Thiền Tông Việt Nam
Nấc Thang Tiến Đạo
Sống Tu Tập

Hôm nay nhân ngày Tạ pháp cuối năm 2011, chúng ta cùng đúc kết và chia sẻ những trải nghiệm trong công phu tu học suốt thời gian qua.

Trước hết tôi nhận thấy nhiều Phật tử trong đạo tràng ngoài thời gian tu học theo thời khóa tại Thiền viện Thường Chiếu, còn tham dự tu học đạo tràng các nơi. Đây là điều đáng mừng. Tuy bận rộn nhưng quý vị vẫn sắp xếp thời gian sinh hoạt cùng đạo tràng. Quý Phật tử đã cố gắng hành trì công phu và quyết tâm thực hành cho được khi về tại tư gia. Ngoài việc học đạo và tu tập quý vị lại phải bận rộn lo lắng cho việc đời thường như chuyện làm ăn, chuyện gia đình. Đây là nhân duyên chiếm rất nhiều thời gian. Cho nên đến thời học pháp có khi không theo được thời khóa mặc dù cũng có sinh hoạt đạo tràng. 

Đến chùa được nghe quý thầy cô giảng dạy, ráng tu học nhưng khi về nhà thì nhiều việc quá. Có khi quyển kinh học tháng trước, về để trên bàn lụi hụi tới tháng sau đi học cũng chưa một lần lật ra xem. Khi thầy cô giảng dạy mình lại không biết đang nói về vấn đề gì, công phu như vậy nhất định là thiếu sót rồi. Do đó Phật tử cần chỉnh đốn lại chỗ này. Cuộc sống và việc tu tập nên hòa quyện giống như một bản nhạc sống động, âm điệu trầm bỗng du dương và chính quý vị là những nghệ sĩ tài hoa tấu lên bản nhạc đó.

Nhớ lại những năm Hòa thượng về Trà Ôn, huynh đệ chúng tôi được đi theo. Tại Tổ đình Phước Hậu, Hòa thượng kể lại Ngài phát tâm xuất gia tu học ở chùa Phật Quang, rồi được Hòa thượng Sư Ông đưa về Tổ đình Phước Hậu tu học, sau đó về thành phố. Một hôm huynh đệ chúng tôi theo Ngài vô chùa Thiên Phước, chùa nằm trong vùng chợ Trà Ôn, đi qua lạch nước nho nhỏ. Hòa thượng đi thẳng đến bàn Phật lễ Phật, rồi trở ra nhà Tổ thăm viếng chung quanh. Nơi nào cũng có liên hệ với Ngài, Hòa thượng nhắc lại ngày xưa việc tu học ra sao, Ngài ở đây làm gì.

Trong một lần thuyết pháp, Hòa thượng dạy: "Nếu mấy chú biết áp dụng pháp tu, nhớ lời dạy của Phật Tổ thì chắc mấy chú tu thành Phật hết". Đó là lần chúng tôi theo Hòa thượng về thăm quê hương của Ngài, được đến một ngôi chùa xưa và biết được nơi đây cũng có những kỷ niệm tu học thời là Tăng sĩ trẻ của Ngài. Qua đây, tôi muốn chia sẻ với quý vị rằng chúng ta làm việc gì cũng bắt đầu từ sự thâm nhập, từ cái tâm của mình. Quyết định làm việc gì đó đã đành rồi, nhưng phải có sự chuyên nhất và quyết tâm. Nhờ quyết tâm mới loại được tất cả những vướng bận, ương yếu. Đây cũng chính là điều bổ ích cho việc tu tập của chúng ta.

Phật tử đi nhiều chùa, nghe nhiều vị giảng sư thuyết pháp, đồng thời đọc sách thêm nên có những cảm nhận về lời dạy của Phật thế này thế khác. Khi đã thâm nhập được phần nào rồi, chúng ta ghi nhận và áp dụng thường xuyên thì việc tu nhất định thành tựu. Sống và tu tập là sao? Nghĩa là tiếp thu rồi áp dụng nhuần nhuyễn lời Phật dạy vào sinh hoạt đời sống của mình. Nếu quý vị biết phổ giáo pháp vào trong đời sống, biến nó thành bản hòa tấu nhịp nhàng với việc ăn mặc, tiếp khách, đi lại, làm việc, đó chính là tu tập.

