Đây chẳng phải tập lâu, chẳng nhờ huấn luyện mà được, bởi vì là việc hiện hành. Người đời không biết gọi là trôi lăn. Cho nên nói chỉ chứng mới biết, khó có thể lường.
Đây chẳng phải tập mà được, bởi vì nó có sẵn nên đâu cần tập. Nếu có tập chỉ vì chúng ta hay quên nên phải tập nhớ.
Đây chẳng phải tập lâu, chẳng nhờ huấn luyện mà được, bởi vì là việc hiện thành. Trên thể tánh thì không phải tập, không nhờ huấn luyện, nó đã có sẵn rồi. Nhưng trên thực tế, nếu không huấn luyện cũng không được. Như tấm bảng này nguyên là tấm bảng đen, bây giờ chúng ta viết tùm lum lên đó. Nếu muốn trở lại tấm bảng đen thì không phải bôi đen tấm bảng nữa mà là xóa phấn. Rõ ràng tấm bảng đen không do huấn luyện mà thành, nhưng nếu không xóa phấn thì không trở lại vị trí ban đầu.
Cũng thế, tâm thể không do tập tành mà được, chẳng nhờ huấn luyện mà được, vì nó đã hiện thành lâu rồi. Nó vốn như vậy, cái giác tri của chúng ta vốn thanh tịnh từ lâu rồi, nhưng bây giờ vô minh phiền não che đầy hết, buồn vui giận hờn che đầy hết. Làm sao đây? Phải tẩy rửa nó đi. Không hiểu những thứ này mình huân từ đời nào mà nó như tua con bạch tuộc. Chặt chỗ này, nó mọc chỗ khác. Vọng tưởng như hằng sa, phiền não đủ kiểu.
Ở đây thiền sư chỉ chỗ tâm yếu nên nói thẳng, dẹp sạch. Nếu chúng ta cứ hì hục tẩy chùi phiền não thì rất mệt, vì phiền não quá nhiều dạng. Chúng ta không chặt gốc mà chỉ lo chặt ngọn, chặt cái này nó ra cái khác, có khi còn nhiều hơn nữa. Khi chúng ta bỏ nhà vô chùa xuất gia là chặt đó, nhưng vô chùa đã yên chưa hay nhiều chuyện hơn? Có câu:
Ca-sa vị đắc hiềm đa sự,
Trước đắc ca-sa sự cánh đa.
Dịch:
Ca-sa chưa đắp e nhiều việc,
Đắp được ca-sa việc lại nhiều.
Câu này linh thiêng lắm, ai tu cũng bị. Khi chưa đắp ca-sa là khi chưa xuất gia, chúng ta ngán sợ thế sự quá nhiều việc, nên mong muốn được xuất gia. Không ngờ đắp ca-sa rồi thì việc chùa lại nhiều hơn. Cho nên tất cả gốc từ tâm, chứ không phải chuyện bên ngoài. Ta không thể điều phục, không làm chủ được mình thì dù có mang hình thức nào cũng tối tăm, không có lối thoát.
"Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" là câu huyết mạch Tuệ Trung thượng sĩ truyền dạy cho tổ Trần Nhân Tông. Quay trở lại xem xét mình là tâm yếu. Nhận ra mình gọi là kiến tánh. Lục Tổ dạy kiến tánh rồi khởi tu, như vậy mới không nhọc nhằn. Nếu không thấy được mình mà tu là tu mù. Rất nhọc.
Hòa thượng Trúc Lâm hướng dẫn tu thiền từ thấp đến cao, nên Ngài dạy phải quán thân này không thật, tâm này không thật để chúng ta không chấp thân tâm hư giả, từ đó tiến lên nhận ra tâm chân thật, tức là kiến tánh. Đây là những phương thức dìu dẫn kẻ sơ cơ. Tới chỗ tột cùng không phải quán chiếu nữa, hành giả chỉ thầm nhận tâm thật. Cái thật này hiển hiện trong tất cả các hành động thi vi, nương nơi sáu căn mà chúng ta nhận ra. Nếu không có những ngày tu tập từ thấp lên cao, chúng ta sẽ không dễ gì trải nghiệm được chỗ chân thật, khi tâm còn quá nhiều vọng động.
Chúng ta do học nên hiểu thân này không thật, nhưng đó là hiểu trên lý thuyết thôi, thật ra chưa nhận được chỗ thấu đáo. Khi nhìn thấy con rắn là ta đã sợ rồi. Miệng nói thân như huyễn, mà tâm vẫn chấp nó thật, nên thấy rắn vẫn chạy vì sợ nó cắn chết. Tất cả còn nguyên cái mê vọng. Cho nên tùy mức độ lãnh hội của mỗi người mà việc ứng dụng có khác.
Một bé gái được mẹ cho chiếc vòng bằng vàng giả nhưng rất đẹp. Nó thích thú nâng niu giữ gìn kỹ lắm, ai đụng tới cũng không được. Khi lớn lên, mẹ cho chiếc vòng bằng vàng thật, thế là chiếc vòng giả bị ném đi một cách dễ dàng. Cũng thế, bao giờ ta nhận được cái chân thật vô giá nơi mình rồi, thì thân này là đồ bỏ. Phật, Bồ-tát không cần bảo, mình cũng chẳng luyến tiếc ôm giữ nó làm gì. Bấy giờ ta thật sự biết dùng trí tuệ Bát-nhã soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua hết thảy khổ ách.
