiểu được nhưng sống được mới quí. Mấy chú cố gắng tu, sáng được chỗ chân thật của mình, đó cũng là bước tiến vượt bậc rồi, nhưng bỏ tập khí là cả một vấn đề dài đằng đẵng. Mấy chú lâu lâu ai chọc có giận không?

- Dạ, có. Thưa Thầy cho tụi con ở đây tu luôn!

- Tập khí khi nào có cơ hội mới hiện ra, lúc ấy mới biết mình thua hay thắng. Ở đây hoài đâu có ai chọc, biết tập khí ra sao! Chính khi ra đối đầu, gặp việc mới thấy tập khí của mình, coi cái gì còn cái gì hết, rất là đặc biệt. Tôi kinh nghiệm thấy rõ, mình hiểu được, nói được mà gặp duyên không thắng được là chuyện rất thường. Do đó vừa làm Phật sự phải vừa tu.

Tu có định lực mới thắng được ngoại cảnh và làm chủ tập khí. Ðồng thời phải coi thêm kinh, luận. Ðược như vậy, ngày sau mấy chú ra làm Phật sự sẽ không lúng túng, mới giúp ích cho nhiều người.

Ngày 13-12 Đinh Sửu (10-1-1998)

Ðáng lẽ hôm nay tôi nói về sự tu hành để nhắc nhở chúng, nhưng có một sự việc xảy ra không vui nên tôi chủ yếu nhắc riêng điều này.

Biết rằng trong chúng qua một năm nay có nhiều tin đáng vui mừng đối với tôi, nhưng cuối năm lại có một chuyện không vui xảy ra. Trong việc này tôi tự thấy mình có hai khuyết điểm lớn. Một là tôi chọn người không kỹ, cho nên bây giờ mới có cái tệ như thế này. Hai là sự tin tưởng của tôi quá lớn, tôi không bao giờ tin có những chuyện như thế xảy ra. Vậy mà bây giờ vẫn xảy ra, đó là điều ngoài sức tưởng tượng của tôi.

Trước đây tôi từng nói với tất cả chúng, ngày xưa khi tôi ở các Phật học đường, tu hành chung trong tập thể, sự sống thường sai biệt. Người nào được Thầy Tổ khá giả ủng hộ thì có tiền bạc rộng rãi. Tại Phật học đường Nam Việt tôi theo học hồi đó, mỗi tháng phải đóng hai trăm tiền cơm. Ngoài ra, giấy mực, sách vở, kể cả quần áo đều tự túc chớ nhà trường không thể giúp mình. Phần tôi được ưu tiên miễn phí, vì thầy tôi là Hòa thượng Viện trưởng làm Ðốc giáo tức Hiệu trưởng của trường.

Như vậy mỗi người muốn tới Phật học đường phải chịu chi phí rất nặng. Vừa đóng tiền cơm, vừa lo tiền sách vở, giấy mực v.v... Vì thế ai có cha mẹ hoặc Thầy Tổ khá giả thì sống tương đối sung túc. Ngược lại ai không được giúp đỡ, thật là thiếu thốn chật vật. Vì tình trạng chênh lệch đó nên trong Phật học đường hay Phật học viện thỉnh thoảng xảy ra những vụ ăn cắp. Mỗi lần xảy ra như vậy tôi thấy nhục nhã vô cùng. Bởi vì người cư sĩ ở ngoài chỉ giữ năm giới, mà giới không ăn trộm họ giữ thật nghiêm chỉnh, thanh tịnh. Còn mình tu, giữ từ mười giới tới hai trăm năm mươi giới, trong đó giới trộm cắp thuộc về trọng giới mà không giữ được thì có đáng buồn không? Ðó là đứng về mặt giới luật.

Ở đây tôi đã tổ chức làm sao cốt tránh tệ hại trên, người này dư người kia thiếu dễ sanh ra cái nạn ăn trộm, ăn cắp. Cho nên tôi muốn thực hiện cho được tinh thần lục hòa, vì vậy ở đây không ai được quyền giữ tiền. Chỉ có Thủ bổn chi ra cho Tri sự mua sắm đồ đạc hoặc trả tiền nhân công và cho Tri khố đi chợ. Như vậy trong đây chỉ có hai người xài tiền là Tri sự và Tri khố, còn Thủ bổn thì giữ tiền. Ngoài ra trong chúng không ai có xu con nào.

Tất cả nhu cầu trong chúng, ai thiếu cái gì thì Ban Quản chúng cho cái ấy, không để thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các nhu cầu cần thiết. Như vậy ở đây ai cũng như ai, sống một cách bình đẳng, đầy đủ tiện nghi không thiếu thốn. Không có gì đòi hỏi mình cần phải có tiền hết. Vậy thì lý do gì lại đi ăn cắp tiền? Thật không thể hiểu nổi!

Thiền viện này là lý tưởng tối hậu của đời tôi, nên bao nhiêu công sức, tâm huyết tôi dồn hết vào đây để lo cho chư Tăng tu học. Vậy mà có người vào đây còn ăn cắp nữa thì không thể tưởng tượng được! Ðó là sự thất vọng lớn lao của tôi! Mình đem hết tâm lực lo mọi mặt, mà bây giờ có người làm những việc như vậy, thì còn đạo lý gì! Như vậy công mình làm thật là công dã tràng. Ðó là điều tôi rất buồn.

