V. CÁC CHƯỚNG MA
Bấy giờ đức Như Lai sắp chấm dứt thời pháp, từ trên tòa sư tử vịn ghế thất bảo, xoay thân tử kim sơn, trở lại dựa vào ghế, bảo khắp đại chúng và A-nan:
Thân của Phật được tán thán như một khối vàng tía, vững vàng như núi nên gọi là thân tử kim sơn. Đức Phật sắp mãn buổi giảng, do ngồi lâu nên ngài mới vịn ghế xoay thân muốn nghỉ, nhưng lại còn phải dạy thêm ít điều nữa nên trở lại dựa ghế. Chỗ này không ai hỏi, nhưng vì Phật thấy rằng nếu không dạy đủ sợ người tu dễ lầm lẫn, nên Phật tự chỉ dạy.
Các ông là hàng hữu học Thanh văn Duyên giác, ngày nay hồi tâm hướng về đại Bồ-đề vô thượng Diệu giác. Nay ta đã nói pháp tu hành chân thật, ông vẫn chưa biết những việc ma vi tế khi tu Chỉ tu Quán. Nếu cảnh ma hiện ra mà ông không thể biết được, khi tu tâm không chân chánh sẽ rơi vào tà kiến, hoặc là ma ngũ ấm của ông hoặc gặp thiên ma, hoặc bị quỷ thần dựa vào hoặc gặp những loài yêu quái, mà trong tâm ông không rõ nhận giặc làm con.
Phật thương muốn cho chúng ta tu, nên ngài đã chỉ rõ cách tu, đường lối tu rồi, nhưng còn e rằng trong khi tu có những cảnh ma mà mình không biết, dễ bị lầm lẫn. Chính lúc chúng ta tu sẽ có những ma sự lẫn trong đó, làm cho mình trở thành tà kiến, vì vậy mà Phật thương xót nhắc nhở. Do chúng ta không rõ đó là ngũ ấm ma hay thiên ma hoặc quỷ thần dựa vào người, lại nhận nó là thiện tri thức hay nhận là mình tu chứng, đó đều là nhận giặc làm con.
Từ đầu tới cuối kinh Lăng-nghiêm chủ yếu nhắm vào Thiền. Ban đầu là ngài A-nan đứng ra thưa hỏi về phương pháp tu Chỉ và tu Quán, đến phần chót của kinh, Phật lại dạy về các ma sự trong khi tu Thiền. Chỉ trong quyển bảy, do ngài A-nan thưa hỏi, Phật mới phương tiện nói việc dựng lập đàn tràng và nói lại thần chú.
Lại nữa, ở trong ấy được chút ít là đủ. Như có Tỳ-kheo vô văn tu được Tứ thiền, dối cho là chứng thánh. Khi quả báo cõi trời đã hết, tướng suy liền hiện tiền, liền chê bai A-la-hán mà còn có thân sau, phải đọa vào địa ngục A-tỳ.
Tỳ-kheo vô văn là vị Tỳ-kheo dốt nát, tu mà không học, không hiểu gì. Những vị này có công tu, nhưng tiến lên chưa đến nơi lại tưởng đã đến, hài lòng cho là đã chứng A-la-hán rồi, hoặc tưởng mình thành Phật. Đến lúc hưởng hết phước bị đọa, mới giật mình: "Tại sao mình là A-la-hán rồi mà nay còn bị đọa?" Do không hiểu bèn chê A-la-hán còn bị đọa, đây là nói bậy phải đọa địa ngục.
Ông nên lắng nghe cho kỹ, nay ta vì ông mà phân biệt chín chắn.
A-nan đứng dậy, cùng với hàng hữu học trong hội vui mừng đảnh lễ, kính mong được nghe lời chỉ dạy từ bi của Phật.
Phật sắp nói lý do vì sao ma phá người tu. Hồi xưa tôi cứ nghĩ mình tu là làm lành, tu đắc đạo thì độ hết chúng sanh, trong đó có ma nữa. Mình độ nó được tỉnh giác thì lẽ ra nó phải ủng hộ mình triệt để, nhưng tại sao nó lại phá mình? Phần kế Phật nói lý do rất rõ ràng.
Phật bảo A-nan và cả đại chúng:
- Các ông nên biết, thế giới hữu lậu có mười hai loài chúng sanh, tâm thể bản giác diệu minh giác viên cùng với chư Phật mười phương không hai không khác.
Đó là câu xác nhận của Phật, đối với tâm thể bản giác diệu minh giác viên, Phật có thì mười hai loài chúng sanh trong thế giới hữu lậu này cũng có, không hai không khác, không kém không thua chút nào. Đừng nghĩ lầm Phật mới có còn chúng sanh vô phần.
Do ông vọng tưởng, mê lầm chân lý mà thành lỗi lầm, si ái phát sanh, sanh mê cùng khắp nên có hư không. Cái mê biến hóa không dừng nên có thế giới sanh ra. Cõi nước như số vi trần ở mười phương này, trừ ngoài bậc vô lậu, thì đều là do mê lầm vọng tưởng mà an lập.
Tất cả chúng sanh đều có bản giác diệu tâm như chư Phật mười phương không khác, nhưng sở dĩ có khác là do vọng tưởng mê lý mà ra. Mê lý là không thấy được lý thật, tức không thấy được bản giác diệu tâm, thành ra lỗi. Lỗi đó là bởi si mê và ái kiến mà phát sanh. Khi đã phát sanh thì mê càng ngày càng rộng khắp, cho nên đầu tiên là có hư không. Cái mê lại biến hóa không dừng, lần lần có thế giới.
Trong thế giới ở mười phương như số vi trần này có cả phàm lẫn thánh. Thánh là những vị vô lậu, còn phàm là tất cả chúng sanh ngu mê, đều do vọng tưởng an lập. Như vậy các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh v.v... đều từ vọng tưởng mà ra, cho nên vọng tưởng là then chốt tạo ra cảnh khổ cảnh vui, luân hồi lục đạo. Nay chúng ta chặn ngay gốc vọng tưởng, đừng cho nó làm chủ mình nữa thì đâu còn tạo nghiệp sanh tử.
Như vậy mới thấy trọng tâm sự tu là phải biết nhắm gốc để hạ nó. Cái cây tàn lớn bao nhiêu đi nữa, muốn nó ngã thì phải cưa từ gốc, còn chặt từng nhánh thì chỉ gãy nhánh chứ không ngả cây được. Cũng như vậy, lục đạo luân hồi mà phá từng chỗ thì lâu lắm, cứ ngay gốc tạo ra luân hồi lục đạo đó mà chặn là dứt. Đây là gốc của sự tu.
Do đó hướng tu của chúng ta, là vọng tưởng là chủ tạo nghiệp, vậy phải dừng nó lại đừng theo nữa. Không theo vọng tưởng là không theo nghiệp, mà không theo nghiệp tức hết luân hồi. Đơn giản vô cùng! Chúng ta tu cốt cầu giải thoát. Giải thoát cái gì? Giải thoát luân hồi. Cái gì là trọng tâm của luân hồi? Là vọng tưởng. Bây giờ dừng vọng tưởng không theo nó tức là dừng luân hồi, dừng luân hồi tức là giải thoát. Như vậy chủ đích chúng ta nhắm hết sức rõ ràng, không có gì nghi ngờ.
