Thiền Tông Việt Nam
Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20
Yếu Chỉ Thiền Tông - Những Nghi Vấn Về Thiền Tông

A. CHƯ TỔ THIỀN TÔNG KHÔNG ĐỦ CHỨNG CỨ?

Câu hỏi này gồm hai nghi vấn: Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca-diếp không thấy ghi chép ở kinh nào, chư Tổ kế thừa ở Ấn Độ cũng không thấy ghi chép trong các sử sách.

Về nghi vấn trên, chúng ta kinh nghiệm hiện tại có thể hiểu quá khứ. Có lắm vị thầy trong các ngành nghề, tôn giáo, đảng phái, bao giờ cũng có một vài đệ tử được bí truyền, còn đa số chỉ dạy thông thường thôi. Bởi vì người cảm thông được mình mới nói hết những bí ẩn trong lòng mình cho họ. Những điều ấy không thể nói giữa quần chúng, mà chỉ nói riêng tư. Kinh chép lại, chỉ ghi những thời thuyết pháp cho đông người, hoặc có tánh cách phổ thông, những điều bí truyền làm sao chép được. Hơn nữa, với Tổ Ca-diếp đã có mấy lần ở giữa chúng, đức Phật mời Ngài lên ngồi chung tòa và cũng từng tán thán: “những gì ta biết, Ca-diếp cũng biết v.v…”, trong các kinh A-hàm còn rõ ràng. Thế thì, “biệt truyền tâm ấn” cho Tổ Ca-diếp đâu còn lạ gì.

Nghi vấn thứ hai, có tánh cách học giả. Trong Thiền tông thầy trò truyền nhau không khoa trương, mà thầm lặng. Chỉ cần để y bát làm tin, không thiết tuyên bố cho quần chúng biết. Có khi ở trong rừng, trong núi, một thầy một trò truyền nhau, làm sao có ghi sử sách? Cho nên trong nhà Thiền lấy y bát làm “biểu tín”, tâm ấn làm “mật tín”. Người được thầy trao y bát, đại chúng đều biết đã được truyền tâm ấn. Căn cứ vào tâm ấn, nếu không có người trước truyền cho người sau, làm gì người sau nhận được pháp này. Ví như một gia tộc có hòn ngọc quí, từ ông cha truyền đến con cháu, đến đời cháu thứ sáu mươi nhận được hòn ngọc do người cha thứ năm mươi chín trao cho. Người cha kể lịch sử truyền trao trong gia tộc cho nó nghe, nó nhận được hòn ngọc thật, trong hòn ngọc có khắc niên hiệu của thời ông bà xa xưa của nó, thử hỏi nó có tin lời kể lại của cha nó là thật chăng? Trừ ra những người không biết hòn ngọc thì khó tin chuyện ấy. Cũng thế, pháp “trực chỉ nhân tâm” của nhà thiền không phải là chuyện ngẫu nhiên được, cần có Thiện tri thức chỉ dạy mới nhận ra. Người nhận ra pháp này tự nhiên không còn nghi ngờ sự truyền thừa của chư Tổ. Nếu nói cần phải có sự chứng minh của lịch sử thì việc trong rừng trong núi của cá nhân làm gì có lịch sử?

B. AI TRUYỀN TÂM ẤN CHO CHÚNG TÔI?

Nghi vấn này rất hữu lý, người biết chút ít về thiền không ai chẳng đặt nghi vấn này. Từ Lục Tổ về trước, Tổ Tổ truyền nhau, trong thì ấn tâm, ngoài truyền y bát làm “biểu tín”. Lục Tổ về sau không còn truyền y bát nữa, vì nhiều người hiểu thiền, nghe một câu nói, thấy một hành động là biết người ấy thế nào rồi. Hơn nữa một vị Thiện tri thức nổi tiếng được chúng theo tham vấn có cả năm bảy trăm một ngàn, nếu có một người được vị Thiện tri thức ấn chứng tức thiên hạ đều biết, cần gì phải có y bát. Song một vị ra làm Thiện tri thức, hướng dẫn người tu học đều phải được thầy ấn chứng, có hệ phái rõ ràng. Đến thời chúng ta hiện nay, Thiền tông đã mất dạng cả một trăm năm, còn ai là Thiện tri thức chỉ dạy cho chúng tôi, mà chúng tôi đề xướng khôi phục Thiền tông? Quả là một điều đáng nghi.

