|
Thanh Từ Toàn Tập 13 - Luận Bộ Giảng Giải 2
Đại Thừa Khởi Tín Luận Giảng Giải
Tôi giảng bản luận Đại Thừa Khởi Tín này dựa theo bản dịch của ngài Tam Tạng Chân Đế. Đại Thừa Khởi Tín tức là khởi niềm tin về Đại thừa. Tăng ni và hàng Phật tử tu hành theo đạo Phật ở Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên... gọi là hệ thống Phật giáo Đại thừa hay gọi là Phật giáo Bắc truyền. Chúng ta tin Đại thừa là sao? Như nghe trong kinh Pháp Hoa nói “người nào tụng kinh Pháp Hoa nhiều có phước vô lượng vô biên, cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, cầu tài lợi được tài lợi...” thế nên tụng hoài mỗi tháng. Chúng ta tin và gắng tụng xong một bộ kinh, cho vậy là đã đủ niềm tin Đại thừa, vì Pháp Hoa là kinh Đại thừa. Như vậy có đúng không? Nếu thật tình chúng ta tin Đại thừa thì đâu có những câu nói “tụng kinh Pháp Hoa thì mát mẻ, muốn cầu tài lợi... cầu cái gì được cái đó, còn tụng kinh Kim Cang thì nóng bức khô khan, rồi sanh sân hận...” Nói như thế chỉ là mê tín chứ không phải tin Đại thừa. Luận Đại Thừa Khởi Tín là bộ luận do tổ Mã Minh viết để người tu học Đại thừa có đầy đủ niềm tin về Đại thừa đúng như lời Phật dạy, chứ không phải tin một cách lệch lạc sai lầm, Âm: Quy mạng tận thập phương Tối thắng nghiệp biến tri Sắc vô ngại tự tại Cứu thế đại bi giả, Cập bỉ thân thể tướng Pháp tánh chân như hải Vô lượng công đức tạng Như thật tu hành đẳng. Vị dục linh chúng sanh Trừ nghi xả tà chấp Khởi Đại thừa chánh tín Phật chủng bất đoạn cố. Dịch: Quy mạng cùng tột cả mười phương Đấng nghiệp tối thắng, trí biết khắp Sắc hình đều vô ngại tự tại Là đức Đại bi cứu giúp đời, Và với thể tướng của thân kia Biển pháp tánh chân như rộng lớn Là kho tàng vô lượng công đức Cùng các vị như thật tu hành. Vì muốn khiến tất cả chúng sanh Trừ hết nghi ngờ bỏ tà chấp Phát khởi chánh tín về Đại thừa Cho hạt giống Phật không đoạn dứt. Giảng: Những vị Bồ-tát, những đệ tử lớn của Phật, muốn viết những quyển luận giải thích về kinh Phật, trước hết đều tán dương Tam bảo. Vì vậy, mở đầu quyển luận này tổ Mã Minh cũng tán dương Tam bảo. Quy mạng tận thập phương Tối thắng nghiệp biến tri Sắc vô ngại tự tại Cứu thế đại bi giả. Đem hết thân mạng quy hướng về mười phương chư Phật, là những đấng nghiệp đã tối thắng và biết khắp. Trước hết quy mạng Phật. Phật là một vị trí tuệ sáng suốt, hành động, ngôn ngữ, ý niệm đều thù thắng hơn tất cả. Thân được tự tại, phát lòng cứu hộ tất cả chúng sanh, nên nói ngài là Nghiệp tối thắng, là Biến tri, là Sắc tự tại, là Cứu thế đại bi. Cập bỉ thân thể tướng Pháp tánh chân như hải Vô lượng công đức tạng Như thật tu hành đẳng. Và với thể tướng của thân kia: chỉ cho từ nơi đức Phật ba nghiệp đã thanh tịnh thù thắng. Biển pháp tánh chân như rộng lớn: ngài tuyên dương chánh pháp, lưu lại cho đời sau, mới nói ra biển pháp tánh chân như đầy đủ. Là kho tàng vô lượng công đức. Ba câu này là quy mạng Pháp. Cùng các vị như thật tu hành là quy mạng về Tăng. Tăng là những vị hiền thánh y theo pháp của Phật tu hành chân thật. Đó là ngài đem hết tâm thành kính cẩn quy hướng về Tam bảo trước khi viết quyển luận. Kế đến ngài nói về bản ý tạo luận. Vị dục linh chúng sanh Trừ nghi xả tà chấp Khởi Đại thừa chánh tín Phật chủng bất đoạn cố. Vì muốn khiến tất cả chúng sanh, trừ hết nghi ngờ bỏ tà chấp, phát khởi chánh tín về Đại thừa, cho hạt giống Phật không đoạn dứt. Ngài làm luận này là muốn khiến cho tất cả chúng sanh hết nghi ngờ và bỏ tà chấp, cùng khởi lòng tin Đại thừa một cách chân chánh, hạt giống Phật luôn luôn được tiếp nối sanh trưởng chứ không bị tiêu mất. Đó là mục tiêu chính mà ngài tạo luận. Âm: Luận viết: Hữu pháp năng khởi Ma-ha-diễn tín căn, thị cố ưng thuyết. Dịch: Luận nói: Có pháp hay khởi về tín căn Đại thừa, thế nên phải nói. Giảng: Có pháp làm cho chúng ta khởi được niềm tin sâu về Đại thừa. Vì muốn người tin Đại thừa, mà không có phương pháp thì làm sao tin được, nên ngài phải nói ra để chúng ta nhận mà tin. Âm: Thuyết hữu ngũ phần. Vân hà vi ngũ? Nhất giả nhân duyên phần. Nhị giả lập nghĩa phần. Tam giả giải thích phần. Tứ giả tu hành tín tâm phần. Ngũ giả khuyến tu lợi ích phần. Dịch: Nói có năm phần. Thế nào là năm? Một là phần nhân duyên. Hai là phần lập nghĩa. Ba là phân giải thích. Bốn là phần tín tâm tu hành. Năm là phần khuyến tu lợi ích. Giảng: Quyển luận này chia làm năm phần: - Phần thứ nhất nói về nhân duyên. - Phần thứ hai nói về lập nghĩa. - Phần thứ ba giải thích. - Phần thứ tư nói về tín tâm tu hành. - Phần thứ năm khuyên tu lợi ích. Như trong kinh Lăng-nghiêm mở đầu cũng là phần nhân duyên, ngài A-nan hỏi Phật. Kế là phần lập nghĩa, đức Phật muốn chỉ ra nơi chúng ta có cái bất sanh bất diệt, nên ngài hỏi A-nan về tâm để A-nan đưa ra những cái chấp sanh diệt. Ngài phá hết những cái chấp đó, sau mới chỉ ra cái chân thật. Đến phần giải thích, đức Phật giải thích rõ để A-nan ngộ. Sau khi ngộ A-nan hỏi đường lối tu hành, giống như phần thứ tư tín tâm tu hành của luận này. Cuối cùng là khuyên tu. Thế nên Phật tổ đều không khác ý, nghĩa là chư tổ đều theo ý Phật mà lập những quyển luận tương tự. Mở đầu nói nhân duyên làm luận, kế lập nghĩa cho vững. Sau khi lập nghĩa, giải thích đầy đủ, người ta tin nhận rồi, mới dạy chuyên tu. Khi dạy tu rồi mới kết luận lại là khuyên tu có lợi ích gì... Đó là năm phần của quyển luận này. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 13 - Luận Bộ Giảng Giải 2
Thập Nhị Môn Luận Giảng Giải
|
Đại Thừa Khởi Tín Luận Giảng Giải
Thập Nhị Môn Luận Giảng Giải