Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 5 - Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng Giải
CHƯƠNG V: NGHIỆP QUẢ - CÁC CẢNH GIỚI - CHƯỚNG NẠN (tt2)

3. Tưởng ấm

Trong phạm vi sắc ấm và thọ ấm thì ma nhập vào tâm của người tu. Đến tưởng ấm ma không nhập vào tâm nữa mà dựa vào một người khác để gạt mình. Đây là trường hợp người ngoài làm cho mình tin và bị họ gạt. Nếu chúng ta không khéo biết thì cũng rất dễ lầm tin.

Này A-nan, người thiện nam kia tu thiền, thọ ấm đã hết, tuy chưa được lậu tận mà tâm rời khỏi hình hài như chim bay ra khỏi lồng. Đã có thể thành tựu từ thân phàm này, trên thì trải qua sáu mươi vị Thánh của Bồ-tát, được ý sanh thân, tùy qua lại không chướng ngại. Ví như có người ngủ say nói mớ, người ấy tuy không hay biết mình nói gì, nhưng lời kia đã thành âm vận thứ lớp, khiến cho những người không ngủ đều hiểu được lời nói đó. Đây gọi là phạm vi của tưởng ấm.

Khi đã vượt qua thọ ấm, còn ở trong tưởng ấm, tâm mình thoát ra khỏi thân tự do như chim sổ lồng, cho nên được ý sanh thân tự tại, dễ dàng tiến lên các vị thánh, nhưng trải qua trong mê lầm chứ chưa sáng tỏ như các bậc thánh. Thấy như tự do tự tại mà chưa thật được vậy, giống như người ngủ mê nói mớ, nói thành câu thành lời rõ ràng mà họ không có ý thức gì, nhưng người ở ngoài nghe thì biết. Đó là hình ảnh lúc còn trong phạm vi của tưởng ấm.

Nếu hết động niệm, các tưởng thô phù tiêu trừ, nơi tâm giác minh như bỏ trần cấu, một vòng sanh tử đầu cuối đều soi sáng khắp, gọi là hết tưởng ấm. Người ấy hẳn có thể vượt khỏi phiền não trược. Xét lại nguyên do của tưởng ấm, cội gốc là vọng tưởng dung thông.

Năm ngón trực đều từ vọng tưởng mà ra. Trong năm ấm, phá mỗi ấm cũng đều thấy gốc từ vọng tưởng. Cội gốc của tưởng ấm là vọng tưởng dung thông. Vọng tưởng khi đã thuần thục rồi thì dung hợp với nhau không chướng ngại. Đây cũng còn thuộc vọng tưởng, nên nói còn ở trong phạm vi tưởng ấm, dường như là được tự tại mà chưa tự tại. Đến khi tất cả động niệm và các tưởng thô đều hết, sạch hết trần cấu, nhìn thấy dòng sanh tử đầu cuối đều biết rõ, đó là qua khỏi tưởng ấm.

Này A-nan, người thiện nam kia thọ ấm rỗng suốt linh diệu không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa được sáng suốt tròn đầy, suy nghĩ bén nhạy, tham cầu thiện xảo. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần của nó gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy không biết là bị ma dựa, tự cho được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu thiện xảo kia, trải tòa nói pháp. Hình dáng người ấy, nếu cần thì hoặc làm thân Tỳ-kheo khiến cho người kia thấy, hoặc làm thân Đế-thích, hoặc phụ nữ hoặc Tỳ-kheo-ni, hoặc nằm trong nhà tối mà thân có hào quang chiếu sáng. Người tu hành ngu mê lầm cho là Bồ-tát, tin vào sự giáo hóa của người ấy, làm cho tâm họ dao động, phá luật nghi của Phật, lén làm việc tham dục.

Những việc này rất dễ lầm, thật khó xét lường. Nếu muốn xét lường thì chúng ta phải lấy tiêu chuẩn gì để xét? Họ muốn biến hiện gì thì hiện nhưng nếu họ nói bậy, làm việc tham dục thì nhất định không tin. Như vậy, người tu ấy từ chỗ hay đi lần tới dở, do tâm phóng đãng, dao động nên phá luật nghi của Phật, làm những chuyện tham dục. Sở dĩ ma phá được là vì người tu ấy tuy tưởng thô không còn, nhưng niệm tưởng vi tế vẫn còn dấy lên tham cầu. Đó là yếu điểm cần phải biết.

Miệng người ma dựa ưa nói những việc tai họa, điềm lành, đổi thay. Hoặc nói Như Lai ra đời chỗ này chỗ nọ, hoặc nói về kiếp hỏa hoặc nói có dao binh, làm khủng bố người khiến cho tiền của trong nhà họ vô cớ bị hao tán.

Gần đây có ông Đạo làm chiếc thuyền Bát-nhã. Ông nói sẽ có trận hồng thủy, nước ngập đầy, mọi người đều sẽ chết chìm. Ông đóng chiếc thuyền Bát-nhã đó, để khi có nạn ông chèo đi vớt người. Nhiều người nghe ông nói như vậy tin và sợ, bỏ nhà bỏ của đi ra cất nhà dọc theo cồn, để khi có nạn hồng thủy leo lên thuyền Bát-nhã cho sớm. Họ đã bỏ hết gia tài sự nghiệp để ra đó chờ được cứu sống, đến giờ nơi đó có xảy ra trận hồng thủy nào đâu!

Đó là những trường hợp ma dựa, nói những điều làm cho người ta hoảng hốt lo sợ. Thoạt nghe thì có vẻ như là ông Đạo khuyến khích mọi người tu, nói cho họ sợ để lo tu, nhưng ngược lại làm phá tan sự nghiệp của người. Do không biết nên bản đạo khi nghe những lời tiên tri đó liền sợ hãi. Họ đang làm ăn, có nhà cửa ruộng vườn, bỗng nhiên bỏ hết ra cồn ở, khiến gia nghiệp tiêu tan. Con người vốn sợ chết, nghe nói ai cứu là mừng, tốn hao bao nhiêu cũng không màng. Điều đáng lo là vì mọi người nghĩ ông Đạo kia tu khổ hạnh, tu hay... nên lầm tin theo, đưa đến những tai hại đáng tiếc.

Thật ra, trong kinh đức Phật có dạy, người tu không được nói chuyện tai biến của một đất nước, một cá nhân hay một gia đình. Ví như mình biết trước chuyện có thể xảy ra, cũng không có quyền nói. Tại sao? Vì tai nạn có đến là do nhân quả của họ. Nhân họ đã gieo thì quả họ phải chịu. Mình nói trước tức muốn sửa đổi nhân quả của họ, nhưng làm sao có thể đổi được. Như ngày xưa đức Phật biết vua Lưu-ly qua đánh giết dòng họ Thích-ca, nhưng ngài cũng không thể cứu được. Ngài Mục-kiền-liên thương xót, cứu năm trăm người để trong bát đưa lên hư không, nhưng khi mở ra tất cả đều hóa thành máu.

Vậy nói ra không có lợi gì, chỉ làm cho họ bị khủng bố, khổ sở thêm. Sách Nho thường gọi là "thiên cơ bất khả lậu", nghĩa là việc trời không thể thổ lộ được. Nếu nói ra là "lậu thiên cơ", sẽ bị hình phạt. Đứng về mặt nhân quả thì tất cả những gì xảy ra trên một đất nước, một địa phương cũng đều là do nghiệp, nên khi mình biết, chỉ có thể cứu họ bằng cách dạy họ tu để chuyển nghiệp. Nếu họ không tự chuyển được thì đành chịu.

Đây gọi là Quái quỷ, tuổi già thành ma làm não loạn người tu. Khi tâm ma chán rồi, nó bỏ thân người, đệ tử cùng thầy đều phạm vào luật vua.

Tới chừng ma chán, bỏ thân người không gá nữa, do lường gạt người khác nên thầy trò phải ngồi tù. Thời hiện tại, chúng ta thấy rõ đã có những điều như vậy.

Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Bệnh thứ nhất của người tu trong giai đoạn phá tưởng ấm là tham cầu thiện xảo. Chúng ta học Phật phải nắm cho vững những điều này, đừng để bị lầm bị gạt. Chúng ta đang tu bình an, nếu  nghe có ai bảo sẽ có tối trời tối đất, tận thế... thì biết là ma đang dựa vào người đó, nói cho mình sợ, làm cho mình phải hao tài tốn của. Như có một bà khá giả, có nhà cửa ruộng vườn. bà nghe nói chỉ trong năm, mười năm nữa "đời tới" rồi. Bà hoảng sợ, không dám làm ăn gì cả, cất cái thất nhỏ ở đó chờ "đời tới". Nhưng đời không tới mà sự nghiệp thì tiêu hết. Đó là ma quái gạt người. Những lời tiên tri dối gạt này, được nghe rất nhiều người, đừng vội lầm tin.

Này A-nan, lại người thiện nam kia thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa dạo chơi lang thang, tinh thần bay đi, tham cầu ngao du nơi này nơi kia. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần của nó gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy cũng không biết là mình bị ma dựa, tự cho rằng được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam muốn dạo chơi kia, trải tòa nói pháp.

Tự thân hình người ấy không biến đổi, nhưng những người nghe pháp kia chợt thấy thân mình ngồi trên tòa sen báu, toàn thân thành khối vàng tía rực rỡ. Cả chúng nghe pháp mỗi mỗi đều như thế được việc chưa từng có. Người tu hành ngu mê lầm là Bồ-tát, tâm sanh dâm dật, phá hoại luật nghi của Phật, lén làm những điều tham dục.

Miệng người ma dựa ưa nói chư Phật ứng hóa ra đời; ở chỗ kia, người kia chính là hóa thân đức Phật kia đến đây; người nọ tức là vị Bồ-tát nọ... đến giáo hóa nhân gian. Người tu hành thấy thế tâm sanh khát ngưỡng, tà kiến thầm dấy lên, giống trí tuệ bị tiêu diệt. Đây gọi là Bạt quỷ, tuổi già thành ma làm não loạn người tu kia. Khi tâm ma đã nhàm chán, nó bỏ thân thể người, đệ tử với thầy đều phạm vào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ roi vào địa ngục Vô gián.

Như gần đây, có tin đồn đức Phật Di-lặc ra đời là một chú bé mập mạp ở xứ nào đó; hoặc nói có Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí thị hiện ở đâu đó. Người tu nghe thấy vậy kính trọng quá, lần lần tâm tà càng ngày càng tăng, trí tuệ từ từ tiêu mòn. Đây là do tâm ưa dạo chơi lang thang, để biết chỗ này chỗ kia, rày đây mai đó, không yên ở tu hành.

Lại, người thiện nam kia thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa thầm hợp, lóng lặng tinh thần, tham cầu khế hợp. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy thật không biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu thầm hợp kia, trải tòa nói pháp.

Thân hình người ấy và những người nghe pháp kia, bên ngoài không có gì biến đổi, nhưng khiến cho những người nghe pháp, trước khi nghe pháp tâm tự khai ngộ, niệm niệm dời đổi, hoặc được túc mạng thông, hoặc có tha tâm thông, hoặc thấy địa ngục, hoặc biết được các việc tốt xấu ở nhân gian, hoặc miệng nói kệ, hoặc tự tụng kinh. Mỗi người đều vui mừng được điều chưa từng có. Người tu hành ngu mê, lầm cho là Bồ-tát, tâm thầm ưa thích, phá luật nghi của Phật, lén làm những chuyện tham dục.

Miệng người ma dựa ưa nói Phật có lớn có nhỏ, Phật kia là Phật trước, Phật nọ là Phật sau... Trong đó cũng có Phật thật Phật giả, Phật nam Phật nữ, Bồ-tát cũng vậy. Người tu kia thấy vậy, quên mất tâm tu hành trước, dễ tin hiểu theo tà. Đây gọi là Mỵ quỷ, tuổi già thành ma não loạn người ấy. Khi tâm ma đã nhàm chán, nó bỏ thân người, đệ tử và thầy đều phạm bào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Trường hợp này người nghe pháp chưa nghe câu nào bỗng dưng tâm tự sáng. Lại có nhiều người vào chỗ ma, rồi tự nhiên phát ra những lời nói mà bình thường không hề biết. Do sức ma quá mạnh, khiến lúc đó nhớ được đời trước, hoặc liền biết tâm người khác, hoặc thấy địa ngục... hoặc miệng tụng những kinh mà trước đây mình không thuộc. Người ấy thấy mầu nhiệm như vậy, nên quên hết tâm tu hành trước kia đã qua được thọ ấm mà tin theo ma, khiến tâm kiên cố trước càng ngày càng bị lệch, càng phai nhạt, dễ tin hiểu theo tà.

Lại, người thiện nam kia thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa biết cội gốc, xem xét cùng tột sự biến hoá trước sau của muôn vật, tâm sáng suốt kia tham cầu biện biệt phân tích.

Người này tâm ưa tìm lại cội gốc trước, muốn thấu tột thế giới từ đâu mà có, từ cái gì sanh ra... muốn phăn tìm cái gốc ban đầu đó.

Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, nó phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy trước không biết mình bị ma dựa, cũng nói rằng mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu rõ nguồn gốc kia, trải tòa nói pháp. Người ấy thân có oai thần, nhiếp phục được người cầu pháp, khiến cho người ở dưới tòa tuy chưa nghe pháp mà tự nhiên tâm đã kính phục rồi. Những người ấy cho rằng pháp thân, Bồ-đề, Niết-bàn của Phật là trên xác thân hiện tiền của ta đây. Cha cha con con lần lượt mà sanh, tức là pháp thân thường trụ không mất. Đều chỉ cho hiện tại là cõi Phật, không riêng có cõi thanh tịnh và thân tướng sắc vàng nào khác.

