Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 21 - Thiền Tông Trung Hoa 6
Tắc 51 - 75

TẮC 51

TUYẾT PHONG LÀ CÁI GÌ

Lời dẫn:

Vừa có phải quấy, lăng xăng mất tâm; chẳng rơi giai cấp, lại không dò tìm. Hãy nói thả đi là phải, nắm đứng là phải? Đến đây còn có mảy tơ đường hiểu, vẫn kẹt nói bàn, còn mắc cơ cảnh, trọn là nương cỏ gá cây. Dù cho liền đến chỗ độc thoát, chưa khỏi muôn dặm trông quê nhà, lại nắm được chăng? Nếu chưa nắm được, chỉ lý hội công án hiện thành, thử cử xem?

Công án: 

Khi Tuyết Phong ở am có hai vị tăng đến lễ bái. Tuyết Phong thấy đến, lấy tay đẩy cửa am, phóng ra ngoài, nói: “Là cái gì?” Tăng cũng nói: “Là cái gì?” Tuyết Phong cúi đầu về am. Vị tăng sau đến Nham Đầu, Nham Đầu hỏi: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Lãnh Nam đến.” Nham Đầu hỏi: “Từng đến Tuyết Phong chưa?” Tăng thưa: “Từng đến.” Nham Đầu hỏi: “Có những ngôn cú gì?” Tăng thuật lại việc trước. Nham Đầu hỏi: “Ông ấy nói gì?” Tăng thưa: “Không nói, chỉ cúi đầu về am.” Nham Đầu nói: “Ôi! Ta hối hận buổi đầu chẳng nói với y câu rốt sau, nếu nói với y thì người trong thiên hạ làm gì được lão Tuyết.” Tăng đến cuối hạ nhắc lại việc trước thưa hỏi. Nham Đầu hỏi: “Sao không hỏi sớm?” Tăng thưa: “Chưa dám khinh thường.” Nham Đầu nói: “Tuyết Phong tuy cùng ta đồng điều sanh, chẳng cùng ta đồng điều tử, cần biết câu rốt sau chỉ là thế.”

Giải thích: 

Phàm là người phù trì tông giáo phải biện rõ đương cơ, biết tiến thoái phải quấy, rành giết cứu bắt tha. Nếu như con mắt mờ mờ mịt mịt đến nơi gặp hỏi thì hỏi, gặp đáp thì đáp, không biết lỗ mũi ở trong tay người khác. Tuyết Phong, Nham Đầu đồng tham kiến Đức Sơn. Vị tăng này tham vấn Tuyết Phong kiến giải chỉ đến thế ấy, cho đến yết kiến Nham Đầu cũng chẳng từng thành được một việc, luống phiền hai vị lão tôn túc, một hỏi một đáp, một bắt một tha, thẳng đến ngày nay người trong thiên hạ thành khúc mắc rối loạn, phân giải không ra. Hãy nói khúc mắc rối loạn ở tại chỗ nào? 

Tuyết Phong tuy trải khắp nơi, rốt sau ở quán trọ Ngao Sơn nhờ Nham Đầu kích phát mới được dứt bặt đại triệt. Nham Đầu gặp pháp nạn, ở bên hồ làm người đưa đò, hai bên bờ treo mỗi bên một tấm bảng, có người cần qua gõ một tiếng bảng. Nham Đầu nói: “Ông qua bờ kia”, liền trong lùm lau múa chèo chui ra. 

Tuyết Phong về Lãnh Nam ở am, vị tăng này cũng là người cửu tham, Tuyết Phong thấy đến lấy tay đẩy cửa am phóng ra ngoài nói “là cái gì?” Như hiện nay có hỏi thế ấy, liền chụp lấy nghiền ngẫm. Vị tăng này cũng lạ, chỉ đáp lại “là cái gì?” Tuyết Phong cúi đầu về am. Thường thường bảo đây là vô ngữ hội vậy. Vị tăng này dò tìm chẳng được. Có người nói Tuyết Phong bị một câu hỏi của vị tăng này khiến phải lặng câm về am. Đâu chẳng biết ý Tuyết Phong có chỗ độc hại. Tuyết Phong tuy được tiện nghi đâu ngờ giấu thân lại bày bóng. 

Sau vị tăng mang công án này từ Tuyết Phong đến Nham Đầu nhờ phán xét. Đến nơi, Nham Đầu hỏi: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Lãnh Nam đến.” Hỏi: “Từng đến Tuyết Phong chăng?” Nếu cần thấy Tuyết Phong chỉ một câu hỏi này khéo để mắt xem thấy. Đáp: “Từng đến.” Hỏi: “Có ngôn cú gì?” Lời này cũng chẳng phải qua suông. Vị tăng chẳng hiểu, chỉ lo chạy theo ngữ mạch kia chuyển. Hỏi: “Ông ấy nói gì?” Đáp: “Sư cúi đầu không nói, về am.” Vị tăng này đâu chẳng biết Nham Đầu mang giày cỏ đi trong bụng ông mấy lượt rồi. Nham Đầu nói: “Ôi! Ta hối hận buổi đầu chẳng nói với y câu rốt sau, nếu nói với y câu rốt sau thì người trong thiên hạ làm gì được lão Tuyết.” Nham Đầu cũng là giúp mạnh chẳng giúp yếu. Vị tăng như trước vẫn tối mịt mịt chẳng phân đen trắng, đến ôm một bụng nghi, cho thật là Tuyết Phong chẳng hội, đến cuối hạ lại nhắc việc ấy để thưa thỉnh. Nham Đầu bảo: “Sao chẳng hỏi sớm?” Lão già này mưu mô làm sao!” Tăng thưa: “Chẳng dám khinh thường.” Nham Đầu nói: “Tuyết Phong tuy cùng ta đồng điều sanh, chẳng cùng ta đồng điều tử, cần biết câu rốt sau chỉ là thế.” Nham Đầu quá mực chẳng tiếc lông mày, các ông cứu cánh làm sao hội? 

Tuyết Phong ở trong hội Đức Sơn làm phạn đầu. Một hôm trai trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường, Tuyết Phong nói: “Chuông chưa kêu, trống chưa đánh, ông già ôm bát đi đâu?” Đức Sơn không nói, cúi đầu về phương trượng. Tuyết Phong thuật lại với Nham Đầu. Nham Đầu nói: “Cả thảy Đức Sơn chẳng hội câu rốt sau.” Đức Sơn nghe, bảo thị giả gọi đến phương trượng hỏi: “Ông chẳng nhận lão tăng sao?” Nham Đầu thưa thầm ý này. Đến hôm sau, Đức Sơn thượng đường chẳng giống bình thường. Nham Đầu ở trước Tăng đường vỗ tay cười to, nói: “Đáng mừng ông già hiểu câu rốt sau, sau này người trong thiên hạ không làm gì được ông, tuy nhiên như thế, chỉ được ba năm.”

Trong công án này, như Tuyết Phong thấy Đức Sơn không đáp, tưởng là mình được tiện nghi, đâu biết là mắc mưu giặc. Bởi Sư từng mắc mưu giặc, sau này cũng khéo làm giặc. Vì thế, cổ nhân nói: “Một câu rốt sau mới đến lao quan.” Có người nói Nham Đầu hơn Tuyết Phong, hẳn là hiểu lầm rồi vậy. Nham Đầu thường dùng cơ này dạy chúng: “Kẻ mắt sáng không hang ổ, bỏ vật là thượng, theo vật là hạ, câu rốt sau giả sử thân thấy Tổ sư đến cũng lý hội chẳng được.” 

Trai trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường. Nham Đầu nói cả thảy Đức Sơn chưa hội được câu rốt sau. Tuyết Đậu niêm: Từng nghe nói độc nhãn long nguyên lai chỉ đủ một con mắt. Đâu chẳng biết Đức Sơn là con cọp không răng, nếu chẳng phải Nham Đầu biết được, sao biết hôm qua cùng ngày nay chẳng đồng. Các ông cần hội câu rốt sau chăng? Chỉ cho lão Hồ biết, chẳng cho lão Hồ hiểu. 

Từ xưa đến nay, công án muôn sai ngàn khác như rừng gai góc, nếu ông thấu được thì người trong thiên hạ không làm gì được ông, chư Phật ba đời đứng ở dưới gió. Nếu ông thấu chẳng được thì tham câu Nham Đầu nói “Tuyết Phong tuy cùng ta đồng điều sanh chẳng cùng ta đồng điều tử”, chỉ một câu này tự nhiên có chỗ xuất thân. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Mạt hậu cú

Vị quân thuyết

Minh ám song song để thời tiết

Đồng điều sanh dã cộng tương tri

Bất đồng điều tử hoàn thù tuyệt.

Hoàn thù tuyệt

Hoàng đầu bích nhãn tu chân biệt

Nam bắc đông tây quy khứ lai

Dạ thâm đồng khán thiên nham tuyết.

Dịch:

Câu rốt sau

Vì anh nói

Sáng tối song song đấy thời tiết

Đồng điều sanh mọi người cùng biết

Chẳng đồng điều tử lại đặc biệt.

Lại đặc biệt

Đầu vàng mắt biếc nên phân rõ

Đông Tây Nam Bắc về lại qua

Đêm khuya đồng thấy tuyết ngàn núi.

Giải tụng:

Câu rốt sau, vì anh nói, Tuyết Đậu tụng câu rốt sau này, ý kia vì nhau toàn rơi trong cỏ, tụng dù có tụng tột cũng chỉ được đôi chút màu lông. Nếu cần thấy thấu cũng chưa được. Thế mà dám há miệng nói to sáng tối song song đấy thời tiết, vì ông mở một đường, cũng vì ông một câu đập chết rồi vậy, rốt sau lại vì ông chú giải. Như một hôm Chiêu Khánh hỏi La Sơn: “Nham Đầu nói thế ấy thế ấy, chẳng thế ấy chẳng thế ấy, ý chỉ thế nào?” La Sơn gọi: “Đại sư!” Khánh ứng thanh: “Dạ!” La Sơn bảo: “Hai sáng cũng hai tối.” Khánh lễ tạ rồi đi. Sau ba ngày, Khánh lại hỏi: “Ngày trước nhờ lòng từ bi của Hòa thượng chỉ dạy, nhưng khán chẳng vỡ.” La Sơn nói: “Tận tình vì ông rồi.” Khánh thưa: “Hòa thượng cầm lửa đi.” La Sơn bảo: “Nếu thế ấy, cứ chỗ Đại sư nghi hỏi ra.” Khánh thưa: “Thế nào là hai sáng hai tối?” La Sơn bảo: “Đồng sanh cũng đồng tử.” Khánh lễ tạ rồi đi. 

Sau có vị tăng hỏi Chiêu Khánh: “Khi đồng sanh cũng đồng tử thì thế nào?” Khánh đáp: “Ngậm lấy miệng chó.” Tăng thưa: ‘‘Đại sư giữ lấy miệng ăn cơm.” Vị tăng ấy lại đến hỏi La Sơn: “Khi đồng sanh chẳng đồng tử thì thế nào?” La Sơn đáp: “Như trâu không sừng.” Tăng hỏi: “Khi đồng sanh cũng đồng tử thì thế nào?” La Sơn đáp: “Như cọp mọc sừng.” Câu rốt sau chính là đạo lý này.

Trong hội La Sơn có vị tăng lấy ý này đến hỏi Chiêu Khánh. Khánh đáp: “Kia đây đều biết, cớ sao?’’ Nếu ta đến Đông Thắng Thần Châu nói một câu, Tây Cù-da-ni Châu cũng biết, trên trời nói một câu, nhân gian cũng biết, tâm tâm biết nhau, mắt mắt chiếu nhau. 

Đồng điều sanh vẫn là dễ thấy, chẳng đồng điều tử lại đặc biệt. Thích-ca, Đạt-ma cũng dò tìm chẳng được. Đông tây nam bắc về lại qua, cảnh giới có đôi chút đẹp. Đêm khuya đồng thấy tuyết ngàn núi, hãy nói là song minh hay song ám, là đồng điều sanh hay đồng điều tử? Thiền tăng đủ mắt sáng thử phân rành xem?

TẮC 52

TRIỆU CHÂU ĐỘ LỪA ĐỘ NGỰA

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Nghe tiếng cầu đá Triệu Châu đã lâu, đến nơi chỉ thấy cầu khỉ.” Triệu Châu bảo: “Ông chỉ thấy cầu khỉ, nên chẳng thấy cầu đá.” Tăng hỏi: “Thế nào là cầu đá?” Triệu Châu đáp: “Độ lừa độ ngựa.”

Giải thích: 

Thành Triệu Châu có cây cầu đá do Lý Ưng tạo, đến nay nổi tiếng trong thiên hạ. Cầu khỉ tức là cây cầu bắc một cây. Vị tăng này cố ý làm giảm uy quang Triệu Châu, nên hỏi: “Nghe tiếng cầu đá Triệu Châu đã lâu, đến nơi chỉ thấy cầu khỉ.” Triệu Châu đáp: “Ông chỉ thấy cầu khỉ nên chẳng thấy cầu đá.” Cứ chỗ hỏi của vị tăng giống như lối nói chuyện bình thường. Triệu Châu dùng câu để câu y, quả nhiên y bị mắc câu. Theo sau y hỏi: “Thế nào là cầu đá?” Triệu Châu đáp: “Độ lừa độ ngựa.” Quả thật, trong lời tự có chỗ xuất thân. Triệu Châu không giống Lâm Tế Đức Sơn dùng gậy dùng hét, chỉ dùng ngôn cú giết hoặc cứu. Công án này khéo khéo xem, chỉ giống như bình thường đấu cơ phong. Tuy nhiên như thế, cũng thật khó nương gá. 

Một hôm, Triệu Châu cùng Thủ tọa xem cầu đá. Châu hỏi: “Là người nào tạo?” Thủ tọa đáp: “Lý Ưng tạo.” Châu hỏi: “Khi tạo nhằm chỗ nào hạ thủ?” Thủ tọa đáp không được. Châu bảo: “Bình thường nói cầu đá, hỏi đến chỗ hạ thủ cũng không biết.” 

Một hôm, Triệu Châu quét đất, có vị tăng hỏi: “Hòa thượng là thiện tri thức vì sao lại có bụi?” Châu đáp: “Bên ngoài đến.” Tăng hỏi: ‘Già-lam thanh tịnh vì sao lại có bụi?” Châu đáp: “Lại có một điểm.” Có vị tăng hỏi: ‘‘Thế nào là đạo?” Châu đáp: “Ngoài tường ấy.” Tăng thưa: “Chẳng phải hỏi đạo này, hỏi đại đạo.” Châu đáp: “Đại đạo thấu Trường An.” Triệu Châu riêng dùng cơ này, Sư đến chỗ bình thật an ổn, vì người cũng không chạm bén đứt tay, tự nhiên cao vót, dùng được cơ này quá khéo. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Cô nguy bất lập đạo phương cao

Nhập hải hoàn tu điếu cự ngao

Kham tiếu đồng thời Quán Khê lão

Giải vân phách tiễn diệc đồ lao.

Dịch:

Vút siêu chẳng lập đạo mới cao

Vào biển cần câu được cá ngao

Cười ngất đồng thời cùng lão Quán

Bảo rằng chụp tiễn uổng công lao.

Giải tụng:

Câu Vút siêu chẳng lập đạo mới cao, Tuyết Đậu tụng Triệu Châu chỗ bình thường vì người, chẳng lập huyền diệu, chẳng lập cao vút. Như các nơi nói: Đập nát hư không, đập nát Tu-di, đáy biển sanh bụi, Tu-di vỗ sóng, mới gọi là đạo của Tổ sư. Do đó, Tuyết Đậu nói: Vút siêu chẳng lập đạo mới cao. Vách đứng muôn nhẫn, bày chỗ linh nghiệm kỳ đặc của Phật pháp, tuy nhiên cô nguy cao vót chẳng bằng không lập cô nguy. Chỉ bình thường tự nhiên lăn trùng trục chẳng lập mà tự lập, chẳng cao mà tự cao, cơ thoát cô nguy mới thấy huyền diệu. 

Vì thế, Tuyết Đậu nói: Vào biển cần câu được cá ngao. Xem Sư là bậc tông sư mắt sáng, thong thả buông một câu, dùng một cơ, chẳng câu tôm tép ốc trai, chỉ câu cá ngao to, quả là bậc tác gia. Một câu này dùng bày rõ phần đầu công án. 

Câu Cười ngất đồng thời cùng lão Quán, có vị tăng hỏi Quán Khê: “Nghe danh Quán Khê đã lâu, đến nơi chỉ thấy cái ao ngâm gai.” Quán Khê đáp: “Ông chỉ thấy cái ao ngâm gai nên chẳng thấy Quán Khê.” Tăng hỏi: “Thế nào là Quán Khê?” Quán Khê đáp: “Chụp tên gấp.” 

Lại tăng hỏi Hoàng Long: “Nghe tiếng Hoàng Long đã lâu, đến nơi chỉ thấy con rắn khoang đỏ.” Long đáp: “Ông chỉ thấy con rắn khoang đỏ nên chẳng thấy Hoàng Long.” Tăng hỏi: “Thế nào là Hoàng Long?” Long đáp: “Kéo dài lê thê.” Tăng hỏi: “Bỗng gặp Kim sí điểu đến thì sao?” Long đáp: “Tính mạng khó còn.” Tăng hỏi: “Thế thì bị chim ăn rồi?” Long đáp: “Cám ơn ông cúng dường.” Đây là lập cô nguy, phải thì phải, chẳng khỏi phí công, không bằng Triệu Châu dùng lối bình thường. Thế nên, Tuyết Đậu nói: Bảo rằng chụp tiễn uổng công lao. Chỉ như Quán Khê, Hoàng Long thì gác lại, đến Triệu Châu nói “độ lừa độ ngựa” làm sao hội, thử biện xem?

TẮC 53

BÁ TRƯỢNG CON NGỖNG

Lời dẫn: 

Khắp cõi chẳng giấu, toàn cơ riêng bày, chạm đến không kẹt, rõ ràng có cơ xuất thân. Dưới câu không riêng, mỗi mỗi có ý giết người. Hãy nói cổ nhân cứu cánh nhằm chỗ nào thôi hết, thử cử xem?

Công án: 

Mã Tổ cùng Bá Trượng dạo vườn, thấy bầy vịt trời bay qua. Mã Tổ hỏi: “Là cái gì?” Bá Trượng thưa: “Bầy vịt trời.” Mã Tổ hỏi: “Đi đâu rồi?” Bá Trượng thưa: “Bay qua rồi.” Mã Tổ liền nắm lỗ mũi Bá Trượng vặn mạnh. Bá Trượng đau quá la lên. Mã Tổ bảo: “Đâu từng bay qua.’’

Giải thích: 

Chánh nhãn xem ra, lại là Bá Trượng đủ chánh nhân. Mã Tổ không gió dậy sóng. Các ông muốn làm thầy Phật tổ nên tham lấy Bá Trượng, muốn tự cứu chẳng xong hãy tham Mã Tổ. Xem cổ nhân trong mười hai giờ chưa từng chẳng ở trong ấy. Bá Trượng xuất gia từ thuở bé, học tập giới định tuệ, gặp lúc Mã Tổ xiển hóa ở Nam Xương tận tâm nương tựa, hai mươi năm làm thị giả, cho đến tái tham dưới tiếng hét mới được đại ngộ. Hiện nay có người nói: Vốn không chỗ ngộ, làm cái cửa ngộ, dựng lập việc này. Nếu kiến giải thế ấy, như trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử. Đâu chẳng thấy cổ nhân nói: Nguồn chẳng sâu thì dòng không dài, trí chẳng lớn thì thấy chẳng xa. Nếu hiểu là dựng lập thì Phật pháp đâu đến ngày nay. 