Hiểu thật rõ như vậy mới thấy đường hướng tu của chúng ta là thấu đáo. Người không hiểu rõ nói: "Tu gì đơn giản quá, phải làm công kia việc nọ cho có phước đức, còn không theo vọng tưởng coi bộ đơn sơ quá." Họ không biết rằng vọng tưởng chính là mấu chốt của sanh tử. Ban đầu nó hết sức đơn giản, nhưng từ cái đơn giản đó, sau phát ra những thứ phiền toái.
Nên biết hư không sanh trong tâm của ông ví như một làn mây mỏng điểm trong bầu trời xanh, huống là các thế giới ở trong hư không kia.
Buổi trưa trời trong trẻo, chúng ta thấy bầu trời xanh có làn mây mỏng, làn mây mỏng đó có nghĩa gì, có thấm vào đâu so với bầu trời xanh! Hư không vô bờ vô bến mà đối với bản giác diệu tâm cũng như một mảnh mây nhỏ trong bầu trời xanh, nói gì các thế giới ở trong hư không. Huống nữa thân này nào có ra gì? Vậy mà chấp nó làm chỗ cứu cánh, còn cái thênh thang kia lại bỏ quên! Phật thương chúng sanh chính vì sự ngu mê đó.
Thể tánh thênh thang không bờ bến, trùm cả hư không, hư không đối với thể tánh đó không có nghĩa lý gì hết. Vậy mà mình bỏ quên tánh, rồi chấp và tự mãn với tấm thân chút xíu, chấp những hơn thua phải quấy, phiền hà nhau, đời này tiếp tục đời kia. Vậy nên khi ngài A-nan ngộ rồi, ngài nói nhìn thân cha mẹ sanh ra đối với pháp thân giống như thổi một hạt bụi trong hư không, hoặc còn hoặc mất chẳng có gì quan trọng hết. Còn chúng ta do mê nên thấy các giả tướng là thật, là quan trọng, không thể nào buông bỏ được.
Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật cho thân này như hạt bụi nhỏ tí ti, còn bản tâm như quyển kinh lớn bằng tam thiên đại thiên thế giới. Quyển kinh lớn nhét trong hạt bụi nhỏ, chỉ cần đập hạt bụi ra là lấy được quyển kinh. Như vậy, tâm thể bao la không ngằn mé, sao lại dồn ép vào một cái tí ti không nghĩa lý gì, để rồi lo nó còn mất, đói lạnh...! Cần cho nó rã ra, để lấy bộ kinh lượng bằng tam thiên đại thiên thế giới. Nhớ kỹ như vậy, sẽ thấy sự tu không khó.
Như vậy, việc làm của người tu là phi thường chứ không phải tầm thường, không nên lẩn quẩn mãi trong cái ăn cái mặc... để bị quay hoài trong trục luân hồi sanh tử không dừng dứt. Thoát ra khỏi vòng quay đó, sống với cái thênh thang không bờ mé tức là phi thường.
Các ông một người mà phát khởi sự trở về tánh chân thật ban đầu, thì mười phương hư không thảy đều tiêu mất, làm sao các cõi nước ở trong hư không kia không bị rúng động, đổ nát.
Trở về gốc ban đầu là bản giác diệu tâm của chính mình. Đối với bản giác diệu tâm thì hư không chỉ là mảnh mây nhỏ giữa khoảng trời xanh, không có giá trị gì, nên nói trở về diệu tâm thì hư không mười phương thảy đều tiêu hết. Hư không mười phương còn hết, huống là các cõi nước trong hư không, làm sao mà không rung chuyển, đổ nát?
Các ông tu thiền, trau giồi chánh định, Bồ-tát và hàng vô lậu đại A-la-hán ở mười phương, tâm tinh thông suốt, ngay đó được trong lặng. Tất cả ma vương cùng các quỷ thần, các vị trời phàm phu, thấy cung điện của họ vô cớ đổ vỡ; quả đất rạn nứt, các loài ở dưới nước, ở trên cạn, các loài bay nhảy thảy đều kinh hoảng, nhưng những người phàm phu tối tăm thì không biết có sự dời đổi.
Đến đây Phật nói lý do ma phá người tu hành. Giả sử có người tu đắc đạo, ma quỷ hoảng kinh đi tới phá, người này đều không hay biết. Trong sử kể: Có vị tăng tên Pháp Tế, tự khoe về thiền học. Một hôm đại sư Trí Giả tình cờ gặp vị này tại am thất. Am chủ Pháp Tế nằm dựa ghế hỏi: "Có người ở trong định nghe đất núi rúng động, biết có vị tăng quán lý vô thường, ấy là định gì?" Đại sư Trí Giả trả lời: "Đó chỉ mới chuyển thân vào định thôi, là biên định chưa sâu, là tà chứng ám nhập. Nếu chấp nói thì định ấy chắc chắn phải mất." Vị tăng Pháp Tế nghe nói kinh hãi đứng dậy thưa: "Tôi thường được định này, vì nói cho người nghe nên đã mất."
Như vậy, những cảnh trong định, quỷ thần với thiên ma biết mà người thường không biết. Người tu khi quán thế giới vô thường thấy cả quả đất rung động, huống nữa là tu đến lúc tâm hoàn toàn thanh tịnh, nên các cung ma chợt thấy sụp đổ.
Bọn kia đều được năm thứ thần thông, chỉ trừ lậu tận thông. Chúng quyến luyến trần lao này, làm sao có thể để cho ông làm tan hoại chỗ ở của chúng. Thế nên quỷ thần và các thiên ma, võng lượng yêu tinh, khi ông ở trong tam-muội, chúng cùng đến nhiễu loạn.
Bọn kia là ma vương, quỷ thần và trời phàm phu. Trong lục thông, họ có được cả năm thứ, trừ lậu tận thông mà bậc A-la-hán mới có. Cung mà là những chỗ sang trọng họ đang thụ hưởng, mà nay thấy rung chuyển tan hoang là do có người tu đắc đạo. Bọn họ quyến luyến trần lao này lắm, thấy cung điện sắp rã rời thì hoảng sợ, phải cử binh tới phá, như ngày xưa đức Phật sắp thành đạo, quân ma kéo tới bao vây phá ngài.
Trước đây chúng ta thấy ngạc nhiên, Phật giác ngộ rồi độ tất cả chúng sanh, trong đó có cả thiên ma, tại sao thiên ma lại tới vây hại ngài? Đó là từ lý do này. Hiểu rõ rồi, chúng ta không còn nghi ngờ tại sao khi mình tu tới chỗ tâm hoàn toàn thanh tịnh rỗng suốt giống như các vị A-la-hán các vị Bồ-tát, thì ma vương sẽ tới nhiễu loạn quấy phá.
Nhưng bọn ma kia tuy có giận dữ, chúng là ở trong trần lao còn ông ở trong diệu giác, như gió thổi ánh sáng, như dao chặt nước, trọn không xúc chạm được ông. Ông như nước sôi, bọn chúng như băng cứng, vừa gần hơi nóng thì không bao lâu băng sẽ tiêu hết.
Đó là ba ví dụ để chúng ta yên lòng. Thứ nhất là ma ở trong trần lao, còn chúng ta ở trong diệu giác, chúng muốn làm hại cũng giống như gió thổi ánh sáng. Thứ hai, ma muốn hại người tu giống như là cầm dao chặt nước, dầu chặt bao nhiêu nước cũng chẳng sao. Thứ ba, chúng ta như nước sôi, ma như băng cứng, băng cứng gần nước sôi sẽ chảy hết.
Chúng ỷ nơi thần lực nhưng chúng chỉ là khách, nếu chúng phá rối thành tựu được là do người chủ năm ấm trong tâm ông.
