Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 21 - Thiền Tông Trung Hoa 6
Tắc 76 - 100
Đọc tiếp →

TẮC 76

ĐƠN HÀ ĂN CƠM RỒI CHƯA

Lời dẫn: 

Nhỏ như hạt gạo bể, lạnh tợ băng sương, bít lấp càn khôn, lìa sáng dứt tối, chỗ thấp thấp xem đó có dư, chỗ cao cao bình đó chẳng đủ, nắm đứng buông đi, thảy ở nơi đây. Lại có chỗ xuất thân hay không, thử cử xem?

Công án: 

Đơn Hà hỏi tăng: “Từ đâu đến?” Tăng thưa: “Dưới núi đến.” Đơn Hà hỏi: “Ăn cơm rồi chưa?’ Tăng thưa: ‘‘Ăn cơm rồi.” Đơn Hà hỏi: “Người đem cơm cho ông ăn có đủ mắt chăng?” Tăng không đáp được. 

Trường Khánh hỏi Bảo Phước: “Đem cơm cho người ăn có phần đền ơn, vì sao lại chẳng đủ mắt?” Bảo Phước đáp: “Người thí kẻ thọ cả hai đều mù.” Trường Khánh nói: “Tột cơ kia đến, lại thành mù chăng?” Bảo Phước nói: “Bảo ta mù được chăng?’’

Giải thích: 

Thiền sư Thiên Nhiên ở núi Đơn Hà tại Đặng Châu, chẳng biết người xứ nào. Buổi đầu Sư học tập Nho sắp vào Trường An ứng thí, nghỉ ở quán trọ, chợt mộng thấy hào quang trắng đầy nhà. Người bàn mộng nói: “Là điềm hiểu Không.” Gặp một thiền khách hỏi: “Nhân giả đi đâu?’’ Sư đáp: “Đi thi làm quan.” Thiền khách nói: “Thi làm quan đâu bằng thi làm Phật.” Sư hỏi: “Thi Phật phải đến chỗ nào?” Thiền khách nói: “Nay Mã đại sư ở Giang Tây khai đường dạy chúng là trường thi Phật, nhân giả nên đến đó.” Sư liền đi thẳng đến Giang Tây, vừa thấy Mã đại sư, liền lấy hai tay lột cái mũ trên đầu. Mã đại sư nhìn kỹ, nói: “Tôi không phải thầy của ông, hãy sang Nam Nhạc Thạch Đầu đi.” Sư đi thẳng đến Thạch Đầu, lại làm như ý trước. Thạch Đầu bảo: “Xuống nhà trù đi.” Sư lễ tạ, vào nhà cư sĩ theo chúng làm công tác, đến ba năm. 

Một hôm Thạch Đầu bảo chúng: “Sáng mai cắt cỏ trước điện Phật.” Đến hôm sau, đại chúng cầm liềm hái đến trước điện Phật cắt cỏ, riêng Sư múc một thau nước sạch, quỳ gối trước Thạch Đầu. Thạch Đầu thấy thế cười, vì Sư cạo tóc, tiếp nói giới. Sư bịt lỗ tai đi ra. Thẳng đến Giang Tây yết kiến Mã Tổ. Chưa tham lễ, Sư đi thẳng vào Tăng đường leo ngồi trên cổ tượng Thánh tăng. Đại chúng thấy kinh ngạc, chạy báo cho Mã Tổ. Mã Tổ đích thân đến xem, nói: “Con ta Thiên Nhiên.” Sư bước xuống lễ bái thưa: “Tạ Thầy ban pháp hiệu.” Nhân đây gọi là Thiên Nhiên. Cổ nhân Thiên Nhiên chóng thoát như thế, nên nói thi quan không bằng thi Phật. 

Trong Truyền Đăng Lục chép ngữ cú của Sư thật là vách đứng ngàn nhẫn, mỗi câu đều có thủ đoạn vì người nhổ đinh tháo chốt. Giống như hỏi vị tăng này: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Ở dưới núi đến.” Vị tăng này lại chẳng thông chỗ đến, giống như người có mắt khám phá ngược lại chủ nhà. Đương thời, nếu chẳng phải Đơn Hà cũng khó nắm được y. Đơn Hà lại hỏi: ‘‘Ăn cơm chưa?” Ban đầu thảy chưa thấy được, lần thứ hai này khám phá được y. Tăng thưa: “Ăn cơm rồi.” Kẻ mù mịt vốn là chẳng hiểu. Đơn Hà hỏi: “Người đem cơm cho ông ăn có đủ mắt chăng?” Tăng không đáp được. Ý Đơn Hà nói, kẻ vì ông đem cơm kham làm việc gì? Vị tăng này nếu là kẻ khác thử cho Sư một tát xem Sư làm gì? Tuy nhiên như thế, Đơn Hà cũng chưa buông ông. Vị tăng kia con mắt chớp lia không có lời để đáp. 

Bảo Phước, Trường Khánh đồng ở trong hội Tuyết Phong, thường cử công án của cổ nhân để thương lượng. Trường Khánh hỏi Bảo Phước: “Đem cơm cho người ăn là có phần đền ơn, tại sao không đủ mắt?” Không hẳn hỏi hết việc trong công án này, đại cương mượn lời này làm thoại đầu, cần nghiệm chỗ chân thật của kia. Bảo Phước nói: “Người thí kẻ thọ cả hai đều mù.” Thích thay! Đến đây chỉ luận việc đương cơ, trong nhà có con đường xuất thân. Trường Khánh nói: “Người tột cơ kia đến, lại thành mù chăng?’’ Bảo Phước nói: ‘‘Bảo ta mù được sao?’’ Ý Bảo Phước nói ta đủ mắt thế ấy, vì ông nói rồi, lại nói ta mù được chăng? Tuy nhiên như thế, là nửa nhắm nửa mở. Khi ấy nếu là sơn tăng đợi y nói “người tột cơ kia đến, lại thành mù chăng”, chỉ nói với y “mù”. Đáng tiếc Bảo Phước khi ấy nếu hạ được một chữ “mù”, khỏi bị Tuyết Đậu có nhiều thứ sắn bìm. Tuyết Đậu chỉ dùng ý này tụng.

Tụng:

Tận cơ bất thành hạt

Án ngưu đầu khiết thảo

Tứ thất nhị tam chư Tổ sư

Bảo khí trì lai thành quá cữu.

Quá cữu thâm, vô xứ tầm

Thiên thượng nhân gian đồng lục trầm.

Dịch:

Tột cơ chẳng thành mù

Chặn đầu trâu ăn cỏ

Ba mươi ba chư vị Tổ sư

Bảo khí đến giờ thành quấy lỗi.

Quấy lỗi sâu, không chỗ tìm

Trên trời nhân gian đồng ngập chìm.

Giải tụng:

Câu Tột cơ chẳng thành mù, Trường Khánh nói người tột cơ kia đến, lại thành mù chăng? Bảo Phước nói “bảo ta mù được chăng”, giống như chặn đầu trâu ăn cỏ, phải đợi kia tự ăn mới được, sao lại chặn đầu bắt ăn. Tuyết Đậu tụng thế ấy tự nhiên thấy ý Đơn Hà. 

Ba mươi ba chư vị Tổ sư, bảo khí đến giờ thành quấy lỗi, chẳng những chỉ đới lụy Trường Khánh, cho đến Tây thiên hai mươi tám Tổ, Trung Hoa sáu Tổ, đồng thời chôn vùi. Đức Phật Thích-ca bốn mươi chín năm nói một Đại tạng kinh, rốt sau chỉ truyền một bảo khí này. Vĩnh Gia nói: “Chẳng phải tiêu hình việc truyền suông, gậy báu Như Lai còn dấu vết.” Nếu khởi kiến giải của Bảo Phước thì bảo khí giữ đến giờ trọn thành quấy lỗi. 

Quấy lỗi sâu, không chỗ tìm, cái này vì ông nói chẳng được, chỉ tìm chỗ ngồi yên, nhằm trong câu này kiểm điểm xem? Đã là quấy lỗi sâu, tại sao lại không chỗ tìm? Đây không phải lỗi nhỏ, vì đem việc lớn của Tổ sư một lúc ở trên đất bằng làm chìm ngập hết. Vì thế Tuyết Đậu nói Trên trời nhân gian đồng ngập chìm.

TẮC 77

VÂN MÔN BÁNH HỒ

Lời dẫn:

Hướng thượng chuyển thì khả dĩ xỏ lỗ mũi người trong thiên hạ, giống như chim cắt chụp chim cưu. Hướng hạ chuyển thì lỗ mũi mình trong tay người khác, như rùa ẩn trong vỏ. Trong đây nếu có người ra nói: xưa nay không hướng thượng không hướng hạ, dùng chuyển làm gì, chỉ nói với y: Ta cũng biết ông nhằm trong hang quỷ làm kế sống. Hãy nói làm sao biện được trắng đen? Im lặng giây lâu, nói: Có cành vin cành, không cành vin nhánh, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là nói siêu Phật vượt Tổ?” Vân Môn đáp: “Bánh hồ.”

Giải thích: 

Vị tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là câu nói siêu Phật vượt Tổ?” Vân Môn đáp: “Bánh hồ.” Nghe có cảm giác rợn óc lông dựng đứng chăng? Hàng thiền khách hỏi Phật hỏi Tổ, hỏi thiền hỏi đạo, hỏi hướng thượng hướng hạ xong, lại chỗ không thể đặt thành câu hỏi, mà hỏi chuyện siêu Phật vượt Tổ. Vân Môn là tác gia, nước lớn thì thuyền cao, đất nhiều thì Phật lớn, đáp rằng: “Bánh hồ.” Đáng gọi là nói không luống rỗng, công chẳng uổng bày. 

Vân Môn dạy chúng: “Ông chớ khởi liễu, nghe người nói đến ý Tổ sư liền hỏi đạo lý siêu Phật vượt Tổ. Ông hãy nói thế nào là Phật, thế nào là Tổ, rồi sẽ hỏi siêu Phật vượt Tổ. Như hỏi ra khỏi tam giới, ông đem tam giới lại xem? Có cái thấy nghe hiểu biết gì cách ngại được ông? Có thanh sắc Phật pháp gì cho ông nên liễu? Liễu cái bát gì? Do kiến giải gì làm sai thù? Cổ thánh kia có làm gì được ông? Thân đi ngang là vật, nói cả thân toàn chân, mỗi vật thấy thể, không thể được. Tôi nói với ông thẳng đó là việc gì? Sớm đã chôn vùi rồi vậy.” Hiểu được lời này liền biết được bánh hồ. Ngũ Tổ nói: “Phân lừa sánh xạ hương.” Nên nói “Cắt thẳng cội nguồn Phật đã ấn, vạch lá tìm cành tôi chẳng hay.” Đến đây muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi. 

Xem vị tăng này hỏi thế nào là siêu Phật vượt Tổ, Vân Môn nói: Bánh hồ. Lại biết hổ thẹn chăng? Lại hiểu bày vẽ chăng? Có một nhóm người đỗ soạn nói Vân Môn thấy thỏ thả chim ưng, nên nói bánh hồ. Nếu thế ấy đem bánh hồ cho là chỗ thấy siêu Phật vượt Tổ, làm sao có con đường sống? Chớ khởi bánh hồ hội, lại chẳng khởi siêu Phật vượt Tổ hội, mới là con đường sống. Sánh với “ba cân gai”, “biết đánh trống” cùng một loại. Tuy nhiên chỉ nói bánh hồ quả thật khó thấy. Người sau phần nhiều khởi đạo lý nói: Nói thô và lời tế đều về đệ nhất nghĩa. Nếu hiểu thế ấy, hãy đi làm Tọa chủ, một đời gầy dựng được nhiều tri giải. 

Hiện nay thiền khách nói: Khi siêu Phật vượt Tổ thì chư Phật đạp tại gót chân, Tổ sư cũng đạp tại gót chân. Vì thế Vân Môn chỉ nhằm kia nói bánh hồ. Đã là bánh hồ há hiểu siêu Phật vượt Tổ, thử tham kỹ xem? Các nơi tụng rất nhiều, trọn nhằm chỗ hỏi mà tạo ngôn ngữ, duy Tuyết Đậu tụng rất hay, thử cử xem!

Tụng:

Siêu đàm thiền khách vấn thiên đa

Phùng há phi ly kiến dã ma

Hồ bính trúc lai du bất trụ

Chí kim thiên hạ hữu hào ngoa.

Dịch:

Siêu đàm thiền khách hỏi quá nhiều

Kẽ hở rã rời thấy đó chăng

Bánh hồ lấp lại còn không dứt

Đến nay thiên hạ vẫn hào ngoa.

Giải tụng:

Câu Siêu đàm thiền khách hỏi quá nhiều, lời này thiền khách riêng thích hỏi. Đâu chẳng thấy Vân Môn nói: “Quý vị vác ngang cây gậy nói ta tham thiền học đạo, liền tìm đạo lý siêu Phật vượt Tổ. Tôi hỏi ông trong mười hai giờ đi đứng ngồi nằm, đi tiểu đi đại, đến như con trùng trong hầm cỏ, mua bán thịt dê ở ngoài chợ, lại có đạo lý siêu Phật vượt Tổ chăng? Nói được ra đây, nếu không, chớ ngăn ta đi đông đi tây.” Liền xuống tòa. Có người lại chẳng biết tốt xấu, vẽ một vòng tròn, trên đất thêm bùn, thêm gông kẹt cùm. 

Câu Kẽ hở rã rời thấy đó chăng, kia đặt chỗ hỏi có kẽ hở lớn. Vân Môn thấy chỗ hỏi kia rã rời, vì thế đem bánh hồ đắp vá lấp bít chặn đứng. Vị tăng kia vẫn tự chẳng chịu dừng, trở lại hỏi. Thế nên Tuyết Đậu nói Bánh hồ lấp lại còn không dứt, đến nay thiên hạ vẫn hào ngoa. Thiền khách ngày nay chỉ lo ở trên bánh hồ mà hiểu, chẳng thế thì ở chỗ siêu Phật vượt Tổ làm đạo lý. Đã chẳng ở hai đầu này, cứu cánh ở chỗ nào? Ba mươi năm sau, đợi sơn tăng hoán cốt trở lại sẽ nói với ông.

TẮC 78

KHAI SĨ VÀO TẮM

Công án: 

Xưa có mười sáu vị Khai sĩ đến nhà tắm chúng Tăng theo thứ lớp vào tắm, chợt ngộ nhân nước. Chư thiền đức làm sao hiểu? Ngài nói: “Diệu xúc tuyên minh thành Phật tử trụ.” Cũng phải bảy xoi tám phủng mới được.

Giải thích: 

Trên hội Lăng-nghiêm, Bồ-tát Bạt-đà-bà-la cùng mười sáu vị Khai sĩ, mỗi vị tu phạm hạnh, mỗi vị nói nhân sở chứng pháp môn viên thông, đây cũng là một trong số hai mươi lăm môn viên thông. Ngài nhân đến nhà tắm chúng Tăng theo thứ lớp vào tắm, chợt ngộ nhân nước, nói: “Đã chẳng rửa bụi cũng chẳng rửa thân.” Hãy nói rửa cái gì? Nếu hội được, khoảng giữa an nhiên rỗng rang, ngàn người muôn người gần bên chẳng được. Nên nói do không sở đắc là chân Bát-nhã, nếu có sở đắc là tương tợ Bát-nhã. Tổ Đạt-ma bảo Nhị Tổ: “Đem tâm ra, ta vì ông an.” Nhị Tổ thưa: “Tìm tâm trọn chẳng thể được.” Một chút này là tánh mạng căn bản của thiền khách. Lại thảy chẳng cần nhiều thứ sắn bìm, chỉ cần nói nhân nước chợt ngộ, tự nhiên xong xuôi. Đã chẳng rửa bụi cũng chẳng rửa thân, hãy nói ngộ cái gì? Đến loại điền địa này, một điểm cũng dính chẳng được, nói chữ Phật cũng phải kỵ tránh. 

Ngài nói: “Diệu xúc tuyên minh thành Phật tử trụ”, chữ tuyên là hiển, diệu xúc là minh. Đã ngộ diệu xúc thành Phật tử trụ, tức là trụ Phật địa. Như người nay cũng vào nhà tắm cũng rửa nước, cũng xúc thế ấy tại sao chẳng ngộ? Bởi tại trần cảnh che mờ, dính da kẹt xương, vì thế không thể liền tỉnh tỉnh. Nếu nhằm trong này rửa cũng không sở đắc, xúc cũng không sở đắc, nhân nước cũng không sở đắc. Hãy nói là diệu xúc tuyên minh hay chẳng phải diệu xúc tuyên minh? Nếu nhằm trong đây liền đó thấy được, là diệu xúc tuyên minh thành Phật tử trụ. 

Người nay cũng xúc lại thấy chỗ diệu chăng? Diệu xúc phi thường xúc, cùng người xúc hợp thì làm xúc, ly thì phi. Huyền Sa leo núi giập đầu một ngón chân, cho đến gậy của Đức Sơn, há chẳng phải diệu xúc? Tuy nhiên thế ấy, cũng phải bảy xoi tám phủng mới được. Nếu chỉ nhằm trên thân tìm kiếm thì có gì giao thiệp. Nếu ông bảy xoi tám phủng thì đâu cần vào nhà tắm, liền ở trên đầu một mảy lông hiện cõi Bảo Vương, nhằm trong vi trần chuyển đại pháp luân, một chỗ thấu được, ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời thấu. Chớ nên giữ một hang một ổ, tất cả chỗ trọn là cửa Quan Âm nhập lý. 

Cổ nhân cũng có nghe tiếng ngộ đạo, thấy sắc rõ tâm. Nếu một người ngộ là phải, tại sao mười sáu vị Khai sĩ đồng thời ngộ? Thế nên cổ nhân đồng tu đồng chứng đồng ngộ đồng giải. Tuyết Đậu niêm giáo ý kia khiến người đến chỗ diệu xúc ngộ lấy. Tụng ra con mắt giáo lý kia, khiến người thoát khỏi lưới giáo lý che phủ nửa say nửa tỉnh. Cốt cho người liền đó tự tại thong dong.

Tụng:

Liễu sự nạp tăng tiêu nhất cá

Trường liên sàng thượng triển cước ngọa

Mộng trung tằng thuyết ngộ viên thông

Hương thủy tẩy lai mạch diện thóa.

Dịch:

Thiền tăng xong việc cần một cái

Nằm dài trên chõng chân duỗi thẳng

Trong mộng từng nói ngộ viên thông

Hương thủy rửa xong thẳng mặt nhổ.

Giải tụng:

Câu Thiền tăng xong việc cần một cái, hãy nói xong được việc gì? Hàng tác gia thiền khách nghe nhắc đến đứng dậy liền đi, giống như thiền tăng thế ấy chỉ cần được một cái, đâu cần thành đoàn kết nhóm. Câu nằm dài trên chõng chân duỗi thẳng. Cổ nhân nói: “Rõ ràng không pháp ngộ, ngộ xong lại là mê, duỗi thẳng hai chân ngủ, không ngụy cũng không chân.” Vì thế trong ngực không một việc, đói đến ăn cơm, mệt ngủ khò. 

Ý Tuyết Đậu nói, nếu ông nói vào nhà tắm ngộ được diệu xúc tuyên minh, ở trên phần thiền tăng vô sự chỉ giống trong mộng nói mộng. Vì thế nói: Trong mộng từng nói ngộ viên thông, hương thủy rửa xong thẳng mặt nhổ. Giống thế ấy chỉ là nước dơ đổ thẳng trên đầu, nói cái gì là viên thông? Tuyết Đậu nói như hạng người này chính nên nhổ ngay đầu ngay mặt. Sơn tăng nói trên đất thêm bùn thêm một lớp.

TẮC 79

ĐẦU TỬ TẤT CẢ TIẾNG PHẬT

Lời dẫn: 

Đại dụng hiện tiền chẳng còn khuôn phép, bắt sống đem giam chẳng nhọc sức thừa. Hãy nói là người nào từng đến như thế, thử cử xem!

Công án: 

Tăng hỏi Đầu Tử: “Tất cả tiếng là tiếng Phật phải chăng?” Đầu Tử đáp: “Phải.” Tăng thưa: “Hòa thượng chớ cho tiếng hạ phong tiếng khua bát.” Đầu Tử liền đánh. Tăng lại hỏi: “Lời thô và tiếng tế đều về đệ nhất nghĩa phải chăng?’’ Đầu Tử đáp: ‘‘Phải.” Tăng thưa: “Kêu Hòa thượng là con lừa được chăng?” Đầu Tử liền đánh.

Giải thích: 

Đầu Tử chất phác được tài hùng biện siêu quần. Phàm có người hỏi vừa mở miệng liền thấy mật, chẳng phí sức thừa, cắt lưỡi kẻ khác, đáng gọi là ngồi trong phòng kín tính toán quyết thắng ngoài ngàn dặm. Vị tăng này đem kiến giải Phật pháp thanh sắc dán ở trên đầu gặp người liền hỏi. Đầu Tử là hàng tác gia gió đến biện rành. Vị tăng này biết chỗ thật thà của Đầu Tử nên hạ một cái lồng bẫy khiến Đầu Tử vào trong, cho nên có lời sau. Đầu Tử lại sử dụng cái máy gài cọp, câu lời sau của y nói ra. Tăng nhận chỗ đáp kia, liền nói: “Hòa thượng chớ cho tiếng hạ phong tiếng khua bát.” Quả nhiên một phen câu liền mắc, nếu là người khác không làm gì được vị tăng này. Đầu Tử đủ mắt sáng theo sau liền đánh, thủ đoạn nhai chó lợn phải trao lại cho hàng tác gia mới được, xoay bên trái tùy kia lăn trùng trục, xoay bên phải tùy kia lăn trùng trục. Vị tăng này đã tạo cái lồng bẫy muốn đến nhổ râu cọp. Đâu ngờ Đầu Tử đi trên lồng bẫy kia, nên liền đánh. Vị tăng này đáng tiếc có đầu không đuôi. Khi ấy đợi Sư cầm gậy, liền lật ngược giường thiền, dù cho Đầu Tử toàn cơ cũng phải thoái lui ba ngàn dặm. 

Lại hỏi: “Lời thô và tiếng tế đều về đệ nhất nghĩa phải chăng?” Đầu Tử cũng nói phải. Giống hệt câu hỏi trước không khác. Tăng nói: “Kêu Hòa thượng là con lừa được chăng?” Đầu Tử lại đánh. Tuy nhiên vị tăng này tạo sào huyệt quả thật kỳ đặc. Nếu vị trưởng lão ngồi trên giường gỗ là kẻ trên, đảnh môn không mắt cũng khó mà bẻ gãy y. Đầu Tử có chỗ chuyển thân. Vị tăng này đã tạo đạo lý cốt làm đảo lộn giá trị của ngài, cuối cùng như trước chẳng làm gì được lão Đầu Tử. 

Nham Đầu nói: “Nếu luận chiến, mỗi mỗi đứng tại chỗ chuyển.” Đầu Tử phóng đi rất chậm, thâu lại quá nhanh. Khi ấy vị tăng này nếu biết chuyển thân thổ khí, há chẳng làm được cái kẻ miệng như chậu máu. Hàng thiền khách một chẳng làm, hai chẳng thôi. Vị tăng này đã chẳng giỏi nhảy né, lại bị Đầu Tử xỏ lỗ mũi.

Tụng:

Đầu Tử! Đầu Tử!

Cơ luân vô trở

Phóng nhất đắc nhị

Đồng bỉ đồng thử.

Khả lân vô hạn lộng triều nhân

Tất cánh hoàn lạc triều trung tử

Hốt nhiên hoạt

Bách xuyên đảo lưu náo quát quát.

Dịch:

Đầu Tử! Đầu Tử!

Cơ luân không ngại

Buông một được hai

Đồng kia đồng đây.

Đáng thương vô hạn người đùa sóng

Rốt cuộc trong sóng đành chết chìm

Bỗng nhiên sống

Trăm sông chảy ngược tiếng ào ào.

