Thiền Tông Việt Nam
Phụng Hoàng Sách Tấn Tập 2
Chương 2: Thỉnh Nguyện Ni


Ngày 28-5 Mậu Dần (22-6-1998)

Buổi thỉnh nguyện này toàn chúng thanh tịnh, chỉ có ít lỗi nhỏ vô tình, không có lỗi nào quan trọng, đó là tiến bộ của chúng. Sau đây Thầy có ít lời nhắc nhở.

Hôm nay Thầy nhắc lại câu hỏi của Phật tử vừa hỏi tại Thường Chiếu mà Thầy chưa có thời gian trả lời. Câu hỏi này có liên hệ tới Thanh quy thiền viện.

Phật tử có đọc trong Thanh quy thấy có câu "đời ra đời, đạo ra đạo", nghĩa là chúng ta tu không được có thái độ lưng chừng. Phật tử đó hỏi: "Hiện nay Giáo hội chủ trương đem đạo vào đời, sao Thầy nói đời ra đời, đạo ra đạo? Vậy là tách rời đời đạo được sao?"

Câu hỏi có liên hệ tới bản Thanh quy của mình, nên bữa nay Thầy giải thích cho tất cả tụi con hiểu, để mai kia có ai hỏi không bị lầm lẫn.

Trong Giáo hội nói đem đạo vào đời, là đem giáo lý của Phật giáo hóa mọi người biết tu hành, biết làm việc lành, hoặc Tăng Ni làm việc từ thiện đem lại lợi ích cho xã hội. Đó là công tác của người truyền đạo. Còn ở đây Thầy nói đời ra đời, đạo ra đạo là ngay mỗi cá nhân, người tu là người thoát tục, người đời là người thế tục. Phải dứt khoát đừng để người tu giống lẫn như người thế tục.

Trước hết nói về tư cách. Tư cách người lúc nào cũng nghiêm trang tề chỉnh, từ cách đi đứng, nói năng, hành động đều đứng đắn chứ không lôi thôi. Dù gặp việc không bằng lòng cũng phải nhẹ nhàng, nói năng hòa nhã.

Kế đến là thái độ người tu, người tu luôn nhớ mình là người tỉnh, còn người chưa biết đạo là người mê. Người tỉnh làm tất cả việc vì lợi ích cho mọi người chứ không vì bản ngã của mình, đối với kẻ mê lúc nào cũng có thái độ xót thương, tha thứ. Tụi con ở trong chúng đây có đủ thái độ chưa? Tu là vì người, tha thứ hết những lỗi lầm của kẻ khác, chứ không hận thù, ghét bỏ, cũng không có những thái độ muốn trả oán hay báo thù. Như vậy mới là thái độ của người tu, nếu ngược lại thì chưa xứng đáng là người tu.

Thứ ba là tâm niệm người tu luôn hướng về giải thoát sanh tử, xả thân vì chúng sanh chứ không vì danh vì lợi. Lúc nào cũng thấy đời mình là một cuộc quyết tâm tiến lên đường giải thoát, không thể bị lùi hay bị trói buộc trong sanh tử nữa. Người đã có tâm đó, khi thấy điều hay của đạo, thấy đường giải thoát rõ ràng thì sẵn sàng làm tất cả lợi ích để đánh thức mọi người, giúp họ cùng được giải thoát như mình, đó là tâm niệm người tu. Người tu lúc nào cũng phải tự tỉnh tự giác, dè chừng xem xét từng ý niệm tốt xấu, chứ không đợi người khác rầy la.

Như vậy tụi con thấy người tu là phải dứt khoát từ tư cách, thái độ, tâm niệm, chứ không lẫn với người đời.

Nói về người đời, tụi con thấy tư cách họ thế nào? Người đời ăn uống, vui chơi tự do, không có gì ràng buộc hạn chế, cho nên có khi làm chuyện sai quấy, phạm lỗi lầm rồi bị luật pháp trừng trị... Đó là cách sống không biết tự chế, không biết gìn giữ nên có khi đưa tới những hậu quả không tốt. Khi thích ý thì vui cười hỉ hạ, có cái gì không bằng lòng liền la lối om sòm.

Còn thái độ người đời ra sao? Họ đa phần làm việc gì cũng nghĩ tới mình, gia đình mình, nghĩ tới danh lợi chứ ít ai hy sinh làm lợi ích cho mọi người mà quên bản thân. Và tâm niệm người đời thì lúc nào cũng muốn được chức cao quyền lớn, muốn cho mình được đầy đủ sung túc, muốn cả thế gian đều quý kính v.v... Vì vậy đôi khi họ làm việc lỗi lầm mà không biết, sai quấy cũng không hay, chỉ muốn được mọi thứ để thỏa mãn ý mình.

Như vậy tư cách, thái độ hay tâm niệm của người tu lúc nào cũng hướng về con đường chân chính giải thoát, cho nên khác hẳn người thế tục. Nếu một người tu có tư cách bướng bỉnh, hoặc thích chạy theo dục lạc thế gian thì còn xứng đáng gọi là người tu nữa không? Vậy nên tư cách người tu phải khác hẳn người thế tục, đó là đạo ra đạo.

Kế đến, người tu nếu có thái độ ích kỷ, cái gì cũng muốn mình hưởng, mình được thì không xứng đáng chút nào, vì người tu lúc nào cũng sẵn sàng giúp người, không nghĩ tới mình, thương người nhiều hơn thương mình. Tụi con thấy mình có được như vậy chưa? Cho nên tụi con phải cẩn thận dè dặt, nếu còn thương mình nhiều hơn thương người thì chưa phải là xả thân cầu đạo. Thông thường người đời làm là để họ hưởng, còn mình làm là quên thân vì đạo chứ không phải vì mình. Tụi con phải nhớ điều đó, những gì làm chưa được phải ráng làm cho được.

Sau cùng, tâm nguyện của người tu là tâm nguyện giải thoát, cứu độ chúng sanh, hết sức cao quý, khác hẳn tâm niệm của người thế gian, chỉ muốn cho mình được danh to chức lớn, muốn gom tất cả các quyền lợi về mình.

Câu nói này hết sức đơn giản: đời ra đời, đạo ra đạo. Thấy thật dễ nhưng xét kỹ thực hành rất khó. Nếu không thực hiện đủ mấy điều Thầy vừa nói thì chưa hẳn là đời ra đời, đạo ra đạo. Người tu phải khác hơn người chưa tu. Nếu mình không có thái độ, tâm tư siêu thoát như vậy thì mình giống như người không tu rồi.

Tóm lại, Thầy nhắc lần nữa câu hỏi của người đó: Giáo hội hiện nay chủ trương đem đạo vào đời mà tại sao Thầy lại tách đời riêng đạo riêng? Để trả lời cho dễ nhớ là Giáo hội chủ trương đem đạo vào đời là nói tới hành động người tu, không nên nghĩ mình tu để yên thân một mình, mà phải đem đạo giáo hóa cho mọi người bớt khổ đau. Đó là nói chuyện hoằng hóa độ sinh. Còn ở đây Thầy nói đời ra đời, đạo ra đạo là nói tư cách, thái độ, tâm nguyện của đạo và của đời, dứt khoát hai bên không lẫn lộn. Nếu một người tu mà hiếu danh hiếu lợi thì có đúng là người tu chưa? Cho nên người tu phải xả kỷ, vị tha, tức là quên mình vì mọi người, đó mới đúng với tư cách người tu.

Vậy tụi con nhớ để mai kia có ai hỏi thì biết trả lời không lầm lẫn. Không phải nhớ để trả lời thôi mà còn nhớ để thực hành cho xứng đáng đời ra đời, đạo ra đạo nữa. Đó là lời Thầy nhắc nhở hôm nay, mong tất cả nhớ và thực hành.


Ngày 28-5 nhuần Mậu Dần (21-7-1998)

Người có lỗi ra sám hối, người không lỗi xin chỉ dạy, đó là tinh thần thỉnh nguyện.

Bây giờ Thầy nhắc tụi con. Tất cả tụi con thường nghĩ mỗi ngày đêm mình có ba thời tọa thiền, một thời sám hối, đó là tu. Ngoài ba thời đó ra còn tu nữa không? Đây là vấn đề hôm nay Thầy nhắc cho toàn chúng.

Trong chúng ai cũng mong mình tu luôn gặp thuận duyên, từ huynh đệ đến thầy bạn đều tốt với mình, như vậy tu mới yên. Còn nếu huynh đệ, thầy bạn thấy cái gì không bằng lòng, nhắc nhở thì mình bất an tu không được. Như vậy là chưa biết tu.

Phàm người xuất gia học đạo mà mọi việc đều như ý hết thì tu có tiến không? Bởi vì tu là chuyển đổi những cái dở, xấu, hư hèn để trở thành hay tốt, trong sạch. Như vậy trong khi mình có cái dở, xấu sẵn mà không gặp duyên nghịch thì nó có trỗi dậy không? - Nó cứ nằm im lìm đó, vậy biết đâu mà tu. Cho nên cần có duyên huynh đệ làm trái ý mình, điều mình không bằng lòng mà họ lại làm, lại nói. Khi đó mình phải tu làm sao? Nổi sân la lên phải không? Đây là cơ hội tốt để tu. Tuy không bằng lòng mà mình vẫn giải quyết tốt đẹp, thông qua một cách dễ dàng, đó chính là tu. Nếu gặp trở ngại liền nổi sân si thì đâu có tu.

Giờ ngồi thiền, tụng kinh là giờ không ai động chạm tới mình, chỉ có ngồi yên tịnh hoặc tha thiết sám hối trước Phật. Nếu có là tự mình xâm phạm mình thôi. Chính những giờ sắp đặt công tác, cùng chung lao động, hoặc làm công tác với nhau, huynh đệ có những ý kiến hoặc hành động không thích hợp với mình, đó là cơ hội tốt để mình khéo tu, khéo thấy được tâm mình.

Tụi con có tin mình hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn thanh tịnh không? Còn chừng bao nhiêu phần trăm chưa thanh tịnh, chưa tốt đẹp? Như vậy tụi con biết rằng trong chúng đây chưa có ai hoàn toàn tốt hết. Giả sử có người tốt được sáu mươi, bảy mươi phần trăm, hoặc tám mươi, chín mươi phần trăm, thì ít ra cũng còn mười, hai mươi, ba mươi phần trăm chưa tốt. Chúng ta phải thông cảm họ còn chỗ chưa tốt, và tự biết mình cũng chưa hoàn hảo.

Khi xử sự với nhau, người ta bộc lộ cái chưa tốt, mình phải khéo xét lại mình đã tốt hay còn xấu. Người ta chưa tốt thì mình phải tốt, người ta nói xiên xéo hoặc nói móc để mình bực bội, nhưng khi nghe nói xiên xéo mình vẫn tươi cười, nói móc máy mình vẫn an nhiên, vậy mới tốt. Nếu họ móc mình một, mình móc lại tới bốn, thì tốt không? Vậy là họ xấu một mà mình trả tới ba, bốn. Ít có ai trả lại công bình, người ta xấu một thì mình xấu hai, ba chứ không chịu thua. Đó là chưa biết tu.

Làm sao sống trong huynh đệ, ai còn nhiều tật xấu, mình nên thương xót vì họ còn những cái dở, rồi nhắc nhở, khuyến dụ họ bỏ để trở thành người tốt. Nếu họ hiển lộ cái xấu rồi mình bươi cái xấu đó ra hoài, làm như vậy họ hết xấu không? Càng bươi họ càng bực, bực thì xấu thêm. Như vậy mình tu không được tốt mà còn làm cho huynh đệ tu không tốt luôn.

Tụi con khéo tu là khi thấy huynh đệ có những điều dở xấu, tụi con càng thương họ tu lâu rồi mà không bỏ được. Thương thì đâu có thù, phải không? Còn trả thù là chưa thương. Nếu không trả thù mà nói bậy bạ ít câu cũng không lương thiện.

Tóm lại người khéo tu khi thấy có huynh đệ tu trước mình còn dở, nên khởi niệm thương, tội nghiệp họ tu lâu mà chưa bỏ được thói xấu. Thương họ là tụi con biết tu, ngược lại bực bội giận hờn là chưa biết tu. Nếu người tu sau mình còn dở nhiều thì mình càng thương, vì họ mới tu, dọn dẹp tâm chưa sạch nên còn nhiều lỗi lầm. Phải thương để dạy bảo, khuyên lơn chứ không phải thấy họ có chỗ dở rồi tìm cách bươi móc, nói xiên xỏ này nọ cho họ phiền não. Họ phiền não, mình có hết phiền não không? Như vậy là tự mình gây phiền não cho người và tạo phiền não cho mình, thì dầu có ngồi thiền, sám hối cũng không được thanh tịnh. Đó là trở ngại.