Chỉ cần một sát-na đại ngộ bừng lên thì buông tất cả, nhắm mắt tự tại lên đường. Tuệ Trung thượng sĩ nói "sống chết bức nhau chừ ta vẫn thường". Hòa thượng Trúc Lâm nói người tu phải có thái độ dứt khoát, cái gì giả bỏ, cái gì thật lấy. Không thể nhìn chiếc vòng giả mà còn lẩm nhẩm có nên bỏ hay không, hay bỏ từ từ, hoặc lúc bỏ lúc không. Như vậy chưa phải là bỏ. Cũng thế, đối với thân này chúng ta chưa thật sự nhận ra nó là giả. Nếu biết rõ nó là giả thì đã không kẹt chấp giữ gìn như thế này.
Người đời không đủ bản lĩnh để nghe một câu trái tai, chứ đừng nói chi đến mất địa vị, tiền tài, người thân và ngay cả thân mình. Chỉ cần một tiếng nói nặng là đã chấp giữ và tạo nghiệp xấu. Xét theo lý Bát-nhã thì không có lời nói nào là nặng hay nhẹ cả. Ngôn ngữ phát ra chỉ là cái xác của ý tưởng mà thôi. Ý tưởng không thật, thay đổi liên tục thì ngôn ngữ càng không thật. Vậy mà thế nhân lại đóng đinh lời nói vào trong tâm. Lấy cái không thật ấn vào cái không thật, để mà khổ vui khóc cười là việc làm quen thuộc của chúng sanh truyền đời. Thế mới lạ kỳ! Chỉ có đấng từ bi như Phật mới chịu nổi sự vô lý ấy của trần gian mà thôi.
Một hôm có bà mẹ ẵm xác đứa con trai vừa mất đến trước Phật vật vã khóc lóc, xin Thế Tôn cứu cho con bà sống trở lại. Người mẹ đau khổ cùng cực vì không thể chấp nhận con mình chết. Thế Tôn hứa sẽ cứu, nếu bà tìm được nắm tro ở nhà nào mà từ xưa đến giờ chưa có ai chết đem về, Thế Tôn sẽ làm cho con bà sống lại. Bà mẹ hết sức mừng rỡ, ôm xác con đi khắp nơi, tìm mãi, tìm mãi... Cuối cùng bà trở về với tất cả sự buồn bã, thất vọng và mệt mỏi. Bấy giờ Phật mới nói: Đâu phải chỉ có một mình con chia lìa người thân. Ai cũng phải chấp nhận sự thật này. Mọi chuyện rồi sẽ qua đi, nỗi đau buồn cũng không còn. Hãy tỉnh táo chấp nhận và vượt qua nỗi khổ không thật này.
Thế Tôn đã chỉ ra sự thật hiển nhiên của cuộc đời cho bà mẹ, không phải bằng lời mà bằng sự trải nghiệm. Như Lai để bà đi và cảm nhận được nỗi đau vô thường. Bất kỳ ai sinh ra đều cũng phải chết, không chết sớm thì chết muộn. Chết là lẽ thường tình, nói đúng hơn là một phần của cuộc sống. Vậy mà có những người kiêng cữ không dám nói đến từ 'chết'. Điều này cho thấy chúng sanh rất sợ chết vì hiểu sai lầm về sự sống chết.
Một lần tôi đi dạy ở Vũng Tàu. Đoạn đường từ bến xe khách về chùa, phải nhờ một cô Phật tử đưa giùm bằng xe máy. Sau khi chạy một đoạn đường, bánh xe bị đảo. Cô xin dừng lại sửa xe. Tôi thấy không đến nỗi gì và cũng sợ trễ giờ giảng, nên bảo cô cứ tiếp tục đi, chỉ cần chạy chậm lại. Đến nơi tôi lên lớp, cô vì muốn nghe giảng nên không đi sửa xe.
Chiều trở về chiếc xe vẫn đảo bánh. Trên đường cô hỏi tôi tuổi gì, tôi nói tuổi Dần. Nhẩm tới nhẩm lui một hồi, cô vui vẻ bảo "tuổi cô rất hạp với tuổi con, chắc sẽ không sao". Thế là cô vừa lái xe vừa nói chuyện huyên thuyên, không sợ gì cả bởi biết chắc tai nạn sẽ không xảy ra! May mắn quá, hôm đó bánh xe chưa kịp rớt trước khi tôi vẫy chào người Phật tử hạp tuổi. Về chùa lật lại những trang kinh, không chỗ nào Phật nói sống chết nằm trong 12 con giáp. Lạ quá, vậy mà nhờ nó chúng sanh đỡ sợ chết mới hay chứ!
Người đời không biết gọi là trôi lăn, cho nên chỉ chứng mới biết, khó có thể lường. Tâm thể trùm khắp, không sanh không diệt. Nhưng chúng sanh không biết nên trôi lăn trong sanh tử, bị các thứ buồn vui thương ghét kéo lôi. Chúng sanh dễ giận, dễ buồn, dễ vui. Nói chung là dễ trôi theo trần cảnh cho nên rất dễ sanh phiền não.