Giải tụng:

Hai câu Đầu Tử! Đầu Tử! Cơ luân không ngại, Đầu Tử bình thường hay nói: “Các ông đều nói Đầu Tử thật thà, bất chợt xuống núi ba bước, có người hỏi thế nào là chỗ thật thà của Đầu Tử, ông phải đáp làm sao?” Cổ nhân nói: “Chỗ cơ luân chuyển, tác giả còn mê.” Sư cơ luân chuyển trùng trục toàn không trở ngại. 

Cho nên Tuyết Đậu nói: Buông một được hai. Như tăng hỏi: Thế nào là Phật? Đầu Tử đáp: Phật. Lại hỏi: Thế nào là đạo? Đầu Tử đáp: Đạo. Lại hỏi: Thế nào là thiền? Đầu Tử đáp: Thiền. Lại hỏi: Khi mặt trăng chưa tròn thì thế nào? Đầu Tử đáp: Nuốt hết ba cái bốn cái. Lại hỏi: Sau khi tròn rồi thì thế nào? Đầu Tử đáp: Mửa ra bảy cái tám cái. Đầu Tử tiếp người thường thường dùng cơ này. Đáp vị tăng ở đây cũng chỉ là một chữ “phải”. Vị tăng này hai lần bị đánh, thế nên Tuyết Đậu nói đồng kia đồng đây. Bốn câu này một lúc tụng Đầu Tử xong. 

Rốt sau tụng vị tăng này, nói: Đáng thương vô hạn người đùa sóng, vị tăng dám giật cờ cướp trống nói “Hòa thượng chớ cho tiếng hạ phong tiếng khua bát”. Lại nói “kêu Hòa thượng là con lừa được chăng”, đây là chỗ đùa sóng. Vị tăng làm hết khả năng, như trước chết trong câu Đầu Tử. Đầu Tử liền đánh. Vị tăng bèn là Rốt cuộc trong sóng đành chết chìm

Tuyết Đậu cứu vị tăng, nói bỗng nhiên sống, liền lật ngược giường thiền, Đầu Tử cũng phải thoái lui ba ngàn dặm. Liền được Trăm sông chảy ngược tiếng ào ào, chẳng những giường thiền chấn động, cho đến núi sông ngập lụt trời đất tối tăm. Nếu là mỗi mỗi đều như thế, sơn tăng phải đánh trống thoái lui, quý vị nhằm chỗ nào an thân lập mạng?

TẮC 80

TRIỆU CHÂU HÀI TỬ MỚI SANH

Công án: 

Tăng hỏi Triệu Châu: “Hài tử mới sanh lại đủ sáu thức hay không?” Triệu Châu đáp: “Trên nước chảy nhanh đánh cầu.” Tăng lại hỏi Đầu Tử: “Trên nước chảy nhanh đánh cầu ý nghĩa thế nào?” Đầu Tử đáp: “Niệm niệm chẳng dừng chảy.”

Giải thích: 

Sáu thức này các nhà kinh điển lập làm gốc chánh, núi sông, đại địa, mặt trời, mặt trăng, sao đều nhân nó mà sanh, đến là dẫn đầu đi là sau cùng. Cổ nhân nói: Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức. Nếu chứng Phật địa chuyển tám thức thành bốn trí, nhà kinh điển gọi là chuyển tên mà chẳng đổi thể. Căn trần thức là ba, tiền trần vốn chẳng biết phân biệt, thắng nghĩa căn hay phát sanh thức, thức hay hiển sắc phân biệt, tức là ý thức thứ sáu. Thức thứ bảy tên mạt-na thức hay gìn giữ tất cả ảnh sự thế gian, khiến người phiền não không được tự do tự tại đều do thức thứ bảy. Thức thứ tám gọi là a-lại-da thức, cũng gọi là Hàm tàng thức, hàm tàng tất cả chủng tử thiện ác. Vị tăng này biết giáo ý nên đem lại hỏi Triệu Châu: “Hài tử mới sanh lại có đủ sáu thức hay không?” 

Hài nhi mới sanh tuy đủ sáu thức, mắt hay thấy tai hay nghe, song chưa từng phân biệt sáu trần, tốt xấu dài ngắn phải quấy được mất, khi ấy nó thảy chẳng biết. Người học đạo cần như anh hài, vinh nhục công danh nghịch tình thuận cảnh trọn động nó không được. Mắt thấy sắc cùng mù đồng, tai nghe tiếng cùng điếc đồng, như ngu như ngốc, tâm nó chẳng động như núi Tu-di. Cái này là chỗ thiền khách chân thật đắc lực. Cổ nhân nói: “Trùm chăn phủ đầu muôn sự thôi, khi này Sơn tăng trọn chẳng hiểu.” Nếu hay như thế mới có ít phần tương ưng. Tuy nhiên như thế, dù cho một điểm cũng chẳng lừa y được, núi như xưa là núi, nước như xưa là nước, không tạo tác không duyên lự. Như mặt trời mặt trăng vận hành trong hư không chẳng từng tạm nghỉ, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu danh tướng. Như trời che khắp, tợ đất chở khắp, vì không tâm nên trưởng dưỡng vạn vật, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu công hạnh. 

Trời đất vì không tâm nên trường cửu, nếu có tâm ắt có chừng hạn. Người đắc đạo cũng lại như thế, ở trong cái không công dụng mà bày công dụng, tất cả điều trái tình thuận cảnh đều dùng từ tâm nhiếp thọ. Đến đây cổ nhân còn tự quở trách nói: “Liễu liễu khi liễu không sở liễu, huyền huyền chỗ huyền còn phải rầy.” Lại nói: “Việc việc thông chừ vật vật sáng, người đạt đạo nghe đó trong tối sợ.” Lại nói: “Vào thánh siêu phàm chẳng tạo thanh, rồng nằm hằng sợ suối trong xanh, người đời nếu được hằng như thế, đại địa đâu hay để một tên.” Song tuy thế ấy, lại phải nhảy ra khỏi sào huyệt mới được. Há chẳng thấy trong kinh nói: “Bồ-tát Bất Động Địa thứ tám lấy trí vô công dụng ở hạt bụi chuyển đại pháp luân, ở trong tất cả thời đi đứng ngồi nằm chẳng nệ được mất, hồn nhiên trôi vào biển Tát-bà-nhã.” Hàng thiền tăng đến đây cũng không thể chấp trước, chỉ tùy thời tự tại, gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm, việc hướng thượng này chấp chữ “định” cũng chẳng được, chấp chữ “bất định” cũng chẳng được. 

Hòa thượng Thiện Đạo ở Thạch Thất dạy chúng: “Ông chẳng thấy tiểu nhi khi ra khỏi thai, đâu từng nói ta biết xem kinh, chính khi ấy cũng chẳng biết có nghĩa Phật tánh, không nghĩa Phật tánh. Đến khi lớn lên học các thứ tri giải, liền nói ta hay ta hiểu, chẳng biết là khách trần phiền não. Trong mười sáu quán hạnh, hạnh anh nhi là hơn hết, khi đa đa hòa hòa là dụ người học đạo lìa tâm phân biệt thủ xả, nên khen ngợi hạnh anh nhi, lấy đó làm ví dụ. Nếu bảo anh nhi là đạo, là người thời nay hiểu lầm.” 

Nam Tuyền nói: “Ta trên mười tám tuổi mới biết tạo kế sống.” Triệu Châu nói: “Ta trên mười tám tuổi mới biết phá nhà tan cửa.” Lại nói: “Ta ở phương nam hai mươi năm trừ hai thời cơm cháo là chỗ tạp dụng tâm.” Tào Sơn hỏi tăng: “Bồ-tát trong định nghe voi lớn qua sông rõ ràng, là xuất phát ở kinh nào?” Tăng thưa: “Kinh Niết-bàn.” Tào Sơn hỏi: “Trước định nghe hay sau định nghe?” Tăng thưa: “Hòa thượng trôi vậy.” Tào Sơn nói: “Dưới bãi tiếp lấy.” Kinh Lăng-nghiêm nói: “Lặng vào hợp lặng là vào bên mé thức.” Kinh Lăng-già nói: “Tướng sanh chấp ngại, tưởng sanh vọng tưởng, lưu chú sanh thì theo vọng lưu chuyển.” Nếu đến địa vô công dụng vẫn còn ở trong tướng lưu chú, phải ra khỏi cái tướng lưu chú sanh thứ ba mới sống vui thích tự tại. Vì thế Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: “Huệ Tịch con thế nào?” Ngưỡng Sơn thưa: “Hòa thượng hỏi kiến giải của con hay hỏi hạnh giải của con? Nếu hỏi hạnh giải của con thì con chẳng biết, nếu hỏi kiến giải như nước trong một bình rót vào trong một bình.” Nếu được như thế mới đáng làm thầy một phương. 

Triệu Châu nói: “Trên nước chảy nhanh đá cầu”, sớm đã lăn trùng trục. Lại khi nhằm trên nước chảy nhanh đánh, con mắt vừa liếc là đã qua. Như kinh Lăng-nghiêm nói: “Như dòng nước chảy nhanh, trông dường như lặng lẽ.” Cổ nhân nói: “Ví như nước chảy nhanh, dòng nước không dừng đứng, mỗi mỗi chẳng biết nhau, các pháp cũng như thế.” Chỗ đáp của Triệu Châu, ý hàm chứa loại này.

Vị tăng kia lại hỏi Đầu Tử: “Trên nước chảy nhanh đá cầu là thế nào?” Đầu Tử đáp: “Niệm niệm chẳng dừng chảy.” Tự nhiên chỗ hỏi kia hợp nhau. Cổ nhân công hạnh miên mật, đáp được chỉ giống một cái, chẳng cần suy tính. Ông vừa hỏi, các ngài đã sớm biết chỗ rơi của ông rồi. Sáu thức của hài nhi tuy nhiên không công dụng, vẫn là niệm niệm chẳng dừng, như dòng nước chảy ngầm. Đầu Tử đáp thế ấy, đáng gọi là biện thấu gió đến. Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Lục thức vô công thân nhất vấn

Tác gia tằng cộng biện lai đoan

Mang mang cấp thủy đả cầu tử

Lạc xứ bất đình thùy giải khan?

Dịch:

Sáu thức không công bày một hỏi

Tác gia từng hợp biện nguyên do

Mênh mông nước chảy đánh cầu ấy

Chỗ rụng chẳng dừng ai biết xem?

Giải tụng:

Câu Sáu thức không công bày một hỏi, cổ nhân học đạo nuôi dưỡng đến chỗ này, gọi là công không công cùng anh nhi một loại. Tuy có mắt tai mũi lưỡi thân ý mà không thể phân biệt sáu trần, bởi không công dụng vậy. Đã đến điền địa này chính là hàng rồng phục cọp, ngồi thoát đứng chết. Người nay chỉ đem muôn cảnh trước mắt một lúc hết sạch, đâu hẳn Bát địa trở lên mới là như thế. Tuy nhiên chỗ không công dụng, như trước núi là núi nước là nước. 

Phần trước Tuyết Đậu tụng “trong sống có mắt lại đồng chết, thuốc kỵ đâu cần xét tác gia”. Bởi vì Triệu Châu, Đầu Tử là tác gia, nên nói: Tác gia từng hợp biện nguyên do, mênh mông nước chảy đánh cầu ấy. Đầu Tử nói: “Niệm niệm chẳng dừng chảy”, các ông lại biết chỗ rơi không? Tuyết Đậu rốt sau bảo người tự để mắt xem, thế nên nói: Chỗ rụng chẳng dừng ai biết xem? Đây là câu sống của Tuyết Đậu, hãy nói rơi ở chỗ nào?

TẮC 81

DƯỢC SƠN HƯƠU TRONG HƯƠU

Lời dẫn:

Cướp cờ giật trống ngàn thánh chẳng cùng, đoạn dứt lầm lẫn muôn cơ chẳng đến, chẳng phải thần thông diệu dụng, cũng chẳng phải bản thể như nhiên. Hãy nói bằng vào cái gì được kỳ đặc thế ấy?

Công án: 

Tăng hỏi Dược Sơn: “Khỏa ruộng cỏ cạn, nai hươu thành bầy, thế nào bắn được hươu trong hươu?” Dược Sơn nói: “Xem tên!” Tăng phóng thân liền nhào. Dược Sơn bảo: “Thị giả lôi gã chết này ra.” Tăng liền chạy. Dược Sơn nói: “Kẻ chơi đất có bao nhiêu hạng.” Tuyết Đậu niêm: “Ba bước tuy sống, năm bước phải chết.”

Giải thích: 

Công án này tông Tào Động gọi là “Tá sự vấn”, cũng gọi là “Biện chủ vấn” dùng để rõ đương cơ. Nai hươu tầm thường thì dễ bắn, chỉ có hươu trong hươu là vua trong loài nai rất là khó bắn. Loại hươu nai này thường đến trên bờ đá mài gạc giống như mũi nhọn rất bén, đem thân giữ gìn bầy nai, cọp cũng chẳng dám đến gần. Vị tăng này cũng giống tỉnh tỉnh, dẫn lại hỏi Dược Sơn để rõ cơ thứ nhất. Dược Sơn nói: “Xem tên!” Hàng tông sư tác gia quả nhiên kỳ đặc như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp. 

Đâu chẳng thấy Tam Bình ban đầu đến tham vấn Thạch Củng. Thạch Củng vừa thấy đến liền làm thế kéo cung, nói: “Xem tên!” Tam Bình vạch ngực nói: “Đây là tên giết người hay tên cứu người?” Thạch Củng khảy dây cung ba cái. Tam Bình liền lễ bái. Thạch Củng nói: “Ba mươi năm một trương cung hai mũi tên, ngày nay chỉ bắn được nửa người thánh.” Liền bẻ gãy cung tên. Sau Tam Bình thuật lại cho Đại Điên nghe. Đại Điên nói: “Đã là tên sống người vì sao nhằm trên dây cung mà biện?” Tam Bình không đáp được. Đại Điên nói: “Ba mươi năm sau cần người cử lời này cũng khó được.” Pháp Đăng có làm bài tụng: “Xưa có thầy Thạch Củng, gác cung tên mà ngồi, như thế ba mươi năm, tri âm không một gã. Tam Bình trúng đích lại, cha con hợp nhau hòa, chín chắn suy nghĩ kỹ, nguyên là y bắn đất.” 

Tác lược Thạch Củng cùng Dược Sơn một loại. Tam Bình trên đảnh môn đủ mắt, nhằm dưới một câu liền trúng đích. Giống như Dược Sơn nói: “Xem tên!” Vị tăng kia liền làm con hươu phóng thân nhào. Vị tăng kia giống tác gia, chỉ là có đầu không đuôi, đã tạo lồng bẫy cốt gài Dược Sơn. Đâu ngờ Dược Sơn là tác gia một bề ép ngặt phải đi. Dược Sơn nói: “Thị giả, lôi gã chết này ra.” Giống như bày trận lại trước. Vị tăng kia liền chạy. Cũng tốt, phải thì phải vẫn là không thảnh thơi, dính chân dính tay. Vì thế Dược Sơn nói: “Kẻ chơi đất có bao nhiêu hạng.” Khi ấy nếu Dược Sơn không có lời nói sau, sẽ muôn đời bị người kiểm điểm. 

Dược Sơn nói xem tên, vị tăng này liền nhào, hãy nói là hiểu hay chẳng hiểu? Nếu là hiểu, tại sao Dược Sơn lại nói kẻ chơi đất? Cái này rất ác. Giống như Tăng hỏi Đức Sơn: “Học nhân nương kiếm Mạc Da muốn lấy đầu Thầy thì thế nào?” Đức Sơn đưa cổ ra nói: “Hè!” Tăng nói: “Đầu Thầy rụng.” Đức Sơn cúi đầu đi về phương trượng. Lại Nham Đầu hỏi tăng: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Tây Kinh đến.” Nham Đầu hỏi: “Sau trận giặc Hoàng Sào từng lượm được kiếm chăng?” Tăng thưa: “Lượm được.” Nham Đầu đưa cổ ra nói: “Hè!” Tăng nói: “Đầu Thầy rụng.” Nham Đầu cười ha hả! Loại công án này trọn là máy gài cọp, chính so với chỗ này giống nhau. Dược Sơn chẳng quản y, chỉ vì biết được phá, nên ép y phải đi. 

Tuyết Đậu nói: “Vị tăng này ba bước tuy sống, năm bước phải chết.” Vị tăng này tuy rất giỏi xem tên, phóng thân nhào. Dược Sơn bảo: “Thị giả, lôi gã chết này ra.” Tăng liền chạy. Tuyết Đậu nói: Chỉ e ngoài ba bước chẳng sống. Khi ấy nếu nhảy ra ngoài năm bước, người trong thiên hạ chẳng làm gì được y. Hàng tác gia gặp nhau, phải là chủ khách trước sau lẫn đổi không cho gián đoạn, mới có phần tự do tự tại. Khi ấy vị tăng này đã không thể trước sau, nên bị Tuyết Đậu kiểm điểm. Phần sau cũng tự dùng lời đó tụng ra.

Tụng:

Chủ trung chủ

Quân khán thủ

Hạ nhất tiễn

Tẩu tam bộ

Ngũ bộ nhược hoạt

Thành quần sấn hổ

Chánh nhãn tùng lai phó lạp nhân.

Dịch:

Hươu trong hươu

Anh xem lấy

Bắn một mũi

Chạy ba bước

Năm bước nếu sống

Thành đoàn đuổi cọp

Chánh nhãn từ đây trao thợ săn.

Tuyết Đậu nói to: Xem tên!

Giải tụng:

Hai câu Hươu trong hươu, anh xem lấy, hàng thiền khách phải đủ con mắt hươu trong hươu, có đầu sừng hươu trong hươu, có cơ quan có tác lược. Dù là gặp cọp có cánh mọc sừng cũng được toàn thân vô hại. Khi ấy vị tăng này phóng thân liền nhào, tự nói tôi là con hươu. 

Bắn một mũi, chạy ba bước. Dược Sơn nói xem tên. Vị tăng liền nhào. Dược Sơn bảo thị giả lôi gã chết này ra. Tăng liền chạy. Cũng rất hay, song chỉ chạy được ba bước. Năm bước nếu sống, thành đoàn đuổi cọp, Tuyết Đậu nói chỉ e năm bước phải chết. Khi ấy nếu nhảy được ngoài năm bước thì sống, liền hay thành đoàn đuổi cọp. Loại hươu trong hươu, gạc nó như cây thương, cọp trông thấy cũng phải sợ mà chạy. Hươu là vua trong bầy nai thường dẫn bầy nai đuổi cọp vào núi khác. 

Phần sau Tuyết Đậu tụng Dược Sơn cũng có chỗ đương cơ xuất thân Chánh nhãn từ đây trao thợ săn. Dược Sơn như thợ săn bắn giỏi, vị tăng kia như con hươu. Khi ấy Tuyết Đậu nhân thượng đường cử lời này, rút gọn thành một câu, nói to: Xem tên! Người ngồi người đứng đồng thời dậy chẳng được.

TẮC 82

ĐẠI LONG PHÁP THÂN KIÊN CỐ

Lời dẫn:

Sợi tơ đầu sào đủ mắt mới thấy, cái cơ cách ngoại hàng tác gia mới biện. Hãy nói thế nào là sợi tơ đầu sào, cái cơ cách ngoại, thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Đại Long: “Sắc thân bại hoại, thế nào là pháp thân kiên cố?” Đại Long đáp: “Hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ chàm.”

Giải thích: 

Việc này nếu nhằm trên ngôn ngữ mà tìm, giống như đưa gậy đập mặt trăng, chẳng dính dáng chút nào. Cổ nhân phân minh, nói: Muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi. Vì sao? Hỏi tại chỗ đáp, đáp tại chỗ hỏi. Vị tăng này gánh một gánh lỗ mãng, đổi một gánh hồ đồ, đặt câu hỏi hư dở chẳng ít. Nếu chẳng phải là Đại Long đâu được che trời che đất. Kia hỏi thế ấy, Đại Long đáp thế ấy, một hợp tướng, lại chẳng dời đổi một mảy tơ. Giống như thấy thỏ thả chim ưng, xem lỗ đặt chốt. Ba thừa mười hai phần giáo lại có thời tiết này chăng? Quả thật kỳ đặc, chỉ là ngôn ngữ vô vị bít lấp miệng người. Thế nên nói: “Một mảnh mây trắng che miệng hang, biết bao chim về quên mất tổ.” Có người nói chỉ là thuận miệng đáp thôi. Nếu hiểu thế đó trọn là kẻ diệt dòng họ Thích. Đâu chẳng biết cổ nhân một cơ một cảnh phá gông đập xiềng, một câu một lời ôm vàng chứa ngọc. Nếu là tròng mắt thiền tăng có khi nắm đứng, có khi buông đi, chiếu dụng đồng thời, nhân cảnh đều đoạt, song phóng song thâu, gặp thời thông biến. Nếu không đại dụng đại cơ, đâu hiểu phủ trời che đất như thế. Giống như gương sáng trên đài Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. 

Công án này cùng “hoa thược lan” một loại, song ý lại chẳng đồng. Chỗ hỏi của vị tăng chẳng rõ, chỗ đáp của Đại Long rất hay. Tăng hỏi Vân Môn: “Khi lá rụng cành khô thì thế nào?” Vân Môn đáp: “Thân bày gió thu.” Đây gọi là hai mũi tên chống nhau. Vị tăng hỏi Đại Long: “Sắc thân bại hoại, thế nào là pháp thân kiên cố?” Đại Long đáp: “Hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ chàm.” Dường thể “anh đến Tây Tần, tôi ở Đông Lỗ”. Kia đã đi thế ấy, tôi chẳng đi thế ấy, cùng với Vân Môn rất trái nhau. Gã kia đi thế ấy là dễ thấy, gã này chẳng đi thế ấy lại khó thấy. Đại Long quả thật ba tấc (lưỡi) rất kín. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Vấn tằng bất tri

Đáp hoàn bất hội

Nguyệt lãnh phong cao

Cổ nham hàn cối.

Kham tiếu lộ phùng đạt đạo nhân

Bất tương ngữ mặc đối

Thủ bả bạch ngọc tiên

Ly châu tận kích toái.

Bất kích toái

Tăng hà lỗi

Quốc hữu hiến chương

Tam thiên điều tội.

Dịch:

Hỏi từng chẳng biết

Đáp lại chẳng thông

Gió cao trăng lạnh

Cây hàn núi xưa.

Cười ngất đường gặp đạt đạo nhân

Chẳng đem nói nín đáp

Tay cầm roi bạch ngọc

Đập tan nát ly châu.

Chẳng đập nát

Thêm tỳ vết

Nước có hiến chương

Ba ngàn điều tội.

Giải tụng:

Tuyết Đậu tụng rất có công phu, ở trước lời tụng Vân Môn nói: Hỏi đã có tông, đáp cũng vẫn đồng.” Ở đây lại chẳng thế, nói: Hỏi từng chẳng biết, đáp lại chẳng thông. Chỗ đáp của Đại Long đứng bên nhìn hẳn là kỳ đặc. Phân minh thì ai hỏi thế ấy, trước khi chưa hỏi sớm đã hỏng rồi. Chỗ đáp của Sư rất mực vừa vặn hợp cơ nghi, nói “hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ chàm”. Hiện nay mọi người các ông làm sao hiểu ý Đại Long? Lời đáp bàng quan thấy thật kỳ đặc. Vì thế, Tuyết Đậu tụng ra khiến người biết, nói Gió cao trăng lạnh lại đụng nhằm Cây hàn núi xưa. Hãy nói ý đó làm sao hiểu? Sở dĩ vừa rồi nói: “Chiếc sáo không lỗ, đánh nhằm phách nỉ.” Chỉ bốn câu này tụng xong vậy. 