Những người bị ma dựa kia cho pháp thân, Bồ-đề, Niết-bàn ở trên thân xác thịt hiện đây chứ không gì khác. Cứ cha sanh con, con sanh cháu, cháu sanh chắt, sanh tiếp tục mãi đời đời không dứt như vậy, cho đó là pháp thân còn hoài không mất. Họ nói vậy mà vẫn được thiên hạ tin.

Người kia tin nhận, quên mất tâm tu hành trước, thân mạng đều quy y nơi người ấy, cho rằng được việc chưa từng có. Những người tu hành ngu mê lầm cho là Bồ-tát, tâm ưa suy cứu kia, phá luật nghi của Phật, lén làm chuyện tham dục. 

Miệng người ma dựa ưa nói mắt tai mũi lưỡi đều là Tịnh độ, nam căn, nữ căn là chỗ chân thật Bồ-đề, Niết-bàn. Những người kia không biết, tin lời nói ô uế ấy. Đây gọi là các loài ác quỷ Cổ Độc, Yểm Thắng, tuổi già thành ma làm não loạn người tu hành. Khi tâm ma sanh nhàm chán, nó bỏ thân người, thì đệ tử và thầy đều phạm vào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Người kia, trước tu chân chánh nên vượt qua được sắc ấm và thọ ấm, nhưng tới đây họ tin vào những điều ma nói nên quên mất tâm trước đó, quy y theo ma.

Các loài quỷ Cổ Độc là các loài sâu cổ, quỷ Yểm Thắng tức là làm bùa yếm đối hại người. Các loài quỷ này, tuổi già thành ma hại người. Lâu nay người ta sợ quỷ hơn sợ ma vì nghĩ quỷ dữ hơn ma, ở đây nói có khác là thành quỷ lâu ngày mới thành ma. Đó cũng chỉ là ngôn từ thôi.

Lại, người thiện nam khi thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa sự huyền ứng, nghiên cứu cùng khắp, tham cầu thầm cảm ứng. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy vốn không biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu cảm ứng kia, trải tòa nói pháp, hay khiến cho thính chúng tạm thấy thân họ như đã trăm ngàn tuổi, tâm sanh ái nhiễm, không thể nào xa lìa được; đem thân làm tôi tớ, cúng dường tứ sự không biết mỏi mệt. Ma khiến cho tâm mỗi người dưới tòa đều biết đây là thiện tri thức, tiên sư của mình, riêng sanh pháp ái, dính khắn như keo sơn, được việc chưa từng có. Những người ngu mê ấy lầm cho là Bồ-tát, tâm ưa thân cận, phá luật nghi của Phật, lén làm những chuyện tham dục.

Miệng người ma dựa ưa nói: "Kiếp trước ta ở trong đời đó, trước độ người đó, lúc ấy là thê thiếp, anh em của ta, đời nay đến đây để độ nhau. Ta cùng với các ngươi theo nhau về thế giới kia, cúng dường đức Phật kia." Hoặc nói riêng có cõi trời Đại quang minh, Phật ở trong đó là chỗ tất cả đức Như Lai nghỉ ngơi.

Những người kia không hiểu biết, tin lời lừa dối ấy, quên mất tâm tu hành trước. Đây gọi là Lệ quỷ, tuổi già thành ma não loạn người tu hành. Khi tâm ma nhàm chán, nó bỏ thân người, thì đệ tử và thầy đều phạm vào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Huyền ứng là muốn biết các việc chưa tới, muốn có sự ứng hợp từ xa đến giúp mình. Vậy mới thấy những loại ma này quá dữ! Trong nhà thiền có những câu chí lý: "Gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma." Chúng ta tu là để định tâm, phát huy trí tuệ, chứ không mong cầu điều gì bên ngoài. Nếu người bên ngoài tới nói là Phật mình cũng không nhận, nói là ma cũng không sợ, như vậy mới không lầm. Nếu còn cầu mong bên ngoài, mong Phật tới giáo hóa mình, mong Bồ-tát hiện để cứu rỗi thì dễ lạc vào ma.

Cho nên phải thật cẩn thận, có những người tu thấy không có gì đặc biệt, nhưng họ dạy mình phải giữ giới, dạy thực hành đúng luật nghi của Phật, nên biết đó là người chân chánh. Trái lại, người có thần thông cao tới đâu, nếu dạy mình bỏ những điều răn cấm quan trọng của Phật, đó là tà ma. Do đó ngày xưa Phật cấm các vị Thanh văn hiện thần thông, vì ngoại đạo cũng hiện được những phép lạ. Người tu Phật thì cứ dùng pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Nhân quả luân hồi, Lục độ... để dạy người, còn tất cả những thứ mầu nhiệm, lạ lùng đều không nên dùng.

Người tu thiền chân chánh, khi tu chỉ làm một điều là dứt hết mọi vọng tưởng điên đảo. Tâm yên tịnh thì trí tuệ tự sáng, tự nhận ra cái chân thật của chính mình. Ngoài ra, tất cả những gì bên ngoài đều không thừa nhận. Như vậy thì không bao giờ lầm. Trái lại nếu còn tin những thứ bên ngoài sẽ dễ bị gạt, bị hiểm nguy, có thể thầy trò đều rơi vào tai nạn. Vậy nên người học Phật phải khéo biết.

Lại, người thiện nam khi thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định tâm ưa thâm nhập khắc khổ siêng năng, ưa chỗ vắng vẻ, tham cầu yên tĩnh. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy vốn không biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu yên lặng kia, trải tòa nói pháp, khiến những người nghe pháp đều biết được nghiệp trước của mình. Hoặc ở trong hội đó, nói với một người rằng: "Nay ông chưa chết mà đã làm súc sanh", rồi bảo một người phía sau đạp cái đuôi, liền khiến người kia không đứng dậy được.

Điều này tôi cũng có nghe, có một người tu làm kiểu đó. Người nào tới, ông ấy nhìn một hồi rồi nói đời trước là gì, nếu không tin thì bảo người khác đứng sau đạp đuôi thử. Quả nhiên người ấy không đứng dậy được. Đó là do bị ma dựa mà làm ra như vậy. Nếu chúng ta không học để biết rõ cũng dễ bị lầm.

Khi ấy cả chúng đều hết lòng kính phục. Có người khởi tâm thì nó đã biết được ý móng khởi. Ngoài luật nghi của Phật, lại thêm sự khắc khổ, nó chê bai các thầy Tỳ-kheo, mắng nhiếc đồ chúng, vạch bày việc của người, không ngại sự chê trách.

Ví dụ có người vừa khởi nghĩ: "Không biết ông này tu thật hay giả đây?", nó biết liền: "À, ông nói tôi giả phải không?" Người ma dựa làm ra vẻ tu hơn Phật. Như Phật dạy Tỳ-kheo ngày ăn một bữa, bây giờ nó nói như vậy cũng nhiều, một ngày chỉ ăn một chén thôi. Hoặc không được ăn cơm, phải ăn khoai, khắc khổ còn hơn Phật dạy, để cho mọi người kính phục. Do đâu mà dám chê bai Tỳ-kheo? Vì nó mỗi ngày chỉ ăn một chén cơm hoặc chỉ ăn khoai, nên nói: "Mấy ông thầy tham ăn, ăn nhiều, mấy ông tu lôi thôi, tôi mới là chân chánh." Nếu đồ chúng tin theo các thầy Tỳ-kheo, liền bị nó mắng nhiếc. Ma ưa vạch bày những việc thầm kín của người, không ngại người ta tỵ hiềm.

Thật ra người tu chân chánh vẫn sống bình thường như mọi người. Chỉ khác là họ luôn gìn giữ giới luật, biết chuyển hướng những vọng niệm sai lầm, biết tu sửa, đó là điểm chính yếu. Đừng nên ham những hình thức lạ. Chúng ta phải hiểu rõ chánh và tà. Tà mau phát mau tàn, còn chánh thì cứ thầm thầm diệu diệu. Chánh là mỗi ngày mình tu gỡ được một ít phiền não, đó là giải thoát được một ít; lâu ngày phiền não sạch tức giải thoát hoàn toàn. Đừng mong cầu điều lạ, sẽ dễ lạc đường ma.

Miệng người ma dựa ưa nói những điều họa phước đến, đến khi họa phước xảy thì không sai sót mảy may. Đây là Đại lực quỷ, tuổi già thành ma não loạn người tu hành. Khi tâm ma nhàm chán, nó bỏ thân người thì đệ tử cùng với thầy đều phạm vào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Ma ưa nói chuyện họa phước của người. Ví dụ như nói người này ba tháng nữa mắc nạn, phải ở tù, thì đúng ba tháng người đó mắc nạn ở tù. Vậy làm sao không tin được! Người tu phải sáng suốt, biết để đừng lầm. Tuy nghe kinh biết rõ vậy, nhưng giả sử bây giờ có ma hiện việc lạ đó, quý vị có lầm không? Có thể lầm gần chín mười phần trăm. Vậy phải làm sao, có tiêu chuẩn gì để khỏi lầm? Tất nhiên người tu thiền phải có tiêu chuẩn riêng để không lầm, đó là Giới - Định - Tuệ.

Hễ người nào phá giới luật của Phật là ma. Như Phật dạy cấm tà dâm, cấm nói dối, cấm uống rượu v.v... mà người đó lại khen, chúng ta liền biết là ma. Chủ trương nhà thiền tu là định chứ không phải thần thông, từ định phát sanh trí tuệ. Những chuyện huyền bí ở bên ngoài không cần thiết với người tu thiền. Nếu chúng ta chạy theo những cái hay lạ bên ngoài là mất đi định tuệ của mình. Sở dĩ người tu bị lầm là vì không nắm vững những điều đó.

Theo nhà thiền thì "gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma". Dù nó hiện Phật mình cũng không tin, đừng nói là ma. Tu không cầu Phật ở ngoài, tâm giác ngộ là Phật. Dù Phật tới xoa đầu mình cũng không nhận, làm sao ma gạt được. Sở dĩ bị gạt là tại ham những thứ lạ bên ngoài, tu ngồi thiền hoài cực quá, có ai cho mình kết quả mau và khỏe thì thích, chạy theo liền. Vậy nên ma dễ đánh lừa mình.

Lại, người thiện nam khi thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa hiểu biết, siêng năng khổ nhọc xét tìm, mong cầu biết đời trước. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy vốn không hay biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu hiểu biết kia, trải tòa nói pháp.

Người tu hành bỗng dưng ở chỗ nói pháp, được hạt châu lớn. Ma kia có khi hóa làm súc sanh, miệng ngậm hạt châu và các loại trân bảo khác, hoặc sắc lệnh phong tước của vua chúa, thẻ lệnh của quan tướng, các vật kỳ lạ, trước trao cho người kia, sau đeo vào trong thân. Hoặc dụ người nghe pháp ở dưới đất có chôn hạt châu minh nguyệt, đang chiếu sáng chỗ kia. Những người nghe pháp được việc chưa từng có. Phần nhiều ma ăn thuốc hoặc cỏ, không ăn những thức ăn ngon, có khi ngày ăn một hột mè hạt lúa mà thân hình nó vẫn béo mập, do vì sức ma gìn giữ. Ma chê bai các thầy Tỳ-kheo, mắng nhiếc đồ chúng, không sợ sự chê trách.

Ma ăn mỗi ngày một hột mè, hột bắp, ăn rất ít, sơ sài, không ăn thức ăn ngon mà vẫn mập khoẻ, trong khi quý thầy ngày ăn hai ba bữa, cơm đầy bàn mà vẫn ốm gầy. Do đó nó chê bai mấy thầy tu sai, ăn ngủ như vậy mà vẫn ốm gầy, chê những đồ chúng theo lo cho quý thầy là ngu, mấy thầy ăn sung sướng như vậy, tại sao lại đi kính trọng… Chê bai như vậy người ta vẫn tin, vì sự thực nó ít ăn mà vẫn sống khoẻ mạnh. 

Miệng người ma dựa ưa nói kho báu chôn ở phương khác, hoặc chỗ ở ẩn của các bậc Thánh Hiền mười phương. Ai theo sau đi tìm thì thường thấy có những người kỳ dị.

Ví dụ ma nói trên núi Thị Vải có cái hang, hiện có ông thánh đang tu ở đó. Chúng ta không tin, nó bèn dẫn mình đi. Tới đó thấy một vị ẩn tu rất kỳ đặc, râu tóc phủ dài trắng xóa, làm sao không tin được. Cho nên người tu nếu không biết cội nguồn, cứ chạy theo hình tướng bên ngoài sẽ dễ lạc vào đường tà.

Đây gọi là quỷ thần ở rừng núi, đất đai, thành hoàng, sông núi, tuổi già thành ma. Hoặc ma nói những điều dâm dục, phá giới luật của Phật, nó cùng với những người phụng sự lén làm việc ngũ dục, hoặc có khi tinh tấn ăn toàn cỏ cây. Việc làm của nó không nhất định, cốt não loạn người tu hành. Khi tâm ma nhàm chán, nó bỏ thân người thì đệ tử và thầy phần nhiều phạm vào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Dựa lâu rồi ma cũng ló đuôi. Cách ma gạt gẫm là có khi nó rất khổ hạnh không ăn thức ăn ngon, có lúc lại cùng đồ đệ lén hưởng ngũ dục. Như vậy những loại ma này chúng ta nên vững chí không tin theo.