Xem Mã Tổ cùng Bá Trượng đi dạo vườn thấy bầy vịt trời bay qua, Mã Tổ đâu không biết vịt trời, tại sao lại hỏi thế ấy? Hãy nói ý ngài rơi tại chỗ nào? Bá Trượng chỉ biết chạy theo sau. Mã Tổ nắm lỗ mũi Sư vặn mạnh, Bá Trượng chịu đau không nổi la lên. Mã Tổ bảo: “Đâu từng bay qua.” Bá Trượng liền tỉnh. Ngày nay có người hiểu lầm, vừa hỏi đến liền la lên, buồn cười nhảy chẳng ra. 

Hàng tông sư vì người phải chỉ dạy cho thấy tột. Nếu họ chưa hiểu, chẳng nệ chạm bén đứt tay, chỉ cốt dạy họ rõ được việc này. Vì thế nói, hội thì giữa đường thọ dụng, chẳng hội thì thế đế lưu bố. Mã Tổ đương thời, nếu chẳng nắm đứng thì chỉ thành thế đế lưu bố. Phải là thấy cảnh gặp duyên xoay trở, dạy trở về chính mình, trong mười hai giờ không chỗ khiếm khuyết, gọi đó là tánh địa minh bạch. Nếu chỉ nương cỏ gá cây, nhận cái trước lừa sau ngựa, có dùng vào chỗ gì? Xem Mã Tổ, Bá Trượng dụng thế ấy, tuy giống như sáng tỏ tinh lanh, mà chẳng ở chỗ sáng tỏ tinh lanh. Bá Trượng chịu đau không nổi la lên, nếu thấy thế ấy thì khắp cõi chẳng giấu, mỗi mỗi hiện thành. Vì thế nói, một chỗ thấu thì ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời thấu. 

Hôm sau, Mã Tổ lên tòa, chúng vừa tụ họp, Bá Trượng ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa về phương trượng, hỏi Bá Trượng: “Ta vừa lên tòa chưa nói pháp, vì sao ông lại cuốn chiếu?” Bá Trượng thưa: “Hôm qua bị Hòa thượng nắm lỗ mũi đau.” Mã Tổ hỏi: “Hôm qua ông nhằm chỗ nào lưu tâm?’’ Bá Trượng thưa: “Ngày nay lỗ mũi lại chẳng đau.’’ Mã Tổ bảo: “Ông biết sâu việc ngày nay.” Bá Trượng làm lễ, trở về liêu thị giả khóc. Đồng sự thị giả hỏi: ‘‘Ông khóc cái gì?” Bá Trượng nói: “Huynh đến hỏi Hòa thượng.” Thị giả đến hỏi Mã Tổ. Mã Tổ bảo: “Ông hỏi lấy y xem?” Thị giả lại về liêu hỏi Bá Trượng. Bá Trượng cười hả hả! Thị giả nói: “Ông vừa rồi khóc, giờ đây tại sao lại cười?” Bá Trượng nói: “Tôi vừa rồi khóc, giờ đây cười.” Xem Sư sau khi ngộ lăn trùng trục ngăn chặn chẳng đứng, tự nhiên linh hoạt. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Dã áp tử

Tri hà hứa

Mã Tổ kiến lai tương cộng ngữ

Thoại tận sơn vân hải nguyệt tình

Y tiền bất hội hoàn phi khứ.

Dục phi khứ

Khước bả trụ

Đạo! Đạo!

Dịch:

Con vịt trời

Biết là mấy

Mã Tổ thấy rồi cùng nhau nói

Nói tột biển trăng mây núi lòng

Như xưa chẳng hội lại bay mất.

Muốn bay mất

Lại nắm đứng

Nói! Nói!

Giải tụng:

Tuyết Đậu ngay đầu liền tụng Con vịt trời, biết là mấy, hãy nói có nhiều ít? Mã Tổ thấy rồi cùng nhau nói, tụng này Mã Tổ hỏi Bá Trượng “là cái gì”, Bá Trượng đáp “bầy vịt trời”. Nói tột biển trăng mây núi lòng là tụng hỏi Bá Trượng “đi đâu rồi”. Mã Tổ vì Sư ý chỉ tự nhiên thoát thể. Bá Trượng như trước chẳng hội, lại nói bay qua rồi. Hai lớp lầm qua. 

Hai câu Muốn bay mất, lại nắm đứng, Tuyết Đậu cứ theo bản án kết tội. Lại nói Nói! Nói! Đây là chỗ Tuyết Đậu chuyển thân. Hãy nói, nói cái gì? Nếu la đau là lầm. Nếu chẳng la đau, lại làm sao hội? Tuy nhiên, Tuyết Đậu tụng thật khéo, song cũng nhảy không khỏi.

TẮC 54

VÂN MÔN LẠI GIANG HAI TAY

Lời dẫn: 

Thoát khỏi sanh tử, xoay lăn cơ quan, thảnh thơi cắt sắt chặt đinh, tùy chỗ che trời che đất. Hãy nói là chỗ hành lý của người nào, thử cử xem?

Công án: 

Vân Môn hỏi tăng: “Vừa rời chỗ nào?” Tăng thưa: ‘‘Tây Thiền.” Vân Môn hỏi: “Gần đây Tây Thiền có ngôn cú gì?” Tăng liền giang hai tay. Vân Môn đánh một tát. Tăng thưa: “Thoại đầu của con còn.” Vân Môn lại giang hai tay. Tăng không nói được. Vân Môn liền đánh.

Giải thích: 

Vân Môn hỏi vị tăng vừa rời chỗ nào, tăng thưa Tây Thiền. Cái này là đương diện thoại, giống như điện chớp. Vân Môn hỏi gần đây có ngôn cú gì, cũng chỉ là thuyết thoại bình thường. Vị tăng này quả thật là bậc tác gia, lại lật ngược để nghiệm Vân Môn, liền giang hai tay. Nếu là người tầm thường gặp phải cái nghiệm này, liền thấy tay chân rối loạn. Vân Môn có cơ chọi đá nháng lửa, làn điện chớp, liền đánh một tát. Tăng nói đánh tức là phải, làm gì được thoại đầu của con. Vị tăng này có chỗ chuyển thân. Vì thế, Vân Môn buông ra lại dang hai bàn tay. Vị tăng không nói được. Vân Môn liền đánh. Xem Vân Môn tự là tác gia, đi một bước biết chỗ rơi một bước, khéo xem trước lại giỏi ngó sau, chẳng mất đường lối. Vị tăng này chỉ khéo xem trước, chẳng giỏi ngó sau.

Tụng:

Hổ đầu hổ vĩ nhất thời thâu

Lẫm lẫm oai phong tứ bách châu

Khước vấn bất tri hà thái hiểm

Sư vân phóng quá nhất trước.

Dịch:

Đầu cọp đuôi cọp một lúc thâu

Lẫm lẫm oai phong bốn trăm châu

Lại hỏi tại sao mà quá hiểm

Sư rằng phóng qua một nước.

Giải tụng:

Tuyết Đậu tụng thoại này rất dễ hiểu, đại ý chỉ tụng cơ phong của Vân Môn. Vì thế nói: Đầu cọp đuôi cọp một lúc thâu. Cổ nhân nói: Chặn đầu cọp thâu đuôi cọp, câu thứ nhất rõ tông chỉ. Tuyết Đậu chỉ căn cứ bản án kết tội, thích Vân Môn giỏi chặn đầu cọp lại khéo nắm đuôi cọp. Vị tăng giang hai tay, Vân Môn liền đánh là chặn đầu cọp. Vân Môn giang hai tay, tăng không nói được, liền đánh là nắm đuôi cọp. Đầu đuôi đồng thâu, mắt như sao băng, tự nhiên như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện xẹt. Liền được Lẫm lẫm oai phong bốn trăm châu, khiến cho cả thế giới gió thổi vèo vèo. 

Lại hỏi tại sao mà quá hiểm, quả là có chỗ hiểm. Tuyết Đậu nói bỏ qua một nước. Hãy nói hiện nay khi chẳng bỏ qua lại là sao? Người cả đại địa thảy nên ăn gậy. Hàng thiền hòa tử ngày nay đều nói: “Đợi khi Vân Môn giang hai tay, cũng là trả lại cho ông ta bổn phận thảo liệu.” Giống thì cũng giống, phải thì chưa phải. Vân Môn không thể chỉ thế ấy bảo ông thôi, vẫn còn có việc khác.

TẮC 55

ĐẠO NGÔ ĐẾN NHÀ CÚNG ĐIẾU

Lời dẫn: 

Ẩn mật toàn chân, đương đầu nhận chứng, giẫm trên nước để chuyển vật, ngay đó thừa đương, nhằm trong chọi đá nháng lửa, làn điện chớp, đoạn dứt lầm lẫn. Ở chỗ chặn đầu cọp nắm đuôi cọp, vách đứng ngàn nhẫn thì gác lại, phóng một đường, lại có chỗ vì người hay không, thử cử xem?

Công án: 

Đạo Ngô cùng Tiệm Nguyên đến một nhà cúng điếu. Tiệm Nguyên vỗ quan tài nói: “Sanh ư? Tử ư?” Đạo Ngô nói: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói.” Tiệm Nguyên hỏi: “Vì sao chẳng nói?” Đạo Ngô đáp: “Chẳng nói chẳng nói.” Hai thầy trò về đến giữa đường, Tiệm Nguyên thưa: “Hòa thượng mau vì con nói, nếu chẳng nói đánh Hòa thượng.” Đạo Ngô nói: ‘‘Đánh thì mặc đánh, nói tức chẳng nói.” Tiệm Nguyên liền đánh. 

Sau Đạo Ngô tịch, Tiệm Nguyên đến Thạch Sương thuật lại lời trước. Thạch Sương nói: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói.” Tiệm Nguyên hỏi: “Vì sao chẳng nói?” Thạch Sương nói: “Chẳng nói chẳng nói.” Tiệm Nguyên ngay lời nói liền có tỉnh. Một hôm, Tiệm Nguyên cầm cái mai ở trên pháp đường đi từ đông qua tây, từ tây qua đông. Thạch Sương hỏi: “Làm gì?” Tiệm Nguyên nói: ‘Tìm linh cốt tiên sư.” Thạch Sương bảo: “Nước dâng lênh láng, sóng dậy ngập trời, tìm linh cốt gì của tiên sư?” (Tuyết Đậu trước ngữ: Trời xanh! Trời xanh!) Tiệm Nguyên nói: ‘‘Nên khéo gắng sức.” (Thái Nguyên Phù nói: Linh cốt tiên sư vẫn còn.)

Giải thích: 

Đạo Ngô cùng Tiệm Nguyên đến một nhà cúng điếu. Tiệm Nguyên vỗ quan tài nói: “Sanh ư? Tử ư?” Đạo Ngô nói: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói.” Nếu nhằm dưới câu nhập được, dưới lời biết trở về, chỉ chỗ này là then chốt thấu thoát sanh tử. Nếu không được thế, thường thường đối diện lầm qua. Xem cổ nhân đi đứng nằm ngồi chẳng ngại lấy việc này làm niệm. 

Vừa đến nhà người điếu tang, Tiệm Nguyên liền vỗ quan tài nói: “Sanh ư? Tử ư?” Đạo Ngô chẳng dời một mảy tơ, đáp rằng: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói.” Tiệm Nguyên đối diện lầm qua chạy theo ngữ cú, hỏi vì sao chẳng nói. Đạo Ngô nói chẳng nói chẳng nói. Đạo Ngô đáng gọi là lòng son mảnh mảnh, đem lầm đến lầm. Tiệm Nguyên vẫn chẳng tỉnh, về đến giữa đường lại nói “Hòa thượng mau vì con nói, nếu không nói đánh Hòa thượng”. Kẻ này biết gì tốt xấu, nên nói tâm tốt chẳng được báo tốt. Đạo Ngô như trước tâm lão bà tha thiết, nói với y: “Đánh thì mặc đánh, nói tức chẳng nói.” Tiệm Nguyên liền đánh. Tuy nhiên như thế, lại là kia thắng một nước. Đạo Ngô vì kia máu tuôn giọt giọt thế ấy mà Tiệm Nguyên vẫn chẳng lãnh hội. Đạo Ngô bị y đánh, liền nói với y: “Ông hãy đi, e trong viện Tri sự dò biết việc này sẽ gây họa cho ông.” Thầm bảo Tiệm Nguyên đi, Đạo Ngô thật rất mực từ bi. 

Sau Tiệm Nguyên đến một viện nhỏ, nghe cư sĩ tụng phẩm Phổ Môn: “nên dùng thân Tỳ-kheo được độ, liền hiện thân Tỳ-kheo mà vì thuyết pháp...”, bỗng nhiên đại ngộ. Sư nói: “Khi xưa ta lầm trách tiên sư, đâu biết việc này chẳng ở trên ngôn cú.” Người xưa nói: “Bậc đại nhân không lường, bị ngữ mạch xoay đi.” Có nhóm người tình giải nói: “Đạo Ngô bảo chẳng nói chẳng nói, tức là nói rồi vậy, gọi là đánh lưng thì nhào lộn, khiến người dò tìm chẳng được.” Nếu hiểu thế ấy làm sao bình ổn. Nếu người chân đạp đất thật thì chẳng cách một mảy tơ. Như chuyện Thất hiền nữ đi dạo rừng Thi-đà, có vị chỉ tử thi hỏi: Tử thi tại đây, người ở chỗ nào? Chị cả đáp: Làm gì? Làm gì? Cả chúng nghe đều chứng vô sanh pháp nhẫn. Thử nói có bao nhiêu cái, ngàn cái muôn cái chỉ là một cái. 

Sau Tiệm Nguyên đến Thạch Sương thuật lại việc trước. Thạch Sương như xưa nói: “Sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói.” Tiệm Nguyên hỏi: “Vì sao chẳng nói?” Thạch Sương bảo: “Chẳng nói chẳng nói.” Tiệm Nguyên liền ngộ. Hôm khác, Tiệm Nguyên cầm cái mai ở trước pháp đường đi từ đông qua tây, từ tây qua đông, ý muốn trình kiến giải của mình. Thạch Sương hỏi: “Làm gì?” Tiệm Nguyên nói: “Tìm linh cốt tiên sư.” Thạch Sương liền cắt đứt gót chân y nói: “Ta trong ấy, nước dâng lênh láng, sóng dậy ngập trời, tìm linh cốt gì của tiên sư?” 

Tiệm Nguyên đã tìm linh cốt tiên sư, tại sao Thạch Sương lại nói thế ấy? Đến đây nếu ở chỗ sanh cũng chẳng nói, tử cũng chẳng nói, ngay lời này tiến được mới biết từ thủy chí chung toàn cơ thọ dụng. Nếu ông khởi đạo lý suy nghĩ tìm hiểu tức là khó thấy. Tiệm Nguyên nói: “Nên khéo gắng sức.” Xem Sư sau khi ngộ, nói được tự nhiên kỳ đặc. Mảnh xương trên đảnh của Đạo Ngô như màu vàng, khi đánh liền phát ra tiếng đồng. Tuyết Đậu trước ngữ: “Trời xanh! Trời xanh!” ý tại hai bên. Thái Nguyên Phù nói “linh cốt tiên sư vẫn còn”, tự nhiên nói được ổn đáng. 

Đoạn văn này đồng thời đưa ra một bên. Hãy nói thế nào là chỗ tỉnh yếu? Thế nào là chỗ gắng sức? Đâu chẳng nghe nói: Một chỗ thấu, ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời thấu. Nếu nhằm chỗ “chẳng nói chẳng nói” thấu được, là cắt đứt lưỡi người trong thiên hạ. Nếu thấu chẳng được, phải tự tham tự ngộ, chẳng nên dễ dàng qua ngày, đáng tiếc thay ngày tháng! Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Thố mã hữu giác

Ngưu dương vô giác

Tuyệt hào tuyệt ly

Như sơn như nhạc

Hoàng kim linh cốt kim du tại

Bạch lãng thao thiên hà xứ trước.

Vô xứ trước

Chích lý Tây quy tằng thất khước.

Dịch:

Thỏ ngựa có sừng

Trâu dê không sừng

Bặt lông bặt sợi

Như núi như non

Linh cốt vàng ròng nay vẫn còn

Sóng dậy ngập trời chỗ nào để.

Không chỗ để

Chiếc dép về Tây từng lạc mất.

Giải tụng:

Tuyết Đậu riêng hội chú cước, Sư là con cháu Vân Môn, phàm trong một câu đủ ba câu tôi luyện, nhằm chỗ khó nói nói phá, nhằm chỗ vạch chẳng ra vạch ra. Nhằm thẳng chỗ khẩn yếu kia tụng ra Thỏ ngựa có sừng, trâu dê không sừng. Hãy nói thỏ ngựa vì sao có sừng? Trâu dê vì sao không sừng? Nếu thấy được lời trước, mới biết Tuyết Đậu có chỗ vì người. Có người hiểu lầm nói: Chẳng nói là nói, không câu là có câu, thỏ ngựa không sừng lại nói có sừng, trâu dê có sừng lại nói không sừng. Thế thật là không dính dáng. Đâu chẳng biết cổ nhân thiên biến vạn hóa, hiện thần thông như thế, chỉ vì đả phá cái hang quỷ tinh linh này của ông. Nếu thấu được chẳng tiêu một chữ liễu. 

Thỏ ngựa có sừng, trâu dê không sừng, bặt lông bặt sợi, như núi như non, bốn câu này như viên ma-ni bảo châu, Tuyết Đậu nhả ra trọn vẹn trước mặt ông. Phần sau chỉ là căn cứ bản án kết tội. Linh cốt vàng ròng nay vẫn còn, sóng dậy ngập trời chỗ nào để, đây là tụng lời của Thạch Sương và Thái Nguyên Phù. Vì cớ sao Không chỗ để? Chiếc dép về Tây từng lạc mất, rùa linh lê đuôi, đây là chỗ Tuyết Đậu chuyển thân vì người. Cổ nhân nói: Kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Đã là mất đi một đóm lửa kia, vì sao lại đua nhau tranh?

TẮC 56

KHÂM SƠN MỘT MŨI TÊN PHÁ CỔNG

Lời dẫn:

Chư Phật chẳng từng ra đời, cũng không một pháp cho người. Tổ sư chẳng từng Tây sang, chưa bao giờ lấy tâm truyền trao. Chính vì thời nhân chẳng liễu, hướng ngoài tìm cầu, trọn chẳng biết dưới gót chân chính mình có một đoạn đại sự nhân duyên, ngàn thánh dò tìm cũng chẳng được. Chỉ là hiện nay thấy chẳng thấy, nghe chẳng nghe, nói chẳng nói, biết chẳng biết, từ chỗ nào được? Nếu chưa hay thấu triệt, hãy nhằm trong hang sắn bìm hội lấy, thử cử xem?

Công án: 

Thiền khách Lương Toại hỏi Khâm Sơn: “Khi một mũi tên phá ba cổng thì thế nào?” Khâm Sơn bảo: “Dẫn ông chủ trong ba cổng ra xem?” Lương nói: “Thế ấy thì biết lỗi ắt cải.” Khâm Sơn bảo: “Lại đợi khi nào?” Lương nói: “Tên tốt bắn chẳng đến đích.” Liền ra đi. Khâm Sơn gọi: “Xà-lê lại đây!” Lương xoay đầu. Khâm Sơn nắm đứng nói: “Một mũi phá ba cổng hãy gác lại, thử vì Khâm Sơn bắn tên xem?” Lương suy nghĩ, Khâm Sơn đánh bảy gậy, nói: “Hãy cho gã này nghi ba mươi năm.”