Quan trọng là người chủ là năm ấm (sắc thọ tưởng hành thức). Nếu người chủ năm ấm gạt gẫm mình, mình lầm nó thì ma bên ngoài mới phá được, vì ma ngoài là khách còn năm ấm là chủ. Trái lại, nếu chúng ta làm chủ được trọn vẹn, không bị năm ấm làm lầm, thì ma bên ngoài dù mạnh mấy cũng không làm gì mình được.
Chủ nhân nếu lầm thì khách mới được cơ hội thuận tiện. Chính trong khi thiền định giác ngộ không mê lầm thì những việc ma kia không làm gì được ông. Năm ấm tiêu trừ thì vào tánh sáng, bọn ma tà kia đều ở trong khí tối, sáng hay phá tối nên đến gần thì tự tiêu mất, làm sao dám ở đó nhiễu loạn người tu thiền định?
Khi chúng ta phá được mỗi ấm tức vào mỗi phần sáng suốt, còn ma thì ở chỗ u ám tối tăm. Chúng ta sáng suốt thì tối không sao chen vào được. Tối đến gần sáng thì tối phải mất, đâu dám ở lại làm rối loạn người tu thiền. Do lầm nên ma mới có cơ hội phá. Lầm cái gì? Lầm những biến tướng của năm ấm. Khi tu, năm ấm biến ra những tướng lạ, chúng ta lầm tưởng là chứng thánh cho nên ma có cơ hội phá. Trái lại, nếu khi những tướng lạ hiện ra, biết rõ không lầm thì ma không có cơ hội phá được.
Ma thuộc về âm u tăm tối, còn chúng ta tu thiền là mở mang trí tuệ, mà trí tuệ là sáng, sáng hay phá tối. Bởi vậy ma không thể làm nhiễu loạn người tu thiền định được, nếu người đó không lầm. Như vậy là sự tu có bảo đảm, với điều kiện là phải ngộ chứ không mê.
Nếu chẳng tỏ ngộ, bị các ấm làm mê, thì ông A-nan ắt sẽ làm con của ma, thành người ma.
Đó là chỗ đáng sợ. Nếu trong khi tu, chúng ta không sáng suốt không tỉnh ngộ, bị các ấm ma làm mê lầm (ấm ma là ma của mình, do nhận lầm năm ấm) thì chính mình ắt bị làm con của ma, thành người ma chứ không còn là người tu chân chánh nữa. Cho nên có nhiều người ham tu, tu rất có công phu mà rốt cuộc lại làm tôi tớ của ma, nói những chuyện ma, làm những điều ma. Đó là vì họ đã bị lầm.
Như Ma-đăng-già sức rất là yếu kém, chỉ dùng chút chú thuật khiến ông phá luật nghi của Phật. Trong tám muôn hạnh chỉ hủy một giới, do tâm ông thanh tịnh nên vẫn chưa bị trầm luân. Ma này phá hoại toàn thân bảo giác của ông, giống như quan tể tướng chợt mất hết bộ sổ, đành phải lang thang, không ai có thể thương mà cứu được.
Sức phá hại của ma làm cho toàn thân bảo giác của ngài A-nan bị hủy hoại. Tại sao? Vì nó làm mê lầm rồi phá giới, khiến không ngộ nhập được tánh giác, như ông tể tướng chợt mất hết bộ sổ, phải lang thang không thể cầu cứu ai.
Như vậy, đoạn này Phật đã giải thích hết sức rành rẽ:
- Tất cả chúng sanh đều có tâm thể bản giác diệu minh giác viên, đồng với chư Phật mười phương.
- Sở dĩ chúng ta bị luân hồi là vì vọng tưởng. Bởi có vọng tưởng nên mê lầm chân lý, đưa tới tạo nghiệp thọ sanh, chịu luân hồi sanh tử. Một phen mê liền sanh ra hư không, thế giới. Mà hư không, thế giới đối với tâm tánh giác minh chỉ giống như một mảnh mây nhỏ ở trong bầu trời xanh.
- Nay chúng ta tu để trở về bản giác đó. Nếu trở về được với bản giác thì hư không mười phương thảy đều tan hoại, tất cả cõi nước ở trong hư không này rúng động, đổ vỡ. Quân ma thấy cung điện chúng sụp đổ, hoảng hốt, biết là do có người tu gần đắc đạo, bèn kéo đến phá hại.
- Tuy nhiên không đáng sợ vì ma ở trong trần lao, chúng ta ở trong diệu giác, nó hại mình chẳng khác nào gió thổi ánh sáng, dao chặt nước, băng gần lửa. Chỉ có điều đáng sợ là lầm ngũ ấm ma. Nếu người tu lầm ngũ ấm ma nơi chính mình thì ma ở ngoài mới có cơ hội phá phách. Vậy nên phải dè dặt đừng lầm ngũ ấm ma.
Học đoạn này mới thấy sự tu hành thật là khó khăn chứ không đơn giản. Trong năm ấm, mỗi ấm Phật phân ra có mười thứ ma. Mười thứ ma này không phải từ ngoài vào mà chính là do công phu tu, phá từng ấm mà nó phát hiện. Nếu không biết rõ, khi hiện những tướng lạ tưởng là mình đạt đạo chứng quả thì đó là bệnh. Còn nếu biết rõ không lầm nhận thì đó là cảnh giới tốt, do công phu tu của mình mà hiện ra. Như vậy ma hay là thiện đều từ chỗ biết và không biết. Biết tức là cảnh giới lành, không biết là cảnh giới ma, tầm vóc hệ trọng ở chỗ đó.
Lại nữa, người tu thường nói bị ma phá, nhưng sự thật là họ tự phá. Nếu tất cả việc bên ngoài đến đều một mực nhất quyết từ chối không chấp nhận thì ma làm sao phá được. Chính vì mình còn mê nên nghe theo sự cám dỗ của ma. Nếu chúng ta chân chánh quả quyết một đường, sống chết không lay động thì không có con ma nào rù quến được mình. Như vậy không phải lỗi tại ma, mà lỗi tại mình vậy.
1. Sắc ấm
Mỗi ấm có mười thứ ma. Phải nhớ kỹ để khi tu khỏi lầm.
A-nan nên biết, ông ngồi nơi đạo tràng tiêu hết các niệm, các niệm kia nếu hết thì tâm lìa niệm tất cả được trong sáng, động tịnh không đổi dời, nhớ quên như một. Chính khi an trụ trong đó mà vào được chánh định, như người mắt sáng ở chỗ rất tối tăm. Tánh linh rất nhiệm mầu thanh tịnh nhưng tâm chưa phát sáng. Đây gọi là phạm vi của sắc ấm.
Tinh tánh diệu minh, tinh chỉ cho kiến tinh, tuy trong sạch nhiệm mầu nhưng trong tâm chưa phát sáng. Cái sáng chỉ mới ở mắt, nhưng chưa sáng trong tâm, như người mắt sáng mà còn ở trong chỗ tối. Đó là còn trong phạm vi sắc ấm.
Nếu con mắt trong sáng, mười phương đều rỗng suốt, không còn chỗ nào tối tăm, gọi là hết sắc ấm. Người ấy có thể vượt khỏi kiếp trược, xét lại nguyên do có sắc ấm, thì cội gốc là vọng tưởng kiên cố.