Tuy nhiên cũng có những điều hạn chế, được thuận lợi về mặt này nhưng lại khó khăn về mặt khác. Khó khăn gì? Hòa thượng dạy trong lúc chúng ta tu, những gì dấy lên là bỏ liền, phải dùng cây kiếm trí tuệ sắc bén chặt cho đứt, mới bảo vệ trọn vẹn được điều chúng ta đang hành trì. Đối với việc tu hành và đời sống, quý Phật tử phải làm sao? Không phải lúc nào quý vị cũng uy nghi trong nét của người tu hành. Dĩ nhiên Phật tử còn phải đi làm, đi chợ, tiếp cận rất nhiều với mọi giới trong xã hội. Cho nên phải hòa điệu như thế nào để chúng ta vừa tu được vừa không làm chướng ngại kẻ chung quanh. Nên nhớ không phải mọi người đều đến chùa tu như mình, cho nên có khi quý vị tụng kinh hay thỉnh chuông phải sắp đặt giờ giấc cho thích hợp. Mọi người xung quanh còn đang nghỉ ngơi mà mình đánh chuông mõ lớn quá sẽ làm động người ta. Nếu người ta bực bội rồi thì ảnh hưởng đến việc tu của mình.

Từ cách sống không hòa điệu của quý vị nên xảy ra những gay cấn. Gay cấn này đổ cho ai? Nhất định không thể đổ cho mấy thầy hướng dẫn quý vị tu rồi, cũng không thể đổ thừa cho người nào khác. Có vị nói ở nhà bận quá, đầu đêm không thể tu tụng được, lúc mọi người trong gia đình ngủ nghỉ mới tu tụng được. Đành rồi, như vậy cũng hay nhưng đó là giờ tu tụng cho chính mình chứ không phải cho những người thân đang cần ngủ, cần nghỉ ngơi. Tu cho chính mình mà làm động tới người khác là điều không tốt. Đây cũng là một kinh nghiệm sống và tu tập. Biết đem Phật pháp, đem nghi thức, đem tiếng chuông mõ, lời kinh kệ vào trong đời sống tu học của chính mình mà không ảnh hưởng gì chung quanh thì sự tu tập mới tốt.

Không chỉ nói riêng các vị Phật tử bên ngoài, giả như trong đạo tràng của chúng ta có quy chế giờ tụng kinh, tọa thiền, nghe băng, làm việc, đọc sách, đi kinh hành... đã được sắp đặt theo thời khóa cố định. Như thời khóa của đạo tràng ở Thiền viện Thường Chiếu, 6 giờ chiều là khóa lễ sám hối. Trước khi bắt đầu, chúng ta sẽ được nghe tiếng đại hồng chung và tiếng đại cổ gióng lên cùng với bài kệ hô trống:

Ngày nay đã qua,

Mạng sống giảm dần,

Như cá cạn nước,

Có gì vui.

Đại chúng!

Phải siêng tinh tấn,

Cứu lửa cháy đầu,

Chỉ nhớ vô thường,

Chớ có buông lung.

Quy kính Bồ-tát Thường Tinh Tấn.

Bài kệ nhắc nhở chúng ta về sự thay đổi nhanh chóng của cuộc sống, nêu danh hiệu vị Bồ-tát Tinh Tấn cho chúng ta nương theo đó cố gắng tu tập. Nghi thức là như vây, cho nên tới giờ đó chư Tăng dốc lực gióng đại hồng chung, đại cổ lên mà không ai rầy hết. Nếu giờ đó mà im lặng thì Hòa thượng Viện trưởng sẽ hỏi liền: "Mấy chú bữa nay quên hô chuông hô trống rồi?" Sau đó là tiếng chuông mõ hòa trong tiếng tụng niệm. Thời tụng kinh kết thúc là đến thời tọa thiền, cuối cùng là chỉ tịnh. Trong đạo tràng, tiếng chuông trống, tiếng hô kệ, tiếng tụng kinh được hô lớn, đọc lớn đều rất hợp lý. Nhưng hợp lý  trong trường hợp nào? Trong trường hợp đúng thời khóa do Thiền viện quy định. Giả tỉ sau khi xả thiền, tới giờ đại chúng chỉ tịnh, quý thầy có quyền giống chuông trống lên không? Chắc chắn là không. Nếu có là trong Tổ đình có đại sự gì đó, chứ không phải bình thường. Việc làm của chúng ta nên hợp pháp trong từng thời gian, không gian, hòa quyện và phổ nó thành nếp sinh hoạt tu học chung của đạo tràng.