Tuyết Đậu lại sợ người khởi đạo lý, lại nói: Cười ngất đường gặp đạt đạo nhân, chẳng đem nói nín đáp. Việc này chẳng phải thấy nghe hiểu biết, cũng chẳng suy nghĩ phân biệt. Vì thế nói: “Rỡ rỡ không gồm kẹt (kiêm đới), dụng riêng nào nương nhờ, trên đường gặp đạt đạo, chớ đem nói nín đáp.” Đây là bài tụng của Hương Nghiêm, Tuyết Đậu dẫn dùng. Tăng hỏi Triệu Châu: “Chẳng đem nói nín đáp, chưa biết đem cái gì đáp?” Châu đáp: “Trình đồ đựng sơn.” Cái này đồng với câu vừa rồi nói, chẳng rơi vào tình trần ý tưởng của ông. Giống như cái gì? Giống Tay cầm roi bạch ngọc, đập tan nát ly châu. Thế nên, Tổ lệnh đương hành mười phương đoạn dứt. Đây là việc trên kiếm bén, phải có tác lược thế ấy. Nếu chẳng thế ấy, đều cô phụ chư thánh từ trước. 

Đến đây cần không có chút xíu việc, tự có chỗ tốt, tức là chỗ hành lý của người hướng thượng. Đã chẳng đập nát ắt thêm tỳ vết, liền thấy lôi thôi. Cứu cánh phải làm sao được? Nước có hiến chương, ba ngàn điều tội. Ngũ hình thuộc ba ngàn, lớn nhất là bất hiếu. Hiến là pháp, chương là điều, ba ngàn điều tội một lúc phạm hết vậy. Cớ sao như thế? Chỉ vì chẳng lấy việc bổn phận tiếp người. Nếu là Đại Long hẳn không thế ấy.

TẮC 83

VÂN MÔN CỔ PHẬT CỘT CÁI

Công án: 

Vân Môn dạy chúng: “Cổ Phật cùng cột cái tương giao là cơ thứ mấy?” Tự đáp: “Núi Nam khởi mây, núi Bắc rơi mưa.”

Giải thích: 

Đại sư Vân Môn xuất phát hơn tám mươi vị thiện tri thức. Sư tịch bảy mươi năm sau, khai tháp thấy thân nghiễm nhiên như xưa. Chỗ thấy của Sư minh bạch cơ cảnh chớp nhoáng. Đại phàm buông lời, nói riêng, nói thay, hẳn là cao vót. Công án này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, quả là thần ra quỷ vào. Tạng chủ Khánh nói: Một đại tạng giáo lại có loại thuyết thoại này chăng? 

Hiện nay người ta phần nhiều nhằm trên tình giải làm kế sống, nói: Phật là bậc Đạo sư của tam giới, là Từ phụ của bốn loài, đã là cổ Phật vì sao lại cùng cột cái tương giao? Nếu hiểu thế ấy, rốt cuộc dò tìm chẳng được. Có người bảo trong cái không nói ra. Đâu chẳng biết bậc tông sư thuyết thoại tuyệt ý thức, tuyệt tình lượng, tuyệt sanh tử, tuyệt pháp trần, vào chánh vị lại chẳng còn một pháp. Ông vừa khởi đạo lý so tính, liền bị trói tay trói chân. Hãy nói cổ nhân kia ý thế nào? Chỉ khiến tâm cảnh nhất như, tốt xấu phải quấy lay động kia chẳng được, nói có cũng được, không cũng được, có cơ cũng được, không cơ cũng được, đến đây nhịp nhịp đều là lệnh. Ngũ Tổ tiên sư nói: “Cả thảy Vân Môn xưa nay mật nhỏ, nếu là sơn tăng chỉ nói với Sư cơ thứ tám.” 

Vân Môn nói: “Cổ Phật cùng cột cái tương giao là cơ thứ mấy?” Trong một chốc bao trùm hết trước mắt. Tăng hỏi: “Chưa biết ý chỉ thế nào?” Vân Môn đáp: “Một sợi dây bán ba mươi xu.” Sư có con mắt định càn khôn. Đã không có người hội, sau lại tự nói thay: “Núi Nam khởi mây, núi Bắc rơi mưa.” Vì kẻ hậu học mở một lối vào. Do đó Tuyết Đậu chỉ niêm Sư chỗ định càn khôn khiến người thấy. Nếu phạm suy tính, bày mũi nhọn ắt đối mặt lầm qua. Chỉ cốt nguyên vẹn tông chỉ Vân Môn và rõ cái cơ cao vót, vì thế tụng ra.

Tụng:

Nam sơn vân

Bắc sơn vũ

Tứ thất nhị tam diện tương đổ

Tân La quốc lý tằng thượng đường

Đại Đường quốc lý vị đả cổ.

Khổ trung lạc

Lạc trung khổ

Thùy đạo huỳnh kim như phấn thổ?

Dịch:

Mây núi nam 

Mưa núi bắc

Ba mươi ba Tổ mặt cùng thấy

Trong nước Tân La từng thượng đường

Trong nước Đại Đường chưa đánh trống.

Vui trong khổ

Khổ trong vui

Ai nói vàng ròng như phân đất?

Giải tụng:

Hai câu Mây núi nam, mưa núi bắc, Tuyết Đậu bán mũ vừa đầu, xem gió mở buồm, nhằm trên kiếm bén vì ông hạ chú cước. Thẳng đến Ba mươi ba Tổ mặt cùng thấy, chớ hiểu lầm. Đây chỉ tụng cổ Phật cùng cột cái tương giao là cơ thứ mấy xong rồi, phần sau mở đường tạo sắn bìm, cần thấy ý Sư Trong nước Tân La từng thượng đường, trong nước Đại Đường chưa đánh trống. 

Tuyết Đậu nhằm chỗ điện bay sao xẹt, liền nói Vui trong khổ, khổ trong vui. Dường như Tuyết Đậu vun một đống thất trân bát bảo ở trong đây rồi. Vì thế rốt sau có một câu nói: Ai nói vàng ròng như phân đất? Câu này là trích trong thi của Thiền Nguyệt bài Hành Lộ Nan, Tuyết Đậu dẫn ra dùng. Thiền Nguyệt nói: 

Núi cao biển sâu người khôn tính, 

Xưa qua nay lại càng xanh biếc, 

Thiển cận nông nổi chớ cùng giao, 

Đất xấu chỉ biết sanh gai góc. 

Ai nói vàng ròng như phân đất. 

Trương Nhĩ, Trần Dư đoạn tin tức. 

Đi đường khó, đi đường khó, 

Anh tự xem. 

Đâu chẳng đất rộng người thưa, Vân Cư La-hán.

TẮC 84

DUY-MA PHÁP MÔN BẤT NHỊ

Lời dẫn: 

Bảo phải phải không chỗ phải, nói quấy quấy không chỗ quấy, phải quấy được mất cả hai quên, sạch trơn trọi hiện bày thong dong. Hãy nói trước mặt sau lưng là cái gì? Có thiền khách ra nói: “Trước mặt là điện Phật, tam môn; sau lưng là nhà nghỉ, phương trượng.” Thử nói người này lại đủ mắt hay không? Nếu biện được người này, hứa ông thân thấy cổ nhân đến.

Công án: 

Duy-ma-cật hỏi Văn-thù-sư-lợi: “Những gì là Bồ-tát vào pháp môn bất nhị?” Văn-thù đáp: “Như ý tôi, đối tất cả pháp không nói không lời, không chỉ không biết, lìa các vấn đáp, ấy là vào pháp môn bất nhị.” Văn-thù-sư-lợi hỏi Duy-ma-cật: “Chúng tôi mỗi người tự nói xong, nhân giả hãy nói những gì là Bồ tát vào pháp môn bất nhị?” Tuyết Đậu nói: Duy-ma-cật nói gì? Lại bảo: Khám phá xong.

Giải thích: 

Khi ngài Duy-ma-cật khiến các vị đại Bồ-tát mỗi vị nói về pháp môn bất nhị, ba mươi hai vị Bồ-tát đều lấy thấy hai là hữu vi vô vi, chân đế tục đế, hợp làm thấy một là pháp môn bất nhị. Sau ngài hỏi Bồ-tát Văn-thù, Văn-thù đáp: Như ý tôi, đối tất cả pháp không nói không lời, không chỉ không biết, lìa các vấn đáp, ấy là pháp môn bất nhị.” Bởi vì ba mươi hai vị dùng lời dẹp lời, ngài Văn-thù dùng không lời dẹp lời, đồng thời quét sạch, thảy chẳng cần, là vào pháp môn bất nhị. Đâu chẳng biết linh quy bảo vệ cái đuôi khỏa dấu thành vết, cũng giống như dùng chổi quét bụi, bụi tuy hết mà vết chổi vẫn còn. Rốt sau vẫn như trước trừ dấu vết. 

Khi ấy Bồ-tát Văn-thù hỏi lại Duy-ma-cật: “Chúng tôi mỗi người tự nói xong, nhân giả hãy tự nói những gì là Bồ-tát vào pháp môn bất nhị?” Duy-ma-cật lặng thinh. Nếu là kẻ sống, trọn chẳng đến trong nước chết mà ngâm. Nếu khởi kiến giải thế ấy, giống như chó điên đuổi bóng. Tuyết Đậu chẳng nói lặng thinh, cũng chẳng nói im lặng giây lâu, chỉ ở chỗ gấp gấp nói. Hỏi “Duy-ma-cật nói cái gì?” Chỉ như Tuyết Đậu nói thế ấy, lại thấy Duy-ma-cật chăng? Mộng hay chưa mộng thấy? 

Duy-ma-cật là vị cổ Phật thời quá khứ, cũng có quyến thuộc, giúp Phật tuyên hóa, đủ biện tài bất khả tư nghì, có cảnh giới bất khả tư nghì, có thần thông diệu dụng bất khả tư nghì. Ở trong cái thất một trượng vuông mà dung ba muôn hai ngàn tòa báu sư tử, cùng tám muôn đại chúng cũng chẳng thấy rộng hẹp. Hãy nói ấy là đạo lý gì? Gọi là thần thông diệu dụng được chăng? Chớ nên hiểu lầm. Nếu là pháp môn bất nhị, đồng đắc đồng chứng mới hay cùng chung chứng biết, chỉ riêng Văn-thù đáng cùng ông đối đáp. Tuy nhiên như thế, lại khỏi bị Tuyết Đậu kiểm trách hay không? 

Tuyết Đậu nói thế ấy, cũng cần cùng hai vị này thấy nhau. Hỏi Duy-ma nói cái gì? Lại nói khám phá xong. Ông hãy nói chỗ nào là chỗ khám phá xong? Chỉ cái này chẳng nệ được mất, chẳng rơi phải quấy, như leo lên bờ cao vạn nhẫn buông bỏ tánh mạng, nhảy qua khỏi, hứa ông thấy Duy-ma-cật. Như bỏ chẳng được, giống như bầy nai chạm bờ rào. Tuyết Đậu cố nhiên là người bỏ được tánh mạng, vì thế tụng ra.

Tụng:

Đốt! Giá Duy-ma lão

Bi sanh không áo não

Ngọa tật Tỳ-da-ly

Toàn thân thái khô cảo.

Thất Phật tổ sư lai

Nhất thất thả tần tảo

Thỉnh vấn bất nhị môn

Đương thời tiện kháo đảo.

Bất kháo đảo

Kim mao sư tử vô xứ thảo.

Dịch:

Ôi! Cái lão Duy-ma

Bi sanh không buồn thảm

Nằm bệnh Tỳ-da-ly

Toàn thân quá gầy ốm.

Thầy của bảy Phật sang

Một thất hằng luôn quét

Thưa hỏi môn chẳng hai

Khi này liền tựa ghế.

Chẳng tựa ghế

Sư tử lông vàng không chỗ tìm.

Giải tụng:

Tuyết Đậu nói Ôi! Cái lão Duy-ma, ở trước hạ một chữ Ôi để làm gì? Lấy bảo kiếm Kim cang vương ngay đầu chặt đứt, phải là sáng đánh ba ngàn chiều đánh tám trăm mới được. Phạn ngữ nói Duy-ma-cật, Trung Hoa dịch Vô Cấu Xưng, cũng gọi Tịnh Danh, là đức Như Lai Kim Túc ở đời quá khứ. Tăng hỏi Hòa thượng Giản ở Vân Cư: “Đã là Như Lai Kim Túc vì sao lại ở trong hội Phật Thích-ca nghe pháp?” Hòa thượng Giản đáp: “Ngài chẳng tranh nhân ngã, người đại giải thoát chẳng nệ thành Phật chẳng thành Phật.” Nếu bảo ngài tu hành mong thành Phật đạo, càng không dính dáng.” 

Như kinh Viên Giác nói: “Lấy tâm luân hồi sanh kiến luân hồi, vào biển đại tịch diệt Như Lai trọn không thể đến.” Vĩnh Gia nói: “Hoặc phải hoặc quấy người chẳng biết, nghịch hạnh thuận hạnh trời khó lường.” Nếu thuận hạnh thì tiến đến quả vị Phật, nếu nghịch hạnh thì vào cảnh giới chúng sanh. Thiền sư Thọ nói: “Dù ông mài luyện đến điền địa này, cũng chưa thỏa mãn ý của ông, đợi chứng thân thánh vô lậu mới nên thuận hạnh nghịch hạnh.” Vì thế Tuyết Đậu nói Bi sanh không buồn thảm. Trong kinh Duy-ma nói: Vì chúng sanh bệnh nên ta cũng bệnh. Buồn thảm thì lòng bi mất vậy. 

Câu Nằm bệnh Tỳ-da-ly, Duy-ma thị hiện bệnh ở thành Tỳ-da-ly. Đời Đường, Vương Huyền Sách đi sứ Tây Vức đến chỗ ngài ở, lấy tay đo bề dọc bề ngang của thất ấy chỉ được mười hốt, do đó gọi là phương trượng. Câu Toàn thân quá gầy ốm, nhân đem thân bệnh rộng vì người nói pháp: “Thân này là vô thường, không mạnh khỏe, không chắc chắn, là pháp chóng hư hoại không thể tin cậy, là khổ não là nhóm họp của các bệnh, cho đến là chỗ chung hợp của ấm giới nhập mà thành.” 

Thầy của bảy Phật sang, Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, vâng lệnh Thế Tôn đến thăm bệnh ông. Một thất hằng luôn quét, trong phương trượng dẹp hết mọi vật, chỉ để lại cái giường, đợi Văn-thù đến thưa hỏi pháp môn bất nhị. Vì thế Tuyết Đậu nói: Thưa hỏi môn chẳng hai, khi này liền tựa ghế. Duy-ma-cật miệng giống như tấm biển. Hiện nay hàng thiền khách tầm thường nói: Không lời là tựa ghế. Chớ nên nhận lầm trái cân bàn (một tiêu chuẩn cố định). 

Tuyết Đậu đẩy đến bờ cao muôn nhẫn, lại nói: Chẳng tựa ghế. Một tay nâng lên một tay đè xuống, Sư có loại thủ đoạn này, quả thật dùng được linh động. Trước bài tụng niêm rằng: “Duy-ma nói gì?” Nay nói: Sư tử lông vàng không chỗ nơi. Chẳng những khi đó, hiện nay cũng thế ấy. Lại thấy lão Duy-ma chăng? Cả thảy núi sông đất liền cỏ cây rừng rú đều biến thành sư tử lông vàng, cũng dò tìm chẳng được.

TẮC 85

AM CHỦ ĐỒNG PHONG LÀM TIẾNG CỌP

Lời dẫn: 

Nắm đứng thế giới chẳng lọt mảy tơ, người cả quả đất quên gươm ngậm miệng, là chánh lệnh của thiền tăng. Đảnh môn phóng quang chiếu phá bốn thiên hạ, là tròng mắt kim cang của thiền tăng. Điểm sắt thành vàng, điểm vàng thành sắt, chợt bắt chợt thả, là cây gậy của thiền tăng. Cắt đứt lưỡi người trong thiên hạ, cho đến không có chỗ nhả hơi, thối lui ba ngàn dặm, là khí vũ của thiền tăng. Hãy nói thảy chẳng thế ấy, cứu cánh là thế nào, thử cử xem?

Công án: 

Tăng đến chỗ Am chủ Đồng Phong liền hỏi: “Trong đây chợt gặp cọp thì làm thế nào?” Am chủ liền làm tiếng cọp rống. Tăng liền làm thế sợ. Am chủ cười hả hả! Tăng nói: “Cái lão giặc.” Am chủ nói: “Làm gì được lão tăng?” Tăng thôi đi. Tuyết Đậu nói: “Phải thì phải, hai lão ác tặc chỉ biết bịt tai trộm linh.”

Giải thích: 

Dưới tông phái Đại Hùng (Bá Trượng) xuất phát bốn vị Am chủ: Đại Mai, Bạch Vân, Hổ Khê, Đồng Phong. Xem hai vị này mắt nhạy tay lanh thế ấy. Hãy nói kỳ quái ở chỗ nào? Cổ nhân một cơ một cảnh, một lời một câu, tuy nhiên xuất phát ở lâm thời. Nếu là nhãn mục toàn chánh tự nhiên sống linh động. Tuyết Đậu niêm khiến người biết tà chánh rành được mất. Tuy nhiên như thế, ở trên phần của người đạt đạo, tuy ở chỗ được mất mà chẳng được mất. Nếu lấy được mất mà xem các ngài thì không dính dáng. Người nay cần phải mỗi mỗi cùng tột chỗ không được mất, nhiên hậu dùng được mất biện người. Nếu một bề lo giản trạch ngôn cú dụng tâm, biết khi nào được xong. 

Đại sư Vân Môn nói: “Kẻ đi hành cước chớ luống dạo châu chơi huyện, muốn được ngôn ngữ rỗng đưa lên đè xuống, đợi Hòa thượng già mở miệng liền hỏi thiền hỏi đạo, hướng thượng hướng hạ, làm sao thế nào, rồi biên chép thành một quyển để trong đãy da, đến bên lò lửa ba người năm người họp đầu thuật lại lăng nhăng, cái này là lời công tài, cái kia là lời tựu thân đả xuất, cái này là lời trên sự, cái kia là lời trong thể. Ông ở nhà cha mẹ ăn cơm xong chỉ nói mộng, nói ta hiểu Phật pháp. Nên biết đi hành cước thế ấy, đến năm lừa mới được thôi dứt.” Cổ nhân trong lúc niêm lộng há có chấp hơn thua được mất phải quấy. 

Đồng Phong yết kiến Lâm Tế rồi, đến núi sâu cất am mà ở. Vị tăng này đến đó liền hỏi: “Trong đây chợt gặp cọp thì làm sao?” Đồng Phong liền làm tiếng cọp rống. Cũng khéo gặp việc liền làm. Vị tăng này cũng biết đem lầm đến lầm, liền làm thế sợ. Am chủ cười ha hả! Tăng nói: “Cái lão giặc.” Đồng Phong nói: “Làm gì được lão tăng?” Phải thì phải, hai người đều chẳng liễu, ngàn xưa về sau bị người kiểm điểm. Vì thế, Tuyết Đậu nói: “Phải thì phải, hai lão ác tặc chỉ biết bịt tai trộm linh.” Hai lão này tuy đều là giặc, đương cơ lại chẳng dùng, vì thế bịt tai trộm linh. Hai lão này như bày trận trăm muôn quân, lại chỉ đánh bằng chổi. Nếu luận việc này phải là kẻ có thủ đoạn giết người không chớp mắt. Nếu một bề thả mà chẳng bắt, một bề giết mà chẳng cứu, đâu khỏi bị người cười chê. Tuy nhiên như thế, cổ nhân kia cũng không có nhiều việc. Xem hai vị thế ấy thảy đều thấy cơ mà làm. Ngũ Tổ nói “Chánh định Thần thông du hý, chánh định Huệ cự, chánh định Trang nghiêm vương”, chính là người sau, gót chân chẳng dính đất. Chỉ kiểm điểm cổ nhân, liền nói có được có mất. Có người nói “Rõ ràng là Am chủ bị thua”, có gì dính dáng. 

Tuyết Đậu nói: “Hai người gặp nhau đều có chỗ phóng qua.” Vị tăng nói: “Trong đây chợt gặp cọp thì làm sao?” Đồng Phong liền làm tiếng cọp rống. Đây là chỗ phóng qua. Cho đến Đồng Phong nói: “Làm gì được lão tăng?” Đây cũng là chỗ phóng qua, rõ ràng rơi vào cơ thứ hai. Tuyết Đậu nói: “Cần dùng liền dùng.” Người nay nghe nói thế ấy, liền nói: “Khi ấy nên cho hành lệnh, chớ nên dùng gông mù gậy đui.” Vào cửa Đức Sơn liền đánh, vào cửa Lâm Tế liền hét, hãy nói ý cổ nhân thế nào? Phần sau Tuyết Đậu chỉ tụng như thế. Hãy nói cứu cánh làm sao khỏi được bịt tai trộm linh.

Tụng:

Kiến chi bất thủ

Tư chi thiên lý

Hảo cá ban ban

Trảo nha vị bị.

Quân bất kiến

Đại Hùng sơn hạ hốt tương phùng

Lạc lạc thanh quang giai chấn địa.

Đại trượng phu kiến dã vô

Thâu hổ vĩ hề loát hổ tu.

Dịch:

Thấy đó chẳng lấy

Nghĩ đó ngàn dặm

Cọp đẹp vện vằn

Nanh vuốt chưa đủ.

Anh chẳng thấy

Dưới núi Đại Hùng bỗng gặp nhau

Rỡ rỡ tiếng vang rền dội đất.

Đại trượng phu thấy hay không

Nắm đuôi cọp chừ nhổ râu cọp.

Giải tụng:

Hai câu Thấy đó chẳng lấy, nghĩ đó ngàn dặm, chính ở chỗ hiểm không thể sử dụng. Đợi kia nói “làm gì được lão tăng”, nên vì bổn phận giải quyết. Khi ấy nếu hạ được thủ đoạn, kia ắt phải có lời sau. Một người chỉ biết phóng chẳng biết thâu, thấy đó chẳng lấy, sớm đã mây trắng muôn dặm, lại nói cái gì là nghĩ đó ngàn dặm. Hai câu Cọp đẹp vện vằn, nanh vuốt chưa đủ, phải thì phải, cọp cũng biết ẩn nanh giấu vuốt, tại sao chẳng biết chụp người? 

Ba câu Anh chẳng thấy, dưới núi Đại Hùng bỗng gặp nhau, rỡ rỡ tiếng vang rền dội đất. Một hôm Bá Trượng hỏi Hoàng Bá: “Ở đâu đến?” Hoàng Bá thưa: “Nhổ nấm dưới núi đến.” Bá Trượng hỏi: “Lại thấy cọp chăng?” Hoàng Bá liền làm tiếng cọp rống. Bá Trượng rút bên hông lấy chiếc búa, làm thế chém. Hoàng Bá ôm chặt liền tát. Đến chiều Bá Trượng thượng đường nói: “Ở dưới núi Đại Hùng có một con cọp, cả thảy các ngươi ra vào cần phải nhìn kỹ, chính lão tăng ngày nay bị nó cắn một cái.” Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: “Thoại đầu con cọp của Hoàng Bá thế nào?” Ngưỡng Sơn thưa: “Tôn ý Hòa thượng thế nào?” Quy Sơn nói: “Khi ấy Bá Trượng nên chặt một búa cho chết, vì sao đến như thế?” Ngưỡng Sơn thưa: “Chẳng phải vậy.” Quy Sơn hỏi: “Con lại thế nào?” Ngưỡng Sơn thưa: “Chẳng những cưỡi đầu cọp, cũng biết nắm đuôi cọp.” Quy Sơn nói: “Tịch con có được câu hiểm hóc.” Tuyết Đậu dẫn dùng để rõ phần trước công án, rỡ rỡ tiếng vang rền dội đất. Cái này có chuyển biến tự tại, cần trong câu có con đường xuất thân. 

Hai câu Đại trượng phu thấy hay không, lại thấy chăng? Nắm đuôi cọp chừ nhổ râu cọp, phải là bổn phận. Mặc ông nắm đuôi cọp, nhổ râu cọp, chưa khỏi một lúc bị xỏ lỗ mũi.

