Thiền Tông Việt Nam
Tâm Yếu Nhà Thiền - Hạnh Chiếu
Chánh Văn - Giảng Giải (tt3)

Học giả thời nay đua nhau lấy hỏi đáp làm quan yếu trong thiền tông, chẳng biết là tâm thủ xả khởi tưởng. Than ôi! Cái học đến lý, đến sự đều là lối nói của những người gần đây, dù có chút ít nhận hiểu cũng chưa được thôi dứt. Đâu chẳng nghe nói: "Đạo Niết-bàn dứt bặt nghĩ lường." Phải biết thẳng thắn, tự kiểm điểm mới được.

Học giả thời nay đua nhau lấy hỏi đáp làm quan yếu trong thiền tông, chẳng biết là tâm thủ xả khởi tưởng. Ngay thời ngài Phật Nhãn mà người ta đã đua nhau hỏi đáp, lấy đó làm điểm quan yếu của thiền tông, không biết đó là do tâm thủ xả khởi tưởng. Điều này chứng tỏ thời nào cũng có người lấy kiến giải làm chỗ học đạo. Đến nơi nào cũng hỏi để thể hiện ta hiểu biết Phật pháp. Nhưng thật ra đó là tâm suy nghĩ phân biệt, chứ không phải điểm quan yếu của Phật pháp.

Tổ bảo thời xưa hay thời nay cũng vậy, có một số vị do tham khảo nhiều, nghe nhiều các bậc thiện tri thức giảng, lấy đó làm sở trường của mình, đi đâu cũng đem kiến thức ấy thưa hỏi, rồi lại tăng trưởng thêm kiến giải, không phải sự thể nghiệm do sự ứng dụng tu hành. Do đó càng học hỏi càng thêm kiến giải, càng thêm kiến giải càng phân biệt thủ xả. Thế là càng học đạo càng cách xa đạo.

Như chúng ta biết, tôn giả A Nan đa văn là do ngài thông minh, học giỏi, nhớ dai. Ngài không mượn cái thông minh của mình để góp nhặt hay biện luận, tạo thành kiến giải uyên bác, thế mà đã bị Như Lai quở trách. Huống là ta vay mượn kiến thức của người cho là của mình. Như vậy có hai lỗi. Thứ nhất, mượn của người mà quên của mình. Thứ hai, lấy của người mà cho là của mình. Cho nên cần phải bỏ đi cách học hỏi sai lầm này. 

Than ôi! Cái học đến lý, đến sự đều là lối nói của những người gần đây, dù có chút ít nhận hiểu cũng chưa được thôi dứt. Cái học đến lý đến sự, tức là nói lý nói sự đều là lối nói của những nhà đương thời. Lúc đó Phật pháp quá thịnh hành ở Trung Hoa, nên người ta đua nhau tranh luận. Ở Ấn Độ có thời gian các luận sư giỏi biện luận, cứ gặp gỡ là tranh luận, đấu lý với nhau. Ai đấu thắng thì được gọi là chánh, ai đấu thua thì gọi là tà. Phật pháp rơi vào hý luận, không có nghĩa thật. Ở Trung Hoa cũng có một thời như thế, nên chư tổ mới chuyển qua công án, nhằm dẹp trừ tình trạng nói rỗng vô ích.

Thật ra tu rất đơn giản, nhưng vì ta quen nhiêu khê rắc rối, bây giờ muốn đơn giản phải tập, thành ra thấy mệt. Nên nói học đến lý, đến sự gì cũng vẫn là chưa thôi dứt. Cần phải bỏ hết kiến giải, thủ xả, ngay cả thiền định trí tuệ, giác ngộ giải thoát... cũng đừng vướng mắc. Sống bình thường, tỉnh biết. Chỉ xin như vậy thôi, đủ tu đến chết rồi. 

Đâu chẳng nghe nói: "Đạo Niết-bàn dứt bặt nghĩ lường." Phải biết thẳng thắn, tự kiểm điểm mới được. Nếu còn suy nghĩ, dù vào Niết-bàn chăng nữa cũng chỉ là Niết-bàn tưởng tượng mà thôi. Chỉ khi nào chúng ta không nghĩ, không tính toán đó mới thật là Niết-bàn.

Khi tu, ta phải thẳng thắn kiểm điểm, những gì dở ta bỏ, những gì hay ta lấy, đâu là đất thật ta đứng, đâu là đất không thật ta không đứng. Chữ thẳng thắn có nghĩa là trực tâm, nhìn thẳng, không quanh co. Nhìn lại chính mình. Chỗ này thấy vậy mà khó. Tại vì bản ngã thường túc trực, không cho mình nhìn thẳng, nó sợ mình đâm thủng nó. Chiến sĩ yếu lòng là thua trận thôi.

Người do mê tâm nên tìm đạo, bèn đến trong núi rừng cầu gặp thiện tri thức, cho là riêng có cái đạo có thể khiến người được an lạc.

Đạo là tâm. Tâm ngay đây mà tìm tức là mê tâm, quên tâm. Thử tưởng tượng ta loanh quanh trong nhà, có người hỏi kiếm chi, trả lời kiếm ta, thì biết không bình thường rồi. Ta có thể đi tìm một vật nào đó như chìa khóa, cái khăn, cuốn sách... thì được, nếu lần quần kiếm chính mình thì bất ổn rồi. Phật tổ sợ chúng ta như vậy nên nhắc nhở hoài. Đạo ngay nơi mình, tìm kiếm ở núi rừng tức là điên đảo.

Họ không biết nghiên cứu trở lại, nhằm chỗ mê hạ thủ công phu là tối đệ nhất. Nếu không đến được chỗ mê này, dù vào núi rừng không trở lại, cũng uổng công mà thôi.