Phá được một ấm là qua được một lớp trược trong năm lớp trược. Người nào khi con mắt thấy rỗng suốt cả mười phương không còn chỗ nào tối tăm thì gọi là hết phạm vi của sắc ấm, tức vượt khỏi kiếp trược. Xem lại nguyên do thì thấy sở dĩ có sắc ấm là bởi vọng tưởng quá bền chắc. Đó là cội gốc có thân sắc ấm.
Như vậy ở trên giải thích tổng quát hai phần: Phần thứ nhất còn ở trong phạm vi sắc ấm. Phần thứ hai vượt khỏi phạm vi sắc ấm.
Đến đây mới nói mười thứ ma của sắc ấm.
Này A-nan, chính ở trong ấy chuyên ròng nghiên cứu tánh sáng suốt nhiệm mầu, tứ đại không còn đan kết nữa, trong khoảng chốc lát thân có thể ra khỏi chướng ngại. Đây gọi là tánh sáng suốt tuôn tràn ra cảnh trước. Ấy chỉ do công dụng tạm được như thế, chẳng phải chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Khi đang thiền định, chuyên ở trong tĩnh lặng, lâu ngày phát ra ánh sáng. Lúc đó thấy tứ đại như rã rời, không đan kết nữa, cảm thấy thảnh thơi nhẹ nhàng không còn chướng ngại. Rồi thấy ở trước sáng khắp hết, đó là do dụng công tu mà tạm thời vậy thôi, chứ không phải chứng thánh. Nếu thấy vậy, biết là do công phu tu hành mình dồn ép mà phát ra, chứ không có gì thật, không khởi tâm cho rằng mình chứng thánh thì đó là cảnh giới lành, không có lỗi gì. Trái lại, vừa dấy niệm chấp cho là mình chứng thánh, liền rơi vào tà kiến.
Như vậy, tốt hay tà đều do mình tỉnh giác biết rõ hay chấp lầm. Chỉ khéo một chút là an ổn, còn không khéo thì thành bệnh. Đó là ma thứ nhất. Ma này có thật là ma không? Nếu biết rõ cảnh giới đó là do sức cố gắng tu hành của mình phát ra, không cho là chứng thánh, thì ma đâu có cơ hội để dựa. Còn nếu nói mình chứng thánh, tự cho là Bồ-tát hay A-la-hán thì ma có cơ hội dựa vào.
Này A-nan, lại dùng tâm ấy chuyên ròng nghiên cứu tánh sáng suốt nhiệm mầu, trong thân thành rỗng suốt. Người ấy bỗng nhiên ở trong thân mình lượm ra những con giun sán, mà thân thể vẫn y nguyên, không bị thương tổn. Đây gọi là tánh sáng suốt tuôn tràn ra thân thể. Đó chỉ do tinh chuyên thực hành mà tạm được như thế, chẳng phải chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Người tu nếu không hiểu kỹ sẽ bị hai lỗi:
- Do không hiểu, nên khi ngồi thiền thấy lạ liền hoảng hốt. Sao lại thấy giun sán trong ruột gan, còn lượm đem ra ngoài được nữa nên lo sợ. Vì sợ nên không dám tu tiếp. Đó là do không biết mà bị thối tâm.
- Khi thấy lạ khởi tâm mừng, cho rằng mình kỳ đặc hơn người, nghĩ mình chứng thánh còn mấy người kia là phàm, liền rơi vào đường tà.
Chúng ta thấy sự tu không đơn giản. Tu mà không chịu học, không tìm hiểu cho thấu đáo thì dù có nỗ lực cố gắng, khi thấy những cảnh lạ đó lại sanh ra hoảng hốt hoặc vui mừng, rồi nói bậy bạ, dễ lạc vào tà kiến.
Lại dùng tâm ấy chuyên ròng nghiên cứu trong ngoài, khi ấy hồn phách, ý chí, tinh thần, trừ chấp thọ thân ra, đều xen lẫn vào nhau làm chủ làm khách. Bỗng nhiên ở trong hư không nghe tiếng nói pháp, hoặc nghe mười phương đồng diễn bày nghĩa sâu kín. Đây gọi là tinh phách thay nhau lìa rồi hợp, thành tựu hạt giống lành tạm được như thế, chẳng phải là chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Nhiều người mắc phải chỗ này, ngồi tu lâu, bỗng nhiên nghe ở ngoài có tiếng nói pháp, hoặc nghe thần chú, tưởng rằng Phật hay Bồ-tát tới dạy, điểm đạo cho mình, tưởng mình đã ngộ, lắng nghe riết rồi quên tu. Như vậy do không biết nên tự mình bị gạt, ban đầu nghe nói những pháp chánh, sau dẫn tới pháp tà, bị lạc vào đường ma, dần dần bị điên hồi nào không hay. Nếu biết những tiếng đó là do nỗ lực công phu mà phát ra, không thèm chú tâm vào tiếng nói đó, chỉ cố gắng tu tiến thì sẽ qua. Đó là cảnh giới lành, vì đã qua được một chặng đường chứ đâu có lỗi gì. Lỗi tại mê lầm không biết, tưởng mình chứng thánh mà thành bệnh.
Lại dùng tâm ấy lóng lặng, hiển bày sáng suốt, ánh sáng ở trong phát minh, khắp cả mười phương làm ra sắc vàng Diêm-phù-đàn, tất cả các chủng loại hóa thành Như Lai. Khi ấy bỗng thấy đức Phật Tỳ-lô-giá-na ngồi trên đài thiên quang, có ngàn đức Phật đi nhiễu quanh, trăm ức cõi nước cùng với hoa sen đồng thời hiện ra. Đây gọi là tâm hồn linh ngộ tiêm nhiễm tâm quang nghiên cứu phát minh, chiếu soi các thế giới, tạm được như thế chẳng phải là chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Thấy cảnh giới như vầy là phi thường rồi. Chỗ này thật dễ tưởng mình chứng thánh, thành đạo. Đoạn trước nói về thân, con mắt, đến đây nói về tâm. Do tâm lóng lặng, thấu triệt rồi phát ra ánh sáng, thấy toàn cả thế giới sắc vàng, thấy tất cả loài chúng sanh như chó mèo... đều hóa thành Phật hết, rồi lại thấy Phật pháp thân ngồi trên đài kim quang, có cả ngàn đức Phật vây quanh, cả trăm ức cõi nước cùng hoa sen hiện ra. Như vậy quá tuyệt rồi, không lầm mình chứng thánh sao được. Thấy những cảnh đó nếu không lầm, biết do tâm mình nỗ lực tu hành mà hiện ra, trong phạm vi phá sắc ấm, thì đó là cảnh giới lành; còn nếu cho là mình chứng thánh tức rơi vào tà. Vậy mới biết tu hành khó khăn, chứ không đơn giản.
Lại dùng tâm ấy chuyên ròng nghiên cứu tánh sáng suốt nhiệm mầu, quán sát không ngừng, đè ép hàng phục, kìm chế quá mạnh, khi ấy bỗng dưng mười phương hư không thành sắc bảy báu hoặc sắc trăm bảo, đồng thời đầy khắp không ngăn ngại nhau, các sắc xanh vàng đỏ khắp không ngăn ngại nhau, các sắc xanh vàng đỏ trắng mỗi thứ đều thuần hiện ra. Đây gọi là công sức đè ép quá phần, tạm được như thế chứ chẳng phải chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Bảy báu là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Tinh nghiên là chuyên ròng nghiên cứu, không phải khởi niệm nghiên cứu, mà là tâm luôn luôn thầm lặng hướng về tánh thanh tịnh sáng suốt. Như khi ngồi thiền luôn giữ tâm yên lặng, càng ngày càng lặng gọi là tinh nghiên.