TẮC 86

VÂN MÔN KHO TRÙ, BA CỬA

Lời dẫn: 

Nắm đứng thế giới chẳng lọt mảy tơ, cắt đứt các dòng chẳng còn một giọt, mở miệng liền lầm, suy nghĩ thì sai. Hãy nói thế nào là con mắt thấu quan, thử cử xem?

Công án: 

Vân Môn dạy: “Mỗi người trọn có ánh sáng hiện tại, khi xem thì chẳng thấy tối mù mù. Thế nào là ánh sáng của quý vị?” Tự đáp thay: “Kho trù, ba cửa.” Lại đáp: “Việc tốt chẳng bằng không.”

Giải thích: 

Vân Môn ở trong thất để lời tiếp người: “Cả thảy các ông dưới gót chân mỗi người có một đoạn ánh sáng soi thấu cổ kim, vượt hẳn thấy biết. Tuy nhiên ánh sáng vừa hỏi đến lại chẳng hội, há chẳng phải tối mù mù.” Lời nói này đến hai mươi năm trọn không có người hiểu được ý Sư. Sau Hương Lâm cầu xin đáp thay. Vân Môn đáp: “Kho trù, ba cửa.” Lại đáp: “Việc tốt chẳng bằng không.” Bình thường lời đáp thay chỉ là một câu, tại sao ở đây lại hai câu? Câu trước vì ông mở một con đường cho ông thấy. Nếu là kẻ kia, vừa nghe nói đến liền đứng dậy ra đi. Sư sợ người kẹt ở đây, lại nói “việc tốt chẳng bằng không”. Như trước vì ông quét sạch. 

Người nay vừa nghe nói ánh sáng liền trừng trợn mắt nói: “Cái nào là kho trù, cái nào là ba cửa?’’ Vẫn là không dính dáng. Vì thế nói: “Hiểu lấy ý đầu lưỡi câu, chớ nhận quả cân bàn.” Việc này không ở trên mắt, cũng chẳng ở trên cảnh, cần phải bặt tri kiến, quên được mất, sạch trọi trơn bày lồ lộ. Mỗi mỗi trên phần của người hiện tại nghiên cứu lấy mới được. 

Vân Môn nói: “Trong ngày qua lại, trong ngày biện người, bỗng nhiên giữa đêm không ánh sáng mặt trời, mặt trăng, đèn, chỗ từng đến thì vẫn được, chỗ chưa từng đến lấy một vật, lại lấy được chăng?” Trong Tham Đồng Khế nói: “Chính trong sáng có tối, chớ lấy tối xem nhau, chính trong tối có sáng, chớ lấy sáng gặp nhau.” Nếu đoạn dứt sáng tối, hãy nói là cái gì? Do đó nói: “Tâm hoa phát minh soi sáng cõi nước ở mười phương.” Bàn Sơn nói: “Sáng chẳng soi cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì?” 

Lại nói: “Chính nơi thấy nghe chẳng thấy nghe, không còn thanh sắc đáng trình anh, trong đây nếu liễu toàn vô sự, thể dụng ngại gì phân chẳng phân.” Chỉ hiểu câu rốt sau, đến câu trước dạo chơi, cứu cánh chẳng ở trong ấy làm kế sống. Cổ nhân nói: “Lấy gốc không trụ lập tất cả pháp.” Chẳng được đến đây đùa quang ảnh đùa tinh hồn, lại chẳng được hiểu là vô sự. Cổ nhân nói: “Thà khởi chấp Có bằng núi Tu-di, chẳng nên chấp Không bằng hạt cải.” Hàng Nhị thừa phần nhiều hay rơi vào cái chấp này. Tuyết Đậu tụng. 

Tụng:

Tự chiếu liệt cô minh

Vị quân thông nhất tuyến

Hoa tạ thọ vô ảnh

Khán thời thùy bất kiến.

Kiến bất kiến

Đảo kỵ ngưu hề nhập Phật điện.

Dịch:

Tự chiếu bày sáng côi

Vì anh thông một tuyến

Hoa tàn cây không bóng

Khi xem ai chẳng thấy.

Thấy chẳng thấy

Cưỡi ngược trâu chừ vào điện Phật.

Giải tụng:

Câu Tự chiếu bày sáng côi, dưới gót chân mỗi người sẵn có một đoạn quang minh này, chỉ là bình thường dùng được cái tối. Vì thế, đại sư Vân Môn vì ông bày la liệt quang minh này ở trước mặt ông. “Thế nào là quang minh của các ông? Kho trù, ba cửa”. Đây là chỗ Vân Môn bày cái sáng côi. Bàn Sơn nói: “Trăng tâm riêng tròn, sáng nuốt vạn tượng.” Cái này là chân thường độc lộ. Về sau Vì anh thông một tuyến, cũng sợ người chấp chỗ “kho trù, ba cửa”. Kho trù ba cửa thì hãy vào. 

Buổi sáng hoa đã tàn, cây cũng không bóng, mặt trời lại lặn, mặt trăng lại tối, trọn cả càn khôn đại địa tối mù mịt, các ông lại thấy chăng? Khi xem ai chẳng thấy, hãy nói là ai chẳng thấy? Đến đây phải trong sáng có tối, trong tối có sáng, thảy như bước trước bước sau tự nên thấy. 

Tuyết Đậu nói Thấy chẳng thấy là tụng “việc tốt chẳng bằng không.” Nên thấy lại chẳng thấy, nên sáng lại chẳng sáng. Câu Cưỡi ngược trâu chừ vào điện Phật, vào trong thùng sơn vậy. Phải là ông tự cưỡi trâu vào điện Phật. Xem nói thế ấy là đạo lý gì?

TẮC 87

VÂN MÔN THUỐC BỆNH TRỊ NHAU

Lời dẫn: 

Người mắt sáng không hang ổ, có khi trên đảnh cô phong cỏ rậm rì, có khi ở đầu chợ bày lồ lộ. Bỗng khi phẫn nộ, Na-tra hiện ba đầu sáu tay. Bỗng khi Nhật diện Nguyệt diện Phật, phóng từ quang phổ nhiếp, ở trên hạt bụi hiện tất cả thân, tùy loại người hòa bùn hiệp nước. Bỗng khi vạch ra lối hướng thượng, con mắt Phật cũng nhìn chẳng đến, dù cho ngàn vị thánh ra đời cũng phải thoái lui ba ngàn dặm. Lại có đồng đắc đồng chứng hay không, thử cử xem?

Công án: 

Vân Môn dạy chúng: Thuốc bệnh trị nhau, cả đại địa đều là thuốc, cái gì là chính mình?

Giải thích: 

Vân Môn nói thuốc bệnh trị nhau, cả đại địa đều là thuốc, cái gì là chính mình, các ông lại có chỗ xuất thân chăng? Trong mười hai giờ xem xét lấy, vách đứng ngàn nhẫn. Đức Sơn gậy đánh như mưa rơi, Lâm Tế hét tợ sấm vang, tạm gác lại. Thích-ca tự Thích-ca, Di-lặc tự Di-lặc. Người chưa biết chỗ rơi, thường bảo thuốc bệnh hợp nhau hiểu lấy. Thế Tôn bốn mươi chín năm hơn ba trăm hội, ứng cơ nói giáo đều là hợp bệnh cho thuốc, giống như đem trái đắng đổi thành quả ngọt, gạn lọc nghiệp căn của các ông, khiến sạch trơn thong dong. Cả quả đất là thuốc, ông nhằm chỗ nào cắm mỏ? Nếu cắm được mỏ, cho ông có chỗ chuyển thân nhả hơi, liền diện kiến Vân Môn. Nếu ông ngó ngoái lại trù trừ, hẳn là cắm mỏ chẳng được, Vân Môn ở dưới gót chân của ông. Thuốc bệnh trị nhau, cũng chỉ là lời nói tầm thường. Nếu ông chấp có, vì ông nói không, nếu ông chấp không vì ông nói có, nếu ông chấp chẳng có chấp không vì ông trên đống rác hiện kim thân trượng sáu, vừa hiện vừa mất. Hiện nay cả đại địa sum la vạn tượng cho đến chính mình đồng thời là thuốc, ngay khi đó gọi cái gì là chính mình? Ông một bề gọi là thuốc, đến đức Phật Di-lặc ra đời cũng chưa mộng thấy Vân Môn. Cứu cánh thế nào? Biết lấy ý đầu lưỡi câu, chớ nhận trái cân bàn. 

Bồ-tát Văn-thù một hôm sai Thiện Tài đi hái thuốc, dặn: “Chẳng phải thuốc hái đem về.” Thiện Tài xem khắp đều là thuốc, trở lại bạch: “Cả thảy đều là thuốc.” Văn-thù bảo: “Là thuốc hái đem về.” Thiện Tài bèn cầm một cọng cỏ đưa Văn-thù. Văn-thù đưa lên bảo chúng: “Thuốc này hay giết người cũng hay cứu người.” Câu thuốc bệnh trị nhau này rất khó khán, Vân Môn ở trong thất, bình thường dùng để tiếp người. Trưởng lão Kim Nga một hôm đến phỏng vấn Tuyết Đậu. Sư là hàng tác gia, chính là bậc tôn túc trong tông Lâm Tế. Hai vị luận câu “thuốc bệnh trị nhau” suốt đêm, đến mặt trời lên mới tột lý. Đến đây học hiểu so sánh suy nghĩ thảy sử dụng không đến. Sau Tuyết Đậu có làm tụng tiễn Kim Nga rằng: 

Thuốc bệnh trị nhau thấy gian nan, 

Muôn trùng cửa khóa không mối mang, 

Kim Nga đạo giả sang thăm hỏi, 

Biển học sóng đùa một đêm khan.

Phần sau Tuyết Đậu tụng rất công phu, ý của Sư cũng ở khách, cũng ở chủ, tự khá thấy vậy.

Tụng:

Tận đại địa thị dược

Cổ kim hà thái thác

Bế môn bất tạo xa

Thông đồ tự liêu khoách

Thác! Thác!

Tỹ khổng liêu thiên diệc xuyên khước.

Dịch:

Cả đại địa là thuốc

Xưa nay sao quá lầm

Đóng cửa xe chẳng tạo

Đường thông tự rộng thênh

Lầm! Lầm!

Lỗ mũi thấu trời cũng bị xỏ.

Giải tụng:

Hai câu Cả đại địa là thuốc, xưa nay sao quá lầm, nếu ông gọi là thuốc để hiểu thì tự xưa tự nay một lúc lầm rồi. Tuyết Đậu nói: “Có một nhóm người chẳng biết cắt đứt gót chân Đại Mai, chỉ cần nói đường đi rất nhanh.” Sư đã biết cắt đứt gót chân Vân Môn, vì một câu này của Vân Môn làm mê lầm người chẳng ít. Vân Môn nói: “Cây gậy là sóng, cho ông bảy dọc tám ngang, cả đại địa là sóng, xem ông vừa ra vừa vào.” 

Hai câu Đóng cửa xe chẳng tạo, đường thông tự rộng thênh, Tuyết Đậu nói vì ông thông một con đường. Nếu ông đóng cửa tạo xe, mở cửa ráp bánh, giúp được việc gì? Ta trong đây đóng cửa cũng chẳng tạo xe, mở cửa tự nhiên rộng thênh. 

Sư ở trong đây lược bày chút ít kẽ hở khiến người thấy. Sư lại vội vàng nói Lầm! Lầm! liên tiếp, đầu trước lầm đầu sau cũng lầm. Ai biết Tuyết Đậu mở một con đường cũng lầm. Đã vậy, lỗ mũi thấu trời vì sao lại bị xỏ? Cần hiểu chăng? Hãy tham ba mươi năm. Ông có cây gậy ta cho ông cây gậy, nếu ông không có cây gậy, chẳng khỏi bị người xỏ lỗ mũi.

TẮC 88

HUYỀN SA BA LOẠI NGƯỜI BỆNH

Lời dẫn: 

Môn đình lập bày nên thế ấy phá hai tạo ba, nhập lý thâm đàm cũng phải bảy xoi tám phủng, đương cơ gõ điểm đập nát khóa vàng cổng huyền, cứ lệnh mà hành hẳn được quét sạch dấu vết. Hãy nói lạ lùng ở tại chỗ nào? Người đủ con mắt trên đảnh mời cử xem?

Công án: 

Huyền Sa dạy chúng: “Những bậc lão túc ở các nơi trọn nói tiếp vật lợi sanh, chợt gặp ba loại người bệnh đến làm sao mà tiếp? Người bệnh mù thì đưa chùy, dựng phất tử, họ lại chẳng thấy. Người bệnh điếc thì ngữ ngôn tam-muội, họ lại chẳng nghe. Người bị bệnh câm dạy y nói, lại nói chẳng được. Phải làm sao mà tiếp? Nếu tiếp người này chẳng được thì Phật pháp không linh nghiệm.” 

Tăng đến hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo: “Ông lễ bái đi.” Tăng lễ bái xong đứng dậy. Vân Môn lấy cây gậy chặn. Tăng thoái lui. Vân Môn nói: “Ông không phải bệnh mù.” Lại bảo: “Đến gần đây.” Tăng đến gần, Vân Môn nói: “Ông không phải bệnh điếc.” Vân Môn hỏi: “Hội chăng?” Tăng thưa: “Chẳng hội.” Vân Môn nói: “Ông không phải bệnh câm.” Tăng khi ấy có tỉnh.

Giải thích: 

Huyền Sa tham đến chỗ bặt tình trần ý tưởng lột trần bày lồ lộ, mới biết nói thế ấy. Khi đó các nơi chùa chiền trông nhau, bình thường dạy chúng nói: “Những bậc lão túc ở các nơi trọn nói tiếp vật lợi sanh, chợt gặp ba loại người bệnh đến thì làm sao tiếp? Người bệnh mù thì dựng chùy, đưa phất tử, họ lại chẳng thấy. Người bệnh điếc thì ngữ ngôn tam-muội, họ lại chẳng nghe. Người bệnh câm dạy y nói, lại nói chẳng được. Phải làm sao mà tiếp? Nếu tiếp người này không được thì Phật pháp không linh nghiệm.” Người nay nếu khởi hiểu mù điếc ngọng câm thì dò tìm chẳng đến. Vì thế nói: Chớ nhằm trên câu chết, phải hiểu ý Huyền Sa mới được. 

Huyền Sa thường dùng câu này tiếp người. Có vị tăng đã ở lâu trong hội Huyền Sa, một hôm Huyền Sa thượng đường, ông ra hỏi: “Hòa thượng nói câu ba loại người bệnh, lại cho con nói đạo lý chăng?” Huyền Sa nói: “Cho.” Tăng liền trân trọng đi ra. Huyền Sa nói: “Chẳng phải chẳng phải.” Vị tăng này hiểu được ý Huyền Sa. Về sau Pháp Nhãn nói: “Tôi nghe hòa thượng Địa Tạng thuật lại lời vị tăng này, mới hiểu câu ba loại người bệnh.” Nếu nói vị tăng này chẳng hội, vì sao Pháp Nhãn lại nói thế ấy? Nếu nói ông hội, tại sao Huyền Sa lại nói “chẳng phải chẳng phải”? 

Một hôm, Địa Tạng hỏi: “Con nghe Hòa thượng nói câu ba loại người bệnh phải chăng?” Huyền Sa nói: “Phải.” Địa Tạng hỏi: “Quế Sâm hiện nay có mắt tai mũi lưỡi, Hòa thượng làm sao tiếp?” Huyền Sa liền thôi. Nếu hiểu được ý Huyền Sa, há ở trên ngôn cú, kia hiểu được tự nhiên thù biệt. Sau có vị tăng thuật lại cho Vân Môn. Vân Môn liền hiểu được ý kia nói: “Ông lễ bái đi.” Tăng lễ bái đứng dậy. Vân Môn lấy cây gậy chặn, Tăng thoái lui. Vân Môn nói: “Ông chẳng phải bệnh mù.” Lại bảo: “Đến gần đây.” Tăng đến gần. Vân Môn nói: “Ông không phải bệnh điếc.” Bèn hỏi: “Hiểu chăng?” Tăng thưa: “Chẳng hiểu.” Vân Môn nói: “Ông không phải bệnh câm.” Vị tăng ấy khi đó có tỉnh. Đương thời nếu là kẻ này đợi Sư bảo lễ bái đi, liền lật ngược giường thiền, đâu còn thấy bao nhiêu thứ sắn bìm. Hãy nói chỗ hội của Vân Môn với Huyền Sa là đồng hay khác? Chỗ hội của hai vị đều chỉ là một loại. Xem cổ nhân ra đời tạo ngàn muôn thứ phương tiện, ý ở trên đầu lưỡi câu, cả thảy đắng miệng chỉ dạy khiến các ông mỗi người sáng một việc này. 

Ngũ Tổ lão sư nói: “Một người nói được lại chẳng hội, một người hội lại chẳng nói được, nếu hai người đến tham vấn làm sao biện được họ? Nếu biện hai người này chẳng được, quyết hẳn vì người gỡ niêm mở trói chẳng xong. Nếu biện được, vừa thấy vào cửa, ta liền mang giày cỏ nhằm trong bụng y chạy mấy phen rồi vậy. Vẫn tự chẳng tỉnh, còn tìm cái gì? Đi ra.” Chớ khởi hiểu mù điếc ngọng câm. Không nên so tính thế ấy, sở dĩ nói: Mắt thấy sắc như mù, tai nghe tiếng như điếc. Lại nói: Đầy mắt chẳng xem sắc, đầy tai chẳng nghe tiếng. Văn-thù thường chạm mắt, Quán Âm bít lỗ tai. Đến đây giống hệt mắt thấy như mù, tai nghe như điếc, mới hay cùng ý Huyền Sa không trái nhau. Các ông lại hiểu chỗ rơi của kẻ mù điếc câm chăng? Xem Tuyết Đậu tụng.

Tụng:

Manh lung ám á

Yểu tuyệt cơ nghi

Thiên thượng thiên hạ

Kham tiếu kham bi.

Ly Lâu bất biện chánh sắc

Sư Khoáng khởi thức huyền ty

Tranh như độc tọa hư song hạ

Diệp lạc hoa khai tự hữu thì.

Dịch:

Mù điếc câm ngọng

Vắng bặt cơ nghi

Trên trời dưới trời

Đáng cười đáng thương.

Ly Lâu chẳng biện chánh sắc

Sư Khoáng đâu biết tơ huyền

Đâu bằng ngồi riêng dưới song vắng

Lá rụng hoa nở tự đúng kỳ.

Lại nói: Lại hiểu hay không? Chùy sắt không lỗ.

Giải tụng:

Hai câu Mù điếc câm ngọng, vắng bặt cơ nghi, tột cái ông thấy cùng chẳng thấy, nghe cùng chẳng nghe, nói cùng chẳng nói. Tuyết Đậu một lúc vì ông quét sạch rồi. Cho đến kiến giải mù điếc câm ngọng, cơ nghi so tính đồng thời vắng bặt, thảy dùng chẳng được. Việc hướng thượng này nên nói thật mù thật điếc thật câm, không cơ không nghi. 

Hai câu Trên trời dưới trời, đáng cười đáng thương, là Tuyết Đậu một tay nâng lên một tay đè xuống. Hãy nói cười cái gì? Thương cái gì? Đáng cười là câm lại chẳng câm, điếc lại chẳng điếc. Đáng thương là rõ ràng chẳng mù lại mù, rõ ràng chẳng điếc lại điếc. 

Ly Lâu chẳng biện chánh sắc, là không thể biện xanh vàng đỏ trắng, chính là mù. Ly Lâu là người ở thời Hoàng Đế, con mắt ông rất sáng, ngoài trăm bước hay thấy được vật rất nhỏ bằng sợi tóc. Hoàng Đế đi dạo trên sông Xích Thủy làm rơi một hạt châu, sai Ly Lâu tìm mà chẳng thấy, sai Khiết Cấu tìm cũng chẳng được, sau sai Tượng Võng tìm mới được. Cho nên nói: “Khi Tượng Võng đến quang xán lạn, chỗ Ly Lâu đi sóng ngập trời.” Cái này để trên cao, dù là con mắt Ly Lâu biện chánh sắc của nó cũng không thể được. 

Sư Khoáng đâu biết tơ huyền, đời Châu ở Giáng Châu, con của Tấn Cảnh Công là Sư Khoáng tự là Tử Dã khéo phân biệt ngũ âm lục luật, cách núi mà nghe được bầy kiến cắn lộn. Khi ấy Tấn và Sở tranh nhau, Sư Khoáng chỉ khảy đàn cầm, vừa khảy dây đàn liền biết đánh Sở không thắng. Tuy nhiên như thế, Tuyết Đậu nói: ông còn chưa biết tơ huyền, người chẳng điếc lại là điếc. Cái này tiếng huyền phát từ trên cao, dù là Sư Khoáng cũng không biết được. 

Tuyết Đậu nói: Tôi chẳng làm Ly Lâu cũng chẳng làm Sư Khoáng, đâu bằng ngồi riêng dưới song vắng, lá rụng hoa nở tự đúng kỳ. Nếu đến cảnh giới này, tuy nhiên thấy dường chẳng thấy, nghe tợ chẳng nghe, nói dường chẳng nói, đói thì ăn cơm, mệt thì ngủ khò, mặc tình lá rụng hoa nở. Khi lá rụng là mùa thu, khi hoa nở là mùa xuân, mỗi tự có thời tiết. 

Tuyết Đậu vì ông một lúc quét sạch rồi vậy. Lại phóng một tuyến nói: Lại hiểu hay không? Tuyết Đậu thần nhọc sức mệt, chỉ nói được cái chùy sắt không lỗ. Một câu này để mắt nhìn nhanh mới thấy, nếu suy nghĩ lại vượt qua rồi. 

Sư đưa cây phất tử nói: Lại thấy chăng? Gõ giường thiền một cái nói: Lại nghe chăng? Bước xuống giường thiền nói: Lại nói được chăng?

TẮC 89

VÂN NHAM ĐẠI BI TAY MẮT

Lời dẫn: 

Khắp thân là mắt thấy chẳng đến, khắp thân là tai nghe chẳng kịp, khắp thân là miệng nói chẳng được, khắp thân là tâm soi chẳng ra. Khắp thân tạm gác lại, bỗng dưng không mắt làm sao thấy, không tai làm sao nghe, không miệng làm sao nói, không tâm làm sao soi? Nếu nhằm trong đây vạch ra được một lối đi, liền cùng cổ Phật đồng tham. Tham thì tạm dừng, hãy nói tham cái gì?

Công án: 

Vân Nham hỏi Đạo Ngô: “Bồ-tát Đại Bi dùng tay mắt nhiều để làm gì?” Đạo Ngô nói: “Như người giữa đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.” Vân Nham nói: “Tôi hiểu.” Đạo Ngô hỏi: “Ông hiểu thế nào?” Vân Nham nói: “Toàn thân là tay mắt.” Đạo Ngô nói: “Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần.” Vân Nham hỏi: “Sư huynh thế nào?” Đạo Ngô nói: “Khắp thân là tay mắt.” 

Giải thích: 

Vân Nham, Đạo Ngô đồng tham Dược Sơn bốn mươi năm hông không dính chiếu. Dược Sơn xuất phát một tông Tào Động có ba người khiến pháp đạo thạnh hành. Dưới Vân Nham có Động Sơn, dưới Đạo Ngô có Thạch Sương, dưới Thuyền Tử có Giáp Sơn. Bồ-tát Đại Bi có tám muôn bốn ngàn cánh tay Mẫu-đà-la. Đại Bi có lắm tay mắt, các ông lại có hay không? Bá Trượng nói: “Tất cả ngữ ngôn văn tự thảy đều xoay về chính mình.” 