Nếu không biết nghiên cứu trở lại, nhằm chỗ mê hạ thủ công phu là tối đệ nhất, câu này thật là ách yếu. Chúng ta ai cũng có chỗ mê, mà Tổ bảo nhằm chỗ mê hạ thủ công phu là số một. Vậy thì mình tha hồ tu. Nếu nói nhằm chỗ tỉnh hạ thủ công phu thì khó, chứ chỗ mê chúng ta có dư.

Giả sử chúng ta vào thiền viện được năm năm. Nhìn tới nhìn lui thấy công phu không tiến. Mệt quá. Lúc mới vô làm gì cũng được, ăn lúc nào cũng tiêu, ngủ ở đâu cũng ngon, ngồi thiền tụng kinh răm rắp... Bây giờ sao khó ăn khó ngủ, khó làm việc, tụng kinh ngồi thiền hết nổi. Tu hành gì chẳng giải thoát chút nào, hết trị nhật đến tri khố, hết hành đường tới rửa chén, làm vệ sinh, cuốc đất trồng rau... liên tu bất tận. Ngoài đời làm thợ may đã quá chán, vô chùa lại phải may vá, không có gì thay đổi.

Chúng ta có hàng ngàn lý do để phiền não. Bởi vì nghĩ rằng vô thiền viện để tu, không phải làm như vậy. Tu là sao? Là rảnh rang mặc áo tràng đi tới đi lui, sáng nhìn cây cảnh, tối lại ngắm trăng! Không phải nấu cơm, rửa chén, chùi cầu như cu li thế này. Tu như vậy chỉ có nước vào viện dưỡng lão.

Đó là tâm trạng chung của người sơ cơ thời nay. Ta thấy phiền não vì nghĩ ở ngoài đời tất bật, nào ngờ vô chùa cũng tất bật. Thiền sinh ở thiền viện cứ xách bồ đoàn chạy, áo tràng không kịp gài nút, mặt mày hớt hãi vì trễ giờ. Mà trễ giờ thì bị rầy. Lúc nào cũng như chạy giặc. Thật kỳ, so le với oai nghi tế hạnh đã được học là phải đi đứng thư thả, nhẹ nhàng. Trước khi ngồi thiền chạy, xả thiền ra cũng chạy, làm việc càng chạy nhiều hơn... Sao lận bận quá.

Nếu hỏi ra thì tất cả đều có nguyên nhân. Tại sao ngồi thiền trễ? Ba giờ khuya thức chúng. Mở mắt ra thấy ba giờ kém năm, chưa dậy, còn năm phút để nướng. Đến chừng giật mình thức dậy là đã ba giờ năm phút, trễ. Ném mùng mền chiếu gối vào đơn, chạy. Lên chùa ngủ gục, ăn bê. Lạ! Hồi ngoài đời ngủ không được, nhưng vô chùa ngủ hoài cũng không đủ, vì thời gian bị rút lại rồi. Có vị thắc mắc ngủ thiền đâu có tội tình gì, nhưng chữ ngủ nằm gần với chữ ngu. Ngủ nhiều sẽ ngu đấy, Phật nói như vậy.

Khi đi tu chúng ta đã biết trước là phải thức khuya dậy sớm, tam thường bất túc, mình cam tâm tình nguyện mà. Phật dạy người xuất gia phải tam thường bất túc, nghĩa là ăn ít một chút, ngủ ít một chút, mặc ít một chút, để có thời gian cho việc tu tập. Vì vậy xuất gia rồi mà còn ham ngủ thì dĩ nhiên là phải bị ăn bê.

Chúng ta bị trễ ở những phút tham thực, tham thùy là tham ngũ dục. Trễ cái này sẽ chuyền qua cái kia, suốt đời lận bận với chuyện ăn ngủ thì có khác gì người đời. Chúng ta tu trên công việc, chớ không phải vì bận việc mà không tu. Tu ở trong tâm, đâu can hệ chi tới công việc. Tâm thì lúc nào thiếu vắng? Chính vì lầm ở chỗ này cho nên chúng ta phát sinh phiền não. Thật ra, ngay lúc nhọc nhằn mình mới phát hiện được tham sân si còn nhiều hay ít, ta có nhẫn lực hay không.

Phiền não là biểu hiện của bản ngã. Bản ngã là gốc của si mê. Cho nên Tổ nói "Nhằm chỗ mê hạ thủ công phu là tối đệ nhất". Muốn nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, muốn hết si mê phải dứt trừ bản ngã. Cho nên ngay phiền não mà tu. Khổ nỗi chúng ta không hạ thủ nơi đó, mà lại tìm chỗ khác. Đây là lý do cho tới ngày hôm nay mình vẫn còn lao đao, lận đận trong công phu tu hành.

Sự nghiệp giác ngộ của chúng ta nằm ngay nơi tất cả các công việc làm, chứ không phải mặc áo tràng lên pháp tòa. Ta hài lòng trong tất cả mọi công việc, vì nơi nào cũng là chỗ để thử thách, đánh giá được sự tỉnh giác của mình. Khi nổi sân, nếu ta phát hiện mình đang sân thì tỉnh và sửa được tật sân. Trước đây, trong thiền viện có nhiều vị làm việc rất giỏi, nhưng thường hay nổi sân. Được thầy bạn nhắc nhở, huynh đệ đã chuyển hóa. Vẫn làm việc tốt mà ít sân hơn trước. Chúng tôi hết sức nể phục, vậy là đã có đạo lực, chắc chắn mai này sẽ hoàn thành đại sự.