Quý Phật tử tại gia học pháp tu hành, chắc rằng trong đời sống cũng phải khéo léo sắp đặt sinh hoạt tu học của mình. Nên chỉ đánh chuông mõ vừa và thỉnh thoảng thôi. Trong giờ nghỉ ngơi của gia đình thì không nên đánh tiếng chuông mõ quá lớn, làm kinh động mọi người. Hà huống là đối với hàng xóm xung quanh khu phố, nếu giờ đó mình đánh chuông mõ quá lớn, chắc chắn người ta sẽ quở nhắc, nếu mình không sửa đổi người ta sẽ thưa đến các cơ quan hữu trách trong khu phố. Đời sống và sự tu học của chúng ta nên sắp xếp làm sao cho khế hợp, ổn định với sinh hoạt đời thường của mọi người xung quanh, như thế sẽ tránh được tất cả những sự cố gay cấn. Tôi nhớ có lần được nghe Sư cô Như Thủy kể, Cô đi giảng ở thành phố, giảng xong nghỉ trưa tại nhà Phật tử. Hạnh Châu là thị giả. Nằm một hồi, Cô gọi: "Châu! Châu! Em ra ngoài coi ai cãi lộn dữ vậy?" Hạnh Châu đi một vòng trở lại nói: "Cô ơi, không có ai cãi lộn mà người ta đang nghe băng của cô giảng đó". Nói xong Thầy trò nhìn nhau cười. Cho nên phải khéo léo mọi việc như là bản hòa tấu. Được vậy, thành quả của chúng ta trong quá trình tu học đạt khoảng chừng 20% rồi.

Tôi muốn chia sẻ về ý thức tu hành. Sự việc mà chúng ta thường xuyên chạm mặt là bản chất của vô thường. Bản chất vô thường là gì? Là sự thay đổi liên tục. Nếu chúng ta luôn cảm nhận và sống thực được với bản chất này thì chúng ta giác ngộ rất dễ. Không luận hình thức xuất gia hay tại gia, người đủ tỉnh sáng, cảm nhận bản chất của sự đổi thay giữa đây thì ngộ đạo. Bài pháp Tứ Đế Đức Thế Tôn đã dạy, chúng ta thấy những vấn đề Ngài nêu ra là vấn đề sống thực tế chứ không phải điều gì mới lạ. Ngay đó nhận được đến nơi đến chốn, tức nhận được lẽ thực của các pháp thì kiến đế, tức thấy chân lý. Cũng vậy, bản chất của sự đổi thay này, nếu tất cả người học Phật đều cảm nhận và sống thực với nó thì nhất định trong lòng sẽ rỗng rang sáng suốt, bước dần đến chỗ tâm thể nhất như. Như vậy việc tu hành đâu có khó.

Bản chất của vô thường luôn đổi thay trước mắt chúng ta. Như ngày hôm qua, cô ba Chơn Huệ ở gần thất của thân mẫu tôi, trước đó một ngày cô vẫn bình thường, nhưng đến ngày hôm sau nghe cô bị cảm huynh đệ tới thăm, một lát sau cô mệt tim rồi phút chốc theo Phật. Nếu cảm nhận sâu sắc vấn đề vô thường, con người phải đương đầu với sự đổi thay bất ngờ, chúng ta sẽ thấy bình thường khi nó đến. Người không hiểu rõ điều này, có khi cả đời cứ lơ đễnh, xem thường, để khi nó phủ lên thì hoảng loạn sợ hãi, có lợi ích gì đâu, chỉ chuốc thêm tai họa mà thôi.