Tuy kể có mười thứ ma, nhưng không phải người tu nào trong khi phá sắc ấm đều thấy đủ mười thứ. Trong những thứ ma đó hoặc thấy thứ này hoặc thấy thứ kia, hễ lầm cho là mình chứng thánh thì đều rơi vào tà; còn không lầm, biết rõ do công phu đè ép vọng tưởng của mình lâu ngày mà phát ra như vậy thì đó là cảnh giới lành.
Lại dùng tâm ấy nghiên cứu lóng lặng thấu suốt, ánh sáng tinh thuần không loạn, chợt khoảng giữa đêm ở trong nhà tối thấy rõ các vật không khác gì ban ngày, mà những vật trong nhà tối cũng không diệt mất. Đây gọi là tâm vi tế thầm kín lóng lặng mà thấy được. Cái thấy thấu suốt chỗ tối tăm, tạm được như thế chẳng phải là chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Những cảnh này, nếu ai dụng công tu thì có khi thấy được. Nhờ dụng công nhiều, bỗng dưng thấy trong nhà sáng hết, thấy các đồ vật cũng như lúc ban ngày. Chúng ta học rồi hiểu kỹ thì chính mình tu không lầm, mình cũng biết để nói cho họ khỏi bị lầm lạc, đây là điều thiết yếu.
Lại dùng tâm ấy hoàn toàn vào chỗ rỗng suốt dung hợp, khắp thân bỗng dưng đồng với cây cỏ, lửa đốt dao cắt không hề có cảm giác. Lại, dùng lửa không thể đốt cháy, dù có cắt thịt cũng như cắt cây. Đây gọi là bỏ các trần, dẹp trừ tánh tứ đại, một bề vào chỗ thuần thục, tạm được như thế chẳng phải là chứng thánh. Nếu không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Trạng thái thứ bảy này là không còn cảm giác, thân mình như cây cỏ, đâm vào không đau, đốt không nóng. Nhiều người tu tới đây hoảng sợ dừng lại không dám tu nữa. Cần biết đây là do sức ép quá mức của sự dụng công dẹp bỏ thân tứ đại quá thuần thục, hết cảm giác. Đó là một chặng trong phá sắc ấm, không phải chứng thánh cũng không phải thành vô tri vô giác.
Lại dùng tâm ấy thành tựu sự thanh tịnh, công phu thanh tịnh tâm đã cùng cực, chợt thấy cả đại địa, núi sông ở mười phương đều thành cõi Phật, đầy đủ bảy báu, hào quang sáng suốt đầy khắp. Lại thấy chư Phật Như Lai nhiều như số cát sông Hằng đầy khắp cõi hư không, lầu các hoa lệ. Nhìn xuống dưới thấy cõi địa ngục, nhìn lên thấy thiên cung, được không chướng ngại. Đây gọi là do tưởng ưa chán ngưng lắng lâu ngày, tưởng lâu mà hóa thành, chứ không phải chứng thánh. Không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Đây là do tưởng ưa chán lâu ngày hóa thành, như tưởng ưa cõi Phật, ví dụ người tưởng cõi Cực lạc, hoặc là chán các cõi địa ngục khổ sở, cái tâm ưa chán mạnh quá, lâu ngày kết đọng lại mà thành ra các cảnh tượng như vậy. Ngang đây rất dễ vỗ ngực xưng ta là Thánh, vì thấy núi sông, đất liền... đều thành cõi Phật và thấy chư Phật ở khắp mười phương nhiều như cát sông Hằng, trên thấy thiên cung, dưới thấy địa ngục. Nhưng thật chỉ mới là chặng thứ nhất trong năm chặng thôi. Nếu khởi tâm cho là chứng thánh thì lạc vào bọn tà, còn nếu không khởi thì không có lỗi gì, đó là cảnh giới lành.
Lại dùng tâm ấy nghiên cứu sâu xa, chợt lúc giữa đêm thấy phố chợ đường sá, thân tộc quyến thuộc ở phương xa, hoặc nghe những người kia nói. Đây gọi là tâm bị bức bách cùng tột bay ra, nên thấy được nhiều thứ cách xa, chứ không phải chứng thánh. Không khởi tâm cho là chứng thánh thì gọi là cảnh giới lành. Nếu khởi nghĩ chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Đây giống những người xuất hồn, vì đè ép quá mức, tâm bay ra thấy những thứ xa xôi, làng xóm chợ búa, hoặc nghe người ta nói. Như vậy, nếu ai nghiên cứu kỹ thì biết lối xuất hồn chỉ là một chặng trong phá sắc ấm. Như ngài Hư Vân có lần ngồi thiền trong căn nhà tối mà ngài thấy ở ngoài xa xa những người đi thuyền trên sông. Đây cũng là một trong những trạng thái này.
Lại dùng tâm ấy nghiên cứu tinh chuyên cùng cực, thấy hình thể thiện tri thức đổi dời, không có duyên cớ gì, trong chốc lát thay đổi thành nhiều thứ. Đây gọi là tâm tà, bị các loài ly mỵ hoặc các thiên ma vào trong tim trong bụng, họ tự nhiên nói pháp, thông suốt các diệu nghĩa, đó chẳng phải là chứng thánh. Không khởi tâm cho là chứng thánh thì ma sự tự tiêu dứt. Nếu nghĩ là chứng thánh liền rơi vào các thứ tà.
Có một lần, tôi nghe nói có một hai vị tu lâu ngày theo cách gì đó, khi có người gặp họ, thấy trong ngày họ thay đổi hình dáng nhiều lần, có lúc thấy họ đỏ hồng, khi thì trắng bạch, lúc khác thì đổi khác, nói pháp rất lưu loát, ai thấy cũng phục. Nếu mình nghe vậy tin phục, xin làm đệ tử, đó là lạc vào đám tà. Như vậy, việc này là bên ngoài, do khi tu, sức nghiên cứu tinh chuyên của mình phát ra khiến cho thấy những người như vậy. Khi thấy vậy, nếu không lầm là tốt, còn lầm là tai hại.
Này A-nan, mười thứ cảnh hiện ra trong lúc tu thiền như vậy đều do sắc ấm và dụng tâm xen lẫn nên mới hiện ra những việc ấy. Chúng sanh mê lầm không tự suy xét, gặp những nhân duyên này, mê không tự biết, cho là chứng quả thánh, thành tội đại vọng ngữ, rơi vào địa ngục Vô gián.
Kể ra có mười thứ chỉ trong một giai đoạn phá sắc ấm mà hiện ra như vậy. Những cảnh thấy trong khi tu, là do sức dụng công phá dẹp sắc ấm. Nói phá sắc ấm, chẳng qua là do tâm thanh tịnh, vượt qua sắc ấm thì có những ma cảnh hiện ra, nếu biết thì không có lỗi gì.
Sau khi Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp, các ông phải y theo lời chỉ dạy tuyên bày nghĩa này, không để cho thiên ma được cơ hội quấy phá. Phải bảo vệ che chở những người tu hành thành tựu đạo Vô thượng.
Như vậy mười thứ ma này có thật là ma không? Nếu biết tức là cảnh giới lành, còn lầm nó mới gọi là ma. Vậy thì đó không hẳn là ma, mà do công phu của mình phát ra. Biết rõ do công phu phát ra tức không lầm, đi qua được một chặng đường là tốt. Còn nếu không biết, tự cho là chứng đắc mới rơi vào ma.