Thật lòng, trước kia chúng tôi không có mơ mộng tu thiền, huống nữa khôi phục Thiền tông. Song chúng tôi hâm mộ tu thiền và cố gắng tu thiền, theo lối thiền phổ thông. Thời gian nhập thất hạ thủ công phu tu tập, một hôm bất thần chúng tôi phát minh được lý Thiền tông. Sau đó chúng tôi đọc qua kinh sử Thiền tông, càng làm sáng tỏ chỗ chúng tôi nhận được. Từ đó, chúng tôi khảo cứu sách sử thiền, những bộ này ngày xưa đối với chúng tôi không thể nào hiểu nổi, nhưng hiện nay không còn khó khăn nữa, càng đọc càng hứng thú. Đồng thời, những chỗ khó trong các kinh điển Đại thừa, lúc trước đã học qua mà chưa hiểu, chúng tôi nhớ lại và hiểu một cách dễ dàng. Vì thế, ngày xưa chúng tôi đã từng nói giữa học chúng: “kinh điển Đại thừa chỉ để trên gác thờ”, ngày nay chúng tôi thấy: “kinh điển Đại thừa là một kho châu báu”.

Bởi thấy Thiền tông đơn giản thực tế, siêu thoát, ứng dụng tu hành lợi ích ngay trong hiện tại, chúng tôi không nỡ tự tu tự hưởng một mình. Do đó, chúng tôi mở Thiền viện dạy tu thiền. Chúng tôi không được Thiện tri thức trực tiếp ấn chứng, nên chúng tôi dùng kinh sử để giảng thiền. Bởi không được trực tiếp ấn chứng nên chúng tôi không thể dựng phất tử, gọi dạ như thầy trò Tổ Qui Sơn, Ngưỡng Sơn; đánh hét như thầy trò Tổ Hoàng Bá, Lâm Tế. Chúng tôi chỉ giảng dạy kinh, luận, sử cho người nghe nhận hiểu để ứng dụng tu. Chúng tôi lấy kinh ấn chứng cho Thiền, tu Thiền để sáng tỏ thêm kinh. Sự hỗ tương giữa kinh và thiền đối với chúng tôi thật quá thiết yếu.

Chính Tổ Bồ-đề-đạt-ma đâu không nói: “Cõi này có bốn quyển kinh Lăng-già khả dĩ dùng ấn tâm.” Lục tổ Huệ Năng ngộ đạo do nghe giảng kinh Kim Cang. Đối với chúng tôi hiện nay cũng thế, dùng kinh để ấn tâm, giảng kinh để ngộ đạo. Có người nghi rằng ngày xưa Thiền sư Huyền Giác nhân đọc kinh Duy-ma-cật nhận ra lý Thiền, vẫn được Thiền sư Huyền Sách khuyến khích đến Lục Tổ ấn chứng, nếu không sẽ thành ngoại đạo thiên nhiên. Chúng tôi hiện nay không có người ấn chứng, lại thành ngoại đạo hay không? Thưa rằng, ngày xưa có Tổ ra đời không đến ấn chứng là người đứng ngoài lề Thiền tông, ngày nay không có Tổ, cũng không có Thiền sư kế thừa, chúng tôi phải nhờ ai ấn chứng? Thế thì kinh, luận, sử, ngữ lục của chư Tổ không đủ ấn chứng cho chúng tôi sao? Người học đạo cần phải dùng trí phán xét đường lối tu hành, đúng Phật, Tổ dạy hay sai Phật, Tổ dạy, đừng đòi hỏi một việc mà không bao giờ làm được.

C. TU THIỀN CÓ PHẢI RƠI VÀO KHÔNG CHĂNG?

Thiền tông chủ trương không kẹt hai bên, còn thấy có, thấy không đều là kẹt. Đã kẹt tức là bệnh không thể giải thoát được. Như vậy hỏi tu thiền rơi vào có, rơi vào không đều không hiểu thiền. Bởi vì Tâm thể không tướng mạo, nên nói không tướng, tuy không tướng mà hằng giác. Không tướng là không phải có, hằng giác là không phải không. Thế thì nói có nói không đối với thiền đều là phiếm diện, không phải toàn thể. Chúng ta nghe câu chuyện đối đáp của Thiền sư Huệ Hải với Luật sư Pháp Minh để thấy rõ ý nghĩa này:

Luật sư Pháp Minh hỏi: “Các Thiền sư phần nhiều rơi vào không?” Thiền sư Huệ Hải bảo: “Trái lại, các Tọa chủ phần nhiều rơi vào không.” Pháp Minh hỏi: “Tại sao rơi vào không?” Huệ Hải đáp: “Kinh, luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không, dù trên tiếng dựng lập danh, cú, văn, thân đâu chẳng phải là không. Tọa chủ bám chặt vào giáo thể đâu chẳng rơi vào không?” Pháp Minh hỏi: “Thiền sư có rơi vào không chăng?” Huệ Hải đáp: “Văn tự… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không.”

Qua câu chuyện trên liền thấy được ai chấp không. Bởi cửa thiền là cửa Không, nên người ta cứ cho thiền là rơi vào không. Họ không biết rằng đây là bước đầu phá chấp ngã sai lầm cho thật có, khi chấp ngã tan biến rồi liền thấy Tâm thể nào phải là không. Cho tu thiền rơi vào không là cái thấy biết nông nổi cạn cợt ở ngoài, chưa hiểu gì về thiền. Người hiểu thiền chân chánh còn không thấy có, huống nữa là không.

D. TU THIỀN CHẾT SANH VỀ ĐÂU?

Người học Phật mà đặt câu hỏi này thật quá thiển cận. Chủ yếu của Phật giáo, người tu đạt được Niết-bàn là cứu kính. Nghĩa chánh của Niết-bàn là vô sanh. Mục đích người tu nhắm thẳng đến chỗ vô sanh, mà hỏi sanh về đâu, trái hẳn với mục đích của mình rồi. Nếu còn sanh tức chưa viên mãn công phu, công phu chưa viên mãn thì tùy phước nghiệp cao thấp, dày mỏng, đến cảnh tương ưng thọ sanh. Nếu công phu đã viên mãn, mà hỏi sanh về đâu, như các vị A-la-hán tịch, chư Tỳ-kheo hỏi Phật “vị ấy sanh về đâu” thì Phật trả lời “như củi hết lửa tắt”. Đống lửa cháy sắp tàn do không thêm củi, khi củi hoàn toàn hết thì lửa tắt. Không thể hỏi lửa đi về đâu, vì hiện tượng mất trở lại Bản thể. Bản thể của lửa không tướng mạo, làm sao chỉ chỗ nơi cho người thấy biết được. Củi ví dụ cho nghiệp, còn nghiệp thì còn sanh, hết nghiệp hỏi sanh ở đâu?

Riêng về người tu Thiền, khi công phu viên mãn đạt được vô sanh tự tại giải thoát, tùy duyên ứng hóa, không thể hỏi đi đâu hay về đâu? Nếu công phu chưa viên mãn, khi sắp tịch cần làm chủ được mình, chỉ nhớ sống với Tâm thể thanh tịnh, không bị vọng tưởng chi phối, lúc ra khỏi thân tùy chọn lựa nơi nào đủ duyên thì đến, không cố định ở đâu. Lại nữa nếu người tu công phu còn tầm thường, chỉ cần gan dạ khi đau liền nhìn thẳng cái đau nó đang hoành hành thế nào, thấy được cái đau hoành hành thì mình không đau. Khi sắp chết cần nhìn thẳng xem cái chết đang tiến hành ra sao, thấy cái chết đang tiến hành thì mình không chết. Bởi vì chúng ta cứ đồng hóa cái thân hoại diệt với tâm bất hoại diệt làm một, nên bị nó chi phối. Giờ đây chúng ta thấy rõ sự hoại diệt của nó, tức nó không chi phối được mình. Chúng ta nghe lời đối đáp của Thiền sư Lương Giới, Tổ tông Tào Động về việc này:

Thiền sư Lương Giới sắp tịch, có vị Tăng hỏi: “Hòa thượng bệnh lại có cái chẳng bệnh chăng?” Sư đáp: “Có.” Tăng hỏi: “Cái chẳng bệnh lại thấy Hòa thượng chăng?” Sư đáp: “Lão tăng xem y có phần.” Tăng hỏi: “Chưa biết Hòa thượng làm sao xem y?” Sư  đáp: “Khi Lão tăng xem, chẳng thấy có bệnh.”