Ở trong chúng đây ai cũng là người tu hết, có người nào không tu đâu. Không tu thì không được vào đây. Tuy quyết tâm tu nhưng còn những cái dở, yếu, còn những điều chưa thực hành được, tụi con thấy phải khuyên nhắc và trợ lực để cho họ vượt qua trở ngại đó. Vậy là biết thương nhau, giúp đỡ nhau. Ngược lại, nếu trông thấy chỗ dở của huynh đệ, bươi móc để nói với người này người kia, rồi xì xào bậy bạ để cho họ phiền não thêm, đó là tụi con không biết tu, lại làm cho huynh đệ tu cũng không được nữa. Đây là điều rất dở. Ở trong chúng ai có những thái độ đó là chưa biết tu, chưa thanh tịnh.

Tụi con phải biết xét kỹ lại. Ngày nay ở trong chúng, tụi con là thiền sinh ở tại thiền viện, nhưng thời gian khác không biết xa hay gần, sẽ có những đứa đi ra làm phật sự nơi này nơi kia. Mà khi ra làm phật sự, những người tụi con sẽ tiếp xúc biết tu như chúng ở đây hay là chưa biết tu? Như vậy khi thấy người cùng chung sống với mình có những tật dở, mình đừng để lòng hoặc sân si, mà nên thông cảm, khởi tâm từ bi thương xót, dạy bảo, khuyên lơn, giúp đỡ cho huynh đệ ai cũng an ổn, vui tươi để tu hành.

Tụi con sống trong huynh đệ là giai đoạn tu nhân, mai kia ra làm phật sự là tu quả. Trong lúc giúp đời giúp người tụi con sẽ gặp nhiều khó khăn, nhiều điều xấu dở hơn, nhưng nhờ được rèn luyện trước tụi con có thể vững vàng vượt qua được. Nếu ngày nay sống chung với huynh đệ là những người hiền lành, những người cố gắng tu mà tụi con vẫn cố chấp, giận hờn, thì mai kia ra làm phật sự liệu làm được cái gì? Ra làm cũng giận hờn phiền não. Rốt cuộc trong giai đoạn tu mình không tiến, đến lúc ra làm phật sự cũng không tròn, đó là làm hỏng cuộc đời tu của mình.

Hy sinh trọn vẹn một đời cốt để tiến tu cho được thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, mà trong khi tu mình tự phá hoại, không để cho tâm được thanh tịnh, sáng suốt, đó là si mê. Mình tạo chướng cho mình hy sinh để làm lợi ích chúng sanh mà ngay nhân này chưa làm được chút gì, sau ra ngoài tụi con gặp chướng nhiều tự nhiên sẽ thối tâm, không làm được việc gì cho đạo. Như vậy có uổng đi một đời tu không? Thật là vô giá trị! Trong lúc mình đang tu không được gì, lúc làm phật sự cũng không ra chi, có phải tụi con cướp công sinh thành của cha mẹ, phụ lòng thương yêu, giúp đỡ của đàn na thí chủ không?

Cho nên tất cả tụi con phải xét kỹ lại mình, sống với huynh đệ phải tập lần lần. Những lúc thấy chỗ dở của người hoặc bị người dùng lời châm biếm, chọc ghẹo, đó là cơ hội để mình tu. Đừng nghĩ tu sao còn thói xấu như vậy rồi trách người này, người kia trong khi bản thân mình còn rất nhiều thứ tệ mà không tự trách. Đó là thiếu sót, không hay.

Mong rằng tất cả cố gắng hơn. Đã hy sinh trọn đời để tu hành, tụi con phải thực hiện cho được những lý tưởng của mình. Làm sao hiện tại xứng đáng là người tu, mai sau làm lợi ích cho chúng sanh, đừng để dở dang uổng đi một đời đó là tội lỗi. Mong tất cả cố gắng.


Ngày 28-6 Mậu Dần (19-8-1998) 

Đây là buổi thỉnh nguyện cuối mùa an cư. Nhắc cho trong chúng biết, tinh thần thỉnh nguyện tức là tinh thần tự tứ. Sau ba tháng an cư tất cả chúng theo thứ tự xin trên quý vị lớn và đại chúng ai có thấy lỗi lầm trong mùa an cư xin chỉ dạy, sẽ nhận lỗi và sám hối.

Tinh thần tự tứ rất cao thượng. Bởi vì nhiều khi mình ở trong chúng làm những điều sai quấy mà không tự biết, nhờ đại chúng chỉ lỗi cho hoặc nhờ những vị trưởng thượng thấy lỗi chỉ dạy. Nhờ vậy lỗi lầm của mình mỗi ngày mỗi tiêu giảm. Nếu mình không yêu cầu chỉ dạy, những lỗi lầm tuy nhỏ để lâu ngày thành to thì kết quả không được tốt. Nên thể theo tinh thần của ngày Tự tứ, quý Thầy thành lập ra lễ thỉnh nguyện để toàn thể Tăng Ni các thiền viện, mỗi tháng nếu thấy lỗi ra phát lồ sám hối, bằng không thấy thì cầu xin được chỉ lỗi để sám hối. Nhờ vậy mà đường tu hành được thanh tịnh. Đó là điều căn bản của sự tu.

Theo kinh nghiệm, quý Thầy thấy rằng người nào ở trong đạo tu hành thanh tịnh, giới đức thanh tịnh thì người đó tu rất dễ tiến, mau có kết quả. Còn người nào lôi thôi, cũng cố gắng tu nhưng kết quả rất ít, đó là lẽ thật. Trong sách thiền có dạy người có tu trước hết phải sám hối những lỗi lầm cũ. Nếu lỗi lầm nhỏ thành tâm sám hối lần lần sẽ tiêu giảm, còn lỗi lớn thì phải tha thiết sám hối cho tới bao giờ thấy những tướng lạ, chừng đó mới tiêu giảm. Nếu được như vậy thì tu thiền có kết quả tốt.

Nếu ai có lỗi lầm mà cứ giấu giếm thì sau này tu không tiến bộ. Bởi thấy vậy nên Thầy mới soạn Thanh quy, cho thỉnh nguyện mỗi tháng. Thầy muốn Tăng Ni ở thiền viện nào cũng đều ý thức tinh thần giới đức và nhận rõ những gì mình còn sai sót. Tự mình không thấy thì yêu cầu tất cả huynh đệ nếu có thấy chỉ cho, nhờ đó lỗi lầm từ lớn đến nhỏ đều hết sạch. Được thanh tịnh rồi sự tu mới tiến, những bước tiến đó rất là quan trọng.

Vậy nên toàn chúng phải hiểu tinh thần thỉnh nguyện của mình, ráng cố gắng tu. Nhất là đối với những người bạn tu chung quanh, nếu thấy ai có lỗi mà chưa sám hối, phải chỉ giùm, đừng im lặng hoặc che dấu, không đúng tinh thần thỉnh nguyện. Đó là Thầy nhắc để cho trong chúng biết tinh thần thỉnh nguyện.

Kế đây Thầy nhắc một điều nữa. Đọc trong Qui Sơn Cảnh Sách chắc tụi con nhớ câu Tổ dạy mình phải "phát chí quyết liệt" thì trên đường tu mới được kết quả. Xét ra trên từ Đức Phật cho đến những vị cổ đức đều có chí quyết liệt.

Chúng ta đọc sử thấy Đức Thế Tôn khi chưa ngộ đạo, Ngài đến dưới cội bồ đề, trải tòa cỏ xong, chỉ gốc bồ đề thệ rằng: Nếu ngồi nơi đây mà không đắc đạo, dù cho xương tan thịt nát quyết không rời chỗ này. Phát chí mạnh mẽ như vậy, một là sống, hai là chết. Sống thì ngộ đạo, đắc đạo, còn nếu không thành đạo thì thà chết chứ không rời chỗ này. Đó là ý chí quyết liệt một còn một mất, chứ không lôi thôi.

Kiểm lại chư Tổ cũng như các vị A la hán, vị nào cũng vậy. Khi tu là phải quyết chí mãnh liệt, không sợ chết, miễn sao được đạo. Nhờ sự quyết tâm dũng mãnh các vị tu mới đắc đạo, như trong Thiền Sư Ni thấy có những vị vào rừng ngồi thiền, gặp thú dữ hoặc những tên gian manh, các ngài cũng quyết định thà chết không sợ. Nhờ chí quyết liệt đó mà tu chứng quả A la hán.

Chư Tổ cũng vậy, vị nào cũng có chí quyết liệt hết. Như tổ Ca Diếp, quý vị thấy Ngài quyết tâm tu hạnh đầu đà, hay nói cách khác là tu khổ hạnh. Đến lúc già cả yếu đuối, Phật bảo, già rồi nên ở một chỗ nhận của thí chủ cúng dường, đừng đi khất thực mỗi ngày. Ngài vẫn xin được theo hạnh đầu đà suốt đời, đó là quyết chí theo hạnh tu đến nơi đến chốn. Từ đó về sau rất nhiều vị tổ có ý chí quyết liệt, nên các ngài tu đạt được đạo.

Ngày nay chúng ta tu ít có người phát chí quyết liệt, tu để tu thôi, không phát tâm mãnh liệt nên sự tu hành không tiến mạnh, tiến nhanh. Tại sao vậy? Bởi vì ngay nơi nội tâm mình luôn có hai bên đối nghịch nhau. Một bên phóng túng giải đãi, một bên tinh tấn quyết liệt. Nếu mình thả trôi không phát tâm tinh tấn quyết liệt thì giải đãi phóng túng sẽ lôi dẫn.

Bằng chứng là khi mình ngồi thiền phải quyết tâm thắng tất cả những ý niệm lăng xăng, khẳng định như vậy rồi nhìn thẳng nó thì nó không dám lai vãng. Nếu ngồi thả lỏng thì nó cứ khởi lên liên miên. Điều này rất rõ ràng, ngay nơi mình có đủ hai thứ, một thứ làm cho mình yếu đuối hư hỏng, còn một phần khác thì làm cho mình thành công, đưa tới chỗ đạt đạo.

Vì vậy tu phải quyết chí mãnh liệt, nhờ tinh thần tinh tấn quyết liệt đó thúc đẩy, làm cho mình được mạnh mẽ gan dạ hơn, dù gặp cảnh ngộ khó khăn nguy hiểm đều vượt qua hết. Nếu tâm chần chờ giải đãi thì một chút trở ngại cũng làm cho mình thối chí nản lòng muốn rút lui. Vậy nên người nào quyết chí rồi phải có lập trường cứng rắn quyết liệt, nhất là liều chết, không có tu lưng chừng, tu cho qua ngày tháng.

Thân chúng ta hiện giờ vô thường mỏng manh, không bền chắc, hôm nay được khỏe, ngày mai chưa dám bảo đảm. Bởi vậy ngày nào còn khỏe phải quyết chí tu hành đúng với nguyện của mình, chứ đừng tu sơ sơ rồi hẹn ngày mai, ngày mốt sẽ tu khá hơn. Cứ hẹn mai hẹn mốt hoài rốt cuộc suốt cuộc đời tu không đến đâu hết, đó là người yếu đuối lưng chừng. Những người như vậy một đời tu cũng không thành cái gì, cũng không ra cái gì! Đó là chuyện cụ thể không nghi ngờ.

Như trường hợp của Thầy, khi quyết tâm tu thiền, trên đường tu không có thầy hướng dẫn, không có bạn khuyến khích, nhưng không vì thế mà nản lòng. Trước khi nhập thất Thầy nói: "Nếu tìm thấy được cái gì thì mới mở cửa thất, nếu không thấy nhất định nhập thất đến chết luôn không ra". Nhờ ý chí quyết liệt đó nên trong khi tu có những bước tiến mà ngày trước Thầy không bao giờ dám nghĩ.

Như vậy mới thấy rõ rằng người tu mà quyết chí hy sinh đừng sợ gì hết thì sẽ thành công. Nếu ai e dè hoặc lơ là, dù tu mười kiếp, hai mươi kiếp cũng chưa tới nơi tới chốn. Bởi vậy Thầy mong toàn chúng lúc nào cũng có ý chí mãnh liệt, quyết chí tu đến nơi đến chốn, khó khăn trở ngại mình coi là trò chơi không đáng kể, phải vượt qua hết. Nhất là mỗi khi bắt chân lên tọa thiền, nhất định phải tiến, phải sáng, không để con ma ngủ lai vãng.

Sở dĩ mình dễ bị ngủ gà ngủ gật là vì cứ thả lỏng, êm êm một hồi rồi ngủ không hay. Nên khi nào ngồi thiền cũng phải cương quyết ngồi thẳng, nhìn thẳng để cho thân tâm được mạnh mẽ, trí tuệ mới sáng suốt. Đừng để cho vọng tưởng làm chủ, lôi kéo mình. Như vậy sự tu mới có giá trị. Nhiều khi tu cũng tính giờ, nay ngồi được hai, bốn hoặc sáu giờ. Nhưng ngồi đó mà có vọng tưởng liền chạy theo, không vọng tưởng thì ngủ gà ngủ gật, tu như vậy không tiến tới đâu hết, chỉ là buông xả thả trôi, uổng đi một đời.