Lại, người thiện nam khi thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa các thứ thần thông biến hóa, nghiên cứu nguồn gốc sự biến hóa, tham cầu có thần lực. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy vốn không hay biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu thần thông kia, trải tòa nói pháp.

Người ấy hoặc tay cầm lửa sáng, nắm lửa đó đem phân phối trên đầu bốn chúng nghe pháp. Ngọn lửa trên đỉnh đầu những người nghe pháp, lên cao vài thước (thước tàu = 1/3m) cũng không nóng, không hề bị thiêu đốt. Hoặc ma đi trên nước như khi đi trên đất bằng, hoặc ở trong hư không ngồi yên không động, hoặc vào trong bình hoặc ở trong đãy, hoặc vượt ra cửa sổ, xuyên qua vách tường không có gì chướng ngại. Chỉ đối với đao binh thì ma không được tự tại.

Chúng ta thấy vậy có phục không? Như lửa cháy rực trên đầu mà tóc không cháy, không nóng, hoặc ngồi kiết già trong hư không, hoặc đi trên nước phao phao... Những điều đó, đối với các vị thiền sư thì chẳng có gì quan trọng cả. Như ngài Hoàng Bá một hôm đi dạo núi Thiên Thai, gặp một vị tăng nói chuyện với nhau như đã quen biết từ xưa, nhìn kỹ là người mục quang xạ. Hai người cùng đi, gặp khe suối nước đầy chảy mạnh, ngài giở mũ chống gậy dừng lại, vị tăng kia thúc ngài đồng qua. Ngài bảo:

- Huynh cần qua thì tự qua.

Vị tăng kia liền vén y, bước đi trên sóng như đi trên đất bằng. Qua đến bờ, vị tăng kia quay lại hối:

- Qua đây! Qua đây!

Ngài bảo:

- Ôi! Cái gã tự độ. Nếu tôi sớm biết, sẽ chặt bắp đùi huynh.

Vị tăng kia khen:

- Thật là pháp khí Đại thừa, tôi không bì kịp.

Nói xong, không thấy vị tăng ấy nữa.

Bây giờ nếu người cùng đi với mình bước trên nước qua sông, còn mình không đi được như vậy, mình có xấu hổ vì thua, có phục họ chăng? Ngài Hoàng Bá chẳng những không xấu hổ, không phục mà còn đòi chặt chân nữa! Như vậy mới thấy người chân tu là làm sao cho tâm mình thanh tịnh, trí tuệ giác ngộ sáng suốt, chứ không cốt ở thần thông, coi thần thông như trò chơi, không có gì quan trọng. Người mới tu thấy thần thông rất phục, nên khi thấy ma quỷ có sức thần thông, đi trên nước, ngồi trong hư không, chun trong bình, ngồi trong đãy, xuyên qua vách tường, cái gì nó cũng làm được, liền cảm thấy xấu hổ, cho là mình tu bao nhiêu năm mà không được gì hết, sanh lòng nể phục rồi theo làm đệ tử nó. Đó là lạc đường ma. Nguy hiểm như vậy!

Ma tự nói là Phật, thân mặc áo trắng mà nhận Tỳ-kheo lễ, chê bai Thiền Luật, mắng nhiếc đồ chúng, vạch bày việc của người mà không sợ tỵ hiềm. Miệng ma thường nói thần thông tự tại, hoặc lại khiến người ở bên thấy được cõi Phật. Đây là do sức quỷ mê hoặc người, không phải chân thật. Ma khen ngợi việc hành dâm, không chê những hạnh thô, đem những việc xấu xa cho đó là truyền pháp.

Tuy ma là người bạch y cư sĩ, lại ngồi cho các thầy Tỳ-kheo lạy. Thường thì Tỳ-kheo ngồi cho cư sĩ lạy, nay vì các thầy Tỳ-kheo phục tài năng của nó, tưởng nó là Phật thị hiện nên lễ lạy. Ma khiến cho người ngồi đây mà thấy được cõi Phật, cho nên người ta dễ lầm. Tuy nhiên, ma chấp nhận những hạnh thô, nó dẫn người vô bóng tối làm những chuyện xấu xa, bảo là để truyền pháp. Ban đầu nó hiện thần thông, làm những điều kỳ quái cho người ta phục, rồi sau lộ ra những tà hạnh.

Đây gọi là các loài tinh mỵ có sức lực lớn trong trời đất: tinh núi, tinh biển, tinh gió, tinh sông, tinh đất; tất cả tinh mỵ do cây cỏ sống nhiều kiếp hóa thành; hoặc là rồng thành quỷ; hoặc các vị tiên tuổi thọ hết, sống lại làm loài yêu quái; hoặc những vị tiên kỳ hạn đã hết, đến lúc phải chết mà hình không hoại, có các loài yêu quái gá vào, tuổi già thành ma não loạn người tu. Khi tâm ma nhàm chán, nó bỏ thân thể người kia, đệ tử với thầy phần nhiều phạm vào luật vua. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Bệnh này là do ưa thích thần thông nên quỷ hiện thần thông tới gạt. Như vậy người tu mà còn dấy niệm ưa thích điều gì đều thành bệnh hết.

Lại, người thiện nam khi thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa vào chỗ tịch diệt, nghiên cứu tánh biến hóa, tham cầu cái Không sâu xa. Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy vốn không biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu Không kia, trải tòa nói pháp. Ở trong đại chúng, thân hình bỗng hóa thành không, mọi người không thấy gì, lại từ hư không đột nhiên xuất hiện, khi xuất hiện khi mất tự tại. Ma hoặc hiện thân rỗng suốt như lưu ly, hoặc duỗi tay chân phát ra mùi hương chiên-đàn, hoặc đại tiểu tiện cứng như đường phèn.

Đây là những loại quỷ ghê gớm, làm những việc ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Hồi tôi còn bé cũng nghe có một ông thầy, gặp ai ông cũng đưa tay bảo ngửi. Có người ngửi nghe thơm, không rõ là thơm chiên-đàn hay thơm mùi gì. Nếu thơm chiên-đàn là đúng loại ma này rồi. Lại thêm việc kỳ quái: đại tiểu tiện như đường phèn, chắc các đệ tử sẽ đua nhau lượm, vì họ tin tưởng đó là bậc Thánh.

Ma chê bai giới luật, khinh khi người xuất gia, miệng thường nói không có nhân quả, một phen chết là mất hẳn, không có thân sau, cũng không có phàm thánh. Tuy nó được không lặng mà lén làm những việc tham dục, người thọ nhận dục kia cũng được tâm không, cũng bác không có nhân quả. Đây gọi là các loại vàng ngọc, cỏ thơm... ăn nuốt tinh khí mặt trời mặt trăng, lân, phụng, quy, hạc, trải qua ngàn muôn năm không chết, thành tinh linh sanh ra trong cõi nước, tuổi già thành ma não loạn người tu hành. Khi tâm ma nhàm chán, nó bỏ thân thể người ấy, đệ tử với thầy phần nhiều phạm vào luật vua. Ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Những đồ vật để lâu ngày hay những con vật sống lâu quá thành tinh, lâu nữa nó linh thiêng nên thành ma, quấy phá người tu hành.

Lại, người thiện nam khi thọ ấm rỗng suốt linh diệu, không bị các tà lự, định tròn đầy phát sáng. Trong chánh định, tâm ưa sống lâu, nhọc nhằn nghiên cứu kỹ, tham cầu được nhiều tuổi bỏ mạng sống phần đoạn, mong chóng được tướng vi tế biến dịch thường trụ.

Người này cho cái thân phần đoạn này là thô, mong cầu được thân biến dịch vi tế thường trụ. Thân phần đoạn sanh tử phải chịu luân hồi trong sáu đường, có sự sai khác về hình thể và hạn định về tuổi thọ, phải chịu các thứ quả báo khác nhau của phàm phu. Vì thân mạng có dài ngắn nên gọi là phần đoạn. Các bậc thánh từ A-la-hán trở lên có thân biến dịch sanh tử, là thân không có hình sắc hơn kém, không có thời gian thọ mạng ngắn dài, chỉ có những mê tưởng diệt dần, chứng ngộ tăng dần, nên gọi là biến dịch. Đây là sự thay đổi trong vi tế mà tánh thường còn không mất.

Khi ấy thiên ma được cơ hội thuận tiện, phóng tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người ấy vốn không biết bị ma dựa, cũng nói mình được Vô thượng Niết-bàn, đến chỗ người thiện nam cầu sống lâu kia, trải tòa nói pháp. Ma ưa nói qua lại phương khác không chướng ngại, hoặc trải qua muôn dặm chỉ trong chớp mắt hay một hơi thở liền trở lại, đều lấy được vật ở phương kia.

Ví dụ như hiện đang ngồi trong hội ở đây, người ấy nói: "Để tôi ra thành nội Huế mượn một món đồ cổ đem về cho các ông coi." Rồi trong chớp mắt liền đưa món đồ kia ra. Chúng ta có tin là người ấy đã đi tới Huế không? Nếu không đi tới thì làm sao lấy món đồ kia được. Vả lại có người từng đến Huế, đã biết món đồ đó để chỗ nào trong thành nội nên nó đưa ra là tin liền. Như vậy mới thấy sức của ma quá mạnh.

Hoặc ở một chỗ, trong một nhà chỉ khoảng vài bước, bảo người kia đi từ bên đông đến vách bên tây, người ấy đi rất mau mà trải nhiều năm cũng không đến. Nhân đây mọi người có lòng tin nghi là Phật hiện tiền. Miệng ma thường nói: "Chúng sanh ở mười phương đều là con của ta, ta sanh ra chư Phật, ta sanh ra thế giới, ta là Phật đầu tiên, tự nhiên ra đời, không do tu mà được." Đây gọi là ma Trụ thế Tự tại thiên. Ma sai bọn quyến thuộc như Giá-văn-trà và đồng tử Tỳ-xá cõi trời Tứ thiên vương, những kẻ chưa phát tâm, ưa cái hư minh kia, ăn tinh khí của người tu hành. 

Ma vương ở cõi trời Tự tại, quyến thuộc của nó và đồng tử cõi trời Tứ thiên vương, những kẻ chưa phát tâm theo Phật thì phá người tu như vậy, còn khi đã phát tâm theo Phật rồi thì ủng hộ chứ không phá nữa.

Hoặc không nhân nơi thầy, đích thân người tu hành kia xem thấy, những vị tự xưng là thần Chấp kim cang đến ban cho mạng sống lâu dài. Ma hiện thân mỹ nữ, làm những việc tham dục, chưa đầy một năm, gan não của người kia đều khô kiệt. Miệng người kia hay nói lẩm bẩm một mình, nghe như yêu quái, người đi trước chưa rõ nguyên do, phần nhiều phạm vào luật vua, chưa kịp chịu hình phạt, trước đã chết khô. Ma não loạn người kia cho đến chết mất. Các ông phải biết trước để không vào trong luân hồi, còn nếu mê lầm không biết sẽ rơi vào địa ngục Vô gián.

Đây là con ma thứ mười, lỗi tại người tu mong cầu sống lâu. Cho nên gần đây, có người nói với tôi: "Quý thầy tu mà bệnh hoạn hoài, vậy tu làm chi! Tu không bệnh mới được chứ!" Họ khuyên muốn không bệnh, phải luyện pháp tiên để được sống lâu. Như vậy vô tình mắc kẹt vào bệnh tham sống lâu. Nếu trong khi tu có bệnh đó, dễ bị loại quỷ này gạt và dẫn đi. Ban đầu nó hiện thần thông để chinh phục mình, rồi sau nói những điều trái với luật nghi Phật và xúi làm bậy. Đa số những loài quỷ quái đều vậy. Người tu hành có công phu ở núi rừng dễ bị bệnh này.

Người học đạo phải sáng suốt nhận cho kỹ, điều gì trái với luật nghi của Phật thì không phải chánh đạo. Bởi vì những gì trái với đạo đức đều phát nguồn từ ba bệnh gốc dâm-sát-đạo. Ở đây, ma mắc bệnh thứ nhất. Cho nên, dầu một ngày nó ăn một hạt mè, một hạt bắp mà nói toàn những chuyện tham dục, biết là bậy rồi, không tin theo. Đó là những điều giúp chúng ta nghiệm biết để không lầm lẫn.

Như vậy, bị ma dẫn là do các bệnh tham cầu thiện xảo, tham cầu ngao du, tham cầu khế hợp, tham cầu biện biệt phân tích, tham cầu thầm cảm ứng, tham cầu yên lặng, tham cầu biết đời trước, tham có thần lực, tham cầu được Không, tham cầu sống lâu. Do mười bệnh đó mà bị ma phá, gốc vẫn là tại mình. Nếu không có mười bệnh đó thì ma không thể phá được.

Tu thiền là phải dứt lòng tham, bất cứ là tham điều gì; tâm phải lặng lẽ như như. Tâm như như thì không bệnh. Nếu tâm có chỗ mong cầu là gốc của bệnh, gốc của ma. Nhưng đa số người tu lại thường mong cầu ham điều lạ, nên thường lạc vào ma. Tu là cốt trở về chân trí như như, dù cho ma có hiện cái gì, đến bậc nào cũng không dính gì tới mình. Nếu không được vậy thì dễ bị ma lôi.