Bấy nhiêu đó cũng đủ thấy rõ, biết được cái bệnh cái chết là chúng ta khỏi bệnh khỏi chết. Hỏi chết sanh về đâu là hỏi theo nghiệp, theo nguyện. Người tu thiền nỗ lực buông xả động cơ tạo nghiệp là vọng tưởng, mong mỏi một nơi nào đó cũng là vọng tưởng. Người tu thiền là dứt sự mong cầu, hỏi sanh về đâu thật là ngớ ngẩn vô cùng.

E. TU THIỀN BAO LÂU ĐƯỢC THẦN THÔNG?

Đây là một vấn đề lầm lẫn của đa số người hâm mộ tu thiền. Họ bị những môn thiền tà, ngoại nói về sự linh thiêng mầu nhiệm, khiến họ ước mơ thần thông. Với tinh thần Thiền tông, thần thông diệu dụng chỉ là vấn đề phụ thuộc không đáng kể. Đạt được Tánh giác, sống với Tâm thể mới là điều thiết yếu, như nói “Minh tâm kiến tánh” hay nói “Thức tâm đạt bản nguyên danh vi Sa-môn”. Vì thế mục tiêu chánh yếu của hành giả tu theo Thiền tông là làm sao kiến tánh để khởi tu. Sau khi kiến tánh phải buông xả vọng tưởng để hằng sống với Chân tánh. Ngoài hai điều chánh yếu này không còn gì đáng kể. Thế nên chư Thiền sư chưa kiến tánh phải đi hành cước hai ba mươi năm tìm khắp các Thiện tri thức để được kiến tánh. Sau khi kiến tánh các ngài vào núi ở mấy mươi năm để buông xả vọng tưởng. Xong việc các ngài mới ra làm lợi ích cho người sau. Mọi sự mầu nhiệm đối với Thiền sư xem như một bệnh hoạn đáng trách.

Thiền sư Nam Tuyền đi thăm trang sở ở dưới núi, đến nơi thấy trang chủ sắp đặt lễ nghi trịnh trọng chực đón. Nam Tuyền hỏi: “Ta đi đâu không báo cho ai biết trước, tại sao trang chủ bày biện thế này?” Trang chủ thưa: “Khi hôm có thổ địa mách, hôm nay Hòa thượng đến.” Nam Tuyền nói: “Thầy già họ Vương này tu hành vô lực bị quỉ thần thấy tâm.”

Được quỉ thần báo trước việc đến của mình, theo thế thường là quá vinh dự, nhưng Thiền sư xem đó là sự dấy tâm động niệm của mình bị quỉ thần xem thấy. Đến như được sự cúng dường vẫn là bệnh hoạn.

Thiền sư Đạo Ưng cất thảo am ở Tam Phong, suốt tuần nhật không đến trai đường thọ trai. Động Sơn thấy lạ đến hỏi: “Mấy ngày nay sao ngươi không đến thọ trai?” Sư thưa: “Mỗi ngày có thiên thần cúng dường.” Động Sơn bảo: “Ta bảo ngươi là kẻ vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều lại.” Chiều Sư đến, Động Sơn gọi: “Ưng am chủ!” Sư ứng thanh: “Dạ.” Động Sơn bảo: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là gì?” Sư trở về am ngồi yên lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.

Người tu được thiên thần cúng dường mỗi ngày là điều ít có. Tại sao không khen, lại bị chê “còn kiến giải”? Còn khởi niệm lành thì quỉ thần hay chúng sanh khác còn thấy, chỉ khi mọi niệm lành dữ đều bặt thì không còn ai thấy tâm mình. Đó mới là chỗ cứu kính của người tu thiền. Cho nên chủ trương của Thiền tông, khi nào trước tám gió - lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc - thổi, tâm hành giả không động là thành công. Thần thông diệu dụng mà một gió đã động thì đó là dã hồ tinh mị. Người có thiện chí tu hành khéo dè dặt đừng lầm lẫn chỗ này.