Vì vậy mong tất cả chúng ý thức, nhận định cho kỹ giá trị sự tu của mình. Tu cho được kết quả chứ không phải lưng chừng thả trôi. Bởi vì ai quyết chí tu, liều chết tu thì nhất định có kết quả, sớm hoặc muộn thôi chứ không ai mà không có kết quả. Mong toàn chúng ráng nỗ lực hơn, đừng để luống trôi thời giờ quý báu.


Lễ Tự tứ 15-7 Mậu Dần (5-9-1998)

Hôm nay nhân toàn chúng đã tự tứ xong. Bây giờ Thầy có ít lời nhắc nhở về ý nghĩa lễ Tự tứ. Mỗi năm có ba tháng an cư, sau ba tháng an cư Tăng Ni đều làm lễ Tự tứ. Nhưng bây giờ hỏi tự tứ là gì, nhiều người chưa hiểu.

Chữ tự là mình, chữ tứ là mặc tình. Tức là mình yêu cầu những vị lớn, vì mình, mặc tình hoặc thấy, nghe, nghi mình có lỗi lầm thì sẵn sàng chỉ lỗi cho, đó là tự tứ. Ba lần cầu xin như vậy để tỏ rõ tấm lòng tha thiết cầu xin chỉ lỗi. Cho nên mỗi lần tự tứ, người lớn thấy, nghe, nghi điều gì của mỗi cá nhân đều chỉ dạy, đó là theo lời cầu thỉnh.

Tinh thần tự tứ rất đặc biệt, vị lớn chỉ ra những lỗi do vị đó thấy hoặc nghe thì còn có thể chấp nhận được, nhưng mới nghi ngờ thôi mà cũng chỉ nữa là điều rất khó chấp nhận. Nhưng ở đây dù chỉ là nghi mà các ngài đã chỉ lỗi cho, mình cũng không có quyền chống lại, phải lắng nghe thật kỹ, xét thấy có tội thì phát lồ sám hối chứ không có một ý niệm phản đối.

Do tinh thần tha thiết cầu xin chỉ lỗi của Tăng Ni trong ngày Tự tứ này nên nhà Phật gọi là ngày Phật hoan hỷ, tức là ngày Phật rất vui. Tại sao Phật vui? Bởi thấy đệ tử của Ngài thực hành hạnh rất tốt, tức là biết cầu xin những người lớn chỉ lỗi cho để sửa đổi hoặc sám hối chừa cải. Nếu được vậy lỗi sẽ hết và sự tu mới tiến được. Cho nên Phật thấy ngày này là ngày đáng mừng vui.

Thể theo tinh thần này, ở thiền viện Thầy cho làm lễ thỉnh nguyện mỗi tháng. Thỉnh nguyện cũng đúng theo tinh thần này nhưng có khác hai điều. Thứ nhất là thỉnh nguyện cầu xin một lần thôi, còn tự tứ tới ba lần cầu xin để tỏ lòng tha thiết của mình. Thứ hai là tự tứ chỉ có một vị lớn nhận trách nhiệm chỉ dạy thôi, còn thỉnh nguyện kể cả người chúng nhỏ nếu thấy người lớn hơn có lỗi cũng có quyền chỉ.

Như vậy tinh thần thỉnh nguyện là thể theo tinh thần tự tứ mỗi năm, để cho Tăng Ni biết đem lòng thành nghe lời chỉ dạy, nhắc nhở của những người lớn, người tương đương hoặc nhỏ hơn để biết lỗi mà chừa cải, đó là bước tiến. Như vậy ngày Tự tứ được Phật hoan hỷ thì ngày thỉnh nguyện Phật có hoan hỷ không? - Phật cũng hoan hỷ!

Tụi con tu trong thiền viện mỗi tháng hoặc nửa tháng có buổi thỉnh nguyện, cũng giống với tinh thần tự tứ này. Dù cho vị nào chỉ lỗi giùm cho mình mà họ không thấy, không nghe, chỉ nghi thôi cũng không nên chống trái. Phải xét lại, nếu thấy có lỗi thì phát lồ sám hối, nếu vị đó nghi không đúng thì bỏ qua chứ không có nổi tức lên rồi cãi..., như thế không đúng tinh thần thỉnh nguyện, cũng không đúng tinh thần tự tứ. Bởi vì người nào biết tu, có lỗi chịu sửa sẽ mau tiến, nếu có lỗi mà không chịu sửa thì tu mười, hai mươi năm cũng không tiến.

Phàm ở đời ai cũng có sơ sót, những cái dở nếu không chịu sửa thì chừng nào mới tiến được. Cho nên tinh thần sửa đổi, sám hối để nghiệp chướng được thanh tịnh là tinh thần rất cao, rất quý. Nhờ vậy sự tu hành tiến bộ, tội lỗi càng ngày càng sạch mới đi tới chỗ giải thoát sanh tử, nên ngày này Phật hoan hỷ là ở chỗ đó. Không phải vì ba tháng tu nhiều, mình vui rồi Phật vui, mà là do thấy Tăng Ni biết cầu xin người lớn chỉ lỗi lầm để sửa đổi, sám hối, đó là cái đáng mừng vui nhất.

Vậy nên hôm nay làm lễ Tự tứ, Thầy có ít lời nhắc cho Ni chúng biết tinh thần tự tứ cũng gần như thỉnh nguyện. Khi theo tinh thần này, tụi con phải có tâm can đảm, nghe người khác nhắc nhở không buồn, không giận, chỉ dùng trí xét lại sự việc đó mình có làm hay không? Nếu không làm thì bỏ qua, nếu có làm lỗi đó thì thành tâm sám hối.


Ngày 28-7 Mậu Dần (18-9-1998)

Toàn chúng có tinh thần tỉnh giác cao. Nếu có những lỗi lầm, được huynh đệ nhắc nhở đều có tỉnh, chịu sửa đổi. Như vậy là tốt.

Kế đây Thầy nhắc vài điểm.

Điểm thứ nhất, Thầy nhắc toàn chúng phải sống đúng với Thanh quy, phải tiết kiệm tài sản của thiền viện, chi phí vừa chừng, đừng xài quá đáng làm cho mình tổn phước.

Thầy kể lại chuyện thuở Phật còn tại thế. Có một ông vua được người dâng một ngàn bộ y đẹp. Vua thưởng cho hoàng hậu, phi tần và cung nữ năm trăm bộ y vàng. Một hôm các bà thỉnh ngài A Nan vào cung thuyết giảng. Vì lòng tôn kính, các bà đem dâng cúng cho ngài A Nan hết năm trăm cái. 

Thời gian sau nhà vua không thấy các bà mặc y đó nên thắc mắc, hỏi ra mới biết đã dâng cúng cho ngài A Nan rồi. Nhà vua nổi giận, thầm nghĩ một vị Sa môn chỉ có ba y và bình bát, vì sao ngài A Nan nhận hết năm trăm bộ y để làm gì. Nghĩ vậy rồi ông tới chỗ ngài A Nan hỏi:

- Thưa Tôn giả, Ngài làm gì với số y nhiều thế?

Ngài A Nan nói:

- Tôi sẽ giữ đủ số y cần thiết, số còn lại cúng dường cho các vị nào y đã cũ rách.

Vua hỏi:

- Các Ngài mặc y mới, rồi với những y rách đó sẽ làm gì?

- Cho những người y rách nát hơn.

- Với y rách đó sẽ làm gì?

- Làm khăn trải giường nằm.

- Khăn trải giường cũ làm gì?

- Làm thảm chùi chân. 

- Còn thảm cũ?

- Sẽ làm khăn lau chân.

- Rồi khăn lau chân cũ?

- Sẽ được cắt ra từng mảnh nhỏ trộn với đất trét lên vách.

Nhà vua nghe như vậy rồi mới thấy chư Tăng sống hết sức cần kiệm. Từ y mới rồi y cũ, y cũ rồi trải giường, chùi chân, lau chân, rồi xé nhỏ ra để trét vách đất thì không bỏ phí cái nào hết. Cho nên nhà vua đổi giận thành vui.

Bây giờ tụi con kiểm lại mình coi? Cái gì cũ rồi không vừa ý thì bỏ mất, quăng đi, có cái chưa cũ cũng quăng sớm. Như vậy để thấy rằng người xưa khi nhận vật gì của thí chủ đều sử dụng tối đa, tới cùng chứ không bỏ phí, đó là đức tiết kiệm. Bởi vì công đức tu hành của mình chưa có bao nhiêu. Như tụi con bây giờ chỉ tu cho mình chứ chưa làm lợi ích cho ai, mà chưa làm lợi ích cho ai thì phước chưa có bao nhiêu. Nếu mình thọ nhận mà không biết tiết kiệm, không biết gìn giữ cho khỏi hư hao, tổn phí thì sẽ tổn phước.

Vì vậy, biết tiết kiệm công đức của mình thì mọi chi phí ăn, mặc..., tất cả đều rất cần kiệm. Nói như vậy không phải bảo tụi con không mặc không ăn. Chỉ nên ăn mặc vừa chừng. Cái gì không xài được mới bỏ, còn xài được thì phải tận dụng chứ không được hoang phí. Như vậy mới đầy đủ công đức.

Thật ra, người nào làm được phật sự, được mọi người quý kính đều là người biết tiết kiệm công đức, không làm gì tổn phước, tổn đức, chướng ngại đường tu. Như bản thân thầy không bao giờ tính mua cái gì, nhờ có phước, kẻ cúng dường món này, người cúng vật kia. Phước của mình không lường được, có những điều khi làm Thầy không dám mong sẽ thành công, vậy mà thành tựu quá sức tưởng tượng.

Như ở đây, khi khởi công Thầy nghĩ ít nhất ba năm mới xong. Thầy vạch ra năm thứ nhất làm chùa, gác chuông và cổng, năm thứ hai làm nội viện Tăng, năm thứ ba làm nội viện Ni. Nhưng khi Thầy tuyên bố khởi công xây dựng thì kẻ cúng cái này, người cúng cái kia. Thấy họ cúng đầy đủ quá rồi, Thầy phân công thợ ra từng nhóm, đồng thời làm luôn ba công trình một lượt, khi xong rồi chỉ tròn mười tháng.

Tụi con thấy, khi lo cho chúng, lo cho Tăng Ni tu học thì phước đến lúc nào không ngờ. Mình làm những điều lành điều phước, nó không hình tướng nhưng khi cần thì nó có. Nếu mình không giữ phước đức, xài quá đáng, đến khi đứng ra lãnh đạo không có ai thương giúp đỡ thì làm gì cũng thất bại, đó là do thiếu phước.

Như vậy, tụi con còn ở trong chúng nên sống cần kiệm, phải luôn luôn giữ cho mình không bị tổn phước, để sau này lớn lên ra làm phật sự, vừa phát nguyện làm cái gì cũng đủ duyên chứ không khó khăn. Nếu tụi con không biết như vậy, sau này làm phật sự bị trở ngại vô cùng. Điều này không phải là chuyện huyền bí mà rất thực tế, nên tụi con khéo tiết kiệm, khéo gìn giữ. Người nào cũng phải biết gìn giữ phước đức của mình, đừng cho tổn giảm, đó là tụi con khéo tu.

Bây giờ qua điểm thứ hai. Tất cả tụi con tu thấy buồn nhiều hay vui nhiều, trả lời thử coi?

- Dạ, vui nhiều.

Tại sao tụi con vui nhiều và tại sao lại buồn? Đó là điều tụi con phải chín chắn nhìn lại cho kỹ. Bởi vì khi tu mà cứ giận người này người kia thì tụi con tu được không? Như vậy chính sự buồn phiền làm mình khó tu. Nếu ai làm gì mình không vừa ý, rồi ôm trong lòng, buồn giận, đó là khổ hay vui? Càng giận nhiều người thì mình càng khổ nhiều. Vậy nên phải tập xả bỏ, đừng ghét ai cũng đừng giận ai. Lại nữa, ai cố chấp nhiều thì người đó không vui được. Vậy nên phải xả bỏ tâm cố chấp, cho là mình đúng, mình phải.

Đố tụi con rồi còn phải xả cái gì nữa? - Rồi cũng phải xả tất cả những gì mình thích, mình thương. Đừng nghĩ là chỉ xả bỏ những thứ mình giận, ghét, hoặc không ưa. Thí dụ trong huynh đệ có người nào vừa ý mình quá nên mình thích, thì cũng phải xả luôn cái thương đó nữa mới được nhẹ nhàng. Giả sử mình thích một người nào đó rồi cứ ôm ấp trong lòng, thì khi ngồi tu mình nghĩ cái gì? Đó cũng là khổ. Như vậy không phải chỉ xả tâm cố chấp, xả nóng giận hoặc buồn phiền, mà xả luôn những điều mình thương nữa. 

Rồi còn xả gì nữa? - Xả luôn cái thân này, phải không? Thân này là thứ không ra gì, không phải là quý. Chúng ta chỉ tạm giữ nó, như trong kinh nói lúc bị chìm thuyền gặp được gốc cây. Biết nó là gốc cây mục, nhưng chưa vào bờ được nên phải tạm giữ nó.