Người đời không biết đã đành, tại sao chúng ta xuất gia tu hành mà vẫn trôi lăn? Nếu mình chưa giác ngộ như đức Phật, ít ra cũng phần giác, tức là giác từng chút, từng chút. Mỗi lần giác là tiến, giác một phần là tiến một đoạn. Càng buông xả thì càng nhẹ nhàng, chấp giữ chi cho mệt. Cuối cùng cũng không giữ được gì, vì tất cả các pháp đều vô thường. Thực tập xả ly những thứ không thật, trong tâm sẽ còn lại cái thật. Đơn giản vậy thôi.
Cho nên Tổ nói chỉ chứng mới biết, khó có thể lường. Chúng ta chưa chứng gì cả, mà nghiệm lại thấy Phật pháp quá hay, đã cứu giúp biết bao sinh linh. Trước đây, chúng sanh tạo nghiệp giết hại lẫn nhau, loài này ăn nuốt loài kia để sống. Như loài người đã giết biết bao con vật cũng vì nuôi thân. Từ khi hiểu lý nhân quả, thiên hạ bớt sát sanh, đổi sang ăn chay, tạo nhiều phước lành.
Trước kia có người khó tánh, nhặt khoan từng câu từng lời, hoặc hung hăng hiếp đáp kẻ khác, làm khổ mọi người chung quanh... Từ khi hiểu Phật pháp biết tu sửa, tâm tánh hiền lành, tinh thần phóng khoáng, không cố chấp như trước. Biết khắc kỷ khoan nhân, vui sống tu hành với huynh đệ chung quanh. Rõ ràng Phật pháp chuyển hóa nhân gian. Đó là chỉ nói trên giáo lý thông thường, chưa bàn tới chỗ cao siêu vi diệu. Đến chỗ ấy chỉ chứng mới biết, khó có thể lường. Cho nên chúng ta cũng không dám lạm bàn về chỗ này. Hòa thượng nói: Ráng tu đi rồi sẽ biết.
Thật tình, nếu không gặp Phật pháp, không biết cuộc đời của chúng ta sẽ trôi về đâu. Vô minh tăm tối, tạo nghiệp trong sanh tử luân hồi không có ngày dừng. Thật đáng sợ quá! Lúc mới vào đạo, mỗi khi nghe câu "Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp", lòng tôi chấn động lạ thường. Năng lực của Phật pháp lớn lao vô kể, cuộc đời của chúng ta theo đó mà thay đổi hẳn. Nhờ tu tập, chúng ta xoay chuyển cả một dòng nghiệp thức mênh mang, không chỉ của riêng mình, mà còn tác động ảnh hưởng đến nhiều người. Trong kinh nói một chúng hữu tình giác ngộ thành Phật thì mười phương thế giới chư Phật đồng tụ hội hộ niệm.
Kinh A Hàm có câu chuyện thế này. Một hôm, vua a-tu-la đến thưa với Phật: "Bạch Thế Tôn, sở dĩ chúng con thích sống dưới biển vì biển có tám điểm đặc biệt". Thế Tôn hỏi lại: "Thế nào là tám điểm đặc biệt?" Vua a-tu-la trả lời:
1. Biển rộng dần từ đáy trở lên, nghĩa là ở biển thì nhỏ nhưng càng lên trên càng lớn.
2. Biển sâu không thấy đáy và rộng không thấy bờ.
3. Thủy triều của biển lên xuống đúng giờ.
4. Trăm sông chảy về biển đều cùng một vị mặn.
5. Biển có thể chứa một chúng sanh cao lớn nhất, dài bảy trăm do tuần mà trong chúng con có một loài như thế.
6. Biển chứa vô lượng trân bảo.
7. Biển không chứa tử thi.
8. Trăm sông chảy về biển, đều chung một tên là Biển.
Do tám đặc điểm đó của biển mà chúng a-tu-la sống nơi ấy sắc thân không tổn giảm, tuổi thọ không tổn giảm, thần lực không tổn giảm và rất hoan lạc. Vì vậy a-tu-la rất thích sống dưới biển.
Bấy giờ vua a-tu-la liền hỏi lại đức Phật:
- Pháp của Như Lai có gì hay mà các thầy Tỳ-kheo vui thích sống trong pháp như vậy?
Thế Tôn trả lời:
- Pháp của Như Lai cũng có tám vị tằng hữu như sau:
1. Biển rộng dần từ đáy trở lên. Pháp của Như Lai cũng thế, người sơ cơ mới vào đạo học dần dần, hiểu dần dần, tu dần dần, chứng đạt dần dần và giáo hóa dần dần. Đây là vị tằng hữu thứ nhất trong pháp của Như Lai
2. Biển sâu không thấy đáy và rộng không thấy bờ. Pháp của Như Lai cũng thế, sâu không thấy đáy, rộng không thấy bờ. Tức là pháp môn vi diệu, thể tánh bình đẳng thanh tịnh nên năng lực vô cùng vô tận. Tùy theo mỗi chúng sanh mà ứng dụng pháp chuyển đổi tất cả nghiệp tập. Chúng sanh vô lượng nên pháp cũng vô lượng. Đây là vị tằng hữu thứ hai trong pháp của Như Lai.