G. TU THIỀN CÓ ĐIÊN CHĂNG?

Khi dạy thiền chúng tôi thường nói: “Không biết tu thiền điên, biết tu thiền không điên.” Tại sao? Bởi vì những người không biết mà tập tu thiền sai lạc nên phát điên, người biết tu thiền đúng đắn làm sao điên được. Nếu tu thiền điên thì đức Phật, chư Tổ đã điên hết rồi sao? Phật, Tổ do tu thiền đạt đạo, chúng ta ngày nay tu thiền điên là tại sao? Đâu không phải tại không biết tu lầm lẫn nên điên. Thế thì tu mà điên là tại không biết tu, chớ không phải tại tu thiền. Hơn nữa người tu thiền cấm kỵ nhất là “mừng” và “sợ”. Hiện nay một số hành giả tu thiền, khởi tâm vọng cầu tướng lạ, khi tướng lạ hiện đúng sở cầu, liền khởi “mừng” không thể kềm chế được, phát điên. Hoặc khi tướng lạ hiện khác sở cầu, sanh “sợ” hoảng lên phát điên. Đó là tại mong thấy tướng lạ, như mong thấy Phật hiện, mong thấy hoa sen… Hoặc người tu mong được thần thông, khi ấy quỉ thần thấy tâm mong cầu của mình, nó đến theo sở thích của hành giả, hiện mọi thứ thần thông, hành giả liền bị nó mê hoặc. Sau đó, hành giả trở thành điên cuồng khờ khạo. Còn lắm chuyện khiến hành giả phát điên, song đều do nguyên nhân vọng cầu mà ra. Người tu thiền chân chánh theo Thiền tông thì “gặp ma giết ma, gặp Phật giết Phật”. Câu này có hai ý nghĩa. Nghĩa thứ nhất, khi tu Thiền hành giả chẳng những buông xả tâm xấu ác mà tâm hiền thiện cũng xả bỏ luôn. Còn một niệm dù là niệm lành cũng là bệnh, như nói: “Mạt vàng tuy quí, rơi vào con mắt cũng khó chịu”. Bỏ niệm xấu ác là giết ma, bỏ niệm lành là giết Phật. Nghĩa thứ hai, hành giả trong lúc tu thiền dù thấy Phật hiện hay ma hiện đều không chấp nhận. Bởi vì tất cả tướng bên ngoài đều không thật, đều hư giả, không chấp nhận thì tâm mừng, sợ đều không, sự tu hành mới an định. Chúng ta nghe câu chuyện này:

Thiền sư Văn Hỷ (Giải Thoát) đi hành hương Ngũ Đài Sơn, đến hang Kim Cang lễ bái Bồ-tát Văn-thù, gặp Văn-thù mà Sư không biết. Sau này, Sư ngộ đạo ở Ngưỡng Sơn. Một hôm, Sư nấu cháo, thấy Văn-thù hiện trên nồi cháo, Sư lấy cây dầm quậy cháo đập, nói: “Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ.” Văn-thù nói kệ:

Khổ qua liên căn khổ
Điềm qua triệt đới điềm
Tu hành tam đại kiếp
Khước bị Lão tăng hiềm.

Dưa đắng gốc vẫn đắng
Dưa ngọt rễ cũng ngon
Tu hành ba đại kiếp
Lại bị Lão tăng đòn.

Qua hình ảnh trên thấy rõ ý nghĩa “gặp Phật giết Phật gặp ma giết ma” của Thiền sư vậy. Nếu hành giả tu thiền gặp tất cả ngoại cảnh đều không chấp, chỉ sống một tâm thanh tịnh, còn có lý do gì khiến phải điên.

Tuy nhiên gặp ma hiện không chấp nhận là dễ, thấy Phật, Bồ-tát hiện không chấp nhận phải gan dạ lắm mới làm được. Người tu ít lầm ma, trái lại thường lầm Phật. Do đó ma lợi dụng lòng quí kính Phật của hành giả, nó hiện thân Phật, hiện nói pháp… hành giả dễ bị nó dẫn đi. Bởi chúng ta chưa có thiên nhãn, làm sao phân biệt ma, Phật để khỏi lầm. Chính ngày xưa Tổ Ưu-ba-cúc-đa vẫn còn lầm:

Một hôm ma Ba-tuần đến quấy nhiễu Tổ Ưu-ba-cúc-đa, Tổ dùng đạo lực trị chúng. Cuối cùng ma Ba-tuần xin qui y với Tổ. Tổ qui y cho ma Ba-tuần xong, bảo nó: “Khi xưa đức Thế Tôn tại thế, ngươi thường trông thấy, nay ngươi hiện thân Phật và một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo cho ta xem.” Ma Ba-tuần hứa nhận, ma thưa: “Khi con hiện thân Phật, xin Hòa thượng đừng lễ bái, con tổn phước.” Tổ nhận lời, ma biến mất. Giây lát thấy từ mé rừng đức Phật đi trước ôm bình bát hào quang sáng rỡ, theo sau một ngàn hai trăm năm mươi chúng Tỳ-kheo oai nghi trang nghiêm đi đến trước mặt Tổ. Bất giác Tổ cúi mình đảnh lễ, ma liền biến mất.