Vân Nham thường theo Đạo Ngô thưa hỏi giải nghi, một hôm hỏi Đạo Ngô: “Bồ-tát Đại Bi dùng lắm tay mắt để làm gì?” Ngay ban đầu nên vì Sư nhằm xương sống mà đánh, về sau khỏi thấy có nhiều sắn bìm. Đạo Ngô từ bi không thể làm như thế, lại vì Sư nói đạo lý, cốt ý khiến Sư liền hiểu, nói: “Như người giữa đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.” Chính khi đêm khuya không có ánh sáng đèn, lấy tay mò chiếc gối. Hãy nói con mắt ở chỗ nào? Sư liền nói: “Tôi hiểu.” Đạo Ngô hỏi: “Ông hiểu thế nào?” Vân Nham nói: “Toàn thân là tay mắt.” Đạo Ngô bảo: “Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần.” Vân Nham hỏi: “Sư huynh thế nào?” Đạo Ngô nói: “Khắp thân là tay mắt.” Hãy nói khắp thân là phải hay toàn thân là phải? Tuy tợ bùn lầy mà lại thong thả. 

Người nay phần nhiều khởi tình giải nói: “Khắp thân là chẳng phải, toàn thân là phải.” Chỉ thiết nhai ngôn cú của cổ nhân, chết dưới lời nói của cổ nhân. Đâu chẳng biết ý của cổ nhân, ý chẳng ở trên ngôn cú, đây đều là việc bất đắc dĩ mà thôi. Như nay chú thích lập phương thức, nói: Nếu thấu được công án này liền hiểu bãi tham, rồi lấy tay mò khắp thân, mò ngọn đèn cây cột, trọn cho là hiểu được câu toàn thân. Nếu hiểu thế ấy, phá hoại cổ nhân chẳng ít. Vì thế nói: Kia tham câu sống không tham câu chết. Cần phải bặt tình trần ý tưởng, lột trần bày lồ lộ, mới có thể thấy được câu Đại Bi. Đâu chẳng thấy Tào Sơn hỏi tăng: “Khi ứng vật hiện hình như trăng trong nước thì thế nào?” Tăng đáp: “Như lừa nhìn giếng.” Tào Sơn nói: “Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần.” Tăng hỏi: “Hòa thượng lại thế nào?” Tào Sơn đáp: “Như giếng nhìn lừa.” Thế là đồng với ý trên vậy. 

Nếu ông chạy trên lời nói mà thấy, hoàn toàn không thoát khỏi cái lồng bẫy của Đạo Ngô, Vân Nham. Tuyết Đậu là hàng tác gia chẳng nhằm dưới câu chết, mà nhằm trên đầu đi.

Tụng:

Biến thân thị

Thông thân thị

Niêm lai du giảo thập vạn lý

Triển sí Bằng đằng lục hợp vân

Bác phong cổ đãng tứ minh thủy.

Thị hà ai ái hề hốt sanh

Na cá hào ly hề vị chỉ.

Quân bất kiến

Võng châu thùy phạm ảnh trùng trùng

Bổng đầu thủ nhãn tùng hà khởi.

Đốt!

Dịch:

Khắp thân phải

Toàn thân phải

Niêm ra vẫn cách mười muôn dặm

Giương cánh Bằng bay lục hợp che

Cuộn gió dậy sóng nước bốn biển.

Bởi đâu bụi cuốn chừ chợt sanh

Cái gì mảy may chừ chưa dứt.

Anh chẳng thấy

Lưới châu rủ xuống bóng trùng trùng

Đầu gậy mắt tay từ đâu dấy.

Chao!

Giải tụng:

Hai câu Khắp thân phải, toàn thân phải, nếu nói vói tay mò chiếc gối là phải, lấy tay mò thân cũng phải. Nếu khởi kiến giải thế ấy, trọn nhằm trong hang quỷ làm kế sống. Cứu cánh khắp thân, toàn thân đều chẳng phải. Nếu muốn lấy tình thức để thấy câu Đại Bi kia, hẳn là vẫn cách mười muôn dặm. Tuyết Đậu đùa được một câu sống, nói Niêm ra vẫn cách mười muôn dặm. 

Hai câu tụng chỗ kỳ đặc của Vân Nham Đạo Ngô, nói: Giương cánh Bằng bay lục hợp che, cuộn gió dậy sóng nước bốn biển. Chim đại bàng ăn rồng, lấy cánh cuộn gió, sóng nước rẽ ra ba ngàn dặm, liền bắt rồng ăn. Tuyết Đậu nói: Nếu ông như chim đại bàng cuộn gió dậy sóng rất là hùng tráng. Nếu lấy Đại Bi ngàn tay mắt để quán, chỉ là chốc lát bụi bặm chợt dấy, lại một mảy may gió chưa dừng. Tuyết Đậu nói: Nếu ông lấy tay mò thân dùng làm tay mắt, kham dùng vào việc gì? Khi ấy trên câu Đại Bi vẫn là chưa hiểu. Vì thế nói: Bởi đâu bụi cuốn chừ chợt sanh, cái gì mảy may chừ chưa dứt. 

Tuyết Đậu chính là tác gia một lúc quét sạch rồi. Đâu ngờ phần sau, như xưa ló đuôi, nói dẫn dụ, y nguyên vẫn ở trong lồng bẫy. Anh chẳng thấy, lưới châu rủ xuống bóng trùng trùng, Tuyết Đậu dẫn minh châu trong lưới trời Đế-thích để làm phép tắc, hãy nói tay mắt rơi tại chỗ nào? Trong tông Hoa Nghiêm lập bốn pháp giới:

1- Lý pháp giới, để rõ một vị bình đẳng.

2- Sự pháp giới, để rõ toàn lý thành sự.

3- Lý sự vô ngại pháp giới, để rõ lý sự dung nhau lớn nhỏ không ngại.

4- Sự sự vô ngại pháp giới, để rõ một sự khắp nhập tất cả sự, tất cả sự khắp nhiếp tất cả sự, đồng thời xen lẫn không ngại.

Vì thế nói: “Một hạt bụi vừa dấy đại địa toàn thâu, mỗi mỗi hạt bụi gồm vô biên pháp giới, một hạt bụi đã vậy, các hạt bụi cũng vậy.” Lưới châu là trước Thiện Pháp Đường của trời Đế-thích dùng châu ma-ni làm lưới, trong một hạt châu ảnh hiện trăm ngàn hạt châu, trăm ngàn hạt châu đều hiện trong một hạt châu, chiếu xen lớp lớp chủ bạn vô cùng, đây dùng để rõ về sự sự vô ngại pháp giới. Xưa Quốc sư Hiền Thủ lập gương, đèn để dẫn dụ, treo mười tấm gương, ở giữa thắp một ngọn đèn. Nếu nhìn gương phía đông, thì chín tấm gương, gương đèn hiện rõ ràng. Nếu nhìn gương phía nam, thì thấy gương gương đều như thế. Do đó, đức Thế Tôn mới thành chánh giác chẳng rời Bồ-đề đạo tràng mà lên khắp các cõi trời, trời Đao-lợi v.v... cho đến ở tất cả chỗ, bảy chỗ chín hội nói kinh Hoa Nghiêm. 

Tuyết Đậu dùng lưới châu trời Đế-thích chỉ bày sự sự vô ngại pháp giới. Song nghĩa sáu tướng rất là rõ ràng: tức tổng tức biệt, tức đồng tức dị, tức thành tức hoại. Cử một tướng thì sáu tướng đều gồm, chỉ vì chúng sanh hằng dùng trong mỗi ngày mà không biết. 

Tuyết Đậu nêu minh châu lưới trời Đế-thích làm phương thức, để so sánh với câu Đại Bi này. Dù là như thế, nếu ông khéo nhằm trong lưới châu này, rõ được cây gậy thần thông diệu dụng ra vào không ngại, mới đáng thấy được tay mắt. Do đó, Tuyết Đậu nói: Đầu gậy mắt tay từ đâu dấy? Dạy ông đầu gậy chứng lấy, ngay tiếng hét thừa đương. Như Đức Sơn vào cửa liền đánh, hãy nói tay mắt ở chỗ nào? Lâm Tế vào cửa liền hét, hãy nói tay mắt ở chỗ nào? Rốt sau, tại sao Tuyết Đậu lại để một chữ Chao? Tham!

TẮC 90

TRÍ MÔN BÁT-NHÃ THỂ

Lời dẫn: 

Một câu trước tiếng ngàn thánh chẳng truyền, một sợi tơ trước mặt hằng không gián cách. Lột trần bày lồ lộ, đầu tóc rối rũ, tai vảnh ngược. Hãy nói tại sao? Thử cử xem?

Công án: 

Tăng hỏi Trí Môn: “Thế nào là Bát-nhã thể?” Trí Môn đáp: “Con trai ngậm trăng sáng.” Tăng hỏi: “Thế nào là Bát-nhã dụng?” Trí Môn đáp: “Con thỏ mang thai.”

Giải thích: 

Trí Môn đáp: “Con trai ngậm trăng sáng, con thỏ mang thai”, trọn dùng ý Trung thu. Tuy nhiên như thế, cổ nhân ý chẳng ở trên con trai con thỏ. Sư là hàng tôn túc trong tông Vân Môn, một câu nói phải đủ ba câu: Hàm cái càn khôn, Tiệt đoạn chúng lưu, Tùy ba trục lãng, cũng chẳng cần an bài, tự nhiên vừa vặn, liền đến chỗ hiểm. Đáp lời cho vị tăng này lược bày đôi phần mũi nhọn, hẳn là kỳ đặc. Tuy nhiên thế ấy, cổ nhân trọn chẳng chạy đùa quang ảnh, chỉ vì ông chỉ đầu đường khiến ông thấy. 

Vị tăng hỏi: “Thế nào là Bát-nhã thể?” Trí Môn đáp: “Con trai ngậm trăng sáng.” Sông Hán sản xuất con trai, trong con trai có hạt châu sáng, đến Trung thu mặt trăng hiện, con trai nổi trên mặt nước hả miệng ra ngậm ánh sáng mặt trăng, cảm mà sanh ra châu, tức là châu Hợp Phố. Nếu Trung thu trăng sáng thì châu nhiều, trăng tối thì châu ít. 

Tăng hỏi: “Thế nào là Bát-nhã dụng?” Trí Môn đáp: “Con thỏ mang thai.” Ý này cũng không khác, con thỏ thuộc âm, Trung thu mặt trăng mọc, nó hả miệng nuốt ánh sáng mặt trăng liền thọ thai, trong miệng sanh ra con, cũng trăng sáng thì sanh nhiều, trăng tối thì sanh ít. 

Chỗ đáp của cổ nhân không có nhiều việc, chỉ mượn ý kia để đáp ánh sáng của Bát-nhã. Tuy nhiên thế ấy, ý chẳng phải ở trên ngôn cú, tự là người sau chạy trên ngôn cú tìm kế sống. Bàn Sơn nói: “Tâm nguyệt riêng tròn, sáng trùm muôn tượng, sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì?” Người nay chỉ trừng mắt gọi là sáng, đi trên tình giải, trong không mà đóng đinh. Cổ nhân nói: “Cả thảy các ông ở cửa sáu căn ngày đêm phóng đại quang minh, chiếu phá núi sông đại địa. Không những chỉ nhãn căn phóng quang, tỹ thiệt thân ý đều phóng quang.” Đến đây phải nhồi đập sáu căn không còn một việc, lột trần bày lồ lộ, mới thấy được chỗ rơi của câu này. Tuyết Đậu chính thế ấy tụng ra.

Tụng:

Nhất phiến hư ngưng tuyệt vị tình

Nhân thiên tùng thử kiến Không Sanh

Bạng hàm huyền thố thâm thâm ý

Tằng dữ thiền gia tác chiến tranh.

Dịch:

Một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn

Người trời từ đó thấy Không Sanh

Trai ngậm thỏ huyền thâm ý tuyệt

Từng cùng thiền giả khởi chiến tranh.

Giải tụng:

Một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn, một câu này Tuyết Đậu tụng rất hay, tự nhiên thấy được ý cổ nhân. Sáu căn lặng lẽ ấy là gì? Chỉ một mảnh hư minh ngưng tịch chẳng cần chạy trên trời tìm, chẳng thiết đến người khác mà cầu, tự nhiên thường quang hiện tiền, chỗ ấy vách đứng ngàn nhẫn. Tuyệt vị tình tức là dứt bặt ngôn ngữ tình trần. Bài tụng tánh Viên Thành Thật của Pháp Nhãn nói: “Lý cực vong tình vị, như hà đắc dụ tề, đáo đầu sương dạ nguyệt, nhậm vận lạc tiền khê, quả thục kiêm viên trọng, sơn dao tự lộ mê, cử đầu tàn chiếu tại, nguyên thị trụ cư tê (tây).” (Lý tột quên bàn nghĩ, làm sao có dụ bằng, rốt cùng trăng đêm sương, hồn nhiên rơi khe trước, trái chín vượn cùng quý, núi xa dường quên đường, ngưỡng đầu ánh sáng nhạt, vốn là ở phương Tây.) Vì thế nói: “Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ ví như vết trên gương, nhơ nhớp hết rồi sáng mới hiện, tâm pháp đều quên tánh liền chân.” Lại nói: “Ba gian nhà cỏ từ xưa ở, một vạch thần quang muôn cảnh nhàn, chớ đem phải quấy đến ta biện, sống tạm bàn quanh chẳng dính gì.” Chỉ một bài tụng này cũng thấy Một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn. 

Người trời từ đó thấy Không Sanh, ngài Tu-bồ-đề ngồi yên lặng trong núi, chư thiên mưa hoa tán thán. Tôn giả hỏi: “Trong không mưa hoa tán thán đó là ai?” Chư thiên đáp: “Tôi là Phạm thiên.” Tôn giả hỏi: “Tại sao ông tán thán?” Chư thiên đáp: “Tôi trọng Tôn giả khéo nói Bát-nhã Ba-la-mật-đa.” Tôn giả bảo: “Tôi đối với Bát-nhã chưa từng nói một chữ, ông vì sao lại tán thán?” Chư thiên đáp: “Tôn giả không nói, tôi cũng không nghe, không nói không nghe là chân Bát-nhã.” Lại rải hoa khắp nơi. Xem ngài Tu-bồ-đề khéo nói Bát-nhã, mà chẳng nói thể dụng. Nếu nơi đây thấy được, có thể thấy Trí Môn nói: “Trai ngậm trăng sáng, thỏ mang thai.” 

Cổ nhân ý tuy chẳng ở trên ngôn cú, mà chỗ đáp vẫn có ý thâm sâu, gợi cho Tuyết Đậu nói: Trai ngậm thỏ huyền thâm ý tuyệt. Đến đây Từng cùng thiền giả khởi chiến tranh. Những kẻ học thiền thiển cận thương lượng lăng xăng, mà chưa có một người mộng thấy. Nếu muốn cùng Trí Môn, Tuyết Đậu đồng tham, phải chính mình để mắt mới được. 

TẮC 91

DIÊM QUAN CÂY QUẠT TÊ NGƯU

Lời dẫn: 

Vượt tình lìa kiến mở trói gỡ niêm, dựng dậy tông thừa hướng thượng, đỡ đứng chánh pháp nhãn tạng, phải là mười phương đồng ứng, tám mặt linh lung, thẳng đến điền địa ấy. Hãy nói lại có đồng đắc đồng chứng, đồng tử đồng sanh hay không, thử cử xem?

Công án: 

Một hôm, Diêm Quan gọi thị giả: “Đem cây quạt tê ngưu lại cho ta.” Thị giả thưa: “Cây quạt rách rồi.” Diêm Quan bảo: “Cây quạt đã rách trả con tê ngưu cho ta.” Thị giả không đáp được. 

 

Đầu Tử nói: “Chẳng từ đem ra, ngại đầu sừng chẳng đủ.” Tuyết Đậu niêm: “Ta cần cái đầu sừng chẳng đủ.” Thạch Sương nói: “Nếu trả Hòa thượng thì không vậy.” Tuyết Đậu niêm: “Con tê ngưu vẫn còn.” Tư Phước vẽ một vòng tròn, ở trong vẽ một chữ ngưu. Tuyết Đậu niêm: “Vừa rồi vì sao chẳng đem ra?” Bảo Phước nói: “Hòa thượng tuổi cao, riêng mời người thì tốt.” Tuyết Đậu niêm: “Đáng tiếc nhọc mà không công.”

Giải thích: 

Một hôm Diêm Quan gọi thị giả: “Đem cây quạt tê ngưu lại cho ta.” Việc này tuy chẳng ở trên ngôn cú, song cần nghiệm tác lược ý khí bình sinh của người, lại cần mượn lời như thế để hiển bày. Đến ngày ba mươi tháng chạp vẫn được đắc lực làm chủ, muôn cảnh đầy dẫy trông thấy mà chẳng động, đáng gọi công mà vô công, lực mà vô lực. 

Diêm Quan là thiền sư Tề An. Thời xưa lấy sừng con tê ngưu làm quạt. Khi ấy Diêm Quan há chẳng biết cây quạt tê ngưu đã rách, mà cố hỏi thị giả. Thị giả thưa: “Cây quạt tê ngưu đã rách.” Xem cổ nhân trong mười hai giờ thường ở trong ấy sờ đến chạm đến. Diêm Quan bảo: “Cây quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta.” Hãy nói Sư cần con tê ngưu làm gì? Chỉ cần nghiệm người biết được chỗ rơi hay không. 

Đầu Tử đáp: “Chẳng từ đem ra, ngại đầu sừng chẳng đủ.” Tuyết Đậu nói: “Ta cần cái đầu sừng chẳng đủ.” Cũng là nhằm dưới câu liền đầu cơ. Thạch Sương nói: “Nếu trả Hòa thượng thì không vậy.” Tuyết Đậu nói: “Con tê ngưu vẫn còn.” Tư Phước vẽ một vòng tròn, ở trong vẽ một chữ ngưu. Vì Sư kế thừa Ngưỡng Sơn nên bình sinh thích lấy cảnh tiếp người để rõ việc này. Tuyết Đậu nói: “Vừa rồi vì sao chẳng đem ra?” Lại xỏ lỗ mũi kia vậy. 

Bảo Phước nói: “Hòa thượng tuổi cao riêng mời thì tốt.” Lời này nói được ổn đáng. Ba câu trước dễ thấy, một câu này có ý xa xôi. Tuyết Đậu cũng đã phá xong. Sơn tăng khi xưa ở chỗ Tạng chủ Khánh lý hội, nói: “Hòa thượng tuổi cao già nua, được đầu quên đuôi, vừa rồi đòi cây quạt, giờ đây lại đòi con tê ngưu, khó vì hầu hạ, cho nên nói riêng mời người khác thì tốt.” 

Tuyết Đậu nói: “Đáng tiếc nhọc mà không công.” Đây đều là cách thức hạ ngữ. Cổ nhân thấy tột việc này, mỗi mỗi tuy chẳng đồng, mà nói ra đều trăm phát trăm trúng, cần có con đường xuất thân, mỗi câu chẳng mất huyết mạch. Người nay bị hỏi đến, chỉ cần tạo đạo lý suy gẫm. Vì thế trong mười hai giờ cần người gặm nhấm, dạy một giọt cô đọng một giọt, cần chỗ chứng ngộ. Xem Tuyết Đậu tụng nhất quán.

Tụng:

Tê ngưu phiến tử dụng đa thì

Vấn trước nguyên lai tổng bất tri

Vô hạn thanh phong dữ đầu giác

Tận đồng vân vũ khứ nan truy.

Dịch:

Cây quạt tê ngưu dụng đã lâu

Hỏi đến té ra thảy không hay 

Đầu sừng với gió lành vô hạn 

Trọn đồng vân vũ đi khó tìm.

Tuyết Đậu lại nói: Nếu cần gió mát trở lại, đầu sừng sanh ra, thỉnh thiền khách mỗi người hạ một chuyển ngữ. Hỏi rằng: Cây quạt đã rách trả con tê ngưu lại cho ta? Có vị tăng ra thưa: Đại chúng đến nhà tham thiền đi. Tuyết Đậu hét, nói: Thả câu cá kình mà câu được con ếch. Liền xuống tòa.

Giải tụng:

Hai câu Cây quạt tê ngưu dụng đã lâu, hỏi đến té ra thảy không hay, mỗi người sẵn có cây quạt tê ngưu, trong mười hai giờ toàn nhờ sức của nó, vì sao hỏi đến thảy không biết? Thị giả, Đầu Tử cho đến Bảo Phước cũng chẳng biết. Hãy nói Tuyết Đậu lại biết chăng? 

Đâu chẳng thấy Vô Trước đến tham vấn Văn-thù, khi uống trà Văn-thù đưa cái chung pha lê lên hỏi: “Phương nam lại có cái này chăng?” Vô Trước thưa: “Không.” Văn-thù hỏi: “Bình thường dùng cái gì uống trà?” Vô Trước không đáp được. Nếu biết được chỗ rơi của công án này, thì biết được cây quạt tê ngưu có vô hạn thanh phong, cũng thấy được đầu sừng con tê ngưu sừng sững. Bốn vị trưởng lão nói thế ấy, như sáng mây chiều mưa, một phen đi thật khó tìm

Tuyết Đậu lại nói: Nếu cần gió mát trở lại, đầu sừng sanh ra, thỉnh thiền khách mỗi người hạ một chuyển ngữ. Hỏi: Cây quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta? Có một thiền khách đáp: Đại chúng đến nhà tham thiền đi. 

Vị tăng này đoạt được quyền bính của chủ nhà, nói đến tột chỉ nói được tám phần. Nếu cần mười phần, liền lật ngược giường thiền. Ông hãy nói, vị tăng này hiểu con tê ngưu hay chẳng hiểu? Nếu chẳng hiểu sao lại biết nói thế ấy? Nếu hiểu, tại sao Tuyết Đậu chẳng chấp nhận y? Vì sao nói: thả câu cá kình mà câu được con ếch? Hãy nói cứu cánh thế nào? Quý vị vô sự thử nêu lên xem?

TẮC 92

THẾ TÔN ĐĂNG TÒA

Lời dẫn: 

Nhạc điệu bản hay ngàn năm khó gặp, thấy thỏ thả chim ưng một lúc thật tài, gom tất cả ngữ ngôn làm một câu, góp đại thiên sa giới làm một hạt bụi, đồng chết đồng sống, bảy xoi tám phủng, lại có người chứng cứ hay chăng, thử cử xem?

Công án: 

Một hôm Thế Tôn đăng tòa, Văn-thù bạch chùy rằng: Quán kỹ pháp đấng Pháp vương, pháp đấng Pháp vương như thế.

Giải thích: 

Trước khi Thế Tôn đưa cành hoa, sớm đã có tin tức này. Buổi đầu từ vườn Lộc Uyển, sau cùng đến sông Bạt-đề, đâu từng dùng đến cây bảo kiếm Kim cang vương. Trong chúng khi đó, nếu có người có hơi hám thiền tăng nhận ra được, mới khỏi sau này ngài đưa cành hoa khiến một trường rối bời. Thế Tôn trong khoảng im lặng bị Văn-thù đẩy một cái, liền xuống tòa. Khi ấy cũng có tin tức này. Đức Thích-ca đóng cửa thất, ngài Tịnh Danh ngậm miệng, đều giống cái này, đã nói xong vậy. Như câu vua Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung về tháp Vô Phùng. Như lời ngoại đạo hỏi Phật, chẳng hỏi có lời chẳng hỏi không lời. Xem hành lý của người hướng thượng đâu từng vào hang quỷ làm kế sống. Có người nói ý ở chỗ làm thinh. Có người nói ở chỗ im lặng giây lâu. Dùng có lời để rõ việc không lời, không lời để rõ việc có lời. Vĩnh Gia nói: “Khi im lặng nói, khi nói im lặng.” Thảy hiểu thế ấy thì ba đời sáu mươi kiếp cũng chưa mộng thấy. Nếu ông thẳng đó thừa đương được, chẳng thấy có phàm có thánh, pháp ấy bình đẳng không có cao thấp, mỗi ngày cùng chư Phật ba đời nắm tay đồng đi. 

Phần sau, xem Tuyết Đậu tự nhiên thấy được tụng ra.

Tụng:

Liệt thánh tùng trung tác giả tri

Pháp vương pháp lệnh bất như tư

Hội trung nhược hữu Tiên-đà khách

Hà tất Văn-thù hạ nhất chùy.