Giải thích: 

Thiền khách Lương Toại cũng thật là một viên chiến tướng, nhằm trong tay Khâm Sơn xoay trái lộn phải, khiến rơi roi rớt dây, rốt sau đáng tiếc cung gãy tên mất. Tuy nhiên như thế, tướng quân họ Lý tự có tiếng khen, chẳng được phong hầu cũng là nhàn. Công án này một ra một vào, một bắt một thả, đương cơ thấy mặt đề, thấy mặt đương cơ nhanh, trọn chẳng rơi nơi có không được mất, gọi là huyền cơ, nhìn qua thấy có chút ít lực lượng, liền có chỗ sảy chân. Vị tăng này cũng là hàng thiền tăng anh linh, đặt câu hỏi quả là kinh quần. Khâm Sơn là bậc tông sư tác gia, liền biết chỗ rơi của câu hỏi. 

Câu hỏi “khi một mũi tên thấu ba cổng thì thế nào”, ý Khâm Sơn trả lời, ông bắn được hãy gác qua, thử dẫn ông chủ trong ba cổng ra xem? Lương nói “thế ấy thì biết lỗi ắt cải”, quả thật kỳ đặc. Khâm Sơn bảo: “Lại đợi khi nào?” Xem kia đối đáp thế ấy, chỗ hỏi của Khâm Sơn không có chút ít thiếu trống. Sau thiền khách Lương lại nói: “Tên tốt bắn chẳng đến đích”, phủi áo ra đi. Khâm Sơn vừa thấy y nói thế ấy, liền gọi: “Xà-lê lại đây!” Thiền khách Lương quả nhiên nắm chẳng đứng, xoay đầu lại. Khâm Sơn nắm đứng nói: “Một mũi thấu ba cổng gác lại, hãy vì Khâm Sơn bắn tên xem?” Lương suy nghĩ, Khâm Sơn đánh bảy gậy, theo sau cho y một câu chú “hãy cho gã này nghi ba mươi năm”. Hiện nay một số thiền hòa tử trọn bảo: Vì sao chẳng đánh tám gậy hay sáu gậy, chỉ đánh bảy gậy? Kia bảo thử vì Khâm Sơn bắn tên xem, liền đánh. Thế là giống thì cũng giống, phải thì chưa phải. Công án này phải trong hông ngực chẳng chứa tí xíu đạo lý so sánh, vượt ngoài ngôn ngữ, mới có một câu phá ba cổng và có chỗ bắn tên. Nếu còn phải và quấy thì dò tìm chẳng được. 

Vị tăng khi ấy nếu là hảo hán, Khâm Sơn cũng bị nguy hiểm, đã không thể hành lệnh này, chẳng khỏi đảo hành. Hãy nói ông chủ trong cổng cứu cánh là người nào? Xem Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Dữ quân phóng xuất quan trung chủ

Phóng tiễn chi đồ mạc mãng lỗ

Thủ cá nhãn hề nhĩ tất lung

Xả cá nhĩ hề mục song cổ.

Khả lân nhất phốc phá tam quan

Đích đích phân minh tiễn hậu lộ.

Quân bất kiến

Huyền Sa hữu ngôn hề

Đại trượng phu tiên thiên vi tâm Tổ.

Dịch:

Chủ nhân trong cổng vì anh dẫn

Những kẻ bắn tên chớ sơ hở

Giữ con mắt chừ tai điếc rồi

Bỏ lỗ tai chừ hai mắt tối.

Đáng thương một mũi phá tam quan

Quả thật đường sau tên quá rõ.

Anh chẳng thấy

Huyền Sa có lời chừ

Đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ.

Giải tụng:

Bài tụng này có mấy câu rút trong bài tụng Quy Tông. Ngày xưa Quy Tông nhân làm bài tụng nên lấy hiệu là Quy Tông. Trong tông môn gọi đó là nói lên tông chỉ. Sau này Đồng An nghe chuyện bảo: “Lương Công khéo bắn tên mà không hay trúng đích.” Có vị tăng hỏi: “Thế nào được trúng đích?” Đồng An bảo: “Chủ trong cổng là người nào?” Sau có vị tăng thuật lại cho Khâm Sơn, Khâm Sơn nói: “Lương Công thế ấy vẫn chưa khỏi được cái miệng Khâm Sơn.” Tuy nhiên như thế, Đồng An chẳng phải hảo tâm.” 

Tuyết Đậu nói Chủ nhân trong cổng vì anh dẫn. Mở mắt cũng đúng, nhắm mắt cũng đúng, có hình không hình thảy đều chặt làm ba khúc. Câu Những kẻ bắn tên chớ sơ hở, nếu bắn tên giỏi thì chẳng sơ hở, nếu bắn tên dở thì bắn là sơ hở. Hai câu Giữ con mắt chừ tai điếc rồi, bỏ lỗ tai chừ hai mắt tối, hãy nói giữ con mắt vì sao lỗ tai điếc? Bỏ lỗ tai vì sao hai mắt tối? Lời này phải không giữ bỏ mới hay thấu được, nếu có giữ bỏ thì khó thấy. 

Hai câu Đáng thương một mũi phá tam quan, quả thật đường sau tên quá rõ. Khi thiền khách Lương hỏi thế nào một mũi phá ba cổng, Khâm Sơn bảo dẫn ông chủ trong cổng ra xem, cho đến rốt sau công án của Đồng An thảy là đường sau của tên. Cứu cánh phải thế nào? 

Anh chẳng thấy, Huyền Sa có lời chừ, đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ. Bình thường cho tâm là cực tắc Tổ tông, trong đây tại sao trước khi trời đất chưa sanh vẫn cho là Tổ của tâm này? Nếu biết rõ cái thời tiết này mới rõ được ông chủ trong cổng. Quả thật đường sau tên quá rõ, nếu cần trúng đích sau mũi tên rõ ràng có đường. Hãy nói thế nào là đường sau mũi tên? Phải tự đem hết tinh thái mới được. 

Câu Đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ, Huyền Sa thường lấy câu này dạy chúng, đây là trong tụng Quy Tông. Tuyết Đậu lầm dùng cho là lời của Huyền Sa. Hiện nay người tham học cho tâm này là Tổ tông, dù tham đến đức Phật Di-lặc ra đời cũng chưa hội. Nếu là tâm của đại trượng phu, vẫn là con cháu. Trời đất chưa phân đã là đầu thứ hai. Hãy nói chính khi ấy, làm sao là trước trời đất?

TẮC 57

TRIỆU CHÂU KẺ TỚ RUỘNG NHÀ

Lời dẫn: 

Trước khi chưa thấu được, như núi bạc vách sắt, đến khi thấu được, chính mình xưa nay là vách sắt núi bạc. Hoặc có người hỏi: Phải làm sao? Chỉ nói với y: Nếu nhằm trong ấy bày được một cơ thấy được một cảnh, đoạn dứt chỗ trọng yếu, chẳng thông phàm thánh, chưa là việc phần ngoại. Nếu chưa được như thế, xem lấy bóng dáng cổ nhân.

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch, thế nào là chẳng giản trạch?” Triệu Châu đáp: “Trên trời dưới trời, chỉ ta hơn hết.” Tăng thưa: “Đây vẫn là giản trạch.” Triệu Châu bảo: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Tăng không đáp được.

Giải thích: 

Tăng hỏi Triệu Châu “chí đạo không khó chỉ hiềm giản trạch”, trong bài Tín Tâm Minh của Tam Tổ mở đầu là hai câu này. Có nhiều người hiểu lầm. Vì sao? Chí đạo vốn không khó cũng không chẳng khó, chỉ là chỉ hiềm giản trạch. Nếu hiểu thế ấy hàng muôn năm cũng chưa mộng thấy. Triệu Châu thường lấy câu này hỏi người. Vị tăng đem câu này hỏi lại Triệu Châu. Nếu nhằm trên ngôn cú tìm thì vị tăng này là kinh thiên động địa. Nếu chẳng ở trên ngôn cú lại làm sao? Lại tham ba mươi năm, cây chốt cửa này phải xoay được mới mong mở ra. Nhổ râu cọp phải là có thủ đoạn bổn phận mới được. Vị tăng này chẳng ngại nguy vong, dám nhổ râu cọp, nói rằng: “Vẫn còn giản trạch.” Triệu Châu nhằm miệng liền bít, nói: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Nếu hỏi đến kẻ khác liền thấy tay chân rối loạn, đâu ngờ lão này là bậc tác gia, nhằm chỗ động không được liền động, chỗ xoay không được liền xoay. Nếu ông thấu được, tất cả ngôn cú ác độc, nhẫn đến ngàn sai muôn trạng hý luận ở thế gian, đều là thượng vị đề hồ. Nếu đến được chỗ thật, mới thấy Triệu Châu lòng son từng mảnh. Kẻ tớ ruộng nhà là tiếng người làng Phước Đường mắng người giống như không ý trí. Vị tăng này nói “vẫn còn giản trạch”. Triệu Châu bảo: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Cặp mắt tông sư phải đến thế ấy, như chim cánh vàng vạch biển bắt rồng nuốt. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Tự hải chi thâm

Như sơn chi cố

Văn manh lộng không lý mãnh phong

Lâu nghị hám ư thiết trụ.

Giản hề trạch hề

Đương hiên bố cổ.

Dịch:

Giống như biển sâu

Dường thể núi cứng

Muỗi nhặng ở trong gió mạnh đùa

Sâu kiến lay cây cọc sắt.

Giản chừ trạch chừ

Ngay hiên treo trống.

Giải tụng:

Tuyết Đậu chú hai câu Giống như biển sâu, dường thể núi cứng. Tăng nói vẫn là giản trạch. Tuyết Đậu nói vị tăng này giống như Muỗi nhặng ở trong gió mạnh đùa, sâu kiến lay cây cọc sắt. Tuyết Đậu khen ông ấy lớn mật. Vì sao? Đây là người trên dùng mà y dám nói thế ấy. Triệu Châu cũng không tha y, nói: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch?” Đâu chẳng phải gió mạnh cọc sắt sao? 

Hai câu Giản chừ trạch chừ, ngay hiên treo trống, rốt sau Tuyết Đậu đề khởi bảo cho được sống. Nếu biết được mười phần minh bạch, sau này ông tự liễu vậy. Tại sao? Đâu chẳng thấy nói: Muốn được thân thiết, chớ đem hỏi đến hỏi. Thế nên Ngay hiên treo trống.

TẮC 58

TRIỆU CHÂU BỐI RỐI

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch - phải là sào huyệt của thời nhân chăng?” Triệu Châu đáp: “Đã có người hỏi tôi, mà mãi đến năm năm vẫn còn bối rối.”

Giải thích: 

Triệu Châu bình sinh chẳng hành gậy hét, mà dùng được còn hơn gậy hét. Vị tăng này hỏi rất kỳ quái, nếu không phải là Triệu Châu thì khó đáp được cho y. Bởi Triệu Châu là hàng tác gia, chỉ nói với y “đã có người hỏi tôi, mãi đến năm năm vẫn còn bối rối”. Chỗ hỏi vách cao ngàn nhẫn, chỗ đáp cũng chẳng nhẹ hơn. Nếu thế ấy hội, chính là đương đầu, nếu chẳng thế ấy hội, chớ khởi so tính đạo lý. 

Đâu chẳng thấy Tông đạo giả trụ Đầu Tử, lúc còn ở trong hội Tuyết Đậu làm thư ký. Tuyết Đậu dạy tham “chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch”, nơi đây có tỉnh. Một hôm, Tuyết Đậu hỏi: “Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch, ý nghĩa thế nào?” Tông nói: “Súc sanh, súc sanh.’’ Sau Tông ở ẩn tại Đầu Tử, phàm đi trụ trì đều lấy ca-sa gói giày cỏ chung với kinh sách. Có vị tăng hỏi: “Thế nào là tông phong của Đạo giả?” Tông đáp: “Ca-sa gói giày cỏ.” Tăng hỏi: “Chưa biết ý chỉ thế nào?” Tông nói: “Đi chân trần xuống Đồng Thành.” Vì thế, nói cúng Phật chẳng ở nhiều hương, nếu vượt qua khỏi thì bắt tha tại ta. Đã là một hỏi một đáp rõ ràng hiện thành, tại sao Triệu Châu lại nói bối rối? Hãy nói phải là sào huyệt của thời nhân chăng? Triệu Châu ở trong sào huyệt đáp y, hay ở ngoài sào huyệt đáp y? Phải biết việc này không ở trên ngôn cú. Có người tin được đến thấu xương thấu tủy, như rồng gặp nước, tợ cọp tựa núi.

Tụng:

Tượng vương tần thân

Sư tử hao hống

Vô vị chi đàm

Tắc đoạn nhân khẩu

Nam bắc đông tây

Ô phi thố tẩu.

Dịch:

Voi chúa gầm gừ

Sư tử hầm hét

Nói bàn vô vị 

Miệng người bít lấp

Nam bắc đông tây

Quạ bay thỏ chạy.

Giải tụng:

Triệu Châu nói đã có người hỏi tôi, mãi đến năm năm vẫn còn bối rối, giống như voi chúa gầm gừ, sư tử hầm hét. Bốn câu sau nói bàn vô vị, miệng người bít lấp, Nam Bắc Đông Tây, quạ bay thỏ chạy, Tuyết Đậu nếu không có câu rốt sau thì chỗ nào lại có Tuyết Đậu? Đã là quạ bay thỏ chạy, hãy nói Triệu Châu, Tuyết Đậu, sơn tăng cứu cánh rơi ở chỗ nào?

TẮC 59

TRIỆU CHÂU SAO CHẲNG DẪN HẾT

Lời dẫn:

Trùm trời bao đất, vượt thánh siêu phàm, trên đầu trăm cỏ chỉ ra Niết-bàn diệu tâm, trong rừng binh khí điểm định được mạng mạch của thiền tăng. Hãy nói thừa ân lực người nào được thế ấy, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch. Vừa có nói năng là giản trạch, Hòa thượng vì người thế nào?” Triệu Châu bảo: “Sao chẳng dẫn hết lời này?” Tăng thưa: “Con chỉ nhớ đến đó.” Triệu Châu bảo: “Chỉ là chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch.”

Giải thích: 

Triệu Châu nói “chỉ là chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch” như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, bắt tha cứu giết, được tự tại như thế. Các nơi đều nói: Triệu Châu có lối biện luận siêu quần. 

Triệu Châu bình thường dạy chúng có một thiên này: “Chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch, vừa có nói năng là giản trạch là minh bạch. Lão tăng chẳng ở trong minh bạch, các ông lại tiếc giữ hay không?” Có vị tăng hỏi: “Đã chẳng ở trong minh bạch lại tiếc giữ cái gì?” Triệu Châu nói: “Ta cũng không biết.” Tăng thưa: “Hòa thượng đã không biết, vì sao nói chẳng ở trong minh bạch?” Triệu Châu bảo: “Hỏi việc thì được, lễ bái rồi lui.” 

Về sau, vị tăng này chỉ bám chỗ sơ hở kia đi hỏi Triệu Châu, hỏi hẳn là kỳ đặc, song chỉ là tâm hành. Nếu là người khác không làm gì được y, nhưng với Triệu Châu là hàng tác gia, liền nói “sao chẳng dẫn hết lời này”. Vị tăng cũng biết chuyển thân nhả hơi, liền nói “con chỉ nhớ đến đó”, dường như đã được an bài. Triệu Châu tùy thanh niêm khởi liền đáp chẳng cần suy tính. Cổ nhân gọi đó là tương tục, cũng rất khó. Sư biện rồng rắn, phân tốt xấu, quả là hàng bổn phận tác gia. 

Triệu Châu móc đi tròng mắt của vị tăng này, mà chẳng phạm mũi nhọn, chẳng mắc suy tính, tự nhiên hay khéo. Ông gọi là câu có cũng chẳng được, gọi là câu không cũng chẳng được, gọi là câu chẳng có chẳng không cũng chẳng được, ly tứ cú tuyệt bách phi. Vì sao? Nếu luận việc này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, phải nhìn nhanh mới thấy. Nếu là trù trừ nghĩ nghị chẳng khỏi tan thân mất mạng. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Thủy sái bất trước

Phong xuy bất nhập

Hổ bộ long hành

Quỷ hào thần khấp

Đầu trường tam xích tri thị thùy?

Tương đối vô ngôn độc túc lập.

Dịch:

Nước rưới chẳng dính

Gió thổi chẳng lọt

Cọp bước rồng đi

Quỷ than thần khóc

Đầu dài ba thước biết là ai?

Đối diện không lời một chân đứng.

Giải tụng:

Bốn câu Nước rưới chẳng dính, gió thổi chẳng lọt, cọp bước rồng đi, quỷ than thần khóc, khó có chỗ cho ông gặm nhấm. Bốn câu tụng này là lời đáp của Triệu Châu, giống như rồng bay cọp nhảy. Vị tăng này chỉ được một trường hổ thẹn. Chẳng những vị tăng này, dù cho quỷ cũng than, thần cũng khóc, giống như gió thổi cỏ nghiêng. 

Hai câu rốt sau đáng gọi là người thân được, Đầu dài ba thước biết là ai, đối diện không lời một chân đứng. Có vị tăng hỏi cổ đức: “Thế nào là Phật?” Cổ đức đáp: “Đầu dài ba thước, cổ dài hai tấc.” Tuyết Đậu dẫn dùng, chưa biết quý vị lại hiểu chăng? Sơn tăng cũng chẳng hiểu. Tuyết Đậu một lúc thoát thể vẽ ra hình Triệu Châu ở đây rồi. Quý vị phải chín chắn để mắt xem.

TẮC 60

VÂN MÔN CÂY GẬY HÓA RỒNG

Lời dẫn: 

Chư Phật cùng chúng sanh xưa nay không khác, núi sông cùng chính mình đâu có sai biệt, vì sao lại lẫn thành hai bên? Nếu hay xoay lăn thoại đầu, đoạn dứt chỗ trọng yếu, bỏ qua tức chẳng được. Nếu chẳng bỏ qua thì trọn đại địa chẳng tiêu một cái nắm. Thế nào là chỗ xoay chuyển thoại đầu, thử cử xem?

Công án: 

Vân Môn cầm cây gậy chỉ chúng nói: “Cây gậy hóa làm rồng, nuốt hết càn khôn rồi vậy, núi sông đất liền chỗ nào được?”

Giải thích: 

Như Vân Môn nói “cây gậy hóa làm rồng, nuốt hết càn khôn rồi vậy, núi sông đất liền chỗ nào được?” Nếu nói có ắt mù, nếu nói không ắt chết, lại thấy chỗ Vân Môn vì người chăng? Trả cây gậy lại cho ta. Người nay chẳng hội chỗ riêng bày của Vân Môn, lại nói tức sắc minh tâm, gá vật bày lý. 

Như đức Phật Thích-ca bốn mươi chín năm thuyết pháp, không thể không biết cái nghị luận này, cớ sao lại đưa cành hoa, Ca-diếp cười chúm chím? Ông già này lại hồ đồ nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, phân phó cho Ma-ha Ca-diếp.” Lại đâu cần riêng truyền tâm ấn. Quý vị đã là khách dưới cửa Tổ sư, lại rõ được cái tâm riêng truyền chăng? 