Bởi vậy, người nào làm việc này thật là không tu hành chút nào. Dù mang hình thức người tu nhưng thật tình không tu. Như vậy để cho quí vị biết, trong chỗ đông đảo, nơi tôi chủ trương tu hành chân chánh, mà vẫn có một người tu hành không ra gì, nói thẳng ra là không tu hành gì hết, đang lẫn lộn ở đây. Một con sâu trong rổ rau, mình phải bắt nó ra thì ăn rau mới ngon. Nếu còn con sâu trong đó, cả rổ rau sẽ bị ảnh hưởng không tốt.

Vậy nên toàn chúng lưu tâm kỹ, coi có người nào giả bộ vào tu để phá chúng như vậy, ráng phát hiện để loại ra. Còn không thì tôi cũng nguyện Tam Bảo gia hộ, làm sao cho những kẻ tà đó rời khỏi chỗ này sớm chừng nào tốt chừng nấy.

Vừa rồi tôi về Thường Chiếu, được nghe kể lại mấy đứa cháu của tôi có phiền trách rằng: Tôi xây chùa bạc tỷ, trong khi tụi nó nghèo thiếu, tôi không bao giờ giúp. Nghe vậy, một buổi chiều tôi gọi lại nói cho tụi nó hiểu: “Thầy là người tu, tất cả tiền bạc là của Tam Bảo chớ không phải của riêng cá nhân. Của Tam Bảo mà người tu lấy để xài riêng, hoặc cho con cháu thì đó là tội đọa địa ngục.”

Quí vị còn nhớ câu chuyện Thiền sư Tông Diễn nuôi mẹ không?

Khi Sư mới mười hai tuổi, một hôm mẹ đi chợ, dặn Sư ở nhà nấu canh cua. Nhưng vì thương xót mấy con cua nên Ngài đem ra ao đổ hết. Trưa về, ăn cơm, mẹ hỏi món canh, Sư thật tình thưa lại mọi việc. Bà giận quá xách roi đánh. Sư sợ hãi bỏ nhà chạy mất, sau vào chùa tu hành.

Hơn ba mươi năm sau Sư trở thành vị Trụ trì, về quê thăm mẹ, được biết mẹ đang bán nước trà tại một quán nhỏ bên đường. Sư vào quán hỏi han chuyện trước, biết đúng là mẹ mình. Sư hỏi bà có muốn ở chùa không. Trước còn ngần ngại, sau bà lão bằng lòng.

Sư về chùa họp chúng, bàn chuyện đem bà lão bán nước trà về nuôi, đại chúng đều hoan hỉ. Sư cho người đi đón bà lão về rồi cất am tranh cạnh chùa cho bà ở. Mỗi ngày Ngài phân công cho bà quét sân, nhổ cỏ, đến bữa ăn cơm chùa. Ngài luôn luôn nhắc nhở bà tu hành.

Một thời gian sau bà bệnh, Sư có việc đi xa nên dặn chúng: Nếu ở nhà bà lão có mất thì để bà trong áo quan, đừng đậy nắp, chờ Sư về. Ðúng như dự đoán, Sư đi được ít hôm bà lão mất, Tăng chúng làm theo lời dặn. Khi Sư về, đến bên áo quan nhìn mặt bà lần cuối rồi đậy nắp lại. Ngài nói to: “Như lời Phật dạy, một người tu hành ngộ đạo, cha mẹ sanh thiên. Nếu lời ấy đúng xin cho quan tài bay lên để chứng minh.” Sư cầm tích trượng gõ vào quan tài ba cái, quan tài từ từ bay lên hư không rồi hạ xuống. Tới lúc đó mọi người mới biết bà lão là mẹ của Sư.

Tuy Sư có nuôi mẹ bằng tiền chùa, nhưng vẫn cắt đặt công việc cho bà làm tùy theo sức khỏe của bà và luôn khuyên nhắc tu hành. Ðồng thời Sư không hề tiết lộ cho bà biết mình là con, để tránh tâm niệm ỷ lại.

Qua đó chúng ta thấy người xưa làm việc gì rất là dè dặt, chẳng những sợ tội cho mình mà còn sợ tội cho những người thân của mình, nên không dám nhận cái lợi nhỏ để bị cái hại to. Chúng ta bây giờ cũng nên noi gương người xưa, sống cho hợp đạo lý.

Bởi vậy tôi nói rõ với mấy đứa cháu, tôi không có đồng tiền nào riêng hết. Tất cả tiền của người ta cúng, dù trực tiếp cho tôi vẫn là của Tam Bảo chớ không phải của riêng. Vì là của Tam Bảo nên tôi không có quyền cho. Nếu lấy cho, tôi sẽ đọa địa ngục và những người được tôi cho cũng sẽ đọa địa ngục, vì họ có tu hành gì đâu mà xài phí của Tam Bảo.

Như vậy cần thấy rõ một điều rất quan trọng là nếu mình lợi dụng của Tam Bảo để đem về nuôi gia đình, nuôi con cháu thì đó là nhân đọa địa ngục. Mình đọa, con cháu cũng đọa chớ không cứu giúp được gì. Bởi vậy ai có tâm như vậy là tâm đọa địa ngục, lại còn làm lây đến những người thân của mình nữa, không phải là chuyện tốt lành. Vì nếu chỉ nghĩ tới điều tạm bợ trước mắt là có tiền, còn mai kia ra sao không cần biết thì thật là nông nổi khờ dại.