3. Thủy triều của biển lên xuống đúng giờ. Pháp của Như Lai cũng thế, khi các tỳ-kheo, tỳ-kheo ni đã thọ cấm giới thì dù xả bỏ thân mạng vẫn không sái phạm, giữ đúng tư cách của một tăng sĩ. Nếu như thủy triều lên xuống đúng giờ thì chư tăng đi đứng, nói năng, động tịnh đúng uy nghi. Dù có phải xả bỏ thân mạng vẫn giữ gìn giới học của Phật. Đó là vị tằng hữu thứ ba trong pháp của Như Lai.
4. Trăm sông chảy về biển đều cùng một vị mặn. Pháp của Như Lai cũng thế, chỉ một vị tịch tĩnh, giải thoát, không có thứ khác. Đây là vị tằng hữu thứ tư trong pháp của Như Lai.
5. Biển có thể chứa một chúng sanh dài bảy trăm do tuần. Pháp của Như Lai cũng thế, hàm dung chư vị thánh tăng có công đức vô lượng vô biên, như Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Những bậc hiền thánh này có năng lực rất lớn, có thể tha hồ du hí trong biển pháp Như Lai. Đây là vị tằng hữu thứ năm trong pháp của Như Lai.
6. Biển chứa vô lượng trân bảo. Pháp của Như Lai cũng thế, có vô lượng Pháp bảo. Vô lượng trân bảo là pha lê, xa cừ, mã não, trân châu... Vô lượng pháp bảo là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, bát chánh đạo cho đến lục độ vạn hạnh... Vô lượng trân bảo dùng để trang nghiêm cõi nước. Vô lượng pháp bảo dùng để trang nghiêm pháp thân. Thực hành pháp bảo thân tâm an lạc, lợi ích vô lượng chúng sanh. Đây là vị tằng hữu thứ sáu trong pháp của Như Lai.
7. Biển không chứa tử thi. Pháp của Như Lai cũng thế, không bao giờ dung chứa chúng sanh phiền não hoặc phi phạm hạnh. Biển pháp thanh tịnh Tỳ-lô-giá-na thể tánh bình đẳng, không chứa tất cả nghiệp tập sai biệt của chúng sanh. Đây là vị tằng hữu thứ bảy trong pháp của Như Lai.
8. Trăm sông chảy về biển, đều chung một tên là Biển. Pháp của Như Lai cũng thế, dù chúng sanh ở giai cấp nào, tầng lớp nào, dòng dõi nào... khi vào tăng đoàn chỉ có một danh xưng duy nhất, đó là Tăng bảo. Chúng sanh dù ở căn cơ nào, nghèo hay giàu, ngu hay trí, nam hay nữ... khi đã theo đức Phật tu tập, đều trở thành đoàn thể tăng thanh tịnh, hòa hợp. Đây là vị tằng hữu thứ tám trong pháp của Như Lai.
A-tu-la vương nghe Thế Tôn nói xong rồi, hoan hỷ đảnh lễ, liền trở về xứ sở của mình kéo hết toàn dân a-tu-la đến xin quy y tam bảo, nguyện nương theo pháp Phật để được hưởng thánh tài xuất thế gian. Chúng ta ở trong biển pháp của Thế Tôn như thế mà lại không thấy, không tu, không trân quý. Thật đáng tiếc, đáng thương biết bao!
Đức Phật thị hiện ra nơi đời, tu hành thành đạo, giáo hóa chúng sanh, đến nay đã hơn hai ngàn năm trăm năm. Với khoảng thời gian dài như vậy mà Phật pháp vẫn tồn tại trên thế gian, chứng tỏ phải có một mạch sống chân thật, một sự truyền nối liên tục của các bậc thánh tăng thực tu thực chứng, mới lưu truyền được như thế.
Nếu giáo lý Phật đà do những người nói suông, không thực tu thực chứng truyền tụng lại, liệu có đủ năng lực và niềm tin để chuyển hóa mọi người không? Chắc chắn là không. Bởi vì những vị ấy không bao giờ nói nổi, huống chi là hành trì lời Phật dạy. Sự tồn tại lâu dài của đạo Phật nơi đời như vậy, đủ để khẳng định giá trị chân diệu pháp cao tột chẳng gì hơn. Nó có khả năng đưa chúng sanh từ bờ mê về bến giác, chấm dứt khổ đau sanh tử.
Người học đạo biết rõ việc này, vì sao không được yếu chỉ mà thường nghi, bởi vì tin chưa tột, nghi chưa sâu. Nếu tin tột, nghi sâu thì chính là việc ấy.
Người học đạo biết rõ việc này, vì sao không được yếu chỉ mà thường nghi? Đạo là con đường, học đạo là một con đường, đó là con đường sống.
Chúng ta sống, hoạt động, làm công kia việc nọ nhưng không nhận được chính mình thì không phải thật sống, vì đã đánh mất thực tại. Trôi dạt theo quá khứ, hoặc phóng tới tương lai là đánh mất hiện tại. Tâm không tiếp xúc được với thực tại thì xem như không có mặt, sống cũng như chết. Người như thế không thể gọi là người học đạo hay sống đạo.