Vậy ma hay không phải ma là tùy mình biết hay không biết. Muốn biết thì phải học. Nhiều người không chịu học, chỉ muốn cố gắng tu, nên đa số những người tu lâu mà không biết đều dễ lạc trong mấy thứ ma này. Công phu càng nhiều càng lạc sâu, rốt cuộc thành tai hại. Có lắm người tu, một thời nổi tiếng như cồn, ai nghe cũng nể phục, nhưng thời gian sau lại rơi đường tà.
Vậy nên chúng ta tu phải học cho thông suốt. Phật đã chỉ kỹ càng, chúng ta phải nhớ đâu đó rành rẽ, biết rõ đường đi, nếu không biết thì dễ đi lạc. Chúng ta cần biết đường để tu, đồng thời để hướng dẫn người khác. Bởi vậy nên tôi bắt quý vị phải nhớ đại cương, vì đây là những điều thiết yếu của sự tu, không khéo nguy hiểm cả một đời tu của mình. Trong lúc tu thiền, khi thấy những ma cảnh đó chúng ta đâu kịp giở kinh đối chiếu, vừa vội mừng là đã bị kẹt rồi. Vậy nên phải nhớ những điểm then chốt này, nếu lầm sẽ tai hại lớn chứ không phải nhỏ.
Như vậy ma ở ngoài không quan trọng, mà trọng tâm là ma ở trong. Phá mỗi ấm có mười thứ ma, năm ấm có năm mươi thứ ma, không phải là ít. Qua được năm mươi thứ rồi, mới là yên ổn.
2. Thọ ấm
Này A-nan, người thiện nam kia trong khi tu Chỉ Quán, sắc ấm đã hết, thấy tâm chư Phật như trong gương sáng hiện rõ các hình tượng. Nếu có sở đắc mà chưa dùng được, cũng như người bị bóng đè, tay chân vẫn y nguyên, thấy nghe không sai lầm, nhưng vì tâm bị khách tà nên không thể cử động được. Đây gọi là phạm vi của thọ ấm.
Nếu hết bị bóng đè, tâm người kia lìa khỏi thân, trở lại xem thấy được cái mặt, đi đứng tự do không còn bị lưu ngại, ấy gọi là thọ ấm hết. Người này ắt hay siêu việt kiến trược, xem lại nguyên do của nó thì vọng tưởng hư minh là cội gốc.
Lúc còn trong phạm vi thọ ấm thì thấy biết tâm Phật mà chưa dùng được, giống như người bị bóng đè, biết hết mà không cựa động được, thành ra phải chịu áp lực của nó.
Giai đoạn kế là ra khỏi thọ ấm, tức là vượt ra khỏi hình thức bị bóng đè. Lúc đó tâm ra khỏi thân, thấy được cái mặt của mình, đi lại tự do không chướng ngại. Đây gọi là thọ ấm hết, tức vượt ra khỏi kiến trược. Khi vượt ra khỏi rồi, xem lại nguyên do ở trong vòng thọ ấm này, thì thấy do vọng tưởng hư minh (rỗng sáng) làm gốc.
Đó là vọng tưởng sáng mà hư dối là rỗng, không có thật. Ví dụ như mắt tai mũi lưỡi thân chúng ta xúc chạm với sắc thanh hương vị xúc, Khi xúc chạm, các cảm thọ rõ ràng. Cái biết rõ đó là biết của vọng tưởng hư dối chứ không có thật, cho nên thọ không thật, thọ rồi liền mất. Mùi hương qua lỗ mũi, mình cảm nghe thơm, nhưng mùi hương thoảng qua rồi mất chứ không còn hoài. Như vậy, có cảm thọ rõ ràng nên gọi là minh, nhưng nó không có thật thể, qua rồi mất nên gọi là hư, đều thuộc về vọng tưởng.
Này A-nan, người thiện nam kia chính khi ở trong đó được rất sáng suốt, tâm kia phát minh do bên trong đè nén quá phần, từ nơi ấy chợt phát lòng thương vô cùng. Như thế cho đến xem thấy ruồi muỗi cũng thương như con đỏ, tâm sanh thương xót, bất giác rơi lệ đầm đìa. Đây gọi là dụng công đè ép quá mức, nếu tỉnh ngộ thì không lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu biết rõ ràng không lầm thì lâu dần tự hết. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh ắt có ma bi nhập vào tim gan, thấy người thì thương xót khóc lóc không dừng, mất đi chánh định, sẽ bị trầm luân.
Người này thấy gì cũng thương cũng khóc, nếu không biết tưởng đó là phát tâm Bồ-đề nên mới thương chúng sanh như vậy. Rồi lầm tưởng mình đạt đạo, thành Bồ-tát, không ngờ đó là bệnh.
Mới thấy qua, mọi người sẽ cho người này là quá tốt vì thấy người thấy vật đều thương. Tốt quá mà sao phải trầm luân? Bởi vì bi thương đó khiến ngồi thiền không yên, làm mất tâm chánh định của mình, chánh định mất đi thì sẽ đi vào trầm luân.
Này A-nan, lại những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm được rõ ràng, tướng tốt hiện ở trước, cảm kích quá phần, bỗng ở trong đó sanh ra dõng mãnh vô hạn. Tâm kia mạnh mẽ nhạy bén, ý chí bằng với chư Phật, cho rằng chỉ một niệm có thể vượt qua ba vô kiếp. Đây gọi là dụng công lấn ép thái quá, tỉnh ngộ thì không lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Hiểu rõ không lầm, lâu rồi tự tiêu mất. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh ắt bị ma cuồng nhập vào tim gan, thấy người thì khoe khoang, ngã mạn không ai sánh bằng. Tâm người kia, cho đến trên không thấy có Phật dưới không thấy có người, mất đi chánh định, sẽ rơi vào vòng trầm luân.
Trước là ma Bi, đây là ma Cuồng. Do sức tu của mình dằn ép quá phần, bỗng nhiên có thắng tướng hiện tiền, sự cảm kích quá mức đó làm phát sanh sức dõng mãnh phi thường. Phật nói tu ba vô số kiếp mới thành Phật, nay trong một niệm mà mình vượt qua được, tưởng như mình là người phi thường. Nếu không biết, tự cho là chứng thánh thì sanh tâm ngã mạn, trên không thấy có Phật để kính, dưới không thấy có người có thể bằng mình. Đó là bệnh lớn gọi là ma cuồng.
Như vậy, dõng mãnh tinh tấn là điều tốt, nhưng khi quá phần sẽ có những tướng lạ. Nếu không biết, tưởng là chứng thánh liền thành bệnh. Cái lỗi là do không biết nên lầm, cho là mình đạt đạo, chứng thánh, nếu biết rõ đây chỉ là do sức dằn ép quá phần mà hiện ra thì từ từ nó tiêu mất. Cho nên tu cần có kinh nghiệm chín chắn, phải bình tĩnh trước mọi cảnh, không nên chỉ mới được chút ít liền mừng hoặc hoảng sợ, đó là gốc của bệnh.
Lại, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, phía trước không có chỗ chứng mới, lui lại thì đã mất chỗ cũ, trí lực yếu kém, vào trong chỗ tiêu diệt, bặt không thấy gì, trong tâm chợt sanh rất khô kiệt. Trong tất cả thời, cái nhớ thầm lặng không mất, cho đây là tưởng tinh tấn. Đây gọi là tu tâm mà không có trí tuệ nên tự lầm. Nếu tỉnh ngộ thì không lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh ắt có ma nhớ nhập vào tim gan, sớm chiều nắm cái tâm treo ở một chỗ, làm mất chánh định, sẽ rơi vào vòng trầm luân.