Người ta sợ tu thiền có thể bị điên, chính vì không biết cái gốc vọng. Vọng khởi thì sanh bệnh, vừa có mong muốn là vọng khởi, dù là muốn thành Phật cũng không được, đừng nói là mong những thứ lạ khác. Người tu thiền buông hết vọng tưởng thì không bao giờ điên.

Này A-nan, phải biết mười thứ ma này, trong đời mạt pháp, những người xuất gia tu hành ở trong giáo pháp của ta, hoặc ma gá vào thân thể người ấy hoặc tự hiện hình, đều nói đã thành Chánh biến tri giác, khen ngợi dâm dục, phá luật nghi của Phật. Trước là thầy ác ma, cùng với đệ tử ma, đem dâm dục truyền dạy nhau. Những tà tinh như thế mê hoặc tim gan người kia, gần thì chín đời, nhiều đến trăm đời, khiến cho người tu hành chân chánh đều làm quyến thuộc của ma. Sau khi mạng chung ắt làm dân ma, mất chánh biến tri, rơi vào địa ngục Vô gián.

Phật kết thúc rất rõ ràng, tuy ma tự xưng là Phật là thánh, nhưng nó khen ngợi sự dâm dục, chê bai giới luật của Phật. Do đó chúng ta biết nó là ma, không còn nghi ngờ gì nữa.

Nay ông chưa nên vào Niết-bàn tịch diệt. Trước dù ông đã được vô học, nên lưu nguyện vào trong đời mạt pháp kia, khởi lòng đại từ bi cứu độ những chúng sanh có lòng tin sâu chân chánh, khiến họ không bị mắc tà ma, được chánh tri kiến. Nay tôi độ ông đã được ra khỏi sanh tử, ông phải vâng lời Phật dạy mới gọi là đền ơn của Phật.

Phật tha thiết khuyên ngài A-nan đừng vội nhập Niết-bàn, dù cho ngài đã tới mức đó rồi. Phải phát nguyện vào trong đời mạt pháp, để dạy dỗ chúng sanh có lòng tin sâu Tam bảo không rơi vào tà ma. Đó chính là đền ơn Phật vậy.

Này A-nan, mười thứ cảnh hiện ra trong thiền định như thế, đều do tưởng ấm dụng tâm xen lẫn nên hiện những việc này. Chúng sanh mê lầm không tự xét lường, gặp những nhân duyên này, mê mờ không tự biết, bảo rằng đã lên quả vị thánh, thành tội đại vọng ngữ, rơi vào địa ngục Vô gián. Sau khi ta diệt độ, các ông ắt phải đem lời nói của Như Lai truyền dạy cho đời mạt pháp, khiến cho khắp chúng sanh khai ngộ được nghĩa này, không để cho thiên ma được cơ hội thuận tiện, bảo vệ che chở những người tu hành thành đạo Vô thượng.

Giả sử chúng ta chưa nghe những lời Phật dạy răn như vầy thì thật dễ bị gạt như trở bàn tay, chỉ cần thấy nó ngồi trong hư không là đủ để quỳ lạy rồi. Bởi vậy thế gian bị lầm lẫn không biết bao nhiêu! Nếu một người tu dù có thần thông tự xưng là thánh mà còn xúi người làm một trong ba điều dâm sát đạo, đều là tà hết. Nhớ kỹ như vậy.

Thiên hạ rất dễ bị lầm, nghe thấy người nào làm điều gì lạ liền tin, mà không nhận ra người ấy đang xúi làm những điều bậy. Vậy nên bị ma gạt, chìm trong khổ đau đời này nối tiếp đời sau, chịu khổ làm tôi tớ cho nó, ít nhất là chín đời, nhiều thì cả trăm đời. Vậy nên mới đáng sợ. Tu mà không hiểu thấu đáo thì ham tu là họa chứ không phải phước, vì tu sai nhiều đời càng dễ rơi sâu vào đường tà. Người tu ít mà giữ tròn năm giới cũng được trở lại làm người. Trái lại, tận lực tu hành cần khổ mà không hiểu biết cũng rơi vào tà, làm tôi tớ ma, còn thua người giữ năm giới.

Như vậy, phần sắc ấm và thọ ấm là nhân người tu có công phu phát ra tướng lạ, lầm cho là ngộ đạo hay chứng thánh nên rơi vào đường tà. Ma có cơ hội dựa vào làm cho người tu mất hết chỗ tu tiến trước kia, sanh ra các bệnh.

Qua tới tưởng ấm, do trong khi tu còn một vài tâm chấp và tham cầu, hoặc chấp sống lâu, hoặc chấp không... nên ma mới có cơ hội quấy phá. Bởi vì tưởng là tưởng ngoại cảnh nên ma bên ngoài gá vào người khác đến chỗ người tu, nói rằng đã được đạo, hiện những điều kỳ lạ để cho người kia kính phục, rồi theo làm đệ tử, do đó mà rơi vào đường tà. Như vậy, mỗi phần có mỗi thứ ma. Nếu không học thì chúng ta rất dễ bị lầm.

4. Hành ấm

Đến phần hành ấm thì ma trong ma ngoài đều hết, chỉ còn lỗi do công phu tu tới đó tưởng là đã tột, rồi suy lý chấp thế này thế kia, liền rơi vào ngoại đạo.

Này A-nan, người thiện nam kia tu chánh định, tưởng ấm đã hết, người này bình thường mọi mộng tưởng đã tiêu diệt, nên thức ngủ hằng một tánh giác minh rỗng suốt lặng lẽ, giống như hư không trong trẻo, không còn những việc bóng dáng thô trọng của tiền trần. Xem thấy núi sông đất liền trong thế gian như trong gương soi sáng, đến không chỗ dính, đi không dấu vết. Rỗng nhận sự soi sáng ứng hiện, hoàn toàn không còn tập khí cũ, chỉ có một tinh chân.

Trong nhà thiền hay có câu hỏi: "Đã được thức ngủ như một chưa?" Ở đây nói khi tưởng ấm không còn thì thức ngủ như một, chỉ một tánh giác minh rỗng suốt lặng lẽ. Vì còn tưởng ấm là còn mộng, tưởng ấm hết rồi thì lúc nào cũng tỉnh táo an nhiên, nên thức ngủ là một, như hư không trong trẻo không có chút bụi bặm. Người tu chúng ta khi tu thuần thục mà vẫn còn tưởng ấm, chỉ hay hơn người thường là trong lúc thức mình không nhiễm trần cảnh, không phạm giới luật, khi ngủ nếu gặp cảnh đó mình cũng không phạm. Ví dụ như khi thức mình ăn chay, không uống rượu, thì lúc ngủ người ta mời ăn mặn uống rượu mình cũng từ chối. Như vậy là tốt rồi. Còn lại, đa số người khi thức thì khác, khi ngủ khác, lúc tỉnh lúc mê; thức thì giữ giới, còn ngủ không giữ được.

Khi tưởng ấm sạch rồi thì hết mộng. Mộng từ tưởng mà ra, mộng hết thì ngủ thức như nhau. Vậy nói thức ngủ như nhau là tới giai đoạn phá hành ấm này. Đến đây những tập khí cũ không còn nữa, chỉ thuần một tánh chân. Phần này nói về thắng tướng của hành ấm, phần kế nói phạm vi hành ấm.

Cội gốc sanh diệt từ đây bày hiện. Thấy rõ ràng tất cả chủng loại của mười hai loài chúng sanh trong mười phương. Tuy chưa thông suốt manh mối sanh mạng của các loài, nhưng thấy đồng một nền tảng phát sanh, giống như sóng nắng chập chờn, trong sạch mà lăng xăng, là then chốt cứu cánh của phù căn trần. Đây gọi là phạm vi của hành ấm.

Chữ thanh nhiễu thật khó giải thích. Thanh là trong, nhiễu là lăng xăng. Chỗ hành ấm này quá tế nhị, mới nhìn thấy rất lặng lẽ, tuy nhiên vẫn còn gờn gợn lăn tăn. Giống như khi chúng ta nhìn xuống dòng sông hay mặt hồ, tuy không có sóng lớn nhưng những gợn lăn tăn vẫn còn. Những gợn lăn tăn đó, ở xa nhìn như không có, chỉ là mặt nước bình lặng, tới thật gần mới thấy rõ. Chữ thanh là trong, thấy như trong lặng, nhưng nhìn gần thì có những gợn lăn tăn, nên gọi là nhiễu. Đó là trạng thái của hành ấm.

Chúng ta tạm ví dụ cho dễ hiểu. Như lúc ngồi thiền, có những khi khởi vọng tưởng này vọng tưởng kia, hình tướng dễ thấy; rồi có những lúc tâm yên, tuy yên mà vẫn lăn tăn, chập chờn nhè nhẹ, thật là khó trị. Vọng tưởng nhảy ra từng thứ thì dễ bỏ dễ trị, riêng những gợn lăn tăn này thì khó thấy khó trị. Cho nên đa số người tới hành ấm thường bị kẹt. Người tu phá được hành ấm là ngang với Bồ-tát Bát địa, gần quả A-la-hán của Thanh văn chứ không phải thường.

Nếu nguồn gốc trong sạch mà lăng xăng chập chờn này vào tánh lóng lặng ban đầu, một phen lóng lặng những tập khí từ trước, như những lượn sóng lớn sóng nhỏ đều tiêu diệt, chỉ còn nước lắng trong, gọi là hành ấm hết. Người ấy ắt hay vượt khỏi chúng sanh trược. Xét lại nguyên do kia thì gốc là vọng tưởng thầm lặng.

Khi nào tất cả những gợn lăn tăn đều hết, chỉ còn tâm phẳng lặng, lúc đó gọi là hành ấm hết. Người ấy xem lại nguyên do kia thì gốc là vọng tưởng thầm lặng. Đây cũng còn thuộc về vọng tưởng, nhưng nó nhẹ nhàng thầm lặng ở trong, vì quá thầm lặng nên khó thấy, gọi là u ẩn. U là tối, ẩn là kín, tức là những vọng tưởng thầm lặng chứ không phải vọng tưởng nổi.

A-nan nên biết, những người thiện nam ở trong chánh định được chánh tri này, tâm chân chánh ngưng lặng sáng suốt, mười loài thiên ma không được cơ hội thuận tiện nữa, mới được chuyên ròng nghiên cứu cùng tột cội gốc các loài chúng sanh. Nơi cội gốc các loài, manh mối của sự sanh được bày lộ. Xét gốc ban đầu trong sạch thầm kín, tròn đầy mà còn xao động, ở trong cội gốc tròn đầy đó khởi suy tính chấp trước, người ấy rơi vào hai thứ luận vô nhân.

Vô nhân là không có nhân. Ở đây chia ra: gốc vô nhân và ngọn vô nhân.

Một là người ấy thấy gốc không có nhân. Vì sao? Người ấy đã phá dẹp hoàn toàn cơ sở của sự sanh, nương tám trăm công đức của nhãn căn, thấy được những chúng sanh trong tám muôn kiếp, nghiệp báo lưu chuyển xoay vần, chết đây sanh kia; chỉ thấy chúng sanh luân hồi trong khoảng đó, ngoài tám muôn kiếp thì mờ mịt không thấy được. Người ấy liền khởi nghĩ rằng chúng sanh ở thế gian trong mười phương này, tám muôn kiếp trở lại, không nhân mà tự có. Do suy tính chấp trước này, mất chánh biến tri, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề.

Giả sử có người nào nói thấy được mười đời về trước, chúng sanh ở đâu, làm cái gì, chúng ta nghe cũng đã nể, đàng này thấy đến tám muôn đời của chúng sanh! Tuy nhiên người ấy chỉ thấy đến khoảng đó, ngoài ra không thể thấy. Do thấy bỗng dưng có người có cảnh, có chúng sanh mà không biết từ đâu ra, nên người ấy nói là không có nhân. Đó là kiến chấp thứ nhất phăn về nguồn gốc, cho là không có nhân.

Hai là người ấy thấy ngọn không có nhân. Vì sao? Người ấy nơi sự sanh đã thấy cội gốc các loài, biết người sanh người, hiểu chim sanh chim, quạ trước nay là đen, thiên nga trước nay là trắng, người và trời vốn đi thẳng, súc sanh vốn đi ngang, màu trắng không do rửa mà thành, màu đen chẳng phải do nhuộm mà được, suốt tám muôn kiếp không hề thay đổi. Nay hết đời này cũng lại như thế. Ta xưa nay không thấy có Bồ-đề, làm sao lại có việc thành tựu Bồ-đề? Nên biết ngày nay tất cả vật tượng đều vốn là không có nhân. Do suy tính chấp trước này, quên mất chánh biến tri, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ nhất, lập luận vô nhân.

Những người này do tu hành thấy được tám muôn kiếp, nhưng manh mối trước đó nữa họ không thấy, nên lầm cho là không có nhân. Khi lập luận vô nhân như vậy là do công phu của họ thấy được, chứ không phải bỗng dưng bịa đặt ra.

Này A-nan! Những người thiện nam ở trong chánh định này, tâm chân chánh ngưng lặng sáng suốt, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thương nhiễu động kia, ở trong tánh viên thường mà khởi suy tính chấp trước, người ấy rơi vào bốn thứ luận biến thường.

Biến thường luận là luận khắp thường, tức là cái gì cũng cho là thường.