Trong ngực nếu có một vật thì núi sông đất liền quả nhiên hiện tiền, trong ngực nếu không một vật thì bên ngoài toàn không mảy tơ, nói gì lý cùng trí hiệp, cảnh cùng thần hội. Cớ sao? Bởi một hội thì tất cả hội, một sáng thì tất cả sáng. Trường Sa nói: “Người học đạo mà chẳng biết chân, chỉ vì từ xưa nhận thức thần, vô lượng kiếp nay gốc sanh tử, kẻ si liền gọi người xưa nay.” Nếu chợt đập tan ấm giới, thân tâm nhất như, ngoài thân không thừa, vẫn chưa được một nửa, nói gì là tức sắc minh tâm, gá vật bày lý. 

Cổ nhân nói: “Một hạt bụi vừa dấy, đại địa toàn thâu.” Hãy nói là hạt bụi nào? Nếu biết được hạt bụi này thì biết được cây gậy. Vừa nắm cây gậy đưa lên liền thấy tung hoành diệu dụng. Nói thoại thế ấy, sớm thành sắn bìm rồi, huống là lại hóa làm rồng. Tạng chủ Khánh nói: “Năm ngàn không trăm lẻ tám quyển lại có nói thoại thế ấy chăng?”

Vân Môn có khi nhằm chỗ cây gậy đưa ra toàn cơ đại dụng, vì người một cách linh động. Ba Tiêu dạy chúng: “Lỗ mũi của thiền tăng trọn ở trên đầu cây gậy.” Vĩnh Gia cũng nói: “Chẳng phải tiêu hình việc truyền rỗng, gậy báu Như Lai còn dấu vết.” 

Thuở xưa Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng trải tóc trên bùn để đón Phật kia. Phật Nhiên Đăng nói: “Chỗ này nên cất chùa.” Khi ấy có một vị thiên tử bèn cặm một cọng cỏ, nói: “Cất chùa xong.” Quý vị hãy nói tin tức này từ chỗ nào được? Tổ sư nói: Đầu gậy thủ chứng, dưới hét thừa đương. Hãy nói thừa đương cái gì? Chợt có người hỏi thế nào là cây gậy, phải chăng liền nhào lộn? Phải chăng liền vỗ tay? Thảy đều là đùa tinh hồn, tức cười không dính dáng. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Trụ trượng tử thôn càn khôn

Đồ thuyết đào hoa lãng bôn

Thiêu vĩ giả bất tại noa vân quặc vụ

Bộc tai giả hà tất táng đảm vong hồn.

Niêm liễu dã

Văn bất văn

Trực tu sái sái lạc lạc

Hưu cánh phân phân vân vân

Thất thập nhị bổng thả khinh thứ

Nhất bách ngũ thập nan phóng quân.

Dịch:

Cây gậy này nuốt càn khôn

Luống nói hoa đào sóng đưa

Đốt đuôi nào bởi gom mây cuộn mù

Phơi mang nào hẳn vỡ mật mất hồn.

Niêm rồi vậy

Nghe chẳng nghe

Phải là nhàn hạ thong dong

Thôi chớ lăng xăng rối rắm

Bảy mươi hai gậy vẫn tha nhẹ

Một trăm năm chục khó tha anh.

Sư cầm gậy bước xuống tòa, đại chúng một lúc tản mát. 

Giải tụng:

Vân Môn vì người chiều uốn, Tuyết Đậu vì người chặt thẳng. Do đó, bác hẳn hóa làm rồng, không nhận nói như thế chỉ là Cây gậy này nuốt càn khôn. Đại ý Tuyết Đậu muốn khỏi tình giải của người, nên nói luống nói hoa đào sóng đưa, chẳng cần hóa làm rồng. Bởi Võ Môn có ba cấp sóng, mỗi năm đến tháng ba hoa đào trôi theo sóng, những cá lớn hay lội ngược nước nhảy qua sóng liền hóa làm rồng. Tuyết Đậu nói dù hóa làm rồng cũng là nói suông. 

Đốt đuôi nào bởi gom mây cuộn mù, con cá nhảy qua được Võ Môn, tự có lửa trời đốt đuôi của nó, rồi gom mây cuộn mù bay đi. Ý Tuyết Đậu nói dù hóa làm rồng cũng chẳng ở chỗ gom mây cuộn mù. Phơi mang nào hẳn vỡ mật mất hồn, lời tựa trong Thanh Lương sớ nói: “Chứa chất hạnh Bồ-tát còn phải phơi mang ở Long Môn.” Đại ý nói cảnh giới Hoa Nghiêm chẳng phải người tiểu đức tiểu trí đến được, như con cá nhảy qua Long Môn, qua chẳng khỏi bị điểm trán trở lại, phải chịu khốn nơi bãi cát vũng cạn, phơi mang vậy. Ý Tuyết Đậu nói đã điểm trán trở lại ắt vỡ mật tan hồn. 

Niêm rồi vậy, nghe chẳng nghe, lại chú cước ở dưới rằng một lúc vì ông quét sạch rồi. Quý vị phải là nhàn hạ thong dong, thôi chớ lăng xăng rối rắm. Nếu ông lại lăng xăng rối rắm thì mất đi cây gậy rồi. Bảy mươi hai gậy vẫn tha nhẹ, Tuyết Đậu vì ông tha cái nặng dùng cái nhẹ. Cổ nhân nói: Bảy mươi hai gậy trở thành một trăm năm mươi. Người nay hiểu lầm lại tính theo số mục, lý đáng phải bảy mươi lăm gậy, vì sao chỉ có bảy mươi hai gậy? Đâu chẳng biết cổ nhân ý tại ngôn ngoại. Vì thế nói: Việc này không ở trong ngôn cú, khỏi bị người sau xuyên tạc. Lý do Tuyết Đậu dẫn dụng, dù cho ông được nhàn hạ thong dong, chính nên cho ông bảy mươi hai gậy, vẫn là tha nhẹ. Nếu không được như thế, một trăm năm mươi gậy khó tha anh. Một lúc tụng xong, lại cầm cây gậy lớp lớp vì nhau. Tuy nhiên thế ấy, cũng không một người dưới da có máu. 

TẮC 61

PHONG HUYỆT NƯỚC NHÀ HƯNG THỊNH

Lời dẫn: 

Dựng pháp tràng lập tông chỉ lại là hàng bổn phận tông sư. Định rắn rồng, rành đen trắng, phải là hàng tri thức tác gia. Trên kiếm bén luận sống chết, trên đầu gậy biện cơ nghi thì gác lại, hãy nói việc riêng đứng trong hoàn vũ, một câu làm sao thương lượng, thử cử xem?

Công án: 

Phong Huyệt dạy: Nếu lập một hạt bụi thì nước nhà hưng thịnh, chẳng lập một hạt bụi thì nước nhà tan mất. 

Tuyết Đậu cầm gậy nói: Lại có thiền tăng đồng sanh đồng tử chăng?

Giải thích: 

Như Phong Huyệt dạy chúng nói: “Nếu lập một hạt bụi thì nước nhà hưng thịnh, chẳng lập một hạt bụi thì nước nhà tan mất.” Hãy nói lập một hạt bụi tức phải, chẳng lập một hạt bụi tức phải? Đến đây phải là đại dụng hiện tiền mới được. Thế nên nói: Giả sử trước câu nói tiến được, vẫn là kẹt vỏ dính bao, dù cho dưới câu tinh thông, chưa khỏi chạm phải cuồng kiến. 

Phong Huyệt là bậc tôn túc trong tông Lâm Tế, ngay đó dùng bổn phận thảo liệu. Nếu lập một hạt bụi thì nước nhà hưng thịnh, lão quê buồn rầu, ý ở lập quốc an bang phải nhờ mưu thần dũng tướng, nhiên hậu mới kỳ lân xuất hiện, phụng hoàng bay về, là điềm tốt thái bình. Người trong thôn hẻo lánh kia nào biết có việc ấy. Chẳng lập một hạt bụi thì nước nhà tan mất, gió thổi vèo vèo, lão quê vì sao hát ca? Chỉ vì nước nhà tan mất. 

Trong tông Tào Động gọi đó là chỗ chuyển biến, không Phật không chúng sanh, không phải không quấy, không tốt không xấu, bặt âm vang tung tích. Vì thế nói: Mạt vàng tuy quý, rơi trong con mắt cũng thành bệnh. Lại nói: Mạt vàng trong mắt là bệnh, y châu trên pháp là trần, kỷ linh còn chẳng trọng, Phật tổ là người gì? Bảy xoi tám phủng thần thông diệu dụng chẳng cho là kỳ đặc. Đến đây, “trùm chăn phủ đầu muôn việc thôi, khi này sơn tăng trọn chẳng hội”. Nếu lại nói tâm nói tánh, nói huyền nói diệu đều dùng chẳng được. Vì sao? Vì nhà kia tự có cảnh thần tiên. 

Nam Tuyền dạy chúng: “Ở Hoàng Mai bảy trăm vị cao tăng đều là người hiểu Phật pháp, mà chẳng được y bát của Tổ, chỉ có ông cư sĩ họ Lư chẳng hiểu Phật pháp, cho nên được y bát của Tổ.” Lại nói: “Chư Phật ba đời chẳng tri hữu, mèo nhà trâu trắng lại tri hữu.” Lão quê hoặc buồn rầu, hoặc ca hát, hãy nói làm sao hiểu? Lão quê đủ con mắt gì lại thế ấy? Nên biết trước cửa lão quê riêng có điều chương. 

Tuyết Đậu nêu cả hai lên rồi, lại cầm gậy nói, lại có Thiền tăng đồng sanh đồng tử chăng? Khi ấy nếu có một người ra nói được một câu lẫn làm chủ khách, khỏi bị lão Tuyết Đậu phần sau tự chỉ ngực.

Tụng:

Dã lão tùng giao bất triển mi

Thả đồ gia quốc lập hùng ky

Mưu thần dũng tướng kim hà tại!

Vạn lý thanh phong chỉ tự tri.

Dịch:

Lão quê từ đây chẳng nhướn mày

Vả mong nước nhà lập nền tài

Mưu thần dũng tướng nay đâu tá!

Muôn dặm gió lành chỉ tự hay.

Giải tụng:

Vừa rồi song đề vậy, trong đây lại nắm một bên, buông một bên, bồi dài bổ ngắn, bỏ nặng theo nhẹ. Vì thế nói: Lão quê từ đây chẳng nhướn mày, vả mong nước nhà lập nền tài, mưu thần dũng tướng nay đâu tá. Tuyết Đậu cầm cây gậy nói: “Lại có thiền tăng đồng sanh đồng tử chăng?” Giống như nói lại có mưu thần dũng tướng chăng? Một cái miệng nuốt tất cả người rồi vậy. Do đó nói: Đất rộng người thưa, gặp nhau rất ít. Lại có biết nhau chăng, ra đây một hầm chôn hết. Muôn dặm gió lành chỉ tự hay, chính là chỗ Tuyết Đậu chỉ ngực vậy.

TẮC 62

VÂN MÔN TRONG CÓ MỘT VIÊN NGỌC

Lời dẫn:

Lấy trí vô sư phát diệu dụng vô tác, lấy lòng từ vô duyên làm bạn tốt chẳng mời. Nhằm trong một câu có giết có cứu, ở trong một cơ có tha có bắt. Hãy nói người nào từng đến như thế đến, thử cử xem?

Công án: 

Vân Môn dạy chúng: Trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có viên ngọc báu ẩn tại Hình sơn, cầm lồng đèn đến trong điện Phật, đem ba cửa đến trên lồng đèn.

Giải thích: 

Vân Môn nói trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có hòn ngọc báu ẩn tại Hình sơn, hãy nói Vân Môn ý tại cần câu, ý tại lồng đèn? Đây là mấy câu trong luận Bảo Tạng của Triệu pháp sư, Vân Môn trích ra dạy chúng. Khi Triệu Công ở vườn Tiêu Dao thời Hậu Tần làm luận, viết kinh Duy-ma-cật, mới biết Lão Trang chưa phải hay tột. Triệu Công lễ La-thập làm thầy, lại đến tham vấn Bồ-tát Bạt-đà-ba-la ở chùa Ngõa Quan, vốn là đệ tử được truyền tâm ấn của Tổ thứ hai mươi bảy ở Ấn Độ. Triệu Công thâm nhập được chỗ sâu kín. Một hôm, Triệu Công bị nạn sắp hành hình, xin hẹn lại bảy ngày viết xong bộ luận Bảo Tạng. Vân Môn trích bốn câu trong luận dạy chúng. Đại ý nói làm sao lấy được hòn ngọc báu vô giá ẩn trong ấm giới. Lời nói trong luận cùng lối thuyết thoại trong tông môn phù hợp nhau. 

Cảnh Thanh hỏi Tào Sơn: “Lý thanh hư khi cứu cánh không thân thì thế nào?” Tào Sơn đáp: “Lý tức như thế, sự lại làm sao?” Thanh thưa: “Như lý như sự.” Tào Sơn bảo: “Lừa một mình Tào Sơn thì được, đối với con mắt chư thánh làm gì được.” Thanh thưa: “Nếu không có con mắt chư thánh, đâu biết chẳng thế ấy.” Tào Sơn bảo: “Cửa công chẳng cho lọt mũi kim, lối tư thì xe ngựa cũng qua.” Vì thế nói: Trong càn khôn, giữa vũ trụ, trong có viên ngọc báu ẩn tại Hình sơn. Đại ý nói người người đầy đủ, mỗi mỗi viên thành. Vân Môn trích ra dạy chúng đã là thập phần hiện thành, không thể giống như Tọa chủ lại vì ông chú giải. Sư vẫn mở lòng từ bi, vì ông chú cước nói “cầm lồng đèn đến trong điện Phật, đem ba cửa đến trên lồng đèn”. Thử nói Vân Môn nói thế ấy, ý chỗ nào? Cổ nhân nói: “Thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân không huyễn hóa tức pháp thân.” Lại nói “chính phàm tâm mà thấy Phật tâm”. 

Hình sơn tức là tứ đại ngũ ấm. Trong có viên ngọc báu ẩn tại Hình sơn, cho nên nói: “Chư Phật tại đầu tâm, người mê chạy ngoài tầm, trong ôm báu vô giá, chẳng biết một đời thôi.” Lại nói: “Phật tánh rõ ràng hiển hiện, trụ tướng hữu tình khó thấy, nếu ngộ chúng sanh vô ngã, mặt ta nào khác mặt Phật. Tâm là tâm xưa nay, mặt là mặt thuở bé, kiếp thạch khá đổi dời, cái kia không cải biến.” Có người chỉ nhận cái sáng tỏ linh minh là ngọc báu, thế là chẳng được cái dụng của nó, cũng chẳng được cái diệu của nó. Vì thế, động chuyển chẳng được, xô lăn chẳng xong. Cổ nhân nói: Cùng thì biến, biến thì thông. 

Câu “cầm lồng đèn đến trong điện Phật”, nếu là thường tình còn có thể lường xét được. Câu “đem ba cửa đến trên lồng đèn” lại lường xét được chăng? Vân Môn một lúc vì ông đả phá tình thức ý tưởng, được mất phải quấy rồi. Tuyết Đậu nói: Tôi mến Thiều Dương cơ mới định, một đời vì người tháo đinh nhổ chốt. Lại nói: Ngồi trên giường gỗ bao nhiêu vị, (chỉ ngài) đao bén cắt đi khiến người mến. Vân Môn nói cầm lồng đèn vào trong điện Phật, một câu này đã cắt đứt rồi vậy. Lại đem ba cửa đến trên lồng đèn, nếu luận việc này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp. 

Vân Môn nói: “Nếu ông tương đương hãy tìm đường vào. Chư Phật như vi trần ở dưới gót chân ông, ba tạng thánh giáo ở trên đầu lưỡi ông, chẳng bằng hãy ngộ đi. Hòa thượng con! Chớ vọng tưởng, trời là trời, đất là đất, núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục.” Sư im lặng giây lâu, nói tiếp: “Đem án sơn trước mặt lại cho ta xem? Có vị tăng ra hỏi: “Học nhân khi thấy núi là núi, nước là nước thì thế nào?” Vân Môn bảo: “Ba cửa vì sao từ trong này qua, e ông chết đi.” Sư bèn lấy tay vẽ một nét nói: “Khi biết được là thượng vị đề hồ, nếu biết chẳng được trở thành độc dược.” Vì thế nói: “Liễu liễu, khi liễu không sở liễu. Huyền huyền, chỗ huyền cần phải chê.”

Tuyết Đậu niêm rằng: “Trong càn khôn giữa vũ trụ trong có viên ngọc báu ẩn tại Hình sơn, treo ở trên vách. Đạt-ma chín năm chẳng dám để mắt nhìn thẳng, nay thiền tăng cần thấy, nhằm ngay xương sống liền đánh? Xem Sư là bổn phận tông sư trọn chẳng đem thật pháp trói buộc người. Huyền Sa nói: Bủa vây chẳng chịu đứng, kêu gọi chẳng quay đầu, tuy nhiên thế ấy cũng là rùa linh lê đuôi. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Khán khán

Cổ ngạn hà nhân bả điếu can

Vân nhiễm nhiễm

Thủy man man

Minh nguyệt lô hoa quân tự khan.

Dịch:

Xem xem

Bờ xưa người nào cầm cần câu

Mây mịt mịt

Nước mênh mông

Trăng sáng hoa lau anh tự xem.

Giải tụng:

Nếu biết được lời Vân Môn liền thấy chỗ Tuyết Đậu vì người. Sư nhằm hai câu sau của Vân Môn dạy chúng liền vì ông chú cước: “Xem xem.” Ông liền giương mày trừng mắt hội, vẫn không dính dáng. Cổ nhân nói: “Linh quang riêng sáng, vượt khỏi căn trần, thể bày chân thường, chẳng nệ văn tự, tâm tánh không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật.” Nếu chỉ nhằm chỗ giương mày trừng mắt, ngồi như chết đâu thể thoát được căn trần. Tuyết Đậu nói: Xem! Xem! Vân Môn giống như ở trên bờ xưa cầm cần câu. Mây lại mịt mịt, nước lại mênh mông, trăng sáng chiếu hoa lau, hoa lau chiếu trăng sáng, chính ngay khi này là cảnh giới gì? Nếu thẳng đó thấy được thì trước sau chỉ giống như một câu.

TẮC 63

NAM TUYỀN CHÉM MÈO

Lời dẫn: 

Đường ý chẳng đến nên khéo đề ra, nói năng chẳng kịp phải mau để mắt. Nếu là điện xẹt sao băng liền hay nghiêng hồ lật núi. Trong chúng có người biện được chăng, thử cử xem?

Công án: 

Ở Nam Tuyền, một hôm nhà Đông nhà Tây tranh nhau một con mèo. Nam Tuyền thấy liền đưa con mèo lên bảo: Nói được thì chẳng chém. Chúng không nói được. Nam Tuyền chém con mèo làm hai khúc.

Giải thích: 

Hàng tông sư một động một tịnh, một ra một vào, hãy nói ý chỉ thế nào? Câu chuyện chém mèo, trong tùng lâm khắp nơi bàn tán xôn xao. Có người nói: Chỗ đưa lên liền phải. Có người nói: Ở chỗ chém. Hoàn toàn không dính dáng. Nam Tuyền nếu khi chẳng đưa lên khắp nơi cũng tạo tác đạo lý rồi. Đâu chẳng biết, cổ nhân có con mắt định càn khôn, có cây kiếm định càn khôn. Ông hãy nói cứu cánh là ai chém con mèo? 