Phật tử đã biết cuộc đời vô thường thế mà không lo gì hết, không nghĩ cần phải làm gì, chuẩn bị cái gì để đương đầu với nó. Thật là đáng tiếc. Nhất định ai cũng phải có một lần đương đầu với vô thường, không ai thoát khỏi. Nói lên lời này để chúng ta chuẩn bị. Phật tử được học Phật pháp, là người sáng suốt và có sẵn trong tay những phương thức tu tập, đủ tư cách ngồi trực diện với vô thường. Nếu có thể chúng ta chuẩn bị trước, chứ không phải đợi đến lúc hấp hối, tay chân quơ quào, lo lắng mời thầy đến khai thị hay cầu an cầu siêu thì không kịp đâu. Khó lắm, không phải chuyện đơn giản.

Cả đời mình nghe hiểu Phật pháp như vậy còn chưa hành trì được thì làm sao một hai lời nói của thầy cô có thể giải quyết được nghiệp tập cả khối đây. Mong manh như vậy mà Phật tử cứ vớ vào đó đợi chờ, ỷ lại thì quả thực là chưa chuẩn bị gì cho mình cả. Chính Hòa thượng Trúc Lâm đã dạy chúng ta và bản thân Ngài cũng đã chuẩn bị. Trong suốt một đời tu hành, nhất là khôi phục và gầy dựng tinh thần Thiền tông Phật giáo Việt Nam, Ngài đã nhận định đúng và đã làm đúng nên bây giờ Thiền phái Trúc Lâm được mọi người ngưỡng vọng, hướng đến tu tập. Sau khi công việc ổn rồi, Hòa thượng muốn nghỉ và nhập thất tu để lo việc của Ngài. Hòa thượng đã có một sự chuẩn bị như vậy.

Khi có thân bệnh là chúng ta đang thọ báo nghiệp. Báo nghiệp của từng người khác nhau, không ai biết hết được. Thân bệnh là điềm báo nhưng chúng ta lại không để ý, bởi vì cứ sống với những việc linh tinh nên quên bẵng việc chính, vì thế có khi vướng nhiều khó khăn. Nếu chuẩn bị kỹ, nhất định chúng ta vào được chỗ an ổn, khi đi cũng biết được chỗ đến, hoặc đi thẳng đến chỗ mình đã chọn. Tuyệt đối không bị nghiệp dẫn, không bị đến chỗ nào mà ta không muốn. Trong đời thường phần nhiều mình bị nghiệp dẫn, không chủ động được.

Tôi nhớ lại lời dạy của Đức Thế Tôn với một người trong hoàng thân là ông Thích Ma Ha Nam. Ông nói rằng Đức Phật đi tu, các hoàng tử lớn như A Nan, Nan Đà đi tu, rồi đến mấy ông nhỏ hơn như La Hầu La cũng đi tu, bây giờ hoàng thành còn lại mình ông. Ông phải chịu trách nhiệm quá nặng, mai kia mốt nọ khi nhắm mắt ông có được theo Phật không? Phật nói: "Không có gì lạ đâu Ma Ha Nam, ta lấy ví dụ như cái cây, bóng của nó ngả về đâu thì mai kia mốt nọ khi bị đốn nó sẽ ngả về hướng đó. Nếu hằng ngày tâm ông ma mị thế này thế khác thì những thứ đó dẫn ông đi, ta không cứu được. Nếu ông lo chỉnh đốn, tâm không bị ma mị lôi dẫn thì ông sẽ đi theo con đường sáng. Đó là trường hợp không bị nghiệp dẫn".

Rõ ràng nếu trong mọi sinh hoạt hằng ngày, người phổ vào trong đời sống những chủng nghiệp không có đạo đức, không tốt đẹp, nhất định mai kia mốt nọ thứ này dẫn họ đi. Người thích ca nhạc thì ca nhạc dẫn đi, thích xe đẹp, nhà đẹp thì nó dẫn đi, không bao giờ trật đường rầy đâu mà sợ. Nhân duyên nào nghiệp quả đó, xưa nay luôn như vậy. Trong kinh Pháp Cú nói rằng, như dấu xe đi theo bước chân của con vật kéo xe, không lệch, không khác. Cũng vậy, nghiệp nhân chúng ta gây như thế nào thì mai kia mốt nọ nghiệp quả đến sẽ như thế ấy. Ta gây những nghiệp nhân tăm tối hãi hùng, sợ sệt, điên đảo lung tung thì nhất định lúc lâm chung nó sẽ đến lôi ta đi. Một điều có thể nói là bi đát mà tôi nghĩ rằng có khi chúng ta chưa cảm nhận được. Chúng ta nên nghiên cứu cho thật kỹ lời dạy của Phật, tức là phút lâm chung, lúc mà chúng ta phải xả bỏ tất cả những gì mình ôm giữ từ bao nhiêu lâu, đã từng ham thích, những thứ đó thành áo giáp, thành đường rầy dẫn chúng ta đi vào sào huyệt của nó.