Chúng ta thành công ở những chỗ đã thất bại, tức là ngay chỗ mê mà hạ thủ công phu. Tổ bảo đây là tối đệ nhất. Thế thì chúng ta có con đường để sống rồi. Ngay nơi tỉnh mình không có, chớ mê thì có nhiều.

Nếu không đến được chỗ mê này, dù vào núi rừng không trở lại, cũng uổng công mà thôi. Nếu chúng ta không ở ngay chỗ mê mà tu, dù vào trong núi rừng ở bao nhiêu năm cũng luống công nhọc sức, không được gì hết.

Có câu chuyện vui thế này. Một gã tu tiên chết, lên thiên đường gõ cửa thượng đế. Thượng đế hỏi:

- Ai?

Ông trả lời:

- Tôi.

- Tôi là ai?

- Tôi là tôi.

Thượng đế phán:

- Vậy xin mời về.

Ông hỏi:

- Tại sao?

- Vì nếu ông "tôi là tôi" thì ta cũng "tôi là tôi", mỗi người một đất không thể sống chung. Hãy về tu lại đi.

Gã về tu thêm một thời gian, sau đó lại gõ cửa thượng đế. Thượng đế hỏi:

- Ai?

- Tôi.

- Tôi là ai?

- Tôi là ngài.

Thượng đế mở cửa mời vào. 

Bao giờ không còn cái ta riêng lẻ nữa thì mình mới có thể sống được với tất cả mọi người, mới hoàn thành được đại sự giác ngộ giải thoát.

Chỗ mê cũng rất dễ nói mà khó vào. Cho nên Tiên đức nói "Khó tin, khó hiểu", lại bảo đây là nói đạo của tông đốn. Nói phản chiếu vốn là lời tẩu tác, huống là chẳng như thế.

Chỗ mê cũng rất dễ nói mà khó vào. Chỗ này tuy nói dễ nhưng tỉnh rất khó, phải có ý chí dũng mãnh, trí tuệ sắc bén và can đảm xé toạc bản ngã của mình mới tỉnh nổi. Biết cái mê thì dễ, nhưng muốn hết mê ắc không dễ.

Cho nên Tiên đức nói "Khó tin, khó hiểu". Tại sao khó tin? Vì không có hình tướng để chỉ nên khó tin. Chỗ này tự nhận, tự biết. Tại sao khó hiểu? Vì đó chính là mình, không phải đối tượng để ta hiểu. Nên nói đây là đạo của tông đốn.

Nói phản chiếu vốn là lời tẩu tác. Lời tẩu tác là lời luống dối, lời không thật. Nói phản chiếu, nói này nói kia, đều là tẩu tác. Tu mà không kẹt chấp thì được, nếu cho rằng mình phản chiếu, mình tu đạo là còn luống dối, tẩu tác. Huống chi không tu mà chấp thì rất sai.

Người đời sau, bèn dùng lời trên làm bình thường vô sự, một vị chân thật. Đây là chỗ không rõ của kẻ hậu học, ăn mặc chẳng xét.

Người đời sau nghe nói phản chiếu là tẩu tác, nên không thèm nói cũng chẳng tu trì. Lấy việc đói ăn mệt ngủ cho là người bình thường vô sự, một vị chân thật. Đây lại càng là đại bệnh. Người không nói, không nghĩ mà tâm không tỉnh giác, càng mau tới chỗ sa đọa, càng lầm lỗi, càng cách xa đạo. Ngài Thanh Viễn nói đây là chỗ không rõ của kẻ hậu học, ăn mặc mà chẳng xét. Trong việc ăn mặc, việc bình thường nói rằng mình như vậy là đúng, mà không xét mình có được hay chưa.

Trên con đường học đạo, tu đạo chúng ta cần phải đi tới nơi tới chốn, mới biết phá bỏ kiến chấp. Đi chưa tới nơi nói phá cũng không được, đi tới nơi mà không nói phá cũng không được. Đó là phá tất cả kiến chấp, để đưa chúng ta tới chỗ rốt ráo an lạc.

Từ trước đến đây có hai thứ phương tiện:

1. Chân thật phương tiện, nói không hở cách.

2. Thiện xảo phương tiện, khéo ứng dụng hợp các căn cơ. 

Nếu từ chân thật phương tiện được vào là chẳng nhờ suy nghĩ, tánh tự thầm giải, hằng không có lui sụt, diệu dụng như hằng sa. Nếu từ thiện xảo phương tiện được vào thì được an nhiên ngồi mặc áo. Về sau tự xem xét mới biết chỗ được chưa đủ mà cho là cứu cánh. Hai thứ phương tiện này đều là một pháp, không có thể mất trong chốc lát, người học phải khéo xét đó.

Ngài Thanh Viễn nói từ trước đến đây có hai thứ phương tiện:

1. Chân thật phương tiện, nói không hở cách. Phương tiện chân thật nói không hở cách, nghĩa là không cho xen một chút tạp niệm nào. Phương tiện này khít khao, không hở cách là khít khao. Thí dụ ngài Lâm Tế hỏi tổ Hoàng Bá "Thế nào là đại ý Phật pháp?" Tổ không nói tiếng nào mà đập một gậy. Đây gọi là phương tiện chân thật. Bởi vì đập xong là bặt đường ngôn ngữ, dứt chỗ tâm hành. Thầy không nói, trò không hiểu, không có chút tư niệm nào lọt vào được.