Ngài là một vị Tổ thứ tư ở Ấn Độ, trong khi ma hiện hình Phật, trước đã giao hẹn với Ngài, Ngài vẫn đảnh lễ. Huống nữa bọn phàm phu chúng ta gặp những cảnh trạng như vậy, làm sao khỏi hết lòng qui ngưỡng. Ma hiện mà chúng ta qui ngưỡng thì nhất định phải rơi vào đường ma. Chỉ một điều duy nhất là chúng ta không chấp nhận mọi cảnh bên ngoài, một bề buông xả vọng tưởng là trên hết.

X. NHỮNG BỆNH CỦA NGƯỜI TU THIỀN.

Thiền tông là một lối tu nhẹ nhàng thanh thoát, phóng khoáng, tế nhị, thâm trầm. Nếu người phát tâm kiên cố, trường viễn tu hành, chắc chắn kết quả như nguyện. Ngược lại, nếu người phát tâm yếu đuối, tu hành khi tiến khi lùi, hoặc khi phát hứng tu quên ăn bỏ ngủ, khi khởi lười biếng cả tháng chẳng nhớ công phu. Những người như thế mà tu thiền dễ phát sanh những bệnh dưới đây:  

A. TỰ TÍN KHÔNG KHÉO THÀNH TỰ TÔN.

Thiền tông dạy “tức tâm là Phật”, những người không khéo tu hành, nghĩ rằng tâm mình là Phật, cần gì lễ Phật sám hối, đó chỉ thuộc hình thức bên ngoài, sống với tâm mình đủ rồi. Từ quan niệm đó, họ xem thường những bậc thầy, những người tu trước có đức hạnh hơn họ. Họ cứ nghĩ: “tôi sống với tâm tôi, bất cần ai nói gì thì nói”, nhưng thực tế, họ cũng chưa sống được với tâm họ, chỉ ôm lòng ngạo mạn tự cao, không kính Phật, không quí những bậc Tôn túc. Thế là thành bệnh “tự tín không khéo thành tự tôn”. Đã thành bệnh mà biết ăn năn hối cải, còn tu tiến được, bằng không thì rất khó cứu.

Muốn trị bệnh này, người tu thiền vẫn thường lễ Phật sám hối, vẫn quí kính những hàng Tôn túc. Tự biết tâm ta là Phật, song nếu không có Phật giác ngộ, chỉ dạy lại thì làm sao biết được. Hòn ngọc quí của ta đã bỏ quên từ thuở nào, ngày nay được người chỉ cho, tìm lại được nó, công ơn của người chỉ thật vô lượng. Đến chư Tổ và Thiện tri thức hiện nay, cũng là người cứu chúng ta thoát khỏi mê lầm. Nếu không có chư Tổ tiếp nối, Thiện tri thức ra đời, ngày nay làm sao chúng ta còn đủ duyên biết đạo lý cao cả này. Vì thế các ngài đều là người ân sâu dày của chúng ta. Chúng ta luôn luôn hết lòng quí kính các ngài. Thành tâm lễ Phật sám hối, quí kính những bậc Tôn túc là trị lành bệnh tự tôn.

B. PHÓNG KHOÁNG KHÔNG KHÉO THÀNH PHÓNG TÚNG.

Bệnh này người tu thiền dễ mắc phải. Bởi vì Thiền tông chú mục buông xả mọi vọng tưởng, cố chấp, khuôn mẫu, hình thức, tập tục sai lầm, chính những thứ ấy đóng khung con người cứng đờ không thoát nổi. Người tu thiền phải lột sạch mọi hình thức tập tục phi lý ấy. Do đó tâm hồn phóng khoáng, không bị cuộc hạn trong một phạm trù nào. Sống với Tâm thể thênh thang không lệ thuộc, cũng không giới hạn. Còn bó buộc trong một hình thức nào đều là thiếu hồn nhiên tự tại. Chính vì không chấp vào hình thức, cho đến giới luật họ cũng xem thường; thế là họ trở thành phóng túng bất chấp giới luật, bất cần dư luận, sống gàn gàn, dở dở, không đếm xỉa đến ai. Khi đã thành bệnh rồi, thật chướng ngại lớn lao trên đường tu.