Chỗ này mới gian nan, phía trước tiến tới không được mà lùi lại sau thì chỗ chứng cũ mất rồi, tâm khô như cây như đá, chìm trong cái nhớ thầm lặng không tan, lại cho đây là tướng siêng năng tinh tấn. Đó là hiểu lầm. Thật ra đây chỉ là một chặng đường, do tâm bị khô kiệt rồi hiện ra tướng trạng đó, gọi là tu tâm mà không có trí tuệ nên tự lầm, hiểu rõ thì không có lỗi gì.
Lại, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, sức tuệ vượt quá sức định, bị lỗi mạnh mẽ bén nhạy, ôm ấp các tánh thù thắng trong lòng, tự tâm đã nghi mình là Phật Lô-xá-na, được ít cho là đủ. Đây gọi là dụng tâm quên mất chỗ thường xét nét kỹ càng, chìm ở nơi tri kiến. Nếu tỉnh ngộ thì không có lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh, ắt có ma hạ liệt dễ biết đủ nhập vào tim gan. Thấy người thì tự nói tôi được Vô thượng đệ nhất nghĩa đế, mất hết chánh định, sẽ rơi vào trầm luân.
Từ tuệ nhiều hơn định mà sanh ra các việc như vậy. Do không có sự xét nét kỹ càng, lầm tưởng mình là Phật Lô-xá-na tức là báo thân Phật, mới được chút ít cho là đủ. Đó là bệnh lớn, hợp với con ma hạ liệt dễ biết đủ.
Lại, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, chỗ chứng mới chưa được còn tâm cũ đã mất. Xem qua hai mé trước và sau, tự cho là nguy hiểm, tâm chợt sanh lo buồn vô tận, như ngồi trên giường sắt, như uống thuốc độc, tâm không muốn sống nữa, thường nhờ người khác hại mạng mình để sớm được giải thoát. Đây gọi là tu hành lạc mất phương tiện. Nếu tỉnh ngộ thì không lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh ắt có một phần ma thường ưu sầu nhập vào tim gan. Tay cầm dao bén tự cắt thịt mình, thích bỏ thân mạng hoặc thường ưu sầu chạy vào trong rừng núi, không muốn thấy người, mất hết chánh định, sẽ rơi vào vòng trầm luân.
Bệnh này có hai trạng thái: Một là muốn mượn người khác giết mình cho chết để được giải thoát. Hai là buồn chán tột độ, không thích thấy ai nữa, chỉ ưa một mình nên muốn chạy vô rừng núi ở.
Vậy, thỉnh thoảng có người đang tu học bỗng muốn vô rừng ở một mình, không muốn gặp ai. Người này thấy ai cũng phàm tục, chỉ có mình là thánh, sợ ở chung với kẻ phàm rồi bị nhiễm, nên muốn lên rừng ở một mình. Người tu lâu lâu có bệnh đó. Nên nhớ mình chưa phải là thánh, vô rừng ở một thời gian rồi đói quá cũng phải bò ra kiếm ăn! Lúc ấy, do đói nhiều năm, nên ăn nhiều hơn người khác nữa. Thành ra điều đó không tốt gì đâu! Vậy nên cố gắng tu trong bình thường, giản dị mà luôn tiến là tốt.
Lại, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, ở trong chỗ thanh tịnh, sau khi tâm được an ổn bỗng tự sanh vui vẻ vô hạn, trong tâm vui mừng không thể tự dừng. Đây gọi là khinh an mà không có trí tuệ để tự kìm chế. Tỉnh ngộ thì không có lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh ắt có một phần ma ưa hỷ lạc vào trong tim gan. Thấy người liền cười, ở bên cạnh ngã tư đường tự ca tự múa, tự bảo đã được vô ngại giải thoát, mất hết chánh định sẽ rơi vào dòng trầm luân.
Thỉnh thoảng chúng ta có thấy những người tu kiểu đó. Họ tưởng mình đã được giải thoát vô ngại, đi tới đâu cũng ca múa hát xướng, không biết đó là bị ma hỷ lạc nhập vào.
Lại, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, tự cho là đã đủ, chợt vô cớ sanh khởi đại ngã mạn, như thế cho đến mạn cùng quá mạn cùng quá mạn và mạn quá mạn, hoặc tăng thượng mạn, hoặc ty liệt mạn, đồng thời đều phát.
Đại ngã mạn là trên không thấy Phật để kính, dưới không thấy có chúng sanh bằng mình. Mạn là ỷ mình hay mà khinh người, lấn lướt người. Quá mạn là mình có tài năm mươi phần trăm, người kia cũng có tài y vậy mà tưởng mình hơn họ; bằng người ta mà tưởng hơn nên gọi là quá mạn. Mạn quá mạn là người khác có tài năm mươi phần trăm mình chỉ ba mươi phần trăm mà tưởng mình tới bảy mươi phần trăm, nghĩa là kém hơn người mấy phần mà tưởng mình cao hơn người.
Tăng thượng mạn là được ít mà tưởng là đủ, ví dụ mình tu mới tới phá thọ ấm mà tưởng như mình thành Phật rồi. Ty liệt mạn là kẻ không ra gì mà thấy ai cũng coi họ không ra gì, nghĩa là mình thấp kém mà lại khinh thiên hạ, kiêu căng phách lối. Người bệnh này trong thiên hạ hết xài được, đã thua kém hết thảy mọi người mà lại tưởng hơn. Tất cả các bệnh trên, chúng sanh thường mắc kẹt.
Trong trường hợp này, người ở trong định kia có đủ hết các thứ mạn nên nói đồng thời đều phát.
Trong tâm còn khinh cả chư Phật mười phương, huống là những quả vị dưới như Thanh văn Duyên giác. Đây gọi là chỗ thấy thù thắng mà không có trí tuệ tự cứu. Nếu tỉnh ngộ thì không có lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi nghĩ là chứng thánh, ắt có một phần ma đại ngã mạn vào trong tim gan. Không chịu lễ chùa tháp, phá hủy kinh tượng, nói với những người cư sĩ rằng: "Những tượng này là vàng, đồng hoặc là đất, cây; kinh là lá cây hoặc là vải lụa. Xác thân là chân thường mà không tự cung kính, lại sùng mộ đất, cây, thật là điên đảo." Những người quá tin lời kia, theo đó phá hủy kinh tượng, chôn vùi trong đất. Do làm nghi lầm chúng sanh, bị vào địa ngục Vô gián, mất hết chánh định, sẽ rơi vào trầm luân.
Những người quá ngã mạn, họ cho mình là trên, cho nên đối với Phật, đối với chùa không coi ra gì. Tượng Phật họ cho đó là đồng là đất là xi-măng là cây v.v... kinh cũng vậy, cho nên không trọng Phật không trọng kinh. Phật tử nghe họ nói cũng bắt chước theo, như vậy đó là làm nghi lầm chúng sanh, mất đi chánh định sau phải trầm luân. Thật là tai hoạ! Nên khi thấy ai có điều kỳ đặc, lại nói lời giống như thế, chúng ta biết rõ đó là ma. Đừng thấy có thần thông hay thấy những chuyện lạ của họ mà vội tin. Họ luôn luôn có những điều lạ, hiện ra những thứ khác thường để làm cho người lầm lẫn.