Dịch:

Liệt thánh tùng lâm tác giả tri

Pháp vương pháp lệnh chẳng như đây

Hội này nếu có Tiên-đà khách

Nào thiết Văn-thù hạ một chùy.

Giải tụng:

Câu Liệt Thánh tùng lâm tác giả tri, trong hội Linh Sơn tám muôn đại chúng đều là liệt thánh, Văn-thù, Phổ Hiền cho đến Di-lặc, chủ bạn đồng hội, phải là khéo trong khéo, kỳ trong kỳ, mới biết chỗ rơi kia. Ý Tuyết Đậu nói liệt thánh trong tùng lâm không một người “tri hữu”. Nếu có bậc tác gia mới biết chẳng thế ấy. Cớ sao? 

Văn-thù bạch chùy: “Quán kỹ pháp đấng Pháp vương, pháp đấng Pháp vương như thế.” Tuyết Đậu nói Pháp vương pháp lệnh chẳng như đây. Cớ sao như thế? Trong hội khi ấy, nếu có người đảnh môn đủ mắt, trong tay có linh phù, nhằm trước khi Thế Tôn đăng tòa xem được phá, đâu cần Văn-thù bạch chùy. 

Kinh Niết-bàn nói: Tiên-đà-bà một tên có bốn nghĩa: 1- Là muối, 2- Là nước, 3- Là đồ dùng, 4- Là ngựa. Có vị quan thông minh khéo hiểu bốn nghĩa, nếu vua cần rửa tay gọi tiên-đà-bà liền dâng nước, khi ăn gọi tiên-đà-bà thì dâng muối, ăn xong gọi tiên-đà-bà thì dâng đồ dùng uống nước, muốn đi gọi tiên-đà-bà thì dâng ngựa. Tùy ý ứng dụng không sai chạy. Hẳn thế, phải là người lanh lợi mới được. 

Như tăng hỏi Hương Nghiêm: “Thế nào là vua đòi tiên-đà-bà?” Hương Nghiêm đáp: “Qua bên này đi.” Tăng qua bên này, Hương Nghiêm nói: “Ngu chết người.” Tăng lại hỏi Triệu Châu: “Thế nào là vua đòi tiên-đà-bà?” Triệu Châu bước xuống giường thiền cúi đầu khoanh tay. Khi ấy nếu có kẻ Tiên-đà-bà, trước khi Thế Tôn đăng tòa thấu được, vẫn còn được đôi chút. Thế Tôn lại đăng tòa, liền xuống tòa, đã là chẳng tiện rồi vậy. Đâu kham Văn-thù lại bạch chùy, hẳn là làm mờ đường lối đề xướng của Thế Tôn. Hãy nói thế nào là chỗ làm mờ?

TẮC 93

ĐẠI QUANG ĐÂY LÀ DÃ HỒ TINH

Công án: 

Tăng hỏi Đại Quang: “Trường Khánh nói nhân trai khánh tán, ý chỉ thế nào?” Đại Quang liền múa. Tăng lễ bái. Đại Quang bảo: “Thấy cái gì liền lễ bái?” Tăng liền múa. Đại Quang nói: “Đây là dã hồ tinh.”

Giải thích: 

Hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ, sáu vị Tổ ở Trung Hoa chỉ truyền cái này. Các ông lại biết chỗ rơi chăng? Nếu biết, khỏi được lỗi này. Nếu chẳng biết, như xưa chỉ là dã hồ tinh. Có người nói: Là kéo lỗ mũi kia, đến gạt người. Nếu thật thế ấy, thành đạo lý gì? 

Đại Quang thật khéo vì người, trong câu có con đường xuất thân, là bậc tông sư phải vì người nhổ đinh tháo chốt, gỡ niêm cởi trói, mới gọi là thiện tri thức. Đại Quang liền múa, vị tăng lễ bái, rốt sau tăng liền múa, Đại Quang nói đây là dã hồ tinh. Chẳng phải chuyển vị tăng, cứu cánh chẳng biết đúng đích. Ông chỉ biết liền múa đổi thay nhau thế ấy, đến bao giờ được thôi dứt. Đại Quang nói: “Đây là dã hồ tinh.” Câu này cắt đứt Kim Ngưu, thật là kỳ đặc. Vì thế nói: Kia tham câu sống, chẳng tham câu chết. Tuyết Đậu chỉ thích Sư nói “đây là dã hồ tinh”, do đó tụng ra. Hãy nói “đây là dã hồ tinh” cùng “Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc” là đồng là khác. Lại biết chăng? Với “thùng sơn”, “Sư tăng tốt” là đồng hay khác? Chỗ chạm gặp y, Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Tiền tiễn du khinh hậu tiễn thâm

Thùy vân hoàng diệp thị huỳnh kim

Tào Khê ba lãng như tương tự

Vô hạn bình nhân bị lục trầm.

Dịch:

Tên trước còn nhẹ tên sau sâu

Ai rằng lá úa ấy vàng ròng

Tào Khê dậy sóng dường tương tợ

Vô hạn người thường bị đắm chìm.

Giải tụng:

Câu Tên trước còn nhẹ tên sau sâu, Đại Quang liền múa là tên trước, lại nói đây là dã hồ tinh là mũi tên sau. Đây là nanh vuốt từ trước đến giờ. 

Câu Ai rằng lá úa ấy vàng ròng, Ngưỡng Sơn dạy chúng nói: “Cả thảy các ông mỗi người tự hồi quang phản chiếu, chớ nhớ lời tôi. Các ông từ vô thủy đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng sâu dày, rất khó nhổ nhanh. Vì thế, tạm bày phương tiện cướp thô thức của ông, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, giống như đem quả ngọt đổi lấy trái đắng.” Cổ nhân quyền bày phương tiện vì người, đến khi hết khóc thì lá vàng chẳng phải lá vàng. Thế Tôn nói pháp một đời cũng chỉ là nói để dỗ nín khóc. Câu “đây là dã hồ tinh”, chỉ cần đổi nghiệp thức cho kia. Ở trong cũng có quyền thật, chiếu dụng, mới thấy lỗ mũi thiền tăng. Nếu hiểu được, như cọp chắp cánh. 

Câu Tào Khê dậy sóng dường tương tợ, bỗng chợt bốn phương tám hướng học giả chỉ quản liền múa như thế. Một bề thế ấy thì Vô hạn người thường bị đắm chìm, có chỗ nào mà cứu được?

TẮC 94

LĂNG-NGHIÊM CHẲNG THẤY

Lời dẫn: 

Trước tiếng một câu ngàn thánh chẳng truyền, trước mặt một sợi tơ hằng không gián cách, lột trần bày lồ lộ, trâu trắng phơi bày, trợn mắt, vểnh tai. Sư tử lông vàng gác lại, hãy nói thế nào là trâu trắng phơi bày?

Công án: 

Kinh Lăng-nghiêm nói: “Khi ta chẳng thấy, sao chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng phải ông?”

Giải thích: 

Kinh Lăng-nghiêm nói: “Khi ta chẳng thấy, sao chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng phải ông?” Tuyết Đậu đến đây dẫn văn kinh mà dẫn chẳng hết. Dẫn hết thì có thể thấy. Kinh nói: “Nếu cái thấy là vật, thì ông cũng thấy được cái thấy của ta. Nếu đồng thấy gọi là thấy cái thấy của ta. Khi ta chẳng thấy, sao chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta? Nếu thấy cái chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng phải ông?” 

Vì lời nhiều chẳng chép hết. Ý tôn giả A-nan nói: “Thế giới, lồng đèn, cột cái đều nên có tên, cũng muốn Thế Tôn chỉ ra cái Diệu tinh nguyên minh này gọi là vật gì, khiến con thấy ý Phật?” Thế Tôn nói: “Ta thấy đài hương.” A-nan thưa: “Con cũng thấy đài hương, tức là cái thấy của Phật.” Thế Tôn nói: “Ta thấy đài hương thì dễ biết, nếu khi ta chẳng thấy đài hương, ông làm sao thấy?” A-nan thưa: “Khi con chẳng thấy đài hương là thấy Phật.” Phật bảo: “Ta nói chẳng thấy, tự là ta biết, ông nói chẳng thấy tự là ông biết, chỗ người khác không thấy ông làm sao biết được?” 

Cổ nhân nói: Đến đây chỉ nên tự biết, vì người nói chẳng được. Như Thế Tôn nói khi ta chẳng thấy, sao chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng phải của ông? Nếu nói nhận cái thấy là có vật thì chưa có thể phủi dấu “khi tôi chẳng thấy”. Như con linh dương mọc sừng, tiếng vang, dấu vết, khí tức đều tuyệt, ông nhằm chỗ nào dò tìm? Ý kinh trước buông ra để phá, sau đoạt để phá. Tuyết Đậu mở con mắt giáo pháp để tụng, chẳng tụng vật, cũng chẳng tụng thấy cùng chẳng thấy, thẳng thừng tụng thấy Phật.

Tụng:

Toàn tượng toàn ngưu ế bất thù

Tùng lai tác giả cộng danh mô

Như kim yếu kiến Hoàng đầu lão

Sát sát trần trần tại bán đồ.

Dịch:

Voi đủ trâu đầy mắt bệnh đồng

Từ lâu tác giả thảy dò tìm

Như nay cốt thấy lão già Ấn

Cõi cõi trần trần ở giữa đường.

Giải tụng:

Voi đủ trâu đầy mắt bệnh đồng. Những người mù rờ voi, mỗi người nói khác nhau, xuất xứ từ kinh Niết-bàn. Có vị tăng hỏi Ngưỡng Sơn: “Hòa thượng thấy người hỏi thiền hỏi đạo, liền vẽ một vòng tròn, ở giữa vẽ chữ ngưu, ý tại chỗ nào?” Ngưỡng Sơn đáp: “Cái này cũng là việc nhàn, nếu như hội được chẳng từ ngoài đến, nếu như hội chẳng được quyết định chẳng biết. Ta thử hỏi ông, các bậc lão túc mọi nơi ở trên thân ông chỉ ra cái gì là Phật tánh của ông? Lại là nói thì phải, nín thì phải, chẳng nói chẳng nín thì phải? Hoặc giả thảy phải, thảy chẳng phải? Nếu ông nhận nói là phải, như người mù mò được cái đuôi con voi. Nếu ông nhận nín là phải, như người mù mò được lỗ tai con voi. Nếu ông nhận chẳng nói chẳng nín là phải, như người mù mò được lỗ mũi con voi. Nếu nói vật vật đều phải, như người mù mò được bốn chân con voi. Nếu nói tất cả chẳng phải, là bỏ con voi rơi tại không kiến. Như thế chỗ thấy của những người mù chỉ ở trên con voi mà danh từ tướng mạo sai biệt. Ông cần yếu chớ mò voi, chớ nói kiến giác phải, cũng chớ nói chẳng phải.” Tổ sư nói: “Bồ-đề vốn không cội, gương sáng cũng không đài, xưa nay không một vật, chỗ nào dính trần ai.” Lại nói: “Đạo vốn không hình tướng, trí tuệ tức là đạo, khởi kiến giải thế ấy, gọi là chân Bát-nhã.” Người sáng mắt thấy toàn thể con voi, như Phật thấy tánh cũng thế. 

Toàn ngưu là xuất phát từ Trang Tử. Bào Đinh mổ trâu chưa từng thấy toàn ngưu kia, chỉ thuận lý mà mổ, múa dao tự tại, chẳng cần nhọc công, trong khoảng chớp mắt đầu sừng chân thịt đồng thời mổ xong. Như thế mười chín năm dao vẫn bén như mới ra từ lò rèn, gọi đó là toàn ngưu. Tuy nhiên kỳ đặc như thế, Tuyết Đậu nói giả sử được toàn tượng toàn ngưu cùng trong mắt có cườm lại chẳng khác. 

Câu Từ lâu tác giả thảy dò tìm, dù là tác gia đến đây dò tìm cũng chẳng được. Từ tổ Ca-diếp cho đến chư tổ ở Ấn Độ, Trung Hoa, các bậc Lão hòa thượng trong thiên hạ đều chỉ gọi mò. 

Tuyết Đậu nói thẳng thừng rằng Như nay cần thấy lão già Ấn, sở dĩ nói cần thấy tức thì thấy, đợi tìm kiếm mới thấy cách ngàn dặm muôn dặm. Hoàng đầu lão tức là ông già mặt vàng. Như nay ông cần thấy thì Cõi cõi trần trần ở giữa đường. Bình thường nói “một hạt bụi một cõi Phật, một chiếc lá một Thích-ca”. Trọn cả tam thiên đại thiên thế giới có bao nhiêu hạt bụi, chỉ nhằm trong một hạt bụi thấy. Chính khi ấy vẫn ở nửa đường. Bên kia lại còn có nửa đường không? Hãy nói còn chỗ nào? Ông già Thích-ca còn chẳng biết, bảo sơn tăng làm sao nói được.

TẮC 95

TRƯỜNG KHÁNH A-LA-HÁN BA ĐỘC

Lời dẫn: 

Chỗ có Phật chẳng được trụ, trụ đây đầu mọc sừng, chỗ không Phật chạy qua nhanh, chẳng chạy qua cỏ cao một trượng. Dù cho lột trần bày lồ lộ, ngoài việc không cơ, ngoài cơ không việc, chưa khỏi ôm gốc cây đợi thỏ. Hãy nói thảy chẳng thế ấy, hành lý thế nào, thử cử xem?

Công án: 

Trường Khánh có khi nói: “Thà nói A-la-hán có ba độc chẳng nói Như Lai có hai thứ lời, chẳng nói Như Lai không nói, chỉ là không hai thứ lời.” Bảo Phước hỏi: “Thế nào là Như Lai nói?” Trường Khánh đáp: “Người điếc đâu được nghe.” Bảo Phước nói: “Biết rõ ông nhằm đầu thứ hai nói.” Trường Khánh hỏi: “Thế nào là Như Lai nói?” Bảo Phước đáp: “Uống trà đi.”

Giải thích: 

Trường Khánh, Bảo Phước ở trong hội Tuyết Phong thường cùng nhau nhắc những công án của cổ nhân để thương lượng. Một hôm như thường lệ, Trường Khánh nói: “Thà nói A-la-hán có ba độc, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời.” Tiếng Phạn A-la-hán, Trung Hoa dịch Sát Tặc, do công năng mà lập tên, hay đoạn tám mươi mốt phẩm phiền não, các lậu đã sạch, phạm hạnh đã xong, đây là bậc A-la-hán vô học. Ba độc tức là tham sân si căn bản phiền não. Tám mươi mốt phẩm còn tự đoạn sạch, huống là ba độc. Trường Khánh nói: Thà nói A-la-hán có ba độc, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời. Đại ý cần nêu lên Như Lai hẳn là nói thật. Kinh Pháp Hoa nói: Chỉ đây một sự thật, còn hai thì chẳng chân. Lại nói: Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba. Thế Tôn hơn ba trăm hội, xem căn cơ dạy giáo pháp, hợp bệnh cho thuốc, thuyết pháp muôn thứ ngàn loại, cứu cánh không hai thứ lời. Ý của ngài đến đây, quý vị làm sao thấy được? 

Phật dùng một âm diễn nói pháp thì chẳng không, Trường Khánh vẫn còn chưa mộng thấy lời nói của Như Lai. Tại sao? Giống như người nói ăn, trọn không thể no. Bảo Phước thấy y trên đất bằng nói giáo, liền hỏi: “Thế nào là Như Lai nói?” Trường Khánh đáp: “Người điếc đâu được nghe.” Kẻ này biết những lúc khác ở trong hang quỷ làm kế sống. Bảo Phước nói: “Biết rõ ông nhằm trên đầu thứ hai nói.” Quả thật đúng lời kia. Lại hỏi: “Sư huynh, thế nào là Như Lai nói?” Bảo Phước đáp: “Uống trà đi.” Cán thương đổi ngược bị người khác cướp rồi. Cả thảy Trường Khánh mất tiền bị tội. Xin hỏi quý vị, Như Lai nói có mấy thứ? Phải biết thấy được thế ấy, mới thấy chỗ bại khuyết của hai vị này. Kiểm điểm chín chắn về sau trọn nên ăn gậy. Phóng một bước nói cùng kia lý hội. Có người nói: Bảo Phước nói được đúng, Trường Khánh nói chẳng đúng. Chỉ thiết theo lời sanh hiểu, nói có được có mất. Đâu chẳng biết cổ nhân như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp. 

Người nay chẳng xem chỗ cổ nhân chuyển, chỉ cần chạy dưới câu, nói Trường Khánh khi ấy dùng chẳng tiện, vì thế rơi vào đầu thứ hai. Bảo Phước nói uống trà đi, là đầu thứ nhất. Nếu chỉ xem thế ấy, đến đức Phật Di-lặc hạ sanh cũng chẳng thấy ý cổ nhân. Nếu là tác gia thì chẳng khởi loại kiến giải này, nhảy khỏi hang ổ ấy, hướng thượng tự có một lối đi. Nếu ông nói người điếc chẳng được nghe, có chỗ nào là chẳng phải? Bảo Phước nói uống trà đi, có chỗ nào là phải? Càng không dính dáng. Thế nên nói “kia tham câu sống, chẳng tham câu chết”. Nhân duyên này cùng “khắp thân phải, toàn thân phải” một loại. Không có chỗ cho ông so tính thị phi. Phải là dưới chân ông lột trần, mới thấy chỗ cổ nhân thấy nhau. Ngũ Tổ lão sư nói: Giống như trước ngựa đánh nhau, phải là mắt nhìn tay nắm. 

Công án này nếu dùng chánh nhãn xem đó, đều không có chỗ được mất để biện được mất, không có chỗ thân sơ để biện thân sơ. Trường Khánh cũng phải lễ bái Bảo Phước mới được. Cớ sao? Chỗ khéo này dùng rất tài, giống như điện xẹt sao băng, Bảo Phước quả là trên nanh sanh nanh, trên vuốt sanh vuốt.

Tụng:

Đầu hề đệ nhất đệ nhị

Ngọa long bất giám chỉ thủy

Vô xứ hữu nguyệt ba trừng

Hữu xứ vô phong lãng khỉ.

Lăng thiền khách! Lăng thiền khách!

Tam ngoạt Võ Môn tao điểm ngạch.

Dịch:

Đầu chừ thứ nhất thứ hai

Rồng nằm chẳng xem nước đứng

Chỗ không, có trăng sóng dừng

Chỗ có, không gió sóng dậy.

Thiền khách Lăng! Thiền khách Lăng!

Tháng ba Võ Môn bị điểm trán.

Giải tụng:

Câu Đầu chừ thứ nhất thứ hai, chỉ cần hiểu thứ nhất thứ hai, chính là ở trong nước chết làm kế sống. Cái cơ khéo này, ông chỉ khởi hiểu thứ nhất thứ hai thì dò tìm chẳng đến. Tuyết Đậu nói Rồng nằm chẳng xem nước đứng, trong nước chết đâu có rồng ẩn. Nếu là thứ nhất thứ hai, chính là trong nước chết làm kế sống. Phải là chỗ nước nổi sóng to, sóng bủa ngập trời mới có rồng ẩn. Giống như trước nói “đầm lặng chẳng cho rồng to ở”. Đâu chẳng thấy nói “nước chết chẳng chứa rồng”? Lại nói: “Rồng nằm hằng sợ nước đầm trong.” Vì thế nói Chỗ không rồng, có trăng sóng dừng, gió lặng sóng yên. Chỗ có rồng, không gió sóng dậy. Giống như Bảo Phước nói “uống trà đi”, chính là không gió sóng dậy. 

Tuyết Đậu đến đây một lúc vì ông chập chùng tình giải tụng xong. Sư có vận thừa khiến thành văn lý, như trước đến trong đầu đặt một con mắt, cũng thật là kỳ đặc. Lại nói Thiền khách Lăng! Thiền khách Lăng! Tháng ba Võ Môn bị điểm trán. Trường Khánh tuy là con rồng vượt khỏi Long Môn, lại bị Bảo Phước ngay đầu điểm một cái.

TẮC 96

TRIỆU CHÂU BA CHUYỂN NGỮ

Công án: 

Triệu Châu dạy chúng ba chuyển ngữ.

Giải thích: 

Triệu Châu dạy chúng ba chuyển ngữ xong, rốt sau lại nói: Phật thật ngồi trong nhà. Một câu này rõ ràng quá mức. Cổ nhân mở một con mắt đưa tay tiếp người, tạm mượn lời này để thông tin tức, cốt yếu vì người. Nếu ông một bề toàn nêu chánh lệnh thì trước pháp đường cỏ cao một trượng. Tuyết Đậu không hài lòng câu rốt sau lôi thôi của Sư, vì thế bỏ bớt chỉ tụng ba câu. Phật đất nếu độ nước thì tan hoại. Phật vàng nếu độ lò đúc thì chảy. Phật gỗ nếu độ lửa thì bị đốt. Có cái gì khó hiểu? 

Tuyết Đậu tụng cổ một trăm tắc, so sánh sắn bìm, chỉ có ba bài tụng này quả có hơi hám thiền tăng. Chỉ bài tụng này cũng thật khó hiểu. Nếu ông thấu được ba bài tụng này, cho ông khỏi tham.

Tụng:

Nê Phật bất độ thủy

Thần quang chiếu thiên địa

Lập tuyết như vị hưu

Hà nhân bất điêu ngụy.

Dịch:

Phật đất chẳng độ nước

Thần quang soi trời đất

Đứng ngoài tuyết chưa thôi

Người nào chẳng dối trá.

Giải tụng:

Phật đất chẳng độ nước, Thần Quang soi trời đất, hai câu tụng này rõ ràng rồi. Hãy nói vì sao lại dẫn Thần Quang? Nhị Tổ khi mới sanh, thần quang soi sáng nhà thẳng đến trên trời. Lại một đêm, thần nhân hiện bảo Nhị Tổ: “Ở đây làm gì? Ông sẽ đắc đạo, thời cơ đã đến, nên sang phương nam.” Nhị Tổ do gặp Thần nên gọi là Thần Quang. Ngài cư ngụ vùng Y Lạc, đọc hết các sách, (thường mỗi khi) than: “Khổng, Lão dạy về thuật phong quy.” Được nghe Đại sư Đạt-ma ở Thiếu Lâm, ngài bèn đến đó sớm tối tham vấn. 

Tổ Đạt-ma ngồi thẳng ngó mặt vô vách, chẳng được nghe dạy bảo điều gì. Ngài tự suy nghĩ: Người xưa cầu đạo, chẻ xương lấy tủy, chích máu giúp người đói, trải tóc che bùn, gieo mình cho cọp ăn, xưa còn như thế, ta lại là sao? Ngày mùng chín tháng chạp năm ấy, ban đêm tuyết dày, Nhị Tổ đứng dưới thềm đến sáng, tuyết lên đến đầu gối. Tổ Đạt-ma thương hỏi: “Ông đứng dưới tuyết như thế để cầu việc gì?” Nhị Tổ buồn khóc thưa: “Chỉ mong Ngài từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng sanh.” Tổ Đạt-ma nói: “Diệu đạo của chư Phật nhiều kiếp tinh cần, khó làm mà hay làm, khó nhẫn mà hay nhẫn, há lấy đức nhỏ trí nhỏ, tâm khinh tâm mạn, mong được chân thừa, không có lẽ ấy.” 

Nhị Tổ nghe dạy răn, lòng mộ đạo càng thiết, lén lấy dao bén tự chặt tay trái, đến trước dâng tổ Đạt-ma. Đạt-ma biết là pháp khí, bảo: “Ông đứng ngoài tuyết chặt tay, là vì việc gì?” Nhị Tổ thưa: “Tâm con chẳng an, xin Thầy pháp an tâm.” Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra, ta vì ông an.” Nhị Tổ thưa: “Con tìm tâm trọn không thể được.” Đạt-ma nói: “Vì ông an tâm xong.” Sau Đạt-ma đổi tên cho ngài là Huệ Khả. 