Người biết tu rồi phải thấy xa, của Tam Bảo mà đem nuôi người thế gian là cái nhân đọa địa ngục, chớ không phải thường. Ðức Phật đã dạy như vậy. Cho nên những người tu chân chánh lúc nào cũng sợ tội, luôn làm sao cho mình và thân quyến tu được. Ðời này thà chịu khổ chút ít mà đời sau được an lành, tự tại giải thoát. Người tu mà không tránh điều tội lỗi là đi tìm chỗ đọa chớ không phải tìm đường tu. Thà là ở đời lo kiếm tiền, do bàn tay, sức lực của mình làm ra đem giúp gia đình thì hợp lý. Còn ở trong chùa mà lấy của chùa cho gia đình là trái với đạo lý.

Ðó là tôi nhắc cho toàn chúng hiểu rõ ý nghĩa của việc đem tiền Tam Bảo về nuôi gia đình, hay những người thân. Ðó là tội lỗi lớn chớ không phải nhỏ. Nói cho tất cả hiểu, để đừng lầm rằng đem tiền chùa về nuôi gia đình là tốt, đừng bao giờ nghĩ lầm như vậy.

Sở dĩ trong đời tu của tôi, hô lên là có người ủng hộ, chỉ vì tôi không nghĩ đến riêng mình, mà thường lo cho đạo, cho chúng, nhờ vậy mọi việc tôi muốn làm đều làm được không khó khăn. Vậy, có phước là do quyết tâm tu và hết lòng phục vụ đạo, chớ không phải từ sự gian tham của nhà chùa mà được.

Còn một điểm nữa là trong chúng đây, dường như cứ nghĩ mình chỉ lo việc lớn, lo tu hành cho đắc đạo, lo làm những việc to mà coi thường những cái nhỏ. Vừa rồi tôi được nghe báo cáo rằng ở trong chúng, khi quí vị tắm xong không dọn sạch nhà tắm, đi vệ sinh rồi không đóng cửa để gió đập. Quí vị nên cẩn thận từ những việc nhỏ mới thành tựu được việc lớn. Vì nếu việc nhỏ không làm tròn thì việc lớn chỉ nói chơi chớ không thể làm được. Cho nên trong chúng phải nghiêm trang, tề chỉnh, trật tự, vệ sinh.

Ðó là những điều tôi nhắc nhở. Mong toàn chúng cố gắng thực hành.

Ngày 13-1 Mậu Dần (9-2-1998)

Hôm nay tôi có một vài vấn đề nhỏ nhắc nhở trong chúng. Tất cả việc làm của chúng ta bao giờ cũng là tương đối, được mặt này thì có mặt khác không được. Như vậy phần được đáng cho chúng ta mừng và tin tưởng năm mươi phần trăm, tất sẽ có điều ngược lại mất mát hoặc đáng buồn cũng tới ba mươi phần trăm. Ðó là lẽ thật chúng ta kinh nghiệm trong năm qua.

Những mất mát đó đã xảy ra không những ở Thiền viện Trúc Lâm mà còn ở các Thiền viện khác nữa. Nếu tôi là người không có chút ít đạo lực vững vàng thì chắc cũng rối đầu lắm. Nhưng nhờ sức tu hành tôi cứ bình tĩnh để mọi việc trôi qua nhẹ nhàng, không đến nỗi có tác động mạnh.

Thông thường, sự tu hành chúng ta càng tiến, càng cao thì trở ngại càng lớn. Chúng ta phải nắm cho vững điều đó, trên đường tu mới không bị thối chuyển, nếu không hiểu sẽ thấy bối rối. Như vừa rồi, tôi thấy không có gì đáng để có người phải rời chúng, tìm cách ở riêng. Chẳng qua là có cái gì đó thúc đẩy, xúi giục rồi tự mình thấy bất an nên đi theo vọng tưởng. Ðó là mình đã thua, đã thất bại.

Những sự việc xảy ra trong năm rồi lớn có nhỏ có, hoặc lộ ra ngoài, hoặc âm thầm ở trong, đều là chướng ngại đối với người yếu. Còn đối với người quyết tâm tu, đó lại là cơ hội giúp ta thấy rõ những gì làm ngăn trở sự tu hành của mình, để rồi vươn lên, đừng mắc kẹt, không thua nó nữa. Ðó là tôi nói kết quả năm qua, tốt xấu đều có. Những gì gọi là ngăn trở rồi cũng chuyển hướng bình thường trở lại.

Giờ đây tôi nói cho tất cả quí vị biết, chúng ta nhìn cho thật kỹ sự truyền bá, sự tu hành, cũng như ảnh hưởng của mình đối với Phật tử, quí vị thấy một năm qua chúng ta gây được lòng tin cho Phật tử gần xa rất nhiều. Ngay trong Thiền viện chúng ta, sự tu hành tiến bộ của huynh đệ cũng đáng kể. Phật tử tới lui với chúng ta ngày càng đông thêm.

Như vậy Phật sự của mình đang trên đà phát triển mạnh và nhanh mà tuổi tôi thì càng ngày càng lụn, cũng như ngọn đèn sắp tàn sắp tắt. Vậy trách nhiệm duy trì đà tiến này là của ai? Không phải của tôi nữa - tôi còn ngày nào mừng ngày đó - mà là của những vị lớn, như Ðắc Pháp, Nhật Quang v.v... Quí vị thấy những vị đó có thể thế tôi được không? E rằng tôi ra đi thì quí vị đó chắc cũng sớm theo chân tôi. Người nào cũng là bệnh nhân hết, không ai mạnh khỏe, cũng không ai có sức chịu đựng như tôi.