Người này nếu ăn năn thức tỉnh, cần phải phát lồ sám hối, cố gắng gìn giữ giới luật mà họ đã thọ. Chúng ta tu thiền trong nhà Phật, cần phải có tự lợi lợi tha đầy đủ. Nếu không giữ giới luật, tức là mất lòng tin của mọi người, mọi người đã không tin thì làm sao giáo hóa để đầy đủ lợi tha. Hơn nữa, chúng ta tuy có phước duyên hiểu đạo, song nghiệp chướng còn dày, phải tránh cảnh bớt duyên mới khả dĩ tiến được, bằng xông pha bất chấp, e rồi sẽ sẩy chân không thể cứu được. Người tu cần phải thận trọng, không nên xem thường.

C. NÓI VÀ LÀM KHÔNG KỊP NHAU.

Thiền tông thật là siêu thoát, một khi hiểu được, ai cũng thấy hứng thú vô cùng. Bởi hứng thú quá mức, khiến người tu thích luận bàn, quên tu tập. Lý luận hay, được nhiều người nể phục, cứ thế phát triển quên cả thực hành. Lâu thành thói quen, họ là kẻ nói đạo chớ không hành đạo. Tệ hại hơn nữa, có một ít người trong tâm còn nhiễm dục lạc, thân hành dục lạc, bị người khác phê bình chỉ trích, liền dẫn lời Tổ để che đậy lỗi mình, quả là yêu quái khoác áo cà-sa để bịp đời. Người tu cần phải thật thà, cái dở của mình phải gan dạ nhận lỗi để sửa, khả dĩ tiến được. Nếu là kẻ chỉ khéo lanh mồm lẻo mép che đậy lỗi mình, bào chữa quấy mình, đó là nhân địa ngục không thể cứu. Nếu vì hứng thú muốn nói lên những cái hay của mình thấy được, người chân tu cần phải hạn chế bớt, có mười điều nên nói năm sáu điều thôi. Quả thật mắc bệnh hay nói, hành giả cần học lời Cổ đức dạy: “Phải để khóe miệng lên meo, như cây quạt mùa Đông.” Được thế, bệnh hay nói từ từ suy giảm. Người tu cần phải ngôn hạnh tương ưng, sẽ được lợi người lợi mình đầy đủ. Nếu chỉ có ngôn mà không hạnh, là lời nói suông, nếu không bảo là nói dối. Bớt nói và ít nói là phương tiện tối thiết để trị bệnh này.

D. BỎ THỜI KHÓA CÔNG PHU TRỞ THÀNH LƯỜI BIẾNG.

Người tu theo Thiền tông giờ nào cũng là giờ tu, hành động nào cũng là hành động tu, hằng chiếu soi tâm niệm mình không chút sơ hở. Nếu được như thế, thời khóa công phu đặt với người này trở thành vô nghĩa. Đợi đến thời khóa mới tu sao? Ngoài thời khóa ấy làm gì? Quả thật chỗ thiết yếu là tu từng tâm niệm. Nhưng cũng có một số người lười nhác, không thể hằng quán chiếu từng tâm niệm ở nội tâm, mà đặt thời khóa tu hành họ lại chống đối. Họ bảo rằng người tu thiền giữ hình thức ấy làm gì? Giờ nào không phải là giờ tu mà đặt thời khóa? Thế nhưng, không có thời khóa, thì họ thả rong con khỉ ý thức chạy nhảy tứ tung, chẳng có phút giây an tĩnh. Lợi dụng sự không nặng thời khóa của người chân tu, họ mặc tình vui chơi lười biếng. Muốn trị bệnh này, người tu thiền cần phải khắc kỷ, nỗ lực tiến tu, nếu thấy tâm mình lơi lỏng liền phải thu nhiếp, phát thệ nguyện mạnh mẽ để sách tiến mình. Hằng phát nguyện tinh tấn là phương thuốc trị lành bệnh này.