Chỉ như Nam Tuyền đưa lên bảo “nói được tức chẳng chém”, khi ấy bỗng có người nói được, thì Nam Tuyền chém hay không chém? Vì thế nói: Chánh lệnh đương hành, đoạn dứt mười phương, thoát ra xem ngoài trời, ai là người trong ấy? Kỳ thật đương thời vốn chẳng chém, thoại này cũng chẳng ở chỗ chém cùng chẳng chém. Việc này thật biết rõ ràng như thế, chẳng ở trên tình trần ý kiến mà tìm. Nếu nhằm trên tình trần ý kiến mà tìm thì cô phụ Nam Tuyền. Chỉ nhằm trên mũi nhọn kiếm bén xem thì có cũng được không cũng được chẳng có chẳng không cũng được. Vì thế cổ nhân nói: Cùng tắc biến, biến tắc thông. Người nay chẳng hiểu biến thông, chỉ nhằm trên ngôn cú chạy. Nam Tuyền đưa lên thế ấy, không phải bảo người nên nói lời gì, chỉ muốn người tự tiến, mỗi mỗi tự dụng tự biết. Nếu chẳng hiểu thế ấy, rốt cuộc dò tìm không đến. Tuyết Đậu ngay đó tụng ra.

Tụng:

Lưỡng đường câu thị đỗ thiền hòa

Bát động yên trần bất nại hà

Lại đắc Nam Tuyền năng cử lệnh

Nhất đao lưỡng đoạn nhậm thiên pha.

Dịch:

Hai nhà đều hạng khách thiền xoàng

Khói bụi vạch tung vẫn mơ màng

Nhờ được Nam Tuyền hay hành lệnh

Một đao hai khúc mặc luận bàn.

Giải tụng:

Câu Hai nhà đều hạng khách thiền xoàng, Tuyết Đậu chẳng nhằm chết dưới câu, cũng chẳng nhận trước lừa sau ngựa. Có chỗ vạch tung liền nói Khói bụi vạch tung vẫn mơ màng. Tuyết Đậu nắm tay Nam Tuyền cùng đi, một câu nói xong vậy. Thủ tọa hai nhà không có chỗ hết, đến nơi chỉ quản vạch tung khói bụi mà không làm gì được. Nhờ Nam Tuyền vì họ đoạn công án này, thâu sạch hết. Song trước chẳng đến thôn, sau chẳng tới quán. Vì thế nói: Nhờ được Nam Tuyền hay hành lệnh, một đao hai khúc mặc luận bàn. Liền đó cho một đao thành hai khúc, chẳng quản có thiên lệch. Hãy nói Nam Tuyền y cứ lệnh gì?

TẮC 64

TRIỆU CHÂU ĐẦU ĐỘI GIÀY CỎ

Công án: 

Nam Tuyền thuật lại chuyện trên, hỏi Triệu Châu. Triệu Châu liền cởi giày cỏ đội trên đầu đi ra. Nam Tuyền nói: “Nếu khi ấy có mặt ông, đã cứu được con mèo.”

Giải thích: 

Triệu Châu là đích tử của Nam Tuyền, nói đầu hiểu đuôi, cử đến là biết chỗ rơi. Nam Tuyền đến chiều thuật lại lời khi sáng hỏi Triệu Châu, Triệu Châu là lão tác gia, liền cởi giày cỏ đội trên đầu đi ra. Nam Tuyền nói: “Khi ấy nếu có mặt ông, đã cứu được con mèo.” Thử nói thật như thế, chẳng thật như thế? 

Nam Tuyền bảo: “Nói được thì không chém”, như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp. Triệu Châu liền cởi giày cỏ đội trên đầu đi ra. Sư tham câu sống chẳng tham câu chết, ngày ngày mới, giờ giờ mới, ngàn thánh dời đổi một mảy tơ cũng chẳng được. Phải là vận dụng được của báu nhà mình, mới thấy toàn cơ đại dụng của Sư. Sư nói ta là vua pháp, đối với pháp được tự tại. Nhiều người hiểu lầm nói Triệu Châu quyền biến đem giày cỏ làm con mèo. Có người nói: Đợi kia bảo, nói được thì không chém, liền đội giày cỏ đi ra, tự là ông chém con mèo, chẳng can việc của tôi. Vẫn không dính dáng, chỉ là đùa tinh hồn. Đâu chẳng biết ý cổ nhân như trời khắp che, tợ đất khắp chở. Cha con Sư hợp nhau, cơ phong khế nhau, bên này đưa đầu bên kia liền hiểu đuôi. 

Học giả thời nay chẳng biết chỗ chuyển của cổ nhân, chạy rỗng trên đường ý suy tính. Nếu cần thấy, chỉ đến chỗ chuyển của Nam Tuyền, Triệu Châu liền thấy.

Tụng:

Công án viên lai vấn Triệu Châu

Trường An thành lý nhậm nhàn du

Thảo hài đầu đới vô nhân hội

Quy đáo gia sơn tức tiện hưu.

Dịch:

Công án xong rồi hỏi Triệu Châu

Trường An thành ấy mặc nhàn du

Đầu đội giày cỏ không người hiểu

Về đến gia sơn thì mới thôi.

Giải tụng:

Công án xong rồi hỏi Triệu Châu, Tạng chủ Khánh nói: Giống như người kết án tám gậy là tám gậy, mười ba là mười ba, đã xong rồi lại đem ra hỏi Triệu Châu. Triệu Châu là người trong nhà ấy, hiểu ý chỉ của Nam Tuyền, là người thấu triệt, đè đến chọi đến liền chuyển, đầy đủ đầu mắt của bậc bổn phận tác gia, vừa nghe nhắc đến liền đứng dậy đi ra. Tuyết Đậu nói: Trường An thành ấy mặc nhàn du, dây dưa chẳng ít. Cổ nhân nói: Trường An tuy vui chẳng nên ở lâu. Lại nói: Trường An rất ồn, nước tôi an ổn. Phải là biết cơ nghi, rành tốt xấu mới được. 

Đầu đội giày cỏ không người hiểu, chỗ đội giày cỏ, một tí xíu này không có nhiều việc. Vì thế nói: “Duy ta hay biết, duy ta hay chứng”, mới thấy được chỗ đồng đắc đồng dụng của Nam Tuyền, Triệu Châu, Tuyết Đậu. Hãy nói nay làm sao hội? Về đến gia sơn thì mới thôi, chỗ nào là gia sơn? Nếu chẳng hội ắt chẳng nói thế ấy. Kia đã hội, hãy nói gia sơn ở chỗ nào? Liền đánh.

TẮC 65

NGOẠI ĐẠO NGỰA HAY BÓNG ROI

Lời dẫn:

Không tướng mà hiện, đầy mười phương mà phương rộng, không tâm mà ứng dụng khắp sát hải mà chẳng phiền. Cử một rõ ba, mục cơ thù lượng. Dù cho gậy như mưa rơi, hét tợ sấm dậy cũng chưa xứng với hành lý của người hướng thượng. Hãy nói thế nào là việc người hướng thượng, thử cử xem?

Công án: 

Ngoại đạo hỏi Phật: “Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời?” Thế Tôn lặng thinh giây lâu. Ngoại đạo tán thán: “Thế Tôn đại từ đại bi vẹt mây mù cho con, khiến con được vào.” Ngoại đạo đi rồi, A-nan hỏi Phật: “Ngoại đạo chứng được cái gì mà nói được vào?” Phật bảo: “Như ngựa hay ở đời, thấy bóng roi liền chạy.”

Giải thích:

Việc này nếu ở trên ngôn cú thì tam thừa mười hai phần giáo há là không có ngôn cú, hoặc nói không lời là phải, vậy đâu cần Tổ sư Tây sang làm gì? Từ trước đến đây khá nhiều công án, cứu cánh làm sao thấy được chỗ rơi? Một công án này có nhiều người hiểu khác nhau. Có người nói làm thinh, có người nói ngồi yên, có người nói lặng lẽ chẳng đáp. Tức cười không dính dáng, biết bao giờ mò tìm đến được? Việc này hẳn chẳng ở trên ngôn cú, cũng chẳng lìa ngôn cú, nếu vừa có nghĩ nghị liền cách xa ngàn dặm muôn dặm. Xem ngoại đạo kia, sau khi tỉnh ngộ mới biết, cũng chẳng ở đây, cũng chẳng ở kia, cũng chẳng ở phải, cũng chẳng ở chẳng phải. Hãy nói là cái gì? Hòa thượng Thiên Y Hoài tụng: “Duy-ma chẳng nín chẳng làm thinh, ngồi yên thương lượng thành lỗi lầm, trong giáp xuy mao ánh sáng lạnh, ngoại đạo thiên ma đều bó tay.”

Hòa thượng Thường ở Bá Trượng đến tham vấn Pháp Nhãn, Pháp Nhãn dạy khán thoại này. Một hôm Pháp Nhãn hỏi: “Ông khán nhân duyên gì?” Thường thưa: “Ngoại đạo hỏi Phật.” Pháp Nhãn bảo: “Thử cử xem.” Thường toan mở miệng, Pháp Nhãn bảo: “Dừng! Dừng! Ông toan nhằm chỗ im lặng hội ư?” Thường ngay câu nói này bỗng nhiên đại ngộ. Sau Sư dạy chúng: “Bá Trượng có ba quyết: uống trà, trân trọng, hết. Nghĩ nghị cùng tư duy, biết anh vẫn chưa triệt.” 

Thúy Nham Chân Điểm Hung niêm: “Lục hợp cửu hữu, xanh vàng đỏ trắng mỗi mỗi xen lẫn.” Ngoại đạo hiểu kinh luận Tứ Phệ-đà, tự nói ta là người nhất thế trí. Nơi nơi tìm người nghị luận, y đặt câu hỏi cốt khóa chặn đầu lưỡi đức Thích-ca. Thế Tôn chẳng tốn mảy tơ khí lực, y liền tỉnh lấy, tán thán rằng: “Thế Tôn đại từ đại bi vẹt mây mù cho con, khiến con được vào.” Hãy nói thế nào là chỗ đại từ đại bi? Thế Tôn một mắt thông tam thế, ngoại đạo hai tròng suốt ngũ thiên.” 

Chơn Như ở Quy Sơn niêm: “Ngoại đạo ôm ấp ngọc quý, Thế Tôn chính vì đề cao, sum la hiển hiện vạn tượng rõ ràng.” Cứu cánh ngoại đạo ngộ cái gì? Như đuổi chó dồn vào tường, tột cùng ắt không có lối thoát, nó phải xoay đầu lại liền được linh động.” Nếu so tính phải quấy một lúc buông hết, tình sạch kiến trừ, tự nhiên triệt để phân minh. 

Ngoại đạo đi rồi, A-nan hỏi Phật: “Ngoại đạo chứng cái gì mà nói được chỗ vào?” Phật bảo: “Như ngựa hay ở đời, thấy bóng roi liền chạy.” Sau này các nơi nói: Lại bị gió đùa âm điệu khác. Lại nói: Đầu rồng đuôi rắn. Chỗ nào là bóng roi của Thế Tôn? Chỗ nào là thấy bóng roi? Tuyết Đậu nói: Tà chánh chẳng phân, lỗi do bóng roi. Chơn Như nói: A-nan lại gióng chuông vàng, bốn chúng đồng nghe. Tuy nhiên như thế, rất giống hai con rồng giành hạt châu, thêm lớn uy phong của người trí. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Cơ luân tằng vị chuyển

Chuyển tất lưỡng đầu tẩu

Minh cảnh hốt lâm đài

Đương hạ phân nghiên xú.

Nghiên xú phân hề mê vân khai

Từ môn hà xứ sanh trần ai

Nhân tư lương mã khuy tiên ảnh

Thiên lý truy phong hoán đắc hồi.

Hoán đắc hồi, minh chỉ tam hạ.

Dịch:

Cơ luân chưa từng chuyển

Chuyển ắt chạy hai đầu

Gương sáng chợt đến đài

Liền đó phân tốt xấu. 

Tốt xấu phân chừ mây mù khai

Cửa Từ đâu chỗ sanh trần ai

Nhân suy ngựa giỏi bóng roi thấy

Ngàn dặm truy phong gọi được về.

Gọi được về, khảy móng tay ba cái.

Giải tụng:

Hai câu Cơ luân chưa từng chuyển, chuyển ắt chạy hai đầu, cơ là linh cơ của ngàn thánh, luân là mạng mạch của các người từ trước đến nay. Cổ nhân nói: “Linh cơ ngàn thánh không dễ thân, rồng sanh rồng con chớ dõi theo, Triệu Châu đoạt được ngọc liên thành, Tần chúa Tương Như thảy táng thân.” Ngoại đạo nắm được đứng, làm được chủ, chưa từng động đến. Cớ sao? Y nói: “Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời”, há chẳng phải chỗ toàn cơ? Thế Tôn biết xem gió thả buồm, hợp bệnh cho thuốc. Vì thế im lặng giây lâu, toàn cơ đề khởi. Ngoại đạo hội được toàn thể, cơ luân liền lăn trùng trục, cũng chẳng chuyển về có, cũng chẳng chuyển về không, cũng chẳng rơi được mất, chẳng câu chấp phàm thánh, hai bên một lúc dứt sạch. Thế Tôn vừa im lặng, y liền lễ bái. Người nay đa số rơi tại không, chẳng thế thì rơi vào có, chỉ quản tại chỗ có và không hai đầu chạy. 

Tuyết Đậu nói: Gương sáng chợt đến đài, liền đó phân tốt xấu, cái này chẳng từng động đến, chỉ cần im lặng, giống như gương sáng đến đài, vạn tượng không thể trốn hình chất của nó. Ngoại đạo nói: “Thế Tôn đại từ đại bi, vẹt mây mù cho con, khiến con được vào.” Hãy nói chỗ nào là chỗ ngoại đạo vào? Đến đây phải là mỗi người tự tham tự cứu, tự ngộ tự hội mới được. Ở tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm chẳng hỏi cao thấp, một lúc hiện thành, lại chẳng dời đổi một mảy tơ. Vừa khởi so tính chừng một sợi tơ đạo lý, liền bít lấp chết người, lại không có phần đi vào. 

Phần sau tụng về “Thế Tôn đại từ đại bi, vẹt mây mù cho con, khiến con được vào”. Liền đó chợt phân tốt xấu, tốt xấu phân chừ mây mù khai, cửa Từ nào chỗ sanh trần ai. Cả quả đất là cửa đại từ đại bi của Thế Tôn, nếu ông thấu được chẳng cần một cái ấn tay, đây cũng là mở hoác cửa cổng. Đâu chẳng thấy Thế Tôn trong hai mươi mốt ngày suy nghĩ việc như thế, ta nên chẳng nói pháp, chóng vào Niết-bàn. 

Nhân suy ngựa giỏi bóng roi thấy, ngàn dặm truy phong gọi được về. Con ngựa hay đuổi gió thấy bóng roi đã chạy qua ngàn dặm, gọi về liền về. Ý Tuyết Đậu khen y nói, “nếu là hàng anh tuấn mới có thể một cái động liền chuyển, một lời gọi liền về.” Nếu gọi được về, liền khảy móng tay ba cái. Hãy nói là điểm phá? Là ném cát?

TẮC 66

NHAM ĐẦU THÂU KIẾM HOÀNG SÀO

Lời dẫn: 

Đương cơ đối mặt nêu cơ hãm hổ, chánh án bàng đề, bày ra mưu lược bắt giặc. Sáng hợp tối hợp, hai buông hai thâu, giỏi đùa rắn chết, lại là tác giả kia. 

Công án: 

Nham Đầu hỏi tăng: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Tây Kinh đến.” Nham Đầu hỏi: “Sau khi giặc Hoàng Sào qua rồi, lại thâu được kiếm chăng?” Tăng thưa: “Thâu được.” Nham Đầu đưa cổ ra, nói: “Hè!” Tăng nói: “Đầu thầy rụng.” Nham Đầu cười ha hả! Sau vị tăng này đến Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Ở Nham Đầu đến.” Tuyết Phong hỏi: “Có ngôn cú gì?” Tăng thuật lại việc trước. Tuyết Phong đánh ba mươi gậy đuổi ra.

Giải thích: 

Phàm là người quảy túi mang bát vạch cỏ xem gió, phải đủ con mắt hành cước mới được. Vị tăng này mắt tợ sao băng, cũng bị Nham Đầu khám phá xong, xỏ xâu lại. Đương thời nếu là kẻ kia, hoặc giết hoặc cứu cử đến liền dùng. Vị tăng lôi thôi này lại nói: “Thâu được.” Đi hành cước thế ấy, lão Diêm-la sẽ đòi tiền cơm ông. Ông này đi nát bao nhiêu đôi giày cỏ thẳng đến Tuyết Phong. Khi ấy nếu có đôi phần mắt sáng, liền biết lãnh ngộ há chẳng thích sao? Một nhân duyên này có chỗ khúc mắc lầm lẫn. Việc ấy tuy nhiên không được mất, mà được mất rất to, tuy nhiên không giản trạch, đến đây lại cần đủ con mắt giản trạch. 

Xem Long Nha khi còn đi hành cước đặt câu hỏi, hỏi Đức Sơn: “Học nhân cầm kiếm Mạc Da định lấy đầu Thầy thì thế nào?” Đức Sơn đưa cổ ra nói: “Hè!” Long Nha nói: “Đầu thầy rụng.” Đức Sơn liền trở về phương trượng. Sau Long Nha thuật lại với Động Sơn, Động Sơn hỏi: “Khi ấy Đức Sơn nói gì?” Long Nha thưa: “Sư không nói.” Động Sơn bảo: “Sư không nói gác lại, cho mượn đầu Đức Sơn rụng xem?” Long Nha ngay câu nói đại ngộ, thắp hương trông xa về Đức Sơn lễ bái sám hối. Có vị tăng truyền đến Đức Sơn, Đức Sơn nói: “Lão Động Sơn chẳng biết tốt xấu, kẻ này chết bao lâu rồi, cứu được dùng vào chỗ nào?” 

Công án này với Long Nha là một loại. Đức Sơn trở về phương trượng ắt trong tối rất mầu. Nham Đầu cười to, trong cái cười có độc. Nếu có người biện được thì dọc ngang trong thiên hạ. Vị tăng này khi ấy nếu biện ra được thì vượt qua ngàn xưa khỏi bị kiểm trách, mà dưới cửa Nham Đầu một trường lầm lỗi. Xem lão nhân Tuyết Phong là bạn đồng tham nên biết chỗ rơi, cũng chẳng vì kia nói phá, chỉ đánh ba mươi gậy đuổi ra khỏi viện, khả dĩ không trước bặt sau (vô tiền khoáng hậu). Cái này là nắm lỗ mũi hàng tác gia thiền khách, thủ đoạn vì người mà chẳng vì họ thế này hoặc thế nọ, khiến họ tự ngộ. 

Bậc bổn phận tông sư vì người, có khi đậy kín không cho ló đầu, có khi tung ra cho chết dở, lại cần có chỗ xuất thân. Cả thảy Nham Đầu, Tuyết Phong ngược lại bị gã tăng lôi thôi khám phá. Câu Nham Đầu hỏi “Giặc Hoàng Sào qua rồi, có thâu được kiếm chăng”, các ông hãy nói trong đây nên hạ lời gì khỏi bị kia cười, lại khỏi bị Tuyết Phong đánh đuổi ra? Trong cái lầm lẫn này, nếu chẳng từng thân chứng thân ngộ, dù cho có lanh mồm lợi khẩu, cứu cánh thấu thoát sanh tử cũng chẳng được. Sơn tăng bình thường dạy người xem chỗ chuyển của cơ quan này. Nếu suy nghĩ, xa đó càng xa. Đâu chẳng thấy Đầu Tử hỏi tăng Diêm Bình: “Sau khi giặc Hoàng Sào qua rồi, lại thâu được kiếm chăng?” Tăng lấy tay chỉ dưới đất. Đầu Tử nói: “Ba mươi năm đùa cưỡi ngựa, ngày nay lại bị lừa đá.” Xem vị tăng này quả là bậc tác gia, chẳng nói thâu được, cũng chẳng nói thâu chẳng được, so với vị tăng ở Tây Kinh như cách trời biển. Chơn Như niêm: Cổ nhân kia một người làm đầu, một người làm đuôi. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Hoàng Sào quá hậu tằng thâu kiếm

Đại tiếu hoàn ưng tác giả tri

Tam thập sơn đằng thả khinh thứ

Đắc tiện nghi thị lạc tiện nghi.