Ngài Thanh Viễn nói người học đạo không nhận ra tâm yếu là vì tin chưa tột, nghi chưa sâu. Tin cái gì? Tin mình có khả năng giác ngộ, có khả năng sống đạo. Nghi chưa sâu ở đây là nghi tình của người tu khán thoại đầu. Chúng ta không tu khán thoại đầu nên chỉ luận trên phần tin chưa tột.
Tin chưa tột cũng có nghĩa là chúng ta thực hành chưa miên mật nên chưa có kết quả xứng đáng. Người tu thiền phải có sự tỉnh giác liên tục thì đạo lực mới vững vàng. Đạo lực này là cơ hội giúp ta nhận lại chính mình. Nếu nhận được chính mình mới có niềm tin kiên cố, tin tột thì hết nghi.
Ngay từ những ngày đầu mở khóa giảng ba năm ở tu viện Chơn Không, Hòa thượng đã từng nói với chư tăng: "Tôi dạy ba năm, chỉ làm sao cho cho người học đủ niềm tin là được. Tăng ni đủ niềm tin là tôi mừng rồi". Thấy như dễ nhưng thực tế rất khó. Chữ tin ở đây không phải tin theo kiểu Phật ban phước hoặc Phật nói kinh hay, mà tin ngay nơi mình có tâm thể rõ ràng, không nghi ngờ gì hết. Đi, đứng, nằm, ngồi đều biết mình có cái đó không nghi, đó mới là thật tin.
Thế nên, mỗi khi chư tăng ni nhập thất, Hòa thượng rất mong đợi giây phút chư tăng ni được lóe thấy một lần, chỉ một lần thôi nhưng sẽ đủ niềm tin. Niềm tin của chính mình đã có, khi đó sẽ không ai có thể lay chuyển lòng tin ấy nữa. Tin không có nghĩa là xong việc, tin là lóe thấy, mà chính cái lóe thấy đó sẽ là niềm tin phấn khởi giúp cho mình tiến lên.
Có Phật tử hỏi Hòa thượng: Nếu sống với cái thật thì cả ngày yên lặng. Ai hỏi thì nói, không hỏi thì nín, như vậy buồn quá, mất hết không khí tươi vui, yêu đời. Hòa thượng cười bảo: Chính thế mới đi ngược dòng đời, ra khỏi sanh tử. Tuy nhiên, Phật tử chưa thể nhập chỗ chân thật ấy, chỉ hình dung ra rồi nói thôi. Không đúng. Người nhận được chỗ ấy rồi đâu có tẻ nhạt, lo giáo hóa chúng sanh không hết, rảnh đâu mà buồn. Các ngài vào đời làm đủ mọi việc, đem lợi ích đến cho mọi người, nhưng tâm rỗng rang sáng suốt, luôn hoan hỷ, không vì nhân duyên thuận nghịch mà phiền não như chúng sanh. Đó là giá trị siêu việt của những bật đạt đạo, chỉ có các ngài mới biết rõ chỗ này.
Hòa thượng nói thêm: Người tu khác với thế gian. Nếu chấp nhận theo con đường đạo thì không theo đời. Nếu đã theo đời thì mất nếp sống đạo. Ngày xưa khi đức Phật uống xong bát sữa của mục nữ Su-già-ta, ngài thả bát xuống dòng Ni-liên-thiền, thệ rằng nếu tu thành đạo thì xin cho bát trôi ngược dòng. Quả nhiên, cái bát ấy trôi ngược dòng. Không phải chỉ ngược dòng Ni-liên-thiền, mà là ngược dòng đời.
Chúng ta quen sống theo thế tục nên trở về sống đạo còn rất ngượng nghịu. Ta sợ bị cười, sợ bị chê, sợ thương tổn, sợ bệnh, sợ chết... Nói chung là sợ đủ thứ nên ta khổ. Con người khổ biết bao nhiêu vì những lo sợ này. Bây giờ đi ngược lại với dòng đời thì lại sợ buồn? Vậy nghĩa là sao? Đây cũng là do lòng tin chưa tột, chưa thực hành giáo lý tới nơi tới chốn như lời Phật tổ đã chỉ dạy.
Chẳng biết phản chiếu như thế, bèn mê loạn không biết manh mối.
Nếu không soi rọi lại mình, không rõ nguồn tâm, dù tu tinh tấn bao nhiêu cũng chạy ra ngoài, nên dễ rơi vào mê loạn. Gốc của sự tu là phá bản ngã. Vì chính bản ngã làm cho chúng ta buồn vui, thương ghét, điên đảo phiền não. Lúc nào nó cũng bênh vực mình, thấy mình luôn có lý, ngay cả lúc ta nhận lỗi trước đại chúng cũng với tâm trạng "thôi kệ, nhận cho xong!" Như thế là không chấp nhận mình có lỗi. Thôi kệ là nhận cho rồi, trong thâm tâm không hề thấy mình có lỗi. Đó chính là do sự can thiệp của bản ngã. Nó luôn đeo sát lấy ta mà ta không hề nhận biết. Bao giờ buông được bản ngã là chấm dứt thị phi, nghĩa là chấm dứt mê loạn.