Nói rõ hơn, phương tiện chân thật là chỉ thẳng, nói phương tiện mà không có phương tiện. Bởi vì thông thường, phương tiện là có chỗ để ta nương, nhưng ở đây không cho nương. Như một gậy của Hoàng Bá cho Lâm Tế là trực truyền. Nếu Lâm Tế nhận được là trực nhận, không nhận được thì thôi. Đánh thì biết đau, chỗ này đâu cần lý giải. Trực chỉ là như thế.

Nhà thiền thường nói "hãy nhìn dưới gót chân mà đi". Tất cả chúng ta đều có sẵn tánh giác, chư tổ muốn chỉ thẳng nên nói nó ngay dưới gót chân tức ngay nơi mình, chẳng ở đâu xa. Ngặt một nỗi, tại sao các ngài không nói trước cho mình biết, rồi đánh đập gì cũng được. Cứ quơ gậy đánh thì ai biết đường mà đỡ? Thật ra nói trước thì ý thức lại xen vô, tâm tánh tiếp tục bị nó làm mờ mất rồi. Cho nên chỗ này chúng ta cần phải hiểu rõ, lỗi tại cái thằng "ý" đó.

Ngài Lâm Tế trước khi đến với tổ Hoàng Bá, thường dừng ở các nơi giảng pháp, nghiên cứu tinh tường giới luật, thâm hiểu kinh luận, không phải chưa biết chữ nhất một nhì hai, giáo lý từ chương không hề thiếu mà là dư. Hơn nữa, ngài ở trong hội của Hoàng Bá ba năm rồi, thì việc ý tứ trong nhà không phải không biết. Thuật tiếp người của chư cổ đức không phải là gặp đâu đánh đó, mà còn tùy theo trình độ căn cơ của mỗi hành giả.

Do Lâm Tế đi nhiều nơi, học hỏi nhiều thiện tri thức, khi đến chỗ ngài Hoàng Bá là đã đầy ắp kiến giải, lại được Thủ tọa Trần Tôn Túc mớm cho một câu "thế nào là đại ý Phật pháp", xúi đi hỏi Tổ. Hoàng Bá muốn nhổ đinh tháo chốt cho Lâm Tế nên sử dụng độc chiêu, giúp Lâm Tế một đao đại đoạn. Nhưng phải đợi qua đến Đại Ngu, Lâm Tế mới hoàng thành đại sự. Cho nên thiền sư Đại Ngu nói "Bà già Hoàng Bá đã vì ông chỉ chỗ tột khổ".

Chúng ta muốn trắc nghiệm sự tu của mình không khó. Chẳng cần lên lớp trả bài, ghi sổ ngồi thiền mấy tiếng, nghiệm chiều sâu chiều dài thời gian trong đạo... không cần thế đâu. Chỉ cần nhìn vào tâm của mình là biết có tiến hay không. Nếu chúng ta thường bất an là chưa tiến. Hiểu kinh bao nhiêu thì hiểu mà gặp chuyện còn phiền não là chưa tiến. Đôi khi mức độ phiền não của ta ít hơn hồi trước, nhưng không có nghĩa là đã xong việc.

Ngài Thần Quang đã tu học lâu rồi, rất có khí phách nhưng đến cầu tổ Bồ Đề Đạt Ma an tâm, bởi vì ngài bất an. Chúng ta cũng vậy, bên ngoài thấy như bình thường, nhưng thật sự bên trong là những nỗi bất an. Vậy thì, không thể nói chúng ta yên lòng ở chỗ tụng kinh ngồi thiền, mỗi ngày hai thời công phu là đủ. Phải xem cái tâm của mình như thế nào?

Chính vì thế chư tổ ngày xưa đã khổ công học đạo, các ngài cũng hết lòng từ vi vì chúng sanh mà chỉ bày. Một điều rất hay là tánh Phật nằm sẵn trong mỗi chúng ta. Nếu không như thế thì Thế Tôn cũng vô phương cứu giúp. Cái sẵn đó chúng ta đã biết từ lâu, tuy không chỉ được nhưng biết nó hiển hiện qua những chỗ ta đã học tập. Thế thì bây giờ chỉ còn nhận ra, nếu mình không tỉnh giác, không quyết tâm nhận lại thì có cũng như không, mê vẫn hoàn mê, khổ vẫn hoàn khổ.

Thường khi lớn tuổi, chúng ta hay nghĩ về chùa tu để được an nhàn, tu gieo duyên. Chiều chiều nghe pháp cũng vui. Hiểu được thì hiểu, không hiểu cũng không sao. Chúng ta quên rằng mình có tánh giác nghe, dù già hay trẻ, tánh nghe ấy vẫn bình đẳng như nhau. Tại sao không nghe bằng tánh nghe, khỏi phải suy nghĩ, khỏi phải ghi nhớ, khỏe thân khỏe tâm, mà lại sử dụng được phương tiện chân thật. Ai bảo mình tu gieo duyên, đời sau tu tiếp? Tu ngay bây giờ vẫn được mà.

Chúng ta cứ nghĩ mình già tu không nổi, nhớ không bằng người ta. Ai hoằng pháp hay làm Phật sự thì cứ làm, mình chỉ an hưởng một chút như vậy là được rồi. Thế thì uổng quá. Nếu nghe pháp chỉ để vui một chút, hết nghe lại thấy buồn, thấy cô đơn, thấy đau chỗ này nhức chỗ kia, nên muốn tìm pháp hội nghe nữa. Nghe xong về lại buồn, thật là bất an quá. Đó là chúng ta bỏ quên khả năng thức tỉnh của mình, chạy theo cảnh duyên bên ngoài đã quen. Bây giờ trở về khó.