Thật ra thân này không có giá trị gì hết, tắt thở chừng năm ba hôm, ai thấy cũng tránh xa. Nếu có ai đó tắt thở chừng năm ba ngày, đừng liệm gì hết, để nằm trống trơn ở ngoài, có người nào dám lại gần không? Như vậy, nếu nó là quý thì lúc nào cũng quý, khi sống quý thì tắt thở cũng quý, chẳng nên thấy gớm, thấy sợ.

Cho nên người có trí tuệ phải xét cho kỹ. Đừng cố chấp, phải buông xả hết mới dễ thành đạo. Xả được thì mới có trí tuệ, còn người nào ngu si mới ôm ấp trong lòng hoài. Tự kiểm lại, tụi con trí tuệ nhiều hay ngu si nhiều? Tu nhiều năm mà vẫn còn ngu si. Đó là cái dở. Vậy phải ráng làm sao phát huy được trí tuệ của mình.

Ngày xưa, ngài Quy Tông là vị thiền sư nổi tiếng, đệ tử của Mã Tổ. Ngài Hoàng Bá có nói: "Mã Đại sư sanh ra tám mươi bốn vị thiện trí thức, hỏi đến cái tiêu chảy, tiêu chảy đầy đất chỉ có Quy Tông".

Tiêu chảy đầy đất tức là xả sạch. Đó là điều quan trọng. Vậy tụi con nên hiểu tinh thần đạo lý nằm ở chỗ đó, đừng nghĩ ta đây là đẹp, là giỏi, ta đây khôn ngoan, có tài v.v..., tất cả những thứ đó không quan trọng, đều phải xả hết.

Nếu xả hết những cái đó rồi, gương mặt tụi con có lúc nào buồn không? Có lý do gì để buồn không? Vậy nên cứ sáng rỡ, tươi hoài, vì không có gì buồn, không có gì khổ. Đó chính là giá trị của sự tu.

Hôm nay Thầy nhắc cho tất cả tụi con nhớ, muốn tu tiến thì phải buông xả tất cả.


Ngày 28-8 Mậu Dần (18-10-1998) 

Kỳ thỉnh nguyện này chỉ một vị có lỗi nhỏ thôi, ngoài ra đều thanh tịnh, đó là điều rất tốt. Kế đây Thầy có ít lời nhắc nhở toàn chúng.

Chúng ta tu hành phải làm sao ngay nơi thân máu thịt này nhận sâu trong đó có người chủ điều hành. Con người đó không tên, không họ. Tụi con biết người đó chưa?

Tất cả chúng ta ai cũng có một cơ thể, nó giống như cái máy vậy, đầy đủ bộ phận. Trong các bộ phận đó có một người chủ điều hành mà mình không biết. Bởi không biết người chủ đó nên bám vào thân này, cho nó là thật, thật thân mình. Bởi nghĩ thân này thật là mình nên khi người ta khen thì nở mặt nở mày, khi người ta chê thì xàu héo cú sụ, phải không?

Chấp thân này là mình, nhưng tụi con nghĩ nó có bền không? Khi còn trẻ, khỏe mạnh, hoạt động nhanh nhẹn thì còn thấy an ổn một chút. Đến khi già yếu bệnh hoạn thì thân này ra sao? Nó không ra gì hết. Thế nhưng dù cho nằm thở thoi thóp mà nghe nói chết vẫn sợ mất thân.

Chấp thân này là thật, nhưng thân là do tứ đại hợp thành, mà có hợp tất phải có tan. Chấp cái thân hợp tan này là mình thì khi thân tan rã mình là có hay là không, còn hay mất? Khi tứ đại tan rồi thì mình tan luôn, vậy không còn sanh tử luân hồi, phải không? Nhưng mà thực tình trong đó có một người điều khiển chứ không phải là tứ đại, tứ đại chỉ là cái bị điều khiển.

Như tụi con thấy, bình thường mình đang ngồi mà muốn đi, khởi niệm muốn đi trước rồi mới đứng dậy, chân cất bước đi, chứ không bao giờ chân tự đứng dậy bước. Ta muốn làm gì phải khởi niệm trước rồi mới có hoạt động. Cái khởi niệm đó có hình dáng gì? - Nó không hình dáng mà lại chỉ huy thân này. Đó chỉ mới là chút vọng niệm nhỏ xíu chứ chưa phải là ông chủ ngồi điều khiển bên trong, mà còn lôi kéo mình được, huống là trong đó có ông chủ điều khiển hoạt động thế này thế kia. Ông đó là chủ mà hỏi thì không có tên.

Nay tụi con được tên A, B, C,... tên đó có thật không? Vậy mà ai nói động tên đó có nổi cáu không? Như vậy tụi con tu hành đã thấy được cái lẽ thật chưa? Nếu dùng trí thấy được lẽ thật rồi thì không kẹt, không vướng mắc nơi cái giả. Vậy mới là thật thấy. Còn khi nghe dạy dường như hiểu mang máng, mà gặp việc vẫn còn chấp thân, chấp danh (tên tuổi), chứ không sống được với cái thật.

Nếu tụi con sống được với cái thật thì vui hay buồn? Chắc ở trong đây khỏi phân xử ai hết. Tất cả không còn bận bịu về thân, thì sự ăn, mặc,... tụi con có giành hơn thua gì nữa không? Hiểu được lẽ thật rồi, rõ tất cả những ngôn từ khen chê là vô giá trị, tụi con còn có gì buồn ghét, thương giận nữa không?

Bởi vì chúng ta không thấy được lẽ thật, nên sống theo ảo tưởng, chấp vào thân bại hoại, danh hư ảo cho là mình chứ không thấy được lẽ thật. Nếu tụi con vén màn lên thấy được lẽ thật thì sẽ rõ người chủ bên trong đang điều khiển. Người đó không có tên, dù ai kêu tên mắng chửi, người đó cũng không rầy rà hay động lòng.

Sở dĩ bị động là tại sao? Tại chấp nơi cái tên, chấp kẻ có tên là mình. Còn người không tên thì không động, chính người không tên đó mới là người thật điều khiển thân này, còn người có tên là giả. Vậy mà lâu nay tụi con bám vào kẻ có tên, mà không nhận ra người không tên đó. Nếu nhận ra được người không tên đó thì rơi cành gãy nhánh hết, cái ngã hư ảo không còn nữa.

Như vậy tụi con tu bao lâu đã thấy người điều khiển chưa? Nếu tụi con chỉ thấy người có tên tức chưa biết người không tên đó. Đây là vấn đề hết sức thâm trầm. Thông thường chúng ta, một là chấp thể xác làm mình, đó là chấp cái máy, bị người chủ điều khiển chứ không thấy được người chủ; hai là chấp cái tên là thật, mà tên không phải có sẵn từ thuở nào, nó mới được đặt ra đây. Hồi ở nhà cha mẹ mới sanh đặt tên cho, rồi vô chùa thầy đặt tên cho, toàn là mới đặt, mới đặt là giả danh.

Chúng ta chấp giả tướng, giả danh là mình, nên quên mất ông chủ thật. Vì vậy, người tu phải buông bỏ cái chấp giả danh, giả tướng đó mới thấy được con người thật của mình đang điều khiển. Mà người đó không có tên. Nếu gượng nói là tên gì? - Nhà thiền gọi là bản lai diện mục, chơn tâm hoặc Phật tánh, đó là gượng nói chứ đúng ra không có tên. Phải đi sâu, phải rõ được ông chủ, không phải tu là chuyện mơ màng ở bên ngoài.

Nhiều khi tụi con kiểm lại có thấy xấu hổ không? Thân này là thứ bại hoại mà ăn cái gì hơi dở liền nhăn mặt nhíu mày. Thân này bại hoại cộng thêm cái tên hư ảo nữa, vậy mà nói động tới liền phùng mang trợn mắt dữ tợn lên. Như vậy mới thấy tụi con sống chạy theo bên ngoài, không đi sâu, không thấy được tận tường gốc rễ. Vậy nên Phật dạy thân này là vô ngã, phải phá tan được ngã chấp thân, ngã chấp danh rồi mới thấy được con người thật.

Bây giờ tụi con thấy tất cả mọi chuyện phiền não với nhau là do đâu? Do chấp thân và tên giả thôi, chỉ chấp mấy cái đó mà thành bao nhiêu phiền não. Đời tu là đi tìm chân lý, tìm cho ra lẽ thật nơi con người mình. Vậy mà không lo điều đó, cứ chấp nơi cái giả rồi sân si phiền não với nhau, làm trở ngại sự tu hành. Người như vậy có đáng trách không? Thật là đáng trách!

Tụi con tu sở dĩ chưa tiến được bao nhiêu vì chưa thấy được lẽ thật đó, nếu thấy rồi cười thôi. Giả sử có ai kêu tên chửi thì tên này giả, đâu có gì quan trọng.

Có một nhà tâm lý trị liệu nói thế này, tụi con xét coi sao. Ông nói: "Nếu có người bảo tôi sai, thì tôi sẽ trả lời rằng: Thế thì ngài đợi gì nơi con lừa?". Nói sao khó hiểu quá, phải không? Con lừa khôn hay ngu? Nếu nói theo mình thì: "Ngài đợi gì nơi con bò?".

Câu đó tụi con nghĩ sao? Một nhà tâm lý trị liệu mà đã thấy được như vậy. Nếu tụi con làm hay nói điều gì, người khác bảo là sai thì tụi con làm sao? Rướn họng lên cãi phải không? Cãi cho qua, cãi cho thắng. Tại sao? Tại vì ta khôn mà nói ta sai là không được! Còn nhà tâm lý kia nói rằng nếu ai nói ông sai thì ông sẽ trả lời: "Thế thì ngài đợi gì nơi con lừa?". Tôi ngu như con lừa thì ngài còn đợi cái gì đúng? Con lừa sai là chuyện thường!

Như vậy tụi con thấy người đó có tu nhiều hơn mình không? Bởi vì thế nhân luôn luôn thấy mình khôn, nhưng tụi con xét thật kỹ coi, trên thế gian này có tỉ tỉ sự việc, mình biết được hết hay chỉ trong muôn một. Còn bao nhiêu cái mình không biết, vậy là khôn hay ngu? Thế mà nói ngu không chịu. Vậy phải nói như nhà tâm lý: Tôi là con lừa, anh là con lừa, tất cả chúng ta đều ngu hết, chưa có ai khôn thật đâu!

Thế nhưng người ta hay có bệnh tưởng mình khôn, nếu biết mình ngu thì còn gì để cãi. Bây giờ gần nhất là ở trong thiền viện này, có người giỏi về may thì biết cắt may, giỏi về rẫy thì biết cách trồng rau, giỏi về vườn thì biết chăm cây... mỗi người một phạm vi. Người này giỏi mặt này mà dở mặt kia, kẻ nọ giỏi mặt kia nhưng dở mặt này, phải không?

Như vậy, mình chỉ biết một bộ phận trong bao nhiêu bộ phận của thiền viện thôi, huống nữa là cả thế gian này mình biết được chừng bao nhiêu? Như giờ tụi con cho là mình khôn, thử đưa cái máy mở ra ráp lại giùm coi được không? - Không được! Đó là có sẵn mở ra ráp lại còn không được, là khôn hay ngu? Vậy mà lúc nào cũng nói mình khôn.

Tóm lại, nghĩ mình khôn, tưởng mình khôn là ảo tưởng, không có sự thật. Người tu phải sống với sự thật, lúc nào cũng biết mình là kẻ ngu, còn đang mò mẫm, đang tìm hiểu, cố gắng để thấy lẽ thật, được bao nhiêu mừng bấy nhiêu, chứ không phải mình là người hiểu biết hết. Đừng bao giờ tưởng mình là người khôn. Nếu có người bảo, cô nói sai rồi, thì tụi con trả lời sao? Làm gan trả lời giùm coi, "vậy thì chị trông đợi gì nơi con bò?", phải không? Tôi ngu như bò mà còn trông đợi, đòi hỏi cái gì? Nếu tụi con nói được như vậy thì tiến bộ biết mấy!

Bây giờ người tu ai cũng giành khôn lanh, biết đủ thứ chuyện, tỏ ra mình hơn người. Nhưng như vậy có thật hơn không? Cần phải thật thấy, nhận ra được cái chân thật thì mới hơn, còn khôn lanh hiểu biết là cái ảo bên ngoài. Dù có lanh mồm lẻo mép cãi hơn người rồi cũng không tới đâu. Nên người tu là phải cố gắng sống với chỗ chân thật.

Hôm qua có mấy người khách hỏi nóng giận làm sao trị. Thầy nói: "Anh ngu như bò", lúc đó quý Phật tử có giận không? Rồi có người đến nói: "Mời anh ăn bánh trung thu, mời anh ăn bánh bông lan", mời một hơi mà không có cái bánh nào hết, quý Phật tử có cám ơn không? Nếu mời ăn thứ bánh quý, bánh ngon mà không có một cái bánh nào thật cả, lúc đó tụi con nói sao? Chỉ cười thôi.