Chúng ta đủ duyên kết chủng Phật, cũng sống và hành trì Phật pháp nhưng sự gầy dựng công phu chưa bảo đảm, nên phút lâm chung chưa thể an toàn. Chỗ này chư Tổ nói giống như lúc con cua bị lột xác đau đớn vô cùng. Mình không phải là con cua, cũng chưa lột xác nhưng chúng ta biết rõ sự đau đớn ấy. Điều này chắc chắn ta có thể cảm nhận, đau đớn lắm chứ không phải thường. Như trường hợp người thân chúng ta mất, nếu là người thân bình thường, ta chảy nước mắt sơ sơ thôi. Nhưng nếu người đó là Thầy Tổ, cha mẹ mình thì chắc là mình sẽ khóc to lên, không ngại ngùng gì. Khi đó muốn dừng lại, cảm xúc ấy cũng không chịu dừng, chỉ khi nào quá mệt mỏi, nó tự dừng thôi. Cái đau khổ, mất mát này khó có ai chia sẻ được, phải không?

Đó là đối với người thân, còn tới mình bỏ thân thì sao đây? Cha mẹ cho cái thân, Thầy Tổ cho cái đầu, Phật pháp cho cái tâm. Quý vị có biết thân này sẽ mất kiểu nào không? Nghĩ tới đó mình khiếp sợ lắm chứ, bởi ta còn thương tiếc nó. Dù cho bệnh hoạn cỡ nào nhưng nghe tới chết là hoảng sợ. Khi thân xài hết được giống như chiếc xe hết date, bánh xe, căm xe, trục xe súc tung từng mảnh, mỗi thứ mỗi nơi, không thể sửa chữa nữa. Chúng ta nghe sắp chết sợ hãi kêu than, ai có thuốc gì hay cho uống để được sống, chứ chưa muốn chết. Cũng có trường hợp đau đớn quá, xin thuốc uống để chết cho khỏe. Tuy nhiên người nào nói như vậy, e là người đó sợ chết nhất. Chỉ có người sống được với đạo mới an nhiên tự tại, như các Thiền sư nói chết như cởi chiếc áo mùa hạ nóng bức nhơ nhớp. Đó là lời nói thật của những bậc đã làm chủ được thân tâm này hoàn toàn. Chúng ta chưa được như thế thì phải cẩn thận.

Hồi nhỏ khi nghe nói đến cận tử nghiệp, tôi nghĩ nó chỉ tới với những ai sắp chết, chứ mình chưa tới cho nên không sợ. Khi chứng kiến người sắp chết, họ la hét dữ quá lúc đó tự nhiên sợ. Sợ ma là một, sợ mình chết là hai, sợ ảnh hưởng của người chết tới mình là ba. Đến đỗi bậc chí thân như cha mẹ vừa chết, bảo mình đến gần thì sợ lắm. Hỏi sợ gì, nói sợ ma, như vậy chẳng lẽ cha mẹ mình là ma? Đó là một tâm lý si mê chấp ngã điên đảo, không đúng với đạo lý. Chúng ta chỉ loại bỏ được tâm lý này khi nào mình phổ Phật pháp vào đời sống và tu tập hài hòa.