Thật ra người già mới dễ tu. Nói nghe như ngược, nhưng đúng là như thế. Tại sao? Vì lục thức của người già đã mờ rồi, trí óc không nhanh nhẹn như người trẻ, chuyện gì tới ít muốn suy nghĩ. Nếu biết tu, tuổi già có điều kiện tu tốt hơn tuổi trẻ. Tới giờ ăn thì ăn, tới giờ ngủ thì ngủ, không có việc gì để lo lắng, cũng không cần giao tế với ai, không phiền não chi hết.

Hòa thượng Trúc Lâm nói "Quý bà già ở đạo tràng Thường Chiếu sống dai lắm, chắc là có pháp lạc". Đất Long Thành vừa nóng bức, nực nội, mưa gió thất thường mà sao tuổi thọ của mấy cụ cao? Nhiều cụ hơn tám mươi tuổi mà vẫn còn cứng cỏi. Vậy là phải có pháp lạc chứ buồn quá làm sao sống nổi. Điều này cho thấy quý cô có khả năng sống vui, chứ không như những người thường tình, không nên mặc cảm mà đánh mất khả năng giác ngộ của chính mình.    

2. Thiện xảo phương tiện, khéo ứng dụng hợp các căn cơ. Phương tiện thiện xảo là chư tổ tùy theo căn cơ trình độ của mỗi người mà khai mở cho họ. Hành giả nương phương tiện của thiện tri thức được khai ngộ, sau đó tu tập tiếp mới có thể tiến lên triệt ngộ, chớ không thể trực ngộ ngay từ đầu.

Tại sao phải thiện xảo? Vì nếu thầy không khéo, đệ tử lại chấp trên phương tiện, sẽ rơi vào kiến chấp, không thể thấy đạo. Nên nói phương tiện thiện xảo là khó ứng dụng hợp với căn cơ. Có câu "Trước dùng dục câu dắt, sau dùng trí để nhổ" là trường hợp sử dụng phương tiện thiện xảo. Vị thầy trước dẫn dụ đệ tử tu tập sẽ được những lợi ích thiết thực hoặc có các quả chứng v.v... sau khi công phu của học nhân đã thuần thục, thầy sẽ vì họ nói phá để tiến lên, không kẹt ở phương tiện. Như phẩm Phương tiện trong kinh Pháp Hoa, trước Phật dùng hóa thành dẫn dụ chúng ta tu theo ba thừa. Sau khi về đến bảo sở, Phật bảo chỉ có duy nhất một Phật thừa, không hai cũng không ba.

Nếu từ chân thật phương tiện được vào là chẳng nhờ suy nghĩ, tánh tự thầm giải, hằng không có lui sụt, diệu dụng như hằng sa. Thật ra học đạo theo tinh thần phương tiện chân thật rất khỏe, bởi vì không cần phải suy nghĩ. Tánh tự thầm hiểu tức là nhận được chân tánh, giữ gìn không cho lui sụt mới là khó. Ngày xưa khi học với Hòa thượng, mỗi lần Ngài nói "Đoạn này quý vị không được khởi hiểu nghe" thì tôi lại rất thích. Bởi vì không hiểu và không thèm khởi hiểu rất khỏe. Tuy nhiên, cái không hiểu của mình thuộc pháp sanh diệt, chớ không phải không hiểu của cái bất sanh bất diệt. Cho nên đối với người mê, hiểu hay không hiểu gì cũng mê.

Trong nhà thiền không cho suy nghĩ, do đó nếu tu được phương tiện chân thật có lẽ thích thú lắm. Hiểu được thì hiểu, không hiểu được thì thôi. Thật ra, cái gọi là hiểu ở đây cũng cam go lắm. Có khi ta ngỡ như mình hiểu, nhưng là tưởng chớ không phải thật hiểu. Đối với chân tâm Phật tánh mà hiểu thì hiểu làm sao. Chỗ này phải rất thận trọng. 

Ở trên nói với người tu già, đến đây chúng ta chia sẻ một chút cùng các bạn tu trẻ. Tuổi trẻ là con dòng cháu giống đấy, ngoài bổn phận tự lợi còn có bổn phận lợi tha nữa. Ta sai một mình đã là đáng sợ, mà dẫn một đoàn người cùng sai thì thật đáng sợ lắm lắm. Thế nên, trách nhiệm của người tu trẻ rất lớn. Chúng ta có đủ thời gian, đủ sức khỏe, đủ trí tuệ và việc này chỉ cần nhanh là nhận. Tuổi trẻ là tuổi nhanh, vậy tại sao chúng ta không chọn phương tiện chân thật để tu? Tuy nhiên đừng quên nhanh mà không biết tu thì nguy hại hơn là chậm. Bởi vì ta sẽ lao ra như tên bắn, không dừng nghiệp kịp thì ba cõi sáu đường mở ra. Cho nên các bạn trẻ cần phải tu nhiều hơn.

Theo lời dạy của chư tổ, dám nhận cái tâm của mình là kế sách hay nhất. Thức tỉnh được một chút ta sẽ cảm nhận được năng lực chiến thắng. Chiến thắng được mình rồi thì ta mới cảm hóa được bên ngoài. Bấy giờ diệu dụng như hà sa, nói làm bất cứ điều gì cũng đem lại lợi ích cho muôn người. Trong kinh Pháp Cú, đức Phật có dạy "Dù chiến thắng hàng ngàn quân địch không bằng chiến thắng mình. Chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất".

Tích truyện của câu Pháp Cú này xuất phát từ một vị tỳ-kheo ni đệ nhất biện luận. Đứng trên hố thẳm của sự đau khổ, trong giờ phút sắp chết, cô bừng tỉnh để trở thành đệ nhất nghị luận trong hàng Thánh đệ tử nữ của đức Phật. Thế Tôn đã tuyên dương công đức của cô bằng chính câu kinh này. Có thể nói đây là câu Pháp Cú rất nổi tiếng, được chư sơn trong tùng lâm thường nêu dẫn làm tiêu bảng cho người sau tu tập.