Như vậy, những vị đệ tử lớn không thay tôi được, ai sẽ thay tôi đây? Vậy là những người hiện có mặt sẽ thay thế tôi để duy trì Phật sự lớn lao này. Ðây là tôi nói xa, chưa biết ngày nào tôi từ giã ra đi. Nhưng bây giờ quí vị phải ý thức rõ trọng trách của mình. Trọng trách đó không phải là vô cớ từ đâu chất lên vai mình, mà do mình đã tự nguyện, đã quyết tâm gánh vác để đem chánh pháp truyền bá khắp xứ sở, chẳng những ở xứ sở mình mà ở các nơi khác nữa.

Vậy nên quí vị tự mình phải nhận lấy trọng trách, rồi cố gắng duy trì, phát triển, chớ không thể ỷ lại nơi tôi được. Vì sức khỏe của tôi cũng có chừng mực, ngày nào không còn khỏe thì tôi nghỉ việc, khi đó những người có mặt ở đây từ lớn tới nhỏ, mỗi người phải thấy trọng trách của mình.

Ngày xưa, trước năm 1970, tôi thấy rõ ở Việt Nam chỉ có thiền ngoại đạo, thí dụ như thiền xuất hồn, thiền của hội Pháp Hoa ở ngoài Nha Trang... chớ chưa có một đường lối tu thiền rõ ràng, nhất là Bắc tông không có một chủ trương tu thiền cụ thể nào hết. Chỉ có thiền Nguyên thủy của các chùa Nam tông còn khá rõ nét.

Từ năm 1970 mãi đến bây giờ là hai mươi bảy năm, tôi cố gắng gầy dựng, phát triển, coi như đó là một chủ trương của cá nhân tôi. Quí vị thử kiểm lại, đầu tiên tại Chân Không chỉ có mười người, rồi từ từ biến thiên, từ một Thiền viện Chân Không rất đơn sơ, lần lần đến các Chiếu, lên tới đây. Bây giờ nhìn trở lại Chân Không và các Chiếu, quí vị thấy Thiền viện nào cũng qui mô, đông đảo.

Như vậy từ con số không mà tôi cố gắng gầy dựng, duy trì, phát triển cho tới ngày nay được rỡ ràng như vậy, chẳng những trong nước mà cả ngoài nước. Chẳng những tại đây mà cả ngoài Trung, ngoài Bắc người ta cũng biết. Vậy từ đây về sau là trách nhiệm của quí vị có mặt ở đây. Nhất là những người lớn, những người đã có niềm tin chắc chắn rồi, phải có bổn phận tự nhận lấy trách nhiệm, kế thừa và tiếp nối. Ðừng để một ngọn đèn vừa cháy sáng phải tắt liền. Không thể nào tôi tịch rồi, mọi việc theo tôi mà tiêu mất. Như vậy thật là đáng buồn!

Chúng ta thấy chư Tổ ngày xưa, như Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, chỉ mình Ngài chịu cực khổ và khó khăn, tìm được một đệ tử là Tổ Huệ Khả, rồi từ đó truyền nối mãi cho đến ngày nay. Trên một ngàn năm rồi vẫn còn có những người tiếp nối. Nay tại Việt Nam chúng ta, chẳng lẽ tôi gầy dựng được dòng Thiền, rồi sau tôi liền tắt ngấm?

Cho nên tất cả quí vị ở đây và những người chưa lãnh trách nhiệm đều phải ý thức rõ ràng rằng: Chúng ta cần nối tiếp ngọn đèn Tổ cho được sáng rực chớ không nên để lu mờ. Vì vậy mỗi người phải có ý thức cụ thể, dù khó hay dễ, dù vui hay buồn, trong công tác Phật sự mình phải một lòng một dạ, chết sống cũng làm cho tròn. Giữ cho được những gì người đi trước đã làm, thì mai sau Phật giáo Việt Nam mới có cơ hội sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn.

Nếu một vị nào đó vì lẽ buồn phiền, bực bội muốn rút lui, rồi ai cũng có thái độ như vậy, thì mai kia tôi tịch rồi không biết sẽ ra sao, trách nhiệm đó ai chịu? Vì vậy nên hôm nay, với những kinh nghiệm năm cũ, tôi nhắc cho tất cả chư Tăng có mặt ở đây, mỗi người phải ý thức việc làm của mình. Quí vị phải làm sao tự thắp sáng ngọn đuốc, ngọn đèn của Phật Tổ, rồi phải mồi, phải truyền cho những người xung quanh mình cùng sáng, không để tắt mất.

Cần có nguyện lực mạnh, quyết tâm dũng mãnh để làm tròn sứ mạng của mình. Ðến ngày nào hết duyên ra đi thì người khác tiếp tục duy trì. Ðó là trách nhiệm chung chớ không của riêng ai.

Thật tình Phật sự này không phải Thầy Tổ tôi giao, cũng không phải Phật bắt tôi làm. Nhưng tôi có mặt trên đời, có mặt trong đạo, tôi cảm thấy phải làm sao cho đời được tốt, cho đạo được phát triển dài lâu. Tâm nguyện của tôi là đem Phật pháp soi sáng thế gian, để những người mê lầm trong cuộc đời này thấy ánh sáng của đạo mà bớt khổ đau. Như vậy chúng ta làm lợi cho đạo mà cũng ích cho đời. Còn nếu mình cứ lôi thôi, hoặc sống cầu an thì Phật pháp ngày mai không biết sẽ ra sao.