Do sự tu tập không khéo khiến mình không vui khi gặp những nghịch duyên của bản thân hoặc của mọi người chung quanh. Cho nên chúng ta phải khéo léo áp dụng Phật pháp vào đời sống, như một nghệ sĩ tài hoa tấu được bản nhạc hay. Muốn thế phải hội đủ các điều kiện như giọng đàn, tiếng ca, thời điểm thích hợp và quần chúng chấp nhận. Trong tu hành, dù thâm nhập Phật pháp nhưng chúng ta cũng phải tế nhị khéo léo, buông xả một cách dễ dàng. Không khi nào đang ngồi thiền lại đi đóng cửa hoặc làm việc khác. Ngồi thiền là ngồi thiền. Nếu quỳ lạy, đều thành khẩn trang nghiêm trong khóa lễ sám hối, riêng mình làm không được. Nội tâm lý hụt hẫng đó thôi cũng làm cho mình tủi phận rồi, nói gì đến những khó khăn bên trong cơ thể khi tuổi già yếu, làm trở ngại công phu tu hành của chúng ta nhiều lắm. Cho nên chư huynh đệ còn trẻ phải cố gắng nỗ lực, tranh thủ tu, đừng để già yếu muốn tu, tu không được.

Chúng ta nên thường xuyên kiểm soát, soi xét lại mình rồi áp dụng Phật pháp, phổ được bản nhạc đạo vào đời. Thành công của người tu là làm sao làm chủ được mình, không bị cảnh duyên bên ngoài kéo lôi, trong đời sống luôn luôn không bị động. Chúng ta không chạy theo trần cảnh vì biết nó không thiệt, từng ấy việc thôi cũng đã là khá lắm rồi. Bởi việc này không phải dễ đâu. Xét lại thật kỹ lòng mình, có chuyện ta không chạy theo nhưng có chuyện không ai bảo ta vẫn vác mõ chạy theo, dính mắc gỡ không ra, chứ chẳng phải thường. Như vậy giác ngộ giải thoát tìm ở đâu? Dừng nói là học kinh Đại thừa hay làm gì cao tột mới giải thoát mà thực sự ngay trong đời sống đây, một dấy niệm chúng ta buông được là giải thoát, buông không được là trầm luân trong sinh tử.

Nên bây giờ trước nhất chúng ta nên kiểm soát lại mình trong mọi thời, mọi lúc. Tiếp khách, thọ trai, tụng kinh, tọa thiền hay đang đi kinh hành một mình, phải kiểm soát thật kỹ, nhìn thật chính xác xem mình có chạy theo các trần cảnh không. Ví dụ đang ngồi nghe pháp đây, nghe ngoài kia "đùng" một cái, mình có chạy ra không? Chạy ra liền. Bước thứ nhất là xem mình đối trước trần cảnh như thế nào, có mê mờ chạy theo nó không. Bước thứ hai là mình có làm chủ được đối với trần cảnh không? Hay là nó làm chủ mình. Hôm đó, đang ngồi đọc sách, một số Phật tử tới chào tôi, họ giới thiệu với nhau: "Đây là Hòa thượng trụ trì, quý vị đảnh lễ Hòa thượng đi". Cái mạng mộc của tôi, thấy ai cũng cười cười vậy thôi, không biết tên họ cũng không để ý chi, nghe Phật tử bảo nhau: "Ông thầy này dễ thương quá", tôi cũng tưởng thiệt như vậy. Họ lễ Phật xong rồi vòng lại thưa: "Bữa nay chúng con đi chiêm bái lễ Phật ngọc, Thầy đi không, con mời Thầy đi". Tôi cũng chưa biết làm sao, suýt chút nữa bị kéo lôi rồi. Sau khi nghe họ nói đủ thứ, tôi trả lời: "Cảm ơn quý Phật tử, chốc nữa tôi có công việc không thể đi được, thôi để hôm khác". Buổi sáng đi rồi buổi chiều họ tới nữa, tìm gặp tôi thưa: "Thầy ơi, mai mốt đi nghe Thầy, lễ Phật ngọc có phước lắm". Tôi lại cười, họ ở chơi tới gần tối mới về.