Nói đến điều này có vẻ như lạc đề, nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh với chư huynh đệ, chúng ta cũng là nữ tu, không thể không đi theo dấu chân của người xưa. Một vị tỳ-kheo ni trẻ đã chiến thắng oanh liệt nội ma lẫn ngoại ma, để trở thành bậc giác ngộ giải thoát, nêu cao tấm gương sáng cho bao thế hệ ni lưu về sau. Tại sao chúng ta không noi theo tu tập? Thế nên, chị em hãy củng cố niềm tin nơi chính mình, thẳng tiến về phía trước, bỏ lại sau lưng tất cả phiền não khổ đau và tập khí yếu hèn, thoát khỏi tư tưởng nữ nhi thường tình, để được giác ngộ giải thoát.

Phật nói tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, tất cả đều là Phật sẽ thành. Đây không phải là một câu nói an ủi, mà là một câu nói thật, rất thật. Con đường chư tổ đưa ra là chân thật phương tiện, nhưng vì chúng ta thiếu niềm tin nên buộc lòng phải có thêm thiện xảo phương tiện. 

Nếu từ thiện xảo phương tiện được vào thì được an nhiên ngồi mặc áo. Về sau tự xem xét mới biết chỗ được chưa đủ mà cho là cứu cánh. Thiện xảo phương tiện là đối cơ để trị. Từ thiện xảo phương tiện được kết quả ban đầu khả quan. Ở đây nói an nhiên ngồi mặc áo, nghĩa là ta có một chút tự chủ. Nhưng về sau tự xem xét mới biết chỗ được chưa đủ, mà cho là cứu cánh. Giống như kinh Pháp Hoa nói ngồi ở hóa thành, nhưng lại cho là bảo sở nên an nhiên. Đến sau xem xét kỹ mới hay là phương tiện thiện xảo chưa phải cứu cánh. 

Hai thứ phương tiện này đều là một pháp, không có thể mất trong chốc lát, người học phải khéo xét đó.

Hai phương tiện này đều là một pháp, không thể buông bỏ trong chốc lát, vì vậy hành giả phải khéo xét. Thật ra, hai phương tiện này đều cần thiết trên bước đường tu tập. Chúng ta thấy đi theo chân thật phương tiện được thì theo. Nếu muốn theo thiện xảo phương tiện thì theo. Nếu muốn theo thiện xảo phương tiện cũng được, nhưng nhớ đây chưa phải là xong, cần đi nữa tới bao giờ thật sự nhận ra chính mình mới xong. Tuy nhiên, đã là phương tiện thì cuối cùng đều phải xả bỏ. Nếu chưa đến bờ thì không được bỏ sớm, vì vậy Ngài nói "không có thể mất trong chốc lát, người học phải khéo xét".

Ngài Tuyết Phong dạy người: "Chớ bảo lão tăng có một câu đến trên phần của ông, nếu có một câu đến trên phần của ông thì kham dùng làm gì?" Đây là cổ nhân bất đắc dĩ mà thôi. Người sau không hiểu ý cổ nhân, bèn cho rằng trên phần của chính mình, không có các thứ nói bàn, đây là hiểu lầm rồi. 

Đến đây ngài Thanh Viễn dẫn lời của ngài Tuyết Phong chỉ dạy rằng "Chớ bảo lão tăng có một câu đến trên phần của ông, nếu có một câu đến trên phần của ông thì kham dùng làm gì?" Nghĩa là trên tâm thể của chúng ta không có một câu nói đến được, nếu nói được thì không phải chỗ tâm yếu. Vì vậy nếu có một câu nói đến thì không kham dùng làm gì.

Có người đặt vấn đề không nói, làm sao lợi tha? Phần quý ngài đã xong rồi, còn phần độ sanh, không nói làm sao chúng sanh hiểu Phật pháp mà tu để được giác ngộ giải thoát như các ngài? Đây là một vấn đề khó.

Cho nên lúc mới thành đạo, đức Phật không muốn nói pháp, vì biết rằng chỗ đó nói không tới. Vì sao không tới? Vì càng nói người nghe càng chấp vào ngôn ngữ thì không tới chỗ không ngôn ngữ. Cho nên ở đây thiền sư Tuyết Phong nói nếu có một câu đến trên phần của ông thì kham dùng làm gì? Phải hiểu tất cả những gì cổ nhân dạy chúng ta chỉ là bất đắc dĩ mà thôi. Có lời lẽ, hành động đều là tạm lập bày phương tiện. Học nhân nương phương tiện đến được bảo sở rồi thì bỏ phương tiện.

Người sau không hiểu ý cổ nhân, bèn cho rằng trên phần của chính mình, không có các thứ nói bàn, đây là hiểu lầm rồi. Qua một ý nữa. Học nhân nghe tổ phá chấp ngôn ngữ, lại quay sang chấp cho rằng chỗ chân thật ấy không có gì nói tới, nên câm lặng luôn. Đây là hiểu lầm.

Thật là kiến chấp của chúng ta quá sâu dày. Nói kiểu nào cũng chấp. Cho nên việc tu hành của chúng ta khó tiến là vậy. Cổ nhân bất đắc dĩ dùng một chút ngôn ngữ để hướng dẫn mình tu. Sau đó sợ chúng ta kẹt ngôn ngữ mà quên quay lại nhận cái của mình nên phá bỏ ngôn ngữ. Thế là ta lại chấp im lặng là đúng. Chỗ ấy không phải nói hay nín gì cả. Nói nín thuộc về pháp đối đãi, cái đó không phải pháp đối đãi. Tóm lại, người nhận được thì nói nín chi cũng đúng, người nhận không được thì nói nín gì cũng không đúng.