Sau ngài gặp được Tam tổ Tăng Xán, truyền pháp xong, ở ẩn tại núi Hoàn Công Thư Châu. Gặp thời Hậu Châu, vua Võ Đế phá diệt Phật pháp, sa thải tăng ni, Tam Tổ qua lại huyện Thái Hồ vùng núi Tư Không, không ở chỗ nào cố định, hơn mười năm mà không có người biết. Cao Tăng Truyện của Tuyên luật sư chép việc Nhị Tổ không được rõ. Truyện Tam Tổ nói: Diệu pháp của Nhị Tổ chẳng truyền ở đời, nhờ sau gặp người như trước ngộ được chỗ của ngài đứng trong tuyết. Vì thế Tuyết Đậu nói: Đứng ngoài tuyết chưa thôi, người nào chẳng dối trá. Đứng ngoài tuyết nếu chưa thôi, đủ khiến bọn người dối trá bắt chước theo, một lúc chỉ thành dối trá, tức là bọn dối trá. 

Tuyết Đậu tụng Phật đất chẳng độ nước, vì sao lại dẫn nhân duyên này để dùng? Sư tham đến dưới ý căn không còn một việc, lột trần mới tụng được như thế. Ngũ Tổ Diễn bình thường bảo người xem ba bài tụng này. Đâu chẳng thấy hòa thượng Thủ Sơ có bài tụng dạy chúng: “Trên núi Ngũ Đài mây nấu cơm, trước nhà Phật cổ chó đái trời, ở đầu cột phướn toan nướng bánh, ba con khỉ vượn đêm rải tiền.” Hòa thượng Đỗ Thuận tụng: “Hoài Châu trâu ăn lúa, Ích Châu ngựa no đầy, mọi người tìm thầy thuốc, chích heo đùi trái này.” Phó đại sĩ tụng: “Tay không cầm cây cuốc, bộ hành cưỡi trâu đi, trên cầu người qua lại, cầu trôi nước chẳng trôi.” Lại nói: “Người máy đá giống ông, cũng biết bài ca hát, ông nếu giống người đá, bản tuyết nên cùng hòa.” Nếu hiểu được lời này là hiểu được bài tụng của Tuyết Đậu.

Tụng:

Kim Phật bất độ lô

Nhân lai phỏng Tử Hồ

Bi trung sổ cá tự

Thanh phong hà xứ vô.

Dịch:

Phật vàng chẳng độ lò

Người đến hỏi Tử Hồ

Trong bia có mấy chữ

Gió mát chỗ nào không.

Giải tụng:

Phật vàng chẳng độ lò, người đến hỏi Tử Hồ, hai câu này cũng tụng xong, vì sao lại dẫn người đến hỏi Tử Hồ? Phải là hàng tác gia rèn luyện mới được. Hòa thượng Tử Hồ có làm tấm bia ở đường lên núi, trong bia viết: “Tử Hồ có một con chó, trên thì cắn đầu người, giữa thì cắn lưng người, dưới thì cắn chân người, suy nghĩ thì tan thân mất mạng.” Phàm thấy người mới đến liền hét: Coi chừng chó! Tăng vừa xoay đầu nhìn, Tử Hồ trở về phương trượng. Hãy nói vì sao cắn Triệu Châu chẳng được? 

Lại một đêm giữa khuya, Sư ở trong phòng kêu to: “Bắt ăn trộm! Bắt ăn trộm!” Trong lúc tối mù mịt gặp một vị tăng, chụp vào ngực nói to: “Bắt được rồi! Bắt được rồi!” Tăng thưa: “Bạch Hòa thượng! Con, chẳng phải.” Tử Hồ bảo: “Phải thì phải, chỉ chẳng chịu thừa nhận.” Nếu ông hiểu lời nói này, nhận ông cắn chết mọi người, nơi nơi gió mát rười rượi. Nếu chưa được như thế, trong bia có mấy chữ quyết định không thể nào thông. Nếu cần thấy Sư, chỉ thấu được tột mới thấy.

Tụng:

Mộc Phật bất độ hỏa

Thường tư Phá Táo Đọa

Trượng tử hốt kích trước

Phương tri cô phụ ngã.

Dịch:

Phật gỗ chẳng độ lửa

Thường nhớ Phá Táo Đọa

Cây gậy chợt đánh đến

Mới biết cô phụ ta.

Giải tụng:

Phật gỗ chẳng độ lửa, thường nhớ Phá Táo Đọa, hai câu này tụng xong. Tuyết Đậu nhân Phật gỗ chẳng độ lửa này thường nghĩ đến Phá Táo Đọa. 

Hòa thượng Phá Táo Đọa ở Tung Sơn chẳng biết tên họ, ngôn hạnh khó lường, thường ở ẩn Tung Sơn. Một hôm, Sư dẫn chúng vào trong núi, có một cái miếu rất linh, trong điện chỉ để một bếp lò, gần xa đến cúng kính liên miên, sát sanh hại mạng rất nhiều. Sư vào trong miếu lấy cây gậy gõ bếp lò ba cái, nói: “Dốt! Ngươi vốn đất gạch hợp thành, linh từ đâu lại, thánh từ chỗ nào hiện, mà sát sanh hại mạng thế ấy?” Lại gõ ba cái, bếp tự nghiêng ngả rồi bể nát. Chốc lát, có người đầu đội mũ mặc áo xanh, bỗng nhiên đứng trước mặt Sư, lễ bái thưa: “Tôi là thần Táo thọ nghiệp báo đã lâu, ngày nay nhờ Thầy nói pháp vô sanh, đã thoát khỏi chỗ này, sanh vào cõi trời, đến đây bái tạ.” Sư nói: “Tánh bản hữu của ông chẳng phải tôi gắng nói.” Thần lại lễ bái rồi ẩn. 

Thị giả thưa: “Chúng con theo hầu Hòa thượng đã lâu, chưa nhờ chỉ dạy, thần Táo được yếu chỉ thẳng tắt gì, liền sanh cõi trời?” Sư đáp: “Ta chỉ nói với y, ngươi vốn đất gạch hợp thành, linh từ đâu lại, thánh từ chỗ nào hiện?” Thị giả không nói được. Sư hỏi: “Hiểu chăng?” Thị giả thưa: “Chẳng hiểu.” Sư bảo: “Lễ bái đi.” Thị giả lễ bái. Sư bảo: “Bể rồi! Bể rồi! Rơi rồi! Rơi rồi!’’ Thị giả bỗng nhiên đại ngộ. 

Sau có người thuật lại cho Quốc sư Huệ An nghe. Quốc sư khen: “Kẻ này hiểu tột vật ngã nhất như, thần Táo ngộ lẽ này là phải, vị tăng kia là năm uẩn hợp thành, cũng nói bể rồi rơi rồi, cả hai đều khai ngộ.” Vả lại, tứ đại ngũ uẩn cùng ngói gạch bùn đất là đồng là khác? Đã như thế, vì sao Tuyết Đậu dẫn nói: Cây gậy chợt đánh đến, mới biết cô phụ ta? Tại sao lại thành cô phụ? Chỉ là chưa được cây gậy. Hãy nói Tuyết Đậu tụng Phật gỗ chẳng độ lửa, tại sao lại dẫn công án Phá Táo Đọa? Lão tăng thẳng thừng vì ông nói: Ý kia chỉ là bặt được mất, tình trần ý tưởng lột sạch, tự nhiên thấy chỗ thân thiết kia.

TẮC 97

KINH KIM CANG TỘI NGHIỆP TIÊU DIỆT

Lời dẫn: 

Nắm một buông một chưa phải tác gia, đưa một rõ ba vẫn trái tông chỉ. Dù được trời đất bỗng đổi, bốn phương bặt tiếng, sấm vang chớp nhoáng mây bay mưa đuổi, hồ nghiêng núi ngả, chậu bể bồn nghiêng, cũng chưa đề được phân nửa. Lại có người khéo chuyển cửa trời hay dời trục đất chăng, thử cử xem?

Công án: 

Kinh Kim Cang nói: Nếu bị người khinh tiện, người ấy tội nghiệp đời trước nên đọa đường ác, vì đời nay bị người khinh tiện nên tội nghiệp đời trước ắt là tiêu diệt.

Giải thích: 

Kinh Kim Cang nói: “Nếu bị người khinh tiện, người ấy tội nghiệp đời trước nên đọa đường ác, vì đời nay bị người khinh tiện nên tội nghiệp đời trước ắt là tiêu diệt.” Căn cứ chỗ bình thường giảng cứu là thường luận trong kinh. Tuyết Đậu nêu ra tụng ý này là muốn đả phá các nhà giảng kinh nhằm trong hang quỷ tìm kế sống. Thái tử Chiêu Minh phân khoa phần này là “hay sạch nghiệp chướng”. Đại ý kinh nói, kinh này linh nghiệm, người như thế đời trước tạo nghiệp địa ngục, vì sức thiện mạnh nên chưa thọ, do đời nay bị người khinh tiện, tội nghiệp đời trước ắt là tiêu diệt. Kinh này vẫn hay tiêu tội nghiệp từ vô lượng kiếp đến giờ, chuyển nặng thành nhẹ, chuyển nhẹ khỏi thọ, lại được Phật quả Bồ-đề. Cứ theo các nhà kinh luận thì tụng hơn hai mươi chương kinh này, gọi là trì kinh. Có gì dính dáng. 

Có người nói, kinh tự có linh nghiệm. Nếu như thế, ông thử đem một quyển kinh bỏ ở chỗ trống, xem có cảm ứng hay không? Pháp Nhãn nói: “Người chứng Phật địa gọi là trì kinh này.” Trong kinh nói: “Tất cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều từ kinh này ra.” Hãy nói gọi cái gì là kinh này? Đâu phải gáy vàng bìa đỏ là phải sao! Chớ nhận lầm trái cân bàn. 

Kim Cang là dụ cho pháp thể kiên cố nên vật không thể phá hoại, vì cái dụng bén hay phá dẹp tất cả vật, nghĩ đến núi thì núi băng, nghĩ đến biển thì biển cạn, căn cứ trên dụ đặt tên, pháp ấy cũng vậy. Bát-nhã này có ba thứ: 1- Thật tướng Bát-nhã, 2- Quán chiếu Bát-nhã, 3- Văn tự Bát-nhã.

Thật tướng Bát-nhã tức là chân trí, một đoạn đại sự đang ở dưới chân các ông, sáng tột xưa nay, vượt hẳn thấy biết, lột trần bày lồ lộ. Quán chiếu Bát-nhã tức là chân cảnh, trong mười hai giờ phóng quang khắp nơi, nghe tiếng thấy sắc. Văn tự Bát-nhã tức là văn tự nói ra, tức như hiện nay người nói kẻ nghe. Hãy nói là Bát-nhã hay chẳng phải Bát-nhã? Người xưa nói: Mỗi người tự có một quyển kinh. Lại nói: Tay chẳng cầm quyển kinh, thường tụng như thế. Nếu căn cứ sự linh nghiệm của kinh này, đâu những chuyển nặng thành nhẹ, chuyển nhẹ khỏi thọ, giả sử công năng bằng bậc thánh cũng chưa phải là kỳ đặc. 

Bàng cư sĩ nghe giảng kinh Kim Cang, hỏi Pháp sư: “Kẻ tục có việc nhỏ muốn hỏi, chẳng biết được không?” Pháp sư đáp: “Có nghi xin hỏi.” Bàng Uẩn hỏi: “Không tướng ngã, không tướng nhân, đã không tướng ngã nhân, bảo ai giảng ai nghe?” Pháp sư không đáp được, lại nói: “Tôi y văn giải nghĩa chẳng biết ý này.” Bàng Uẩn làm một bài tụng: 

Không ngã cũng không nhân 

Làm gì có sơ thân 

Khuyên ông thôi đừng giảng 

Đâu bằng thẳng cầu chân. 

Tánh Kim Cang Bát-nhã 

Ngoài dứt mảy bụi trần 

Tôi nghe cùng tin nhận 

Cả thảy đều giả danh. 

Bài tụng này rất hay, rõ ràng một lúc nói xong. 

Khuê Phong phân khoa tứ cú kệ nói: “Phàm đã có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.” Đây là nghĩa bốn câu kệ, giống như “Người chứng Phật địa gọi là trì kinh này.” Lại nói: “Nếu do sắc thấy ta, do âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Đây cũng là bốn câu kệ. Chỉ ở trong đó nhận nghĩa nó thì đúng vậy. Có vị tăng hỏi Hối Đường: “Thế nào là tứ cú kệ?” Hối Đường đáp: “Lời rơi rồi, chẳng biết.” 

Tuyết Đậu ở trên “Kinh này” chỉ ra, nếu có người trì “Kinh này” tức là Bản địa phong quang, Bản lai diện mục của các ông. Nếu căn cứ Tổ lệnh đang hành Bản địa phong quang, Bản lai diện mục cũng chặt làm ba đoạn, chư Phật ba đời, mười hai phần giáo chẳng tiêu một cái ấn tay. Đến đây giả sử có muôn thứ công năng cũng không thể xem xét được. Người nay chỉ cần tụng kinh, trọn chẳng biết là đạo lý gì? Chỉ thích nói tôi một ngày tụng được nhiều hay ít, nhận lấy bìa vàng gáy đỏ, chạy theo những hàng chữ mực. Đâu chẳng biết toàn do bản tâm chính mình dấy khởi, cái này chính là chỗ tụng vậy. Hòa thượng Đại Châu nói: “Nhằm trong thất chồng mấy hòm kinh, xem có phóng quang chăng? Chỉ do chính mình một niệm phát tâm là công đức. Vì sao? Bởi muôn pháp đều xuất phát nơi tâm mình, một niệm tức linh, đã linh tức thông, đã thông tức biến.” Cổ nhân nói: “Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như, hoa vàng rợp rợp đều là Bát-nhã.” Nếu thấy được triệt tức là Chân như, nếu thấy chưa được hãy nói cái gì là Chân như? 

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nếu người muốn biết rõ tất cả Phật ba đời, nên quán tánh pháp giới, tất cả do tâm tạo.” Nếu ông biết được rồi, chạm cảnh gặp duyên làm chủ làm tông. Nếu chưa thể rõ được, hãy lắng nghe xử phân. Tuyết Đậu mở mắt tụng đại khái, cốt rõ sự linh nghiệm của “Kinh này”.

Tụng:

Minh châu tại chưởng

Hữu công giả thưởng

Hồ Hán bất lai

Toàn vô kỹ lưỡng.

Kỹ lưỡng ký vô 

Ba-tuần thất đồ

Cù-đàm! Cù-đàm!

Thức ngã dã vô?

Dịch:

Minh châu trong tay

Có công ắt thưởng

Hồ Hán chẳng đến

Toàn không xét nét.

Xét nét đã không

Ba-tuần mất lối

Cù-đàm! Cù-đàm!

Biết tôi hay chăng?

Lại nói: Khám phá xong!

Giải tụng:

Hai câu Minh châu trong tay, có công ắt thưởng, nếu có người trì được “Kinh này” có công nghiệm thì đem châu thưởng cho. Kia được châu này tự nhiên biết dùng, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán, vạn tượng sum la dọc ngang hiển hiện, đây là có công huân. Pháp Nhãn nói: Người chứng Phật địa gọi là trì kinh này. Hai câu này là tụng xong công án. 

Hai câu Hồ Hán chẳng lại, toàn không xét nét, Tuyết Đậu vặn lỗ mũi lại, nếu có Hồ Hán đến thì bảo ông hiện, nếu khi Hồ Hán đều chẳng đến thì làm sao? Đến đây con mắt Phật nhìn cũng chẳng thấy. Hãy nói là công huân, là tội nghiệp, là Hồ là Hán? Thật giống con linh dương mọc sừng, chớ nói là tiếng vang, dấu vết đến hơi hám cũng không, nhằm chỗ nào dò tìm? Dù là chư thiên dâng hoa cũng không có đường, ma ngoại lén nhìn cũng không có cửa. Thế nên hòa thượng Động Sơn một đời trụ viện mà thần thổ địa tìm không thấy dấu vết. Một hôm thấy trước nhà trù cơm bún rơi lan lệ, ngài khởi tâm bảo: Đồ vật của thường trụ đâu nên khinh rẻ như thế. Thần thổ địa thấy được ngài, liền lễ bái. 

Tuyết Đậu nói: Xét nét đã không, nếu đến đây không có chỗ xét nét thì ma Ba-tuần cũng phải mất lối. Thế Tôn xem tất cả chúng sanh như con đỏ, nếu có một người phát tâm tu hành thì cung điện Ba-tuần bị rạn nứt, nó liền đến não loạn người tu hành. Tuyết Đậu nói, dù cho ma Ba-tuần đến thế ấy, cũng khiến mất hết đường lối, không thể đến gần chỗ người tu. 

Tuyết Đậu lại tự vỗ ngực nói: Cù-đàm! Cù-đàm! Biết tôi hay chăng? Chớ nói là ma Ba-tuần, dù là Phật đến, lại biết tôi hay chăng? Ông già Thích-ca còn chẳng thấy, các ông nhằm chỗ nào dò tìm? Lại nói: Khám phá xong! Hãy nói là Tuyết Đậu khám phá Cù-đàm hay Cù-đàm khám phá Tuyết Đậu? Người đủ mắt thử xét định xem?

TẮC 98

THIÊN BÌNH HÀNH CƯỚC

Lời dẫn:

“Một hạ lăng xăng tạo sắn bìm, tợ hồ cột được Ngũ Hồ tăng. Kim cang kiếm báu ngay đầu chặt, mới hiểu từ lâu trăm bất năng”. Hãy nói thế nào là kiếm báu Kim cang? Nhìn lên lông mày, mời thử bày mũi nhọn xem?

Công án: 

Hòa thượng Thiên Bình khi đi hành cước, đến tham vấn Tây Viện, thường nói: “Chớ nói hội Phật pháp, tìm người cử thoại cũng không có.” Một hôm, Tây Viện từ xa thấy, gọi: “Tùng Y!’’ Thiên Bình ngưỡng đầu. Tây Viện nói: “Lầm!” Thiên Bình đi hai ba bước. Tây Viện lại bảo: “Lầm!’’ Thiên Bình lại gần. Tây Viện bảo: “Hai cái lầm vừa rồi, là Tây Viện lầm hay Thượng tọa lầm?’’ Thiên Bình thưa: “Tùng Y lầm!’’ Tây Viện nói: “Lầm!’’ Thiên Bình thôi. Tây Viện nói: “Hãy ở lại đây qua hạ, sẽ cùng Thượng tọa thương lượng hai cái lầm này.’’ Khi ấy Thiên Bình liền đi.

Sau Thiên Bình trụ viện bảo chúng: “Ta lúc ban đầu đi hành cước bị gió nghiệp thổi đến chỗ trưởng lão Tư Minh, liên tiếp hạ hai cái lầm, lại giữ ta qua hạ đợi cùng ta thương lượng. Ta chẳng nói khi ấy là lầm, cất bước đi phương Nam, ta sớm biết lầm rồi.”

Giải thích: 

Tư Minh trước tham vấn Đại Giác, sau kế thừa tiền Bảo Thọ. Một hôm hỏi: “Khi đạp nát Hóa thành đến thì thế nào?’’ Thọ đáp: “Kiếm bén chẳng chém kẻ chết.” Minh nói: “Chém.” Thọ liền đánh. Tư Minh mười lần nói chém. Bảo Thọ mười lần đánh, nói: “Kẻ này chết gấp, đem cái thây chết chống lại đòn đau.” Bèn nạt đuổi ra. Khi ấy có vị tăng thưa Bảo Thọ: “Vị tăng hỏi thoại vừa rồi rất có đạo lý, Hòa thượng nên phương tiện tiếp y.” Bảo Thọ cũng đánh đuổi vị tăng này ra. Hãy nói Bảo Thọ cũng đánh đuổi vị tăng này là vì nói phải nói quấy hay riêng có đạo lý, ý thế nào? Về sau hai vị đều kế thừa Bảo Thọ. 

Một hôm Tư Minh ra yết kiến Nam Viện. Nam Viện hỏi: “Ở đâu đến?’’ Tư Minh thưa: “Hứa Châu đến.” Nam Viện hỏi: “Đem được gì đến?’’ Tư Minh thưa: “Đem được con dao cạo tóc ở Giang Tây đến dâng Hòa thượng.” Nam Viện hỏi: “Đã từ Hứa Châu lại, tại sao có con dao cạo tóc ở Giang Tây?’’ Tư Minh nắm tay Nam Viện bấm một cái. Nam Viện bảo: “Thị giả nhận lấy.” Tư Minh lấy y phất một cái rồi đi. Nam Viện nói: “A thích thích! A thích thích!’’ 

Thiên Bình từng tham vấn Tiến Sơn Chủ đến. Vì Sư đến các nơi tham được chút thiền củ cải để trong bụng, đến nơi nào cũng khai đại khẩu nói ta hội thiền hội đạo, thường nói: “Chớ nói hội Phật pháp, tìm người cử thoại cũng không”. Phân hôi thối huân người, chỉ quản tuôn cái khinh bạc. Vả như chư Phật chưa ra đời, Tổ sư chưa từ Ấn sang, trước khi chưa có vấn đáp, chưa có công án, lại có thiền đạo chăng? 

Cổ nhân sự bất đắc dĩ đối cơ dạy bảo, người sau gọi là công án. Nhân Thế Tôn đưa cành hoa, ngài Ca-diếp cười chúm chím. Sau đến A-nan hỏi Ca-diếp: “Thế Tôn ngoài truyền y Kim Lan, còn truyền pháp gì riêng chăng?’’ Ca-diếp gọi: “A-nan!’’ A-nan ứng: “Dạ!’’ Ca-diếp nói: “Cây phướn trước cửa ngã.” Nếu như trước khi chưa đưa cành hoa, A-nan chưa hỏi, chỗ nào được công án? Chỉ quản bị các nơi dùng ấn bí đao ấn định, rồi nói ta hội Phật pháp kỳ đặc chớ bảo người biết. 

Thiên Bình chính như thế, bị Tây Viện kêu liên tiếp hai chữ lầm, khiến phải sợ hãi kinh hoàng bối rối, trước chẳng đến thôn sau chẳng tới quán. Có người nói: “Nói ý Tây sang sớm đã lầm rồi.” Đâu chẳng biết chỗ rơi hai chữ lầm của Tây Viện. Các ông hãy nói rơi tại chỗ nào? Vì thế nói: Kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Thiên Bình ngưỡng đầu đã rơi hai rơi ba rồi. Tây Viện nói lầm, Sư lại không tiến được chỗ dùng hiện tại, chỉ nói ta trong bụng có thiền, chẳng cần người, lại đi hai ba bước. Tây Viện nói lầm, vẫn như xưa tối mù mịt. Thiên Bình đến gần, Tây Viện nói hai chữ lầm vừa rồi, là Tây Viện lầm hay Thượng tọa lầm? Thiên Bình nói Tùng Y lầm. Đáng tức cười không dính dáng. Đã là đầu thứ bảy thứ tám rồi vậy. 

Tây Viện bảo: Hãy ở lại đây qua hạ, cùng Thượng tọa thương lượng hai chữ lầm. Khi ấy Thiên Bình liền đi. Giống thì cũng giống, phải thì chưa phải, cũng chẳng nói Sư không phải, chỉ là tiến chẳng lên. Tuy nhiên như thế, cũng có chút ít hơi hám của thiền tăng. Thiên Bình sau trụ viện bảo chúng: “Ta buổi đầu đi hành cước bị gió nghiệp thổi đến chỗ hòa thượng Tư Minh bị liên tiếp hạ hai chữ lầm, lại giữ qua hạ cùng ta thương lượng, ta chẳng nói khi ấy là lầm. Ta cất bước phương Nam, sớm biết lầm rồi vậy.” Gã này dầu nói tột, chỉ là rơi vào đầu thứ bảy thứ tám, trước sau không liên hệ. 

Như hiện nay có người nghe Sư nói, khi cất bước sang phương Nam, sớm biết lầm rồi, liền suy nghĩ nói: Khi chưa đi hành cước không có nhiều Phật pháp thiền đạo, đến khi đi hành cước bị các nơi quở gạt. 