Vậy mong trong chúng mỗi vị ý thức được bổn phận của mình mà nỗ lực tu và cố gắng duy trì, phát triển đạo đức, sao cho ngày càng thấm nhuần trong tất cả người dân Việt Nam nói riêng và tất cả chúng sanh nói chung. Ðó là sự mong mỏi của tôi, cũng là lời nhắc nhở đầu năm.

Ngày 13-3 Mậu Dần (9-4-1998)

Buổi thỉnh nguyện hôm nay, trong chúng chỉ có một lỗi nhỏ, đó là điều rất tốt. Trong những năm gần đây, chư Tăng từ con số năm mươi dần dần đông hơn. Trên đường tu, mỗi năm rõ ràng thấy mỗi tiến, đó là điều rất đáng mừng. Nhưng tôi thường hay nói với toàn chúng, tất cả chúng ta đối với lý đạo có thể dễ thâm nhập, dễ hiểu nhưng đến khi ứng dụng lại khó. Mà khó nhất là tập khí nhiều đời.

Ai đi tu cũng có ý chí liều chết cố gắng tu hành để đạt đạo. Mỗi người ở đây, không ai không có quyết tâm đó. Nhưng lúc tu chúng ta thấy thỉnh thoảng cũng có xảy ra những chuyện vui buồn, hoặc một hai khi sân hận. Những điều đó đáng lý phải dẹp hết không còn. Nhưng thật sự, tu là một việc, còn tập khí vẫn sống, vẫn ẩn trong tiềm thức của mình, gặp duyên bất giác nó phát ra. Nếu chúng ta chưa đủ đạo lực thì không kềm chế nổi.

Do đó, thỉnh thoảng trong chúng cũng xảy ra những điều sai phạm. Nhưng tôi nghĩ, ai cũng quyết tâm thì tất cả những sai phạm đó từ từ sẽ tiêu giảm. Tập khí tuy lâu đời lâu kiếp, không phải chỉ trong đời này, nhưng nó cũng là thứ không thật. Bởi nó không thật, nên chúng ta quyết tâm tu, nó sẽ tiêu mòn dần.

Cho nên tất cả chư Tăng đừng bao giờ có mặc cảm sao mình quá nhiều vọng tưởng, nhiều thói xấu dở. Không nên mặc cảm điều đó. Chỉ nên hổ thẹn là có dở xấu mà không biết sửa, không biết chừa. Ðó mới là đáng tội, đáng trách. Chúng ta đều đang tu, không ai là Thánh. Ðã không phải Thánh thì không có ai hoàn toàn tốt, thỉnh thoảng cũng có một hai điều sai quấy. Thí dụ, trong lục hòa có “khẩu hòa vô tránh”, mà mình vẫn bị lỗi lời tiếng tranh cãi. Hoặc “ý hòa đồng duyệt”, nghĩa là ý hòa để cùng vui với nhau, mà thỉnh thoảng ý cũng có chống đối.

Ðối với những điều đó, tôi thường nói: Trong cuộc sống này không ai giống hệt ai. Mỗi người đều có tập khí riêng, do đời này hoặc những đời về trước tập nhiễm. Do đó, khi sống chung với nhau có những điều bất như ý, chúng ta phải khéo điều hòa. Một là xả phần chấp của mình để điều hòa với huynh đệ. Hai là biết rõ mình đang tiến tới chỗ chân thật cứu kính, thì những tập khí, những bất hòa chỉ là việc trẻ con không đáng phải bận tâm. Phải luôn luôn làm chủ, bỏ qua hết, vượt qua các thói quen cũ.

Nếu tu mà vẫn còn cố chấp những ý niệm riêng tư, cho đó là đúng, là chân lý, rồi sanh ra bất đồng với huynh đệ thì không hay. Bởi vì chúng ta biết rõ những thói quen đó là thói trần tục, phàm phu, phải buông xả hết mới tiến được.

Ðó là đối với những thói quen bình thường, với tập khí nhiều đời còn phải cẩn trọng hơn. Thật tình chúng ta ai cũng có những huân tập nhiều đời nhiều kiếp về trước, hoặc hay hoặc dở. Có những điều chúng ta chưa bao giờ dám nghĩ đến mà bất thần vẫn xảy ra.

Thí dụ như chư Tăng luôn cố giữ giới thanh tịnh, nhưng đôi khi vẫn mộng thấy những chuyện lôi thôi, thấy những cảnh không tốt mà mình không làm chủ được. Hoặc trong giấc mộng còn những thói cũ trái đạo lý sống trở lại mà mình vẫn theo. Ðó là tập khí nhiều đời còn thừa, còn sót, nên bây giờ tuy không nghĩ tưởng mà nó vẫn hiện ra.

Lại có những tập khí đến trong lúc sanh hoạt ban ngày. Thí dụ như người nào đó trước là tướng, là quan quyền quen thói nóng nảy la lối. Bây giờ tu rồi, nghiêm chỉnh nhu nhuyến, nhưng bất thần có một điều gì không vừa ý xảy ra thì tật nóng nảy, la lối cũ cũng trỗi dậy, kềm chế không kịp. Biết vậy rồi, chúng ta thông cảm với nhau, xây dựng cho nhau, đừng vì chỗ bất giác của họ mà cố chấp, gièm pha, không hay.

Tôi nhắc lại một lần nữa, lúc Phật đương thời, ngài Ca-diếp là một vị tu hành hết sức miên mật, đức Phật thường tán thán Ngài là vị tu khổ hạnh bậc nhất, và đôi ba lần xác nhận: Ta được cái gì thì Ca-diếp được cái ấy, ta biết cái gì thì Ca-diếp cũng biết cái ấy. Như vậy là Phật tán thán ngài Ca-diếp có cái nhìn, cái biết đồng với Phật.