Lại nữa, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, trong chỗ thuần sáng viên ngộ được tinh lý, được đại tùy thuận. Tâm kia chợt sanh vô lượng khinh an, tự nói đã thành thánh, được đại tự tại. Đây gọi là nhân nơi tuệ mà được sự trong sáng nhẹ nhàng. Nếu tỉnh ngộ thì không có lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi hiểu là chứng thánh ắt có một phần của ma ưa trong sáng nhẹ nhàng vào trong tim gan, tự cho là đầy đủ, lại không cầu tiến lên. Những người này phần nhiều là những thầy Tỳ-kheo ít học, làm nghi lầm chúng sanh, đọa địa ngục A-tỳ, mất đi chánh định, sẽ rơi vào dòng trầm luân.
Tinh minh là thuần trong sáng. Ma thứ tám này là ma ưa trong sáng nhẹ nhàng. Nếu lầm cho là chứng thánh thì bị ma nhập vào tim gan, ngang đó tự cho là đã đầy đủ rồi, không cầu tiến lên bước nào nữa.
Lại nữa, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, trong chỗ tỏ ngộ được tánh rỗng sáng. Trong ấy bỗng dưng xoay hướng về sự hằng đoạn diệt, bác không có nhân quả, một bề vào rỗng không. Tâm rỗng không hiện tiền, cho đến tâm sanh chấp đoạn diệt mãi mãi. Nếu tỉnh ngộ thì không có lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi hiểu là chứng thánh, ắt có ma rỗng không vào trong tim gan, bèn chê bai người trì giới gọi là Tiểu thừa, còn Bồ-tát ngộ lý không thì có gì mà trì phạm?
Người kia thường ở nơi nhà người cư sĩ có tín tâm, ăn thịt uống rượu, làm những chuyện dâm uế. Vì sức ma nhiếp phục nên người chủ nhà không sanh nghi ngờ chê bai. Tâm quỷ nhập lâu rồi thì hoặc ăn phẩn dơ cùng với ăn thịt uống rượu v.v... đều cho là không, phá luật nghi của Phật, làm lầm lạc đưa người vào chỗ tội lỗi, mất hết chánh định, sẽ rơi vào vòng trầm luân.
Đây nói về những người tu chấp không, chấp đoạn diệt, bác không có nhân quả, chê bai người trì giới nên cứ ăn thịt uống rượu, làm việc dâm dục, vậy mà một số tín đồ vẫn tin theo. Chúng ta thấy lạ quá, cư sĩ giữ năm giới còn không làm các điều đó, những người này xuất gia lại làm những việc xấu ác như vậy. Nếu biết lý do thì không có gì lạ, đó là vì sức ma nhiếp phục, ma khiến được người ta, tuy thấy như vậy mà nhiều người vẫn tin, vẫn kính trọng như thường.
Lại nữa, những người thiện nam ở trong định kia thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm rõ ràng, được vị rỗng sáng thâm nhập vào tận tim cốt. Người kia chợt sanh tâm ái vô hạn. Ái quá độ nên phát cuồng, liền làm những việc tham dục. Đây gọi là cảnh định an thuận vào trong tâm, không có trí tuệ để tự gìn giữ, lầm mê vào trong các dục. Nếu tỉnh ngộ thì không có lỗi, chẳng phải là chứng thánh. Nếu khởi hiểu là chứng thánh, ắt có ma dục vào trong tim gan, một bề nói dục là đạo Bồ-đề, giáo hóa những người cư sĩ bình đẳng hành dục, người hành dâm kia gọi là người giữ gìn chánh pháp.
Những người lầm lạc vào trong các dục, họ bảo cư sĩ làm chuyện dâm dục để có con tiếp nối giữ gìn chánh pháp, nên gọi là trì pháp tử. Như khi họ thấy cần cưới vợ, người ta hỏi tại sao thầy tu mà cưới vợ, đáp là để sanh con cái gìn giữ chánh pháp, họ sợ mình chết rồi không có người tiếp nối duy trì pháp Phật. Lý luận của họ nghe thật trái đời, vậy mà thiên hạ vẫn tin.
Do sức của quỷ thần, nhiếp phục những kẻ phàm ngu trong đời mạt pháp, số đến cả trăm. Như thế cho đến một trăm hai trăm hoặc năm sáu trăm, còn nhiều thì cả ngàn muôn người. Khi tâm ma sanh chán, nó rời bỏ thân thể người kia, oai đức đã không còn, rơi vào nạn pháp luật. Vì làm nghi lầm chúng sanh nên vào địa ngục Vô gián, mất hết chánh định, sẽ rơi vào vòng trầm luân.
Những điều này thật là đáng sợ. Tu là việc rất hay nhưng lệch một chút là xuống địa ngục. Vì lầm không biết nên bị ma nhập, tự làm những điều tà quấy, lại dạy người khác làm, đó là tội đọa địa ngục. Cho nên tu mà không cẩn thận thì rất nguy hiểm.
Thật ra trong khi tu do dụng công nhiều nên có những trạng thái bất thường hiện ra. Người tu phải có trí tuệ sáng suốt, khi có điều gì bất thường hiện ra phải tự biết kìm chế nó lại, để tâm được an định. Định và tuệ cân bằng thì sự tu mới tốt, nếu có một thứ vượt bậc, mất thăng bằng dễ lạc vào ma. Bởi không tự kìm chế được nên ma mới mới dựa vào, thúc đẩy người tu đi sâu vào tội lỗi.
Do đó, nói tới sự tu tôi rất dè dặt, quý vị phải nghe cho rõ, học cho kỹ để biết. Bởi vì bản thân tôi tuy là thầy, nhưng chưa qua hết những địa vị đó, làm sao tôi nói hết được. Chúng ta phải nhờ chư Phật tổ đã tu đã chứng qua, biết rõ các bệnh rồi dạy lại. Nên mình phải học, nghe kỹ thì khi tu mới khỏi lầm. Nếu chỉ học chút ít tưởng là đủ, tới chừng tu gặp những cảnh ma này, không biết tưởng là mình đắc đạo. Lại hướng dẫn người khác đi sai, tự mình đọa lại khiến cho người khác đọa theo, đó là tội rất lớn. Vì vậy phải cẩn thận dè dặt, đừng có khinh thường.
Này A-nan, mười thứ cảnh hiện ra trong lúc tu thiền định như vậy, đều do thọ ấm và dụng tâm xen lẫn nên mới có những việc này. Chúng sanh ngu mê không tự xét lường, gặp những nhân duyên này, mê lầm không tự biết, cho rằng mình đã lên quả thánh, thành đại vọng ngữ, phải rơi vào địa ngục Vô gián.
Sau khi ta diệt độ, ở trong đời mạt pháp, các ông cũng nên đem lời nói của Như Lai truyền dạy, khiến khắp chúng sanh khai ngộ được nghĩa này, không để cho thiên ma được dịp khuấy phá. Phải bảo vệ gìn giữ che chở cho những người tu hành được đạo Vô thượng.
Đó là lời Phật nhắc nhở chúng ta phải ráng đem lời ngài chỉ dạy truyền lại cho những người sau, đừng để họ lầm lẫn.
Tóm tắt mười loại ma của thọ ấm là: ma bi, ma cuồng, ma nhớ, ma hạ liệt dễ biết đủ, ma thường ưu sầu, ma ưa hỷ lạc, ma đại ngã mạn, ma ưa khinh an, ma không và ma dục.