Một là người ấy xét cùng tột tánh của tâm và cảnh, cả hai đều không nhân. Tu tập có thể viết được trong hai muôn kiếp, sự sanh diệt của chúng sanh mười phương, thảy đều tuần hoàn không hề tan mất, chấp cho đó là thường.

Do người ấy xét cùng tâm tột cảnh đều thấy không có nhân, nên thấy được trong hai muôn kiếp, chúng sanh sanh diệt xoay vần không mất. Bởi thấy không mất nên chấp là thường.

Hai là người ấy xét cùng tột nguồn gốc của tứ đại, tánh của tứ đại là thường trụ. Tu tập có thể biết được trong bốn muôn kiếp, sự sanh diệt của chúng sanh trong mười phương, bản thể đều thường hằng không hề tan mất, chấp cho đó là thường.

Như chúng ta thường lý luận, thân này do tứ đại hòa hợp thành, nên khi thân này rã ra là thân mất chứ tứ đại không mất. Như vậy đối với thân thì có diệt nhưng tứ đại không diệt. Cây cối, sự vật chung quanh cũng vậy. Họ tìm xét cho tới nơi, thì thấy tất cả chúng sanh ở trên thế gian này có sanh diệt nhưng tứ đại không mất, không sanh diệt, nên họ chấp là thường.

Ba là người ấy xét cùng tột sáu căn, do thức mạt-na chấp giữ, trong tâm ý thức biết nguyên do căn bản tánh là thường hằng. Do tu tập có thể biết được trong tám muôn kiếp, tất cả chúng sanh xoay vần không mất, xưa nay thường trụ; xét tội cùng tánh không mất, chấp cho đó là thường.

Người đó biết cùng tột sáu căn do thức mạt-na gìn giữ. Ở trong tâm ý thức đó họ biết được nguyên do cội gốc của nó, cho đó là tánh thường hằng. Do họ thấy cứ xoay chuyển luân hồi hoài không mất, nên chấp là thường.

Bốn là người ấy đã hết gốc tưởng, lý sanh không còn sự vận chuyển trôi chảy hay dừng lại. Tâm tưởng sanh diệt nay đã vĩnh viễn diệt mất, trong lý tự nhiên thành chẳng sanh diệt. Nhân tâm khởi suy tính chấp trước cho đó là thường. Do chấp thường này, mất chánh biến tri, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ hai, lập luận viên thường.

Đến phần phá hành ấm không khéo thì trở thành ngoại đạo, chứ không bị ma phá nữa. Tu được tới chỗ này cũng cay đắng lắm. Trên thế gian hiếm thấy người tu tới đây. Cao lắm là đến phá sắc ấm thôi. Vậy mà chúng ta cứ nghe người khoe chứng cái này, người kia đạt cái nọ, chỉ là gạt gẫm nhau chứ chưa tới đâu.

Vậy nên phải cẩn thận, tu phải thấy cho tới nơi tới chốn. Mình là đệ tử Phật thì phải làm đúng như lời Phật dạy. Thà là chậm mà đến nơi, còn mong cho mau thì dễ rơi vào đường ma hoặc lạc vào ngoại đạo. Trong sự tu hành, ai có tâm nôn nóng mong mỏi mau được mau đến thì đó là bệnh, khó tránh khỏi lầm lạc.

Người tu phải điềm đạm bình tĩnh, lấy căn bản Phật pháp làm tiêu chuẩn để theo. Điều gì thấy lệch thì tránh liền, không lầm. Dù ai đó hiện bao nhiêu thứ thần thông mà rủ mình uống rượu thì từ giã liền, không chơi nữa. Dù ai đó có bao nhiêu phép lạ mà bảo mình phải giết người, vì người ấy là ma, mình cũng từ giã. Phật cấm sát hại chúng sanh, giết là phạm giới sát, mà bảo mình giết thì phải tránh ngay. Hễ theo họ là theo đường tà, rất nguy hiểm!

Ma dễ đưa người tới chỗ lầm lẫn, vừa làm hại bản thân, vừa hại cho những người chung quanh. Ai tin theo cũng bị hại lây cả chùm. Vậy nên phải rất dè dặt. Chúng ta cứ nhận mình là phàm phu, tu không có gì đặc biệt, thủng thẳng bước từng bước, bước nào vững bước nấy. Người khoe khoang nói chuyện quá khứ vị lai, e rằng không phải thứ thật, phải tránh xa đừng nên gần.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, ở trong tự và tha khởi suy tính chấp trước. Người ấy rơi vào bốn luận chấp điên đảo, một phần vô thường một phần thường.

Một là người ấy xem xét tâm diệu minh lặng lẽ khắp cả thế giới mười phương, cho là thần ngã cứu cánh, từ đó khởi chấp cái ta cùng khắp mười phương, ngưng lặng sáng suốt chẳng động, còn tất cả chúng sanh ở trong tâm ta, tự sanh tự chết. Vậy tâm tánh của ta gọi là thường, còn những chúng sanh sanh diệt kia thật là vô thường.

Người này do thấy tâm mình trùm khắp mười phương nên chấp cho là thường, còn chúng sanh sanh rồi tử ở trong tâm mình thì tánh vô thường. Như vậy những người này chấp một phần thường một phần vô thường.

Hai là người ấy không xét tâm mà xem khắp hằng sa cõi nước trong mười phương, thấy chỗ kiếp hoại gọi là chủng tánh rốt ráo vô thường, thấy chỗ kiếp không hoại gọi là rốt ráo thường.

Phần trước quán tâm mình. Đến đây không quán tâm mà quán cõi nước trong mười phương. Cõi nước nào còn hoài cho là thường, cõi nước nào bị hoại cho là vô thường.

Ba là người ấy quán riêng tâm mình tinh tế nhỏ nhiệm, giống như vi trần, lưu chuyển trong mười phương, tánh không đổi dời, có thể khiến cho thân này liền sanh liền diệt. Chấp tánh không hoại kia gọi là tánh thường của mình. Tất cả sanh tử từ nơi cái ngã đó phát sanh ra gọi là vô thường.

Khi quán tâm mình đến chỗ tế nhị nhỏ nhiệm như là vi trần, thấy tâm lưu chuyển khắp cả mười phương không có dời đổi, liền cho tánh ngã đó còn mãi nên chấp là thường, còn thân sanh rồi lại diệt này gọi là vô thường.

Bốn là người ấy biết tưởng ấm hết, thấy hành ấm trôi chảy. Hành ấm thường trôi chảy, chấp cho là tánh thường, còn sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm v.v... nay đã diệt hết, gọi là vô thường. Do đây mà khởi suy tính chấp trước một phần vô thường một phần thường, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây là ngoại đạo thứ ba, lập luận một phần thường một phần vô thường.

Đến hành ấm thì ma trong ma ngoài đều không phá được người tu hành, mà do họ nhận định sai lầm, do chỗ nhìn thấy chỉ giới hạn ở chừng mực nào đó rồi chấp chặt vào, tự cho là đã thấy đúng sự thật nên mới có những lập luận như vậy. Nếu không biết thì thấy sự tu hết sức khó, còn khi biết rõ tu là để tâm thanh tịnh giác ngộ chứ không mong cầu gì khác, thì mình không sợ ma trong lẫn ma ngoài.

Nếu vọng tưởng ở trong dấy khởi, chúng ta luôn biết rõ không theo thì còn có ma trong nào dấy được; nếu đối với tất cả cảnh bên ngoài, chúng ta luôn tâm niệm "gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma" thì ma ngoài làm sao phá được. Đến ngang hành ấm thì cần nhớ, Phật chỉ cho chúng ta tới chỗ tột cùng là giác ngộ giải thoát, chứ không phải thấy thường hay thấy vô thường. Thấy bên này bên kia đều là ngoại đạo chấp sai lầm. Biết nguyên tắc đó sẽ không bị lầm, nếu không nhớ nguyên tắc đó thì tu tới đây cũng dễ bị lầm.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện; xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, ở trong phần vị sanh ra suy tính chấp trước. Người ấy rơi vào bốn thứ luận hữu biên.

Một là tâm người ấy chấp chỗ ban đầu của sự sanh trôi chảy không dừng, chấp quá khứ vị lai gọi là hữu biên, chấp tâm tương tục gọi là vô biên.

Người ấy chấp quá khứ là đã qua rồi, vị lai chưa đến, đó gọi là hữu biên, còn tâm liên tục không dừng gọi là vô biên.

Hai là người ấy quán tám muôn kiếp thấy có chúng sanh, còn trước tám muôn kiếp thì bặt không nghe thấy gì. Chỗ không nghe thấy gọi là vô biên, còn chỗ có chúng sanh gọi là hữu biên.

Những người này quán thấy được chúng sanh trong tám muôn kiếp, ngoài ra không thấy gì. Do chỉ thấy có chúng sanh trong khoảng đó nên nói là hữu biên, chỗ không thấy được chấp là vô biên.

Ba là người ấy chấp ta biết khắp là được tánh vô biên. Tất cả các người kia hiện ở trong cái biết của ta, ta không hề biết tánh biết của họ, cho là những người kia không được tâm vô biên, chỉ có tánh hữu biên.

Chấp tâm ta biết khắp cả là vô biên, còn những chúng sanh hiện trong cái biết của ta là hữu biên.

Bốn là người ấy xét cùng tột hành ấm là không. Do chỗ thấy con đường tâm suy tính trong một thân của tất cả chúng sanh, thảy đều phân nửa sanh phân nửa diệt; chấp rằng tất cả sự vật trong thế giới, phân nửa là hữu biên, phân nửa là vô biên. Do suy tính chấp trước hữu biên và vô biên như thế, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ tu lập luận hữu biên.

Tâm thế nào là phân nửa sanh phân nửa diệt? Họ chấp tâm vừa dấy lên là sanh, kế lặng xuống là diệt mất. Tâm có phân nửa sanh còn phân nửa là diệt, vì nếu không có phân nửa diệt đó thì làm sao diệt. Chấp sự vật trong thế giới một nửa hữu biên, một nửa là vô biên.

Thật ra ở Việt Nam ít nghe ai chấp những điều này, cho nên cũng khó mà giải thích rộng.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, ở trong hiểu biết sanh ra suy tính chấp trước. Người ấy rơi vào bốn thứ luận hư vọng, điên đảo biến kế, càn loạn bất tử.

Chữ bất tử ở đây có nghĩa là không dứt khoát, không nhất định.

Một là người ấy xem cội gốc sự biến hóa, thấy chỗ dời đổi gọi đó là biến, thấy chỗ tiếp nối không dừng gọi đó là hằng còn. Thấy những chỗ thấy được gọi là sanh, chỗ chẳng thấy được gọi là diệt. Chỗ các nhân tiếp nối không đoạn dứt gọi là tăng; còn chính trong chỗ tiếp nối, ở chỗ giữa lìa ra gọi là giảm. Chỗ sanh của mỗi thứ gọi là có, chỗ luôn luôn mất gọi là không.

Ví dụ như đoàn xe chạy liên tục cả trăm chiếc, tuy liên tục nhưng vẫn có khoảng cách giữa chiếc này với chiếc kia. Như vậy trong sự liên tục đó vẫn có những khoảng cách ở giữa là cái mối đứt quãng; người ấy thấy khoảng cách ở giữa gọi là giảm, còn thấy sự liên tục không dứt gọi là tăng. Chỗ nào mình thấy được gọi là sanh, chỗ nào không thấy được gọi là diệt v.v…

Dùng lý xem xét tất cả, dụng tâm thấy có sai biệt. Có người đến cầu pháp hỏi nghĩa kia thì đáp rằng: "Nay tôi cũng sanh cũng diệt, cũng có cũng không, cũng tăng cũng giảm." Trong tất cả thời đều nói rối loạn, khiến cho người đang đứng trước hỏi đạo đó, không thể hiểu câu nghĩa.

Di thất chương cú là mất hết câu chữ, tức là không còn câu, không còn lời lẽ để người nghe có thể hiểu nghĩa rành rẽ được. Nói rối loạn như vậy thì không ai có thể hiểu.

Hai là người ấy xem kỹ tâm kia, luôn luôn ở chỗ không, nhân không mà được chứng. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là "không". Ngoài chữ "không" ra không nói lời gì nữa.

Người này chấp không, ai hỏi gì cũng đáp không.

Ba là người ấy xem xét kỹ nơi tâm kia, mỗi mỗi đều có chỗ, do thấy có mà được chứng. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là "phải". Ngoài chữ "phải" ra không nói lời gì nữa.

Người này chấp , nên ai hỏi gì cũng đáp phảiphải tức là có.

Bốn là người ấy chấp cả có và không, vì cảnh phân tán nên tâm cũng rối loạn. Có người đến hỏi, đáp rằng: "Cũng có tức là cũng không, trong cũng không chẳng phải là cũng có." Tất cả đều rối loạn, không đáp cùng tột.

Cảnh chi là phân chia cảnh ra từng phần chấp  rồi cũng chấp không. Do chấp như vậy nên đáp có không lộn xộn, làm tâm người hỏi rối loạn, không sao hiểu rõ manh mối.

Do suy tính chấp trước đó, rối loạn, rỗng không, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ năm, chấp bốn thứ luận hư vọng, điên đảo biến kế, càn loạn bất tử.