Có Phật tử hỏi Hòa thượng: "Xin thầy dạy chúng con một câu để anh chị em trong đạo tràng được hòa thuận". Ngài trả lời: "Bỏ phải quấy đi thì hòa thuận!" Nghe ngắn gọn nhưng mà cả một quá trình tu tập đắc lực mới được. Chúng ta lúc nào cũng thấy mình phải và người quấy. Bây giờ bỏ hết phải quấy thì hết xung đột ngay. Chẳng biết phản chiếu như thế thì mê loạn, không manh mối, rối beng không gỡ được. Thật ra nếu soi kỹ thì có một mối duy nhất, gỡ được mối này thì gỡ được tất cả, đó là bản ngã. Cái ngã làm cho chúng ta rối bời, chỉ cần đập tan cái ngã là giải quyết xong mọi chuyện.
Giữa đường gặp khó khăn trở ngại, lại hay tự phản tỉnh, lại không có người thứ hai.
Thông thường, người ta đến với đạo vì khổ quá. Mỏi mệt, quỵ té trên đường đời nên phải tìm chỗ tựa để đứng lên. Ta đi tìm Phật, đến khi phản tỉnh hay ra thì không có Phật ngoài ta, nên ở đây nói không có người thứ hai.
Phản tỉnh là xoay trở lại để nhận ra mình. Ngay nơi sáu căn chạy ra ngoài là mê loạn, quay trở lại là phản tỉnh. Mắt thấy sắc không chạy theo, tai nghe tiếng không mê đắm... Đoạn trước Tổ có nói "chỗ tầm thường nhật dụng, khi thấy sắc là lúc chứng". Chúng ta thực tập phản tỉnh trong mọi lúc mọi nơi. Ngay khi đang sân, lửa giận đốt cháy tâm can, chợt giật mình tự hỏi "sao mình sân dữ vậy?" Bấy giờ cơn sân sẽ dịu xuống. Biết đang sân chính là tâm chân thật. Tự phản tỉnh là lúc chứng, là Phật hiện ra nơi đời, không có người thứ hai.
Do vậy, tranh cãi có khi cũng là cơ hội để ngộ đạo. Đang giận ta không tự nhìn thấy mặt mình, nhưng có thể thấy mặt người đối diện. Mình giận đến đâu thì họ cũng giận đến đó. Thật dễ sợ, phải không? Đoán được gương mặt của mình qua gương mặt của người, dừng lại cơn sân là biết tự phản tỉnh. Hồi sân giận gương mặt thật là giông tố. Hạ cơn sân xuống, diện mạo khôi ngô tuấn tú, thì cũng chính là mình, chớ đâu có ai khác. Nhất thiết duy tâm tạo, không có người thứ hai.
Đã nói việc này thì đâu lại có biết.
Việc này là tâm chân thật. Tâm này không thể hiểu, mà thầm khế hội. Nếu bảo mình biết mình, thì mình đã trở thành đối tượng. Đối tượng bây giờ không phải là vọng tưởng mà là cái biết. Khi ngồi thiền, vọng tưởng lặng, mình biết. Rồi ngầm cho là ta đang biết, như vậy không đúng. Giống như nước đang trong lặng, chợt dấy mòi gợn sóng. Ngài Thanh Viễn sợ chúng ta kẹt ở chỗ vi tế này nên nói việc này đâu lại có biết. Chỗ đó không có thêm gì.
Biết là vọng lự thì việc này cũng chẳng mất.
Cái biết phân biệt thuộc về vọng lự. Tuy nhiên khi vọng lự dấy lên để phân biệt thì chính cái biết việc này (tức tâm thể) luôn luôn tồn tại, không bao giờ mất.
Nói theo ý trên, nếu chúng ta còn khởi cái biết, tuy cái biết đó là vọng lự, nhưng tâm thể chân thật vẫn không mất. Bởi nó không hình tướng, nên không có được hay mất. Như sóng ầm ầm đầy cả mặt biển mà nước vẫn nguyên vẹn như thế, chứ đâu phải có sóng mà mất nước.
Đạo chẳng bởi nói với chỉ bày rồi sau mới hiển, bởi vì thể nó tự thường bày. Nói và chỉ bày là phương tiện của đạo. Người dùng nó để tỉnh ngộ cũng là lối tẽ tạm thời thôi. Hoặc nhân nói mà chứng, nhân chỉ bày mà nhập, hoặc tự chạm biết để trở về, trọn không có việc khác. Đến tận nguồn tâm là dừng.
Đạo chẳng bởi nói với chỉ bày rồi sau mới hiển, bởi vì thể nó tự thường bày. Nói và chỉ bày là phương tiện của đạo. Tâm chân thật là đạo. Nó có sẵn nơi mỗi chúng ta, đâu đợi chỉ bày. Tuy nhiên, nó không hình tướng nên ta khó nhận ra. Giống như hàng ngày mình hít thở không khí, mà không nhớ sự có mặt của không khí, chỉ thấy cảnh vật trong bầu không khí thôi. Tại sao sống nhờ thứ này mà lại nhớ thứ khác? Thật là cô phụ biết bao.