Dịch:

Hoàng Sào giặc dứt từng thâu kiếm

Cười lớn lại là tác giả tri

Ba mươi gậy hãy còn tha nhẹ

Được tiện nghi là mất tiện nghi.

Giải tụng:

Hai câu Hoàng Sào giặc dứt từng thâu kiếm, cười lớn lại là tác giả tri, Tuyết Đậu tụng vị tăng này cùng chỗ Nham Đầu cười to. Một chút này mà người trong thiên hạ mò tìm chẳng được. Hãy nói Sư cười cái gì? Phải là bậc tác gia mới biết, trong cái cười này có quyền có thật, có chiếu có dụng, có giết có cứu. 

Câu Ba mươi gậy hãy còn tha nhẹ, tụng vị tăng này sau đến trước mặt Tuyết Phong, vẫn như xưa lỗ mãng, Tuyết Phong cứ lệnh mà hành, đánh ba mươi gậy đuổi ra. Hãy nói vì sao như thế? Ông cần tận tình hiểu thoại này chăng? Được tiện nghi là mất tiện nghi.

TẮC 67

PHÓ ĐẠI SĨ GIẢNG KINH XONG

Công án: 

Lương Võ Đế thỉnh Phó đại sĩ giảng kinh Kim Cang, Đại sĩ lên tòa ngồi vỗ bàn một cái, bước xuống tòa. Võ Đế ngạc nhiên, Chí Công hỏi: “Bệ hạ hội chăng?” Võ Đế nói: “Chẳng hội.” Chí Công nói: “Đại sĩ giảng kinh xong.”

Giải thích: 

Cao Tổ Lương Võ Đế họ Tiêu, húy là Diễn, tự Thúc Đạt, lập công nghiệp cho đến nối ngôi nhà Tề. Sau khi tức vị, ông riêng chú Ngũ Kinh giảng nghị, kính thờ Lão Tử rất mực, tánh tình chí hiếu. Một hôm, ông suy nghĩ về pháp xuất thế để đền ơn cha mẹ, liền bỏ đạo Lão theo đạo Phật. Ông thọ giới Bồ-tát với pháp sư Lũ Ước, mặc áo ca-sa giảng kinh Phóng Quang Bát-nhã để đền ơn cha mẹ. 

Khi ấy, Chí Công đại sĩ hiển dị hoặc chúng, bị giam trong khám. Chí Công phân thân du hóa trong thành ấp, một hôm Vua nhận biết cảm ngộ và rất kính trọng. Chí Công có những hạnh thầm hộ ẩn hiển không thể lường. Tại Vụ Châu có Đại sĩ ở núi Vân Hoàng, tự tay trồng hai cây gọi là Song thọ, tự xưng Đương Lai Thiện Huệ đại sĩ. Một hôm, ông biên thư sai đệ tử dâng lên cho vua. Bấy giờ, triều thần cho ông không có tư cách quân thần nên chẳng nhận. 

Phó đại sĩ sắp vào trong thành Kim Lăng bán cá. Võ Đế thỉnh Chí Công giảng kinh Kim Cang. Chí Công tâu: “Bần đạo không thể giảng, trong chợ có Phó đại sĩ hay giảng kinh này.” Vua hạ chiếu mời Đại sĩ vào trong cung. Phó đại sĩ đã đến, lên giảng tòa vỗ bàn một cái, xuống tòa. Khi ấy liền xô nhào khỏi thấy một trường rối bời, lại bị Chí Công nói: “Bệ hạ hội chăng?” Vua nói: “Chẳng hội.” Chí Công tâu: “Đại sĩ giảng kinh xong.” Thế là một người làm đầu một người làm đuôi. 

Chí Công nói thế ấy, mộng thấy Phó đại sĩ không? Cùng là đùa tinh hồn, nhưng người này thật là kỳ đặc, tuy là rắn chết khéo đùa cũng sống. Đã là giảng kinh, sao không phân làm hai, như tọa chủ tầm thường nói: “Thể Kim cang kiên cố, mọi vật không thể hoại, dụng nó sắc bén hay dẹp muôn vật.” Giảng thuyết như thế, mới gọi là giảng kinh. Tuy nhiên như vậy, quý vị đâu chẳng biết Phó đại sĩ chỉ nêu then chốt hướng thượng, lược bày mũi nhọn, khiến người biết chỗ rơi, chặt thẳng vách đứng vạn nhẫn cho ông. Vừa lúc bị Chí Công chẳng biết tốt xấu lại nói Đại sĩ giảng kinh xong. Chính là hảo tâm mà không được báo tốt. Như một chung rượu ngon, bị Chí Công lấy nước chế vào. Như một nồi canh, bị Chí Công lượm một viên phân chuột bỏ vào làm nhơ rồi. Hãy nói đã chẳng phải giảng kinh, cứu cánh gọi là gì?

Tụng:

Bất hướng Song Lâm ký thử thân

Khước ư Lương độ nhạ ai trần

Đương thời bất đắc Chí Công lão

Dã thị tê tê khứ quốc nhân.

Dịch:

Chẳng ở Song Lâm gửi thân tàn

Lại vào nước Lương dấy bụi vàng

Bấy giờ chẳng gặp Chí Công lão

Cũng phải bôn ba đến nước người.

Giải tụng:

Hai câu Chẳng ở Song Lâm gửi thân tàn, lại vào nước Lương dấy bụi vàng, Phó đại sĩ cùng Đạt-ma gặp nhau một lối. Đạt-ma mới đến Kim Lăng gặp Võ Đế, Võ Đế hỏi: “Thế nào là Thánh đế nghĩa thứ nhất?” Đạt-ma đáp: “Rỗng thênh không Thánh.” Đế hỏi: “Đối trẫm là ai?” Đạt-ma đáp: “Không biết.” Đế chẳng khế hội. Ngài liền qua sông đến Ngụy. 

Võ Đế đem việc đó hỏi Chí Công, Chí Công tâu: “Bệ hạ biết người này chăng?” Đế nói: “Chẳng biết.” Chí Công tâu: “Đây là Bồ-tát Quán Âm truyền tâm ấn Phật.” Đế nghe hối hận sai sứ đi tìm. Chí Công tâu: “Chớ bảo bệ hạ sai sứ đi mời, người trong cả nước mời cũng chẳng trở lại.” Vì thế, Tuyết Đậu nói: Bấy giờ chẳng gặp Chí Công lão, cũng phải bôn ba đến nước người. Bấy giờ nếu chẳng phải Chí Công vì Phó đại sĩ nói ra, cũng sẽ bị đuổi ra nước ngoài. Chí Công đã lắm lời, Võ Đế bị Sư lừa một trận. 

Đại ý Tuyết Đậu nói, chẳng phải Đại sĩ đến đất Lương giảng kinh vỗ bàn. Sở dĩ nói sao chẳng ở Song Lâm gửi thân tàn, là ăn cháo ăn cơm tùy phận qua ngày, lại đến đất Lương chỉ chú thế ấy, vỗ bàn rồi xuống tòa, chính là chỗ Sư làm dấy bụi. Đã là thù thắng thì mắt nhìn mây xanh, trên chẳng thấy có Phật, dưới chẳng thấy có chúng sanh. Nếu luận bên việc xuất thế thì chẳng khỏi đầu tro mặt đất, đem không làm có, đem có làm không, đem phải làm quấy, đem quấy làm phải, đem thô làm tế, ăn thịt uống rượu, nắm ngang dụng ngược, khiến tất cả người rõ được việc này. Nếu chẳng phóng hành thế ấy, thẳng đến Di-lặc hạ sanh cũng không có một người nửa người. Phó đại sĩ đã là dính bùn kẹt nước, may lại có tri âm. Nếu chẳng gặp lão Chí Công, hầu như bị đuổi khỏi nước rồi. Hãy nói hiện nay ở chỗ nào?

TẮC 68

NGƯỠNG SƠN ÔNG TÊN GÌ

Lời dẫn: 

Giở cổng trời lật trục đất, bắt cọp tê (tê giác) biện rắn rồng, phải là kẻ linh động mới được. Câu câu hòa nhau, cơ cơ hợp nhau, từ trước đến nay, người nào được thế ấy, xin cử xem?

Công án: 

Ngưỡng Sơn hỏi Tam Thánh: “Ông tên gì?” Tam Thánh thưa: “Huệ Tịch.” Ngưỡng Sơn nói: “Huệ Tịch là tên ta.” Tam Thánh thưa: “Huệ Nhiên.” Ngưỡng Sơn cười hả hả!

Giải thích: 

Tam Thánh là hàng tôn túc trong tông Lâm Tế, thuở nhỏ đã đủ khả năng xuất quần, có đại cơ đại dụng, ở trong chúng ngang ngang tàng tàng, tiếng vang khắp nơi. Sau từ giã Lâm Tế, Sư dạo khắp sông biển, đến các tùng lâm đều được đãi vào hàng khách quý. Sư từ miền bắc đến phương nam, trước đến Tuyết Phong liền hỏi: “Cá vàng thoát khỏi lưới lấy gì làm thức ăn?” Tuyết Phong đáp: “Đợi ông ra khỏi lưới, sẽ nói với ông.” Tam Thánh nói: “Là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người, mà thoại đầu cũng chẳng biết.” Tuyết Phong nói: “Lão tăng trụ trì nhiều việc.” Tuyết Phong cùng Tam Thánh đi thăm trang sở của chùa, trên đường gặp một con khỉ. Tuyết Phong nói: “Con khỉ này mỗi mỗi mang một mặt gương xưa.” Tam Thánh nói: “Nhiều kiếp không tên, do đâu bày là gương xưa?” Tuyết Phong nói: “Có tỳ vậy.” Tam Thánh nói: “Là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người, mà thoại đầu cũng chẳng biết.” Tuyết Phong nói: “Tội lỗi, lão tăng trụ trì nhiều việc.” 

Sau Sư đến Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn rất mến tài hùng biện của Sư nên đãi ở minh song. Một hôm, có ông quan đến tham vấn Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn hỏi: “Quan ở vị nào?” Quan thưa: “Tồi quan.” Ngưỡng Sơn dựng cây phất tử, hỏi: “Lại tồi (dẹp) được cái này chăng?” Ông quan không đáp được. Cả chúng đáp thay cũng không khế hợp ý Ngưỡng Sơn. Khi ấy Tam Thánh nằm bệnh tại nhà Diên Thọ, Ngưỡng Sơn sai thị giả đem lời này hỏi. Tam Thánh đáp: “Hòa thượng có việc.” Ngưỡng Sơn lại sai thị giả hỏi: “Chưa biết có việc gì?” Tam Thánh nói: “Tái phạm chẳng tha.” Ngưỡng Sơn thầm nhận đó. Bá Trượng đương thời lấy thiền bản bồ đoàn trao cho Hoàng Bá, lấy trụ trượng và phất tử trao cho Quy Sơn. Sau Quy Sơn trao cho Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn đã thừa nhận Tam Thánh. Một hôm, Tam Thánh từ giã ra đi, Ngưỡng Sơn lấy trụ trượng và phất tử trao cho Tam Thánh. Tam Thánh thưa: “Con đã có thầy.” Ngưỡng Sơn hỏi nguyên do, mới biết là đích tử của Lâm Tế. 

Chỉ như Ngưỡng Sơn hỏi Tam Thánh “ông tên gì”, Sư không thể chẳng biết tên kia, cớ sao lại hỏi thế ấy? Sở dĩ hàng tác gia cần nghiệm người biết cho chín chắn, dường như thong thả hỏi ông tên gì? Không suy tính, Tam Thánh đáp là Huệ Tịch, mà chẳng nói là Huệ Nhiên, là tại sao? Xem kia kẻ đủ mắt tự nhiên chẳng đồng. Tam Thánh thế ấy mà chẳng phải điên, một bề dụng ý cướp cờ đoạt trống ngoài lời của Ngưỡng Sơn. Lời này chẳng rơi trong thường tình, khó bề dò tìm. Những kẻ có thủ đoạn này là làm sống được người. Vì thế nói, kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Nếu theo thường tình thì dứt người chẳng được. 

Xem cổ nhân kia nghĩ đạo thế ấy, dùng hết tinh thần mới được đại ngộ, đã ngộ rồi khi dùng cũng đồng chưa ngộ, giống hệt thời nhân, tùy phần một lời nửa câu, chẳng được rơi chỗ thường tình. Tam Thánh biết chỗ rơi của Ngưỡng Sơn, liền nói với Sư, con tên Huệ Tịch. Ngưỡng Sơn cốt thâu Tam Thánh, ngược lại Tam Thánh thâu Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn chỉ được trả đũa, nói Huệ Tịch là ta, là chỗ phóng hành. Tam Thánh thưa: con tên Huệ Nhiên, cũng là phóng hành. Vì thế, ở dưới Tuyết Đậu tụng “hai thâu, hai phóng nếu làm tông”. Chỉ trong một câu đồng thời tụng xong. 

Ngưỡng Sơn cười hả hả! Cũng có quyền có thật, có chiếu có dụng, vì kia tám mặt linh lung. Thế nên, chỗ dùng được đại tự tại. Cái cười này cùng cái cười của Nham Đầu không đồng. Nham Đầu cười có thuốc độc. Cái cười này ngàn xưa, muôn xưa gió mát lạnh run. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Song thâu song phóng nhược vi tông

Kỵ hổ do lai yếu tuyệt công

Tiếu bãi bất tri hà xứ khứ?

Chỉ ưng thiên cổ động bi phong.

Dịch:

Hai thâu, hai phóng nếu làm tông

Cưỡi cọp nguyên lai cốt bặt công

Cười dứt biết đi về đâu tá?

Chỉ nên thiên cổ động bi phong.

Giải tụng:

Câu Hai thâu hai phóng nếu làm tông, phóng hành lẫn làm chủ khách. Ngưỡng Sơn hỏi: “Ông tên gì?” Tam Thánh thưa: “Con tên Huệ Tịch”, là song phóng. Ngưỡng Sơn nói: “Huệ Tịch là tên ta”, Tam Thánh thưa: “Con tên Huệ Nhiên”, là song thâu. Kỳ thật là cơ hỗ hoán, thâu thì cả thảy đều thâu, phóng thì cả thảy đều phóng. Tuyết Đậu một lúc tụng hết rồi vậy. Ý Sư nói, nếu chẳng phóng thâu, nếu chẳng hỗ hoán thì ông là ông ta là ta, tổng lại chỉ là bốn chữ, vì sao ở trong đây lại ra vào cuộn duỗi? Cổ nhân nói: Nếu ông đứng thì ta ngồi, nếu ông ngồi thì ta đứng. Nếu đồng ngồi đồng đứng, cả hai đều là kẻ mù. Đây là song thâu song phóng, khả dĩ làm tông yếu. 

Câu Cưỡi cọp nguyên lai cốt bặt công có cao phong như thế, cơ yếu tối thượng, cần cưỡi liền cưỡi, cần xuống liền xuống, chặn đầu cọp cũng được, nắm đuôi cọp cũng được. Tam Thánh, Ngưỡng Sơn hai vị đều có phong cách này. Câu Cười dứt biết đi về đâu tá, hãy nói Sư cười cái gì? Thẳng được gió mát lạnh run, vì sao rốt sau lại nói Chỉ nên thiên cổ động bi phong, cũng là chết mà chẳng điếu, một lúc vì ông chú giải xong. Khốn nỗi người cả thiên hạ gặm nhấm chẳng vào, chẳng biết chỗ rơi. Kể cả sơn tăng cũng chẳng biết chỗ rơi. Quý vị lại biết chăng?

TẮC 69

NAM TUYỀN VẼ VÒNG TRÒN

Lời dẫn:

Chỗ không gặm nhấm, tâm ấn Tổ sư như máy trâu sắt, thoát khỏi rừng gai góc, hàng thiền khách như một hạt tuyết trên lò lửa, trên đất bằng bảy xoi tám phủng thì gác lại, chẳng rơi chỗ vay mượn lại làm sao, thử cử xem?

Công án: 

Nam Tuyền, Quy Tông, Ma Cốc đồng đi lễ bái Quốc sư Huệ Trung. Đến giữa đường, Nam Tuyền vẽ một vòng tròn trên đất, nói: “Nói được thì đi.” Quy Tông vào giữa vòng tròn ngồi. Ma Cốc giả làm người nữ lạy. Nam Tuyền nói: “Thế ấy thì chẳng đi.” Quy Tông nói: “Là tâm hạnh gì?”

Giải thích: 

Đương thời Mã Tổ giáo hóa hưng thịnh ở Giang Tây, Thạch Đầu đạo thạnh ở Hồ Tương, Quốc sư Huệ Trung đạo hóa ở Trường An. Quốc sư đích thân gặp Lục Tổ rồi về ở đây. Khi ấy phương Nam những người ngang đầu mọc sừng, không ai chẳng muốn đến nhà kia, vào thất kia. Nếu chẳng được vậy bị người chê cười. Ba lão này muốn đi lễ bái Quốc sư, đến giữa đường tạo ra một trường bại khuyết này. Nam Tuyền nói: “Thế ấy thì chẳng đi.” Đã là mỗi người đều nói được, tại sao nói chẳng đi? Hãy nói ý cổ nhân thế nào? 

Đương thời đợi Sư nói thế ấy thì chẳng đi, nhằm lỗ tai liền tát, xem Sư khéo léo thế nào? Vạn cổ chấn hưng cương tông chỉ là cơ yếu nhỏ bé này. Vì thế, Từ Minh nói: “Cần lôi chỉ ở tại đầu dây, vạch được nắm được liền xoay, như ấn quả bầu trên mặt nước.” Nhiều người bảo là lời không thừa nhận nhau. Đâu chẳng biết việc này đến chỗ tột cùng phải lìa bùn lìa nước, tháo chốt nhổ đinh. Nếu ông khởi hiểu tâm hạnh là không giao thiệp. 

Cổ nhân chuyển biến rất khéo. Đến đây không được chẳng thế ấy, phải là có giết có cứu. Xem kia một người vào trong vòng tròn ngồi, một người giả người nữ lễ bái, thật tài tình. Nam Tuyền bảo: “Thế ấy thì chẳng đi.” Quy Tông bảo: “Là tâm hạnh gì?” Kẻ tầm thường lại thế ấy đi. Quy Tông nói thế ấy, cốt nghiệm Nam Tuyền. Nam Tuyền bình thường nói: “Gọi là như như, sớm đã biến rồi.” Nam Tuyền, Quy Tông, Ma Cốc lại là người ở trong một nhà, một bắt một thả, một giết một cứu, quả thật kỳ đặc. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Do Cơ tiễn xạ viên

Nhiễu thọ hà thái trực

Thiên cá dữ vạn cá

Thị thùy tằng trúng đích.

Tương hô tương hoán quy khứ lai

Tào Khê lộ thượng hưu đăng bộ.

Dịch:

Bắn khỉ tên Do Cơ

Quanh cây sao quá thẳng

Ngàn người cùng muôn người

Mấy ai từng trúng đích.

Gọi nhau kêu nhau về lại đi

Tào Khê lộ ấy thôi tiến bước.

Lại nói: Con đường Tào Khê bình thản, tại sao thôi tiến bước?