Đến ngoại đạo thứ sáu, chấp sau khi chết có tướng.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, nơi dòng chảy vô tận sanh ra suy tính chấp trước, người ấy khởi tâm điên đảo, rơi vào chấp sau khi chết có tướng. Hoặc tự củng cố thân, bảo rằng "sắc là ngã". Hoặc thấy ngã bao trùm khắp các cõi nước, nên nói "ngã có sắc". Hoặc thấy những duyên ở trước theo ngã mà xoay trở lại, nên nói "sắc thuộc về ngã". Hoặc lại thấy ngã nương trong hành mà tương tục, nên nói "ngã ở nơi sắc".

Chúng ta thường nghe trong kinh nói có hai thứ chánh báo và y báo. Y báo thuộc về chánh báo, cũng như cảnh thuộc về người. Nếu người khéo léo sáng suốt ở đâu thì cảnh nơi đó đẹp, còn người vụng về dốt nát ở đâu thì cảnh nơi đó xấu theo. Như vậy cảnh tùy thuộc theo người, nên nói những duyên trước theo ta mà xoay trở lại, tức là cảnh ở trước tùy theo ta mà xoay lại.

Đây là những lối chấp của ngoại đạo, nếu chúng ta không biết, lúc đọc kinh Nikaya nói về Ngã, sẽ thấy khó hiểu. Khi nói sắc là ngã, đó là trường hợp chấp thân kiên cố. Nếu nói ngã có sắc, tức trường hợp thứ hai, do thấy ngã trùm khắp cõi nước mười phương. Nói sắc thuộc về ngã, là trường hợp thứ ba, do thấy ngoại cảnh tùy thuộc mình. Nói ngã ở nơi sắc là trường hợp thứ tư, vì tới hành ấm, họ thấy ngã nương nơi hành ấm, mà hành ấm thì tương tục không dứt.

Chúng ta hiểu được bốn lối chấp này, mới thấy rõ ý trong các kinh A-hàm, bằng không thì khó mà hiểu tại sao Phật không nói đơn giản "không có ngã" là được rồi, lại còn phá luôn bốn thứ chấp ngã.

Bốn thứ ngã đó đều do suy tính chấp trước sau khi chết có tướng. Như thế xoay vần có mười sáu tướng, từ đây còn chấp cứu cánh phiền não và cứu cánh Bồ-đề, hai tánh cùng chạy đuổi, đều không đụng chạm nhau. Do đây suy tính chấp trước sau khi chết là có, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ sáu, do tâm điên đảo lập luận trong năm ấm sau khi chết có tướng.

Những lập luận này đều do hiểu sai lầm mà ra, thuộc về sáu mươi hai kiến chấp của ngoại đạo trong thời Phật. Mấy phần này hơi khô khan, nhưng chúng ta học kỹ thì đọc những kinh khác mới dễ hiểu.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của cái loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thương nhiều động kia, trước trừ diệt sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, sanh ra suy tính chấp trước. Người ấy khởi tâm điên đảo, rơi vào chấp sau khi chết không tướng.

Người ấy thấy sắc ấm diệt, hình thể không còn chỗ làm nhân; quán tưởng ấm diệt, tâm không ràng buộc chỗ nào; biết thọ ấm diệt, không còn dính dáng gì; tánh các ấm tiêu tan, dù có lý sanh mà không có thọ và tưởng thì đồng với cây cỏ. Hình chất này hiện tiền còn không thể được, sau khi chết làm sao lại có các tướng? Nhân đó suy nghiệm sau khi chết không có tướng.

Do người này quán sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm đều hết, nên thấy tất cả tiêu tan, không còn có sự liên hệ nào. Họ cho rằng khi phá thọ và tưởng rồi, dù đang sống mà không có cảm thọ, không có tưởng tượng thì cũng giống như cây cỏ. Thân đang sống đây còn không thể được, huống là sau khi chết, làm sao có tướng! Nên họ cho rằng sau khi chết là không tướng.

Như thế xoay vần có tám thứ vô tướng. Từ đây chấp nhân quả, Niết-bàn... tất cả đều không, chỉ có danh tự suông, rốt ráo đều đoạn hết. Do đây suy tính chấp trước sau khi chết là không, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây là ngoại đạo thứ bảy, do tâm điên đảo lập luận trong năm ấm sau khi chết không có tướng.

Họ cho rằng Niết-bàn, nhân quả... chỉ là nói suông, không có lẽ thật. Như vậy họ bác không nhân quả, không Niết-bàn, tất cả đều không. Đây là chỗ lầm chấp sau khi chết là không của ngoại đạo thứ bảy.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, trong chỗ hành ấm còn, mà thọ tưởng đều diệt, khởi hai chấp có và không tự thể phá nhau. Người ấy rơi vào luận điên đảo, chấp sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không.

Hai chấp có và không tự thể phá nhau, bởi vì phân nửa có phân nửa không tức là chống nhau, nên nói tự thể phá nhau. Vì vậy, chữ câu phi nghĩa là có và không đều chẳng phải.

Trong sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, thấy có mà chẳng phải có; trong hành ấm thì đổi dời, thấy không mà chẳng phải không.

Vì sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm trước có mà bây giờ đã diệt rồi, nên chẳng phải có; còn hành ấm thì luôn luôn đổi dời, cho nên thấy nó không mà chẳng phải không, vì nó vẫn liên tục.

Như thế xoay vần cùng tận ấm giới, thành tám tướng "đều chẳng phải"; tùy gặp một duyên gì, đều nói sau khi chết có tướng, không tướng.

Nghĩa là, gặp duyên gì cũng nói sau khi chết có tướng, không tướng, nói không dứt khoát.

Lại, suy xét tánh các hành ấm là thay đổi liên tục, nên tâm phát ra thấu suốt, cho rằng có, không đều chẳng phải, hư thật lộn xộn.

Nói có không đều chẳng phải thì không có rõ ràng, không biết là hư là thật thế nào, làm cho lộn xộn lúng túng.

Do đây suy tính chấp trước sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không, phía sau mờ mịt không có lối đi, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ tám, do tâm điên đảo lập luận trong năm ấm sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không.

Đây là ngoại đạo thứ tám, chấp sau khi chết rồi, năm ấm này nói có nói không đều chẳng phải.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem gốc ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, sanh ra suy tính chấp trước sau cùng là không. Người ấy rơi vào bảy thứ luận đoạn diệt.

Hoặc họ chấp thân này diệt, hoặc chấp dục hết là diệt, hoặc chấp khổ hết là diệt, hoặc chấp vui tột là diệt, hoặc chấp xả tột là diệt. Như vậy xoay vần cùng tận bảy thứ, hiện tiền đều là tiêu diệt, diệt rồi không trở lại. Do đây suy tính chấp trước sau khi chết là đoạn diệt, rơi vào ngoại đạo, lầm tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ chín, do tâm điên đảo lập luận trong năm ấm sau khi chết đoạn diệt.

Những người này chấp đoạn diệt vì thấy mé sau cùng là không, không còn sanh nữa. Bởi vì khi khổ mà hết khổ rồi thì khổ diệt mất, khi vui mà hết cơn vui rồi thì vui cũng mất. Vì tột khổ rồi cũng diệt, tột vui rồi cũng diệt, tột xả rồi cũng diệt nên chấp tất cả đều tiêu diệt.

Lại, những người thiện nam ở trong chánh định, do tâm chân chánh ngưng lặng vững chắc, ma không được cơ hội thuận tiện, xét cùng tột cội gốc của các loài chúng sanh, xem chỗ ban đầu trong sạch thầm kín mà thường nhiễu động kia, sanh ra suy tính chấp trước ở sau cùng là có. Người ấy rơi vào chấp năm thứ luận Niết-bàn.

Hoặc cho Dục giới là chánh chuyển y, do xem thấy sáng suốt tròn khắp nên sanh lòng yêu thích. Hoặc cho Sơ thiền là Niết-bàn vì tánh không lo buồn. Hoặc cho Nhị thiền là Niết-bàn vì tâm không khổ. Hoặc cho tam thiền là Niết-bàn vì rất vui. Hoặc cho Tứ thiền là Niết-bàn vì cả hai khổ vui đều mất, không phải chịu sanh diệt trong luân hồi.

Chuyển y là chuyển bỏ chỗ nương của các pháp tạp nhiễm, để chứng được chỗ nương của các pháp thanh tịnh, tức chuyển sanh tử thành Niết-bàn.

Ở đây những người cho cõi Dục giới là chánh chuyển y tức là Niết-bàn. Ví như họ thấy mình đang được sống trong cảnh sung túc, ấm no vui sướng trong vật chất đầy đủ, bèn cho như vậy là Niết-bàn, chấp ngay ở Dục giới là Niết-bàn. Sơ thiền là ly sanh hỷ lạc, tức do lìa hết dục lạc nên hết buồn khổ mà được hỷ lạc, không còn lo buồn, cho đó là Niết-bàn. Nhị thiền là định sanh hỷ lạc, cho tâm không còn khổ nữa là Niết-bàn. Tam thiền xả hết khổ vui, không còn bị luân hồi sanh diệt, nên cho đó là Niết-bàn.

Do mê lầm cõi trời hữu lậu, khởi hiểu là vô vi, lấy năm chỗ an ổn làm nơi nương tựa thù thắng thanh tịnh. Xoay vần như thế có năm chỗ cứu cánh.

Cõi trời hữu lậu là từ Dục giới tới Sắc giới, còn trong sanh diệt mà lại cho đó là vô vi bất sanh bất diệt. Chấp năm thứ vui mà họ cho là Niết-bàn, làm chỗ nương tựa.

Do đây mà suy tính chấp trước năm thứ Niết-bàn hiện có, rơi vào ngoại đạo, mê lầm tánh Bồ-đề. Đây là ngoại đạo thứ mười, do tâm điên đảo mà lập luận trong năm ấm có năm thứ Niết-bàn hiện tại.

Đó là mười thứ chấp lầm thuộc hành ấm, gồm có: Một là hai thứ luận vô nhân. Hai là bốn thứ chấp biến thường. Ba là chấp một phần thường một phần vô thường. Bốn là chấp hữu biên. Năm là chấp bốn thứ luận điên đảo biến kế, càn loạn bất tử. Sáu là chấp sau khi chết có tướng. Bảy là chấp sau khi chết không có tướng. Tám là chấp sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không. Chín là chấp ngũ ấm sau khi chết đoạn diệt. Mười là chấp năm thứ Niết-bàn hiện tại.

Đến đây Phật kết thúc:

Này A-nan, mười thứ cuồng giải trong thiền định như thế, đều do hành ấm dụng tâm xen lẫn nên hiện ra hiểu biết này. Chúng sanh mê lầm không tự xét lường, gặp những cảnh hiện tiền này, lấy mê làm ngộ, tự nói đã chứng quả thánh, thành tội đại vọng ngữ, rơi vào địa ngục Vô gián.

Sau khi ta diệt độ, các ông cần phải đem lời của Như Lai truyền dạy cho chúng sanh đời mạt pháp, khiến cho khắp chúng sanh hiểu rõ nghĩa này, không để cho tâm ma tự gây những tội lỗi sâu nặng. Bảo vệ che chở cho họ tiêu dứt các tà kiến. Dạy cho họ thân tâm đều khai mở được nghĩa giác ngộ chân thật, nơi đạo Vô thượng không gặp những lối tẽ. Chớ để họ mong cầu được một ít cho là đủ, nêu bày lời dạy thanh tịnh của bậc Đại giác vương.

Mười thứ ma hành ấm này, đối với các thứ ma trước mới thấy dường như ít nguy hiểm hơn. Vì các thứ ma trước phá đủ cách, thấy rất nguy hiểm; đến đây ma không phá nữa, nhưng do mình nhận thấy sai, nên lạc vào ngoại đạo. Tự mình thấy sai so với ma phá, thứ nào nguy hiểm hơn? Thật ra, các ma trước mới nghe tưởng như nguy hiểm, nhưng không bằng ma hành ấm này, bởi vì hễ thấy sai rồi thì không ai sửa được. Ma phá, đến khi tỉnh mình biết, hoặc có ai chỉ cho thì hết lầm; còn chỗ này vì mình thấy nên cho như vậy là đúng, khó mà sửa được.

Cho nên, sự tu càng lâu lại càng khó. Khó là vì tế nhị quá nên chúng ta dễ lầm, hễ lầm rồi thì không thể đi tới chỗ cứu cánh như sự mong mỏi.

5. Thức ấm

Thức ấm là cái cuối cùng của năm ấm. Qua được thức ấm là xong phần ngũ ấm ma, là qua khỏi Thập địa Bồ-tát. Trong phần thức ấm này, không còn bị ma quỷ phá nữa, chỉ có những nhận định sai lầm thành kiến chấp. Đến đây, chúng ta sẽ thấy trình độ của chúng ngoại đạo cũng thật là cao chứ không phải tầm thường.

Này A-nan, người thiện nam kia khi tu chánh định, hành ấm đã hết, ở chỗ trong sạch thầm kín mà nhiễu động, sự sanh chung của các chúng sanh trong thế gian bỗng nhiên bị tiêu diệt. Giềng mối sâu kín của mầm sanh, mạch ngầm cảm ứng của sự đền trả các nghiệp đã dứt mất.

Đồng phần là chung của tất cả chúng sanh. Bổ-đặc-già-la chỉ cho mầm sanh của chúng sanh trong các cõi, gốc của bào thai.