Cũng thế, hàng ngày ta sống với bản tâm có sẵn nhưng lại quên, vì mải chạy theo cảnh duyên bên ngoài hoặc theo đuổi vọng tưởng bên trong, nhớ việc nọ việc kia. Ngày nay đặt ra bao nhiêu vấn đề phải giải quyết, ngày mai bao nhiêu vấn đề phải xử lý. Tối ngồi lại nhớ mai làm việc gì, đi đâu... Sáng ra thực hiện được việc này lại tính qua việc kia. Chiều tính tiếp còn lại bao nhiêu chuyện. Cho đến lúc mệt nằm ngủ, trong giấc ngủ cũng tính toán. Cuối cùng quên mất tâm thể của chính mình, do đó phải chịu luân hồi mãi. Đau khổ chính là chỗ đó.
Được thiện tri thức nhắc, mình sực tỉnh nhớ lại, biết có chân tâm hiện tiền. Nói và chỉ bày là phương tiện phá trừ si mê điên đảo, giúp chúng ta nhận ra cái chân thật. Cho dù nói hay không nói, cái chân thật ấy vẫn luôn sẵn vậy, không mất đi đâu. Tuy nhiên, nếu không nhờ phương tiện, chúng ta khó nhận ra được đạo.
Như gương vốn tỏa sáng nhưng khi bụi bám lâu năm, thì ánh sáng của gương dường như mờ đi. Chúng ta nói gương mờ, nhưng đây chỉ là một cách nói. Dù bụi có bám bao nhiêu đi nữa gương vẫn sáng, chỉ tại bụi che nên ánh sáng không tỏa ra được. Bụi không phải là ánh sáng nhưng nó bám trên gương, che mất ánh sáng của gương. Bây giờ muốn có ánh sáng thì phải lau bụi.
Cũng vậy, tâm chân thật ví như gương. Thể của tâm sáng và dụng của tâm hay chiếu soi, bụi là vọng tưởng, phiền não. Vọng tưởng phiền não che mờ ánh sáng của tâm. Tu là chùi phiền não bu bám trên gương tâm. Sau khi gương đã sáng rồi thì việc chùi không phải là gương. Hành động lau chùi ví như tu. Khi nhận được tâm chân thật rồi thì thấy tu không phải là tâm, cũng như hành động chùi không phải là ánh sáng của gương. Nhưng nếu không tu thì gương tâm không sáng, mặc dù ánh sáng của gương vốn tự có sẵn.
Khi nhận được chỗ chân thật rồi thì bỏ các phương tiện giả tạm. Các pháp tu chỉ là phương tiện, nhưng chưa tới nơi thì không được bỏ. Nguy hiểm lắm. Giống như chưa vào bờ mà bỏ thuyền thì dĩ nhiên sẽ chết chìm thôi. Trên đường tu phải thận trọng từng chút từng chút. Miệng nói vô sanh mà bụng đầy phiền não thì nguy.
Đạo đã hiển sẵn, thể hiện bày, không do chỉ bày. Tuy thế, nhưng chúng ta phải nhờ thầy chỉ dạy, nương theo đó tu tập. Nếu không có Phật tổ, ân sư thì ta sẽ không có ngày hôm nay. Ánh sáng này của con, nhưng nhờ thầy mồi ngọn đuốc của thầy vô đó nó mới cháy. Hai ngọn đuốc sẽ cháy sáng như nhau, độc lập chiếu tỏa, nhưng ân pháp hóa lớn lao kia thì không thể phủ nhận. Nếu không có đuốc của thầy thì ngọn đuốc của con không bao giờ cháy. Hòa thượng Ân sư dạy, muốn đền ân Thầy, cách duy nhất là tiếp tục mồi đèn nối lửa cho những thế hệ sau. Điều này tăng ni không được quên.
Trong mười bức tranh chăn trâu, chư tổ vẽ lại quá trình tu hành cũng khá gian nan. Chăn con trâu hoang không thể êm ả được. Hình ảnh mục đồng điều phục nó rất vất vả, nếu nó cang cường khó điều phục thì thằng chăn có khi thua, bị trâu vật lại. Cho nên điều phục được trâu là cả một kỳ công. Nhưng cuối cùng trâu, chăn gì cũng mất hết. Tranh thiền tông là như vậy.
Cho nên ngài Thanh Viễn nói Người dùng nó để tỉnh ngộ cũng là lối tẽ tạm thời thôi. Nếu bảo nhận ra bản tâm rồi mà vẫn cứ quán chiếu, tức gương đã sáng mà vẫn cứ chùi hoài, là trở thành không bình thường rồi. Đó là chấp pháp, thật sự chưa thấu đạt nguồn tâm. Đức Phật sau 49 năm thuyết pháp độ sanh, cuối cùng Ngài tuyên bố một câu lừng danh "Suốt 49 năm, Như Lai chưa từng nói một câu" là ý này vậy.
Hoặc nhân nói mà chứng, nhân chỉ bày mà nhập, hoặc tự chạm biết để trở về, trọn không có việc khác. Đến tận nguồn tâm là dừng. Ở đây có ba trường hợp. Thứ nhất, thiền tăng nhân nói mà chứng. Như có vị tăng đến tham vấn thiền sư Triệu Châu. Ngài Triệu Châu hỏi:
- Ăn cháo xong chưa?
- Ăn cháo xong.
- Rửa chén bát đi.
Vị tăng nhân đây đại ngộ.
Thứ hai, nhân chỉ bày mà chứng. Như trên hội Linh Sơn, Thế Tôn cầm cành sen đưa lên, tôn giả Ca Diếp chúm chím cười, lãnh hội được ý chỉ.