Như vậy, mời ăn bánh mà không mang ơn là tại sao? Tại đó là lời rỗng, mời ăn mà không có bánh là nói rỗng. Nói ngu như bò rồi có thành bò không? Cũng là nói rỗng. Tại sao mời ăn rỗng kia mình không mang ơn mà nói rỗng này mình giận? Cả hai đều là nói rỗng hết, không phải nói bò rồi mình thành bò thật, cũng như mời ăn bánh, mình cầm bánh ăn mới là thật, còn không có tức giả. Nếu nói cái không có mà mình giận là khôn cỡ nào? Vậy mà người ta nói mình ngu như bò liền cãi, đó là mình ngu như bò thật, phải không? Nếu biết nói rỗng, cãi làm gì? Như có người nói "cô sai" thì mình trả lời: "Tôi ngu như bò thì anh chị đợi gì nơi con bò!"

Những chuyện hết sức nhỏ như vậy, xét lại trên đường tu của mình, nhiều khi mình chấp những cái không đáng chấp, thật là ngu ngốc. Huynh đệ nói qua lại vài lời có vẻ hơi khinh mình là nổi nóng liền, huống nữa nói "ngu như bò" hay "dại như heo" thì cãi cho mà biết. Như vậy mới thấy mình sống trong ảo tưởng, chấp những cái giả dối, không thấy được chân lý. Người thấy được lẽ thật rồi thì không mất thời giờ trong mấy chuyện vụn vặt đó.

Tụi con thấy biết được như vậy thì sự tu hành đỡ biết bao nhiêu. Nếu ai cũng chấp nhận mình ngu như bò ắt ít cãi lộn lắm. Như vậy mai kia nếu có ai chê tụi con, đứa nào cãi là sao?

- Bạch thầy, cãi là ngu như bò!

(cười) Hiểu như vậy thì mai mốt khỏi phải phân xử gì cả, người nào dành khôn giành hơn, thì biết rồi đó! Nên tụi con từ đây về sau biết tu, đừng nổi nóng hay cãi cọ vì những lời nói rỗng. Thường mình nóng giận là vì mình nghĩ người ta xúc phạm tới mình, nhưng thật sự đâu có gì xúc phạm. Người ta nói, mình biết rõ là lời rỗng vô nghĩa thì cười thôi, đâu có gì giận. Hiểu như vậy thì sự tu hành của mình sẽ đạt được kết quả rất tốt. Đứa nào hay cố chấp ráng nhớ, mai mốt có ai chê thì nói: "Huynh còn trông đợi gì nơi con bò". Vậy là huề, không có gì phiền não với nhau.

Nhiều khi tu mà chấp danh, chấp tướng, càng chấp càng xa đạo, trái với lẽ thật. Nên tụi con phải tỉnh táo, sáng suốt tu hành, coi thường ngôn ngữ. Khen chê là trò đùa, không có gì quan trọng. Mình phải sống được, thấy được người không tên thì mới xứng đáng, còn cãi hơn thua không có gì đáng hết, rốt cuộc đều là bò này với bò kia thôi. Đó là nhắc tụi con nhớ tu.


Ngày 28-9 Mậu Dần (16-11-1998) 

Buổi thỉnh nguyện hôm nay thấy trong chúng đã thuần thục, không còn phạm những lỗi lầm như trước, chỉ có lỗi nhỏ mà biết tự giác sám hối là tốt, cũng là tiến bộ về phần đức hạnh của toàn chúng. Hôm nay Thầy có câu chuyện nhắc cho toàn chúng nghe, ráng nhớ để sau ứng dụng. 

Một hôm có vị tăng đến hỏi Thiền sư Thạch Cựu:

- Hạt châu trong tay Bồ tát Địa Tạng là ý nghĩa gì?

Ngài Thạch Cựu hỏi lại:

- Trong tay ông có hạt châu không?

Tăng đáp:

- Không biết.

Ngài bảo:

- Chớ nói dối đại chúng!

Kế đó Ngài đọc bài kệ:

Bất thức tự gia bảo

Tùy tha nhận ngoại trần

Nhật trung đào ảnh chất

Cảnh lý thất đầu nhân.

Tăng hỏi hạt châu trong tay Bồ tát Địa Tạng là ý nghĩa gì, Thiền sư Thạch Cựu hỏi lại: "Trong tay ông có hạt châu không?". 

Tăng nói: "Không biết". Ngài bảo: "Chớ nói dối đại chúng!". Sao vậy? Như chúng ta nhìn tượng Phật, tượng Bồ tát với quan niệm đó là tượng thật, diễn tả hình ảnh của các Ngài đúng như thật. Nhưng theo tinh thần Phật giáo Đại thừa thì vậy là chưa hiểu gì hết.

Bởi theo tinh thần Phật giáo Đại thừa thì những hình ảnh đó là biểu trưng, không phải thật. Ai cũng biết Đức Phật Thích Ca là người Ấn Độ, nhưng bây giờ nhìn lên tượng Phật mình thờ coi là người Ấn Độ hay Việt Nam? Nếu nhìn lên sẽ thấy Phật người Việt Nam, như vậy nghệ nhân điêu khắc không biết xuất xứ nên tạc sai phải không? Sự thật không phải, đây là hình ảnh biểu trưng. Phật là bậc giác ngộ, mà giác ngộ đó không chỉ riêng Phật, ai cũng có tâm đó nên gọi là tánh giác.

Chúng sanh nào cũng có tánh giác. Ở Ấn Độ, Ngài phát kiến và sống được với tánh giác nên gọi là Phật, còn chúng sanh có tánh giác mà quên, bị phủ lấp nên làm chúng sanh. Tuy đang làm chúng sanh mà trong đó đã sẵn tánh giác. Vì vậy chúng ta thờ Phật là biết ở Ấn Độ có một vị đã giác ngộ. Còn ở Việt Nam, Trung Hoa hay bất cứ ở đâu, ai biết tu cũng được giác ngộ như vậy. Ai ai cũng có khả năng thành Phật như Đức Phật.

Do đó ở các nước thường thờ Phật có hình tượng như người nước đó, không bắt chước theo hình ảnh người Ấn Độ. Tại sao vậy? Như tụi con thấy trong kinh Kim Cang Phật dạy:

Nếu dùng sắc thấy ta

Dùng âm thanh cầu ta

Người đó hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai.

Như vậy biết rằng sắc tướng, âm thanh không phải là Phật. Nhất là sắc tướng mình thờ là tướng bại hoại. Nếu Phật là sắc tướng bại hoại thì đâu phải là giải thoát sanh tử. Vậy Phật giải thoát sanh tử là cái gì khác chứ không phải thân bại hoại đó. Thờ Phật là thờ tinh thần giác ngộ bất sanh bất diệt, chứ không phải thờ hình tướng bại hoại. Do đó Phật tử nước nào thì thờ hình tượng Phật theo dáng dấp người xứ ấy, đó là tinh thần Đại thừa.

Bồ tát Địa Tạng tay phải cầm tích trượng có mười hai vòng khoen, tay trái cầm hạt châu. Tại sao Ngài cầm hạt châu? - Bởi vì tên Ngài là Địa Tạng, đọc đúng là Địa Tàng. Chữ đó đọc là Tàng mà mình quen đọc là Tạng. Tàng là cất, chứa, dấu, tàng trữ; địa là đất. Trong đất có ẩn chứa một hạt ngọc, hạt châu. Như vậy tay Ngài cầm hạt châu để nói lên rằng: Bồ tát Địa Tạng sẵn có hạt châu, hay nói cách khác là ngay trong đất đã chứa sẵn hạt châu.

Thân này là thân tứ đại, mà cái nổi nhất là đất, nếu không có chất cứng thì tạo thành hình tướng được không? Nhờ chất đất nên thành hình tướng con người, rồi nước, gió, lửa phụ họa bên trong. Ngay nơi thân do tứ đại tụ hội mà thành đây có sẵn hạt châu trong đó. Như vậy, ngài Địa Tạng mình thờ chỉ là ngài Địa Tạng bằng hình tượng và hạt châu cũng là biểu trưng, để nói lên rằng nơi thân mọi người đều sẵn có hạt châu trong đó. Hạt châu chỉ cho tánh giác hay Phật tánh của chính mình.

Bởi vì Phật tánh đối với thân này quý giá vô cùng nên trong nhà Phật tượng trưng nó là hạt châu. Trong kinh Pháp Hoa cũng dùng dụ hạt châu nơi chéo áo. Như vậy hạt châu đó ngầm chỉ mọi người đều có tánh giác chứ không riêng Bồ tát mới có, nên ngài Thạch Cựu hỏi: "Trong tay ông có hạt châu không?". Tăng nói: "Không biết". Không biết tức là chưa nhận ra, chưa thấy, nên nói không có. Vì vậy Ngài quở: "Chớ nói dối đại chúng!". Có mà nói không, phải nói dối chăng? Tụi con có nói dối đại chúng không? Có cái đó sẵn mà không nhận, cứ nói không thấy, không biết. Nói không thấy, không biết tức là có mà nói không có, vậy có phải là nói dối chăng? Như vậy, tụi con tự dối mình và dối người luôn.

Nếu bị người hỏi câu đó tụi con trả lời sao? Trong tay tụi con có hạt châu không? Ở đâu, đưa đây coi? Bây giờ Thầy chỉ, tụi con chịu thấy không?

Thí dụ cái bàn đây, có người hỏi bàn này láng không? Thầy không cần nhìn mà lấy tay sờ, sờ thì thấy nó láng. Vậy là mắt thấy hay tay thấy? Nếu không thấy sao biết nó láng? Vậy biết láng là mắt thấy hay tay thấy? - À khắp thân đều là tai mắt, tức hạt châu lộ ra đó chứ gì!

Như vậy trong tay ai cũng có hạt châu mà không chịu nhận. Bởi không chịu nhận nên nói không có. Nói không có là gạt đại chúng, nên kế đó Ngài liền làm bài kệ. Bài kệ này tụi con phải thuộc lòng:

Bất thức tự gia bảo

Tùy tha nhận ngoại trần

Hai câu này nói tột cùng chỗ thật của mình. Ai cũng có sẵn hạt châu nhưng không biết nên theo ngoại cảnh mà dính mắc với sáu trần. Khi dính mắc sáu trần rồi thì: Nhật trung đào ảnh chất, nghĩa là trong lúc mặt trời giữa trưa cứ chạy ngoài đường trốn bóng. Trốn được không? Như vậy là khôn hay khờ? Đó là kẻ ngu khờ, bởi vì mình tới đâu thì bóng tới đó, bóng đâu có rời mình mà cứ chạy ngoài nắng trốn bóng, trốn chừng nào khỏi. Nếu có ai chạy ngoài trời la lên "tôi trốn bóng mà bóng cứ rượt theo hoài", thì tụi con nghĩ người đó thế nào? Ngu quá sức tưởng tượng phải không? Mà người đó giống tụi con không?

Nói như vậy để thấy cái ngu của mình, có của báu mà không nhận, lại đi nhận cái bóng dáng bên ngoài là vô thường sanh diệt. Ngay nơi mình có hạt châu quý bất sanh bất diệt mà không chịu nhận, cứ nhận bên ngoài rồi nói hơn thua, phải quấy, cãi lộn với nhau thì có phải là người ngu tột cùng không?

Như vậy bữa nào tụi con lỡ cãi nhau, nếu gặp, Thầy sẽ quở: Tụi con ngu vừa vừa chứ, ngu gì quá lắm vậy! Quên hạt châu quý của mình chạy theo sáu trần là đã ngu quá rồi, lại còn phân biệt hơn thua phải quấy thì ngu cỡ nào?

Đến câu cuối:

Cảnh lý thất đầu nhân.

Khi soi gương thấy bóng trong đó, cho là đầu mình, đến lúc úp gương lại không thấy đầu mặt, ôm đầu chạy la mất đầu. Đó là hình ảnh chàng Diễn Nhã Đạt Đa. Như vậy là ngu cỡ nào? Kẻ ngu chạy trốn bóng giống như kẻ ngu nhìn gương, thấy bóng mình trong đó, rồi chỉ biết cái đầu trong gương mà không biết đầu thật của mình sẵn có. Khi thấy mất cái đầu bóng trong gương liền ôm đầu bỏ chạy, la lên "tôi mất đầu rồi". Đó là điên loạn, không còn nói ngu nữa, điên rồi. Tụi con giống mấy người điên đó không?

Hiện giờ tụi con nói "mình", nói "tôi", mà cái suy nghĩ là tôi hay cái hằng tri hằng giác là tôi? Ít có ai biết cái hằng tri hằng giác, chỉ chấp cái suy nghĩ làm tôi, nên: "tôi nghĩ điều này đúng", ai cãi liền nổi sân, "tôi làm như vầy phải", ai cho là trái liền nổi sân. Như vậy là chấp cái tôi nào, cái tôi bóng phải không? Suy nghĩ là cái bóng, qua rồi mất. Vậy mà chấp bóng là mình, tới chừng bóng không hiện thì ôm đầu chạy la: "Mất tôi rồi!". Không ngờ cái tôi hằng hữu cũng như cái đầu luôn hiện tiền, còn bóng hiện trong gương, úp gương lại thì mất bóng, lại nói là mất mình. Vậy có ngu không?