Chẳng bằng khi chưa đi hành cước, gọi đất là trời, gọi núi là nước, may thay không một việc. Nếu khởi kiến giải lưu tục thế ấy, sao chẳng mua một chiếc mũ đội cho tất cả để qua thời, có dùng được chỗ gì? Phật pháp chẳng phải đạo lý này. Nếu luận việc này há có nhiều thứ sắn bìm. Nếu ông nói tôi hội, kia chẳng hội, là gánh một gánh thiền chạy quanh khắp thiên hạ, bị người mắt sáng khám phá, một điểm sử dụng cũng không được, Tuyết Đậu chính như thế tụng ra.

Tụng:

Thiền gia lưu, ái khinh bạc

Mãn đỗ tham lai dụng bất trước

Kham bi kham tiếu Thiên Bình lão

Khước vị đương sơ hối hành cước.

Thác! Thác!

Tây Viện thanh phong đốn tiêu thước.

Dịch:

Dòng thiền gia, thích khinh bạc

Đầy bụng tham rồi dùng chẳng được

Đáng thương đáng cười lão Thiên Bình

Lại bảo ban sơ hối hành cước.

Lầm! Lầm!

Tây Viện gió lành thổi tiêu sạch.

Lại nói: Chợt có thiền tăng ra nói lầm. 

Tuyết Đậu lầm đâu giống Thiên Bình lầm.

Giải tụng:

Hai câu Dòng thiền gia, thích khinh bạc, đầy bụng tham rồi dùng chẳng được, gã này hiểu thì hiểu chỉ là dùng chẳng được. Bình thường mắt nhìn trời mây nói kia hội bao nhiêu thiền, đến khi gặp lò lửa vừa đốt thì một điểm sử dụng cũng không được. Ngũ Tổ tiên sư nói: “Có một nhóm người tham thiền giống như giã bánh dày trong bình lưu-ly, xoay lăn không được, trút ra chẳng ra, chạm đến thì bể. Nếu cần chỗ linh động, chỉ tham được cái thiền vỏ rách, đi thẳng lên núi cao vạch ra cũng không bể không hư.” Cổ nhân nói: “Giả sử trước lời nói tiến được, vẫn là kẹt vỏ dính niêm, dù cho dưới câu tinh thông, chưa khỏi chạm đường thấy loạn.”

Hai câu Đáng thương đáng cười lão Thiên Bình, lại bảo ban sơ hối hành cước. Tuyết Đậu nói đáng thương Sư đối người nói chẳng ra, đáng cười Sư hiểu một thứ thiền da bụng, lại dùng chút ít chẳng được. 

Lầm! Lầm! Hai cái lầm này, có người nói Thiên Bình chẳng hội là lầm. Lại có người nói: “Không lời nói ấy là lầm.” Có dính dáng gì? Đâu chẳng biết hai cái lầm này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, là chỗ hành lý của người hướng thượng. Như cầm kiếm chém người, phải chặt ngay cổ người thì mạng căn mới chết. Nếu nhằm trên kiếm bén này đi được, liền bảy dọc tám ngang. Nếu hiểu hai cái lầm, có thể thấy Tây Viện gió lành thổi tiêu sạch

Tuyết Đậu thượng đường cử thoại đầu này rồi, ý nói lầm. Tôi hỏi ông cái lầm của Tuyết Đậu có giống cái lầm của Thiên Bình chăng? Hãy tham ba mươi năm.

TẮC 99

TRUNG QUỐC SƯ MƯỜI THÂN ĐIỀU NGỰ

Lời dẫn: 

Rồng ngâm mù khởi, cọp rống gió sanh, tông đạo xuất thế, vàng ngọc chạm nhau, tác lược của bậc thông phương như hai mũi tên chọi nhau, khắp cõi chưa từng ẩn, xa gần đồng bày, xưa nay biện rõ. Hãy nói là cảnh giới người nào, thử cử xem?

Công án: 

Vua Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung: “Thế nào là mười thân Điều Ngự?’’ Quốc sư đáp: “Thí chủ đạp trên đảnh Tỳ-lô đi.” Vua nói: “Quả nhân chẳng hội.” Quốc sư nói: “Chớ nhận pháp thân thanh tịnh chính mình.”

Giải thích: 

Vua Túc Tông khi còn ở vị thái tử đã tham vấn Quốc sư Huệ Trung. Sau lên ngôi vua, lại càng cung kính, Quốc sư ra vào đích thân vua đỡ lên xe. Một hôm, vua đặt câu hỏi này ra hỏi Quốc sư: “Thế nào là mười thân Điều Ngự?’’ Quốc sư đáp: “Thí chủ đạp trên đảnh Tỳ-lô đi.” Bình thường Quốc sư xương sống cứng như sắt, đến khi ở trước mặt đế vương giống hệt bùn lầy. Tuy nhiên đáp được tầm thường lại có chỗ hay. Sư nói, ông cần hội được, thí chủ phải nhằm trên đảnh Tỳ-lô mà đi mới được. Vua lại chẳng tiến, nói: “Quả nhân không hội.” Phần sau, Quốc sư quá mức lê thê rơi trong cỏ, lại rót một câu trên đầu nói: “Chớ lầm nhận pháp thân thanh tịnh chính mình.” Nên nói người người đầy đủ, mỗi mỗi viên thành. 

Xem Sư một phóng một thâu, tám mặt thọ địch. Đâu chẳng nghe người khéo làm thầy hợp cơ nói giáo, xem gió thả buồm. Nếu chỉ tránh giữ một góc đâu hay hồi hỗ. Xem lão Hoàng Bá đặc tài tiếp người, gặp được Lâm Tế ba phen ban cho sáu mươi gậy, Lâm Tế ngay đó liền hội. Đến khi gặp Tướng quốc Bùi Hưu thì sắn bìm quá nhiều. Đây há chẳng phải khéo làm thầy người. Quốc sư Huệ Trung dùng phương tiện khéo léo tiếp vua Túc Tông, bởi vì Sư có thủ đoạn tám mặt thọ địch. 

Mười thân Điều Ngự là mười thứ thân tha thọ dụng. Ba thân: Pháp, Báo, Hóa thân tức là Pháp thân. Cớ sao? Vì Báo và Hóa không phải Phật thật, cũng chẳng nói pháp. Pháp thân là một mảnh rỗng lặng linh minh tịch chiếu. 

Thượng tọa Phù ở Thái Nguyên, khi trụ ở chùa Quang Hiếu Dương Châu giảng kinh Niết-bàn. Có một du tăng tức là Điển tọa ở Giáp Sơn, vì trở tuyết tạm trú trong chùa, nhân đó đến nghe giảng. Khi giảng đến ba nhân Phật tánh, ba đức pháp thân, nói rộng về diệu lý của pháp thân, Điển tọa bỗng nhiên phát cười. Thượng tọa Phù xem thấy, giảng xong sai thị giả mời Thiền sư đến hỏi: “Tôi trí ý kém cỏi, y văn giải nghĩa, vừa rồi đang giảng thấy Thượng tọa cười, tôi ắt có chỗ thiếu sót xin thượng nhân vì chỉ dạy.” Điển tọa nói: “Tọa chủ chẳng hỏi thì không dám nói. Tọa chủ đã hỏi thì không thể chẳng nói, thật tôi cười Tọa chủ chẳng biết pháp thân.” Thượng tọa Phù hỏi: “Giải nói như thế, chỗ nào chẳng phải?’’ Điển tọa nói: “Mời Tọa chủ nói lại một lần.” Thượng tọa Phù nói: “Lý pháp thân ví như hư không, dọc cùng tam tế ngang khắp mười phương, đầy dẫy bát cực bao trùm nhị nghi, tùy duyên đến cảm ứng đâu chẳng khắp giáp.” Điển tọa nói: “Chẳng nói Tọa chủ giảng chẳng phải, chỉ biết việc bên lượng của pháp thân, thật chưa biết pháp thân.” Phù nói: “Đã hẳn như thế, Thiền giả nên vì tôi nói.” Điển tọa nói: “Nếu như thế, Tọa chủ nghỉ giảng một tuần lễ, ở trong tịnh thất ngồi ngay lặng nghĩ, thâu tâm nhiếp niệm, các duyên thiện ác một lúc buông hết, tự nghiên cứu tột xem.” Phù y như lời dạy, từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng trống bỗng nhiên khế ngộ, liền chạy đến gõ cửa Thiền giả. Điển tọa hỏi: “Ai đó?’’ Phù nói: “Tôi.” Điển tọa quở: “Bảo ông truyền thừa đại giáo thay Phật nói pháp, giữa đêm vì sao say rượu nằm ngoài đường?’’ Phù nói: “Từ trước giảng kinh, đã vặn tréo cái lỗ mũi của cha mẹ sanh rồi, từ nay về sau lại chẳng dám như thế.” 

Xem kia là hạng kỳ đặc, đâu chỉ nhận cái chiêu chiêu linh linh, rơi ở trước lừa sau ngựa, phải là đả phá nghiệp thức không còn một mảy tơ khá được cũng chỉ được phân nửa. Người xưa nói: “Chẳng khởi mảy may tâm tu học, trong quang vô tướng thường tự tại.” Chỉ biết cái thường tịch diệt, chớ nhận thanh sắc, chỉ biết cái linh tri, chớ nhận vọng tưởng. Vì thế nói: “Giả sử vòng sắt trên đầu xoay, định tuệ sáng tròn trọn chẳng mất.” 

Đạt-ma hỏi Nhị Tổ: “Ông đứng ngoài tuyết, chặt tay chính vì việc gì?’’ Nhị Tổ thưa: “Tâm con chưa an, xin thầy an tâm.” Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra vì ông an.” Nhị Tổ thưa: “Tìm tâm trọn không thể được.” Đạt-ma nói: “Vì ông an tâm rồi.” Nhị Tổ bỗng nhiên lãnh ngộ. Hãy nói chính khi ấy pháp thân ở chỗ nào? 

Trường Sa nói: “Bởi người học đạo chẳng biết chân, chỉ tại từ xưa nhận thức thần, vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử, kẻ si cho đó người xưa nay.” Như người hiện nay chỉ nhận được cái chiêu chiêu linh linh, liền nhìn sững trợn tròng, đùa tinh hồn, có gì giao thiệp. Đến như Quốc sư bảo: “Chớ nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình.” Pháp thân của chính mình ông còn chưa mộng thấy, lại nói gì chớ nhận. Các nhà kinh luận cho pháp thân thanh tịnh là tột cùng, tại sao lại chẳng bảo người nhận? Đâu chẳng nghe nói: “Nhận được như xưa lại chẳng phải, ôi! Đáng ăn gậy”? Hiểu được ý này, mới hiểu Quốc sư nói: “Chớ nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình.”

Tuyết Đậu không thích tâm lão bà tha thiết của Quốc sư, đâu ngờ trong bùn lại có gai. Há chẳng thấy hòa thượng Động Sơn tiếp người có ba con đường: huyền lộ, điểu đạo, duỗi tay. Người sơ cơ học đạo nhằm ba con đường này đi. Có vị tăng hỏi: “Bình thường Thầy dạy học nhân đi điểu đạo, chưa biết thế nào là điểu đạo?’’ Động Sơn đáp: “Chẳng gặp một người.” Tăng hỏi: “Làm sao đi?’’ Động Sơn đáp: “Cần phải dưới chân vô tư đi.” Tăng hỏi: “Đi điểu đạo có phải là Bản lai diện mục chăng?’’ Động Sơn đáp: “Xà-lê tại sao điên đảo?’’ Tăng hỏi: “Chỗ nào là chỗ con điên đảo?’’ Động Sơn đáp: “Nếu không điên đảo tại sao nhận tớ làm bạn?’’ Tăng hỏi: “Thế nào là Bản lai diện mục?’’ Động Sơn đáp: “Chẳng đi đường chim.” 

Cần phải thấy đến loại điền địa này, mới có ít phần tương ưng. Thẳng đó hạ thủ công phu, dạy lấp dấu ẩn tiếng, vẫn là kiến giải đồng hạnh Sa-di ở trong nhà thiền. Cần phải quay đầu trở lại trong trần lao, dấy khởi muôn ngàn đại dụng mới được. Tuyết Đậu tụng ra.

Tụng:

Nhất quốc chi Sư diệc cưỡng danh

Nam Dương độc hứa chấn gia thanh

Đại Đường phù đắc chân thiên tử

Tằng đạp Tỳ-lô đảnh thượng hành.

Thiết chùy kích toái hoàng kim cốt

Thiên địa chi gian cánh hà vật

Tam thiên sát hải dạ trầm trầm

Bất tri thùy nhập thương long quật.

Dịch:

Làm thầy một nước cũng gượng kêu

Nam Dương riêng nhận tiếng vang nêu

Đại Đường phò được nhà vua tốt

Từng đạp Tỳ-lô trên đảnh đi.

Chùy sắt đập tan xương vàng mảnh

Trong khoảng đất trời nào có vật

Ba ngàn sát hải đêm lặng chìm

Chẳng biết ai vào hang rồng dữ.

Giải tụng:

Hai câu Làm thầy một nước cũng gượng kêu, Nam Dương riêng nhận tiếng vang nêu, câu tụng này giống hệt lời tán chân dung. Đâu chẳng nghe “chí nhân không danh”, gọi là Quốc sư cũng gượng an danh rồi. Đạo của Quốc sư không thể so sánh, khéo tài tiếp người thế ấy, riêng nhận Nam Dương là hàng tác gia. 

Hai câu Đại Đường phò được nhà vua tốt, từng đạp Tỳ-lô trên đảnh đi, nếu là thiền tăng đủ mắt sáng, phải nhằm trên đảnh Tỳ-lô mà đi, mới thấy được mười thân Điều Ngự. Phật gọi là Điều Ngự, là một trong mười hiệu. Một thân hóa mười thân, mười thân hóa trăm thân, cho đến ngàn trăm ức thân... chủ yếu chỉ là một thân. Câu tụng này cũng dễ nói. Mấy câu tụng sau, Quốc sư nói: “Chớ nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình”, tụng được nước rưới chẳng dính, hẳn là khó mở miệng. Chùy sắt đập tan xương vàng mảnh, trong khoảng đất trời nào có vật, hai câu này “chớ nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình”. Tuyết Đậu rất mực tán thán kia, một mảnh xương vàng một chùy đập nát rồi vậy. Trong khoảng trời đất lại có vật gì? Hẳn phải lột trần bày lồ lộ, không có một vật khá được, mới là bản địa phong quang. 

Giống như ba ngàn sát hải đêm lặng chìm. Tam thiên đại thiên thế giới ở trong biển Hương Thủy, có vô biên cõi, mỗi cõi có một biển, chính khi đêm lặng canh khuya, trời đất đồng thời chìm lặng. Hãy nói ấy là gì? Tối kỵ khởi hiểu bụm mặt nhắm mắt. Nếu hiểu thế ấy chính là rơi vào biển độc. 

Chẳng biết ai vào hang rồng dữ, duỗi chân hay co chân. Hãy nói là ai? Lỗ mũi của quý vị một lúc bị Tuyết Đậu xỏ rồi vậy.

TẮC 100

BA LĂNG KIẾM THỔI LÔNG

Lời dẫn: 

Thâu nhân kết quả tột thủy tột chung, đối mặt vô tư vốn chẳng từng nói. Chợt có người ra nói: Một hạ thỉnh mời, tại sao chẳng từng nói? Đợi ông ngộ rồi vì ông nói. Hãy nói là ngay mặt tránh né? Hay là riêng có chỗ hay? Thử cử xem!

Công án: 

Tăng hỏi Ba Lăng: “Thế nào là kiếm thổi lông?” Ba Lăng đáp: “Cành cành san-hô chỏi đến trăng.”

Giải thích: 

Ba Lăng chẳng khởi chiến tranh, bốn biển năm hồ bao nhiêu người lưỡi rơi xuống đất. Vân Môn tiếp người đúng như thế. Sư là đích tử của Vân Môn nên mỗi cái đều có đủ tác lược. Thế nên nói: “Tôi mến Thiều Dương máy mới định, một đời vì người nhổ đinh tháo chốt.” Lời thoại này chính là chỗ thế ấy. Ở trong một câu tự nhiên đủ ba câu: hàm cái càn khôn, tiệt đoạn chúng lưu, tùy ba trục lãng. Đáp được quả thật kỳ đặc. 

Viễn Lục công ở Phù Sơn nói: “Người chưa thấu tham câu chẳng bằng tham ý, người thấu được tham ý chẳng bằng tham câu.” Dưới Vân Môn có ba vị tôn túc, câu hỏi “kiếm thổi lông” đều đáp bằng chữ “liễu”. Chỉ riêng Ba Lăng đáp hơn một chữ “liễu”, đây là được câu vậy. Hãy nói chữ “liễu” cùng “cành cành san-hô chỏi đến trăng” là đồng là khác? Trước nói: ba câu có thể biện, một mũi tên thấu trên không. Muốn hiểu thoại này, phải là tình trần ý tưởng hết sạch mới thấy. 

Sư nói: “Cành cành san-hô chỏi đến trăng.” Nếu khởi đạo lý càng thấy dò tìm chẳng đến. Câu này là trích trong thơ Thiền Nguyệt Nhớ Bạn: 

Dày như sắt trên núi Thiết Vi 

Mỏng như tơ áo tiên Song Thành 

Máy Thục Phụng Sồ kiễng chân giẫm 

Cành cành san-hô chỏi đến trăng. 

Kho nhà Vương Khải giấu khó đào 

Nhan Hồi kẻ đói buồn trời tuyết 

Thông xưa ngọn thẳng sấm gãy nào 

Thạch nữ áo tuyết bàn đào vắng. 

Đeo vào Long cung bước chầm chậm 

Rèm thêu chiếu bạc nào khác nhau

Chẳng biết Ly Long mất châu báu

Biết chẳng biết? 

Ba Lăng ở trong đó rút ra một câu để đáp “kiếm thổi lông” thật là thích. Trên lưỡi kiếm bén lấy lông thổi qua để thử nó, sợi lông tự đứt là kiếm bén, gọi là kiếm thổi lông. Ba Lăng chỉ theo chỗ kia hỏi, liền đáp lời ông tăng này, đầu rơi cũng chẳng biết.

Tụng:

Yếu bình bất bình

Đại xảo nhược chuyết

Hoặc chỉ hoặc chưởng

Ỷ Thiên chiếu tuyết.

Đại trị hề ma lung bất hạ

Lương công hề phất thức vị kiệt.

Biệt biệt!

San-hô chi chi chưởng trước nguyệt.

Dịch:

Cần bình chẳng bình

Quá khéo dường vụng

Hoặc chỉ hoặc chưởng

Ỷ Thiên soi tuyết.

Đại trị chừ giũa mài chẳng được

Thợ giỏi chừ chùi quét chưa xong.

Khác khác!

Cành cành san-hô chỏi đến trăng.

Giải tụng:

Hai câu Cần bình chẳng bình, quá khéo dường vụng, xưa có một hiệp khách đi đường thấy việc bất bình, dùng mạnh hiếp yếu, liền phi kiếm lấy đầu kẻ mạnh. Sở dĩ bậc tông sư mi mắt ẩn bảo kiếm, trong tay áo giấu chùy vàng để dứt việc bất bình. Quá khéo dường vụng, chỗ đáp của Ba Lăng cốt bình việc bất bình, song lời của Sư quá khéo dường như vụng. Vì sao? Vì Sư không đối diện huơi kiếm, lại ẩn chỗ vắng lén chặt đầu người mà người không hay. 

Hai câu Hoặc chỉ hoặc chưởng, Ỷ Thiên soi tuyết, hiểu được thì như kiếm dài Ỷ Thiên thần uy lẫm lẫm. Cổ nhân nói: “Tâm nguyệt riêng tròn, sáng trùm vạn tượng, sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì?” Kiếm báu này hoặc hiện trên ngón tay, chợt hiện trong bàn tay. Ngày xưa Tạng chủ Khánh nói đến đây, đưa tay lên nói: “Lại thấy chăng?” Không hẳn ở trên ngón tay vậy. Tuyết Đậu mượn đường đi qua, dạy cho ông thấy ý cổ nhân. Nên nói, tất cả chỗ thảy là kiếm thổi lông vậy. Vì thế nói: “Ba cấp sóng cao cá hóa rồng, người si vẫn múc nước sông Đường.” 

Tổ Đình Sự Uyển chép truyện Hiếu Tử rằng: “Phu nhân của vua Sở thường mùa hạ đi hóng gió, đứng tựa cây trụ sắt cảm thọ thai, sau sanh một khối sắt. Vua Sở sai Can Tương luyện làm kiếm, ba năm mới thành hai cây kiếm, một Thư một Hùng. Can Tương thầm lưu cây Hùng, đem cây Thư dâng lên vua Sở, vua Sở để trong giáp, thường nghe tiếng kêu buồn. Vua hỏi quần thần, thần tâu: Kiếm có Thư và Hùng, kêu buồn là nhớ Hùng vậy. Vua nổi giận bắt Can Tương giết đi. Can Tương biết sẽ ứng điều này, lấy cây kiếm giấu trong cây cột trong nhà, dặn vợ là Mạc Da rằng: Mặt trời mọc cửa bắc, cây tùng ở núi nam, tùng sanh nơi đá, kiếm ở giữa đó. 

Sau vợ ông sanh con trai tên My Gian Xích, được mười lăm tuổi hỏi mẹ: Cha ở đâu? Mẹ thuật lại việc trước. Nó suy nghĩ lâu, chẻ cây cột được kiếm, ngày đêm muốn vì cha trả thù. Vua Sở cũng ra lệnh tìm kiếm nó, lệnh rằng ai bắt được My Gian Xích sẽ hậu thưởng. My Gian Xích trốn đi, chợt có người khách hỏi: Con có phải My Gian Xích chăng? Xích đáp: Phải. Khách bảo: Ta là Chân Sơn Nhân có thể vì con trả thù cha con. Xích thưa: Cha tôi xưa vô cớ bị giết oan, nay ông thương xót có cần điều gì? Khách bảo: Phải được đầu của con và cây kiếm. Xích bèn dâng kiếm và đầu. Khách được rồi, đến dâng vua Sở. Vua Sở rất vui mừng. Khách tâu: Xin nấu dầu chưng nó. Vua bèn để trong đảnh. Khách nói dối vua rằng: Đầu nó chẳng tan. Vua đến gần xem. Khách ở sau dùng kiếm chặt đầu vua rơi trong đảnh. Hai cái đầu cắn lộn nhau. Khách sợ My Gian Xích không thắng, liền tự cắt đầu bỏ vào giúp nó. Ba cái đầu cắn nhau, từ từ tan hết.” 

Tuyết Đậu nói “cây kiếm này hay tựa trời soi tuyết”. Bình thường nói “trường kiếm Ỷ Thiên sáng hay soi tuyết”, chỗ dùng này thẳng được, đại trị chừ giũa mài chẳng được, dù là thợ giỏi chùi quét cũng chưa xong. Thợ giỏi tức là Can Tương ấy vậy, việc xưa đã rõ.

Tuyết Đậu tụng xong, rốt sau bày ra nói: Khác, khác!, cũng thật kỳ đặc, riêng có chỗ hay cùng với kiếm tầm thường chẳng đồng. Hãy nói, thế nào là chỗ khác? Cành cành san-hô chỏi đến trăng, đáng gọi là suốt trước tột sau, đứng riêng trong hoàn vũ, không có ai sánh bằng. Cứu cánh thế nào? Các ông đầu rơi vậy. 

Lão tăng lại có tiểu kệ:

Vạn hộc doanh chu tín thủ noa

Khước nhân nhất lạp úng thôn xà

Niêm đề bách chuyển cựu công án

Tát khước thời nhân kỷ nhãn sa.

Dịch:

Thuyền đầy muôn hộc thuận tay nắm

Lại nhân một vò gạo nhốt rắn

Nêu lên trăm tắc công án xưa

Vãi cát thời nhân bao mắt nhặm.

Đọc tiếp →
Mục Lục