Giải tụng:

Hai câu Bắn khỉ tên Do Cơ, quanh cây sao quá thẳng, Do Cơ là người nước Sở, họ Dưỡng, tên Thúc, tự Do Cơ. Khi ấy, vua Trang Vương nước Sở đi săn, thấy một con khỉ bạch, sai người bắn nó, con khỉ chụp tên rồi cười. Vua ra lệnh cả quần thần đều bắn nó, mà không có ai bắn trúng. Vua hỏi quần thần, quần thần tâu Do Cơ bắn giỏi nhất. Vua ra lệnh cho Do Cơ bắn. Do Cơ vừa giương cung, con khỉ ôm cây khóc, đến khi tên bay ra, con khỉ xoay quanh cây để núp, mũi tên cũng xoay quanh cây để trúng, đây là tên thần vậy. Tuyết Đậu vì sao nói rất thẳng? Nếu rất thẳng thì chẳng trúng. Đã quanh cây cớ sao lại nói rất thẳng? Tuyết Đậu mượn ý kia, quả thật dùng rất hay. Việc này xuất xứ trong Xuân Thu. Có người nói quanh cây là vòng tròn. Nếu thật như thế, người này thật chẳng biết tông chỉ của lời nói, không hiểu được chỗ rất thẳng. Ba lão này đường khác mà đồng về một đạo, một loạt rất thẳng. Nếu biết được chỗ đi của kia, bảy dọc tám ngang chẳng rời tấc vuông, trăm sông khác dòng đồng về biển cả. 

Vì thế, Nam Tuyền nói: “Thế ấy thì chẳng đi.” Nếu là thiền tăng chánh nhãn nhìn đến chỉ là đùa tinh hồn. Nếu nói là đùa tinh hồn lại chẳng phải đùa tinh hồn. Ngũ Tổ tiên sư nói: Ba vị này là Huệ cự tam-muội, Trang nghiêm vương tam-muội. Tuy nhiên như thế, làm người nữ lạy, kia trọn chẳng hiểu làm người nữ lạy. Tuy vẽ vòng tròn, kia trọn chẳng hiểu vẽ vòng tròn. Đã chẳng hiểu thế ấy, phải hiểu thế nào? Tuyết Đậu nói: Ngàn người cùng muôn người, mấy ai từng trúng đích, lại có mấy người trăm phát trăm trúng. 

Gọi nhau kêu nhau về lại đi, tụng Nam Tuyền nói: “Thế ấy thì chẳng đi.” Nam Tuyền từ đây lại chẳng đi, nên nói: Tào Khê lộ ấy thôi tiến bước, diệt sạch rừng gai góc. Tuyết Đậu nắm chẳng định, lại nói: Con đường Tào Khê bình thản, tại sao thôi tiến bước? Con đường Tào Khê dứt bụi tuyệt dấu, bày rõ ràng trơ trơ bình thản chỗ an nhàn, tại sao lại thôi tiến bước? Mỗi người tự xem gót chân mình.

TẮC 70

QUY SƠN THỈNH HÒA THƯỢNG NÓI

Lời dẫn: 

Người khéo một lời, ngựa giỏi một roi, muôn năm một niệm, một niệm muôn năm, cần biết thẳng tắt trước khi chưa cử. Hãy nói trước khi chưa cử làm sao dò tìm, mời cử xem?

Công án: 

Quy Sơn, Ngũ Phong, Vân Nham đồng đứng hầu Bá Trượng. Bá Trượng hỏi Quy Sơn: “Dẹp hết cổ họng môi mép, làm sao nói?” Quy Sơn thưa: “Thỉnh Hòa thượng nói.” Bá Trượng bảo: “Ta chẳng từ nói với ông, chỉ e về sau mất hết con cháu.”

Giải thích: 

Quy Sơn, Ngũ Phong, Vân Nham đồng đứng hầu Bá Trượng. Bá Trượng hỏi Quy Sơn: “Dẹp hết cổ họng môi mép, làm sao nói?” Quy Sơn thưa: “Thỉnh Hòa thượng nói.” Bá Trượng bảo: “Ta chẳng từ nói với ông, chỉ e về sau mất hết con cháu của ta.” Bá Trượng tuy nhiên như thế, cái nồi đã bị người khác cướp rồi. Bá Trượng lại hỏi Ngũ Phong. Ngũ Phong thưa: “Hòa thượng cũng phải dẹp hết.” Bá Trượng nói: “Chỗ không người vạch trán nhìn ông.” Bá Trượng hỏi Vân Nham, Vân Nham thưa: “Hòa thượng có hay chưa?” Bá Trượng nói: “Mất hết con cháu của ta.” Ba người mỗi vị một nhà. 

Cổ nhân nói: “Trên đất bằng người chết vô số, qua được rừng gai góc là người tay khéo.” Vì thế hàng tông sư đem rừng gai góc nghiệm người. Cớ sao? Nếu ở dưới câu thường tình nghiệm người chẳng được. Hàng thiền khách cần phải trong câu trình cơ, trong lời biện mục đích. Nếu là kẻ gánh bản, phần đông nhằm trong câu mà chết, nghe nói dẹp hết cổ họng môi mép thì không có chỗ mở miệng. Nếu là người biến thông, có sóng ngược nước, chỉ nhằm trên câu hỏi có lối đi, tay chẳng bị thương tích. Quy Sơn thưa: “Thỉnh Hòa thượng nói.” Hãy nói ý nghĩ thế nào? Trong đây như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, nhân chỗ hỏi kia liền đáp, tự có con đường xuất thân, chẳng tốn mảy may khí lực. Vì thế nói, kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Bá Trượng chẳng biện kia, chỉ nói chẳng từ nói với ông, chỉ e về sau mất hết con cháu của ta. 

Đại phàm bậc tông sư vì người phải nhổ đinh tháo chốt. Như người nay nói: “Đáp này chẳng thừa nhận, kia không lãnh thoại.” Đâu chẳng biết trong đây một đường sanh cơ, vách đứng ngàn nhẫn, khách chủ thay nhau rất linh động. Tuyết Đậu mến lời của Quy Sơn, phong cách uyển chuyển tự tại, lại hay nắm vững phong cương, vì thế tụng ra.

Tụng:

Khước thỉnh Hòa thượng đạo

Hổ đầu sanh giác xuất hoang thảo

Thập châu xuân tận hoa điêu tàn

San-hô thọ lâm nhật cảo cảo.

Dịch:

Lại thỉnh Hòa thượng nói

Đầu cọp mọc sừng ra cỏ hoang

Mười châu xuân hết hoa điêu tàn

Rừng cây san-hô nhật sáng rỡ.

Giải tụng:

Chỗ đáp của ba vị này mỗi mỗi chẳng đồng, có vách đứng ngàn nhẫn, có chiếu dụng đồng thời, có tự cứu chẳng xong. Câu Lại thỉnh Hòa thượng nói, Tuyết Đậu nhằm trong câu này trình cơ xong vậy. Lại đến đây đẩy nhẹ nhẹ khiến người dễ thấy. Nói Đầu cọp mọc sừng ra cỏ hoang, chỗ đáp của Quy Sơn giống như cọp mạnh trên đầu mọc sừng, có cách nào lại gần được? Tăng hỏi La Sơn: “Khi đồng sanh chẳng đồng tử thì thế nào?” Sơn đáp: “Như trâu không sừng.” Tăng hỏi: “Khi đồng sanh cũng đồng tử thì thế nào?” Sơn đáp: “Như cọp mọc sừng.” 

Tuyết Đậu chỉ một câu tụng xong. Sư có thừa tài chuyển biến, lại nói Mười châu xuân hết hoa điêu tàn. Trên biển có ba núi mười châu, lấy một trăm năm làm một mùa xuân. Tuyết Đậu lời nói có phong cách uyển chuyển bàng bạc, mùa xuân hết trăm ngàn muôn gốc hoa đồng thời điêu tàn. Chỉ riêng Rừng cây san-hô nhật sáng rỡ, chẳng bị tàn rụng, cùng mặt trời đoạt ánh sáng, soi chiếu lẫn nhau, chính khi ấy thật là kỳ đặc. Tuyết Đậu dùng hình ảnh này để rõ câu “lại thỉnh Hòa thượng nói”. 

Mười châu đều là chỗ phụ cận của hải ngoại chư quốc: 1- Tổ Châu: sản xuất phản hồn hương. 2- Doanh Châu: sản xuất cỏ thơm, ngọc thạch, nước suối như vị rượu. 3- Huyền Châu: sản xuất thuốc tiên uống vào sống mãi. 4- Trường Châu: sản xuất mộc qua, ngọc anh. 5- Viêm Châu: sản xuất vải chịu lửa. 6- Nguyên Châu: sản xuất suối linh như mật. 7- Sanh Châu: có núi sông không nóng lạnh. 8- Phụng Lân Châu: người lấy mỏ phụng sừng lân nấu làm keo nối dây. 9- Tụ Huyệt Châu: sản xuất loại sư tử đầu đồng trán sắt. 10- Đàn Châu: sản xuất đá côn ngô làm kiếm, chặt ngọc như bùn. 

San-hô trong Ngoại Quốc Tạp Truyện nói: Đại Tần về phía tây nam trong biển rộng độ bảy tám trăm dặm đến châu San-hô, đáy châu có bàn thạch, san-hô sanh trên đá đó, người dùng lưới sắt để lấy san-hô. Lại trong Thập Châu Ký nói: San-hô sanh đáy biển Nam, như cây cao hai ba thước, có cành không da, giống như ngọc đượm nhuần màu đỏ, cảm với mặt trăng mà sanh, ở đầu cành đều có vầng sáng của mặt trăng.

TẮC 71

NGŨ PHONG HÒA THƯỢNG DẸP HẾT

Công án: 

Bá Trượng lại hỏi Ngũ Phong: “Dẹp hết cổ họng môi mép làm sao nói?” Ngũ Phong thưa: “Hòa thượng cũng phải dẹp hết.” Bá Trượng nói: “Chỗ không người vạch trán trông ngươi.”

Giải thích: 

Quy Sơn nắm vững phong cương, Ngũ Phong cắt đứt các dòng. Cái này cần yếu ngay mặt đánh đỡ, giống như trước ngựa đấu nhau chẳng cho nghĩ nghị, ngay đó liền dùng cấp bách gấp rút. Chẳng giống như Quy Sơn bàng bạc thao thao. Kẻ thiền hòa thời nay chỉ nhằm dưới giàn mà đi, không thể ló đầu cùng kia. Vì thế nói muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi. Chỗ đáp của Ngũ Phong đối mặt đoạn dứt, quả thật thích thú. Bá Trượng bảo: “Chỗ không người vạch trán trông ngươi.” Hãy nói thừa nhận Sư hay không thừa nhận Sư? Là chết hay sống? Thấy kia lăn trùng trục, chỉ cho kia một điểm. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Hòa thượng dã tính khước

Long xà trận thượng khán mưu lược

Linh nhân trường ức Lý tướng quân

Vạn lý thiên biên phi nhất ngạc.

Dịch:

Hòa thượng cũng dẹp hết

Trên trận long xà xem mưu lược

Khiến người thường nhớ Lý tướng quân

Muôn dặm bên trời bay một ngạc.

Giải tụng:

Hòa thượng cũng dẹp hết, Tuyết Đậu ở trong một câu đẩy một cái nói Trên trận long xà xem mưu lược. Nêu bày hai trận chợt ra chợt vào, bảy dọc tám ngang, có tài năng của người tướng chiến đấu. Người có đại mưu lược, một người một ngựa xông vào trận long xà ra vào tự tại. Ông làm sao bao vây được họ? Nếu không phải con người này đâu biết mưu lược như thế. 

Ba bài tụng này của Tuyết Đậu đều đến đây bày ra lời như thế. Giống như tên thần của Lý Quảng, Muôn dặm bên trời bay một ngạc. Một mũi tên nhất định rơi một con chim điêu, nhất định lại chẳng bỏ qua, Tuyết Đậu tụng chỗ hỏi của Bá Trượng như một con chim ngạc (ó biển), chỗ đáp của Ngũ Phong như một mũi tên. Sơn tăng chỉ lo tán thán Ngũ Phong, bất chợt đầy mình vào bùn vào nước.

TẮC 72

VÂN NHAM HÒA THƯỢNG CÓ HAY CHƯA

Công án: 

Bá Trượng lại hỏi Vân Nham: “Dẹp hết cổ họng môi mép làm sao nói?” Vân Nham thưa: “Hòa thượng có hay chưa?” Bá Trượng nói: “Mất hết con cháu của ta.”

Giải thích: 

Vân Nham ở chỗ Bá Trượng hai mươi năm làm thị giả, sau theo Đạo Ngô đến Dược Sơn. Dược Sơn hỏi: “Ông ở trong hội Bá Trượng làm việc gì?” Vân Nham thưa: “Vượt khỏi sanh tử.” Dược Sơn hỏi: “Lại vượt khỏi chưa?” Vân Nham thưa: “Y không sanh tử.” Dược Sơn nói: “Hai mươi năm ở chỗ Bá Trượng mà tập khí cũng chưa trừ.” Vân Nham từ giã ra đi yết kiến Nam Tuyền, sau trở lại Dược Sơn mới khế ngộ. 

Xem cổ nhân hai mươi năm tham cứu vẫn tự nửa xanh nửa vàng, dính da kẹt xương, không thể chóng thoát, phải ắt là phải, chỉ trước chẳng đến thôn sau không tới quán. Đâu chẳng thấy nói: “Lời chẳng rời hang ổ, đâu hay thoát buộc ràng, cửa hang mây trắng phủ, biết bao người quên nguồn.” Tông Tào Động gọi là xúc phá. Cho nên nói: Đạp toang sơn trượng lầu phụng hoàng, thời nhân e phạm húy đương kim. Vì thế nói rừng gai góc phải vượt qua mới được. Nếu chẳng vượt qua trước sau đều mắc kẹt, chặt chẳng đứt. Vừa rồi nói trước chẳng đến thôn, sau không tới quán, Vân Nham chỉ quản đi kiểm điểm người khác. Bá Trượng thấy Sư như thế, một lúc lôi ra đánh chết. Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Hòa thượng hữu dã vị

Kim mao sư tử bất cứ địa

Lưỡng lưỡng tam tam cựu lộ hành

Đại Hùng sơn hạ không đờn chỉ.

Dịch:

Hòa thượng có hay chưa

Sư tử lông vàng không tựa đất

Hai hai ba ba lối cũ đi

Dưới núi Đại Hùng khảy tay rỗng.

Giải tụng:

Hòa thượng có hay chưa, Tuyết Đậu cứ bản tội luận án, phải thì phải, chỉ là sư tử lông vàng đâu dè không tựa đất. Sư tử bắt các loài thú thì ẩn nanh giấu vuốt, tựa đất nhảy chụp vật, không luận lớn nhỏ đều dùng toàn uy, dụng tận lực của nó. Vân Nham nói “Hòa thượng có hay chưa”, chỉ nhằm trên đường cũ đi. Vì thế Tuyết Đậu nói Bá Trượng nhằm dưới núi Đại Hùng khảy tay rỗng.

TẮC 73

MÃ TỔ TỨ CÚ BÁCH PHI

Lời dẫn:

Phàm người thuyết pháp không nói không bày, người nghe pháp không nghe không được. Thuyết đã không nói không bày, chi bằng không nói. Nghe đã không nghe không được, chi bằng không nghe. Song không nói không nghe còn được chút đỉnh. Chỉ như hiện nay quý vị nghe sơn tăng ở đây nói, làm sao khỏi được lỗi này? Người đủ con mắt thấu quan, thử cử xem? 

Công án: 

Tăng hỏi Mã Tổ: “Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng cho con ý Tổ sư Tây sang?” Mã Tổ bảo: “Hôm nay ta mệt nhọc không thể vì ông nói, đến hỏi Trí Tạng đi.” Tăng hỏi Trí Tạng, Trí Tạng bảo: “Sao chẳng hỏi Hòa thượng?” Tăng thưa: “Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.” Trí Tạng bảo: “Ngày nay tôi đau đầu không thể vì ông nói, đến hỏi Hải huynh đi.” Tăng hỏi Hải huynh, Hải nói: “Đến đây tôi lại chẳng hội.” Tăng thuật lại với Mã Tổ. Mã Tổ nói: “Tạng đầu bạc, Hải đầu đen.’’

Giải thích: 

Công án này ngày trước sơn tăng ở Thành Đô tham vấn Chơn Giác. Giác bảo: “Chỉ cần khán một câu thứ nhất của Mã Tổ, tự nhiên một lúc khế hội.” Hãy nói vị tăng này hiểu đến hỏi hay chẳng hiểu đến hỏi? Câu hỏi này thật là sâu xa. Lìa tứ cú là có, không, chẳng có chẳng không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không. Lìa bốn câu này, tuyệt một trăm cái phi kia, chỉ quản tạo đạo lý, chẳng biết thoại đầu, tìm đầu não mà chẳng thấy. Nếu là sơn tăng, đợi Mã Tổ nói xong liền trải tọa cụ lạy ba lạy, xem ngài sẽ nói thế nào? 

Đương thời Mã Tổ thấy vị tăng này đến hỏi “ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư Tây sang”, liền chụp gậy nhằm xương sống mà đập, rồi đuổi ra, xem y tỉnh chẳng tỉnh. Mã Tổ chỉ quản vì y tạo sắn bìm, mà gã này trước mặt lầm qua, lại bảo đến hỏi Trí Tạng. Đâu chẳng biết Mã Tổ gió đến biện rành, vị tăng này mù mịt đi hỏi Trí Tạng. Tạng bảo: “Sao không hỏi Hòa thượng?” Tăng thưa: “Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.” Xem kia vừa đẩy nhẹ đến liền xoay lại, không có chỗ nhàn rỗi. Trí Tạng nói: “Ngày nay tôi đau đầu không thể vì ông nói, hỏi Hải huynh đi.” Vị tăng này lại đến hỏi Hải huynh, Hải huynh nói: “Đến đây tôi lại chẳng hội.” Hãy nói, tại sao một người nói đau đầu, một người nói chẳng hội, cứu cánh thế nào? Vị tăng trở lại thuật cho Mã Tổ nghe, Mã Tổ nói: ‘‘Tạng đầu bạc, Hải đầu đen.” 

Nếu dùng con đường hiểu để suy xét bảo đó là lừa nhau. Có người nói: Chỉ là đẩy qua cho nhau. Có người nói: Ba vị thảy biết câu hỏi kia, vì thế chẳng đáp. Thảy đều là mù, một lúc đem thuốc độc để trong đề hồ thượng vị của cổ nhân. Sở dĩ Mã Tổ nói “đợi ông hớp một ngụm cạn nước Tây Giang, sẽ vì ông nói”, cùng với công án này một loại. Nếu hiểu được Tạng đầu bạc, Hải đầu đen thì hiểu được lời nói nước Tây Giang. Vị tăng này đem một gánh mù mịt đổi được cái chẳng an vui, lại làm nhọc ba vị tôn túc vào bùn vào nước, cứu cánh y cũng chẳng thông. Tuy nhiên thế ấy, ba vị tông sư lại bị gã gánh bản khám phá. 