Khi qua khỏi hành ấm thì mầm sanh ở trong tam giới bị huỷ diệt, những manh mối vi tế không còn thấy nữa, cho nên sự cảm ứng nghiệp báo tới đây đã dứt. Nói một cách gọn hơn, đến thức ấm này thì mầm móng sanh của tất cả chúng sanh đã dứt, không còn cảm ứng nữa.

Nơi trời Niết-bàn sắp đại minh ngộ, giống như khi gà gáy sáng, nhìn về phương đông đã thấy có ánh sáng.

Đại minh ngộ là được sáng suốt hoàn toàn, tức ngộ đạo. Tinh sắc là ánh sáng. Đây nói người dứt hết hành ấm qua thức ấm thì mọi mầm sanh tử tiếp nối ngang đây đều dứt, Niết-bàn chân thật sắp hiện. Giống như khi gà gáy sáng, nhìn về phương đông thấy mặt trời sắp lên.

Sáu căn rỗng lặng không còn giong ruổi, trong ngoài lặng lẽ sáng suốt, vào không chỗ vào, thấu suốt được nguyên do thọ mạng của mười hai loài chúng sanh ở khắp mười phương. Xem thấy nguyên nhân đều từ chấp trước, nên các loài không còn chiêu dẫn được nữa. Trong mười phương thế giới đã được tánh đồng, sắc sáng không còn bị chìm mất, phát hiện những chỗ sâu kín. Đây gọi là phạm vi của thức ấm.

Như trên là còn trong phạm vi của thức ấm. Tuy thấu được chỗ thâm sâu đó, cũng chưa thoát ra khỏi thức ấm. Vì tới thức ấm tức gần Niết-bàn nhưng vẫn chưa đạt được Niết-bàn, cũng như gần sáng chưa phải là sáng.

Theo các chỗ giảng, khi qua được hành ấm rồi mà chưa phá thức thứ bảy vẫn còn chấp một phần của thức thứ tám là ngã. Nó chấp ngã như vậy vì chưa thật rõ thức thứ tám, chưa thấu suốt được Như Lai tàng ma chỉ thấy cái bóng của Như Lai tàng rồi chấp làm ngã, tức chưa thật đến nơi đến chốn. Bởi vậy, còn ở trong phạm vi thức ấm là chưa hoàn toàn tỉnh ngộ sáng suốt.

Nếu đối với các sự chiêu cảm đã tới chỗ chung rồi thì tiêu dung sáu căn, khi đóng hay mở đều được thành tựu, thấy nghe thông nhau, dùng lẫn nhau thanh tịnh.

Nếu dứt hết được các mầm lôi cuốn để sanh ở nơi này nơi kia, thì trong tánh đồng đó sáu căn không còn riêng rẽ, đóng hay mở đều được thành tựu. Như vậy, tới đây con mắt có thể nghe, lỗ tai có thể thấy, nghĩa là sáu căn hỗ dụng, không còn cách biệt. Sáu căn chúng ta hiện nay đang bị dính khắn, nên không thể dùng cái này thay cái kia được. Còn khi tu tới đây thì được tánh đồng, nên sáu cái riêng mất đi, trở thành một cái chung, bởi chung nên hỗ dụng thanh tịnh.

Thế giới mười phương cùng với thân tâm như ngọc lưu ly, trong ngoài đều sáng suốt, gọi đó là thức ấm hết. Người ấy có thể vượt khỏi mạng trược.

Phải tới chặng này mới hết mạng trược. Đến đây thế giới, thân và tâm, cả ba đều rỗng suốt như lưu ly, không còn mờ tối. Ở những giai đoạn trước, có khi thấy cảnh ở trước sáng mà trong tâm tối, có khi thấy trong tâm sáng mà cảnh tối, hoặc thấy mờ mờ không rõ. Tới đây tất cả rõ ràng, cảnh hoàn toàn sáng, thân và tâm hoàn toàn sáng. Cả ba đều trong sáng như lưu ly mới qua được thức ấm.

Như vậy, chặng đường nào rõ ràng chặng đó. Nếu chúng ta tu mà không hiểu, không nắm vững điều này thì dễ lầm lẫn, mới đi một đoạn đường mà tưởng đâu đã đến nơi, đưa tới những sai lầm.

Xem xét nguyên do của nó, gốc là vọng tưởng điên đảo, hình ảnh giả dối rỗng không.

Như vậy cả cảnh, thân và tâm đều là những hình ảnh hư dối rỗng không, từ vọng tưởng mà sanh chứ không có gì thật. Đó là nói tổng quát phạm vi của thức ấm và ra khỏi thức ấm. Người tu nếu không mắc kẹt nơi thức ấm, tất nhiên sẽ bước qua các quả vị Bồ-tát, lên tới Đẳng giác Diệu giác.

Đến đây đi vào chi tiết mỗi cái chấp của thức ấm.

A-nan nên biết, người thiện nam ấy đã tột các hành ấm là không, trở về cội nguồn của thức ấm, đã diệt được danh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Người ấy có thể khiến nơi thân mình, các căn khi hợp khai, khi chia cách, cũng cùng các loài trong mười phương thông hiểu nhau; tánh hiểu biết đó thông suốt nhau, có thể vào tánh ban đầu tròn đủ.

Nếu nơi chỗ trở về đó, lập ra nhân chân thường, sanh khởi thắng giải, người ấy rơi vào chấp "nhân, sở nhân", thành bè bạn của ngoại đạo Ta-tỳ-ca-la, chấp trở về với minh đế, lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ nhất, lập tâm có sở đắc thành quả có chỗ trở về, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Niết-bàn, sanh vào giống ngoại đạo.

Người này lấy chỗ trở về cho là nhân chân thường, tự xem đó là hiểu biết thù thắng. Đây là cái chấp thứ nhất, chấp có chỗ trở về tức sở nhân, và mình là người trở về tức năng nhân. Do thấy có tâm sở đắc nên thành quả có chỗ trở về.  

A-nan, người thiện nam ấy, đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu của tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi chỗ trở về xem là tự thể, tất cả chúng sanh trong mười hai loài ở khắp cả cõi hư không đều từ trong một thân ta lưu xuất, rồi sanh khởi thắng giải. Người ấy rơi vào chấp "năng, phi năng", thành bè bạn với Ma-hê-thủ-la hiện vô biên thân, lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến.

Năng, phi năng là hay tạo tác và cũng không tạo tác, tức chấp cái ta trùm khắp, tất cả chúng sanh nơi thế giới mười phương đều ở trong thân ta, như vậy ta là năng, còn các chúng sanh đó là phi năng.

Đây gọi là hạng thứ hai, lập tâm năng vi thành quả năng sự, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Niết-bàn, sanh vào giống ngoại đạo Đại mạn thiên, thấy cái ngã trùm khắp viên mãn.

Tâm năng vi thành quả năng sự, là tâm hay làm thành quả hay nên việc.

Đại mạn thiên thấy ngã trùm khắp, cho chúng sanh đều sanh từ trong thân ta. Hễ chấp giống như vậy thì thành bè bạn của đám này.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu đối với chỗ trở về thấy có chỗ quay về nương tựa, liền tự nghi thân tâm từ đó lưu xuất, hư không mười phương đều từ đó sanh khởi. Ngay chỗ tất cả đều từ đó lưu xuất, khởi hiểu là thân chân thường không còn sanh diệt. Ở trong sanh diệt sớm chấp cho là thường trụ. Đã lầm cái chẳng sanh cũng mê luôn cái sanh diệt, an trụ trong mê lầm sâu nặng mà sanh khởi thắng giải.

Người này thấy thật sự có chỗ cho mình trở về nương tựa, cho rằng thân tâm mình và mười phương hư không đều từ chỗ nương tựa đó lưu xuất; khởi hiểu đó là thân chân thường, bị chìm sâu vào mê lầm; ngay ở trong sanh diệt chấp lầm là thường trụ. Như thân này là thứ bại hoại, là sanh diệt mà nói là thường trụ, vậy nên đã chẳng rõ cái chẳng sanh mà cũng không biết cái sanh diệt luôn.

Người ấy rơi vào chấp "thường, phi thường", thành bạn bè những kẻ chấp Tự tại thiên, lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ ba, lập tâm nhân y thành quả vọng kế, trái xa tánh viên thông đi ngược với thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống "đảo viên".

Nhân y là có nhân để nương tựa. Vọng kế là suy tính chấp lầm hư dối.

Người này chấp chỗ trở về nương tựa là thường, còn tất cả chúng sanh nương tựa nơi đó là chẳng thường. Người ấy thành bè bạn của Tự tại thiên, vì Tự tại thiên cho rằng mình hay sanh ra tất cả chúng sanh là chẳng thường, không biết cõi trời Tự Tại thiên chẳng phải thường trụ. Đó là chấp điên đảo.

Lại, người thiện nam ấy, đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu ở chỗ biết, do biết cùng khắp, nhân biết đó lập thành sự nhận hiểu rằng "cỏ cây mười phương đều gọi là hữu tình, cùng với người không khác; cỏ cây làm người, người chết trở lại thành cây cỏ mười phương, đều cùng biết khắp, không có chọn lựa", rồi sanh khởi thắng giải.

Người ấy rơi vào chấp "tri vô tri", thành bạn bè của Bà-tra-tản-ni, chấp tất cả đều biết, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ tư, chấp tâm khắp biết, thành quả sai lầm hư dối, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống "đảo tri".

Những người này không có chọn lựa cái nào là hữu tình, cái nào là vô tình, mà cho rằng tất cả đều là biết khắp, sanh khởi thắng giải như vậy nên chấp tri vô tri. Tri là biết, cái biết trùm khắp mười phương, đó là cái biết của người, là chủ. Cỏ cây là vô tri, do tri trùm khắp nên nó cũng thành tri. Ngoại đạo lập tri vô tri là cái biết ban đầu trùm khắp tất cả cái vô tri, nên gọi tri vô tri. Chấp như vậy nên sanh ra đảo tri, nghĩa là biết điên đảo.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu trong chỗ viên tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu trong chỗ viên dung các căn hỗ dụng đã được tùy thuận, liền nơi sự biến hóa tròn đầy mà tất cả phát sanh, mong được ánh sáng của lửa, ưa sự trong sạch của nước, thích sự chuyển khắp của gió, xem sự thành tựu của trần, mỗi mỗi đều tôn sùng thờ phụng, lấy các trần này làm nhân ban đầu, lập ra sự nhận hiểu thường trụ.

Người ấy rơi vào chấp "sanh vô sanh", thành bạn bè của Ca-diếp-ba cùng những Bà-la-môn, đem hết thân tâm siêng năng thờ phụng lửa, nước để cầu ra khỏi sanh tử, mê lầm Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ năm, chấp trước thờ phụng, tâm mê theo vật, lập nhân vọng cầu mong được quả hư dối, trái xa tánh viên thông, đi ngược với thành Bồ-đề, sanh ra hạt giống "điên hóa" (biến hóa điên đảo).

Do chấp trước, tâm mê chạy theo vật, cái nhân mong cầu hư dối thì quả đạt được cũng là hư dối. Học đến đây mới biết vì lý do gì người ta dạy thờ lửa, thờ nước. Do những người tu đến chỗ phá thức ấm, nhìn thấy lửa sáng rỡ đẹp, thấy nước trong sạch đẹp... cho tứ đại là gốc của muôn vật, sanh ra muôn vật, nên đem thân tâm thờ phụng như chúng ta kính thờ tổ tiên.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt, nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi chỗ tròn sáng chấp cái rỗng trong tánh sáng, bác bỏ và diệt trừ các sự biến hóa, nương tựa nơi hằng diệt mất làm chỗ trở về, rồi sanh khởi thắng giải.

Người ấy rơi vào chấp "quy vô quy", thành bạn bè với các thần Hư không trong Vô tưởng thiên, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ sáu, do tròn đủ tâm hư vô mà thành quả "không vong", trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống đoạn diệt.

Quy vô quy là trở về mà không có chỗ trở về. Tâm hư vô là tâm trống không. Không vong là quên mất hết.

Những người này chấp nơi chỗ rỗng không, nên tất cả sự biến hóa họ đều cho tiêu diệt hết. Họ trở về chỗ vĩnh diệt nên đồng với thần Hư không trong Vô tưởng thiên, không có tướng mạo.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi chỗ viên thường chấp giữ thân được thường trụ, đồng với tánh tinh viên (tinh ba tròn đầy) còn mãi không bị chết mất, rồi sanh khởi thắng giải.

Người này chấp giữ thân cho còn mãi không chết, không muốn nó hoại.

Người ấy rơi vào chấp "tham phi tham", thành bạn bè của các vị A-tư-đà cầu được tuổi thọ lâu dài, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ bảy, chấp trước cội nguồn của mạng sống, lập nhân cố giữ cái hư dối, tiến đến quả kéo dài sự khổ nhọc, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống "vọng diên" (sự kéo dài hư dối).

A-tư-đà là vị tiên A-tư-đà. Những người này thích sống lâu nên gọi là tham, nhưng họ đã qua được mấy phần chấp ở trước, không còn kẹt trong sắc thọ tưởng hành, khi những thứ ấy đã diệt thì tham không thành, nên gọi là phi tham.

Hạng này lập nhân cố giữ cái hư dối, hướng đến quả kéo dài sự lao khổ. Con người vì nuôi thân này sống, nên phải cực vì sự sống. Bởi ăn nên phải làm, làm nên chịu cực khổ, vì mình mà cực. Còn có thân là còn khổ, mỗi ngày sống là thêm cực, vậy mà họ lại muốn giữ thân còn hoài thì khổ nhọc càng kéo dài, nên gọi là trường lao.