Thế mà một hôm, khi thần Càn-thát-bà đánh đàn cúng dường Phật quá hay, bất giác ngài Ca-diếp đứng dậy nhảy múa theo. Thử hỏi một tu sĩ nghiêm trang khổ hạnh mà có hành động như vậy, quí vị chấp nhận được không? Thế nên lúc ấy đại chúng thắc mắc hỏi Phật:

- Ngài Ca-diếp tu hành rất nghiêm chỉnh, tại sao nghe nhạc lại đứng dậy múa?

Ðức Phật đáp rằng:

- Trước kia Ca-diếp đã nhiều đời làm nhạc công, nên bây giờ tập khí cũ còn, nghe nhạc quá hay thì tự phát ra như vậy.

Ngài Ca-diếp còn không làm chủ được tập khí của mình thì chúng ta có bảo đảm làm chủ được không? Ðó là điều rất đáng sợ! Nên tôi thường nói với chư Tăng, dù ai có tu hành khá, đạo lý thâm sâu, cũng đừng bao giờ bảo rằng mình thắng được tất cả tập khí. Trái lại luôn luôn phải dè dặt, đi đâu làm gì cũng phải cẩn thận, đừng tưởng mình sạch hết, đó là lầm. Ðến lúc tập khí nổi dậy, dù có ăn năn hối cải cũng đã muộn màng.

Tôi hay nói rằng tập khí của mỗi người thật đáng sợ chớ không phải thường. Vì nó ẩn tàng ở đâu mình không hiểu, mỗi khi gặp cảnh duyên lại bất chợt phát ra, mình không làm chủ được, thật là nguy hiểm! Cho nên tất cả chư Tăng phải tự cảnh tỉnh, luôn luôn dè dặt, đừng khinh suất. Khinh suất là cơ hội để tập khí bất giácxuất hiện, lúc ấy hối hận không kịp.

Tôi là người có trách nhiệm hướng dẫn Tăng Ni, nhìn lại tập khí tôi phải giật mình. Nhiều điều tôi nghĩ không bao giờ xảy ra mà vẫn xảy ra như thường, thật đáng sợ! Nên tôi khuyên tất cả ráng tu chân chánh, thành tâm sám hối mỗi đêm cho bao nhiêu tập khí cũ chóng sạch, được trong sáng thanh tịnh, để đời tu của mình đừng có gì bất trắc xảy ra khiến phải sơ suất, có lỗi với đạo.

Vì vậy, trong huynh đệ nếu thỉnh thoảng có người nào bất thần lộ ra những điều dở xấu của họ thì chúng ta cũng thông cảm. Ðó là tập khí nhiều đời chưa tiêu hết được. Vào đây rồi không ai còn muốn tranh hơn tranh thua, hoặc tham lam, nóng giận gì nữa, chỉ là do bất chợt phát ra. Chúng ta hiểu rồi nhắc nhở, khuyến khích nhau tu, còn hơn là ngồi trách cứ, không bao giờ hết cái dở được. Tập khí chỉ hết khi nào cố gắng tu, nó sẽ tiêu mòn dần.

Tôi thấy rất rõ, chư Tăng cũng như chư Ni, có nhiều người bình thường thấy rất dễ thương, dễ dạy, nhưng khi gặp duyên gì đó, tập khí nổi dậy không làm chủ được, nên có những lỗi mình không thể lường trước được. Do đó chư Tăng, một là nên lấy đây làm kinh nghiệm bản thân để tự dè dặt, luôn luôn miên mật làm chủ, đừng thả lỏng. Hai là khi có huynh đệ nào tập khí nổi dậy chưa thắng kịp, mình cũng thông cảm tha thứ cho nhau. Như vậy trên đường tu mới có thể bền lâu, vững vàng và tất cả chúng ta mỗi ngày mỗi tiến lên một cách vững chắc, nếu còn cố chấp với nhau sẽ không tránh khỏi những chuyện lôi thôi.

Hơn nữa, tập khí người ta thì mình thấy, còn tập khí của mình lại không hay biết. Bởi không tự thấy mà chỉ thấy người rồi phê phán đủ thứ, quên bẵng tập khí của chính mình. Ðó là chỗ sơ suất làm cho tập khí cũ sống dậy lâu dài.

Bởi vậy, thỉnh nguyện hằng tháng là để mỗi vị tự kiểm tra lại mình có những xấu dở gì để tự ra trình bày sám hối. Nói cách khác là phát lồ sám hối giữa đại chúng để tiêu mòn nghiệp chướng. Nếu ai không tự thấy lỗi mình thì nhờ huynh đệ có thấy chỉ cho để sám hối. Như vậy là chu toàn nhất, bởi vì không ai là người hoàn toàn tốt đẹp, thỉnh thoảng cũng có chen một hai cái xấu dở theo thói quen cũ.

Vậy nên trong buổi thỉnh nguyện, chúng ta phải tha thiết, chân thành nói lên lòng cầu mong sửa đổi tất cả lỗi lầm. Như vậy trên đường tu sẽ được tiến mãi. Ðó là lời nhắc cho toàn chúng nhớ để cố gắng ứng dụng.

Ngày 13-4 Mậu Dần (8-5-1998)

Buổi thỉnh nguyện hôm nay toàn chúng chỉ vài người có lỗi nhỏ, đó là điều rất tốt.