Thứ ba nhân tự chạm biết mà trở về. Như thiền sư Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo. Thiền sư Hương Nghiêm nghe tiếng sỏi chạm bụi trúc, ngộ đạo v.v...
Ba trường hợp ngộ đạo có khác, nhưng khi ngộ rồi thì chỉ một việc này, không có việc khác.
Nói đến tận nguồn tâm là dừng. Tại sao? Vì chỗ này dứt đường ngôn ngữ, bặt chỗ tâm hành, không còn gì để tiến tới hay lùi lại. Thường chúng ta hay nói tu phải có niềm vui. Mình tự cho rằng niềm vui là sự hoan hỷ, phấn khởi... Hòa thượng Trúc Lâm nói niềm vui của người đạt đạo không phải vui như vậy, không phải là cái vui của lạc thọ.
Người tu đạt được chỗ đó tâm tỉnh sáng, thường biết rõ ràng, không khổ cũng không vui, vì đâu còn đối đãi. Vậy thôi. Cho nên nói vui là một cách nói để hướng tiến hành giả vào đạo. Hồi xưa không hiểu chỗ này, mỗi khi nghe Hòa thượng nói có tu là có niềm vui, nên chúng tôi cũng ráng nói vui. Mỗi lần nhập thất ra, ai nói không vui thì xem như tu lôi thôi.
Lần đó tôi được nhập thất một tháng, tâm trạng bình thường, không vui không buồn, nhưng không phải là "bình thường tâm thị đạo" như tổ sư nói. Ra thất đảnh lễ Hòa thượng, Thầy hỏi nhập thất thế nào? Tôi sợ nói không thấy gì thì phụ ân Thầy, nên trả lời "Dạ vui". Hòa thượng liền hỏi "Con vui làm sao?" - "Dạ vui lâng lâng, lâng lâng". Hòa thượng nghiêm mặt phán: "Thôi, được rồi". Thầy biết đệ tử đang xạo. Trả lời trật lất, không nếm được miếng nào.
Thành thử người nhập thất thưa trình thì phải là bậc sư phụ mới hiểu nổi. Chỗ này ngày xưa chư tổ nói chuyện với nhau, người hiền lành thì nín thinh hoặc mỉm cười, người bặm trợn thì quát hét. Thiên hạ một là ngộ đạo, hai là bay tuốt.
Chúng ta luân hồi không phải một lần mà là vô số lần, cho nên tập khí dày cộm. Nghe pháp thì hiểu, học đạo thì vui, nhưng tu thì cay đắng. Do tập khí nhiều nên mỗi lời thiền sư nói ra, ta chụp lấy để tu, mà tu không tới thành ra kẹt pháp. Cái khổ của học nhân ở chỗ đó. Ngoài đời thì kẹt thị phi thế gian, vào đạo lại kẹt pháp. Thế nên chư tổ sư thường có những hành động kỳ dị, nhằm phá chỗ chấp kẹt đó của học nhân. Nên nói tới tận nguồn tâm thì phải dừng là vậy.
Có người nói ngộ rồi mới tu. Đây thuộc về môn đối trị. Tuy nhiên thiền môn cũng cho dùng chánh tri kiến để trị nó.
Có người nói ngộ rồi mới tu. Đây thuộc về môn đối trị. Ngộ rồi mới tu giống như đốn ngộ tiệm tu hay kiến tánh khởi tu của Lục Tổ vậy. Ngộ rồi mới tu thì kết quả ít sai lệch. Tuy nhiên, đây cũng thuộc về môn đối trị.
Thật ra chữ mê ngộ trong nhà thiền rất đơn giản. Mê là quên, ngộ là nhớ. Nhớ mình có tâm thể tức thánh, quên tâm thể chạy ra ngoài tức phàm. Vậy thôi. Chúng ta thường quên mình theo vật. Cả ngày giong ruổi chuyện cơm áo. Như buổi sáng ăn điểm tâm rồi làm vài việc là đến trưa. Trưa lại ăn, chưa làm được gì đã đến chiều. Đêm nghỉ một giấc thức dậy là sáng. Hết sáng đến tối, hết tối đến sáng. Trong cái sanh diệt triền miên đó, mình hết nghĩ chuyện này đến chuyện kia, không bao giờ có niệm tỉnh giác. Cứ thế thời gian trôi qua mau chóng. Ngày nay mong ngày mai, năm này tốt hơn năm ngoái. Mải theo đuổi những thứ bên ngoài mà quên mất chính mình. Quên lửng đi chứ không phải quên chút ít. Phật thấy chúng sanh đáng thương là vậy.
Chỗ rốt ráo là trực chỉ tức nhìn thẳng, không dùng phương tiện quanh co, không có pháp đối trị, nhưng ở đây vẫn cho dùng chánh tri kiến, tức là tỉnh giác để đối trị si mê. Thí dụ khi ta ngồi thiền thấy vọng tưởng, liền tự nhắc nhở không theo nó. Đó là trí dụng, thuộc về đối trị nhưng nó là chánh tri kiến, một cái thấy biết chân chánh. Tuy nhiên phải biết đây không phải là chỗ cứu cánh, vì còn quán chiếu tức còn năng sở.