Nhiều người cho sống già là nhọc, nhưng nếu chết sớm mà không biết tu hành thì còn khổ hơn, khổ vì bị rơi vào địa ngục ngạ quỷ súc sanh, còn cực hơn làm người. Bởi vậy, tuy thân này sống lâu mệt nhọc, nhưng biết tu thì những năm tháng đó cũng quý.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Quán xét mạng sống thông lẫn nhau, muốn giữ lại trần lao, e sợ nó tiêu mất. Khi ấy liền ở nơi mé này ngồi cung hoa sen, hóa ra rất nhiều bảy báu và nhiều mỹ nữ, buông lung tâm mình, rồi sanh ra thắng giải.

Người ấy rơi vào chấp "chân vô chân", thành bạn bè của Tra-chỉ-ca-la, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ tám, phát ra nhân suy nghĩ sai lầm, lập thành quả các trần hưng thịnh, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống thiên ma.

Gọi là chấp chân vô chân vì họ hóa ra được nhiều thứ báu, ngồi trên đài sen v.v... thấy như chân nhưng lại không phải chân. Người này rơi vào thiên ma, vì ưa hưởng các dục lạc.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Trong chỗ sáng suốt của mạng căn phân biệt sự tinh và thô, quyết định cho rõ ràng thật và giả, nhân quả đền đáp nhau, chỉ cầu cảm ứng, trái với đạo thanh tịnh. Nghĩa là thấy Khổ đoạn Tập chứng Diệt tu Đạo, ở nơi Diệt đế đã dừng lại không chịu tiến lên, rồi sanh ra thắng giải.

Người ấy hẳn rơi vào định tánh Thanh văn, thành bè bạn với những vị Tăng vô văn, những người tăng thượng mạn, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ chín, viên mãn tâm tinh ứng, thành tựu quả tiến đến chỗ tịch diệt, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống trói buộc nơi không.

Sơ quyết chân ngụy là đối với chỗ thật và giả, sự quyết đoán chưa chín chắn. Người này đã thấy được Tứ đế, nhưng chứng được Diệt đế rồi thôi, không tiến lên nữa. Như vậy vị này chứng quả A-la-hán chưa? Chứng rồi. Nhưng chưa thật rõ được cái nào chân cái nào giả, chỗ nhận định chưa thấu đáo rành rẽ, nên hài lòng tự mãn ở nơi đó. Do vậy vị này sau khi diệt hết mọi phiền não rồi dừng ngang đó, sống với Diệt đế chứ không tiến lên nữa, tức là lấy sự tịch diệt đó làm chỗ cứu cánh. Vì vậy mà bị chê là trầm không trệ tịch.

Đây gọi là vị tăng ít học, cũng là những vị tăng thượng mạn. Trong kinh Pháp Hoa, khi Phật sắp nói về nhân duyên lớn chư Phật xuất hiện nơi đời thì năm nghìn người đứng dậy lui về. Đó gọi là những người tăng thượng mạn, chưa chứng mà tự cho là đã chứng, nên không ở lại  nghe pháp.

Lại, người thiện nam ấy đã tột hành ấm là không, đã diệt được sanh diệt nhưng chỗ tinh diệu tịch diệt chưa được tròn đủ. Nếu nơi tánh giác sáng suốt thanh tịnh viên dung, nghiên cứu chỗ thâm diệu liền lập làm Niết-bàn mà không tiến tới nữa, rồi sanh thắng giải.

Người ấy hẳn rơi vào định tánh Bích-chi, thành bè bạn của những vị Duyên giác, Độc giác không hồi tâm về Đại thừa, lầm mê Bồ-đề của Phật, quên mất tri kiến. Đây gọi là hạng thứ mười, do viên mãn tâm giác thông suốt, thành tựu được quả lặng lẽ sáng suốt, trái xa tánh viên thông, đi ngược thành Niết-bàn, sanh ra hạt giống giác viên minh nhưng không chuyển hóa để tròn đủ.

Hàng Độc giác là Bích-chi Phật, đã thấy được chỗ viên minh, nghiên cứu thâm diệu, nhưng hài lòng ở chỗ yên vắng riêng, không muốn làm gì, không muốn gần ai.

Như vậy, hai hạng sau là định tánh Thanh văn tức A-la-hán và định tánh Bích-chi là Bích-chi Phật. Tuy hai bậc này không tiến lên nữa, nhưng các ngài đã tới chỗ viên minh sáng suốt rồi, không còn bị trầm luân.

Như vậy trong mười cái lầm của thức ấm, bảy trường hợp trước lạc vào ngoại đạo, điều kế là thành thiên ma, còn hai cái lầm sau là vào hàng A-la-hán (Thanh văn) và Bích-chi Phật (Duyên giác).

Đến hết thức ấm này có chỗ gọi là Đệ bát địa, hay Niết-bàn A-la-hán. Người tu đến đây có thể bị mắc kẹt ở quả vị A-la-hán hoặc ở quả vị Bích-chi Phật không vượt lên được. Các vị Bồ-tát thì phải được nhờ Phật khuyến phát để tăng tiến lên.

Này A-nan, mười thứ thiền-na như thế, ở giữa đường thành ra cuồng mê. Nhân y nơi mê hoặc trong chỗ chưa đủ tưởng là chứng đầy đủ, đều do thức ấm dụng tâm xen lẫn, nên sanh ra những địa vị này. Chúng sanh mê muội không tự xét lường, gặp những cảnh này hiện tiền, mỗi người do tâm mê lầm, yêu thích những tập cũ mà tự dừng nghỉ, cho là chỗ trở về an ổn rốt ráo. Họ tự nói đã đầy đủ đạo Vô thượng Bồ-đề, trở thành đại vọng ngữ. Ngoại đạo tà ma, khi nghiệp cảm đã hết thì rơi vào địa ngục Vô gián. Thanh văn Duyên giác thì không tiến lên được.

Các ông để tâm gìn giữ đạo của Như Lai, sau khi ta diệt độ đem pháp môn này truyền dạy cho chúng sanh đời mạt pháp, khiến cho khắp chúng sanh hiểu rõ nghĩa này, không để cho ma tà kiến tự làm cho chìm đắm trong tội lỗi. Bảo vệ thương xót cứu giúp người tu hành tiêu dứt các tà duyên, khiến cho thân tâm họ vào tri kiến Phật, từ lúc bắt đầu đến khi thành tựu không gặp các đường tẽ.

Đến đây kết thúc năm ấm ma. Nói là Ngũ ấm ma nhưng thật ra là vượt qua năm ấm, trên con đường tiến tu không còn bị các ấm che mờ nữa, cuối cùng là tâm, thân và cảnh đều sáng rỡ như lưu ly. Đến đó là đã vượt khỏi thức ấm, đối với hàng Thập địa Bồ-tát là đã đến địa thứ chín và thứ mười. Phần này rất hệ trọng. Nếu chúng ta phá được mười thứ ma trong mỗi ấm thì sẽ tiến đến chỗ cứu cánh thành Phật.

Lời căn dặn chí yếu của đức Phật là phải làm sao đem những lời Phật dạy, đem pháp môn Phật chỉ ở đây, nhắc nhở cho người sau, để họ đừng bị rơi vào đường tà, có thể vào được tri kiến Phật, không đi các lối tẽ.

Kế đây, Phật nói những công dụng của người tu, khi qua được ngũ ấm ma.

Pháp môn như thế, chư Như Lai nhiều như số bụi trong hằng sa kiếp quá khứ đã nương nơi pháp môn này mà tâm được khai ngộ và chứng Vô thượng đạo. Thức ấm nếu hết thì hiện tiền các căn của ông được dùng thay lẫn nhau đó, có thể vào địa vị Kim cang Càn huệ của Bồ-tát; trong tâm tinh thuần tròn sáng đó phát ra sự biến hóa, như mặt trăng báu hiện trong món đồ lưu ly trong trẻo.

Chúng ta có thể nói cách khác, như trong cái bình thủy tinh để một bóng đèn, khi bóng đèn cháy sáng, chúng ta thấy nó sáng rỡ không bị ngăn ngại. Ở đây cũng vậy, khi tâm tịnh thuần tròn sáng rồi, nó phát hiện ra không bị trở ngại.

Như thế mà vượt khỏi Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh tâm, Kim cang thập địa của Bồ-tát tu hành, Đẳng giác tròn sáng, vào được biển Diệu trang nghiêm của Như Lai, viên mãn Bồ-đề, trở về Vô sở đắc.

Rốt cuộc trở về Vô sở đắc, tức không chỗ được. Vô sở đắc là có đắc hay không? Tại sao nói đủ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác, rồi lại Vô sở đắc? Do vì đã thấy tâm thể của tất cả chúng sanh là sẵn có. Tâm thể sẵn có đó, gọi là Phật pháp thân. Tuy nhiên trên con đường tu, tạm đặt ra nhiều chặng. Dù có đặt ra nhiều chặng đường, nhưng sự thật thì không thêm bớt gì cả. Vậy có được cái gì không? Sống trở về với cái mình sẵn có thì có gì là được?

Cũng như mình sẵn có một gia tài lớn, nhưng vì quên mất lại đi lang thang chỗ này chỗ kia, làm ăn thất bại, thiếu thốn nghèo đói. Nay mình nhớ lại gia sản lớn của cha mẹ, liền trở về và được cha mẹ trao lại sự nghiệp. Đó là được hay là không được? Gia sản đó cha mẹ để dành sẵn cho mình thì mình có quyền hưởng, chỉ vì mình bỏ đi nên nghèo khổ, nay trở về nhận lại của sẵn có thì có gì gọi là được! Cái gì mình không có, ai cho mới gọi là được; còn của mình, bây giờ trở về nhận lại thì không có gì gọi là được, cho nên nói Vô sở đắc.

Đó là nói tổng quát, đến đây mới giải thích thêm rành rẽ.

Đây là chư Phật Thế Tôn trước, thuở quá khứ ở trong Chỉ và Quán đã giác ngộ sáng suốt, phân tích được những việc ma vi tế.

Đây tức chỉ cho kinh này, pháp môn này. Những đức Phật trước ở đời quá khứ, chính ở trong chánh định, trong thiền quán, các ngài dùng tánh giác sáng suốt, phân tích những việc ma vi tế cho chúng ta biết như vậy.

Ma cảnh hiện tiền, ông hay biết rõ thì tâm nhơ được rửa sạch, không rơi vào tà kiến, ấm ma tiêu diệt, thiên ma bị tan nát, đại lực quỷ thần khiếp đảm chạy trốn, các loài ly mỵ võng lượng không còn dám xuất hiện, thẳng đến Bồ-đề không có thiếu sót. Dù cho những người hạ liệt cũng được tăng tiến, đối với đại Niết-bàn tâm không mê muội.

Điều trọng yếu trong việc diệt ma là tâm nhơ phải tẩy trừ. Tâm nhơ tẩy trừ rồi thì bao nhiêu thứ ma đều chạy hết. Tâm nhơ không trừ thì các ma hưng thịnh. Phá được hết các ấm ma thì mọi thứ khác không có gì làm hại mình được, đi tới Bồ-đề viên mãn.

Nếu những chúng sanh ngu độn ở đời mạt kiếp chưa biết thiền-na, không biết Phật pháp, ưa tu chánh định, ông sợ họ rơi vào đường tà, nên một lòng khuyên bảo họ trì thần chú Phật đảnh đà-la-ni của ta. Nếu chưa thể trì tụng được thì viết để trong thiền đường hoặc đeo trên thân, thì tất cả các ấm ma không thể lay động được. Ông nên kính vâng theo khuôn phép rốt sau, chỗ tu tiến cứu cánh của Như Lai mười phương.

Đó là lời đức Phật khuyên bảo ngài A-nan và hội chúng, phải y theo lời Phật dạy mà tu hành để khỏi rơi đường tà, không lạc vào ngoại đạo.

Qua đoạn này, chúng ta thấy kết quả của người tu sau khi phá được năm ấm thì sẽ tiến lên quả vị Bồ-tát, rồi thẳng tới Đẳng giác Diệu giác, không còn bị ma chướng làm trở ngại nữa; trái lại, ma kinh hoàng sợ sệt không dám quấy nhiễu. Người nào đi được tới đây cũng phải trải qua nhiều gian nan cay đắng. Muốn được kết quả an ạc đầy đủ, cái giá phải trả là vượt qua đám ma quấy phá dọc đường; có những khi điêu đứng với nó, có những khi muốn làm thân thuộc với nó.

Nếu chúng ta vượt qua được hết những rào cản đó, tới đây tự tại, thì lúc này chúng ma hoảng hồn khiếp vía, không còn dám khinh khi như trước nữa. Ngược lại, nếu không chịu khổ nhọc để vượt qua thì sẽ làm bè bạn hoặc tôi tớ của ma. Như vậy trong sự tu, chúng ta muốn tiến lên thì phải chấp nhận những khó khăn, nhất là phải trì chí hướng về mình, chứ đừng lệ thuộc bên ngoài, cũng đừng dính với những ảo ảnh do tâm biến hiện.

Sau đây là điều nghi cuối cùng của ngài A-nan. Chúng ta nắm vững chỗ nghi này, mới thấy đoạn này là thiết yếu.

Mục Lục