Hôm nay, tôi nhắc nhở một điều thường xảy ra trong chúng. Thông thường, người thế gian vì lòng tham danh lợi, tài sắc, ngũ dục, tham mà không được nên nổi sân, cái đó còn hợp lý. Còn trong giới tu sĩ chúng ta không tham như người thế gian, mà lâu lâu nổi sân là sao? Cái đó có phải là điều phi lý không? Danh lợi tài sắc không mến tiếc, thì cá nhân mình có ai nói nặng nói nhẹ, mình có giận không? Sở dĩ giận là vì bản ngã, sợ mất uy tín, mất danh dự. Ở đây không có danh thì có cái gì để giận?

Hiện nay ở trong chúng, tôi thấy có một số người cũng hay nóng nảy, điều đó không tốt, trái với mục đích mình nhắm. Chúng ta đi tu là để tiêu diệt tham sân si, phá sạch bản ngã, mà có ai nói đụng tới liền nổi sân đùng đùng lên, như vậy là bản ngã y nguyên. Bản ngã còn thì lòng hiếu danh vẫn còn.

Vì vậy, tôi mong tất cả chư Tăng từ lớn đến nhỏ phải sống cho hợp đạo lý. Nhất là những khi huynh đệ xúc chạm chút ít đến bản ngã của mình thì nên nghĩ: Tu rồi bản ngã là vô nghĩa không đáng. Không nên tôn trọng bản ngã rồi sanh chống đối nhau, vô tình trong giới tu sĩ chúng ta cũng còn hơn thua phải quấy, đó là điều không tốt. Quí vị đã xả bỏ tất cả mà còn duy trì bản ngã, điều này làm mình tu không tiến và đạo đức bị tổn giảm.

Cho nên mong rằng chư Tăng phải thấy rõ điều đó, đừng vì chút lời qua tiếng lại hoặc những câu nói vô tình của người mà sanh sân hận, không tốt. Hoặc giả có một hai việc làm của người khác lỡ trái ý mình, nổi nóng la om sòm cũng là điều không nên có, vì tất cả việc đó đều là hiện tượng của bản ngã còn được coi trọng quá, chưa hề tiêu giảm. Ðạo Phật là đạo vô ngã, nghĩa là “cái ta” không có thật. Nó không có chủ thể thì có gì đâu mà phải bênh vực, phải bảo vệ quá đáng cho trái với đạo lý.

Cho nên tôi nhắc nhở tất cả chư Tăng ráng giữ lòng mình ôn hòa, nhu thuận để cuộc sống được vui tươi, đừng xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Bởi vì những điều xảy ra lúc nóng giận đó, mọi người xung quanh đều nhìn thấy, nhất là nếu có cư sĩ, họ sẽ đánh giá tập thể chúng ta không tốt đẹp.

Nóng giận là chuyện phàm phu, mà ở trong đây tu hành vẫn còn như vậy thì không hơn phàm phu bao nhiêu. Do đó quí vị phải dè dặt. Nếu lỡ nóng giận thì phải khéo né tránh, đừng để sanh ra đụng chạm, rất dở, rất tội lỗi. Ðó là lời nhắc nhở của tôi hôm nay.

Ngày 13-5 Mậu Dần (7-6-1998)

Buổi thỉnh nguyện hôm nay toàn chúng đều có tinh thần tự giác, ra giữa chúng sám hối lỗi lầm của mình. Ðó là đức tánh rất tốt, còn vị nào chưa thấy được lỗi, nhờ huynh đệ chỉ để sửa cũng tốt, như vậy tinh thần thỉnh nguyện mới đầy đủ ý nghĩa. Tự giác là tinh thần cao thượng, tự mình biết nhận lỗi, sửa đổi những xấu dở thành tốt đẹp.

Chúng ta còn là phàm phu, không ai tránh khỏi lỗi lầm. Khi sống chung với nhau cũng phải làm những công việc lặt vặt, có làm là có va chạm. Vì khi làm có kẻ giỏi người dở, kẻ mạnh người yếu, người siêng kẻ lười, không giống nhau nên rồi cũng có những sai biệt. Từ sai biệt sanh ra bực bội, rồi có những chuyện bất đồng. Mà chúng ta đã là người tu rồi thì bất đồng nào cũng phải hóa giải, đừng để gây chia rẽ, bất an hoặc buồn phiền. Ðiều đó không tốt, gây trở ngại cho sự tu. Ðó là tôi nhắc nhở toàn chúng tinh thần thỉnh nguyện và sống trong tập thể phải nhớ như vậy.

Giờ tôi nhắc thêm trên mặt giới luật, đây nói cho Tỳ-kheo mà Sa-di cũng nên biết để sau này tập cho được như vậy. Trong giới Tỳ-kheo khi nói về pháp Tứ y, trong đó có nhắc chúng ta bốn điều mà Tỳ-kheo phải thực hiện cho được.

1- Bị người mắng không được mắng lại.

2- Ai giận mình không được giận lại.

3- Bị giễu cợt không giễu cợt lại.

4- Bị đánh không đánh lại.

Ðó là bốn điều mà ai thọ giới Tỳ-kheo cũng phải giữ. Bây giờ tôi giải thích cho quí vị thấy tại sao bị mắng không được mắng lại. Chúng ta sống trên thế gian này, ngoài tập thể tu hành của mình còn bao nhiêu người thế gian rất phức tạp, kẻ thì quí trọng đạo đức, người lại khinh thường đạo đức, kẻ gian manh, người lương thiện, không ai giống ai.