Người nay chỉ quản chạy trên ngôn ngữ làm kế sống, nói: “Bạc là hợp đầu sáng, đen là hợp đầu tối”, chỉ biết dùi mài suy tính. Đâu chẳng biết cổ nhân một câu cắt đứt ý căn, phải nhằm trong chánh mạch tự xem mới được ổn đáng. Vì thế nói: Một câu rốt sau mới đến lao quan, nắm đoạn yếu tân chẳng thông phàm thánh. Nếu luận việc này, giống như ngay cửa để một thanh kiếm, nghĩ nghị thì tan thân mất mạng. Lại nói: Ví như ném kiếm huơi không, chớ luận đến và chẳng đến, chỉ nhằm chỗ tám mặt linh lung hội lấy. Chẳng thấy cổ nhân nói: Cái thùng sơn. Hoặc nói: Dã hồ tinh. Hoặc nói: Kẻ mù. Hãy nói cùng một gậy một hét là đồng là biệt? Nếu biết thì thiên sai vạn biệt chỉ là một thứ, tự nhiên tám mặt thọ địch. Cần hiểu Tạng đầu bạc, Hải đầu đen chăng? Ngũ Tổ tiên sư nói: “Tiên sinh phong hậu.” Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Tạng đầu bạch Hải đầu hắc

Minh nhãn nạp tăng hội bất đắc

Mã câu đạp sát thiên hạ nhân

Lâm Tế vị thị bạch niêm tặc.

Ly tứ cú tuyệt bách phi

Thiên thượng nhân gian duy ngã tri.

Dịch:

Tạng đầu bạc, Hải đầu hắc

Thiền tăng mắt sáng hội chẳng được

Ngựa tơ đạp chết biết bao người

Lâm Tế chưa là kẻ cướp giỏi.

Lìa tứ cú tuyệt bách phi

Trên trời nhân gian chỉ ta biết.

Giải tụng:

Tạng đầu bạc, Hải đầu hắc, hãy nói ý thế nào? Phần nhỏ này mà thiền tăng trong thiên hạ nhảy chẳng khỏi. Xem Tuyết Đậu phần sau hợp rất hay, nói dù cho thiền tăng mắt sáng hội chẳng được cái tin tức này, gọi là bí quyết thần tiên, cha con chẳng truyền. Đức Phật Thích-ca nói pháp một đời, rốt sau riêng truyền tâm ấn, gọi là bảo kiếm Kim cang vương, gọi là Chánh vị, sắn bìm thế ấy sớm đã là việc bất đắc dĩ. Cổ nhân bày sơ chút ít mũi nhọn, nếu người thấu được tức là bảy soi tám phủng được đại tự tại. Nếu thấu chẳng được, từ trước không có chỗ ngộ nhập càng nói càng xa. 

Câu Ngựa tơ đạp chết biết bao người, tổ Bát-nhã-đa-la ở Ấn Độ nói sấm với tổ Đạt-ma rằng: “Trung Quốc tuy rộng không đường riêng, cần nhờ cháu con dưới gót đi, gà vàng biết ngậm một hạt thóc, cúng dường mười phương La-hán tăng.” Lại Lục Tổ bảo Hoài Nhượng rằng: “Về sau Phật pháp từ bên ông đi, sau sẽ nảy sanh một ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ.” Sau này nối pháp ở Giang Tây truyền khắp thiên hạ, thời nhân gọi là Mã Tổ. Đạt-ma, Lục Tổ đều trước sấm cho Mã Tổ. Xem tác lược của ngài quả nhiên riêng biệt. Chỉ nói Tạng đầu bạc, Hải đầu hắc đủ thấy chỗ đạp chết người trong thiên hạ. Chỉ lời hắc bạch của câu này, ngàn người muôn người gặm không nát. 

Lâm Tế chưa là kẻ cướp giỏi, một hôm Lâm Tế dạy chúng: “Trên cục thịt đỏ có chân nhân vô vị, thường từ diện môn các ông ra vào, người chưa chứng cứ xem! Xem!’’ Có vị tăng ra hỏi: “Thế nào là chân nhân vô vị?” Lâm Tế bước xuống giường thiền nắm đứng, bảo: “Nói! Nói!” Tăng không nói được. Lâm Tế xô ra nói: “Chân nhân vô vị là cái gì? Que cứt khô!’’ Sau Tuyết Phong nghe, nói: “Lâm Tế rất giống kẻ cướp giỏi.” Tuyết Đậu muốn gặp Lâm Tế, xem cơ phong của Mã Tổ vượt hẳn Lâm Tế, đây chính là kẻ cướp giỏi, Lâm Tế chưa phải là kẻ cướp giỏi. 

Tuyết Đậu một lúc xỏ suốt hết. Lại tụng vị tăng này nói Lìa tứ cú tuyệt bách phi, trên trời nhân gian chỉ ta biết, chớ nhằm trong hang quỷ tìm kế sống. Cổ nhân nói: Hỏi tại chỗ đáp, đáp tại chỗ hỏi, quả là kỳ đặc. Ông làm sao lìa được tứ cú, tuyệt được bách phi? Tuyết Đậu nói việc này chỉ ta tự hay biết. Dù cho ba đời chư Phật cũng nhìn chẳng thấy. Đã là riêng tự mình biết, quý vị lại đến đây cầu cái gì? Thiền sư Chơn Như ở Đại Quy niêm rằng: Vị tăng hỏi thế ấy, Mã Tổ đáp thế ấy, lìa tứ cú tuyệt bách phi, Trí Tạng, Hải huynh trọn chẳng biết. Cần hiểu chăng? Chẳng thấy nói ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ?

TẮC 74

KIM NGƯU THÙNG CƠM

Lời dẫn:

Kiếm Mạc Da để ngang, trước mũi nhọn cắt đứt ổ sắn bìm, gương treo trên cao, trong câu dẫn ra ấn Tỳ-lô. Chỗ điền địa ẩn mật, ăn cơm mặc áo. Chỗ thần thông du hý, làm sao gá nương, lại thông suốt chăng? Xem lấy văn sau.

Công án: 

Hòa thượng Kim Ngưu mỗi khi đến giờ trai tự mang thùng cơm để trước Tăng đường múa rồi cười ha hả, nói: “Bồ-tát con lại ăn cơm!” Tuyết Đậu nói: “Tuy nhiên như thế, Kim Ngưu chẳng phải hảo tâm.” Tăng hỏi Trường Khánh: “Cổ nhân nói Bồ-tát con lại ăn cơm, ý chỉ thế nào?” Trường Khánh nói: “Giống như nhân thụ trai khánh tán.”

Giải thích: 

Kim Ngưu là bậc tôn túc dưới Mã Tổ, mỗi khi đến giờ trai tự mang thùng cơm để trước Tăng đường, múa rồi cười hả hả, nói: “Bồ-tát con đến ăn cơm!” Như thế đến hai mươi năm. Hãy nói ý ngài ở chỗ nào? Nếu chỉ gọi ăn cơm, bình thường đánh bản đánh trống cũng đủ báo hiệu rồi. Tại sao lại tự mang thùng cơm đến, làm nhiều việc như thế? Có phải ngài điên chăng? Có phải ngài đề xướng dựng lập chăng? Nếu là đề xướng việc này sao chẳng lên tòa Bảo Hoa Vương gõ giường thiền, dựng phất tử, làm như thế để làm gì? 

Người nay đâu chẳng biết cổ nhân ý tại ngôn ngoại. Sao chẳng xem đề mục đương thời Tổ sư mới đến nói cái gì? Rõ ràng nói: “Giáo ngoại biệt truyền, riêng truyền tâm ấn.” Phương tiện của cổ nhân cũng chỉ dạy ông chặt thẳng, thừa đương đi. Người sau vọng tự suy tính, nói ở đâu có nhiều việc? Lạnh thì đến lửa, nóng thì dạo mát, đói thì ăn cơm, nhọc thì đi ngủ. Nếu thế ấy là dùng thường tình nghĩa giải chú thích, một tông Đạt-ma mất sạch. Chẳng biết cổ nhân nhằm trong mười hai giờ niệm niệm chẳng xả, cốt rõ việc này. 

Tuyết Đậu nói: “Tuy nhiên như thế, Kim Ngưu chẳng phải hảo tâm.” Chỉ một câu này nhiều người hiểu lầm. Chỗ nói thượng vị đề hồ là vật quý ở đời, gặp kẻ này trở thành độc dược. Kim Ngưu đã là vì người rơi trong cỏ, vì sao Tuyết Đậu nói chẳng phải hảo tâm? Nhân đâu mà nói thế ấy? Hàng thiền khách phải có sanh cơ mới được. Người nay chẳng đến điền địa của cổ nhân, chỉ thích nói: Thấy tâm gì? Có Phật gì? Nếu khởi kiến giải này là hoại mất lão tác gia Kim Ngưu rồi, cần phải chín chắn xem mới được. Nếu chỉ ngày nay ngày mai nói cho thích khẩu, ắt không có ngày liễu ngộ. 

Sau này Trường Khánh thượng đường, có vị tăng hỏi: “Cổ nhân nói Bồ-tát con đến ăn cơm, ý chỉ thế nào?” Trường Khánh đáp: “Giống như nhân trai khánh tán.” Hàng tôn túc rất mực từ bi, bày vẽ chẳng ít, phải thì phải, nhân trai khánh tán, ông hãy nói khánh tán cái gì? Xem Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Bạch vân ảnh lý tiếu ha ha

Lưỡng thủ trì lai phó dữ tha

Nhược thị kim mao sư tử tử

Tam thiên lý ngoại kiến hào ngoa.

Dịch:

Bóng mây trắng bạc cười ha ha

Hai tay mang lại gửi cho va

Sư tử lông vàng con quả thực

Ngoài ba ngàn dặm thấy sai ngoa.

Giải tụng:

Câu Bóng mây trắng bạc cười ha ha, Trường Khánh nói “nhân trai khánh tán”. Tuyết Đậu nói Hai tay mang lại gửi cho va. Hãy nói chỉ là cho Tăng ăn cơm hay riêng có kỳ đặc? Nếu thẳng đó biết đúng đắn tức là sư tử con lông vàng. Nếu là con của sư tử lông vàng, chẳng cần Kim Ngưu mang thùng cơm lại, múa may cười to, thẳng goài ba ngàn dặm liền biết chỗ bại khuyết của ngài. Cổ nhân nói: Soi trước cơ chẳng cần một cái ấn tay. Vì thế hàng thiền khách bình thường phải nhằm cách ngoại dụng, mới được xưng bổn phận tông sư. Nếu chỉ y cứ ngữ ngôn chưa khỏi bày vẽ.

TẮC 75

Ô CỮU GẬY CONG GẬY CONG

Lời dẫn:

Gươm linh kiếm báu thường bày hiện tiền, cũng hay giết người cũng hay cứu người, tại kia tại đây, đồng được đồng mất. Nếu cần đề trì thì mặc tình đề trì, nếu cần trải thẳng mặc tình trải thẳng. Hãy nói khi chẳng rơi chủ khách, chẳng cần hồi hỗ thì thế nào, thử cử xem?

Công án: 

Có vị tăng ở trong hội Hòa thượng Định Châu đến Ô Cữu, Ô Cữu hỏi: “Định Châu đạo pháp nào giống ở đây?” Tăng thưa: “Chẳng khác.” Ô Cữu nói: “Nếu chẳng khác nên trở về kia đi.” Liền đánh. Tăng nói: “Đầu gậy có mắt không được thô suất đánh người.” Ô Cữu nói: “Ngày nay đánh được một người.” Lại đánh ba gậy. Tăng liền đi ra. Ô Cữu nói: “Gậy cong xưa nay có người ăn.” Tăng xoay thân nói: “Bởi vì cán gậy trong tay Hòa thượng.” Ô Cữu nói: “Nếu ngươi cần, sơn tăng trao cho ngươi.” Tăng đến gần cướp cây gậy trong tay Ô Cữu, đánh Ô Cữu ba gậy. Ô Cữu nói: “Gậy cong, gậy cong.” Tăng nói: “Có người ăn.” Ô Cữu nói: “Thô suất đánh được kẻ này.” Tăng liền lễ bái. Ô Cữu nói: “Hòa thượng lại đi thế ấy.” Tăng cười to ra đi. Ô Cữu nói: “Tiêu được thế ấy, tiêu được thế ấy.”

Giải thích: 

Vị tăng từ trong hội hòa thượng Định Châu đến Ô Cữu, Ô Cữu cũng là hàng tác gia. Quý vị nếu nhằm trong đây biết được, hai vị này một ra một vào, ngàn cái muôn cái chỉ là một cái. Làm chủ cũng thế ấy, làm khách cũng thế ấy, hai vị cứu cánh hợp thành một nhà. Một lúc khám biện khách chủ hỏi đáp, trước sau đều là tác gia. 

Xem Ô Cữu hỏi vị tăng kia “Định Châu đạo pháp nào giống ở đây?” Tăng thưa: “Chẳng khác.” Khi ấy nếu chẳng phải là Ô Cữu, khó làm gì được vị tăng này. Ô Cữu nói: “Nếu chẳng khác nên trở về kia đi.” Liền đánh. Đâu ngờ vị tăng này cũng là hàng tác gia, liền nói: “Đầu gậy có mắt chẳng được đánh ẩu người.” Ô Cữu một bề hành lệnh nói: “Ngày nay đánh trúng một người.” Lại đánh ba gậy. Tăng liền đi ra. Xem hai vị lăn trùng trục, đều là hàng tác gia rõ một việc này, cần phải phân đen trắng, biện tốt xấu. Vị tăng này tuy đi ra mà công án chưa xong. Ô Cữu trước sau cần nghiệm chỗ thật của y, xem y thế nào. Vị tăng này dường như chống cửa dựng vách, do đó chưa thấy được y. Ô Cữu lại nói: “Gậy cong xưa nay có người ăn.” Vị tăng này cần chuyển thân nhả hơi, lại chẳng cùng kia tranh, chuyển nhẹ nhẹ nói: “Bởi vì cán gậy ở trong tay Hòa thượng.” Ô Cữu là hàng tông sư đảnh môn đủ mắt, dám nhằm trong miệng cọp dữ nằm ngang, nói: “Nếu ông cần, sơn tăng trao cho ông.” 

Gã này là kẻ trong tay có linh phù, chỗ nói: “Thấy nghĩa chẳng làm là người không dũng.” Lại chẳng nghĩ suy, đến gần cướp cây gậy trong tay Ô Cữu, đánh Ô Cữu ba gậy. Ô Cữu nói: “Gậy cong, gậy cong.” Ông hãy nói ý thế nào?” Ở trước nói “gậy cong xưa nay có người ăn”, đến khi bị vị tăng đánh lại nói “gậy cong, gậy cong”. Tăng nói: “Có người bị ăn.” Ô Cữu nói: “Cái gã đánh ẩu.” Ở trước nói “đánh ẩu trúng một người”, rốt sau tự ăn gậy, tại sao cũng nói “cái gã đánh ẩu”? Khi ấy nếu chẳng phải vị tăng cứng cỏi này cũng không làm gì được Sư. Vị tăng này liền lễ bái. Cái lễ bái này là tối độc, cũng chẳng phải là hảo tâm. Nếu chẳng phải Ô Cữu cũng chẳng thấy thấu được y. Ô Cữu nói: “Lại thế ấy đi.” Vị tăng cười to đi ra. Ô Cữu nói: “Tiêu được thế ấy, tiêu được thế ấy.” 

Xem hai vị là hàng tác gia thấy nhau, trước sau chủ khách phân minh, đứt rồi khéo nối, kỳ thật cũng chỉ là cơ hỗ hoán. Kia đến chỗ này cũng chẳng nói có chỗ hỗ hoán. Chính là cổ nhân tuyệt tình trần ý tưởng, kia đây là tác gia, cũng chẳng nói có được có mất. Tuy là một khoảng nói năng, cả hai đều sống linh động trọn có huyết mạch chỉ kim. Nếu khéo nơi đây thấy được cũng là trong mười hai giờ rõ ràng phân minh. Vị tăng kia liền đi ra là song phóng, về sau là song thâu, gọi đó là hỗ hoán. Tuyết Đậu cứ y chỗ này tụng ra.

Tụng:

Hô tức dị

Khiển tức nan

Hỗ hoán cơ phong tử tế khan

Kiếp thạch cố lai du khả hoại

Thương minh thâm xứ lập tu càn.

Ô Cữu lão! Ô Cữu lão!

Kỷ hà ban?

Dữ tha tiêu bính thái vô đoan.

Dịch:

Kêu thì dễ

Đuổi thì khó

Cơ phong hỗ hoán chín chắn xem

Kiếp thạch cứng còn có thể hoại

Biển sâu thăm thẳm đứng khô khan.

Lão Ô Cữu! Lão Ô Cữu!

Bao nhiêu thứ?

Cho kia chiếc gậy không manh mối.

Giải tụng:

Hai câu Kêu thì dễ, đuổi thì khó, cùng là rơi trong cỏ. Tuyết Đậu thì rất mực từ bi. Thông thường nói: Kêu rắn dễ, đuổi rắn khó, như đem cái bầu thổi lên kêu rắn thì dễ, cần đuổi rắn thì khó. Giống như đem gậy cho kia là dễ, cướp gậy đuổi đi là khó, phải có thủ đoạn bổn phận mới đuổi kia được. Ô Cữu là hàng tác gia có thủ đoạn kêu rắn, cũng có thủ đoạn đuổi rắn. Vị tăng này cũng chẳng phải hạng mù tối. Ô Cữu hỏi “Định Châu đạo pháp nào giống ở đây” là kêu kia. Ô Cữu liền đánh là đuổi kia. Vị tăng nói “Đầu gậy có mắt chẳng được đánh ẩu người”, xoay lại vị trí của vị tăng là kêu. Ô Cữu nói “nếu cần, sơn tăng trao cho ông”, Tăng đến gần cướp cây gậy, đánh ba gậy là vị tăng đuổi. Cho đến vị tăng cười to ra đi, Ô Cữu nói “tiêu được thế ấy, tiêu được thế ấy”, rõ ràng là đuổi được kia rất khéo. 

Xem hai vị có cơ phong hỗ hoán, tơ qua chỉ lại dệt thành một mảnh, trước sau chủ khách phân minh. Có khi chủ lại làm khách, có khi khách lại làm chủ. Tuyết Đậu khen ngợi chẳng tiếc lời, nên nói Cơ hỗ hoán bảo người chín chắn xem. 

Câu Kiếp thạch cứng mà còn có thể hoại, nghĩa là kiếp thạch này dài bốn mươi dặm, rộng tám muôn bốn ngàn do-tuần, dày tám muôn bốn ngàn do-tuần, năm trăm năm mới có người trên cõi trời đến lấy cái y ba lượng quét qua một cái rồi đi, đến năm trăm năm lại đến, như thế quét tan khối đá này là một kiếp, đó là “kiếp áo nhẹ phủi đá”. Tuyết Đậu nói Kiếp thạch cứng còn có thể hoại, đá tuy cứng còn phải tiêu ma hết, cơ phong của hai vị này ngàn xưa muôn xưa không có cùng tận. 

Câu Biển sâu thăm thẳm đứng còn khô, dù biển rộng mênh mông sóng to nổi dậy, nước dâng ngập trời, nếu bảo hai vị này vào trong đó mà đứng, biển cả cũng phải khô kiệt. 

Đến đây một lúc Tuyết Đậu tụng xong. Rốt sau lại nói: Lão Ô Cữu! Lão Ô Cữu! Bao nhiêu thứ? Hoặc bắt hoặc thả, hoặc giết hoặc cứu, cứu cánh là bao nhiêu thứ? Câu Cho kia chiếc gậy không manh mối, cây gậy này chư Phật ba đời đều dùng, lịch đại Tổ sư cũng dùng, hàng Tông sư cũng dùng, vì người nhổ đinh tháo chốt, mở niêm cởi trói, đâu được xem thường trao cho người. Ý Tuyết Đậu muốn dùng riêng, may gặp vị tăng này khi ấy chỉ cùng kia trải bằng, nếu gặp kẻ khi hạn nổi sấm, xem Sư làm sao chống lại. Ô Cữu trao cán gậy cho người, há chẳng phải rất không manh mối?

Mục Lục