Như vậy, tất cả chúng ta hiện giờ đang sống với cái hư ảo chứ không sống với cái chân thật, rồi hài lòng với cái hư ảo đó. Nên đời này sanh tử, cứ như vậy mà sanh tử muôn đời muôn kiếp không lúc nào dừng vì mãi mê chạy theo hư ảo. Mà hư ảo thì biến hoại, ôm cái biến hoại này tới lúc nó hoại mất lại tìm cái biến hoại khác, cứ như vậy mà kiếp kiếp đời đời đi mãi trong sanh tử. Nên Phật nói lang thang nhiều kiếp luân hồi.

Chấp cái hư ảo, bại hoại là mình thì làm sao ra khỏi sanh tử? Có cái thật mà không chịu nhận. Như vậy chẳng những là ngu mà còn điên nữa. Tụi con có khi nào dám vỗ ngực xưng ta có trí tuệ không? Nếu ta có trí tuệ thì tại sao còn cãi với nhau?

Hiểu đạo lý sâu rồi tụi con mới thấy người đời cứ theo đuổi theo cái ngu khờ chứ không bao giờ chịu tỉnh giác. Người tu là tỉnh giác, tức là phải nắm cho được hạt châu ngay trong nhà mình, chứ không chạy theo bóng dáng trần cảnh. Được như vậy mới thật là người biết trở về, biết tìm của báu. Còn nếu cứ chạy theo ảo ảnh bên ngoài hoài thì muôn kiếp trầm luân.

Chỉ bài học này cũng cảnh tỉnh vô cùng rồi, phải không? Tụi con nhớ học thuộc. Bài đó Thầy dịch:

Chẳng biết báu nhà mình

Theo trần nhận ngoại cảnh

Giữa trưa chạy trốn bóng

Kẻ soi gương mất đầu.

Bao nhiêu đó ráng nhẩm đọc để biết mà tu. Thật ra giá trị đạo đức nói cũng không cùng, càng học càng tu tụi con thấy mình càng ngu dại. Do đó, Phật bảo chúng sanh mê muội, nghĩa là ngu si mà ai cũng vỗ ngực xưng ta đây, vậy mới đáng buồn, đáng trách. Nếu ngu mà biết ngu thì đỡ quá, còn ngu mà cứ tưởng mình khôn, thật là đáng trách.

Cho nên chúng ta phải tỉnh giác để tìm lại cái thật, chứ không phải tu để có hình thức, có chùa và một số bổn đạo. Tu là phải trở lại tìm cho ra, nhận cho được của báu nhà mình, phải luôn tỉnh thức mới xứng đáng là người tu.


Ngày 28-10 Mậu Dần (16-12-1998) 

Hôm rồi có chú Từ Đức quy y, Thầy cho pháp danh là Chánh Minh. Chú thưa với mấy thầy lớn rằng: "Con lên tập tu, quý thầy dạy ngồi thiền, tới phần xả thiền con xả từ từ theo thứ tự, mà sao thấy quý thầy mới nghe rung chuông liền duỗi chân ra, xả không có thứ tự gì hết, như vậy là sao?". Mấy thầy lớn thưa lại, Thầy thấy chư Tăng coi thường nghi thức xả thiền quá. Mình dạy người ta cách xả thiền một đàng mà Tăng chúng làm một ngả, thành ra người ta nghi ngờ.

Vì vậy thỉnh nguyện kỳ rồi, ở bên Tăng Thầy dạy lại cách ngồi thiền theo thứ tự, kỳ này Thầy dạy cho bên Ni. Thầy dạy rồi mà Tăng chúng hay Ni chúng không làm theo đó, sau Phật tử đến tập tu thưa lên người nào lôi thôi thì Thầy quở nặng. Bởi vì ở đây tụi con không phải tu cho mình thôi mà còn làm gương mẫu cho những người đến tập tu, và mai kia tụi con lớn lên có đủ khả năng sẽ làm Thầy dạy người khác. Vì vậy việc tu hành phải có thứ tự, có nghi thức đúng đắn để cho người ta tu đạt kết quả tốt. Nếu mình cẩu thả quá sau này dạy người khác tu không tiến, đôi khi có hại nữa. 

Sau buổi thỉnh nguyện Thầy sẽ dạy lại một lần nữa, chỉ cho cách ngồi thiền và những thứ bệnh, khi nào có gì khác lạ thì biết cách tự chỉnh. Trong những bài Thầy giảng về Thiền Căn Bản một hai kỳ tới sẽ có dạy phần xả thiền, nhưng e rằng trong các buổi giảng người ta quá đông, không cách nào hướng dẫn kỹ lưỡng được. Nếu chỉ hướng dẫn bằng miệng thôi thì chưa đủ, phải ngồi thực hành theo thứ tự mới có thể nắm rõ. Bữa nay Thầy chỉ thực tế cho tụi con thấy, để sau không đổ thừa tại vì không được chỉ kỹ nên ngồi sai. Từ đây về sau nhất định phải ngồi đúng.

Ngồi thiền thường thường có ba giai đoạn: nhập, trụ và xuất. Trước khi chỉ cách ngồi thiền, Thầy nói tổng quát cho tụi con nắm vững. Tu thiền là mình phăng tìm lại, quan sát kỹ coi cái gì là thật mình, cái gì không phải thật mình. Thân năm uẩn này, thân tứ đại này có phải là thật mình không? Nói không thật mà đụng tới thì biết!

Nếu trong cơ thể mình một bộ phận nào đó hư, người ta cắt bỏ rồi đem bộ phận người khác thế vào. Giả sử tay mình hư, cắt bỏ rồi đem tay người khác ráp vô. Khi lành rồi thì mình nói tay này của ai? Rõ ràng là tay của người khác đem tới, làm sao nói của mình được, vậy mà ráp vào liền cho là của mình. Hoặc máu mình thiếu, người ta đem máu người khác đến sang cho, sau đó có khi nào nói máu này không phải của tôi mà là của ai đó, có nói vậy không? Hay là vào đây rồi là của tôi?

Cái ngã này là ngã tạm bợ, mượn đầu này đầu kia hợp lại chứ không có thật. Nhiều khi Thầy tức cười, mình đói bụng cồn cào đi không nổi, người ta chỉ cần cho vài chén cơm với rau muống, nước tương, mình ăn vô một hơi liền đi nổi. Như vậy là cơm và rau muống đi hay mình đi? Cơ thể này nếu thật là mình thì mình làm chủ, lúc nào mình cũng đủ quyền, nhưng khi thiếu tứ đại bên ngoài bồi bổ thì hết làm chủ. Rõ ràng thân là tạm bợ nhờ những thứ bên ngoài phụ trợ nó mới tồn tại.

Thêm một điều nữa. Bây giờ mấy ông bác sĩ thường nói trong người mình có kháng thể, còn hồi xưa Phật dạy trong con người mình có hai thứ trùng: một là hộ trùng, hai là hoại trùng. Vi trùng phá hoại từ ngoài xâm nhập vô, hộ trùng bảo vệ thân tiêu diệt nó. Nói theo bây giờ là vi trùng ở ngoài xâm nhập vào, kháng thể chống lại. Những việc làm đó tụi con có biết không?

Giả sử mấy hôm nay tụi con hít nhằm thứ gì đó, nó đang quậy trong thân, tụi con có biết không? Rồi ở trong thân có đội binh chống lại đám vi trùng đó, tụi con có hay không? Nếu thật thân này là mình thì tất cả hành động nào dù thô hay tế mình đều làm chủ thật. Tóm lại, thân này tạm bợ, đủ duyên tụ hợp thì còn, thiếu duyên liền tan rã. Đó là chân lý, là lẽ thật.

Thân này là giả mà ai động tới thì không được. Học Phật biết nó giả nhưng chạm tới thì thật, phải không? Cuộc đời này người ta đau khổ vì muốn làm thỏa mãn các nhu cầu của thân, nói gần là thỏa mãn sáu căn, rồi giành giật, đâm chém... đủ thứ hết. Vì sự sống của thân mà sát phạt lẫn nhau. Nhưng thân này không thật, vậy có si mê không? Khi biết rõ thân mình không thật thì không nên chiều theo, mà phải làm chủ nó. Đã biết nó giả mà còn chiều theo đòi hỏi của nó là mê lầm điên đảo.

Trong Kỷ Yếu năm năm, nhiều đứa viết bài than thở ngồi thiền đau đủ thứ hết, phải không? Có những người hay phê bình, họ nói tội gì mà hành phạt như thế. Đau thì xả ra, sao phải ráng chịu khổ vậy. Ai bắt tới đây rồi không được đi đây đi kia như ở tù, mà còn hành phạt ngồi thiền đau phải ráng cắn răng chịu. Nhưng Thầy đã thấy rõ, với cơ thể này nếu mình không giành quyền làm chủ thì nó sẽ đòi đủ thứ hết. Nếu mình chiều theo những đòi hỏi của nó là làm nô lệ nó, tạo không biết bao nhiêu tội, bao nhiêu nghiệp. Cho nên giành lại quyền làm chủ thân là điều số một khi bắt chân lên ngồi thiền.

Làm chủ thân thì khi đau chân phải thế nào, rên rồi xả phải không? Có đứa còn muốn khóc nữa chứ! Như vậy thấy như là mình khắt khe hành phạt cái thân, nhưng sự thật đó là điều kiện để mình tập làm chủ. Biết thân không thật, dù mình chiều uốn cách nào đi nữa rồi nó cũng bại hoại, không ra gì. Nên bây giờ trong cuộc sống này mình phải làm chủ nó.

Làm chủ được sự đau nhức của chân thì sẽ làm chủ được những đòi hỏi khác của thân. Một cái làm chủ được thì những cái khác mình sẽ làm chủ được. Nếu việc này mình thua thì những việc khác cũng thua luôn. Như vậy cả đời chạy theo cái hư giả, chấp nhận làm những việc hư giả, đến chết cũng không có nghĩa lý gì hết. Đó gọi là sống như kẻ mù, kẻ mê, chết sẽ tiếp tục làm người mê nữa, không lợi ích gì cho mình và chúng sanh.

Bước đầu vào thiền viện, cái khó nhất là tụi con ngồi cho đủ giờ. Đó là khó nhất, nhưng phải can đảm dù chết thì chết chứ không đứng dậy. Như Thầy từng nói với tụi con nhiều lần, khi Thầy tập ngồi thiền, không ai bắt buộc mà Thầy vẫn ráng, ngồi được một tiếng rồi phải tăng lên tiếng rưỡi, tiếng rưỡi rồi phải tăng lên hai tiếng. Từ tiếng rưỡi tăng lên hai tiếng, có hôm ngồi tê tới bụng chứ không phải chỉ tê ở chân thôi, nhưng Thầy chấp nhận, tê quá thì chết luôn, thà ngồi trên bồ đoàn chết chứ không buông chân. Thật ra có chết đâu, tê riết rồi nó tự hết, cũng chịu được chứ không chết chóc gì.

Qua kinh nghiệm đó Thầy không sợ tụi con ngồi thiền bị tê, bị đau rồi chết. Không chết thì có gì đâu mà quá sợ. Thầy đã kinh nghiệm rồi nên Thầy không sợ, do đó mới bắt tụi con ngồi hai giờ. Tuy nhiên phải chịu đau nhức. Nếu đau nhức không sợ tức là mình thắng được, làm chủ được thân.

Vì vậy bước đầu là làm chủ thân, để mượn nó làm con thuyền chèo đi đâu theo ý mình muốn. Nếu mình không làm chủ, nó quay cuồng thì làm sao chèo tới bờ bến. Mình phải làm chủ lấy nó để hướng đi theo con đường của mình. Đó là điều quan trọng số một về thân.

Điều quan trọng thứ hai là về tâm. Lâu nay tụi con cứ nghe nói mình có Phật tánh, chân tâm, nhưng ở đâu thì không biết. Như vậy tại sao có Phật tánh, chân tâm mà mình không biết? Tại vì mình cứ chạy theo vọng tưởng hoài. Vọng tưởng là hư dối mà cứ đuổi theo. Có khi nào bỗng dưng năm phút, mười phút hoặc nửa giờ tụi con ngồi không có vọng tưởng không? (Đây là nói lúc thường ở ngoài chứ không phải ngồi thiền). Chúng ta ít khi được yên tĩnh bởi vọng khởi liên tục. Chỉ khi mình biết được vọng thì vọng mới lặng. Phải hàng phục được thì chơn thật hiện tiền không ở đâu xa hết.

Cái thật không cần tìm mà nó sẵn như vậy. Tụi con muốn thấy chân tâm thì phải buông vọng tưởng, nếu theo vọng tưởng tức quên chân tâm, không nghi ngờ. Hai cái đó được một thì mất một, bây giờ chọn cái nào? Chọn chơn tâm thì phải bỏ vọng tưởng, còn nếu theo vọng tưởng thì quên chơn tâm. Thầy thường ví dụ như đêm rằm, trên bầu trời có trăng sáng, nhưng mây đen lớp này, lớp kia kéo tới hoài thì mình thấy mặt trăng không? Chỉ khi nào mây không kéo tới nữa thì mặt trăng sáng tỏ, không tìm kiếm mà hiện hữu, đó là lẽ thật.