Nếu chúng ta có tu tập, có niềm tin thì có thể an vui trong Phật pháp, mặc dù sự an vui chưa trọn vẹn. Vấn đề tu tập là vấn đề sống còn của chúng ta, là chuyện huyết mạch chứ không phải chuyện nghe chơi, cũng không phải nghe cho đỡ buồn. Thế nên chư huynh đệ đừng để bị kẹt ở bất cứ chỗ nào, chúng ta phải cố gắng nỗ lực bằng những phương tiện đơn sơ nhất, để có thể giữ gìn đạo tâm của mình.

Người thời nay phần nhiều đem việc xem xét trước mắt cho là cực tắc. Sở dĩ ngài Huyền Sa nói với người: "Chỗ núi sâu vắng bặt không người, đạo của ông lại có chăng?" Ngộ tâm thấy tánh phải như Tuyết Phong, Huyền Sa; đạp trên đất thật phải như Nam Tuyền, Triệu Châu mới được!

Người thời nay phần nhiều đem việc xem xét trước mắt cho là cực tắc, nghĩa là cho cái xem xét trước mắt là công phu tột cùng, là lý cứu cánh. Xưa tông Lâm Tế nổi tiếng với gậy và hét, ngài Hưng Hóa Tồn Tương đệ tử tông này. Có một dạo đi đâu ngài cũng nghe thiền tăng đua nhau hét rân trời. Ngài liền thăng tòa dạy:

- Ta chỉ nghe ngoài hành lang hét, ở giá sau cũng hét. Các ông chớ có hét mù, hét loạn, dù cho hét được Hưng Hóa bay đến trụ giữa trời, lại phải rơi xuống tắt thở, đợi Hưng Hóa tỉnh lại sẽ bảo ông "chưa hiện tại". Vì cớ sao? Ta chưa từng nhằm trong màn lụa đỏ để trân châu, những người các ông hét loạn trong hư không để làm gì?

Lại một chuyện nữa. Thiền sư Câu Chi có ai đến hỏi đạo cũng đưa một ngón tay lên. Ở chỗ ngài có một chú tiểu, khi nghe khách lạ từ xa đến hỏi: "Hòa thượng giảng về yếu quyết trong Phật pháp thế nào?" Ngay tức khắc chú đưa một ngón tay lên. Câu Chi nghe được chuyện này, cầm dao chặt phăng ngón tay chú tiểu. Đau quá, chú khóc thét và bỏ chạy. Ngài Câu Chi gọi theo, chú quay đầu nhìn lại, Câu Chi bèn đưa ngón tay lên, chú tiểu đại ngộ.

Cả hai câu chuyện trên đều cùng một ý với câu xem việc trước mắt là cực tắc của ngài Thanh Viễn vậy. Học nhân cho phương tiện là cứu cánh, tập trung trên phương tiện mà quên chỗ tâm yếu.

Trở lại câu chuyện của chú tiểu một chút. Cho đến khi bị thầy chặt ngón tay chú mới ngộ đạo. Nếu không có bản lĩnh của vị thiện tri thức như thiền sư Câu Chi thì khó mà gỡ chú ra khỏi cái ngón tay quỷ quái ấy. Ngón tay là phương tiện tối thượng của ngài Câu Chi, nhưng cuối cùng ngài chặt ngón tay của chú tiểu, bởi vì chú chẳng hiểu gì về ngón tay ấy cả, chỉ bắt chước thầy vậy thôi.

Chúng ta cũng bắt chước như thế. Nghe Phật tổ nói sao, mình lặp lại y như vậy mà cũng chẳng hiểu gì. Chủ đích của thiền sư là nhổ đinh tháo chốt, chúng ta ngay đó lại đóng chặt hơn nữa. Nếu cho việc trước mắt là tối thượng thì sẽ mờ chính việc trước mắt, cho nên vén nó qua một bên mới hiển thị được việc chính.

Sở dĩ ngài Huyền Sa nói với người: "Chỗ núi sâu vắng bặt không người, đạo của ông lại có chăng?" Chỗ núi rừng không người thì ai mà tu đạo? Nếu cho rằng đạo chỉ có ở trước mắt, vậy trong núi sâu không người, nơi ấy có đạo không? Tâm thể trùm khắp, đâu hạn cuộc ở chung quanh chúng ta. Nếu cho rằng nó chỉ có chung quanh mình thôi, đó là cái nhìn lầm lẫn. Cho nên nơi nào chốn nào, dù có người hay không người, ở đó vẫn có đạo. Tại sao? Vì tâm thể trùm khắp, mà tâm thể tức là đạo.

Ngộ tâm thấy tánh phải như Tuyết Phong, Huyền Sa; đạp trên đất thật phải như Nam Tuyền, Triệu Châu mới được! Người ngộ tâm thấy tánh phải như thiền sư Tuyết Phong, Huyền Sa. Người đạt đạo chân thật phải như thiền sư Nam Tuyền, Triệu Châu. Trong tất cả thời đều không xen hở mới là xong việc.

Hòa thượng Trúc Lâm thường nói câu "giết người không quay lại", để nói lên ý chí tu hành dứt khoát và phương tiện độ sanh mạnh mẽ của chư tổ ngày xưa, như ngài Nam Tuyền chém mèo chẳng hạn.