Tóm lại, người tu thiền mắc bệnh tự tôn phải dùng lễ Phật sám hối để trị, người mắc bệnh phóng túng dùng giới luật để trị, người mắc bệnh nói nhiều dùng ít nói im lặng để trị, người mắc bệnh lười biếng dùng tinh tấn để trị. Người tu biết mình có bệnh, khéo dùng thuốc điều trị thì bệnh được lành, trên đường tiến đạo sẽ không thối chuyển. Ngược lại, có bệnh mà không biết, hoặc biết mà không chịu điều trị, chắc chắn người ấy sẽ bỏ cuộc nửa đường, có khi phải sa đọa là khác.

XI. KẾT LUẬN.

Yếu chỉ Thiền tông là Kiến tánh khởi tu, ngay trong đời này hành giả giác ngộ Bản tánh chân thật của mình, tất cả thứ giả dối sai lầm từ muôn đời mê chấp, buông xả hết để Tâm thể thanh tịnh sáng suốt. Thiền tông khai thác cho chúng ta thấy một con người chân thật từ vạn kiếp của chúng ta. Đó là đưa giá trị con người đến tột đỉnh của nó. Hạnh phúc chân thật không thể có nơi con người giả dối này. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra “Bản lai diện mục” của mình, hằng sống với nó mới là chân hạnh phúc, bởi vì mọi cuộc luân hồi đau khổ ngang đây đã chấm dứt. Con người bao giờ cũng hướng về Vĩnh cửu, song tự mình không biết Vĩnh cửu ở đâu, người ta cứ ngỡ Vĩnh cửu ở một phương trời xa lạ nào, không ngờ Vĩnh cửu vẫn ở ngay trong cái thân vô thường giả dối này. Khác với các nhà tôn giáo xưa nay, tô điểm cái Vĩnh cửu bằng một bộ mặt phấn son nồng nặc, Thiền tông vạch trần bộ mặt thật của Vĩnh cửu hết sức bình dị đơn sơ. Chân lý bao giờ cũng giản dị, song vì sức tưởng tượng của con người biến chân lý trở thành cái huyền bí xa vời. Đạo, Chân tâm, Phật tánh, Pháp thân… chẳng phải gì xa lạ, chính là bộ mặt thật của con người chúng ta. Bộ mặt thật ấy bị phủ kín bởi những lớp bụi vọng tưởng điên đảo, chịu khó lau chùi sạch chúng thì bộ mặt thật xuất hiện đầy đủ. Đừng dại khờ chạy tìm nó trên những đỉnh núi cao chót vót, dưới những vực thẳm sâu hun hút, trong những rừng rậm mịt mù, từ những phương trời xa tít. Chúng ta hãy dừng lại nhìn thẳng dưới gót chân của mình, quả thật bộ mặt thật đã nằm sẵn ở đây. Người khéo biết sống trở lại mình thì chân lý gần gũi làm sao. Ai có thể ngờ rằng “tâm bình thường là đạo”! Đây là tánh cách đơn giản bình dị của nhà thiền. Chỉ ngại người ta khinh thường bỏ qua hòn ngọc báu, Thiền sư phải dùng đến diệu thuật hét điếc tai, đánh tóe lửa, chung qui cũng chỉ vì chỉ thẳng cái “tâm bình thường” cho mọi người. Song bình thường là phi thường, bởi vì nghĩa bình thường của con người xưa nay là điên đảo, bỏ được cái điên đảo ấy mới gọi bình thường. Thế nên nhận ra được Bản tâm bình thường của mình, cần phải phủi sạch những thứ điên đảo phi thường kia là chúng ta sống một cuộc sống thái bình, chấm dứt một cuộc đời lang thang ở tha phương viễn xứ, trở về cố hương an ổn muôn đời.

Để chấm dứt phần kết luận này chúng tôi mượn bài kệ của Thiền sư Huệ Sinh đời Lý ở Việt Nam thu gọn hơn:

Pháp bản như vô pháp
Phi hữu diệc phi vô
Nhược nhân tri thử pháp
Chúng sanh dữ Phật đồng.
Tịch tịch Lăng-già nguyệt
Không không độ hải chu 
Tri không, không giác hữu
Tam-muội nhậm thông châu.

Pháp gốc như không pháp
Chẳng có cũng chẳng không
Nếu người biết pháp ấy
Chúng sanh cùng Phật đồng.
Trăng Lăng-già vắng lặng
Thuyền Bát-nhã rỗng không
Biết không, không giác có
Chánh định mặc thong dong.

Mục Lục