Bởi vậy chúng ta ngồi tu cốt đi tới chỗ cứu cánh là nhận ra được cái chân thật nơi mình, đó là chân tâm, là Phật tánh... Muốn rõ được cái thật thì phải xả bỏ những vọng tưởng hư dối kia. Không phải chỉ trong lúc ngồi thiền mới xả bỏ mà phải bỏ trong tất cả giờ. Nhưng giờ ngồi thiền là đủ điều kiện xả bỏ hơn hết, vì chung quanh yên lặng không có tiếng ồn cũng không có gì để mình phân tâm, nên dễ chăm chú, dễ thấy để xả bỏ. Nhờ sức mạnh đó giúp mình dễ tu trong lúc hoạt động ở bên ngoài.

Như vậy mục đích ngồi thiền là để thấy rõ thân không thật, làm chủ nó. Kế đó thấy rõ vọng tưởng hư ảo nên không bị nó dẫn đi. Tất cả những hư ảo đó dừng thì chân thật hiện tiền, không tìm cũng tự thấy. Đó là trọng tâm của người tu. Tụi con từ trước đến nay làm chủ được cái nào chưa? Nếu người nào làm chủ được thân tâm thì chân thật hiện tiền. Khi mình không bị thân lôi, vọng tưởng kéo thì lúc đó ông chủ ngồi sờ sờ. Mục đích ngồi thiền rõ ràng như vậy.

Giai đoạn đầu nếu phải bỏ luôn hai thứ chấp thân và tâm một lượt thì khó. Làm chủ cả hai rất khó, nên đầu tiên là làm chủ thân. Phải ngồi nghiêm chỉnh đúng theo cách thức tọa thiền để cho thân được an ổn, làm chủ nó rồi mới làm chủ tâm.

Về thân, Thầy chỉ cho tụi con ngồi thiền, nếu ngồi kiết già, thì chân trái bắt trước, kéo cho sát lên, rồi kế đó chân phải hoặc ngược lại. Chỗ lòng bàn chân bị trũng nên chêm gối nhỏ kê tay. Đó gọi là ngồi kiết già hay là toàn già. Nếu ngồi bán già thì chân phải bắt qua đùi trái hoặc ngược lại. Hồi xưa Thầy không bắt buộc, ngồi kiết già hay bán già cũng được, nhưng sau này quý vị đi học dưỡng sinh về kể Thầy nghe, khi tập dưỡng sinh có nhiều ông già bà già tập ngồi thế hoa sen (kiết già). Tại sao người ta bắt ngồi thế này? Vì ngồi tư thế này máu huyết lưu thông dễ, hơi ấm nhiều. Ngồi toàn già có hai kiểu: kiết tường và hàng ma; bán già cũng có hai kiểu ấy.

Tại sao mình chêm gối kê tay? Để có mặt bằng, mình đặt hai bàn tay lên cho cân, giữ hai vai ngang nhau. Hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, đừng bắt hai tay lại vì kềm quá không tốt. Để tay như vậy gọi là ấn tam muội. Tụi con thấy tượng Phật đặt bàn tay phải trên tay trái. Ở đây mình cũng làm như vậy.

Ngồi thiền có nhiều trường hợp du di, không có nguyên tắc cố định. Như bồ đoàn, lâu nay Thầy nói bề cao hai tấc, nhưng to cao như người Mỹ ngồi bồ đoàn đường kính hai tấc không được thì phải ngồi bồ đoàn rộng hơn. Còn người thấp, ngồi bồ đoàn ca0 hai tấc, chân họ ngắn nên bắt chân lên không được. Vì vậy tụi con thấy không có luật cố định, người cao tay dài, chân dài thì bồ đoàn phải cao hơn một chút, người mập ngồi bồ đoàn lớn hơn một chút mới vừa. Còn người thấp lùn, bồ đoàn phải thấp hơn vì chân họ ngắn, nhất là người nào bụng to càng khó ngồi. Như vậy bồ đoàn và tọa cụ cũng tùy theo vóc dáng của mỗi người chứ đừng có cứng nhắc.

Bây giờ là phần nhập thiền. Khi bắt chân lên rồi, phải chỉnh thế ngồi cho ngay ngắn, để tay sao cho hai bả vai bằng nhau, cùi chỏ hơi khép vào hông. Đầu hơi cúi, mắt nhìn về phía trước khoảng sáu đến chín tấc. Muốn cho đầu cúi ngước vừa chừng thì phải để hai trái tai đối với bả vai. Muốn giữ đầu không nghiêng bên trái hoặc bên phải thì chót mũi, hai đầu ngón tay cái và rún phải thẳng một hàng. Đó là cách giữ đầu không bị nghiêng qua nghiêng lại. Như vậy tự biết sửa mình, đừng đợi người khác sửa, vì có những lúc phải ngồi riêng một mình, như vào thất thì phải tự kiểm lấy.

Đó là tư thế ngồi khi nhập thiền. Bây giờ bắt đầu vào thiền thì sao? Phải chuyển thân, để nguyên tay ấn xuống, cái đầu mạnh cái thứ hai từ từ nhẹ, bảy lần như vậy. Rồi thở ba lần, khi hít vô tưởng không khí trong sạch vào khắp châu thân, thở ra tưởng tất cả phiền não bệnh hoạn ra hết. Thở ba lần như vậy, hít bằng mũi thở bằng miệng. Rồi ngậm miệng, lưỡi để lên trên - chứ không cần cong lưỡi - để khỏi bị chảy nước miếng.

Đến phần trụ thiền, từ đây về sau thở bằng mũi, không thở bằng miệng nữa. Nếu tụi con chưa thuần thì ban đầu mượn hơi thở để điều tâm. Hít vô sâu thở ra hết, đếm một; hít vô sâu thở ra hết, đếm hai; tới mười, rồi trở lại đếm từ một. Vì tâm mình còn quá loạn nên đếm như vậy, đó là bắt làm hai việc: một là theo hơi thở, để biết hơi thở tới đâu; hai là nhớ số. Nhờ nhớ hơi thở và nhớ số nên quên các thứ khác, đây chỉ là phương tiện ban đầu thôi.

Nếu người khá hơn thì không cần đếm số nữa, chỉ theo hơi thở thôi. Hơi thở vô tới đâu mình biết tới đó, ra tới đâu biết tới đó. Ví như người đòi nợ, người thiếu nợ đi tới đâu thì mình đi theo tới đó để đòi, đi sát sau lưng chứ không bỏ quên.

Tụi con lúc ngồi thiền mặt tươi tỉnh, đừng có quạu đeo. Có nhiều đứa ngồi bặm môi, coi dữ dằn quá. Ngồi thiền dáng vẻ phải tươi tắn, vui vẻ, thanh thoát. Từ khi bắt đầu thở ba lần về sau, mình thở vô ra đều, nhẹ nhàng. Vừa có niệm khởi thì buông, chỉ nhớ hơi thở thôi, đó là đúng. Có những người ngồi thiền nhắm mắt tập trung hồi lâu thì đầu nhức, phải làm sao? Phải trở lại chú ý hơi thở suốt tới đơn điền, nghĩa là hít vô, thở ra nghe động ở đơn điền, theo Minh Sát Tuệ gọi là phình xẹp, chú ý vào đó thì hết nhức đầu. Hơi thở rất quan trọng, tụi con đừng nên xem thường.

Khi nào tâm tụi con bớt vọng thì không cần theo hơi thở nữa, chỉ ngồi yên, rõ biết, vọng dấy lên liền buông. Vọng lặng thì sống với cái hiện tiền.

Nếu ngồi thiền nghe lói là do kềm giữ. Tụi con ngồi thiền có ai nhắm mắt không? Nhắm mắt không phải lỗi, nhưng do ngồi nhắm mắt, chú tâm để kềm giữ cho yên nên mới bị lói. Tụi con nên mở mắt nhìn xuống hoặc tuy nhắm mắt mà nhớ hơi thở động nơi đơn điền. Đừng kềm giữ trên đầu hoặc ở ngực. Đau đầu là do nhắm mắt mà kềm, hoặc tức ngực là do ngồi ễnh. Nếu ngồi nghe đau một bên là do bồ đoàn nghiêng, tụi con sửa lại cho ngay. Khi nào nghe đau thắt lưng là do lưng hơi rùn xuống, phải ngồi thẳng lên. Nếu đau một bên vai là vì vai bị xệ xuống, phải chỉnh cho hai vai ngang nhau.

Đến phần xả thiền, trong lúc ngồi thiền mình nhiếp tâm, nên lúc xả thiền trước hết phải khởi tâm hồi hướng. Kế đến hơi thở, nhưng khác hơn lúc nhập thiền, mọi động tác hay hơi thở từ nhẹ đến mạnh. Khi hít vô tưởng không khí trong lành vào khắp châu thân làm tất cả mạch máu lưu thông. Khi thở ra tưởng bệnh hoạn phiền não theo hơi thở ra hết. Hít vô bằng mũi thở ra bằng miệng ba lần. Tụi con nhớ lúc nhập thiền thì chuyển thân trước rồi mới hít thở ba hơi, còn khi xả khởi niệm hồi hướng trước rồi mới hít thở.

Đến động thân, chuyển hai bả vai mỗi bên năm lần, đầu cúi xuống ngước lên năm lần, quay qua phải qua trái năm lần. Nhớ xả rất nhẹ nhàng, nghiêm chỉnh. Tới phần tay, xòe nắm năm lần, rồi bắt đầu chuyển động toàn thân, bảy lần từ nhẹ đến mạnh. Sau đó bắt đầu xoa, theo kinh nghiệm bản thân Thầy và theo nhiều người chuyên về dưỡng sinh cho biết, ở mặt và tai có rất nhiều huyệt, nếu ngày nào cũng xoa thì rất tốt. Vì vậy Thầy cho xoa mặt hai mươi lần, xoa hai tai hai mươi lần, đầu hai mươi lần, chà gáy hai mươi lần, trước cổ hai mươi lần.

Kế đến một tay đặt trên hai bả vai một tay dưới nách, tay trên vai kéo xuống, tay dưới nách kéo qua, xoa hai mươi lần. Rồi đặt một tay sau lưng (xoa bằng lưng bàn tay), một tay trước ngực, xoa ba phần ngực, bụng và bụng dưới, mỗi điểm năm lần. Sau đó tới thắt lưng, mông và đùi xoa thật kỹ. Cuối cùng xoa mắt, chà hai ngón giữa cho nóng áp lên mắt. Xong, một tay nắm mấy đầu ngón chân, một tay đỡ cổ chân từ từ thả xuống, xoa từ trong ra ngoài, chà lòng bàn chân cho nóng. Ngồi tới hai tiếng nên phải xả kỹ từ mười đến mười lăm phút rồi mới đứng dậy tụng kinh hồi hướng.

Tại sao chúng ta phải ngồi thiền? Bởi vì ông chủ có sẵn rồi nhưng còn mấy chú vọng tưởng hoành hành nên phải đuổi đi, giống như mây che trăng, mây hết thì mặt trăng hiện. Sống với ông chủ thì không theo giả, sống với ông chủ tức là sống với cái hiện tại của mình chứ không bị hư vọng lôi dẫn. Chuyện tu hành tế nhị lắm, phải nắm vững mới thực hành đến nơi đến chốn.

Nãy giờ Thầy dạy tụi con thuộc hết chưa? Bữa nào Thầy bắt trả bài từng đứa, bởi vì sau này làm thầy người ta thì phải dạy cho đúng, chứ ở đây rồi sau về dạy người ta ngồi thiền tầm bậy tầm bạ đâu có được. Tại sao xả kỹ hơn nhập tụi con biết không? Tại vì mình ngồi lâu, nếu không xả kỹ sau này bệnh. Một là gân sẽ bị cứng, vì chân còn tê mà đứng dậy đi, sau gân cứng tê bại rất nguy hiểm. Hai là cơ chân cứ bị giật giật. Vậy nên tụi con ráng xoa kỹ cho quen.


Ngày 28-11 Mậu Dần (15-1-1999)

Buổi thỉnh nguyện hôm nay toàn chúng chỉ có một chút lỗi nhỏ. Như vậy rất tốt. Mong rằng tất cả tụi con mỗi năm mỗi tiến bộ, những sai lầm giảm bớt, những phiền não nhẹ đi, để cho sự tu hành ngày càng trong sáng hơn. Đó là lời nhắc chung.

Bây giờ có một điều Thầy nhắc nhở tụi con, tất cả ráng nhớ để cố gắng tu. Nói tới sự tu hành thì tinh tấn là đức rất lớn không thể thiếu được. Người tu mà thiếu tinh tấn thì không thể đạt được mục đích mình nhắm, nên tinh tấn là sức mạnh thúc đẩy, lôi kéo mình tiến lên không cho lùi. Người nào ưa giải đãi nhất định sẽ thối lui không bao giờ tiến được.