Ở trong chỗ phức tạp như vậy, thông thường người có đạo đức thấy người tu thì mến, kẻ không đạo đức thấy người tu sẽ không ưa. Không ưa thì khi thấy cái gì làm họ thiệt thòi đôi phần, họ dễ dàng mắng chửi. Nếu họ là người phàm tục mắng chửi mình, mình mắng chửi lại thì có khác họ không? Người ta không tu mắng chửi mình, mình đã tu mà mắng chửi lại tức hai bên cùng là phàm phu tục tử hết, không có ai là người đạo đức thật.

Bởi vậy Phật mới dạy chúng ta dù có bị mắng chửi cũng không nên mắng chửi lại, như vậy mới rõ ràng ai là người đạo đức, ai là người vô đạo đức. Nếu bên này mắng qua bên kia mắng lại, thì hai người như nhau, đều không có đạo đức.

Ðó là ý nghĩa rất quan trọng đối với người tu, nhất là hàng Tỳ-kheo không thể nào quên được điều đó. Nếu quên thì mình giống hệt người thế gian.

Thứ hai, bị người giận không được giận lại. Tại sao người ta giận mình mà mình không có quyền giận họ? Vì họ là người chưa hiểu đạo, chưa biết tu nên cái gì không vừa ý liền giận. Họ luôn cho là mình đúng, nói rằng việc đó đáng giận... Nhưng với người tu chúng ta, mỗi lần giận bị thiệt hại lớn lao trên đường tu. Vì giận dễ thốt ra lời không lành, giận sẽ có những hành động không tốt, làm thương tổn đạo đức của mình. Ðó là bên ngoài, còn bên trong khi giận người ta thì lòng mình bất an, rối rắm không thể nào ngồi thiền tu định được, vừa trở ngại sự tu, vừa hạ thấp giá trị đạo đức của mình nữa. Cho nên khi người ta giận mình Phật cấm mình giận lại là vậy.

Thứ ba, người ta giễu cợt mình, mình không được giễu cợt lại. Vì người đời hay đùa cợt khi thấy ai có cái gì lạ. Thí dụ họ thấy mình tu liền nói “thầy chùa nấu canh chua”, là sao? Có phải giễu cợt không? Nếu mình giễu cợt lại thì đều là những người nói tào lao tầm bậy. Cho nên thế gian họ giễu cợt mình, mà mình vẫn trầm tĩnh, an nhiên thì sự giễu cợt đó thành vô nghĩa. Nếu mình tìm những lời để cợt lại họ, hay nói cho họ bực tức thì đó là trái đạo lý, mất tánh cách điềm đạm bình tĩnh của người tu. Vì vậy mà Phật không cho giễu cợt lại.

Thứ tư, người ta đánh mình, mình không được đánh lại. Ðiều này quí vị thấy rất khó phải không? Tại sao rất khó? Ðánh tức là xúc phạm đến cơ thể này, thì phản ứng tự nhiên là nó chống trả lại. Nhưng với người tu, lúc nào cũng làm chủ mình, nên những sự vô lễ nếu có tác hại đến thân mình, ta nên lặng lẽ tránh, để giữ cho đúng thái độ người tu. Nếu một ông thầy mặc áo tràng vàng, áo tràng nâu ra đường gặp người nào đó đang bực mình đến đánh, lúc đó mình đánh lộn với họ thì thế gian sẽ đánh giá làm sao? Mình là người tu hay là không tu? Vì vậy trước những kẻ hung hăng chúng ta nên né tránh, đừng để xảy ra chuyện đánh đập lẫn nhau. Làm như vậy trái đạo lý, thiên hạ sẽ chê cười là mình không có đạo đức.

Phật đặt bốn điều này ở bên cạnh các giới trọng mà người xuất gia phải thọ phải giữ. Trong chúng cần hiểu rõ những điều này để sống sao cho đúng, cho tròn với những gì đã hứa trước Phật, nguyện trước chư Tăng khi mình thọ giới. Những điều quan trọng đó mà không giữ thì làm giảm giá trị của người tu.

Trong kinh Phật dạy mình phải như đất, dù họ có xoi xỉa, có tiểu trên đất, đất cũng không giận, nhưng thường mình có giận không? Mình bị xoi xỉa một chút thì chịu không nổi. Phật lại dụ chúng ta như nước, nước đem lại mát mẻ cho người, nước còn bị người ta sử dụng để tắm, giặt đồ nhơ uế, mà nước cũng không buồn không giận, người tu cũng phải như vậy.

Do đó tất cả chúng ta tu phải chấp nhận những gì người ta đem tới, dù không tốt mình vẫn giữ được tinh thần đạo lý, vẫn im lặng chấp nhận mà tâm không ô nhiễm thì mới tốt, mới là đạo đức thật. Ðừng tỏ ra mình khôn lanh, rồi chống đối người này, cự lộn người kia, đó là dở. Cái khôn lanh đó là thế tục chớ không phải đạo đức.

Ở đây đạo đức là chúng ta ẩn nhẫn, chịu đựng hết những điều xấu dở mà lòng không thù giận, không phiền não. Ðó mới thật là đạo đức. Còn nếu thù giận thì đạo đức suy giảm, đưa đến mất hết giá trị của người tu. Vì vậy hôm nay tôi mong tất cả chư Tăng đều có tinh thần ẩn nhẫn cao đối với những việc không như ý, đừng nên có tâm phiền não, dấy động làm mất giá trị người tu, người đạo đức.

Mục Lục