Tại Việt Nam chúng ta ngay trong thời hiện đại cũng có những tấm gương nói lên ý chí tu hành mãnh liệt. Như Hòa thượng Giám đốc, Viện chủ khai sơn chùa Ấn Quang. Ngài muốn xuất gia từ thuở nhỏ, nhưng gia đình không chấp thuận vì Ngài là con trai duy nhất. Cha mẹ bắt buộc Ngài lập gia đình để có con nối dõi tông đường. Vâng lệnh song thân, sau khi có gia thất và sanh được một người con trai, Hòa thượng nhắc lại tâm nguyện xuất gia của mình, nhưng gia đình tìm đủ lý do cản trở.

Đến năm con trai khoảng 7 tuổi, Ngài quyết định đi tu, mặc dù gia đình phản đối. Hòa thượng chuẩn bị đâu đó đàng hoàng hết, nửa đêm Ngài trốn lên thuyền đã cột sẵn ở bờ sông sau nhà. Không ngờ trong gia đình có người hay. Thế là chuyện bại lộ, con trai nghe cha lên thuyền, chạy ra đòi theo. Ngài nhanh tay chèo đi giữa tiếng gọi cha não nuột của đứa trẻ 7 tuổi.

Cũng có người kể thêm, con trai vì muốn lên thuyền, nhưng Ngài đã lướt đi, nên cậu bé nhảy đại xuống sông, giữa tiếng kêu la hốt hoảng của gia đình. Ngài vẫn giong thuyền đi thẳng, không nhìn lại. Thật là ý chí ngất trời, có thể ví với câu "giết người không ngoái lại" của thiền gia vậy. Sau này con trai ngài chính là Hòa thượng Tịnh Đức, cũng xuất gia và trở thành danh tăng, nhưng do duyên ngắn nên đã mất sớm.

Bậc đại trượng phu là như vậy. Cái chặt đó rất khó mà chặt được mới kham lãnh thọ giáo pháp, thành tựu đạo nghiệp. Cho nên ở đây nói "Ngộ tâm thấy tánh phải như ngài Tuyết Phong, Huyền Sa" tức là dứt khoát, mạnh mẽ, chỉ một bề siêng năng tinh tấn tu hành, không xen lẫn việc khác.   

Đạp trên đất thật phải như Nam Tuyền, Triệu Châu. Một hôm, ngài Nam Tuyền thấy hai bên nhà đông, nhà tây tranh nhau con mèo. Ngài nắm con mèo nói: - Các ông nói được thì tha con mèo, nói không được ta chém con mèo. Cả hai nhà, không vị tăng nào nói được. Ngài chém con mèo.

Đến chiều, Triệu Châu về, Ngài đem câu chuyện khi sáng kể lại và hỏi Triệu Châu: Ông thì sao? Triệu Châu liền tháo giày đội lên đầu đi ra. Nam Tuyền thở dài nói: Tiếc thay! Phải chi sáng có ông thì đã cứu được con mèo. Đây chính là phương tiện chân thật, không còn một kẽ hở nào để suy nghĩ. Nói được thì tha con mèo, không nói được thì chém con mèo. Chánh lệnh đã ra, không thể không hành, nếu không hành lời nói của thiền gia sẽ không còn hiệu lực. Ngài Nam Tuyền đành làm một việc mà đến chiều phải thốt lên câu "Tiếc thay giá như Triệu Châu có mặt thì cứu được con mèo". Cho nên không thể nói Nam Tuyền không có lòng từ bi, mà vì quá từ bi đành cam chịu nợ mạng con mèo. Phải là đại thiện tri thức, đại bản lĩnh như Ngài mới có thể làm được như thế.

Hành động của thiền sư Nam Tuyền cũng là một cảnh báo cho đại chúng lúc nào cũng phải tỉnh giác, phải đạp lên đất thật, phải có chỗ sống của mình. Nếu không như thế sẽ làm thương tổn sinh linh. Vì ai mà ngài chém con mèo? Vì sự si ám của chúng đệ tử. Không ai cứu được con mèo, như vậy mỗi người phải có bổn phận với con mèo một chút. Chính vì vậy phương tiện này khiến cho người ta sợ mà tu, không dám lôi thôi.

Ngài Triệu Châu là người thật chứng, thật ngộ, ứng xử nhanh như chớp, không đợi suy nghĩ, dẹp sạch hai bên dơ sạch, trên dưới... đội giày lên đầu mà đi. Bởi Ngài luôn sống ở chỗ đó, nên động đến liền nhảy. Suốt ba mươi năm ở trong đại tùng lâm, ngoài hai thời cơm cháo, Ngài không bao giờ có tạp niệm. Đủ biết chỗ dụng công và chỗ sống của thiền sư không hề có chút xen hở. Tên tuổi cũng như hành trạng của thiền sư Triệu Châu vì thế vang dội trong thiền gia.

Chúng ta xuất gia cũng phải có ý chí mạnh mẽ như thế. Cho nên trong bài kệ thế phát có câu "cắt ái từ sở thân". Tại sao không bỏ cái khác mà là bỏ ái? Bởi vì nó là sợi dây trói buộc chặt nhất. Cả thế gian này đều như thế. Ai cũng có tình cảm, bởi vì không có tình cảm thì con người đã không sanh trong cõi dục. Do vậy, muốn thoát ly sanh tử thì phải xa rời ái dục. Cách thức như vậy nhưng ta lại quá ươn yếu, không gan dạ cắt đứt ngã và ngã sở, nên việc tu hành không đi tới đâu. Hãy nhìn về những tấm gương sáng của tiền nhân mà mạnh dạn cất bước về phía trước.

 

Mục Lục