Tụi con thấy, làm việc gì dù nhỏ hay lớn đều phải nỗ lực cố gắng thì mới thành công. Như người đi học muốn thi đậu tất phải chăm chỉ cố gắng, quên ăn quên ngủ mà học thì mới có kết quả, còn nếu học lơ mơ sẽ không đạt kết quả. Chuyện đời đã vậy, còn việc đạo, người tu muốn từ phàm tục tầm thường chuyển lên bậc thánh hiền không phải chuyện dễ, hết sức cay đắng, khó khăn. Nói cay đắng khó khăn là vì mình đã quen tập những thói quen xấu, những mê lầm nhiều đời nhiều kiếp, nên ngày nay quyết tâm dứt bỏ nó không phải là chuyện dễ. Bởi vậy người tu mà thiếu tinh tấn thì tuy phát tâm tốt đi tu cầu giải thoát nhưng rốt cuộc lại không tới đâu.

Vừa rồi có bà Phật tử đến kể với Thầy: Hôm nọ bà tới một ngôi chùa, có một thầy ra hỏi bà đi đâu, bà thưa: "Con đi lễ Phật và viếng thăm quý thầy". Lúc đó quý thầy đang coi ti vi, ti vi đang chiếu cuộc đá bóng nên không ai muốn tiếp bà. Bà hỏi Thầy: "Như vậy tụi con đi chùa không biết học hỏi cái gì?".

Tụi con thấy, nếu thả tâm chạy theo trần cảnh thì rất dễ, còn thúc liễm mình để tiến tu rất khó. Nhưng đã quyết tâm tu thì chính cái khó làm, mình phải làm được, chứ không thể vì lý đo khó mà thả trôi. Cho nên Thầy nhắc tất cả tụi con tu, có hai trường hợp mình phải tinh tấn:

Trường hợp thứ nhất, khi tu mình phải luôn nỗ lực, không lười trễ từ thời khóa tới công tác, lúc nào cũng nhiệt tình hăng hái, đừng bê tha. Đó là tinh tấn giữ đúng điều lệ, nếp sống của thiền viện.

Trường hợp thứ hai, phải tinh tấn nơi nội tâm. Khi quyết tâm tu gặp biết bao khó khăn do tập nghiệp của mình quá sâu dày, nếu đem phân chia hay hình thức hóa nó thì có thể đầy sông lấp núi chứ không phải thường. Vậy nên phải hăng hái, cố gắng nỗ lực, từ giờ tu tới giờ công tác ở ngoài cũng thầm lặng chuyên cần. Không nên hạn chế trong giờ tu mới cố gắng ngoài ra thì thả trôi. Phải luôn quán chiếu lại mình, xem xét cho thật rõ, đừng để tâm chạy tứ tung.

Như vậy, tinh tấn giúp tụi con tu mau tiến, tiến được rồi càng hăng hái trên đường tu. Chứ nếu thả trôi một thời gian, tự nhiên mình thấy thối tâm, bị thụt lùi không theo kịp người khác, rồi tự sanh chán nản. Tinh tấn là điều rất thiết yếu trong sự tu.

Thầy nhắc câu chuyện trong kinh hệ Pali, kể rằng:

Ngày xưa có một vị Tỳ kheo ni tên Citta. Bà là người yếu đuối, bị bệnh kinh niên nên tu rất khó khăn, có khi đang khỏe mạnh đột nhiên ngã bệnh. Bà rất khó chịu nhưng vẫn luôn can đảm, dù bệnh hay không lúc nào cũng tiến tu không dừng. Sức cố gắng của bà quá mạnh, một người chị cùng xuất gia thấy vậy khuyên: "Em tu vừa phải, đã bệnh yếu mà còn ráng quá, chắc không đi trọn con đường". Tuy nghe như vậy, nhưng bà biết mình đã già yếu không thể chần chờ được nên vẫn luôn cố gắng.

Hôm nọ, bà leo lên ngọn đồi để tọa thiền. Bà leo với tâm chánh niệm, nhất định phải lên tới ngọn đồi. Lúc đó bà yếu lắm, có khi ngã lăn, nhưng vẫn cố gắng quyết leo lên tới nơi. Bà hạ quyết tâm: "Hôm nay hoặc là chết hoặc là phải diệt tận phiền não". Mỗi lần té ngã bà đều lập lại quyết tâm đó, hoặc là chết hoặc diệt sạch phiền não, chứ không nghĩ gì khác. Nhờ vậy bà lên tới ngọn đồi. Trong lúc tọa thiền bà cũng quyết tâm như vậy. Sau buổi tọa thiền đó bà ngộ đạo.

Như vậy tụi con thấy, người tu mà dám liều chết sống với sự tu thì mới có kết quả. Ngày nay mình có cái yếu dở là trong khi ngồi thiền hơi bệnh một chút liền xả ra, hứa hẹn mai mốt khỏe sẽ tu tiếp. Rồi mai kia bệnh nữa lại hẹn tháng sau sẽ tu tiếp, cứ như vậy mà thả trôi. Sư ni Citta bệnh kinh niên không thể trị nổi, bà liều chết tu. Chính nhờ liều chết tu mà bà thành công.

Trên đường tu tụi con thấy gương người xưa, dám chết sống tu thì cái gì cũng đạt được, còn mình cứ e dè sợ sệt lo giữ thân này, dù cố giữ mấy mai kia cũng chết không còn gì hết. Biết vậy ta phải lợi dụng thân này để vượt lên đạt được mục tiêu mình nhắm, như vậy mới thật khôn ngoan, xứng đáng là người xuất gia cầu thoát ly sanh tử.

Tu hành là quyết chí liều sống chết, đừng vì một hai lẽ, hoặc bệnh, hoặc yếu rồi lo dưỡng cái thân, cuối cùng nó cũng hoại mà đời tu của mình không thành công. Người biết tu bao giờ cũng nghĩ mình có thân này để tu, chứ không phải có thân này để giữ. Nó là cái bại hoại mà cố gìn giữ có được không? Giữ không được mà vẫn cố giữ có phải là ngu si không? Cho nên khi biết thân là thứ không giữ được thì mình lợi dụng nó để vươn lên, để tiến tu cho đạt được kết quả. Không nên cưng chiều nó, đừng sợ nó yếu, bệnh, hoặc thế này thế kia... Tất cả những cái đó đều là phụ thuộc. Hễ ý chí, nguyện lực của mình mạnh thì cái gì cũng làm được, việc gì cũng sẽ thành công.

Giờ tu, nhất là giờ ngồi thiền khuya hay ngủ gục. Mà ngủ gục trạng thái của nó ra sao? - Giải đãi, hôn trầm, say ngủ. Muốn giải quyết cái say ngủ, giải đãi đó mình phải nhướng mắt lên, mạnh mẽ, cương quyết, nhất định thà chết chứ không thua nó. Như vậy tụi con sẽ thắng được, còn nếu cứ chiều nó "ờ thôi nó mệt, để cho nó thiu thiu một chút cũng được" thì sẽ ngủ hoài. Vậy là ngồi ngủ chứ không phải ngồi thiền.

Ngồi thiền là phải tỉnh sáng, không thiền là để ngủ. Lối tu của mình nhẹ nhàng, nếu không nỗ lực sẽ dễ đi tới hôn trầm. Người biết tu rồi, giờ nào thấy hơi yếu, hơi giải đãi thì phải cương quyết, phải mạnh mẽ lên. Như vậy tụi con tu sẽ thành công. Không có thành công nào bỗng dưng tự đến, mà thảy đều do sự cố gắng, nỗ lực của mình.

Tụi con phải nhớ, từ giờ tu, đến giờ công tác, giờ nghỉ ngơi... lúc nào tụi con cũng phải biết rõ và quyết định rằng trên đường tu không bỏ suông phút giây nào hết. Phải có lợi ích, phải có tiến bộ, không nên tu mà thả trôi. Vì vậy những lúc tụi con bàn luận, nói phải quấy, nói hơn thua, đó là lúc tụi con tinh tấn hay thả trôi?

- Dạ, thả trôi.

Bên Ni chắc giờ đó nhiều lắm phải không? Tụi con lúc nào cũng phải cố gắng, phải miên mật. Dù không phải giờ ngồi thiền, tụi con vẫn giữ chánh niệm. Lúc nào cũng phải nhớ con khỉ bên trong mình đang nghỉ hay đang chạy nhảy để điều phục nó. Được như vậy là tụi con tiến. Chứ phải quấy, hơn thua với nhau thì được cái gì? Ai cãi giỏi lắm là người giỏi cãi, chứ không phải là người giỏi tu.

Bởi vậy tụi con phải nhớ luôn cố gắng, lúc nào cũng nên tinh tấn. Nếu huynh đệ không tinh tấn mình vẫn cố gắng tinh tấn. Đừng thấy người ta nói chơi, cười vui, rồi mình cũng hùa vô dự thính, không tốt. Nếu ai nấy đều cố gắng tu, thầm lặng tu, tự nhiên mọi việc đều tốt đẹp. Còn ai cũng hùa nhau bàn thị phi thì mọi việc đều không tốt.

Vậy nên tụi con phải nỗ lực, tinh tấn. Một đời mình ngắn lắm, mới đó đã thấy già, thấy chết, nó không chờ mình. Nên ngày nào còn khỏe, còn làm được thì phải ráng làm, ráng tu, đừng bỏ mất thời giờ quý báu. Đó là lời Thầy nhắc nhở hôm nay.


Ngày 28-12 Mậu Dần (13-2-1999)

Hôm nay là ngày cuối năm, tất cả tụi con đồng ra sám hối. Qua một năm tụi con tu hành có những bước tiến tốt, nhưng cũng không tránh khỏi những lỗi nhỏ. Nay Thầy có vài điều nhắc nhở tụi con.

Sở dĩ Thầy nói rằng Thiền viện Trúc Lâm này là lý tưởng tối hậu của đời Thầy, không phải do Thầy cất chùa to, có cảnh đẹp, mà vì ở nơi đây Thầy tạo được duyên tốt, đủ điều kiện để tụi con yên tâm tu. Thầy nghĩ nếu tụi con yên tâm tu thì dĩ nhiên sẽ có tiến và tiến được những bước xa. Do đó Thầy lúc nào cũng trông đợi tụi con tu có kết quả, mọi phiền não rơi rụng hết, để mai kia khi Thầy mệt mỏi, tụi con có thể thay thế Thầy, thay cho huynh đệ làm phật sự nơi này nơi kia. Đó là sự trông đợi của Thầy.

Tụi con xét kỹ xem, hiện nay ở tại thiền viện, tụi con khỏi bận tâm lo về kinh tế hoặc về pháp lý đối với chính quyền, cũng khỏi bận tâm lo làm sao có cơm ăn áo mặc hoặc lo khi bệnh hoạn... Tất cả những vấn đề đó Thầy đều bảo bọc, cho tới những chuyện đi đám, cúng kính... Thầy đều bớt hết, để tụi con chỉ có một việc yên tu. Tuy nhiên, tu không phải là ngồi một chỗ, mà tụi con cũng cần lao động chút ít, làm việc này việc nọ trong buổi sáng để cho có sức khỏe, vì mình ngồi một chỗ lâu sẽ sanh bệnh.

Thầy muốn tụi con trong khi tu được đầy đủ điều kiện tốt, không phải bận tâm lo nghĩ một điều gì, cũng không bị ai làm phiền nhiễu, để cho trong hai, ba năm tụi con tu có những tiến bộ đáng mừng, sau này sẽ làm được phật sự thay cho huynh đệ, thay cho những vị đi trước mình. Cuối năm nay Thầy được cái vui là sẽ cất thêm hai cái thất nữa, để tụi con có cơ hội vào thất. Thầy thấy đa số người vào thất ra đều có kết quả tốt. Chỉ một vài người vì duyên sự bệnh nên tiến không được nhiều, có khi không tiến.

Thầy mong rằng năm tới, tất cả tụi con từ lớn tới nhỏ, trên phương diện tu, dù ở ngoài hay vào thất đều nỗ lực, cố gắng tu cho đạt kết quả tốt. Dù không nhiều cũng phải có, chứ đừng để mất thời giờ quý báu của mình mà không tiến được bao nhiêu. Hơn nữa tất cả tụi con là người quyết chí tu mới đến thiền viện này, không nên vì những lý do nhỏ nhặt mà phiền hà nhau để sanh phiền não làm chướng ngại sự tu. Vì tu cốt làm sao cho tâm mình an, một phiền não dấy lên là đã phá hoại tâm an của mình rồi.

Vậy nên tụi con phải khéo điều hòa, dù cho ở cảnh nào, dù có một hai điều chướng tai gai mắt, tụi con cũng phải bỏ qua hết. Chỉ lo làm sao tâm mình được an ổn, ngồi thiền được kết quả, đó là tụi con khôn ngoan. Chính đó cũng là điều Thầy đang trông đợi ở tụi con. Mong năm tới tất cả tụi con đều cố gắng hơn. Đó là lời thầy nhắc nhở cuối năm.

Mục Lục