Ở đây, tôi muốn nói tới chỗ mình bị kéo lôi. Chúng ta thường để cho các cảnh bên ngoài kéo lôi, buông tay với ngoại duyên nhiều hơn là bình tĩnh, sáng suốt, ổn định. Nếu dễ dàng để cho ngoại duyên kéo lôi, như vậy là mình không có lực, không làm chủ. Do đó chúng ta khó thành tựu công phu hành trì và không có công đức. Công đức không có thì trí tuệ do công phu tu hành cũng không có luôn. Trong đời sống hằng ngày, nếu chúng ta cứ buông xuôi cho mọi việc trôi qua theo thời gian như vậy, cuối cùng ta sẽ về đâu? Không có định thì không có tuệ, không định không tuệ thì nghiệp sẽ dẫn mình đi mãi trong luân hồi sinh tử. Nếu sợ điều này thì ngay bây giờ dừng lại hay cứ để cho nghiệp kéo lôi? Tháng này năm này đi lễ Phật ngọc ở đây, tháng khác năm khác hẹn đi Ấn Độ lễ Phật thiệt bên đó, rồi mai mốt sẽ đi đây đi kia. Phật ở mười phương, Phật nào chúng ta cũng tới lễ, nhưng cuối cùng ông Phật của mình thì cô đơn, vì chúng ta không sống, không gần gũi, không nhớ tới Ngài. Như vậy ta sẽ trôi dạt mãi trong luân hồi sinh tử.

Chúng ta là đệ tử Phật nên tu theo lời Phật dạy. Là người tu thiền thì phải làm chủ được chính mình, vì tu thiền là tu trí tuệ chứ không có gì lạ. Làm chủ được mình thì con đường luân hồi cũng làm chủ được, không bị nghiệp dẫn cho nên phải chọn đường mà đi. Bây giờ mình chọn trước để mai mốt tới lúc như cảnh con cua bị lột vỏ, mình cũng bình thường mà đi theo con đường đã chọn. Đó là con đường Phật, con đường Bồ-đề chánh giác, thanh tịnh, con đường giác ngộ giải thoát, chứ không phải con đường do nghiệp dẫn.

Phật tử đọc kinh sách nói về nhân quả, thấy con đường nghiệp dẫn rất đáng sợ. Tôi có nghe các bậc thầy kể về chuyện nghiệp dẫn nên cũng cảm nhận được phần nào. Có người huynh đệ cho hằng ngày sống ba nghiệp buông lung, tạo những nghiệp nhân bất hảo. Do vậy ngay trong đời sống này bất tường, tới lúc xả bỏ thân thì cảnh xấu ác hiện ra. Người này vừa nhắm mắt liền nghe tiếng cọp rống, sấm chớp ầm ầm thật kinh khủng. Đây là quả do khi sống tạo những nhân bất hảo, nó hình thành nên những quả khủng khiếp như vậy. Bấy giờ không biết phải làm sao? May còn chút sức khỏe co chân chạy, định tìm chỗ ẩn náu. Chạy một hồi mệt quá, hả họng thở như gần hết hơi. Khi đó thấy lùm bụi liền nghĩ mình chui đại vô đây ẩn núp một chút. Vừa nghĩ chui vô thì mở mắt ra thấy mình mang lông đội sừng. Ôi thôi! Đó là chỗ thác sanh của loài súc sanh, quỷ đói... Thật đáng khinh sợ.

Trong đời sống sinh hoạt tu tập của chúng ta, nên hòa điệu vui vẻ, sống có đạo lý và giá trị để tráng không gây nhân bất hảo, không bị rơi vào chỗ tăm tối. Khi mang lông đội sừng thì làm gì nữa? Nếu còn nhỏ thì được người nuôi dưỡng, nhưng lớn lên phải kéo cày, bị người ta đâm chém mổ xẻ, có nói gì được đâu. Hễ mang lông đội sừng thì phải trả vậy đó, trả cái nghiệp nhân chính mình đã gây tạo từ trước. Đôi khi vừa trả, vừa gây nhân trong đó nữa mới nguy, không biết chừng nào mới rồi.

Bây giờ muốn sống và tu tập thích hợp, hòa điệu an lạc thì chúng ta phải cắt đứt, phải buông cho được tất cả những sự tăm tối, loạn tưởng, những dấy niệm, được thế mới an ổn. Mong rằng tất cả chúng ta đều áp dụng lời Phật dạy vào đời sống, để sớm được làm chủ và thoát khỏi nỗi khổ lớn sanh tử.

Rất mong như vậy.   

Mục Lục