Thiền Tông Việt Nam
Phật Giáo Trong Mạch Sống Dân Tộc
CHƯƠNG 3: VĂN NGHỆ
 
A. TỪ NGỮ
Rất nhiều từ ngữ Phật giáo đã biến thành ngôn ngữ thường dùng của người dân Việt. Như khi thấy ai bị hoạn nạn đau khổ, tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá!” Hai chữ “tội nghiệp” là từ ngữ chuyên môn của Phật giáo, để chỉ tội ác mình đã gây sẽ chiêu cảm nghiệp báo đau khổ rồi mình phải chịu. Hoặc khi gặp một người quá lớn, thấy một vật quá to, người ta liền la lên: ông ấy “Tổ sư Bồ-đề”,  vật đó “Tổ sư Bồ-đề”. Tổ sư Bồ-đề là Sơ tổ Thiền tông tại Trung Hoa, nói đủ là Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma), người Việt Nam cũng kính thờ Ngài như vị Sơ Tổ. Có thể nói trong phái Thiền tông Trung Hoa và Việt Nam, vị lớn nhất là Ngài. Vì thế, người Việt Nam muốn mô tả cái gì lớn đều mượn danh tự của Ngài mà mô tả. Khi muốn diễn tả một số người quá đông, vật gì quá nhiều, người ta dùng danh từ “hằng hà sa số”. Nếu hỏi “hằng hà sa số” là cái gì, chắc chắn ít có người hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là nói rất nhiều. Bởi khi xưa đức Phật thường thuyết pháp gần lưu vực sông Hằng (Ganges) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số quá nhiều, Ngài thí dụ như số cát sông Hằng. Hoặc khi có những tiếng động ồn náo, người ta bảo “om sòm bát-nhã”; do khi đến chùa vào những buổi lễ, nhà chùa thường chuyển những hồi trống Bát-nhã. Lại có những người rày đó mai đây, ít khi dừng chân lâu một chỗ, khi có người hỏi anh đi đâu mãi, họ trả lời tôi đi “ta-bà thế giới”. Ta-bà thế giới là thế giới của đức Thích-ca giáo hóa. Theo thế giới quan của Phật giáo thì thế giới ta-bà to gấp mấy lần quả địa cầu này. Còn bao nhiêu từ ngữ khác như hỉ xả, từ bi, giác ngộ...,  người Việt Nam đã quen dùng như tiếng Mẹ, không chút gì ngượng ngập lạ lùng.
 
B. VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN
1.- TỤC NGỮ, CA DAO
Người nông phu làm việc ngoài đồng, ngoài áng, tay cuốc tay cày trên cánh đồng cỏ xanh lúa mướt, để giải khuây cơn mệt nhọc, đem hứng thú trong công việc làm ăn, họ cất tiếng hát lên:
Ai ơi! hãy ở cho lành
Kiếp này chẳng được, để dành kiếp sau.
Thật là những tiếng như những lời khuyên tha thiết, nhẹ nhàng mà tràn trề đạo đức. Cứ khuyên nhau ăn ở cho lành, dù hiện đời chưa được hưởng quả lành, đời sau sẽ hưởng chớ không bao giờ mất. Lòng tin lý luân hồi nhân quả của người Việt Nam chắc như đá, vững như núi, không khi nào lay chuyển. Lại, xa xa vẳng nghe tiếng vọng lại:
Trách người một trách ta mười,
Bởi ta tệ trước, n&ec
Mục Lục